Ngời đầu tiên mà tôi muốn nói lời cảm ơn là thầy giáo hớng dẫn – Thạc sĩ Hoàng Quốc Tuấn, thầy đã tận tình chỉ bảo tôi từ cách tìm tài liệu, việc tiến hành các bớc của một luận văn nh th
Trang 1Lời cảm ơn!
Là một sinh viên lần đầu tiên làm bài tập lớn, luận văn tốt nghiệp tôikhông tránh khỏi ngỡ ngàng khi phải tiếp xúc với hàng loạt công việc hết sức mới
mẻ Đặc biệt, lại là ngời kinh, sinh ra và lớn lên ở thành phố nên không có cơ hội
để tiếp xúc với những ngời dân tộc thiểu số, mà chỉ đợc biết về phong tục, tậpquán của họ thông qua sách báo, tranh ảnh, xem ti vi, nghe kể chuyện… nên còn nên cònrất mơ hồ Khi nhận đề tài từ thầy hớng dẫn “Tìm hiểu về phong tục tang ma, cớihỏi của ngời Thái Mờng Khoòng - Bá Thớc- Thanh Hóa” - một nơi thuộc huyệnmiền núi xa xôi hẻo lánh mà tôi cha từng đặt chân đến bao giờ Tôi vừa mừng,vừa lo Mừng vì đợc đi thâm nhập thực tế, đợc chứng kiến tận mắt cuộc sống sinhhoạt của c dân Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc- Thanh Hóa và những phong tụccủa họ để thỏa trí tò mò Nhng cũng lo vì không biết bắt đầu nh thế nào, làm thếnào để có thể thu thập đầy đủ nguồn tài liệu cần thiết cho luận văn của mình
Qua một thời gian đi tìm hiểu thực tế và thu thập tài liệu Đến nay tôi đãhoàn thành xong khóa luận của mình Ngời đầu tiên mà tôi muốn nói lời cảm ơn
là thầy giáo hớng dẫn – Thạc sĩ Hoàng Quốc Tuấn, thầy đã tận tình chỉ bảo tôi
từ cách tìm tài liệu, việc tiến hành các bớc của một luận văn nh thế nào, lập đề
c-ơng chi tiết của khóa luận… nên còn Sau đó tôi có lời cảm ơn tới bác Phạm Quang trởng ban dân tộc và miền núi Thanh Hóa; bác Hà Nam Ninh - trởng ban văn hóahuyện Bá Thớc đã cung cấp cho tôi rất nhiều nguồn tài liệu quý báu về dân tộcThái nói chung, ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc- Thanh Hóa nói riêng Tôicũng có lời cảm ơn đến các già làng, trởng bản, những ngời am hiểu về phong tụccủa ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc- Thanh Hóa nh bác: Hà Văn Đẵn, bác
Thẩm-Hà Duy Tích, bác Thẩm-Hà Văn Thiền… nên còn Tôi cũng có lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè,những ngời giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Lần đầu tiên tìm hiểu về phong tục của dân tộc ít ngời cho nên tôi khôngthể tránh khỏi thiếu sót Song đây chỉ là nguồn tài liệu mang tính chất tìm hiểu vềphong tục của một địa phơng Rất mong đợc các quý thầy cô và các bạn góp ýcho tôi Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Việc tìm hiểu tập quán phong tục của dân tộc ta lâu nay đã đợc chú ý,
nh-ng phần lớn, hình nh chúnh-ng ta chỉ mới chú trọnh-ng đến tình hình, cách thức của nh-
ng-ời Kinh Song nói dân tộc Việt Nam là phải nói đến cộng đồng dân 54 dân tộc.Những tài liệu này, đã có nhiều bài viết trên các tạp chí dân tộc học, văn hóa dângian… nên còn và trên các sách báo khác
Cái cảm tởng, chung mà chúng ta rút ra đợc là rõ ràng, đối với gia đình
-đặc biệt là đối với vấn đề hôn nhân và tang ma thì dân tộc nào trong cộng đồngdân tộc Việt Nam, miền núi hay miền xuôi cũng đều giành một sự quan tâm đặcbiệt Đó là ý thức đối với gia đình, đối với dòng họ, và đối với nam nữ thanh niên
đến tuổi trởng thành Ta thấy rất rõ niềm trân trọng của các dân tộc đến với sựquan trọng trong vòng đời Từ một con ngời tự do, bớc sang một t cách mới:Thành vợ thành chồng, là một thời kỳ hệ trọng, những lễ cới hỏi đánh dấu sự hệtrọng ấy Và khi tiến hành một đám tang là để tỏ lòng chí hiếu của con cháu đốivới cha mẹ, ông bà, những bậc sinh thành, tuy nhiên đã là phong tục thì mỗi nơimỗi khác, mỗi một dân tộc có phong tục của riêng mình Cho nên tìm hiểu phongtục tang ma, cới hỏi của dân tộc này là để hiểu thêm cái riêng, cái khác biệt và sựphong phú đa dạng trong thống nhất của phong tục Việt Nam nói chung
Tìm hiểu phong tục tang ma, cới hỏi của ngời Thái ở Mờng Khoòng - BáThớc nhằm mục đích hiểu sâu sắc hơn nữa phong tục của ngời Thái nói chung,ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc nói riêng, để từ đó tìm ra sự tơng đồng vàkhác biệt trong phong tục của cộng đồng dân c ngời Thái nói riêng, trong cộng
đồng ngời Việt nói chung
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Tìm hiểu về phong tục tang ma, cới hỏi cả dân tộc Thái nói chung từ trớc
đến nay đã có rất nhiều rất nhiều tác giả tìm tòi và nghiên cứu cho nên nguồn tàiliệu rất phong phú và đa dạng nh trong “Tục cới hỏi ở Việt Nam” của Bùi Xuân
Mỹ, Phạm Minh Thảo - NXB văn hóa thông tin, “Tục tang ma” của Phạm MinhThảo Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đợc tập hợp lại và
in trong cuốn “Văn hóa và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái ViệtNam” của NXBVHTT – Hà nội – 2003, trên các tạp chí văn hóa dân gian, dân tộchọc… nên còn
Nhng tìm hiểu về phong tục tang ma, cới hỏi của ngời Thái ở MờngKhoòng – Bá Thớc – Thanh Hóa thì cha đợc mấy ai quan tâm và nghiên cứu.Qua một số bài viết tham luận của ông Hà Nam Ninh thì cũng chỉ mới đề cập sơqua về các loại mộ táng của ngời Thái ở Mờng Khoòng, hay điều kiện tự nhiên,các loại hình sinh hoạt văn hóa của c dân Thái Mờng Khoòng - Bá Thớc chứ cha
đi sâu tìm hiểu các nghi thức của phong tục tang ma cới hỏi của ngời Thái ở
M-1
Trang 3ờng Khoòng Chính vì vậy mà nguồn tài liệu về phong tục của ngời Thái ở MờngKhoòng rất hạn chế, chủ yếu là nghe các cụ già và những ngời am hiểu về phongtục của ngời Thái ở Mờng Khoòng kể lại.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu phong tục cới hỏi, tang ma của ngời Thái ở Mờng Khoòng Bá Thớc trên cái nền chung của ngời Thái ở Thanh Hóa và Tây Bắc
-4 Giả thiết khoa học.
Nếu đề tài này đợc nghiên cứu thành công thì nó sẽ là nguồn tài liệu khoahọc để mọi ngời tìm hiểu và nghiên cứu thêm về các phong tục cũng nh loại hìnhsinh hoạt văn hóa của ngời Thái Mờng Khoòng - Bá Thớc- Thanh Hóa Thôngqua đó giúp ngời đọc hiểu sâu sắc hơn về phong tục tang ma, cới hỏi ở từng địaphơng, từ đó có sự so sánh đối chiếu với phong tục của các dân tộc khác để rút racái chung và cái riêng trong phong tục tang ma, cới hỏi của mỗi dân tộc từ đó màthấy đợc sự đa dạng, phong phú của văn hóa Việt Nam
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
- Nguồn tài liệu: Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng nguồn tài liệu thànhvăn, một số tạp chí, các tài liệu than luận về dân tộc Thái ở Mờng Khoòng - BáThớc, và nguồn tài liệu truyền miệng do các già làng, trởng bản kể lại
- Phơng phát nghiên cứu:
Để hoàn thành luận văn này tôi sử dụng hệ thống phơng pháp nh: Logic,quan sát, phân tích, đối chiếu, so sánh, diễn giải… nên còn
6 Bố cục của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát về ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc- Thanh Hóa.Chơng 2: Tục tang ma của ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc- ThanhHóa
Chơng 3: Tục cới hỏi của ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc- ThanhHóa
2
Trang 4Nội dungChơng 1 Khái quát về ngời Thái
ở mờng Khoòng - Bá Thớc-thanh hóa
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên.
Theo thống kê ngày 1/4/1999, Thanh Hóa có 22 vạn ngời Thái, chiếm 21%ngời Thái ở Việt Nam, sinh sống tập trung ở các huyện miền núi phía tây, giápLào trong các huyện Mờng Lát, Quan Hoá, Quan Sơn, Bá Thớc, Lang Chánh, Th-ờng Xuân, Nh Thanh Phía Bắc tiếp giáp với khối Thái Tây Bắc, Hoà Bình, SơnLa; phía Nam tiếp giáp với khối Thái Nghệ An qua Quỳ Châu, Quỳ Hợp, QuếPhong; phía Đông tiếp giáp với cộng đồng ngời Mờng - Việt; Trong đó có các m-ờng lớn nh mờng Bi, mờng Ai, mờng Chánh Sống xen kẽ với ngời Thái có ngờiKhơ Mú, H’Mông, Dao, Hoa, Việt, Mờng Đây là vùng đất có nhiều di tích lịch
sử, nằm trong lu vực sông Mã, sông Chu màu mỡ, đặc biệt có khu di chỉ đồ đáMờng Ai, xác định niên đại trên hai vạn năm đã có ngời ở Trong ký ức củanhững ngời già truyền qua các thế hệ, ngời Thái đã có mặt ở đây từ lúc ông bàcòn lấy cây móc làm mai khai ruộng, rừng núi cha có dấu chân ngời Những cuộcchuyển c đến tìm đất ở hầu hết là đến thêm, trên cơ sở đã có ngời, có bản Sự tồntại của ngời Thái với ngời Khơ Mú, ngời Mờng với ngời Việt và ngời Lào đã tạo
ra đặc điểm của nền văn hoá Thái Thanh Hoá
Huyện Bá Thớc có ba dân tộc chủ yếu là: Mờng, Kinh, Thái Dân tộc Thái
có 33.650 ngời (6115 hộ), chiếm 34,6% tổng số toàn huyện, trong đó: Nam là16.355 ngời, nữ là 17.295 ngời Tỷ lệ sinh là 2,8%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là2,3% so với năm 1960, đến nay dân số đã tăng gấp 3 lần [11; 1]
Dân tộc Thái c trú ở vùng núi phía Tây giáp với huyện Lang Chánh, QuanHoá, Hoà Bình,gắn với cộng đồng ngời Thái ở miền tây Thanh Hoá và tiếp giápvới cộng đồng ngời Việt ở phía đông Trớc đây địa bàn này thuộc ba mờng là: M-ờng Khoòng, mờng Lau, mờng Ký, thuộc tổng Cổ Lũng và một nửa tổng Thiếtống của châu Quan hoá Trong đó lớn nhất là Mờng Khoòng có 54 bản nằm ởcon suối: Nậm Nủa, Nậm Khanh, Nậm Ngài, Nậm Tếch với hơn 1.000 mẫuruộng Ngày nay nó chia thành 6 xã: Lũng Cao, Cổ Lũng, Lũng Niên, Thành Sơn,
3
Trang 5Thành Lâm, Ban Công Diện tích tự nhiên có 26000 ha = 34,35% diện tích củaBá Thớc, trên độ cao từ 1200m xuống 100m so với mực nớc biển.
Giải thích về một số địa danh, hình dáng núi non, sông nớc, ngời Thái MờngKhoòng có câu chuyện ngời khổng lồ ái Pú Té Chuyện kể rằng tại Bản Hin (xãLũng Cao - Bá Thớc ngày nay) có một chàng trai to cao khoẻ mạnh hơn ngời,sinh sống dới chân đồi Pú Té, ngời ta đặt tên là ái Pú Té Nhà nghèo, không córuộng nơng, hàng ngày chàng đi chăn trâu thuê để nuôi mẹ Hồi ấy mọi thứ đều
to lớn, con trâu to bằng quả núi Pù Luông, con bò to bằng núi Pù Mối Do đó núi
Pù Luông có hình dáng nh một con trâu mộng, quay sừng về hớng Tây – Bắc,hai đỉnh cao, một cái gọi là “lằm” tức là bớu trâu và một cái gọi là “khâu” tức làsừng Còn Pu mới chỉ có một đỉnh gọi là “nóc ngua”, tức u bò ái PuTé đi chăntrâu đứng ở trên cao nhìn thấy trâu ăn lúa ở ngoài Mờng Lau, lần nhặt hòn đáném xuống Hòn đá đè lún cả đàn trâu xuống đất không ai bẩy lên nổi Hòn đá ấybiến thành núi đá Pha Chú Lú nh một hòn đảo nhô lên giữa cánh đồng vàng óngthuộc bản Ba, bản Xá (xã Ban Công) Có lần, ái Lậc Cậc từ Mờng Thanh, Mờng
Lò đến tìm ái Pú Té để thử sức khoẻ, hai bên vật nhau, ái Lậc Cậc thua cuộcphải bỏ chạy, ái Pú Té nhổ sạch cây cối Pù Luông ném theo cho nên bây giờnhìn từ xa, sờn núi Pù Luông không lộ ra cây to rờm rà mà chỉ thấy sờn núi nhmột thảm cỏ xanh mợt ái Pú Té còn dùng cả cối giã gạo ném theo, rơi xuống địagiới giữa Ba Băng Bái Bón với Mờng Khoòng Hiện nay ở đó có tên là Cốn Cáo,tiếng Mờng có nghĩa là Cối gạo Chuyện ái Pú Té còn gắn với nhiều địa danhkhác nh Pha Khán, Mỏ Bỉ, Mỏ Na, Thung Hang, Thung Kịt… nên còn trong đoạn ái Pú
Té đắp đập ngăn sông Mã định đa nớc về Mờng Khoòng làm ruộng, nhng bị tạoMờng Khoòng ngăn cản, lập mu giết hại chàng
Có thể nói, mỗi ngọn núi, dòng khe của Mờng Khoòng đều gắn với sự tíchhoặc gắn với một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian nào đó Ví dụ đá NàngNòn, một khối đá cao, bằng phẳng nằm chon von hóng gió trên lng chừng núi,bên cạnh thác nớc rì rào và hồ nớc có tên là Buốc Chạng và một cây bi cổ thụ cótên là “Co bin xam ngá” Theo tiếng Thái thì Nàng Nòn có nghĩa là Nàng Nằm,còn Buốc Chạng là ao voi, và “Co bin xam ngá" là cây bi ba chạc Chuyện kểrằng: nghe tin Mờng Khoòng giàu có, nhiều trai tài gái sắc, nàng mờng Vạt quyết
định đến Mờng Khoòng kén chồng Nàng ngồi trên lng voi đi qua nhiều mờng,nhiều bản Đến địa giới giữa Mờng ánh và Mờng Khoòng, phải qua một dốc cao,voi của nàng leo qua vật vã chảy cả nớc mắt, nàng đặt tên là Pu Chạng Háy,nghĩa là dốc voi khóc Đến đầu dốc, nàng tởng sẽ nhìn thấy một Mờng Khoòngkhang trang rộng rãi Không ngờ, nàng cha đến nơi, tầm nhìn bị dãy núi đá vôiche khuất, chỉ nhìn thấy bản Hua Mờng nhỏ xíu, dới đáy thung lũng sâu hút
4
Trang 6Nàng ngộ nhận, cho đó là Mờng Khoòng, nàng chán ngán, leo lên tảng đá nằmnghỉ, thả cho voi xuống tắm vũng nớc ở gần đó, trăn trở nửa ở nửa về Nàng lấycon dao bịt bạc mang theo ra bổ trầu cau Tiện tay nàng chẻ một ngọn cây bi
đang lớn ra thành ba khía Nàng than thở và thốt lên rằng:
“Đồn rằng Mờng Khoòng ruộng đồng bát ngát
Lại không bằng lối voi Mờng Vạt ta sang”
Không ngờ một ngời dân ở Mờng Khoòng đi ngang qua nghe đợc bèn lêntiếng đối đáp :
“Mờng Khoòng nhỏ ruộng đồng không rộng
Nhng không hầu mờng Vạt đời nào”
Thế là cuộc đối đáp văn chơng bắt đầu xảy ra Những vần thơ đối đáp ấy
đến nay, ngời Mờng Khoòng hãy còn tự hào ghi nhớ Cuối cùng nàng Mờng Vạtthua cuộc, nhận ra là mình ngộ nhận về Mờng Khoòng, nàng tiếc rẻ, quay lng trở
về quê cũ Nơi đó, hiện nay còn lại ba vật chứng là khối đá Nàng Nòn, ao voitắm và cây bi ba chạc Mỗi khi đi qua nơi này, ngời ta thờng nhắc nhủ: “Đừngbao giờ nhìn đất mờng ngời khác nh mắt nàng Mờng Vạt năm xa”
Về điều kiện tự nhiên ở Mờng Khoòng – Bá Thớc rất khó khăn, độ dốccao, diện tích canh tác ít, không chủ động đợc nớc, với khí hậu khắc nghiệt, mùa
đông rét và ma phùn, mùa hè nắng nóng, ma lũ ồ ạt, hạn hán thất thờng, lại gắnvới các quả núi cao, muông thú tàn phá mùa màng cho nên đời sống lao độngkhó nhọc, thu hoạch bấp bênh, từ đó tạo ra đức tính cần cù, siêng năng tiết kiệm
và có ý chí kiên cờng trong lao động sản xuất và cải tạo tự nhiên Yếu tố tập thể,cộng đồng làng xã trở thành truyền thống trong sản xuất và tổ chức đời sống
Đến Mờng Khoòng – Bá Thớc, ta đợc nghe đọc truyện thơ Thái KhămPanh, đi xem dấu tích nhà Phủ Chiềng Vang, hang nuôi vua Chổm bản Độc Lập,
đập nớc Mó Nủa, đồi Mả Ngô ở đồn Kính Lộng, thăm chiến trờng xa ở đồn CổLũng… nên còn Những địa danh gợi lại bao sự kiện lịch sử, khêu gợi trí tò mò của mọingời
Với đặc điểm tự nhiên khó khăn về địa hình và khí hậu đã làm cản trởnhiều đến việc đi lại, giao lu tiếp xúc với bên ngoài của ngời Thái ở MuờngKhoòng - Bá Thớc, chính vì vậy mà nền kinh tế lúa nớc nơng rẫy là nền kinh tếchủ yếu và mang tính tự cấp, tự túc Đẩy mạnh công tác chăm lo thuỷ lợi, pháttriển các hình thức thuỷ lợi nhỏ và vừa phù hợp với đặc điểm của địa hình nh:phai, đập, mơng, máng, ống dẫn nớc, trong đó có hình thức ống dẫn nớc phù hợpnhất Sự khó khăn vất vả trong lao động sản xuất đã tạo nên đức tính tốt đẹp củangời Thái ở Mờng Khoòng – Bá Thớc đó là đức tính cần cù, chịu thơng, chịukhó và tiết kiệm, nó phù hợp với đức tính cổ truyền của con ngời Việt Nam Cũng
5
Trang 7nh đồng bào Thái ở Tây Bắc và Quan Hoá, dân tộc Thái ở Bá Thớc nói chung vàMờng Khoòng nói riêng đều có chung một nền văn minh lúa nớc ở thung lũngnúi Đó là nền văn hiến mờng bản với kho tàng văn nghệ dân gian tơng đối phongphú và đa dạng, tín ngỡng chủ yếu là thờ tổ tiên và vật tổ, các tôn giáo khác ảnhhởng không đáng kể, chữ viết của dân tộc Thái ở Bá Thớc có nguồn gốc chungvới chữ Thái Tây Bắc, chữ Lào và chữ Thái, nhng do cách xa nhau cho nên chữviết cũng không còn giống nhau hoàn toàn So với chữ Thái Tây Bắc có phần đầy
đủ hơn, cách viết gọn và dễ coi hơn … nên còn
Mặt khác, do tiếp xúc với vành đai ngời Việt, Mờng ở phía Đông cho nên
nó đã diễn ra một quá trình xen lẫn hoà nhập và đồng hoá lẫn nhau Quá trìnhnày diễn ra một cách êm đẹp và hoà bình, đồng thời sự giao lu và tiếp nhận vănhoá cũng rất tế nhị, ít khi bài trừ lẫn nhau, phần lớn là tiếp cận hạn chế biếnthành của mình
1.2 Đặc điểm dân c.
Tìm hiểu kho tàng văn nghệ dân gian, qua lời kể, sự tích các bài mo, bàicúng và dấu tích mộ chí thì ngời Thái có mặt ở Bá Thớc nói chung, MờngKhoòng nói riêng đã lâu lắm, không ai nhớ rõ thời nào, chỉ biết rằng họ cùng vớingời Xá Khai phá ruộng nơng, dựng bản mo mờng Các câu chuyện dã sử, sự tích
về vua Lê Lợi in đậm trong tâm trí ngời dân ở đây Mờng Ký (Văn Nho, Kỳ Tân)
có nhiều dấu tích cổ xa hơn Trong quá trình lịch sử có nhiều đợt di c đến bổsung và chuyển c đi nơi khác Căn cứ vào gia phả các dòng họ có thể tìm dợcnguồn gốc quê hơng của từng nhóm họ Ví dụ họ Hà có nguồn gốc xa xa ở MờngKhà (Hớc - Khà hay Pác Hớc Pớc Kha) hiện nay thuộc tỉnh Lào Cai, sau đó dichuyển đến Mờng Hạ (Mai Châu - Hoà Bình) và Đa Bút (Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc)chuyển đến Mờng Khoòng, Mờng Lau, Mờng Ký Họ Lò, họ Vi từ Mờng Lò, M-ờng Do, Mờng Muối (Tây Bắc), họ Ngân, Bùi, Đinh có nguồn gốc ngời Mờng từHoà Bình Họ Lữ có nguồn gốc từ Mờng Lự ở Thợng Lào Họ Lê có nguồn gốc
từ dới xuôi lên, riêng họ Lơng không kể về nguồn gốc, chắc là dân c bản địa đầutiên [11; 1 - 2]
Mờng Khoòng là một vùng đông dân, có nhiều dòng họ Nguồn gốc c dâncủa Mờng Khoòng gắn liền với truyện thơ Khăm Panh Dòng họ lớn nhất ở đây là
họ Hà, có mối quan hệ chặt chẽ với họ Hà ở Mờng Hạ (Mai Châu, Hoà Bình).Theo gia phả của dòng họ Hà Công ở Mờng Hà thì nguồn gốc này bắt đầu ghinhớ từ đời Lang Bôm ở Mờng Hớc Kha (Lào Cai) Lang Bôm đi tìm đất mới, theosông Nặm Tao (sông Hồng) ngợc cánh đồng Uống Mờng Hạ - Mùn, lập nêndòng họ Hà Công, phát tán cả một vùng giáp ranh sông Đà - sông Mã Đến đờithứ 12, Lang Bôm lấy nàng Mờng Khển, sinh đợc ba ngời con trai là Khăm,
6
Trang 8Khăm Phiêng và Khăm Panh Khăm Panh ở lại Tạo Mờng Hạ, Khăm Piêng lên trịvì đất Mờng Thợng Còn Khăm Panh cho xuống Mờng Khoòng dựng lại bản m-ờng sau khi loạn lạc hoang tàn Theo các câu chuyện ở Mờng Khoòng, đối chiếuvới lịch sử có thể nhận định rằng thời điểm Khăm Panh cùng Nàng Mứn khai pháMờng Khoòng từ thời kỳ đầu nhà Hậu Lê Truyện thơ Khăm Panh miêu tả cảnh
đồng ruộng hoang vu, bản xén đổ nát, hổ beo, muông thú kéo về, có thể là cảnhthật sau khi trận chiến ác liệt ở “Kính Lộng” (Cỗ Lũng ) vào đêm 20-11 năm TânSửu (1421) theo Lam Sơn Thực Lục “trong trận này Lê Lợi dựa quân đánh úpdoanh trại giặc, nổi trống reo hò ầm ĩ, tiến và dồn chúng, chém hơn nghìn đầu,khí giới bắt đợc rất nhiều Sau giặc biết quân ta ít, nó khinh thờng bèn khai thông
đờng núi đuổi theo quân ta Quân giặc bị quân ta mai phục ở Đèo ống, tung ra
đánh giáp lá cà, quả nhiên giặc tan vỡ Sau trận này, xác ngời chồng chất không
có ngời chôn, hồn oan lởn vởn, thú rừng đổ xô xô xuống tìm mồi, ngời dânkhông dám ở phải bỏ mờng, bỏ bản ra đi Nh vậy, Khăm Panh đặt chân đến M-ờng Khoòng cách đây đã hơn 600 năm Dòng họ Khăm Panh bị Khun Ha tiêudiệt chỉ còn sót lại một ngời con dâu quê ở mờng Gianh (Cẩm Bình - Cẩm Thuỷ)
đang mang thai Ngời con dâu chạy về quê mẹ, đẻ đợc một ngời con trai tên làKhăm Khòng Khăm Khòng lớn lên, trở lại cùng dân mờng xây dựng lại quê h-
ơng (lúc này dòng họ Khun Ha đã bại, Thái uý Hà Lân, con Khun Ha đã chết).Khăm Khòng đợc dân mờng tôn kính nghe theo, ra sức xây dựng quê hơng trởthành giàu có, bản mờng yên vui Không hiểu vì lí do nào đó, Khăm Khòngkhông có hành động trả thù dòng họ Khăm Ha mà hai dòng họ Hà này cùng tồntại Dòng họ Khăm Panh – Khăm Khòng: Dòng họ này có vị trí xã hội thấp hơncon cháu Khun Ha nên tự danh là Khan Quan (Hà Văn) tuy không còn quyềncao chức trọng nhng họ này có uy tín, gắn bó với dân mờng và đợc các bản lớnthờ làm Thành Hoàng Ngoài ra còn có một số họ khác thuộc tầng lớp dân thờngnhng họ Vi, họ Lục, họ Ngân… nên còn Có nhiều nguồn gốc khác nhau nhng đều có lịch
sử di c tập thể, hay chạy loạn từ các mờng xa đến Một số ngời không rõ họ tênquê quán đã lấy họ Hà (họ Tạo đặt cho họ mình – gọi là Hà Lặc) [20; 125-126]
Tìm hiểu nguồn gốc các dòng họ và các sự tích: Sông núi, ruộng đồng, bảnxóm ta nhận thấy rằng, ngời Thái ở Muờng Khoòng là chủ nhân rất lâu đời đãtừng khai phá vùng đất này và không ngừng bổ sung, đồng thời có một bộ phậnchuyển c về phía Đông Nam, dừng lại ở rải rác trên các huyện Lang Chánh, Th-ờng Xuân, Nh Xuân, đến tận Phủ Quỳ – Tơng Dơng - Nghệ An và một bộ phậnkhác đi lên Sầm Na, Hủa Phăn, đến gần Xiêng Khoảng
Nh vậy, chúng ta có thể thấy rằng, nguồn gốc của c dân Thái ở MờngKhoòng nói riêng, ngời Thái ở Bá Thớc nói chung đều có nguồn gốc từ ngời ở
7
Trang 9Tây bắc di c xuống, hoặc là ngời Thái từ bên Lào sang Cho nên ngời Thái ở đây
tự danh là Phú Tay, Căn Tay, không tồn tại khái niệm phân biệt Thái Trắng, Thái
Đen Các học giả Pháp thì gọi là Thái Đỏ Nhng căn cứ vào tập quán sinh hoạt,
có thể nhận ra cộng đồng Thái Bá Thớc nói chung, Mờng Khoòng nói riêng cónguồn gốc Thái Đen, quan hệ với tiểu vơng quốc của Chậu Ta Ngàn ở Tây Bắc.Ngời Thái ở Bá Thớc nói chung, Mờng Khoòng nói riêng mang những đặc điểmchung của cộng đồng Thái Việt Nam, ví dụ trong tục mai táng, ngời Thái ở đâyrải than đen lên trên nấm mồ để thay thế cho tục hoả táng Qua các mô típ vănnghệ dân gian của ngời Thái ở đây có nhiều nét tơng đồng với ngời Thái Đen ởTây Bắc Các từ vựng cơ bản trong ngôn ngữ giao tiếp giống tiếng Thái Lan từ70% -> 80% , chỉ trừ các từ phát sinh sau này Tuy nhiên nó cũng có những đặc
điểm nhỏ phân biệt đợc với c dân ngời Thái khác ở xung quanh, ví dụ nh ngờiThái Mờng Khoòng có dáng cao, tiếng nói nhẹ, uyển chuyển, sử dụng nhiềuthanh hỏi hơn thanh sắc và thanh nặng, đôi khi lẫn lộn thanh nặng và thanh hỏi
Dựa trên những dấu hiệu dễ nhìn thấy, chúng ta nhận thức rằng, ở Bá
Th-ớc, nơi có đồng bào Mờng sinh sống ngày nay đã từng xuất hiện các cộng đồng
c dân Thái từ thời xa xa Sau đó vì một lí do lịch sử nào đó, ngời Thái chuyển đi,ngời Mờng phát triển thịnh vợng, và làm chủ vùng đất này Tiếp theo, do mốiquan hệ gần gũi và ảnh hởng của các thế lực dòng họ quý tộc Thái, ngời Thái lạitiếp tục chuyển c xuống hoà nhập vào cộng đồng xã hội ngời Mờng và trở thànhngời Mờng
Hiện tợng này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần tạo ra sự đoànkết keo sơn gắn bó giữa ba dân tộc Thái, Mờng, Kinh nói chung Mối quan hệnày không chỉ dựa trên cơ sở hiểu biết, thông cảm lẫn nhau mà còn sâu sắc hoànhập trong huyết thống của các dòng họ, của mối quan hệ hàng xóm láng giềng.Cho nên từ xa xa, mỗi khi có loạn giặc dã, đói kém, hoạn nạn là bà con các dântộc ở Bá Thớc lại cu mang đùm bọc lẫn nhau nh một nhà
Về tính cách của ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc do sống trong điềukiện tự nhiên khắc nghiệt cho nên c dân Thái ở Mờng Khoòng có đức tính cần cù,siêng năng, tiết kiệm và có ý chí kiên cờng trong lao động cải tạo tự nhiên, yếu tốtập thể cộng đồng làng xã đã trở thành truyền thống trong sản xuất và tổ chức đờisống Đặc biệt ngời dân ở đây thật thà, chất phác, thân thiện và hiếu khách chonên khi tiếp xúc với họ ta dễ có cảm tình Và nhờ có những đức tính tốt đẹp ấycho nên ngời Thái ở Mờng Khoòng dễ dàng giao lu tiếp xúc học hỏi kinh nghiệmvới các c dân khác trong vùng và từ nơi khác đến Điều đó nó phù hợp với tínhcách của cộng đồng c dân khác của Bá Thớc nói riêng, dân tộc Việt Nam nóichung
8
Trang 10Một điểm tốt đẹp nữa trong tính cách của ngời Thái ở Mờng Khoòng là họrất hay đùa và rất thích nói đùa để cho cuộc sống thêm vui vẻ Trong sinh hoạtvăn hoá văn nghệ, vui chơi giải trí rất phong phú Trong một năm ngời Thái ở M-ờng Khoòng nói riêng, Bá Thớc nói chung tổ chức nhiều lễ hội: Lễ hội lồng tồng,kin chiêng boóc mạy… nên còn Đến bất cứ bản nào khi có việc vui chung nh đám cới,hội mùa đều đợc thởng thức âm hởng của tiêng cồng chiêng, khua luống, rộnràng xóm bản, vọng vào núi đá, âm vang đến tận nơi xa Đó là âm nhạc chungcủa cả bản, cả núi rừng Ngời chơi nhạc cũng là tập thể cộng đồng, khách từ xa
có thể tự nhiên hòa nhập vào đám đánh chiêng, khua luống, cùng chơi, cùng đùa,ngả nghiêng, va chạm nh ngời trong cuộc
Cái tục bản mờng có từ xa xa khách đến nhà chủ trải chiếu hoa mời nớc,uống rợu cần Cuộc giao tiếp làm quen, tìm hiểu ngời đối diện với mình thực sựdiễn ra xung quanh chỉnh rợu cần Uống rợu cần không chỉ thởng thức một thứ
ẩm thực ngòn ngọt, cay cay gần giống nh bia mà mục đích chính là thông quauống rựơu cần để thổ lộ tâm tình, tìm hiểu tài năng đối đáp lời hay, ý đẹp, khích
lệ mọi ngời tự nhiên khắp, xớng, hò hát Trong nhiều trờng hợp đồng tình đồngcảm, cuộc rợu cần trở thành cuộc vui múa hát tự nhiên rung chuyển sàn nhà
Một số tập quán nghi lễ cũng mang màu sắc sinh hoạt văn hóa nh cới xin,cúng tế, tang tử, làm vía Ngay trong đám ma cũng có lúc làm trò vui nh phặtcông hang của ngời Thái diễn ra lúc nửa đêm, khi mọi ngời đến độ buồn ngủ thìphờng trò bắt đầu nổi nhạc, nhảy múa kéo trống đi dạo khắp nhà gây cời, khiếnmọi ngời tỉnh ngủ
Nhận xét về tập quán ăn ở, có ngời nửa đùa nửa thật nói rằng “ăn Mờng,ngủ Thái, gái canh nơng”
Ngoài ra các trò chơi dân gian còn tồn tại theo giới tính, lứa tuổi, phù hợpvới địa hình địa vật nơi chơi nh đánh chắt, hát cù, đánh kê,đi cà kheo, đu dây… nên cònTrớc đây khi cha có trờng học thì các trò chơi này chiếm hầu hết thời gian hoat
động của trẻ em trong tuổi chăn trâu, canh ruộng Kho tàng văn học dân gian củangời Thái nói chung, Mờng Khoòng - Bá Thớc nói riêng cũng rất phong phú và
đa dạng với nhiều loại hình nh ca dao tục ngữ, hò vè, truyện thơ dân gian, khắp
đối đáp… nên còn
Một đặc điểm dễ nhận thấy trong c dân Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc là
họ sống quần tụ với nhau trong bản, mờng
Ngời Thái quan niệm, bản là đơn vị xã hội cơ bản cũng nh làng của ngờiViệt và lũng của ngời Mờng Bản là địa điểm quần c ổn định từ vài gia đình cho
đến vài trăm gia đình Yếu tố quyết định hình thành bản là ruộng nớc, tục ngữnói “pìn bán dọn na, pin pí dọn nặm”, nghĩa là nên bản nhờ ruộng nên cá nhờ có
9
Trang 11nớc Bên cạnh đó còn có nhóm quần c làm nơng rẫy không ổn định, ngời Tháigọi là bón (gần âm với từ buôn ở Tây Nguyên) Có chung một đặc điểm là phơngthức canh tác bằng nơng rẫy và săn bắt hái lợm Nhng dân c ở bón không phảicác nhóm độc lập, mà là thành viên của các gia đình cơ bản đi làm hoa màu theokiểu ở trại vùng trung du.
Bản của ngời Thái nói chung, Mừơng Khoòng nói riêng chẳng những làmột cộng đồng kinh tế mà còn là một cộng đồng văn hóa Là nơi diễn ra các sinhhoạt văn hóa đa dạng phong phú, nơi lu giữ những truyền thống văn hóa quý báu
Ai đi qua bản ngời Thái đều đợc thởng thức làn điệu dân ca trữ tình, êm dịu vàsâu lắng tiếng hát đợc cất lên trong lao động sản xuất, ngày lễ, ngày xuân, tiếnghát do một hoặc nhiều ngời hát đối đáp bằng tiếng hát họ có thể nói nỗi niềm say
đắm, sâu lắng của tâm hồn mình, phản ánh ớc mơ, hy vọng về tình yêu cuộc sống
và cả những gì uất ức đắng cay mà họ hoặc đồng loại phải gánh chịu Dân caThái có thể chỉ một ngời hát để tâm sự với cảnh vật xung quanh, nhng dân ca th-ờng hát đối đáp giữa 2 ngời, 2 tập thể (hình thành tự nhiên), có khi một bên nam,một bên nữ hay mỗi bên một làng Hát dân ca giao duyên không nhất thiết lànam nữ thanh niên muốn tìm hiểu nhau mới hát, mà mọi ngời có quyền tham giahát bất cứ bên nào tùy thuộc ngời đó xác định Với những cuộc hát đó chỉ là sự
đọ sức đua tài tất nhiên nam nữ thanh niên thông qua hát đối đáp mà họ có thểtìm hiểu nhau và nhiều cặp yêu nhau thành vợ thành chồng, hát dân ca giaoduyên (dân ca trữ tình), có thể diễn ra trong lúc lao động sản xuất trên đồngruộng, nơng rẫy, trên đờng đi, nhng tập trung nhiều ngời tham gia nội dungphong phú là ở các đám cới, đám lợp nhà mới, đám cá - ngang sa và những ngàyvui chơi xuân nơi ném còn, nhảy sạp, bên chĩnh rợu cần Tại đây trai gái nóichuyện vui đùa giao duyên kết bạn và mời nhau về nhà, chuốc rợu cho nhau lạihát, lại vui Sinh hoạt văn hóa ngày xuân thờng diễn ra ở bản bằng các trò chơiném còn nhảy sạp bên chĩnh rựơu cần, kéo co, đánh khẳng, cũng nh hát dân ca,
đối đáp là những sinh hoạt mang tính chất cộng đồng dân chủ, là sinh hoạt vănhóa lành mạnh Chính thông qua các hoạt động đó nên ngày xuân vùng ngời Thái
đã đỡ phần tẻ nhạt đơn điệu, trai gái trong bản mờng có điều kiện quen biết, kếtbạn yêu đơng đồng thời làm tăng thêm tình đoàn kết giữa các bản mờng
Đến vùng ngời Thái, vào sáng sớm, buổi chiều tà hay những đêm trăngthanh, chúng ta đều thởng thức những bản nhạc không lời với âm thanh nhịpnhàng, khoan thai, rộn ràng, cũng có lúc dồn dạp do tiếng nhạc khua luống Donhu cầu cuộc sống ngời Thái, phải giã gạo vào luống, trải qua nhiều thế hệ đúckết tạo dựng làm cho việc dã gạo trên luống và khua chày vào thanh luống đã tạonên những bản nhạc không lời tuyệt tác, nhạc khua luống đã đi vào cuộc sống
10
Trang 12tinh thần ngời Thái từ bao giờ không rõ, nhng đến nay tuy không bảo lu đầy đủnhiều nơi làm gạo không còn giã cối, luống hoăc cối giã bằng sức nớc chảy vàomảng mà đa vào máy xát, nhng ở bất cứ bản ngời Thái nào vẫn không vắng tiếngnhạc khua luống, trong những đám cới, lợp nhà mới, những đêm trăng thanh,thậm chí cả trong đám ma, với 12 điệu khua luống đã làm cho âm thanh phần lớnphù hợp với tinh chất cuộc chơi Tuyệt tác hơn, nó đợc hòa âm với tiếng cồng,chiêng đã tạo nên một âm hởng rất riêng, rất Thái.
Đến bản của ngời Thái, chúng ta cũng đợc thởng thức văn hóa cồngchiêng, của một cái trống da trâu, bò và bốn chiếc chiêng đồng, ngời Thái đã tạo
đợc âm thanh có tiết tấu, tuy còn giản đơn hơn so với bộ gõ hiện đại nhng đã tạo
đợc sự vui tơi cho bản Thái những ngày xuân, ngày cới Ngời Thái nói chung
ng-ời Mờng Khoòng - Bá Thớc nói riêng có quan niệm sinh hoạt cồng chiêng, trốngkhông thể thiếu vắng đối với đời sống của mình Kể cả lúc tiễn đa ngời thân củamình về mờng ma
Nhà của ngời Thái thờng làm trên đất đai bằng phẳng hoặc là ở sờn núithoai thoải bên cạnh các dòng suối và ruộng nớc Đây là hình thức lập bản truyềnthống của ngời Thái nói chung, Mờng Khoòng nói riêng Trải qua mấy trăm nămlịch sử, do quan hệ xã hội sản xuất, đặc biệt là hôn nhân dẫn đến, nguồn gốc củabản không chỉ là quan hệ thị tộc mà chủ yếu là mang tính chất cộng đồng xã hội.Ngời Thái nói:
Nhiều ngời thành bản
Cho nên trong một bản có nhiều dòng họ cùng sinh sống với nhau nh họ
Hà, họ Vi, Lơng… nên còn Có nơi, trong bản có hai, ba dân tộc cùng chung sống vớinhau
Mở rộng phạm vi xã hội khỏi bản là mờng: Nhiều bản thành mờng, nhiềuphơng thành trời đất (Lài bán pìn mơng, lài phờng pín phả)
Khái niệm về mờng có hai phạm vi: rộng và hẹp Phạm vi hẹp chỉ là một
đơn vị chính trị xã hội khép kín trong một thung lũng dọc theo sông suối gần
t-ơng tự mô hình của một bộ lạc, một tiểu quốc thời cổ sơ Có lẽ hình thức tổ chứcxã hội này đợc ngời Việt chấp nhận và áp dụng đối với c dân miền núi Về kháiniệm rộng: Mờng chỉ đất nớc quốc gia nh mờng Chăm Pa, Mờng Lào, Mơng LáPúa (Đại Việt), Mờng Ngô (Trung Quốc); Có khi chỉ một thế giới nh mờng trời,Mờng ma… nên còn
11
Trang 13Nói đến mờng bản, ngoài yếu tố quần c, còn có yếu tố tổ chức Bất cứ tậphợp ngời nào cũng phải có ngời đứng đầu.
Và khai ruộng là phải có mờng, dựng Mờng phải có tạo, tạo là ngời đúng
đầu, thời cổ gọi là cân, văn bản nhà nớc gọi là thổ ty Lúc đầu tạo do dân bầu ra
và bãi miễn, sau nay mới có tục cha truyền con nối
Để cai quản bản mờng nơi nào cũng phải đặt ra luật lệ gọi là “Hít khong”,bao gồm những yếu tố nh một bộ luật của một địa phơng, nó cũng tơng tự nh h-
ơng ớc ở trong làng của ngời Việt Hít khong có nhiều điều đợc chấp nhận và tồntại lâu dài trở thành phong tục, tập quán Khi nào cần sửa chữa và bổ sung điều gìthì tạo Mờng hoặc tạo bản đa ra xin ý kiến hội nghị các bô lão “Tháu ké lé lai” đểquyết định Khi lệ làng và hít khong đã trở thành chính thức thì mọi ngời trongbản mờng phải tự giác tuân theo, kể cả tạo vi phạm cũng phải chịu hình phạt xửlý
Trong quan niệm truyền thống bản mờng tuy có ranh giới với tự nhiên,
nh-ng mối quan hệ và phạm vi hoạt độnh-ng khônh-ng dừnh-ng lại ở ranh giới đó mà mở cửathông thoáng:
Nơi nào cũng là mờng
kỳ thị dân tộc Đi đến mờng Lào lấy Lào làm bố, đến vùng Dọ lấy Dọ làm láng
ta Láng ta là cậu mợ bên ngoại Chính vì thế ngời Thái sống xen kẽ, hòa thuậnvới các tộc ngời khác một cách yên bình Gặp khi điều kiện làm ăn sinh sống khókhăn, đặc biệt là đông ngời ít ruộng, họ lại có ý định đi tìm nơi đất ở mới, chonên đã có nhiều cuộc di c về đất Lào, đất Chợ hiện nay còn cha chấm dứt, nhất là
địa bàn Tây Nguyên Trong thời kỳ sản xuất nông nghiệp tự nhiên, tự cấp, tự túc,nhu cầu cuộc sống cũng chỉ giản đơn và cụ thể là ăn cơm phải có canh Ngời
12
Trang 14Thái có một vài nhận xét khi đi tìm đất là: Nơi nào chó gầy trâu béo thì tránh, nơinào trâu gầy chó béo thì ở Nơi chó béo trâu gầy là nơi nhiều ruộng, trâu phải càybừa nhiều, nhng ấm no nên chó béo.
Có điều khẳng định là dù đi hay ở, độc lập hay xen kẽ, ngời Thái vẫn luônluôn không phủ nhận mình và đợc các tộc ngời nói thứ tiếng khác coi trọng.Trong các nguyên nhân góp phần tồn tại của ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Th-
ớc là có ý thức gắn bó với cộng đồng, hớng về nguồn gốc, nó thể hiện ở đặc điểmsinh hoạt cộng đồng
- Quan hệ bản xóm láng giềng:
Cũng nh các tộc ngời khác ở miền núi, mỗi gia đình và thành viên cộng
đồng chịu sự chi phối của ba mối quan hệ chính là: Quan hệ họ hàng nội tộc
(ng-ời Thái gọi là “Họ”), quan hệ cậu mợ bên ngoại (gọi là lung tá), quan hệ bản xómláng giềng (tay bản) Tuy hoàn cảnh lịch sử mỗi quan hệ chủ đạo, ví dụ: ngời M-ờng rất tôn trọng và đề cao quan hệ tình cảm bên họ ngoại - cậu mộng, ng ời Việt
đề cao mối quan hệ nội tộc, họ hàng, còn ngời Thái xác định cho mỗi mối quan
hệ một khía cạnh chủ yếu: họ là quan hệ trách nhiệm, “lung tá” là quan hệ tìnhcảm, và quan hệ bản xóm là quan hệ vừa là nghĩa vụ vừa là tình cảm Trong cácmối quan hệ, không thể bỏ đợc mối quan hệ nào” lúc sa cơ còn có họ, lúc nghèokhó còn có mờng” (cân tộc nhăng mi họ, cân khó nhăng mi mờng)
Cậu mộng và họ hàng có thể cùng ở trong một bản Trong trờng hợp ấy, khinào ở nhà thì xử theo quan hệ gia đình, khi ra bản thì xử theo quan hệ xã hội mỗi
c dân đều bình đẳng Trong quan hệ gia đình, việc đi lại thăm hỏi, sinh hoạt rất tựnhiên, thực tế, đơn giản các thủ tục: Nhớ nhau thì đến thăm, có gì ăn nấy, bên nộicũng nh bên ngoại Nếu ở gần nhau thì khi có rợu cần, thịt ngon thì gọi nhau đếnnhà cùng vui vẻ
Điều đặc biệt trong quan hệ xóm giềng là trong cuộc sống vật chất tình cảm,luôn luôn gắn với láng giềng, bản xóm Cũng giống nh ngời Việt “tối lửa tắt đèn
có nhau” hay “bán anh em xa mua láng giềng gần”
Trong ăn ở có nhiều tập quán rất cụ thể nh tập quán chia canh, hay chẳnghạn mỗi khi săn bắn đợc con thú rừng hoặc làm thịt con vật 4 chân (trâu, bò,lợn… nên còn) thì cả bản chia phần theo đầu nóc nhà hoặc là khi đi đâu kiếm đợc củangon vật lạ đều mang phần về cho ngời già, trẻ con mà mình thân thiết Đặc biệt
đến bữa ăn nhà trên mời nhà dới ở gần nhau, ăn thức ăn gì cũng đều mang bátbiếu cho nhau Điều đó thể hiện sự gắn bó cùng ăn, cùng ở, cùng làm
Trong công việc, có ba hình thức giúp đỡ nhau để giải quyết các công việcnặng nhọc, đó là hình thức mợn ngời (gọi là dm hay ban) hình thức làm hội gọi làphe và hình thức cắt cử gọi là việc bản
13
Trang 15Việc mợn ngời tức là dm, mọi ngời làm tự giác làm hơn làm việc nhà mình
và không đòi hỏi phải ăn uống cầu kỳ nh bà con ngời Mờng, ngời Việt Họ chorằng đợc làm giúp anh em làng xóm, láng giềng là một điều hạnh phúc (nay ngờigiúp mình, mai mình giúp ngời) Hình thức phe là hình thức tự nguyện đóng gópcông của luân phiên giúp đỡ nhau theo kiểu phờng hội ở miền xuôi, mỗi phe cóngời đứng đầu điều hành do các thành viên trong bầu ra gọi là quan phe Cònviệc cắt cử là công việc xã do trởng bản điều hành Trong các bản Thái trớc đây
và hiện nay cũng vậy, không có một việc nặng nhọc nào ngoài sức cáng đáng củagia đình mà không sự giúp sức, tập trung của làng xóm láng giềng Có việc gia
đình cả nể không đề xuất nh sửa chữa nhà cửa, cứu ngời ốm đau, nhng ngời khác
ở nhà bên cạnh đứng ra đề xuất và tổ chức, công việc vẫn tiến hành suôn sẻ Tụcngữ có câu:
“Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”
Hoặc: “Lá lành đùm lá rách”, hay “chia rẽ thì chết, đoàn kết thì sống ”… nên cònViệc ở là hệ trọng nhất, nghĩa là phải ăn ở làm sao cho phải lòng bà con,ngời ta khuyên nhau ăn ở phải nghĩ đến mọi ngời:
“Non xanh non khoắm Non tắm non hài
Dịch : Nằm cao thì nằm sấp
Nằm thấp thì nằm ngửa
Trong giao tiếp hàng ngày bao giờ ngời ta cũng giữ kín tình cảm anh emthân tộc để giành sự cởi mở, lởi xởi với hàng xóm Trong sinh hoạt tập thể, nhữngngời thân nh cha con, anh em, họ hàng… nên còn ít khi chào hỏi, ngồi cạnh nhau vàkhông bênh vực ý kiến của nhau, đặc biệt trong khi có xích mích giữa trẻ con nhàmình và trẻ con nhà khác thì bao giờ bố mẹ cũng tra hỏi với con mình không đợcmạt sát con nhà khác Trong khi đó ngời khác thấy bố mẹ đánh con không đợcthờ ơ mà phải chạy đến ngăn cản Kiêng kị nhất là không đợc nghe lời trẻ con mà
để mất lòng hàng xóm
Trong giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày, ngời ta a chuộng sự nhẹ nhàng tếnhị, trớc đây trong bản xóm để lỡ xảy ra chuyện chửi mắng nhau hay dùng lờithô tục để thóa mạ nhau bị coi nh một hiện tợng lạ Tơng tự nh vụ trọng án của tahiện nay, làm cho cả bản mờng phải bàn luận Và ngời Thái quan niệm rằng bấthạnh nhất là bị hàng xóm cô lập, có thể so sánh bất hạnh hơn kẻ mồ côi
Ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc còn có tính dân chủ công bằng trongviệc xử lý công việc tập thể
14
Trang 16Có lẽ do ảnh hởng của tinh thần dân chủ sơ khai trong thời kỳ thị tộc, bộlạc những yếu tố công bằng bình đẳng trong xã hội Thái vẫn giữ đợc tính chấtlành mạnh Trớc khi có tập tục nhà Tạo cha truyền con nối cai quản một làng, ng-
ời dân đã bầu lên ngời đứng đầu tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của cộng
đồng mình “Dao sắc nên dùi, ngời tốt thành tạo” (mít khấu pín chi, cân đí píntạo) Tiêu chuẩn của Tạo phải có bốn điểm chính:
+ Một là ngời lao động giỏi nghĩa là phải là ngời gánh vác rần vai, cày cấyngâm mình thâm tím thịt da
+ Hai là Tạo phải khôn ngoan biết đối nội đối ngoại, có lúc phải dũng cảmkiên quyết
+ Ba là phải có đạo đức tốt, không làm các điều cấm kỵ nh:
để xin ý kiến quyết định Ngời Tạo ấy phải đợc bầu từ cộng đồng của mình chứkhông đi mời ở nơi khác đến Bởi vì ngời dân lý luận “Bản nào bản không có gàcơng - mờng nào mờng không có ngời tài giỏi”
Khi xử tội mọi ngời đều bình đẳng trớc lệ mờng, ai vi phạm những điềucấm kị đều bị xử lý bằng các biện pháp: chịu nhục hình (bị đánh), bị bắt làm việckhổ sai (ệt khói), bị phạt tiền Tiền phạt vừa dùng để khao cả poọng, cả Mờng,hoặc đóng góp làm đờng, làm cầu gì đó Nếu ngời mắc tội cha đến tuổi thànhniên bố mẹ phải chịu trách nhiệm
C dân ngời Thái ở Mờng - Bá Thớc còn có một đặc điểm hết sức tốt đẹp đó
là bản chất thật thà, ngay thẳng, thơng ngời Điều này không phải chứng minhnhiều, chỉ cần nhìn vào xã hội Thái trớc đây, không có trộm cắp, không có lừalọc, không có cảnh “ngời ăn không hết, kẻ lần không ra” là ta có thể đánh giá đ-
ợc Ngời Mờng ở Thanh Hóa có câu nhận xét rằng: “Ngăn nh táy, ngay nh láo”nghĩa là: Nghiêm túc nh Thái, thật thà nh Lào Trong chiến tranh, phần lớn các vịthủ trởng, tớng lĩnh chọn lính Thái để làm bảo vệ, bởi vì trong thực tế rất hiếm
15
Trang 17hoặc không có sự phản bội vì họ tin ngời, quý ngời hơn tất cả Tất nhiên, nếu đãtin nhau thì rất chung thủy nhng khi xuất hiện sự bạc bẽo thì họ cắt đứt không códịp lấy lại đợc Các nhợc điểm của tính cách là hay bị kẻ xấu lợi dụng, hoặc khimất niềm tin thì hay cực đoan, mất bình tĩnh.
Với đặc điểm dân c nh vậy, là nguyên nhân giải thích sự trờng tồn và pháttriển trong lịch sử, đồng thời cũng là cơ sở để mỗi ngời con của dân tộc Thái ở
đây tự trọng, tin về dân tộc mình trong tơng lai
1.3 Vị trí của ngời Thái Mờng Khoòng trong cộng đồng dân c ở Bá Thớc- Thanh Hóa.
Nh trên chúng ta đã biết, ngời Thái Mờng Khoòng - Bá Thớc có dân số
đông, là một bộ phận dân c quan trọng và ổn định, nên nó có một vị trí hết sứcquan trọng trong cộng đồng dân c ở Bá Thớc - Thanh Hóa
Trớc hết đó là một nguồn nhân lực dồi dào của huyện để phát triển nềnkinh tế của huyện C dân ngời Thái Mờng Khoòng có sức khỏe, siêng năng, cần
cù, chịu thơng, chịu khó, ngời dân lại ham học hỏi, nhiều ngời có trình độ đạihọc, không những là tiềm năng của huyện Bá Thớc mà còn là nguồn nhân lực củatỉnh Thanh Hóa và của cả nớc
Với những bản sắc văn hóa của ngời Thái Mờng Khoòng - Bá Thớc, nhữngtác phẩm văn học nổi tiếng nh truyện thơ Khăm Panh, kho tàng ca dao, tục ngữ,những bài hát, bài mo, bài cúng, những câu chuyện truyền thuyết, những phongtục tập quán, tín ngỡng của ngời Thái ở đây đã góp phần quan trọng tạo nên sựphong phú đa dạng trong văn hóa của Bá Thớc nói riêng, của dân tộc Việt nóichung
Về chính trị, xuất phát từ nguồn gốc dân bản địa là thành viên nghiễmnhiên tự giác của quốc gia Đại Việt và tổ quốc Việt Nam Đồng bào Thái ở BáThớc nói chung, ngời Thái ở Mờng Khoòng nói riêng luôn luôn gắn bó với quyềnlợi của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong lịch sử đã có nhiều lần đồngbào đứng vào hàng ngũ tiên phong của dân tộc chống lại quân xâm lợc nh theovua Lê Lợi chống giặc Ngô, ủng hộ Tống Duy Tân và Hà Văn Nho chống Phápcuối thế kỷ XIX Cùng với dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chốngthực dân Pháp 1946- 1954 Trong kháng chiến chống Pháp, đồng bào Thái ở BáThớc vừa xây dựng lực lợng dân quân du kích, bộ đội địa phơng vừa giúp đỡ ủng
hộ quân chủ lực đánh đồn Cổ Lũng, Hồi Xuân, truy quét Phỉ ở Lang Chánh, vừa
đấu tranh vạch mặt, hạ bệ bọn lang đạo phản động giả danh giả nghĩa cách mạng
đang nắm giữ một số chức vụ trong chính quyền Bá Thớc vừa là tiền đồn, vừa làhậu phơng, vừa là một mạch máu giao thông trên đờng vận chuyển tiếp tế chochiến dịch Điện Biên Phủ và Thợng Lào, trong đó c dân Thái Mờng Khoòng
16
Trang 18đóng góp một phần không nhỏ Trong kháng chiến chống Mỹ và công cuộc xâydựng, bảo vệ tổ quốc đồng bào Thái ở Mờng Khoòng – Bá Thớc cũng đã đónggóp một phần đáng kể của mình với dân tộc, hàng nghìn thanh niên lên đờng
đánh giặc, hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc, trong đó có nhiều dũng sỹ diệt Mỹ,hai anh hùng lực lợng vũ trang (trong tổng số ba anh hùng ở Bá Thớc), có hàngtrăm ngời đã ngã xuống hy sinh quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, nhiều ngời khitrở về đã mang trên mình những vết thơng đau đớn do chiến tranh gây nên Cósáu bà đợc tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
Mặt khác, ngời Thái ở Mờng Khoòng đã góp một phần khai phá, mở mang
đất đai, làm giàu đẹp cho vùng đất Bá Thớc đầy tiềm năng phát triển kinh tế ổn
định đời sống
Do điều kiện kinh tế chậm phái triển, giao thông đi lại khó khăn, dân c ít
bị xáo trộn nên vùng Mờng Khoòng – Bá Thớc giữ đợc nhiều phong tục tậpquán sinh hoạt từ thời xa xa Thông qua tìm hiểu văn hóa ta có thể hiểu thêm vềcác cộng đồng c dân bản địa Những phần còn lại trong đời sống hàng ngày của
c dân ở đây cũng đủ điều kiện thể hiện bản sắc của mình trong sự hòa nhập đạigia đình các dân tộc Việt Nam Đồng thời do nguồn gốc của c dân ở MờngKhoòng chủ yếu là từ Tây Bắc di c xuống và từ Lào sang cho nên những phongtực nh: ma chay, cới hỏi, lễ tết… nên còn đều mang đặc điểm chung với ngời Thái ở TâyBắc và ở Lào Tuy nhiên do có quan hệ giao lu văn hóa với ngời Mờng, và ngờiKinh ở các vùng lân cận cho nên ít nhiều nó cũng bị ảnh hởng phong tục của ng-
ời Mờng - Kinh ở Bá Thớc nói riêng, Thanh Hóa nói chung
17
Trang 19Chơng 2 Tục tang ma của ngời Thái mờng Khoòng
ở Bá Thớc - thanh hóa
Tang lễ là lễ đặt ra để thỏa lòng thơng xót và kính thờ ngời chết TheoKhổng Tử thì trị thiên hạ “trọng nhất là ba việc: ăn, tang và tế” Theo Mạnh Tửthì “đạo trị thiên hạ cần nhất là khiến dân nuôi ngời sống và tang ngời chết màkhông có điều gì di hám” Bởi thế xã hội ta cũng nh ở Trung Quốc việc tang còn
có phong tục và nghi lễ phiền phức hơn việc hôn nhân rất nhiều Nó đợc biểuhiện cụ thể trong phong tục tang ma của ngời Thái nói chung và ngời Thái ở M-ờng Khoòng – Bá Thớc – Thanh Hóa nói riêng
2.1 Quan niệm về cái chết của ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc Thanh Hóa.
–
2.1.1 Quan niệm chung về vòng đời (kiếp sau).
Từ xa cho tới nay, dù nhân loại đang vơn tới đỉnh cao của khoa học, conngời chinh phục đợc vũ trụ, đổ bộ lên Mặt Trăng và làm đợc biết bao điều kỳdiệu mà thở xa tổ tiên chúng ta chỉ hình dung, tởng tợng ra trong các câu chuyệnthần thoại và cổ tích nhng vấn đề về sự sống và cái chết, nhất là cuộc sống nơikiếp sau vẫn luôn là vấn đề mà bất cứ con ngời nào trên thế giới khi đối mặt haycận kề với cái chết đều phải quan tâm Con ngời luôn trăn trở, băn khoăn suynghĩ, họ từ đâu đến và kết thúc cuộc sống trên trần gian này, họ sẽ đi về đâu Cáichết và sự suy nghĩ, trăn trở về nó không chỉ là vấn đề của riêng ai mà nó đã trởthành vấn đề của nhân loại Nó là khởi đầu cho những ý niệm về tôn giáo và triếthọc sơ khai, là tiền đề cho việc xuất hiện thuyết vật linh và là mảnh đất tốt đểnhững hạt giống tâm linh nảy mầm, vừa là động lực, vừa là căn nguyên cho việcxuất hiện các nghi thức cúng tế, các tục ma chay
Thở xa, khi con ngời còn trần trụi giữa thiên nhiên hoang dã khắc nghiệt,giữa những bầy thú dữ ăn thịt ngời, khi mỗi ngày một qua đi giữa ngày đôngtháng giá, cái đói và cái rét thờng trực là bạn đồng hành thì việc một thành viênnào đó trong bộ lạc mất đi, đối mặt với họ là một nỗi sẽ khủng khiếp, một tổnthất lớn lao Đối mặt với cái chết, họ vừa khiếp hãi, vừa khao khát muốn tìm hiểu,
lý giải nó và ở đây có lẽ là có cả niềm tin mong ớc thiết tha cháy bỏng, điều nàydần dần trở thành niềm tin (không chỉ với riêng bộ tộc, tôn giáo nào) rằng conngời có kiếp sau Kiếp sau ấy có thể vẫn nh cái thế giới, cái xã hội mà họ đang
18
Trang 20sống, họ sẽ đợc gặp lại ở đấy cha mẹ, họ hàng thân thích, những ngời thân mà vìmột lý do nào đó đã mất đi, hoặc kiếp sau có thể là một phần thởng, một sự hứahẹn cho những con ngời sống có đạo đức, có đức tin Đó có thể là một cõi niếtbàn đầy hơng hoa thơm nơi cực lạc, những dòng suối trong mát ngọt lành, conngời đợc mãi mãi hạnh phúc, không phải chịu kiếp luân hồi hay bị đày dới địangục, bị quỷ sứ hành hạ, cũng có thể là một thiên đờng đầy hoa nơi con ngời sẽ
đợc vĩnh viễn hạnh phúc nơi nớc Chúa… nên còn Quan niệm này cho đến nay khôngnhững không mất đi mà còn đợc bảo lu và biến đổi cho phù hợp với thế giới hiện
đại Điều này đợc thể hiện rất rõ qua các loại sách tơng tự nh “Sự sống sau khichết” Bằng cách cố giải thích về cái chết lâm sàng trên quan điểm khoa học vànhân danh những con ngời đã từng chết đi, tới thế giới bên kia sau đó quay trở vềdơng gian, cuốn sách muốn chứng minh thông qua những nhân chứng sống rằngcon ngời có kiếp sau, thông qua những nhân chứng sống ấy, những ngời đã từng
đi vào cõi âm nơi cuối con đờng hầm chói lòa ánh sáng hay gặp gỡ vui vẻ vớinhững ngời thân mất đã lâu nhằm khẳng định cuộc sống sau khi chết mới là cuộcsống vĩnh hằng
Ngợc dòng lịch sử, qua các cuộc khảo sát rất nhiều tộc ngời, có thể thấy từthở xa xa, khái niệm linh hồn ẩn dấu trong từng con ngời là một khái niệm rấtphổ biến Có thể thấy rõ điều này qua các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết,thậm chí là các chuyện ma rất nổi tiếng ở Châu Âu “Linh hồn” nhiều khi cũng
đồng nghĩa với ma, linh hồn cũng nh con ngời, có linh hồn tốt, linh hồn xấu, cólinh hồn phù trợ cho ngời thân nhng cũng có linh hồn tâm địa ác độc luôn gây hạicho ngời đang sống ý niệm linh hồn cá nhân hay linh hồn ma trong các tộc ng-
ời, các bộ lạc thở xa là một hình ảnh phi vật chất của con ngời, nó giống nh hơi,không khí trong bóng đêm Nó là nguyên nhân của sự sống và của ý tởng về mộtthực thể đợc nó đem lại cho sự sống Nó hoàn toàn độc lập chi phối ý thức, ý chícá nhân con ngời trong quá khứ cũng nh trong hiện tại Tuy vô hình nhng nó vẫn
đang hiện lên với những ngời đang ngủ hay đang thức nh một ảo ảnh, một bóng
ma Nó có thể hòa nhập vào thân thể những ngời khác, động vật hay đồ vật màchi phối chúng Những thuộc tính và những biểu hiện khác nhau của đời sốngcũng đợc đa vào khái niệm linh hồn hay ma Ví nh thổ dân Fiji cho rằng, nếu mộtngời nào đó chết hay rơi vào trạng thái bất tỉnh, linh hồn ngời đó có thể quay trởlại nếu đợc gọi Điều này giải thích tại sao ở nhiều bộ lạc, công việc của các thầyphù thủy là làm cho linh hồn quay trở về Niềm tin vào sự bay đi tạm thời củalinh hồn có thể gặp thấy trong các nghi lễ phù thủy trên toàn thế giới Những thầyphù thủy này quả quyết rằng linh hồn đã phiêu diêu nơi xa bởi nó muốn thoátkhỏi nhà tù thân thể trong một thời gian
19
Trang 21Trạng thái này cũng giống nh sự xuất thần của những ngời lên các giá
đồng Khi ấy họ cảm thấy họ không phải là chính mình mà là Mẫu Thợng Ngàn,Mẫu Thoải, là Ông Hoàng Mời, là quan lớn Tuần Tranh, là quan Giám Sát, là Cô
Ba, Cô Chín, là các chú bé, cô bé đi hầu cận Thánh Mẫu Và những ngời đi dựhầu đồng lễ bái cầu xin ở bên cạnh đều cho rằng họ đang cầu xin các vị Thánh,các quan lớn, các ông hoàng, các cô, các cậu trong thế giới thần linh chứ khôngphải là những con ngời cụ thể bằng xơng bằng thịt mà hàng ngày họ vẫn quenbiết
Quan niệm về linh hồn rất phổ biến ở nhiều tộc ngời và họ thờng cho thờigian thức là thời gian giao tiếp với ngời sống còn khi ngủ là thời gian giao tiếpvới ngời cõi âm.Thậm chí quan niệm này còn đi xa hơn tới mức ngời ta quanniệm rằng một thân thể tàn tật cũng ảnh hởng tới linh hồn, ngời chết khi bị chém,
có vết thơng hay vết chặt thì linh hồn ở kiếp sau cũng mang những thơng tích nhvậy Ngời Việt Nam cũng có quan niệm những cậu bé, cô bé chết trẻ thì sang thếgiới bên kia, các linh hồn vẫn trẻ trung nh vậy Cho nên trong các buổi gọi hồn,hồn của các cô, các cậu chết trẻ do trẻ khỏe, nhanh nhẹn thờng lên nhanh hơnhồn của ngời chết già và bởi thế các cô, các cậu thờng hay tác động rất nhanh tớinhững ngời đang sống ở dân gian và dân chúng cho rằng các linh hồn này rấtthiêng
Một khía cạnh khác cũng đáng chú ý là quan niệm cho rằng linh hồn cũngphát ra tiếng thì thào hay tiếng huýt khe khẽ nh giọng nói thật của ngời đã chết.Ngời da đỏ Algonquin ở Bắc Mỹ cho rằng linh hồn ngời chết thờng phát ra những
âm thanh một con dế, còn ngời Tây Lan thì cho rằng linh hồn thờng phát ranhững âm nh huýt sáo, trong khi ngời Pôlinedia thì tiên rằng linh hồn có tiếng thìthào khe khẽ [13; 14] Đối với ngời Việt, cũng có trờng hợp ngời vợ góa muốn đibớc nữa nhng thờng mơ thấy ngời chồng trở về hoặc việc tái hôn sắp thành thìbỗng lại xuất hiện một lý do nào đó khiến ngời phụ nữ ấy không thể có một gia
đình mới Ngời ta thờng nghĩ rằng rất có thể ngời chồng đã chết không cho vợ táihôn nên trong nhiều trờng hợp, muốn việc này trót lọt ngời ta phải cắt tiền duyên,tức là cắt cái mối giây đã ràng buộc ngời phụ nữ đó trớc đây Cũng có trờng hợp
có ngời phụ nữ đã cao tuổi vẫn cha lập gia đình vì dờng nh có một điều gì đó ám
ảnh, ràng buộc Trong trờng hợp này ngời ta cho rằng trớc đây ngời phụ nữ đó đãnhân duyên với ngời khác, ngời ở cõi âm vẫn luôn gây trở ngại nên cần phải cắt
đứt tiền duyên thì mới có thể lấy đợc chồng… nên còn
Chính vì quan niệm rằng cuộc sống ở kiếp sau mới là cuộc sống vĩnh hằngcòn cuộc sống trên trần gian chỉ là cuộc sống tạm bợ và quan niệm sâu sắc vềlinh hồn cho nên mỗi ngời đều muốn chuẩn bị cho cuộc sống sau khi chết của
20
Trang 22mình Ngời Việt Nam ta thờng có câu “Sống gửi, thác về”, tức là cuộc sống mà ta
đang sống chỉ có tính chất tạm bợ, nh gửi thân tạm thời mà thôi Chỉ có cái chết
“Thác về” mới là đáng kể, mới vĩnh viễn lâu dài Từ quan niệm này mà một trongnhững nghi thức của tôn giáo vật linh, tục hiến tế cho ngời chết trong tang lễ đãxuất hiện
Ta có thể gặp tục hiến tế ở rất nhiều câu chuyện kể về các bộ lạc, các tộcngời thở xa Chẳng hạn ở đảo Borneo, ngời ta có tập quán giết nô lệ để nô lệ cóthể đi theo và phục vụ chủ Trớc khi giết họ, những ngời thân của ngời chết vâyquanh các nô lệ, dặn họ phải vâng lời và tận tụy với chủ nh trớc đây khi ông chủcòn sống, phải chăm sóc và lau mình cho ông chủ khi ông chủ bị ốm, không đợcrời ông và phải thực hiện tất cả mệnh lệnh của ông Sau đó những ngời phụ nữthân thích của ngời chết cầm giáo đâm nạn nhân với những thơng tích nhẹ và đàn
ông đâm họ cho tới khi chết Trên đảo FiJi còn có một tập tục dã man hơn, đó làtrong tang lễ của ngời đàn ông quý tộc, phần chủ yếu của lễ tang là bóp cổ nhữngngời vợ, ngời bạn và những nô lệ của ngời chết để phục vụ cho ngời chết trongthế giới bên kia Thông thờng nạn nhân đầu tiên trong tập tục tang lễ này lànhững ngời vợ của ngời quá cố Thi thể họ đợc bôi dầu nh để làm lễ, lng thắt dây
có tua, mắt bôi vàng và đỏ Họ bị cắt đầu, thi thể đợc đặt bên cạnh thi thể ngờichồng vừa chết Những tôi tớ cũng trở thành nạn nhân của tập tục này, thi thể của
họ có ý nghĩa nh “cỏ phủ trên mộ” [13; 16-17]
Điều này cũng đợc thể hiện rõ qua tập tục tang lễ của một số dân tộc ởChâu á chẳng hạn nh Trung Quốc và Việt Nam Nghi thức đốt tiền giấy cho ngờichết ở Trung Quốc đợc cho rằng bắt nguồn từ thời Nam Bắc Triều, mặc dầu giấy
đợc phát minh từ thời Đông Hán ở Trung Quốc Thời ấy một số đồ tùy táng đ ợcchế tác bằng giấy Sau khi chôn cất ngời quá cố, để biểu thị sự tôn kính, ngời ta
đốt giấy ở phía trớc mộ Sau đó ngời ta đặt một ít tiền thật vào trong quan tài.Nhiều gia đình nghèo cũng phải cố kiếm cho bằng đợc một ít tiền để đa vào áoquan Tiền âm phủ đợc làm từ giấy đã giúp cho ngời sống bớt khó khăn, bởi thếviệc đốt tiền âm đợc thịnh hành từ đó Việt Nam cũng có tục đốt tiền cho ngờiquá cố Ngoài ra ngời Việt còn đốt cả quần áo cho ngời đã chết Thậm chí tớinay, theo quan niệm "trần sao, âm vậy", ngời ta còn đốt cả nhà cửa, xe pháo, ô tô,
kể cả vàng và tiền đô la cho ngời đã chết với mong muốn ở dới âm, ngời thân của
họ đợc sống sung túc, không thiếu thứ gì Trong nhiều mộ táng của thời kỳ sơ sử
ở Việt Nam (văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh… nên còn) ngời ta chôn theo rấtnhiều vật tùy táng Có thể nói vật tùy táng trong thời kỳ này rất phong phú và đadạng nh đồ dùng, đồ trang sức… nên còn trong đó vũ khí chiếm phần đáng kể Ngời tatin rằng ngời chết sẽ nhận đợc tất cả xứ sở của hạnh phúc ở kiếp sau
21
Trang 23Tập tục hiến tế cho ngời chết là một tập tục mang tính toàn thế giới Có thểtìm thấy tập tục này trong vô vàn các câu chuyện kể, các các quan sát của cácnhà nhân loại học, các nhà dân tộc học, nhân chủng học, lý giải về sự giống nhau
đó, không có gì khác hơn là ý niệm tôn giáo nguyên thủy nảy sinh sự khao khátmuốn giải thích thế giới, sự khiếp hãi trớc cái chết và ớc muốn tồn tại vĩnh hằng.Thực tế này đã gửi gắm vào các tôn giáo, và nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay
Tóm lại, những ý niệm về linh hồn chính là điểm mấu chốt cơ bản củathuyết vật linh Thuyết này là một trong những học thuyết về tôn giáo quan trọngnhất của con ngời - đó là niềm tin vào sự tiếp tục tồn tại của linh hồn sau khichết Niềm tin vào cuộc sống tơng lai có tính phổ biến và tồn tại dai dẳng khôngchỉ ở các thị tộc, bộ lạc cổ xa mà niềm tin này đã đợc chuyển hóa thành nhữnggì sâu xa nhất trong các tôn giáo hiện nay Có thể nói lòng tin vào cuộc sống tơnglai là sự kích thích, là đòn bẩy cho con ngời hớng tới cái thiện, là niềm hy vọngnâng đỡ con ngời trong đau khổ khi đối mặt với cái chết, là sự hứa hẹn cho nhữngngời có đức tin và luôn làm điều lành về một cuộc sống tốt đẹp mai sau, là câuhỏi và câu trả lời muôn thuở về sự chênh lệch giữa con ngời, sự phân phối hạnhphúc không đều nhau trong thế giới này - một thế giới tạm bợ để hy vọng vàomột thế giới khác công bằng tốt đẹp hơn
2.1.2 Quan niệm của ngời Thái ở Mờng Khoòng- Bá Thớc về cái chết.
Ngời Thái ở Mờng Khoòng- Bá Thớc cũng nh ngời Thái ở Tây Bắc trongcác phong tục tập quán cũng nh lối sống sinh hoạt, họ chỉ có khác đôi chút do vịtrí địa lý và địa hình quy định Quan niệm về cái chết, ngời Thái nói chung - ngờiThái ở Mờng Khoòng nói riêng đều cho rằng con ngời có hai phần: phần xác vàphần hồn Khi hồn và xác gắn vào nhau thì con ngời đó “sống”, còn khi hồn rờikhỏi xác thì con ngời “chết” Hồn rời khỏi xác, đi vẩn vơ, bị ma quỷ bắt đem vềDiêm Phủ, ở đó bị Diêm Vơng bắt vào ngục tù bị hành tội Do vậy, phải có nghithức thu hồn về và tiễn hồn lên trời Hồn lên trời đợc sống an nhàn cực lạc, cònphù hộ cho con cháu làm ăn tấn tới Xác phải đợc “tế lễ”, đợc chôn cất nơi đấtlành Nếu không đợc tế lễ, xác là con ma, sẽ không phù hộ độ trì cho con cháulàm ăn
Cũng xuất phát từ quan niệm "trần sao, âm vậy" cho nên khi chôn ngờichết, ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc cũng có tập tục chôn theo những đồtùy táng với ớc muốn là mong cho ngời chết không thiếu thốn thứ gì nơi cuộcsống ở thế giới bên kia Chính vì vậy mà phong tục tang ma của ngời Thái TâyBắc nói chung, ngời Thái ở Mờng Khoòng - Bá Thớc nói riêng có rất nhiều tậptục, lễ nghi rờm rà và tốn kém
22
Trang 242.2 Những nghi thức về việc tang của ngời Thái ở Mờng Khoòng Bá Thớc.
* Chăm sóc ngời già ốm nặng (Tục làm hiếu).
Thánh nhân có câu “Bách hạnh hiếu vi tiên” Trong sách Luận ngữ, Thiên
Vi Chánh chơng năm, Thày Phiên Trì xin đức Khổng Tử giảng về chữ Hiếu, thì
đợc Ngài trả lời rằng: Khi cha mẹ còn sống, phải phụng sự cho hợp lễ, khi cha
mẹ khuất phải lo tống táng cho hợp lễ và cúng tế cho hợp lễ, mới không trái đạolàm con Xem nh thế, thì việc phụng dỡng cha mẹ không phải chỉ là ngày hai bữacơm no, khát cho uống nớc và đau ốm đã có thuốc thang, giống nh một loài thú,
Điển trong nhà, di chi còn điều nặng, tiếng nhẹ, làm cho phải phép chiếu lệ,không nghĩ đến công ơn bú mớm và từ lúc còn là hạt máu trong lòng ngời mẹ
Đến khi cha mẹ quá cố, lo cỗ bàn linh đình, lạy cho ngời khác ăn, chiều lòng để
họ ăn uống cho no say, nếu mích lòng, lỡ lời, lỡ bộ, thì cỗ bàn thiu thối đổ đi
Nh vậy chẳng khác nào trò giả dối, che mắt thế gian, đúng với câu tục ngữ:
“Sống chẳng cho ăn, đến khi chết ngắc làm văn tế ruồi”
Ngời Việt nói chung và ngời Thái nói riêng, trong tâm thức của mỗi conngời thì chữ hiếu vẫn đợc đặt lên hàng đầu Bởi vậy khi cha mẹ đau yếu, bệnh tậtthì bổn phận của ngời con phải luôn luôn nghĩ rằng “Công Cha nh núi Thái Sơn,nghĩa Mẹ nh nớc trong nguồn chảy ra” để mà lo phụng sự Khi cha mẹ mạnhgiỏi, việc cơm nớc, ấm lạnh thì rất dễ cho ngời lắm tiền nhiều bạc, báo hiếu thựctình cũng có mà để khoe với thiên hạ cũng có Thánh nhân cũng đã nói: “gia bầntri tử hiếu” – nhà nghèo mới biết lòng con thảo, nhất là trong lúc ốm đau Việcsăn sóc ngời bệnh trong gia đình đối với ông bà, cha mẹ, chị em, vợ chồng haycon cái đều đợc săn sóc kỹ càng, luôn luôn có ngời túc trực, thuốc thang, chiềuchuộng, nội ngoại gần xa cũng đợc loan tin và tập hợp đông đủ Ngời Thái ở M-ờng Khoòng có một tập tục đi thăm ngời ốm rất hay ở chỗ: Mọi gia đình đều đếnthăm ngời ốm bằng ống cơm lam, bằng thịt cá hoặc thú rừng quý hiếm cùngnhững câu chúc thật tuyệt vời sâu nặng tới ngời ốm Mang ý nghĩa cầu mong chongời ốm nhanh chóng khỏi bệnh và mạnh khỏe
Ngời Thái nói chung rất trọng bên ngoại, tập tục của ngời Thái ở MờngKhoòng – Bá Thớc khi có ngời già sắp từ trần thì bên ngoại phải chuẩn bị sẵnmột chiếc đệm nhỏ bằng bông lau cùng một tấm vải liệm đầu tiên cho ngời quá
cố Khi nào ngời ốm biết chắc sẽ không qua khỏi, sắp từ giã cõi đời thì đợc pháttín hiệu bằng cách đánh cồng con Hiệu lệnh của tiếng cồng con đó dù ở đâu, dùlàng trên xóm dới đều tụ tập đông đủ tại gia đình có ngời ốm nặng, con cháu tổchức làm vía để cầu mong tai qua nạn khỏi, sống khỏe mạnh trở lại
23
Trang 25Trớc đây, ngời Thái nói chung, ở Mờng Khoòng – Bá Thớc nói riêng để
tổ chức một đám tang chi phí hết sức tốn kém và thời gian thờng kéo dài tới 7– 8 ngày Đối với những gia đình nghèo không có tiền đám tang không đợc đa
đi mà phải để trong gia nhà ngời thậm chí đến 3 tháng, có khi đến cả vài ba năm,khi nào gia đình sắm đủ lễ để mo (cúng ) thì mới đợc đem đi chôn cất hoặc là gia
đình có ngời đi xa thì thờng chờ con cháu về tập hợp đông đủ rối mới đem đichôn cất Thông thờng, khi có ngời mất gia chủ phải chuẩn bị một phần chi phí: ítnhất là một con trâu béo (hoặc bò), 3 con lọn to, vài chục gà vịt, 2 – 3 cuộn vảitrắng (mỗi cuộn 12 sải) 4 lạng bạc trắng, mua sắm dủ loại mâm lễ, lo đủ gạo, rợudùng trong 8 ngày đêm cho khoảng ba bốn trăm ngời ăn
Sau đó gia chủ mời họ hàng đến họp bàn định ngày phát tang làm hiếu, vớiviệc phân bố chi phí nh sau: Rể phải nộp một trâu (hoặc bò), chịu một phên làmvách mồ, con gái lo phần cơm cúng lễ hàng ngày, con dâu (trong nhà và chi họ)
đến quạt ma, lớp cháu chắt bên ngoài lo phần cơm nớc, tiếp đón khách Con trai
lo tất cả các phần chi phí còn lại của một đám tang: trâu, bò, gà, lợn, rợu, gạo,… nên còn Tục làm hiếu diễn ra từ 7 – 8 ngày, cụ thể là:
- Ngày thứ nhất: Lễ đón ma về (hạp phớn ), gia chủ cho mổ trâu cúng Ông
mo kể lại lịch sử ngời chết (cúng ẩm cóc) Các con dâu đứng lên giàn chầu quạt,
đều mặc tang phục
- Ngày thứ hai: Lễ nhận quan Hồn ngời chết hiện về nhập vào cỗ quan tàimới của mình Gia chủ mổ một trâu (hoặc mổ một lợn và ớp muối đồ chín)
- Ngày thứ ba: Lễ hồn nhập quan (kháu bong), mổ một trâu hoặc một bò
- Ngày thứ t: Lễ đa hồn, trở lại bãi tha ma (pay tàng) Trớc khi lên mờngtrời, hồn ngời chết trở lại chia tay với ngời thân cha có may mắn đợc con cháulàm hiếu, còn phải ở lại với trần Gia chủ cho mổ nhiều trâu, thờng mỗi ngời một
đầu con theo đầu hiếu, tổ chức ăn uống linh đình
- Ngày thứ năm: Lễ ăn sáng, gói chiều (ngài pói ngài nọi) Gia chủ mổmột trâu, một bò Da thì con cháu làm trống Ông mo dẫn hồn ngời chết lên m-ờng trời, còn ngời trởng họ thì đọc bài văn tế Trong đêm “tiễn hồn” con cháu họhàng không đợc ngủ Ngời ta tổ chức phá cỗ “hiếu” ăn cháo đầu trâu, đầu bò Ainghĩ ra trò gì đều có thể mang ra diễn trớc mọi ngời cốt để gây cời, thậm chí cónhững việc làm trái khoáy nh đêm đông rét cóng thì nhảy xuống suối tắm… nên cònThông thờng trong nhng trò diễn ấy thì ngời ta thờng diễn tả lại những cảnh sinhhoạt mà khi còn sống ngời chết đã từng làm, có pha một chút hề để gây cời đểmọi ngời đến dự đám tang không thấy buồn ngủ
- Ngày thứ sáu: Lễ dâng cỗ lên (sống ngài luông) Mổ một bò cúng tại nhàmồ
24
Trang 26- Ngày thứ bảy: Lễ đa cơm cuối cùng (ngài càng) Mổ một trâu lớn cúngtại nhà mồ Ông mo dặn ngời chết vui vẻ làm ăn và che chở cho con cháu khỏi
ốm đau Cúng xong con cháu sửa sang lại mồ mả và lấy một thanh tre ở nhà mò
đem về nhà để thờ cúng
- Ngày thứ tám: Lễ rửa nhà (mát hờn) Gia chủ thịt gà làm mâm cúng
Ông mo xua đuổi tà khô, đem lại sự sạch sẽ và vui tơi trong gia đình Đến
đây kết thúc tục làm hiếu [13; 321 - 323]
Ngày nay, do tiếp thu chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc ta, cũng đãthay đổi cho phù hợp hơn với điều kiện, hoàn cảnh của từng gia đình Ngời ta chỉ
để ngời chết trong nhà có 24 tiếng, sau đó đem chôn Tục làm hiếu cũng chỉ diễn
ra trong 3 ngày giống nh của ngời Việt Mặt khác, những thủ tục rờm rà cũng đợcgiảm bớt, chi phí của một đám ma cũng nhẹ nhàng hơn tùy thuộc vào điều kiện,hoàn cảnh của từng gia đình mà họ làm to hay làm nhỏ, chẳng hạn nh khôngnhất thiết phải mổ trâu (bò) để mo mà chỉ cần mổ lợn để thay thế, hoặc gia đìnhquá nghèo không có trâu bò, lợn để làm hiếu thì cũng đợc tiến hành chôn cất ng-
ời chết rồi khi nào có điều kiện thì làm hiếu sau, cũng có thể khi nào trong gia
đình có ngời khác qua đời thì ngời ta làm hiếu luôn cho ngời trớc, gọi là ma khô Thông thờng trong gia đình có ngời chết, ngời ta tiến hành rất nhiều lễ nghi
và những nghi lễ đó không thể thiếu dù ở bất kỳ giai đoạn nào, kể cả xa và nay *Lễ mộc dục (tắm gội):
Cho dù con ngời khỏe mạnh, sạch sẽ nh thế nào thì trớc khi làm cái lễ nhậpquan ngời ta cũng tắm rửa sạch sẽ cho ngời đã khuất để sạch bụi trần Đối với ng-
ời Việt, khi gia đình có ngời chết thì phải sắm đủ khăn vải trắng (một tắm, mộtlau mặt), một lợc tha để chải tóc Một chậu đựng nớc, một chậu để nớc thừa Lúctắm vây màn cho kín, tang chủ quỳ xuống khóc, ngời hộ việc cũng quỳ rồi cáo từrằng: “Nay xin tắm gội để sạch bụi trần” Xong phục xuống, đứng dậy Cha thìcon trai tắm, mẹ thì con gái vào tắm Lấy vông vải dấp vào ngũ vị, lau mặt chosạch rồi lấy lợc chải tóc, lấy sợi vải buộc tóc Lau tắm xong, cắt móng tay, móngchân bỏ vào áo quan, trên thì để ở trên dới thì để ở dới, thay quần áo cũ, mặcquần áo mới cho ngời chết Những ông già 70 tuổi trở lên chết thờng đợc mặcquần áo lam, chít khăn nhiễu tím, nhất là những cụ 80, 90 có khi cũng mặc áo vóc
điều Sau đó ngời sống bỏ hết quần áo đẹp, đồ trang sức, quấn tóc, đi chân khônghoặc dép rơm, dép cói không chải chuốt Dao, lợc, thìa và nớc đem đi chôn, rồi r-
ớc thi thể đa lên giờng
Trong lễ mộc dục của ngời Thái nói chung cũng tơng tự nh ngời Việt NgờiThái Mai Châu khi có ngời chết, con cháu vuốt mặt, lau ngời bằng nớc thơm vàmặc quần áo (thờng là quần áo mặc ngày hội, may theo lối cổ) Bên ngoài mặc
25
Trang 27thêm một chiếc áo thụng bằng tơ màu tím Ngời chết đội mũ vải, lng thắt dải,chân đi tất Còn ngời Thái ở Mờng Khoòng – Bá Thớc tiến hành làm lễ mộc dụccho ngời chết cầu kỳ hơn, nó thể hiện sự linh thiêng hơn Khi có ngời mới qua đi,ngời ta lấy lá bởi về nấu cho ấm rồi đem tắm rửa, trau truốt cho sạch sẽ, sau đóvận khăn lên đầu ngời chết (gọi là pộc khăn) Chỉ có con cháu trong nhà mới đợcphép tắm rửa cho ngời quá cố Nếu ngời quá cố là đàn bà thì do các phụ nữ concháu trong nhà đảm nhiệm, còn nếu là đàn ông thì lại do con cháu là nam giới
đảm nhiệm việc tắm rửa thi thể
Quần áo mặc cho ngời chết ở trong cùng là một bộ quần áo đã dùng thờngngày (quần áo cũ nhng mới nhất trong số các bộ quần áo của ngời quá cố) Sau đócác bộ quần áo mới đợc mặc ở ngoài và những bộ quần áo mới đó phải do concháu đẻ mang tới Nếu ngời quá cố là đàn bà thì phải mặc 4 váy, 5 áo, mặc ởngoài cùng là áo dài màu đỏ Còn là đàn ông thì mặc 4 quần, 5 áo, ngoài cùngmặc áo dài màu đen ở trên đầu nếu là đàn ông thì đội mũ vải cũng giống nh ngờiThái ở Mai Châu còn đàn bà thì chít khăn, lng thắt dải, nếu là đàn bà thì dây lngmàu tím, còn đàn ông thì dây lng màu đỏ Tiếp theo ngời ta đeo các đồ trang sứccho ngời quá cố, nếu là đàn bà thì đợc đeo vòng tay và hoa tai bằng bạc trắng, đàn
ông đợc đeo 9 nhẫn và một đôi vòng bạc, vòng bạc cho đàn ông phải đợc đánhtheo hình bầu dục Xong những thủ tục đó ngời ta mới bôi mật ong lên môi củangời chết ý tởng của việc làm này là mong ngời chết chỉ nói lời ngọt, lời hay chocon cháu mai sau
* Sau lễ mộc dục thời gian cha nhập quan:
Cũng giống nh ngời Việt, sau khi tắm rửa xong, ngời ta đắp chăn hoặcchiếu, buông màn, nhng ngời Thái ở Mờng Khoòng lại mắc màn ngang giờng, đặtmột chiếc ghế con ở trên đầu, trên đó đặt một bát cơm úp, một qủa trứng, dựngmột đôi đũa tre lên bát cơm và thắp hơng
Cũng cần phải nói thêm rằng ngời Thái kiêng kị ngày mão vì theo quanniệm của đồng bào thì đó là ngày con ong, ngày vất vả Nếu có ngời chết vàongày mão thì phải đắp chiếu để đó coi nh còn sống, chờ ngày hôm sau mới
“chết”; Ngoài ra còn kị ngày hợi, nếu chết vào ngày hợi thì phải đợi đến giờ dần
để lấy giờ chết nhằm trị các loại ma mà ngời Thái gọi là fi (phi) đang ngự ở thếgiới bên kia
* Phạn hàm và chiêu hồn:
Phạn là cơm, hàm là ngậm Cũng nh ngời Việt, khi có ngời chết, ngời Thái
ở Mờng Khoòng cũng lấy một chiếc đũa ngáng ngang miệng ngời chết cho khỏicắn răng để việc phạn hàm cho dễ và cũng để chờ xem hồn phách ngời chết có trởlại hồi sinh không Thấy hết hy vọng ngời chết sống lại thì ngời ta mới làm lễ
26
Trang 28phạn hàm bằng cách lấy một nắm gạo nếp vo sạch và 3 đồng tiền điếu mài chosạch sẽ, nhờ chiếc đũa đã kê răng nên dễ dàng bỏ chút gạo đó và tiền vào miệngngời chết Nhà giàu thì bỏ thêm vàng bạc tùy ý, chứng tỏ lòng thơng xót ngời chết
có áo quan, có cơm gạo, tiền bạc không đến nỗi thiếu thốn
Sau lễ phạn hàm, ngời ta tiến hành làm lễ chiêu hồn (hú hồn, hú vía) Vì đã
có những trờng hợp bị choáng, ngất bất tỉnh nhân sự, ngời ta dùng mọi thủ thuật
để kích thích hồi tỉnh, trong đó có thuật hú hồn hú vía Cũng có những tr ờng hợp
đã tắt thở, tởng là chết rồi, nhng sau một thời gian bỗng nhiên thấy sống trở lại
Do đó với hy vọng dầu mỏng manh, mặc dầu trong muôn một, ngời sống tiếc
th-ơng muốn cứu vãn Nên đối với ngời Việt, ngời ta làm lễ chiêu hồn bằng cách
ng-ời nhà ra đứng ở ngã ba đờng, hoặc leo lên mái nhà hô lớn tên họ ngng-ời chết, taytrái thì cầm cổ áo của ngời vẫn mặc xa nay để hồn nhập vào xác nếu số cha chếtcòn vất va vất vởng cha biết lối về; hú “Ba lần bảy vía ông” hoặc “ba hồn bảy víabà” về nhập xác Hú ba lần không đợc thì đành lòng chịu khâm liệm mà tin rằng
nh vậy hồn đỡ vất vởng, biết tìm đờng về nhà Đây là một phong tục chủ yếu đểthỏa mãn tâm linh
Ngời Thái nói chung, Mờng Khoòng - Bá Thớc nói riêng cũng làm lễ chiêuhồn tơng tự nh ngời Việt Khi làm lễ chiêu hồn, ngời nhà cầm áo của ngời đãkhuất ra đứng trên ngọn đồi (núi) cao nơi gần nhà nhất gọi hồn ngời chết về nhậpquan với “Ba hồn bảy vía ông” và “Ba hồn chín vía bà” Trong lúc đó một ngờicầm dao chọc thẳng lên mái nhà một lỗ nhỏ, sau đó cắm thẳng xuống đất nơi gần
đầu giờng của ngời chết với mục đích là trừ quỷ nhập tràng, và để cho linh hồncủa ngời chết đợc siêu thoát lên mờng trời
Xong phạn hàm và chiêu hồn rồi thì trải chiếu xuống đất, đem ngời chết
đặt xuống để hởng hơi đất theo thuyết “vạn vật đồng quy thổ”, tất cả muôn vật
đều cũng trở về lòng đất Để một lát rồi đem thi thể lên giờng chuyển ra chínhtẩm, lấy giấy đậy mặt lại Xong việc phạn hàm rồi thì mỗi ngời một việc lo lắngcho việc tang đợc chu đáo, phải yên lặng, phải cởi bỏ các thứ lòe loẹt có tính cáchvui đẹp không hợp lễ nghi và mọi ngời đều phải đi chân không, trừ ngời trên của
kẻ chết Xóm làng thấy nhà bên cạnh có tang cũng buồn lây
* Chủ tang:
Trong bất cứ một đám tang nào của ngời Việt nói chung, ngới Thái nóiriêng cũng đều phải có một ngời làm chủ tang đứng ra lo liệu quán xuyến mọicông việc của đám tang Ngời đó có thể là ngời con trai cả trong gia đình hoặccũng có thể là ông chú, ông bác, ngời có uy tín trong họ Đối với ngời Thái MờngKhoòng - Bá Thớc ngời chủ tang có vị trí hết sức quan trọng trong một đám tang.Ngời chủ tang đứng ra lo liệu mọi việc, từ việc giết mổ trâu bò để mo, tiếp đãi
27
Trang 29khách đến viếng đám tang, chỉ đạo con cháu trong nhà lo một đám tang cho chu
đáo… nên còn
* Lễ nhập liệm:
Nhập là vào có nghĩa là nhập - quan, đặt thi thể vào quan tài Quan tài gọinôm na là chiếc hòm, hay cỗ ván, hoặc gọi là linh cữu Liệm là bó xác chết lạicho kín đáo, đừng để cho lộ liễu
Trong đám tang của ngời Việt, lễ nhập liệm đợc diễn ra hết sức chu đáo vàcẩn thận Khi liệm tang chủ quỳ xuống khóc, ngời chấp sự quỳ theo và khấn: “Đ-
ợc ngày giờ, xin làm lễ liệm Cẩn cáo” Tang chủ sụp lạy và đứng lên Sau đó,tang chủ cởi bỏ dải buộc hàm, chít đầu, phủ mặt bằng một vuông vải hay vócnhiễu màu đen lót hàng màu hồng có dải buộc ra đằng sau gáy, lồng bao tay, đibít tất và giày cho ngời chết Nhà giàu thì dùng vóc nhiễu, tơ lụa, nhà nghèo thìdùng vải trắng may thành đại liệm, tiểu liệm (đại liệm là một mảnh dọc, nămmảnh ngang; tiểu liệm là một mảnh dọc, ba mảnh ngang) để khâm liệm và nhậpquan Trớc khi nhập quan họ cũng phải chọn giờ, tránh chạm tuổi ngời chết, rồidùng bùa nọ, bùa kia dán ở trong, ngoài quan tài
Ngời Thái nói chung cũng vậy, việc nhập liệm đợc diễn ra rất linh thiêng
và nó thể hiện khá rõ tình cảm của ngời còn sống đối với ngời đã khuất Đối vớingời Thái Đen ở Tây Bắc, khi khâm liệm phải có hai mảnh vải thổ cẩm lót dọc haibên sờn ngời quá cố Mỗi ngời con đẻ có một bộ quần áo để vào cái sa đặt bênquan tài, còn các con dâu mỗi ngời một dải vải trắng vắt buông phía trên áo quan.Con trai đợc đứng ngang ngực ngời quá cố, con gái chỉ ngồi ngang thân quan tài,con dâu đội khăn chóp màu trắng, áo đen dài, khâu vải thổ cẩm đỏ vào tà áo ngồiphục bên cửa vào cửa nhà sàn, không đợc đến gần nơi quàn thi hài
Ngời Thái ở Mờng Khoòng- Bá Thớc làm lễ nhập liệm tỉ mỉ, cầu kỳ hơn.Khi nhập liệm họ dùng chiếc cói, hoặc trải chiếu bằng mặt trái, đặt đệm bông lau
và gối vải ở dới rồi mới đa thi thể xuống khi liệm, vải phải đúng theo nếp cũ là:
đàn bà chín lớp vải, gồm tám trắng một đen, đàn ông cũng chín lớp vải gồm támtrắng và một đỏ ngoài cùng Sau đó ngời ta lấy màn mắc theo chiều ngang củangời chết và buộc bằng lạt tre (tiếng Thái gọi là non pới khoàng sài tóc) Xongphần đó, ngời con trai cả giả vờ nhảy qua một lần phía trên đầu, khóc kêu trời mộttiếng và cồng chiêng đánh dồn dập ba lần
Nh trên đã nói, trớc khi nhập quan theo tín ngỡng của ngời Đông Phơng,phần nhiều ngời sống sợ ngời chết phạm trùng, hoặc không hợp vong, làm ănlủng củng nên ngời Việt cũng nh ngời Thái phải chọn ngày cho hợp với vong linh,khỏi quấy phá con cháu nên phải nhờ thầy ếm bùa trấn át Quan tài của ng ời Thái
28
Trang 30ở Mờng Khoòng thờng dùng bằng cả khúc gỗ tròn đợc chia làm năm phần: phầndới chiếm ba phần năm, phần nắp ở trên chiếm hai phần năm và nó đợc khoétrỗng ở trong Trong quan tài phải rắc tro bếp và bông lau, cùng với một bẹ chuối,một lớp bè tre đợc đan thành ba phần đều nhau.
Khi nhập quan, ngời chủ trì hô to một tiếng và mọi ngời, thờng là con cháutrong nhà cùng họ hàng cầm các góc chiếu khiêng thi thể vào quan tài Lúc đócồng chiêng đánh dồn dập và tiếng khèn thổi tiễn đa Khi thi thể đã nằm ngửa cânbằng mới đợc gấp chiếu ngợc dọc theo áo quan Điếu rất chú ý là khi vào quan tàirồi thì không đợc để cho lớp vải che khuất phần tai và phần mặt của ngời chết.Sau đó, ngời con cả ở trên cùng và mọi ngời khiêng nắp trên của quan tài lấp lại,tiếng cồng, chiêng lại đánh giục giã, nó cũng giống nh tiếng khèn, tiếng trống củangời Việt vậy
Mỗi một cỗ quan tài chỉ đợc phép dùng ba lạt tre dài, cạo vỏ cho trắng đểbuộc Khi buộc lạt tre đợc con cháu khỏe mạnh dùng những chày tay dài hàng sải
ấn xuống, chỉ đợc phép mỗi sợi lạt buộc chéo qua nhau một vòng và dắt ở bên dới
ba lần, nếu thừa thì cắt đi Sau đó ngời ta buộc quan tài bằng một lớp vải đỏ, ởtrên cùng là một hoặc nhiều lớp vải khác có nhiều màu sặc sỡ
Khi đã đậy nắp quan tài kỹ lỡng rồi thì quan tài đợc đặt ra chính tẩm Là
đàn bà mất thì quan tài phải đợc đặt ở phía trong cột nhà, còn là đàn ông thì đợc
đặt ở hơi về phía ngoài cột chính Xong những thủ tục đó thì tất cả mọi ng ời mới
đợc phép khóc thơng, cồng chiêng, kèn đánh thổi dồn dập Tiếp theo là những lờichia buồn với gia quyến dòng tộc ngời quá cố, thờng là một cụ già trong bản hoặcmột ngời có quan hệ thông gia với gia đình đó Lúc đó, ngời con rể mới đợc phépquỳ lạy gia đình để xin dâng mâm cúng bái và xin đợc phép vào ngày giờ nào Vàgia đình lúc này cũng mới công bố với làng bản xin đợc phép nhà tạo cho làm ma
và xin đợc rớc đón thầy mo Nhập quan rồi thì các con cháu nội ngoại, trừ ngờichủ tang là con trởng phải lo lắng việc tế tự, quanh quẩn tại linh cữu, còn ra phảichia nhau túc trực để cúng lễ, đèn nhang và đáp lễ những ngời đến phúng điếu
* Đặt linh sàng và linh tọa, kết hồn bạch:
Cũng giống nh ngời Việt, ngời Thái Đen nói chung, ngời Thái ở MờngKhoòng – Bá Thớc nói riêng không thể quên đợc một việc trong một lễ tang đó
là việc kết hồn bạch và đặt linh sàng, linh tọa Mỗi nơi có một quan niệm khácnhau nhng nhìn chung nó đều mang ý nghĩa nh nhau
Sàng là giờng nằm Tọa là chỗ ngồi Linh là vong linh, là linh hồn ngờichết Nh vậy, linh sàng là giờng của vong linh ngời chết nằm khi sống Linh tọa làchỗ của vong linh ngời chết ngồi khi còn sống
29