Bởi vì, nước ta phải trải qua một thời kỳ Bắc thuộc, để giữ hoà hiếu giữa hai nước, các vương triều phong kiến Việt Namthường cử nhiều đoàn sứ bộ sang thăm Trung Quốc và làm việc về cácv
Trang 1Bộ giáo dục & đào tạo Trờng đại học vinh
Phạm Thị Ngọc Anh
Tìm hiểu về thơ đi sứ của các nhà thơ
trung đại việt nam
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32 luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học :
TS Lê Thời Tân
Vinh, 2009
Vinh 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học trung đại ra đời từ thế kỷ X và không ngừng phát triển đến
thế kỉ XIX Trong mười thế kỷ ấy, văn học Việt được sáng tác dưới ảnhhưởng của ý thức hệ phong kiến Thành tựu văn học trung đại là kết quảcủa một quá trình phấn đấu gian khổ, không ngừng sáng tạo theo hướngdân tộc hóa của cha ông ta
Văn học thời kì này có vai trò to lớn trong việc hình thành kết tinhnhững truyền thống quý báu của nền văn học dân tộc
Văn học trung đại được cấu thành bởi hai bộ phận: bộ phận văn họcviết bằng chữ Hán và bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm Ở bộ phận vănhọc chữ Hán, thơ đi sứ là loại thơ độc đáo, có vị trí đặc biệt trong văn họctrung đại Việt Nam Bởi vì, nước ta phải trải qua một thời kỳ Bắc thuộc,
để giữ hoà hiếu giữa hai nước, các vương triều phong kiến Việt Namthường cử nhiều đoàn sứ bộ sang thăm Trung Quốc và làm việc về cácvấn đề: chính trị, kinh tế, văn hoá Các sứ thần Việt Nam hoặc do cảmhứng sáng tạo hoặc do tính chất công việc đã sáng tác rất nhiều bài thơ,tập thơ có giá trị
1.2 Các sứ thần Đại Việt đi sứ, làm thơ để xướng hoạ, thù tiếp với các
văn nhân Trung Quốc Thơ sứ thần nước Việt viết về những điều mắt thấytai nghe, bày tỏ cảm xúc của mình Suốt mười thế kỷ, các triều đại phongkiến Việt Nam đã cử nhiều đoàn sứ bộ đi sang Trung Quốc nên thơ đượcsáng tác trên đường đi sứ chiếm một số lượng đáng kể Thơ đi sứ phảnánh đời sống tinh thần hết sức phong phú của các nhà thơ - sứ thần thờitrung đại Trong vai trò sứ giả các nhà thơ đã thể hiện tài năng ngoại giao
để góp phần đem lại thái bình cho đất nước Thơ đi sứ biểu hiện tâm tư
Trang 3tình cảm của các nhà thơ về cuộc sống con người, về thời đại lúc bấy giờ.Thơ đi sứ còn có những đóng góp quan trọng đối với lịch sử của dân tộcViệt Qua thơ đi sứ, người đọc có thể biết được lịch sử đấu tranh trên mặttrận ngoại giao của cha ông ta Thơ đi sứ phản ánh khá đầy đủ nhữngthăng trầm của lịch sử ngoại giao qua các thời kỳ phong kiến Có nhữngthời kỳ hoạt động ngoại giao diễn ra thuận lợi nhưng cũng không ít nhữnggiai đoạn đầy căng thẳng khó khăn Các nhà thơ đi sứ tiếp xúc với các vănnhân Trung Quốc, các sứ thần nước ngoài, nên thơ đi sứ thể hiện sự hiểubiết và giao lưu về văn hoá giữa các nước, góp phần làm nên sự phongphú cho nền văn hoá dân tộc
1.3 Những đóng góp lớn của thơ đi sứ trong đời sống tinh thần con
người, trong lịch sử ngoại giao, trong nền văn hoá dân tộc nên thơ đi sứ
có một vị trí rất quan trọng trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam Cácnhà nghiên cứu nhắc đến thơ chữ Hán thì thường nhắc đến thơ đi sứ Cáctác phẩm thơ đi sứ đã được đưa vào giảng dạy trong các trường đại học và
ở bậc phổ thông Điều đó chứng tỏ thơ đi sứ là một hiện tượng đáng chú ýcủa văn học dân tộc trong các thế kỷ này Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn tìmhiểu về thơ đi sứ của các nhà thơ trung đại Việt Nam Nghiên cứu đề tàinày, chúng tôi muốn góp phần làm rõ những đóng góp của thơ đi sứ đốivới nền văn học dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Thơ chữ Hán là một bộ phận quan trọng, phát triển mạnh nhất của
văn học trung đại Việt Nam Từ trước tới nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về thơ chữ Hán như:
Thơ văn Lí - Trần, Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Nxb Khoa học HàNội, 1989
Trang 4Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Nxb Trẻ tái bản,
2.2 Riêng về thể loại thơ đi sứ viết bằng chữ Hán cũng đã có một số tác
giả tìm hiểu nhưng chủ yếu là viết về thơ đi sứ của Nguyễn Du:
Hoài Thanh trong bài “Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ
Hán”, đăng trên tạp chí văn nghệ, tháng 3 ,1960 đã nói về tâm sự của
Nguyễn Du trên đường đi sứ “Nguyễn Du quả thật có nhớ tiếc nhà Lê vàtrong sự nhớ tiếc có một cái gì đau xót” Nguyễn Du đi theo nhà Nguyễnnhưng lại nhớ tiếc nhà Lê và có khi dường như nhớ tiếc nhà Tây Sơn nữa.Ông mang nặng tâm sự hoài cổ trong thơ đi sứ Hoài Thanh còn đề cậpđến tấm lòng của Nguyễn Du đối với người nghèo khổ trên đất TrungHoa
Bài viết “Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán” của Đào Xuân
Quý đăng trên Văn nghệ, 1965, nói về tâm trạng của Nguyễn Du qua
những tập thơ chữ Hán Đào Xuân Quý quan tâm nhiều đến tâm trạng của
Nguyễn Du trong tập thơ Bắc hành tạp lục, làm trên đường đi sứ Trung
Quốc “Nếu ở những bài thơ làm trong nước, chúng ta chỉ thấy một nét u
buồn, đơn điệu, thì ở Bắc hành tạp lục ngòi bút Nguyễn Du tỏ ra sinh
động, tâm hồn Nguyễn Du thanh thoát hơn”
Trang 5Xuân Diệu với bài “Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”, in
trong Thi hào dân tộc Nguyễn Du, Nxb Văn học Hà Nội, 1966 nói về
cuộc đời phiêu dạt chìm nổi của Nguyễn Du Tâm sự u uất, trầm buồn củaNguyễn Du về xã hội phong kiến đương thời Tấm lòng thương con ngườicủa ông, đặc biệt là những người nghèo khổ “Nguyễn Du đã để lại conngười của mình trong thơ, đã cho ta thấy Tố Như bên sau cái vỏ ôngquan, ông chánh sứ” Ở bài viết này Xuân Diệu lấy một số bài thơ củaNguyễn Du sáng tác trong dịp đi sứ ở Trung Quốc để làm nổi bật tâm hồngiàu tình yêu thương con người, dù là không phải người nước mình củamột trái tim lớn - Nguyễn Du
“Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán” của
Nguyễn Huệ Chi đăng trên Tạp chí văn học, tháng 11, 1966, tìm hiểu về
nhân sinh quan của Nguyễn Du qua các triều đại nối tiếp nhau Ở Nguyễn
Du luôn thường trực một cảm hứng bi thiết về sự mong manh của đờingười, của số phận con người Thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán củaNguyễn Du khá đa dạng Thơ đi sứ của Nguyễn Du hướng đến nhữngnhân vật lịch sử trung nghĩa cương trực, những bậc kỳ tài trong vănchương, những người phụ nữ tài sắc đến những người lao động nghèokhổ, những kẻ gian hùng, ích kỷ nhỏ nhen, ti tiện Qua thế giới nhân vậtphong phú ấy, Nguyễn Du bộc lộ tình cảm của mình trên đường đi sứ
Lời nói đầu trong cuốn Nguyễn Du toàn tập, tập 1, Nxb Văn học Hà
Nội, (1996), Mai Quốc Liên viết về “Thơ chữ Hán của Nguyễn Du”, chủyếu bàn về giá trị nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Du “Thơ chữ Háncủa Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứamột tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ và độc đáo so với thơ chữ
Trang 6Hán của Trung Quốc” Mai Quốc Liên đánh giá cao về tập thơ Bắc hành
tạp lục, xem tập thơ này là một “thái sơn” trong sáng tác của Nguyễn Du.
“Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” của Trương Chính in
trong Tuyển tập Trương Chính, Nxb Văn học Hà Nội, (1997), đánh giá
thơ chữ Hán của Nguyễn Du “bài nào cũng chứa đựng một lời tâm sự, đặc
biệt là những bài thơ chữ Hán trong tập Bắc hành tạp lục, sáng tác khi
Nguyễn Du đi sứ Đó là một tập bút kí ghi lại cảm tưởng dọc đường”
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số bài viết tìm hiểu về thơ đi sứ củamột số nhà nghiên cứu tiêu biểu như:
“Vài nét về văn thơ bang giao, đi sứ đời Trần trong giai đoạn giaothiệp với nhà Nguyên”, của Trần Thị Băng Thanh, Phạm Tú Châu, Tạp
chí văn học (số 6), 1974, chủ yếu nói về biểu chương, một thể loại văn
xuôi cổ trong thời kì Lí - Trần dùng trong việc bang giao, và một số bàithơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh trong thời kì đi sứ nhàNguyên
“Thơ đi sứ, khúc ca của lòng yêu nước và ý chí chiến đấu”, của Mai
Quốc Liên, Tạp chí văn học, (số 3), 1979, khẳng định lòng yêu nước là
một nội dung có tính truyền thống của văn học Việt Nam, và nội dungnày biểu hiện rõ nét trong thơ đi sứ
Tham luận “Tứ hải giai huynh đệ: Những cuộc tao ngộ sứ giả nhà
thơ Việt - Triều trên đất nước Trung Hoa thời trung đại”, in ở Tạp chí văn
học, (số 10), 1995, nói về những cuộc gặp gỡ, ngâm vịnh văn chươnggiữa sứ giả Việt Nam và Triều Tiên đi sứ tại Trung Quốc
Bài tham luận “Lý Toái Quang - Phùng Khắc Khoan: quan hệ sứgiả - Nhà thơ - mở đầu tình hữu nghị Hàn Việt”, của Bùi Duy Tân đọc tạihội thảo giao lưu văn hoá Hàn - Việt, Hà Nội, 1996, nói về những cuộc
Trang 7giao lưu bằng văn chương giữa hai sứ giả nhằm tăng cường sự hiểu biết
về văn hoá văn học giữa hai nước, và làm thắm tình hữu nghị Việt - Hàn
“Thơ vịnh sử, thơ đi sứ và cảm hứng yêu nước thương nòi” của Bùi
Duy Tân trong cuốn Theo dòng khảo luận văn học trung đại Việt Nam,
Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2005, tìm hiểu về cảm hứng yêu nướctrong thơ vịnh sử và thơ đi sứ
Bài tham luận “Thơ bang giao chữ Hán Việt Nam trong sự giao lưuvăn hoá Việt Nam và Trung Quốc trên lịch sử trung đại”của WUZAIHAO (Vu Tại Chiếu) đọc tại hội thảo quốc tế, 2006 đề cập đến vấn đềlịch sử của thơ bang giao chữ Hán Việt Nam, một số nét nội dung và nghệthuật của thơ bang giao chữ Hán Việt Nam
Có thể nói, vấn đề thơ đi sứ có được tìm hiểu, nhưng chỉ là các bàiviết đề cập đến lịch sử của thơ đi sứ, lòng yêu nước bộc lộ trong thơ đi sứ,hay tìm hiểu về một giai đoạn của thơ đi sứ Hoặc những bài viết nói vềmối quan hệ, những cuộc tao ngộ giữa các sứ thần Việt Nam với sứ thầnTriều Tiên khi đi sứ trên đất nước Trung Hoa
Như vậy, có khá nhiều nguời giành nhiều tâm huyết nghiên cứu vềthơ đi sứ Tuy nhiên vẫn còn thiếu những công trình tìm hiểu về thơ đi sứtrong lĩnh vực thơ chữ Hán một cách hệ thống Hi vọng rằng, ở luận vănnày, chúng tôi có điều kiện đi sâu khám phá thơ đi sứ, góp phần khẳngđịnh giá trị của loại thơ này trong nền văn học nước nhà
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về thơ đi sứ bổ sung thêm tư liệu cho việc giảng dạy môn văn
ở trường trung học phổ thông
Chỉ ra những đặc điểm về nội dung và hình thức thể hiện của thơ đi sứ
Trang 8Những đặc trưng về nội dung và hình thức nghệ thuật qua các tácphẩm thơ đi sứ của một số nhà thơ trung đại Việt Nam.
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thơ đi sứ của các nhà thơ Việt
Nam thời trung đại Chúng tôi chọn một số nhà thơ tiêu biểu để làm rõ
các đặc điểm nổi bật trong nội dung cũng như hình thức thơ đi sứ thời kìvăn học trung đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp thống kê
Phương pháp miêu tả, phân tích
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp phân tích tổng hợp
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát chung về thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt
Trang 9Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ ĐI SỨ TRONG
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Đặc điểm của việc đi sứ thời phong kiến
1.1.1 Mục đích của việc đi sứ
Văn học trung đại Việt Nam ra đời khá muộn hơn so với nền vănhọc trung đại của các nước trong khu vực và trên thế giới Đây là thời kìvăn học được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.Trong văn học chữ Hán, thơchữ Hán là một bộ phận quan trọng, có đóng góp rất lớn đối với văn họctrung đại Nói đến thơ chữ Hán, phải nói đến mảng thơ đi sứ của các nhàthơ trung đại Việt Nam
Mảng thơ này chủ yếu được sáng tác từ những chuyến đi sứ TrungQuốc của quan lại Việt Nam Thơ đi sứ có những nét độc đáo, đặc sắcriêng trong vườn thơ trung đại Để hiểu rõ hơn về thơ đi sứ, trước hết tatìm hiểu về mục đích của việc đi sứ thời trung đại của các sứ thần nướcNam
Phong kiến Trung Hoa ỷ thế nước lớn luôn rắp tâm thôn tính cácnước láng giềng Việt Nam là nước nhỏ nằm sát bên Trung Quốc Lịch sửViệt Nam là lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm Quá trình chốngxâm thực từ phương bắc đã diễn ra từ thời kì dựng nước Trải qua nghìnnăm Bắc thuộc phong kiến phương Bắc luôn muốn đồng hoá người Việtbằng cách du nhập văn hoá Hán vào nước ta, chúng coi nước ta như mộtquận, huyện, thuộc địa phận hành chính của Trung Quốc
Tuy nhiên, với sức sống mạnh mẽ, tiềm tàng của người dân đấtViệt, với lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, nhân dân ta không bị đồnghoá Trái lại, với đức tính thông minh và bền bỉ của mình, họ biết giữ gìn,
Trang 10phát huy những phong tục, những truyền thống lâu đời của người Việt kếthợp với sự tiếp thu, ảnh hưởng văn hoá Hán một cách có chọn lọc để làmgiàu thêm nền văn hoá của dân tộc Việt.
Đứng về mặt lịch sử đây là thời kỳ Bắc thuộc, một thời kỳ mà kẻ đô
hộ đến từ phương bắc đã phải chạm trán với bản lĩnh người Việt cổ Cáccuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng,Dương Thanh, Khúc Thờ Dụ, Dương Đình Nghệ…đã thể hiện tinh thầnbất khuất của ông cha ta trong việc giành lại độc lập tự chủ cho đất nước.Nhưng phải đến chiến thắng Ngô Quyền năm 938, với trận chiến oanh liệtđánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mới chấm dứt một nghìnnăm đô hộ, mở ra một kỷ nguyên mới - độc lập, tự chủ của nhà nước ĐạiViệt
Việt Nam nằm ngay bên cạnh nước lớn là Trung Hoa, có lịch sửxâm chiếm lân bang, vì vậy, muốn giữ vững nền độc lập, tự chủ khôngphải dễ dàng Ý thức được điều ấy, các triều đại phong kiến nước takhông chỉ biết lợi dụng địa hình, thời tiết, khí hậu nước mình; biết giữvững biên thuỳ không để Trung Quốc phân tán đánh bại lực lượng ta màcòn biết nhún nhường, hoà hảo đối với Trung Quốc khi họ không tỏ ýxâm lăng Chính vì thế, các triều đại phong kiến nước ta đã nhận TrungQuốc là “Thiên triều”, nghĩa là coi đất mình là do Hoàng Đế Thiên Triềuphong cho; để làm phên dậu ngăn cản ngoại xâm cho Trung thổ Vậymuốn làm vua ở phiên quốc phải được Thiên Triều thừa nhận bằng cáchban sắc phong và ấn Khi mất thì kẻ quyền nối phải cáo ai và phải cầuphong
Theo lệ, mỗi năm phải tới Thiên Triều ra mắt một lần, nhưng cũng
có thể sai phái bộ thay mình mang phẩm vật tới cống Đó là lễ tuế cống
Trang 11Đi sứ mang cống phẩm vật nhằm mục đích tăng cường mối quan hệ hoàhiếu với nước lớn, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ củanước mình trước những âm mưu bành trướng, thôn tính của Trung Quốc.Các vương triều Đại Việt ngày xưa, chưa có cơ quan chuyên trách ngoạigiao, chưa có người làm ngoại giao chuyên nghiệp, khi cần người đi sứ,hay tiếp sứ, thì vua chúa cử trong số các quan lại triều đình Trong việcbang giao ngày xưa, ngoài những việc về lễ nghi như triều cống theo lệ,xin phong vương, báo tang, chúc mừng thiên tử lên ngôi hay chia buồn,thì mục đích quan trọng nhất của việc đi sứ là giải quyết những tranh chấp
về đất đai, đấu tranh giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ không để cho các biên thầncủa thiên triều lấn chiếm vùng biên giới nước ta, hoặc xin hoãn binh, hoặcgiải quyết những hậu quả chiến tranh giữa hai nước, duy trì hoà bình lànhững việc lớn liên quan đến an nguy của đất nước
1.1.2 Vai trò của các sứ thần trong việc đi sứ
Các sứ thần được cử đi sứ là đại diện cho quốc gia nên những quanlại được cử làm ngoại giao, lập sứ hay đi sứ đều là những quan lại giỏi
“trí dũng song toàn” Những nhà ngoại giao Đại Việt là đại diện cho mộtquốc gia văn hiến luôn chứng tỏ cho thiên triều biết nước ta là một nướcvăn hiến không kém gì thượng quốc Những người đi sứ ngày xưa đều
thuộc lòng những câu trong sách Luận ngữ: “Sứ ư tứ phương, bất nhục
quân mệnh, khả vi sĩ hĩ” Nghĩa là: “kẻ đi sứ bốn phương, không làmnhục mệnh vua, được như thế mới gọi là kẻ sĩ”
“Sứ ư tứ phương, bất năng chuyên đối, tuy dã diệc hề dĩ vi” Nghĩalà: “Đi sứ bốn phương, tự mình không có tài ứng đối, thì học nhiều màlàm gì”
Trang 12Những sứ thần hầu hết là những người đã đỗ đại khoa, nhiều người
là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, có người là những nhà ngoại giaochiến lược như: Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm với chủtrương đường lối ngoại giao được thi hành trong vài ba chục năm Và córất nhiều sứ thần đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của triều đình giao phó,
đã “đem chuông đi đánh nước người” Không làm nhục mệnh vua, giữgìn được quốc thể, bảo vệ được lợi ích dân tộc Điều đó đòi hỏi sứ thầnphải tinh thông địa lý, lịch sử, văn hoá nước mình, nước người, tài năngmẫn tiệp, ứng đối nhanh trí, thông minh lịch lãm Lịch sử còn ghi lại lý lẽđấu tranh của trạng nguyên Lê Văn Thịnh, tài ứng đối của Mạc Đĩnh Chi,người được phong “Lưỡng quốc trạng nguyên”, với quan lại triềuNguyên Tài biện luận của Nguyễn Trung Ngạn, Phùng Khắc Khoan,Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hãng, Hồ Phi Tích, Nguyễn CôngNhuận trong việc đòi đất bị lấn chiếm ở vùng biên giới Lê Qúy Đôn đi sứ
đã làm cho các quan nhà Thanh phải hết lời khen ngợi, kính phục mà nóirằng nhân tài nước Nam như Lê tiên sinh thì ngay cả Trung Hoa cũng chỉ
có đến một hai người là cùng Không những thế, với kiến thức uyên bác,
Lê Quý Đôn còn làm cho cả sứ thần các nước láng giềng như Lưu Câu,Triều Tiên phải kính phục, ông lại xây đắp thêm tình hữu nghị giữa hainước với việc giới thiệu nền văn hiến nước nhà
Dưới triều Tây Sơn, những nhà ngoại giao như Ngô Thì Nhậm,Phan Huy Ích, Đoàn Nguyên Tuấn đều là những nhà văn hoá lớn đã làmnên trang sử ngoại giao vẻ vang của triều đại Quang Trung
Một biểu hiện nữa của chữ “Trí” của các nhà ngoại giao Đại Việt làphải biết làm thơ, làm thơ thù tiếp các quan lại địa phương ra đón, làmthơ thù phụng với các quan sứ trong triều, làm thơ mừng chúc thọ vua,
Trang 13làm thơ khi đón tiếp sứ thần nước ngoài đến kinh đô phong vương, làmthơ tiễn biệt…
Việc làm thơ tuy không bắt buộc nhưng là một biểu hiện trình độvăn hoá của sứ thần, của thần dân một nước có văn hiến Chính một sứthần Trung Hoa là Tiền Phổ sang phong vương cho Lê Thánh Tông năm
1462 đã yêu cầu khi tiếp đón sứ phải biết làm thơ để bộc lộ cái chí chongười khác biết
Về việc làm thơ của các sứ thần thì có lẽ không lấy gì làm khó khăn
vì người nào ngày xưa cắp sách đi học mà không biết làm thơ, huống chinhững sứ thần đều là những người đã đỗ đạt trung, đại khoa Làm thơtưởng như là chuyện thong thả vui chơi, hàn huyên tâm sự nhưng đối vớicác sứ thần thì quả thật không chỉ là chuyện giao hảo, phải tuỳ theo quan
hệ giữa hai nước trong từng thời kỳ mà thể hiện tình hoà hiếu, tự cườngdân tộc
Trong dân gian ta thường có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”,còn trong việc bang giao giữa các sứ thần ngày xưa thì bài thơ cũng có thểcoi như mở đầu cho việc giao dịch bàn bạc thuận lợi
Phùng Khắc Khoan sang Yên Kinh cầu phong vương cho vua LêThế Tông năm 1597 đã bị để nằm ở công quán bốn năm tháng trời khôngđược dâng biểu Nhân dịp vua Minh Thần Tông mừng thọ 80 tuổi, ông đã
làm 35 bài thơ chúc thọ trong tập Vạn thọ thánh tiết thi tập tập thơ được
dâng lên nhà vua.Vua Minh ngự bút phê “Người hiền tài thời nào màkhông có Trẫm xem tập thơ này đủ thấy rõ tấm lòng trung khổn củaPhùng Khắc Khoan, thật đáng khen ngợi lắm”, sau đó nhận biểu phongcho vua Lê Thế Tông Đường lối “ngoại giao văn chương” đã do sứ thầnPhùng Khắc Khoan sáng tạo sử dụng từ thế kỷ XVI
Trang 14Cùng với chữ “Trí”, tài năng văn hoá sâu rộng tiêu biểu cho nềnvăn hiến của quốc gia, các nhà ngoại giao Đại Việt đã thấm nhuần chữ
“Dũng”, nghĩa là có dũng khí, can đảm, bất khuất, không sợ gian khổ khi
đi làm nhiệm vụ vua giao phó: Kiều Văn Ứng vâng lệnh Lý Thường Kiệtsang trại giặc bàn với Quách Quỳ, bao nhiêu sứ thần đời Trần đi sứ quânNguyên trong ba lần chiến tranh là coi như đi vào cái chết nhưng tất cảđều vâng mệnh vua Đỗ Khắc Chung xung phong vào trại Ô Mã Nhi xinhoãn binh… Nhiều sứ thần bị giam giữ như Đào Tử Kỳ bị giam ở GiangLăng một năm, Trịnh Đình Toàn, Nguyễn Nghĩa Toàn và 34 hành nhân bịnhà Nguyên giam giữ Lâu hơn cả là Lê Quang Bí đi sứ năm 1548, bịgiam cầm đến 18 năm mới được tha về Ngô Tử Can đi sứ Chiêm Thànhcũng bị giữ lại Hơn thế nữa, có sứ thần còn bị giết hại như Nguyễn Nhật
Tư và Lê Ngân sang cầu phong cho Trần Quý Khoáng vào năm 1411 đã
bị vua Minh giết hại Nguyễn Biểu đã bị tướng nhà Minh là Trương Phụthử thách tinh thần bằng cách dọn cho ăn cỗ là đầu một người Việt NamNguyễn Biểu móc mắt ăn, rồi làm thơ đòi quân Minh công nhận chủquyền Đại Việt Trương Phụ cho trói Nguyễn Biểu dưới chân cầu để nướcdâng lên dìm chết Tương truyền ở dưới chân cầu, ông dùng móng tayvạch vào chân cầu tám chữ: “Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểutử” (Nguyễn Biểu tử tiết ngày 11 tháng7)
Không những phải có dũng khí trước mặt đối phương, các sứ thầnViệt Nam còn phải dũng cảm vượt qua bao nhiêu gian khổ trên đường đi
sứ Phải vượt hàng vạn ki lô mét đường bộ, đường thuỷ, khi đi xe ngựa,khi đi thuyền trong thời gian cả đi và về kéo dài đến hơn hai năm, khimưa, khi gió, khi tuyết rơi lạnh buốt, khi đắm thuyền, khi mưa dột khôngchỗ che thân, khi bị mất trộm cả tư trang lẫn đồ triều phục, khi ốm đau
Trang 15bệnh tật phải bỏ xác nơi đất khách quê người trên đoạn đường dài hàngvạn ki lô mét mà sử sách cũ đã không ghi lại hết Sứ thần Phạm Mưu chếttrên đường sang Nguyên năm 1295, Doãn Bang Hiến chết năm 1322, phó
sứ Phan Ninh, hành nhân Nguyễn Cát Phu cùng bảy nhân viên đi sứ sangMinh bị bệnh dịch chết năm 1435, Phạm Quang Tiến đời Mạc đi sứ chếttrên đường đi năm 1530, Bùi Bỉnh Quân chết năm 1632, Đinh Nho Hoàn
đi sứ sang Thanh chết năm 1821, sứ bộ Phạm Hi Lượng đi sang Thanhnăm 1870 bị chết ba người…
Một chuyện nữa mà chúng ta không thể không nhắc đến là ngoàinhiệm vụ chính là công việc chính trị được giao, các sứ thần Đại Việt đãgóp phần quan trọng trong việc tiếp thu và phổ biến những kỹ thuật họctập được trong khi đi sứ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, trongnhiều chuyến đi sứ một số sứ thần đã chú ý học nghề, tìm hiểu các bí mậtnghề nghiệp, kỹ thuật cao, để mang về nước truyền bá cho dân Trong dângian vẫn thường kể chuyện về một sứ thần đã để công học hỏi kỹ thuậtcác nghề thủ công ở nước ngoài đem về dạy cho dân trong nước Trần Lưquê làng Bình Vọng, nay huyện Thường Tín - Hà Nội, tinh thông nghềthuốc nên trong lần đi sứ năm 1488 sang Trung Quốc, được cử là ngườibốc thuốc cho các sứ thần Năm 1502 ông đỗ tiến sĩ, đến năm 1505 ông
cử được làm phó sứ của đoàn sứ bộ sang Trung Quốc Trong hai lần đi sứ,ông đều có ý tìm tòi học hỏi nghề vẽ sơn trang trí Khi về nước ông đãdạy cho dân trong làng và xung quanh về nghề vẽ sơn trang trí
Phùng Khắc Hoan quê làng Phùng Xá (còn gọi là làng Bùng),huyện Thạch Thất - Hà Nội, thi đỗ Hoàng Giáp năm 1580, được cử đi sứhai lần vào năm 1597 và 1606 Trên đường đi sứ qua các vùng dệt lụa ởTrung Quốc, ông đã để ý xem xét dân địa phương kéo tơ từ kén tằm sao
Trang 16cho nhỏ, kĩ thuật, làm cho sợi tơ thêm bóng mềm và mượt Ông cũng để ýđến kết cấu của các khung cửi sao cho dệt được nhiều loại lụa, cách dệtlụa sao cho mịn và bóng Khi về nước ông đã phổ biến kỹ thuật đó chodân làng, vì thế nên dân làng Bùng đã dệt được một thứ lụa mượt, mềm
Trần Quốc Khái người xã Quất Động, huyện Thường Tín - Hà Nội,
đỗ tiến sĩ năm 1637 được cử đi sứ nhà Minh, ông đã tìm cách học nghềthêu và nghề làm lọng Khi về nước ông truyền dạy cho dân làng và xungquanh Khi ông mất, dân làng đã lập đền thờ và tôn là ông tổ nghề thêu
Đặng Huy Thứ người xã Hương Xuân, huyện Hương Điền, tỉnhThừa Thiên Huế đỗ tiến sĩ năm 1847 được vua Tự Đức cử đi sứ hai lầnđến Quảng Châu, Hồng Kông, Ma Cao Khi về nước ông đã đề xuất nhiềucải cách về kinh tế, mở mang việc thương mại Chính ông là người đãmua máy ảnh về mở hiệu ảnh đầu tiên ở Hà Nội, lấy tên hiệu là Cảm HiếuĐường
Có thể nói vai trò của các sứ thần trong lĩnh vực ngoại giao giữaViệt Nam và Trung Quốc là rất quan trọng và vô cùng cần thiết Họ đãgánh trên vai mình những trọng trách mà Triều đình giao phó Bằng bảnlĩnh và trí tuệ, sự thông minh sắc sảo, sự nhạy bén; có lúc ôn hoà, có lúcrắn rỏi, các sứ thần ngày xưa đã làm cho nước lớn phải nể trọng, kínhphục tài năng của sứ thần ta
Trang 17Đi sứ là niềm vinh dự, là sự khẳng định tài trí của mình nhưng đi sứcũng trải qua lắm gian nan vất vả thậm chí nhiều khi phải bỏ mạng trênđất người Nhưng các sứ thần đã vượt lên mọi khó khăn để hoàn thànhnhiệm vụ được giao và làm tròn nghĩa vụ với đất nước Họ đã góp mộtphần rất lớn công sức, trí dũng của mình để mang lại lợi ích cho quốc giadân tộc; mang lại sự ổn định về chính trị, mang những tiến bộ về khoahọc xã hội nhân văn và khoa học kĩ thuật về cho đất nước Quan trọngnhất là họ biết giữ vững tinh thần hoà hảo giữa hai nước.
Tài năng, trí dũng song toàn của các sứ thần còn biểu qua những bàithơ, tập thơ đi sứ Thơ đi sứ phản ánh khá đầy đủ những điều tai nghe mắtthấy của các nhà thơ trên đất Trung Hoa Những cảm xúc, cảm nghĩ, tâmtrạng của tác giả được bộc lộ trong thơ đi sứ Nói tóm lại thơ đi sứ chính
là “linh hồn” của những chuyến công cán ở Trung Quốc
Thật đáng kính trọng biết bao, những sứ thần Đại Việt, mang nhữngphẩm chất cao quý, truyền thống anh hùng bất khuất, quật cường của dântộc Họ luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết Qua đường lối ngoại giao,các sứ thần đã chứng tỏ cho Trung Quốc thấy được một truyền thống vănhiến lâu đời của Đại Việt, tinh thần chuộng hoà bình, một truyền thốngyêu nước bền bỉ mãnh liệt, ý thức tự cường dân tộc mạnh mẽ
1.2 Khảo sát số lượng các chuyến đi sứ và số lượng thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt nam
1.2.1 Khảo sát số lượng các chuyến đi sứ
Thơ đi sứ trong thời kỳ văn học trung đại Việt Nam là kết quả củamối quan hệ bang giao lâu dài giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.Thời trung đại, chữ Hán là văn tự chính thức của Quốc gia Việt Nam Cho
Trang 18nên trong hoạt động ngoại giao, chữ Hán là phương tiện giao lưu văn hoá,văn học giữa văn nhân hai nước
Thời kì này, ở Việt Nam cũng như Trung Quốc, các văn nhân cóthói quen xướng hoạ khi gặp mặt, uống rượu tiễn biệt Thơ đi sứ là mộttrong những hình thức giao tiếp, trở thành một phương tiện giao lưu, mộthình thức thể hiện sự thông minh, mẫn tiệp của các sứ thần Việt Nam,chứng tỏ nền văn hiến của đất nước ta không thua kém Trung Hoa
Đi sứ còn là dịp để các nhà thơ trung đại có cái nhìn mới mẻ về đấtnước, con người Trung Quốc, có cảm xúc sáng tạo mới Đi sứ làm côngviệc ngoại giao, thực hiện các mục đích về chính trị, văn hoá, kinh tế,quân sự… Các sứ thần - nhà thơ có cơ hội mở mang tầm mắt, mở rộngvốn sống, vốn hiểu biết của mình Các nhà thơ, trong dịp công cán ở nướcngoài cũng được thăm thú các di tích lịch sử nổi tiếng, những dấu tích củanhững người nổi tiếng Nguyễn Trung Ngạn đã từng thăm mộ Lí Bạch,đến chơi lầu Hoàng Hạc, đến Xích Bích, địa danh nổi tiếng trong lịch sửTrung Hoa Nguyễn Du đã từng “Qua sông Hoài, nhớ Hàn Tín, nhớ VănThiên Tường, viếng mộ Đỗ Phủ, thăm mộ Âu Dương Tu, một trong támnhà văn nổi tiếng đời Đường, thăm mộ Nhạc Phi, thăm mộ Chu Du, thăm
mộ Tỉ Can, thăm mộ Phạm Tăng, mưu sĩ của Hạng Võ…thấy tượng TầnCối, qua đình Tô Tần, qua đài Đồng Tước nguy nga của Tào Tháo xưa,qua sông Mịch La (tỉnh Hồ Nam) nhớ Khuất Nguyên…” [58; 15] Đi sứ,các sứ thần có cơ hội đến thăm những vùng đất nổi tiếng trên đất TrungHoa, nếu không thì họ chỉ biết tất cả những điều ấy qua những điển tích,điển cổ trong sách vở
Chính vì thế, trong những chuyến đi sứ đã đưa lại cho các sứ thần nhà thơ cảm hứng sáng tạo tươi mới dồi dào, phong phú cho thơ ca Dưới
Trang 19-ngòi bút của các nhà thơ đi sứ, cuộc sống muôn hình muôn vẻ được phảnánh sinh động, giàu màu sắc.
Thơ đi sứ của các nhà thơ trung đại Việt Nam mang đặc điểm riêng,khác với các bài thơ chữ Hán được sáng tác trong nước Nó thể hiện cảmxúc, tâm trạng của tác giả trong suốt thời gian công cán ở đất khách quêngười
Giữa Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ bang giao mật thiết.Mỗi triều đại, vương triều phong kiến Việt Nam đều cử nhiều đoàn sứ bộsang thăm và làm việc về chính trị, văn hoá, kinh tế, quân sự…
“Sau khi nhà Đinh (968 - 890) dựng lên bốn năm, Đinh Tiên Hoàngsai sứ sang nhà Tống: Nhâm thân năm thứ 3 (Tống Khai Bảo năm thứ 5)vào (972) Nam Việt Vương Liễn sang sứ thăm nhà Tống” [29; 212]
Trong thời kỳ nhà Tiền Lê (980 - 1009) “Đinh mùi (Ứng Thiên)năm thứ 14 (vua vẫn dùng niên hiệu Ứng Thiên, Tống Cảnh Đức năm thứ4) (1007), mùa xuân, vua (Ngoạ Triều) sai em là Minh Xưởng và Chưởngthư ký là Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinhĐại Tạng” [29; 235]
Trong thời kỳ nhà Lý (1009 - 1225), nhiều đoàn sứ bộ sang TrungQuốc:
“Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ nhất (Tống Đại Trung TườngPhù năm thứ ba) (1010), mùa xuân tháng 2 (Lý Thái Tổ) sai viên ngoạilang Lương Nhiệm Văn và Lê Tái Nghiêm sang triều Tống để kết hảo.[29; 241]
“Nhâm Tý Thuận thiên năm thứ ba (Tống Đại Trung Tường Phùnăm thứ 5) (1012), mùa đông, tháng 10, (Lý Thái Tổ) sai thái bảo ĐàoThạc Phụ và viên ngoại lang Ngô Nhưỡng sang triều Tống để kết hảo”.[29; 243]
Trang 20“Mậu Ngọ, (Thuận thiên) năm thứ 9, (Tống Thiên Hy, năm thứ 2)(1018), mùa hạ, tháng 6, (Lý Thái Tổ) sai viên ngoại lang Nguyễn ĐạoThanh, Phạm Hạc, sang triều Tống xin kinh Tam Tạng.”[29; 246].
“Từ 1010 - 1073, nhà Lý có 24 lượt đoàn sứ bộ sang nhàTống.Trong thời kỳ nhà Trần (1225 - 1400), các sứ giả Việt Nam sangTrung Quốc cũng rất nhiều Từ 1262 (năm thứ 3 Trung Thống nhàNguyên) đến năm 1334 (năm thứ 2 Nguyên Thống nhà Nguyên) nhà Trần
cử 47 đoàn sứ bộ sang thăm nhà Nguyên.Trong thời kỳ nhà Minh đoàn sứ
bộ Việt Nam sang Trung Quốc hơn 100 lượt”[62]
Vào thời kỳ nhà Thanh: Trong ba thế kỷ 17, 18, 19 các đoàn sứ bộnước ta sang Trung Quốc nhiều hơn các thế kỷ trước
Có thể nói trong mối quan hệ giữa hai nước, trong việc thực hiệnđường lối ngoại giao, cả hai bên đều cử nhiều đoàn sứ bộ sang thăm vàlàm việc
Ở đây, chúng ta mới chỉ có khảo sát các chuyến đi sứ của các sứ
thần Việt Nam được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư đã thấy số lượng
các chuyến đi sứ rất nhiều Điều này dẫn đến thơ đi sứ cũng có số lượngkhông ít
1.2.2 Khảo sát số lượng thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam
Để khảo sát chính xác số lượng bài thơ đi sứ của các sứ thần trongthời kỳ văn học trung đại là một công việc không dễ dàng Bởi vì trongsuốt chặng đường dài của xã hội phong kiến Việt Nam, các vương triều
cử rất nhiều đoàn sứ bộ đi sứ Trung Quốc Mỗi đoàn sứ bộ khá đông từhai mươi đến ba mươi người Mà đã đi sứ không thể tránh được việcngâm vịnh, thù tạc, làm thơ trong khi giao lưu, tiếp xúc với các văn nhânTrung Quốc Chính vì thế số lượng thơ đi sứ rất nhiều Nhưng để đưa ra
Trang 21con số cụ thể về số lượng các bài thơ đi sứ, các tập thơ đi sứ một cáchchính xác thì rất khó khảo sát
Thật vậy, có thể nêu ra những nguyên nhân làm cho công việc khảosát số lượng thơ đi sứ ở thời kì văn học trung đại Việt Nam không thể dẫn
ra số liệu cụ thể vì:
Các sứ thần đi sứ có sáng tác thơ vì tính chất công việc ngoại giao,hay vì cảm hứng phát khởi tự trong lòng nhưng họ không có chủ đích lưugiữ lại Các nhà thơ sáng tác thơ để bày tỏ tấm lòng, để ngâm vịnh thù tạc,chứ chưa xem sáng tác là một nghề nên họ không có ý thức lưu giữ tácphẩm Điều này ảnh hưởng đến công việc biên tập, biên soạn thơ đi sứ
Ở thời kì trung đại, công tác sưu tập, biên soạn, chưa được chú ý,rất ít người làm công việc này Số lượng người sáng tác thì nhiều nhưngngười sưu tập thì rất hiếm Một trong số người sưu tập thơ đi sứ là LêQuý Đôn, Phan Phu Tiên, Hoàng Đức Lương, Phan Huy Chú, DươngĐức Nhan Họ là những học giả ở thế kỉ XV rất tài năng và tâm huyết với
việc sưu tập thơ đi sứ Lê Quý Đôn viết Toàn Việt thi tập, đã sưu tầm được khá nhiều bài thơ đi sứ, Hoàng Đức Lương viết Trích Diễm thi tập, Dương Đức Nhan viết Tinh tuyển chư gia thi, Phan Phu Tiên viết Việt âm
thi tập, đến thế kỉ XIX, Bùi Huy Bích viết Hoàng Việt thi tuyển Nhưng
dù sao đi nữa, mọi cố gắng của họ cũng không thể ghi chép đầy đủ chínhxác số lượng thơ đi sứ trong thời kì văn học trung đại
Thời kì này, kĩ thuật in ấn chưa có, các tác phẩm lưu lại bằng bảnkhắc nên càng khó khăn trong việc lưu lại các văn bản Hơn nữa, thờigian sáng tác thơ đi sứ cách chúng ta ngày nay khá xa về thời gian nênnhiều bài thơ, tập thơ đi sứ bị thất lạc hoặc bị mất mát trước bao nhiêubiến cố bão táp, trước khói lửa của nhiều cuộc chiến tranh đã diễn ra trên
Trang 22đất nước ta, khiến cho nhiều thư viện lớn, sách vở, tư liệu cũng phải mấtmát hay bị thiêu huỷ, nói chi đến vài tập sách của vài nhà sưu tầm.
Qua đó, chúng tôi nghĩ việc khảo sát số lượng thơ đi sứ thời kì vănhọc trung đại từ thế kỉ X - XIX mặc dầu khó khăn, nhưng hết sức cầnthiết Thơ đi sứ chiếm một khối lượng không nhỏ trong bộ phận thơ chữHán, lại cách chúng ta khoảng thời gian rất xa Do những điều kiện đặcthù của xã hội phong kiến Việt Nam, nên việc khảo sát số lượng cụ thể tácphẩm thơ đi sứ không thể có số liệu chính xác, chúng tôi chỉ khảo sát cácbài thơ đi sứ, các tập thơ đi sứ qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Thời đại nhà Trần (1225 - 1400) các nhà thơ đi sứ nhà Nguyên ởTrung Quốc để lại các bài thơ đi sứ còn lưu giữ qua các tài liệu:
Bài thơ Qua Tiêu Tương và Ô Giang Hạng Vũ Miếu của Phạm Sư
Mạnh
Quá Bành Trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư, Tảo hành, Hỷ tình, Vãn cảnh của Mạc Đĩnh Chi.
Bắc sứ ngẫu thành của Phạm Mại.
Bắc sứ ứng tỉnh đường mệnh tịch thượng phú thi của Nguyễn Cố
Trang 23Ngoài ra Nguyễn Danh Nho đi sứ nhà Thanh lưu lại mười hai bài
thơ trong Toàn Việt Thi Lục
Nguyễn Mậu Áng cũng lưu lại hơn năm mươi bài thơ trong Toàn
Việt Thi Lục.
Bên cạnh đó, các nhà thơ thời Trần, thời Hậu Lê, thời Tây Sơn, thờiNguyễn, đi sứ nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh để lại rất nhiều tập thơ
đi sứ Chúng tôi khảo sát có tới trên dưới 32 tập thơ
Tập thơ Giới Hiên thi tập của Nguyễn Trung Ngạn có rất nhiều bài
thơ làm lúc ông đi sứ Ngoài ra còn có thể kể đến những bài, tập thơ khácnhư:
Tinh thiều kỷ hành của Vũ Cận.
Nghĩa xuyên quan quang tập của Đào Nghiêm.
Mai lĩnh sứ hoa thi tập và Vạn thọ thánh tiết thi tập của Phùng
Khắc Khoan
Bắc sứ thi tập của Đào Công Chính.
Hoa trình thi tập của Nguyễn Quý Đức.
Chúc ông phụng sứ tập của Đặng Đình Tướng.
Nguyễn Trạng Nguyên phụng sứ tập của Nguyễn Đăng Đạo.
Mặc ông sứ tập của Đinh Nho Hoàn.
Tinh sà thi tập của Nguyễn Công Hãng.
Sứ hoa tập của Nguyễn Công Cơ.
Kính trai sứ tập của Phạm Khiêm Ích.
Hoàng Hoa nhã vịnh của Nguyễn Đình Thạc
Bắc sứ hiệu tần thi của Lê Hữu Kiều.
Sứ hoa tuỳ vịnh của Nguyễn Tông Quai.
Đoàn hoàng giáp phụng sứ tập của Đoàn Nguyễn Thục.
Trang 24Yên đài thu vịnh và Hoàng hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm.
Tinh sà kỷ hành của Phan Huy Ích.
Hoa Nguyên tuỳ bộ tập, và Vọng đồng trụ hoài của Vũ Huy Tuấn.
Sứ Hoa học bộ thi tập của Trịnh Xuân Chú.
Tiêu Tương bách vịnh của Lê Quý Đôn.
Hoa trình khiển hứng tập của Hồ Sỹ Đống.
Hoa nguyên thi thảo của Lê Quang Định
Bắc sứ thi tập của Trịnh Hoài Đức.
Bắc hành thi tập của Nguyễn Miên Thẩm.
Hoa thiều ngâm lục và Hoa trình tục ngâm của Phan Huy Chú Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du.
Hoa trình thi tập của Nguyên Để.
1.3 Diễn biến lịch sử của thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam
Thơ đi sứ là một trong những mảng thơ được viết bằng chữ Hán, có
số lượng lớn trong văn học trung đại Việt Nam So với thơ vịnh sử, thơvịnh cảnh, thơ ngôn chí, thì thơ đi sứ có số lượng nhiều hơn, phong phú,
đa dạng hơn
Thơ đi sứ được sáng tác trong những chuyến đi sứ nước ngoài(Trung Quốc) được sáng tác do tính chất công việc ngoại giao, các sứthần có thói quen “chào hỏi”, “thử tài” nhau bằng hình thức giao lưu:xướng hoạ, ngâm vịnh, thù đáp Điều đó trở thành “lễ nghi” giữa người
đi sứ và kẻ tiếp sứ
Bên cạnh tính chất công việc ngoại giao thì thơ đi sứ được sáng táccòn do cảm hứng sáng tạo của các sứ thần - nhà thơ Họ có nhu cầu sángtác để bày tỏ tâm trạng, để bộc lộ cảm xúc, tình cảm thái độ về cuộc sống;
Trang 25để ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trên đất Trung Hoa rộng lớn trongsuốt cuộc hành trình công cán nước ngoài
Có thể nói thơ đi sứ có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử thơchữ Hán và là mảng thơ độc đáo của văn học trung đại Việt Nam
Sự ra đời của thơ đi sứ có từ rất sớm nó là kết quả của sự bang giaogiữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc Quá trình phát triển của thơ đi sứtrung đại Việt Nam phụ thuộc vào tình hình ngoại giao của các vươngtriều phong kiến nước ta với Trung Quốc Triều đại phong kiến nào cửnhiều đoàn sứ bộ sang thăm và làm việc ở Trung Quốc thì chắc hẳn cónhiều thơ đi sứ vì đối với các sứ thần việc làm thơ như là một lễ nghiquen thuộc, không thể thiếu
Suốt chiều dài của văn học trung đại Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế
kỷ XIX), thơ đi sứ luôn nằm trong mạch nguồn phát triển mạnh mẽ về sốlượng và ngày càng có nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao Qua khảosát số lượng thơ đi sứ, từ triều đại nhà Trần, nhà Hậu Lê, nhà Tây Sơn,nhà Nguyễn, số lượng tập thơ đi sứ của các triều đại sau nhiều hơn hẳncác triều đại trước Điều đó chứng tỏ nước ta ngày càng cử nhiều đoàn sứ
bộ sang Trung Quốc và mối quan hệ bang giao giữa hai nước được tăngcường Cùng với sự phát triển trên mặt trận ngoại giao, thơ đi sứ cũngphát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng
1.3.1 Giai đoạn từ thế kỷ X - XII
Thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XII, là thời kỳ đầu của thơ đi sứ, giaiđoạn này, đất nước ta bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tựchủ, không còn bị giặc phong kiến phương bắc đô hộ, cai trị NhưngTrung Quốc với tư cách là một nước lớn, nhà Tống luôn cho sứ sang đòi
Trang 26hỏi triều đình phong kiến Việt Nam phải tiếp tục cống nộp vật phẩm nhưtrước đây, và yêu cầu lễ tuế cống phải được duy trì thường xuyên
Để duy trì mối quan hệ bình ổn về mặt chính trị, để tránh nhữngcuộc xâm lăng không đáng có của Trung Quốc đối với nước ta, các triềuđại phong kiến Đại Việt vừa ra sức xây dựng đất nước, chăm lo đến đờisống nhân dân, chú trọng phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá của đấtnước Đồng thời triều đình phong kiến phải có đường lối ngoại giao mềmdẻo, khéo léo nhằm tránh xẩy ra nạn ngoại xâm luôn luôn tiềm ẩn và rìnhrập ở biên thuỳ
Theo sử sách chép lại, thời kỳ này các vương triều phong kiến nước
ta cử nhiều đoàn sứ bộ sang đi sứ Trung Quốc Nhưng không có bài thơ đi
sứ nào còn lưu lại với thời gian Bởi vì trải qua các cuộc binh lửa tànkhốc, những bão táp của thời đại, những trận thiên tai lũ lụt sách vở bị hưhại nhiều, đặc biệt là chủ trương phá huỷ văn hoá của nhà Minh thời kỳ
đô hộ Đại Việt đã làm hầu hết chứng tích văn hoá của thời kỳ này khôngcòn
1.3.2 Giai đoạn từ thế kỷ XIII - XIV
Đến thế kỷ XIII - XIV, thơ đi sứ thời kỳ trung đại Việt Nam bướcvào giai đoạn phát triển Thời nhà Trần cử nhiều đoàn sứ bộ đi sứ sangTrung Quốc Các quan lại Việt Nam đã dùng tài ứng đối của mình để đốiđáp với các văn nhân Trung Quốc Họ đã làm cho quan lại Trung Quốcphải tán khen, kính phục tài năng, sự thông minh, sắc sảo của sứ thần ĐạiViệt
Phạm Sư Mạnh không rõ năm sinh, năm mất, là kẻ sĩ mẫu mực, ông
đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) Sau khi đỗ đạt, ông ra làm quan dưới thời vuaTrần Minh Tông Năm 1345, ông được cử làm chánh sứ sang thương thảo
Trang 27với nhà Nguyên đã làm những bài thơ Qua Tiêu Tương và Ô Giang Hạng
Vũ miếu v.v… trong chuyến đi sứ Trung Quốc.
Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346) tự Tiết Phu, làm quan đời Trần AnhTông Năm 1304, Ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu,chiếm học vị trạng nguyên Sau khi đỗ ông được phong đến chức thượngthư Ông được cử đi sứ hai lần vào năm 1308 và 1324 Mạc Đĩnh Chi đãdùng tài năng và phẩm chất thông minh khiến người nước ngoài phảikhâm phục, từng được nhà Nguyên khen về tài ngoại giao Ông là ngườimẫn tiệp có tài ứng đối nhanh trí, hiếm có trong lịch sử, từng được mệnhdanh là “Lưỡng quốc trạng nguyên” Trong chuyến đi sứ nhà Nguyên
năm 1308 ông lưu lại một số bài thơ như: Quá Bành Trạch phỏng Đào
Tiềm cựu cư, Tảo hành, Vãn cảnh, Hỷ tình.
Là nhà ngoại giao có tài và là nhà thơ giỏi, Nguyễn Trung Ngạn(1289 - 1370) quê làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (Nay là huyện ÂnThi, Tỉnh Hưng Yên), tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, đỗ Hoàng Giápnăm 16 tuổi Sau khi đỗ đạt, ông làm quan tới chức thượng thư Khoảngnăm 1314 - 1315, ông được cử đi sứ sang đáp lễ nhà Nguyên và từng viếtrất nhiều bài thơ đi sứ trong chuyến đi sứ Những bài thơ này sau được in
trong tập thơ Giới Hiên thi tập Trong tập thơ của mình, Nguyễn Trung
Ngạn làm nhiều bài thơ về những điều cảm xúc và tai nghe mắt thấy trong
chuyến đi sứ như: Bắc sứ túc khâu ôn dịch, Tương Giang tặng biệt Hồ
Nam.v.v… Nhà bác học “Phan Huy Chú nhận xét: Thơ Nguyễn Trung
Ngạn hào mại, phóng khoáng, khí cốt Đỗ Lăng” [4; 430]
Phạm Mại (thế kỷ XIV) có bài thơ Bắc sứ ngẫu thành, Nguyễn Cố Phu (thế kỷ XIV) có bài thơ Bắc sứ ứng tỉnh đường mệnh tịch thượng phú
thi khi đi sứ nhà Nguyên năm 1335.
Trang 281.3.3 Giai đoạn từ thế kỷ XV - XIX
Thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, thơ đi sứ trung đại Việt Nam pháttriển rất mạnh, rất thịnh vượng, xuất hiện cục diện cực kỳ phồn vinh Đó
là thời kỳ thơ đi sứ có số lượng nhiều nhất trên lịch sử văn học trung đạiViệt Nam
Thơ đi sứ chiếm vị trí rất quan trọng trong thi đàn lúc bấy giờ Điềuđáng chú ý là nhiều sứ thần Việt Nam viết hẳn cả tập thơ đi sứ Có nhữngtập thơ đi sứ lên tới hơn cả trăm bài Nhiều nhà thơ đã lưu lại được thiphẩm của mình trong những chuyến công cán sang Trung Hoa như:
Vũ Cận (1527 - ?) sáng tác tập thơ Tinh thiều kỷ hành vào năm
Tập thơ Vạn thọ thánh tiết thi tập của ông được hoàng đế nhà Minh
(Minh Thành Tông) cho in để ban hành khắp Trung Quốc Ông đã sáng
tác Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập vào năm 1597 khi đi sứ nhà Minh.
Trang 29Đào Công Chính (1623 - ?) quê làng Cõi, huyện Vĩnh Lại, phủTrung Hồng (Nay là thôn Hội Am, xã Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, thànhphố Hải Phòng) Ông đã từng đứng thứ nhì trong kì thi Hội, đạt danh hiệuBảng Nhãn Năm 1673, được triều đình cử đi làm phó sứ sang Trung
Quốc, ông đã để lại tập thơ được sáng tác trên đường đi sứ Bắc sứ thi tập.
Nguyễn Quý Đức (1648 - 1730) quê làng Thiên Mỗ, nay là xã Đại
Mỗ, Từ liêm, Hà Nội Ông đỗ nhất giáp tiến sĩ đệ tam danh, tức ThámHoa, năm 29 tuổi, đời vua Lê Hy Tông Sau khi đỗ cao, ông được triềuđình cử giữ chức Thiên đô ngự sử Ông là người thẳng thắn, không xunịnh, được người đời kính trọng, yêu mến Ông làm thơ không cần trauchuốt, không chuộng lối tầm chương trích cú, nhưng ý tứ vẫn tinh tế, chặt
chẽ Tập thơ Hoa trình thi tập của ông được sáng tác vào năm 1690, khi
được cử làm chánh sứ đi sứ nhà Thanh
Đặng Đình Tướng (1649 - 1735) quê làng Lương Xá, huyệnChương Đức, Tỉnh Hà Đông, nay là huyện Chương Mỹ, Hà Nội Ông đỗtiến sĩ năm 1670, là một vị quan có thực tài, một nhà văn hoá nổi tiếng.Năm 1679, ông được triều đình cử làm phó sứ sang Trung quốc Đặng
Đình Tướng sáng tác Chúc Ông phụng sứ tập, trên đường đi sứ nhà
Thanh
Nguyễn Đăng Đạo (1651 - 1719) quê xã Hoài Bảo, Tổng Nội Duệ,nay là xã Liên Bảo, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh Ông đỗ Đệ nhất giáptiến sĩ (Trạng nguyên) năm Quý Hợi, (1683) khi 32 tuổi Là một trong số
ít trạng nguyên làm tới chức tể tướng đời Hậu Lê Năm Đinh Mão, (1687)được cử đi sứ sang nhà Thanh và mười năm sau, (1697) ông được cử đi
sứ lần 2 Văn tài của ông đã làm kinh ngạc cả triều đình nhà Thanh cùng
sứ thần các nước Vua Thanh phong cho ông là Trạng nguyên của Bắc
Trang 30triều Ông đã sáng tác Nguyễn Trạng Nguyên phụng sứ tập vào năm 1697
khi đi sứ nhà Thanh
Đinh Nho Hoàn (1670 - 1715) quê làng An Ấp, huyện Hương Sơn,tỉnh Hà Tĩnh Ông là văn thần đời Lê Huyền Tông Năm 1700 ông đỗNhị giáp tiến sĩ lúc 29 tuổi, làm đến chức Hữu thị lang bộ Công từng
được đi sứ nhà Thanh Ông sáng tác Mặc ông sứ tập trên đường đi sứ nhà
Thanh
Nguyễn Công Hãng (1680 - 1732) tự Thái Thanh, hiệu Tĩnh Am,người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, Trấn Kinh Bắc nay là thôn PhùChẩn, xã Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ông đỗ đệ tam giápđồng tiến sĩ năm 1700 lúc mới 20 tuổi, ông là đại thần, nhà ngoại giao vànhà thơ Việt Nam thời Lê Trung Hưng Nguyễn Công Hãng được cử làmchánh sứ sang nhà Thanh vào năm 1718 Ông là người có nhiều đóng góptích cực cho chính sách cai trị của triều đình Lê - Trịnh đầu thế kỷ XVIII
và là người có công chấm dứt việc “cống người vàng” hay “nợ LiễuThăng” của Việt Nam với triều đình phong kiến Trung Quốc Trong thờigian làm chánh sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Công Hãng đã sáng tác
Tinh sà thi tập gồm những bài thơ tả tình, vịnh cảnh, thù tiếp sứ bộ Triều
Tiên.v.v…Theo Phan Huy Chú “thơ Nguyễn Công Hãng có khí cáchthanh nhã, trôi chảy, đáng đọc” [4; 352]
Nguyễn Công Cơ (thế kỷ XVIII) người xã Minh Tảo, huyện TừLiêm, Hà Nội Năm 1697 (niên hiệu Chính Hoà thứ XVIII) ông đỗ tiến sĩsau đó được bổ làm Hiệu thảo viện hàn lâm trong phủ chúa Trịnh Căn
Năm 1715 ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc Tác phẩm Sứ
hoa tập được sáng tác vào năm 1715, khi đi sứ nhà Thanh.
Trang 31Phạm Khiêm Ích (1679 - 1741) tự Kính Trai, quê xã Bảo Triệu,huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, ông là người học giỏi tài cao, đỗ đầu thiHương, thì Đình, với danh vị Thám hoa khoa thi năm Canh Dần niên hiệuVĩnh Thịnh 6 đời vua Lê Dụ Tông Năm 1720, ông được thăng đến chứcLại bộ hữu thị lang Năm 1723, được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh.Trong lúc đi sứ, nhân có hiện tượng thiên nhiên kỳ thú là nguyệt thựcđêm đông chí, mặt trời mặt trăng như hai ngọc bích họp mặt và năm ngôisao: Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ cùng mọc một phương như liên châu,
chánh sứ Phạm Khiêm Ích làm bài thơ Nhật nguyệt hợp bích, ngũ tinh
liên châu chúc mừng vua Ung Chính đăng quang Vua rất hài lòng Sách Lịch triều tạp ký đánh giá: “Sứ đoàn tỏ rõ nước Nam ta là nước văn hiến
có danh tiếng, được Bắc Triều coi trọng” Ông đã sáng tác Kính Trai sứ
tập lúc đi sứ nhà Thanh
Ngô Đình Thạc (thế kỷ XVIII) quê xã Thanh Oai, huyện Thanh Trì,
Hà Nội Ông là danh sĩ đời Lê Hy Tông, năm Canh Thìn (1700), đỗ Tamgiáp đồng tiến sĩ, làm đến chức Thượng thư bộ lại Năm 1732, ông được
đi sứ Trung Quốc, tại Trung Quốc được các danh sĩ nước ngoài nể trọng
Ông có sáng tác tập thơ Hoàng Hoa nhã vịnh ghi lại cảm tưởng và cảnh
vật trên đường đi sứ nhà Thanh
Lê Hữu Kiều (1691 - 1760) quê Liêu Xá, huyện Đường Hào, tỉnhHải Dương, nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Ông làdanh thần đời Lê Dụ Tông, là người văn võ song toàn Năm Mậu Tý(1718), ông đỗ đồng tiến sĩ, sau đó giữ nhiều chức vụ quan trọng trongtriều đình Năm Định Tỵ (1737), ông được cử đi sứ nhà Thanh và sáng tác
Bắc sứ hiệu tần thi
Trang 32Nguyễn Tông Quai (1693 - 1767) là đại quan nhà Hậu Lê, ông đỗ
Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng Giáp) Ra làm quan nhà Lê Trịnh, ông được bổ chức Hữu Công Năm Nhâm Tuất (1742) ông được cửdẫn đầu đoàn sứ bộ đi sứ Yên Kinh (nhà Thanh) Đương thời ông “nứctiếng thơ hay ở khắp cõi” (Phan Huy Chú), được tôn là một trong
-“Trường An tứ hổ” - bốn con hổ Trường An Ông có giao lưu và xướnghoạ thi ca với các sứ thần Triều Tiên trong thời gian ở Trung Quốc Tập
thơ Sứ Hoa tùng vịnh (Sứ Hoa thi tập) được sáng tác trong thời gian đi sứ
chánh sứ sang nhà Thanh dâng lẽ cống Đoàn hoàng giáp phụng sứ tập là
tập thơ ông làm khi đi sứ nhà Thanh Phan Huy Chú đọc và cho thi tậpnày: “Lời thơ tao nhã, rèn luyện thanh tao phóng thoáng Tả cảnh hồnnhiên, nhẹ nhõm và siêu thoát, đáng gọi là danh gia” [4; 146]
Phan Huy Chú có trích mấy bài như: Nam Quan vãn độ (buổi chiều
qua sông Nam Quan), Quá Động Đình hồ (Qua hồ Động Đình), Xích Bích hoài cổ (Nhớ Xích Bích xưa), Tế Hoàng Hà (Qua Hoàng Hà) đều
cho là xuất sắc và độc đáo
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) quê làng Tả Thanh Oai nay là huyệnThanh Trì, Hà Nội Ông là danh sĩ, nhà văn, đời Hậu Lê - Tây Sơn Làngười thông minh, học giỏi, ông thi đỗ giải Nguyên năm 1768, đỗ tiến sĩnăm 1775, sau đó được bổ ra làm quan ở bộ Hộ, dưới triều Lê - Trịnh.Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh “cầu hiền” tìm kiếm
Trang 33quan lại của triều đình cũ Ngô Thì Nhậm cùng một số thân sĩ Bắc Hàkhác lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn Ông là người đứng đầu mộttrong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa Ngô Thì Nhậm để lại rấtnhiều trước tác và là cây bút tiêu biểu nhất của Ngô Gia Văn Phái Ông đã
sáng tác Yên đài thu vịnh (Hoa trình thi phú sao) và tập Hoàng Hoa đồ
phả khi đi sứ nhà Thanh.
Phan Huy Ích (1749/1751 - 1822) quê làng Thu Hoạch, huyệnThiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An nay là xã Thạch Châu, huyệnThạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Là quan của nhà Hậu Lê, làm việc dưới trướngchúa Trịnh, ông cũng là một công thần của nhà Tây Sơn Năm 1771, đỗđầu khoa thi Hương, tại trường thi Nghệ An, năm 1775, đỗ đầu khoa thihội, ông được bổ làm Hàn Lâm thừa chỉ Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắclần hai, xuống chiếu cầu hiền, Phan Huy Ích ra hợp tác với nhà Tây Sơn,được phong làm Tả thị lang bộ Hộ Năm 1790, Phan Huy Ích cùng với đại
tư mã Ngô Văn Sở được cử trong phái đoàn do Phạm Công Trị đóng giảvua Quang Trung dẫn đầu sang Trung Quốc mừng vua Càn Long 80 tuổi
Ông đã sáng tác Tinh sà kỷ hành trong dịp này
Vũ Huy Tuấn (1749 - 1800) sáng tác Hoa Nguyên tuỳ bộ tập, và
Vọng đồng trụ cảm hoài, đi sứ nhà Thanh.
Trịnh Xuân Chú (1704 - 1763) sáng tác Sứ Hoa học bộ thi tập, đi sứ
Trang 34chức Thụ Thư ở Viện Hàn Lâm Nam Canh Thìn (1760), triều đình cửmột phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống lễ với nhà Thanh Lê Quý
Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ Ông đã sáng tác Tiêu
Tương bách vịnh trong lúc đi sứ nhà Thanh Nhận xét về thân thế và sự
nghiệp văn chương của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú viết: “Ông có tưchất khác đời, thông minh hơn người Ông là người học vấn rộng khắp,đặt bút thành văn Cốt cách thơ trong sáng Lời văn hồn nhiên… khôngcần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài, biển cả, không có chỗnào không đạt tới, thật là phong cách đại gia” [4; 247]
Hồ Sỹ Đống (1738 - ?) quê xã Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnhNghệ An, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Ông đỗtiến sĩ năm Nhâm Thìn (1772), làm tới chức thượng thư bộ binh NămĐinh Dậu (1777), ông được sung chức phó sứ sang nhà Thanh và đã sáng
tác Hoa trình khiển hứng tập sau được gọi là Dao Đình sứ tập, vào năm
này Phan Huy Chú cho thơ ông là: “Hồn hậu phong nhã và có khí khái”
Nguyễn Đề (1761 - 1805) sáng tác Hoa trình tiêu khiển, tiền tập và
hậu tập, khi đi sứ nhà Thanh
Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) quê Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (tổ tiên
xa của ông vốn ở Phúc Kiến - Trung Quốc, sau sang ngụ ở Phú Xuân, rồivào trấn Biên Hoà, Đồng Nai) Ông là một công thần của triều Nguyễn,giúp cho vua Gia Long rất nhiều về các phương diện ngoại giao, chính trị,kinh tế Đồng thời ông là nhà nhà thơ, nhà văn, một sử gia nổi tiếng củaViệt Nam trong thế kỷ XVIII Năm 1802 ông được thăng chức Thượngthư bộ Hộ, rồi sung làm chánh sứ cùng với Binh bộ tham tri Ngô Nhân
Tịnh và Hình bộ tham tri Hoàng Ngọc Uẩn sang sứ Trung Quốc Bắc sứ
thi tập được ông sáng tác vào năm 1802, đi sứ nhà Thanh.
Trang 35Nguyễn Du (1766 - 1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên quêTiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Là dòng dõi trâm anh thếphiệt, sinh ra trong một gia đình quan lại có truyền thống văn học, ônglàm thơ từ rất sớm và là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc.
Nguyễn Du sáng tác Bắc hành tạp lục vào năm 1813 - 1814, đi sứ nhà
Thanh
Nguyễn Miên Thẩm (1819 - 1870) quê ở Huế, là con trai thứ mườicủa vua Minh Mạng Tính tình ông cương trực, khoan hoà, thích sống gầngũi với nhân dân, say mê văn chương, sáng tác nhiều Tuy dòng dõi caosang nhưng thơ ông lại có nội dung, tư tưởng gần gũi với nhân dân, nghệthuật tự nhiên dung dị nên được nhiều người yêu thích Thơ của ông dùmang nội dung cảm hoài, ngôn chí hay thù tạc… tất cả đều có văn phápgiản dị, ý tứ thâm sâu, chữ nghĩa chọn lọc, mang tính hiện thực cao, chứa
đựng tinh thần yêu nước thương dân Tập thơ Bắc hành thi tập được ông
sáng tác khi đi sứ nhà Thanh
Đoàn Nguyên Tuấn (? - ?) quê làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnhThái Bình Ông đậu hương cống vào đời Cảnh Hưng nhưng không làmquan dưới triều Lê Năm 1788, ông cùng một số người vào Phú Xuân yếtkiến Nguyễn Huệ, được giao chức trực học sĩ Viện Hàn Lâm Sau chiếnthắng quân Thanh 1789, ông được cử đi sứ Trung Quốc trong phái bộ của
Phan Huy Ích Ông đã sáng tác tập thơ Hải ông thi tập trên đường đi sứ
nhà Thanh
Nguyên Để sáng tác Hoa trình thi tập, đi sứ nhà Thanh.
Phan Huy Chú (1782 - 1840) sinh ra ở Thăng Long và lớn lên ởtổng Thuỵ Khê (tục gọi làng Thầy), huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây, nay làthôn Thuỵ Khuê, huyện Quốc Oai, Hà Nội Ông vốn thông minh, lại sớm
Trang 36có chí học tập tìm tòi Tuy học giỏi nổi tiếng cả vùng Quốc Oai, Sơn Tây(Hà Nội ngày nay), song Phan Huy Chú hai lần đi thi chỉ đỗ tú tài, nênngười ta gọi là “Kép thầy” Tuy không đứng trong hàng khoa bảng nhưngthực học, thực tài của Phan Huy Chú vẫn nức tiếng gần xa Ông xứngđáng đươc xếp trong số không nhiều nhà bác học, nhà văn hoá của ViệtNam Năm Giáp Thân (1824), ông được vua Minh Mạng cử làm phó sứ
sang Trung Quốc Tập thơ Hoa thiều ngâm lục được sáng tác vào dịp này.
Năm Canh Dần (1830), ông lại đi sứ Trung Quốc lần thứ hai,và tập thơ
Hoa trình tục ngâm làm khi đi sứ nhà Thanh lần thứ hai.
Lê Quang Định (1759 -1813), tự Tri Chỉ, hiệu Tấn Trai, người làngMậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên, nay là tỉnh Thừa Thiên Huế.Ông sinh ra trong cảnh nghèo túng, cha mất sớm, nên phải theo anh vàosinh sống ở Bình Dương, Gia Định Vốn thông minh, hiếu học nên năm
1788, khi Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại Gia Định cho mở khoa thi ông thi
đỗ, được cử làm Hàn lâm viện chế cáo, giữ việc biên soạn sổ sách Năm
1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long, ông đượcthăng Thượng thư Bộ Binh làm chánh sứ cùng Lê Chính Lộ, Nguyễn GiaCát sang Trung Quốc cầu phong cho vua Lê Quang Định là nhà thơ cótiếng trong nhóm Bình Dương thi xã và nhóm Sơn Hội ở Gia Định
Ông đã để lại tập thơ Hoa Nguyên thi thảo được viết lúc đi sứ ở Trung Quốc Lê Quang Định là người nổi tiếng thơ văn Sách Hỏi đáp
lịch sử Việt Nam, (tập 3) viết về ông như sau: “Tài thơ của ông từng được
các văn nhân, mặc khách Việt Nam, Trung Quốc Triều Tiên, tán thưởng.Tài hội hoạ cùng nghệ thuật văn chương được thấy rõ qua thi phẩm HoaNguyên thi thảo Toàn tập chỉ có 9 bài tuyệt cú, còn bao nhiêu là thơ ngũngôn và thất ngôn (Sở trường của ông) Tứ thơ trong thi tập hào sảng,
Trang 37phóng khoáng, bút pháp hồn hậu giản dị, không dụng công để trau chuốtngôn từ, nhưng thành tựu nghệ thuật rất trong sáng”
Trong những sứ thần có tập thơ đi sứ nói trên, Nguyễn Trung Ngạn,Phùng Khắc Khoan, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du là những nhà thơ tiêubiểu Trong chuyến đi sứ năm 1597, Phùng Khắc Khoan đã viết hàngtrăm bài thơ, trong đó có những bài thơ xướng hoạ với các văn nhân vàquan chức Trung Quốc, các sứ thần Triều Tiên, còn có những bài thơ đềvịnh danh lam thắng cảnh và bày tỏ cảm xúc, tức sự trên đường đi sứ
Trong chuyến đi sứ Trung Quốc dưới triều vua Quang Trung Ngô
Thì Nhậm sáng tác nhiều bài thơ hay như Hoàn nhĩ ngâm, Tương âm dạ
phát, Hành dương nhàn thuật.v.v…
Trong chuyến đi sứ dưới triều nhà Nguyễn, Nguyễn Du khôngnhững là đại thi hào chữ Nôm, mà còn là nhà thơ đạt thành tựu rất caotrong việc sáng tác thơ chữ Hán, nhất là thơ đi sứ Nguyễn Du làm 131
bài thơ chữ Hán in trong tập thơ Bắc hành tạp lục nhân chuyến đi sứ nhà
Thanh năm 1813 - 1814 Trong 131 bài thơ đi sứ này có rất nhiều bài thơ
có giá trị như Sở kiến hành, trở binh hành, đạt trình độ nghệ thuật cao và
có nội dung chủ nghĩa hiện thực sâu sắc và có nhiều bài thơ chứa đựng
giá trị nhân đạo trong Bắc hành tạp lục.
Từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, còn có những nhà thơ Việt Nam,tuy không có tập thơ đi sứ nhưng lưu lại một số bài thơ trong khi đi sứ
Nguyễn Quý Ưng (thế kỷ XV) trong khi đi sứ đã sáng tác bài thơ: Hoành
Châu Thứ Vương Bồng Trai Vận Nguyễn Đình Mỹ cũng sống vào thế kỷ
XV trước sau năm lần đi sứ nhà Minh và lưu lại nhiều bài thơ Trần Lô
(1470 - 1540) để lại bài thơ Quá quan thư hoài khi đi sứ nhà Minh năm
1505 Nguyễn Năng Nhượng (1536 - ?) còn lưu lại bài thơ như: Bắc sứ
Trang 38Dịch thứ tân niên ngẫu thành trong khi đi sứ nhà Minh Đặng Đề (thế kỷ
thứ XVI) lưu lại bài thơ: Bắc sứ Nhị Hà táo phát khi đi sứ nhà Minh năm
1584 Nguyễn Thực (thế kỷ XVII) lưu lại bài thơ: Phụng sứ đăng trình tự
thuật khi đi sứ nhà Minh năm 1606 Nguyễn Đăng (1576 - 1657) lưu lại
một số bài thơ đi sứ năm 1613 Lê Hy (1646 - 1702) lưu lại một số bài thơtrong chuyến đi sứ nhà Thanh năm 1664 Nguyễn danh Nho (1638 - 1699)
có 12 bài thơ chữ Hán trong Toàn Việt Thi Lục Thơ ông chủ yếu là thơ
vịnh cảnh, vịnh vật, thù tạc trên đường đi sứ nhà Thanh Nguyễn Mậu
Áng (1668 - ?) hiện còn lại khoảng 50 bài thơ chữ Hán trong Toàn Việt
Thi Lục phần lớn là thơ đi sứ Những người đi sứ và có thơ lưu lại còn có
Nguyễn Danh Dự (1627 - ?), Tôn Thất Thuyết (1835 - 1913).v.v…
Các sứ thần Việt Nam còn gặp gỡ và làm thơ xướng hoạ với các sứthần Triều Tiên trong chuyến đi sứ Trung Quốc Phùng Khắc Khoan có
làm những bài thơ như: Đáp quốc sứ Triều Tiên Lý Toái Quang, Hoạ sứ
thần Lý Chi Phong, Mai Nam Nghị Trai tiêu thứ Triều Tiên quý quốc Lý
Sứ Công thi vấn Nguyễn Tông Quai có viết những bài thơ như: Gửi Triều Tiên quốc sứ, Khởi trình Viên Minh Viên lại gửi Triều Tiên quốc sứ.v.v…Nguyễn Công Hãng có bài thơ: Gửi Triều Tiên quốc sứ thần Dụ Tập Nhất, Lý Thế Cẩn Lê Quý Đôn có những bài thơ như: Gửi Triều Tiên quốc sứ thần Hồng Khải Hy, Triệu Vinh Tiến, Lý Huy Trung Phan
Huy Ích, Nguyễn Đăng, Hồ Sỹ Đống, và Nguyễn Đề.v.v… cũng làm một
số bài thơ xướng hoạ với các sứ thần Triều Tiên khi sang sứ Trung Quốc.Những bài thơ xướng hoạ giữa các sứ thần hai nước nói trên là bằngchứng lịch sử về mối giao lưu hữu hảo giữa Việt Nam với Triều Tiêncũng như Trung Quốc
Trang 39Qua đó, chúng ta thấyđược sự diễn biến lịch sử của thơ đi sứ Thơ
đi sứ ra đời từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ Càng về sau, số lượng đoàn
sứ bộ càng nhiều thì càng có nhiều sứ thần - nhà thơ viết thơ đi sứ Đặcbiệt nhất là giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX là thời kỳ phát triểnmạnh nhất của thơ đi sứ trong lịch sử văn học trung đại Giai đoạn này,các nhà thơ đi sứ sáng tác nhiều tập thơ có giá trị về nội dung tư tưởng vàgiá trị về nghệ thuật cao Một số tác phẩm thơ đi sứ được đưa vào môn
văn trong chương trình Trung học phổ thông như: Bài thơ Qui Hứng (Hứng trở về) của Nguyễn Trung Ngạn, bài thơ Long Thành cầm giả ca (Bài ca về người đánh đàn cầm ở đất Long Thành), tác phẩm Sở kiến
hành (Bài hành về những điều trông thấy), bài thơ Độc Tiểu Thanh ký
(Đọc Tiểu Thanh ký) của Đại thi hào Nguyễn Du
Thơ đi sứ của các nhà thơ trung đại Việt Nam đã góp thêm sựphong phú cho diện mạo nền văn học nước nhà Thơ đi sứ còn chứng tỏcho các sứ thần nước ngoài và vua quan Trung Quốc thấy được bản lĩnh,trí tuệ, tài năng của sứ thần Việt Nam Và quan trọng nhất, thơ đi sứ thểhiện được truyền thống văn hiến lâu đời của đất nước ta qua hàng ngànnăm lịch sử dựng nước và giữ nước
Trang 40Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG CỦA THƠ ĐI SỨ TRONG
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Trong lịch sử phát triển các vương triều phong kiến Việt Nam,không thể không nhắc đến lĩnh vực hoạt động bang giao giữa hai nước:Việt Nam - Trung Quốc Mặt trận ngoại giao này, góp phần tạo nên sự ổnđịnh, bình ổn cho nước ta để phát triển, tránh được những cuộc chiếntranh không đáng có Ở lĩnh vực này, phải kể đến công lao của các sứthần Đại Việt xưa Họ đã góp một phần công sức không nhỏ của mìnhtrong công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước Ngoài ra, các sứ thần còn
để lại cho văn học nước nhà một khối lượng thơ đi sứ khá lớn
Có thể nói, thơ đi sứ góp phần tạo thêm sự phong phú, đa dạng vềnội dung cho nền văn học trung đại Việt Nam
2.1 Thơ đi sứ viết về những điều mắt thấy tai nghe của các sứ thần
Thơ đi sứ thuộc thể loại trữ tình nên nó trực tiếp bộc lộ tâm sự, cảmxúc của chủ thể trữ tình thông qua các hình tượng nghệ thuật Thơ đi sứsáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt, không phải làm trong nước mà sáng táctrên đường đi sứ sang Trung Quốc Trên hành trình sứ Hoa ngàn dặm, các
sứ thần viết về những điều mắt thấy tai nghe qua đó bộc lộ tâm sự củamình trong những tháng ngày xa quê hương đất nước
2.1.1 Thơ viết về danh lam thắng cảnh trên đường đi sứ
Đi sứ, tầm nhìn của các nhà thơ được mở rộng, suy tư được phátkhởi, cảm hứng được chắp cánh, nên danh thắng đi vào thơ chân thực, tựnhiên, sinh động
Phùng Khắc Khoan, trong dịp đi sứ Yên Kinh cũng phải thốt lêntrước vẻ đẹp của cảnh vật: