Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp 1.6 Những nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam 19 3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số tổ hợp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG THU LINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ
TỔ HỢP LAI LAN ĐAI CHÂU (Rhynchostylis gigantea Ridl.)
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHĂM SÓC LAN ĐAI CHÂU TRẮNG NGÀ CHẤM TÍM TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là đề tài nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự đồng hướng dẫn của TS Phạm Thị Minh Phượng và TS Đặng Văn Đông
Tôi xin cam đoan , số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thu Linh
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn thạc sĩ nông nghiệp, trong quá trình học tập nghiên cứu, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của của các tập thể, cá nhân và sự ủng hộ, tạo điều kiện của gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo khoa Nông học, Bộ môn Rau, Quả, Hoa – Cây cảnh – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đặng Văn Đông và
TS Phạm Thị Minh Phượng, những thầy cô đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và trong quá trình hoàn chỉnh luận văn thạc sĩ
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa- Cây cảnh thuộc Viện nghiên cứu Rau Quả đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp trong Trung tâm Khuyến nông
Hà Nội nói chung và Trạm Khuyến nông Gia Lâm nói riêng đã tạo điều kiện, giúp
đỡ tôi hết mức trong suốt thời gian ôn thi, thi cao học, học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Trồng trọt A – K21, các bạn bè và gia đình đã ủng hộ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập và bản luận văn này
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thu Linh
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
MỤC LỤC
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1.6 Những nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam 19
3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số tổ hợp lai lan Đai châu tại Gia
3.1.1 Một số đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai lan Đai châu 36
3.1.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng của các tổ hợp lai lan Đai châu tại
3.1.3 Lựa chọn ra các tổ hợp lai lan Đai châu triển vọng 42
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh
3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sinh trưởng của
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím tại Gia Lâm- Hà Nội 53
3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của tần suất bón phân đến sinh trưởng của
3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tưới nước đến sinh trưởng của
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BNN & PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
EC Độ dẫn điện (đơn vị tính là ecisiemens/mét (dS/m)
GA3 Gibberellic acid
RAPD Random Amplified Polymorphic DNA
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TCN Trước công nguyên
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
DANH MỤC BẢNG
3.1 Một số đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai lan Đai châu thí nghiệm
3.2 Động thái tăng trưởng lá của các tổ hợp lai lan Đai châu thí nghiệm tại
3.3 Động thái tăng trưởng thân của các tổ hợp lai lan Đai châu trồng tại
3.4 Động thái tăng trưởng rễ của các tổ hợp lai lan Đai châu trồng tại Gia
3.5 Các tổ hợp lai được tuyển chọn bằng chương trình chỉ số chọn lọc 44
3.6 Các chỉ tiêu cơ bản của 12 tổ hợp lai lan Đai châu khi nhân với hệ số
3.7 Động thái sinh trưởng của các tổ hợp lai lan Đai châu được chọn 47
3.8 Động thái tăng trưởng số lá và kích thước lá của lan Đai châu Trắng
3.9 Động thái tăng trưởng kích thước thân của lan Đai châu Trắng ngà
3.10 Động thái tăng trưởng số rễ và kích thước rễ của lan Đai châu Trắng
3.11 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên lan Đai châu Trắng ngà chấm tím ở
3.12 Động thái tăng trưởng số lá và kích thước lá của lan Đai châu Trắng
3.13 Động thái tăng trưởng kích thước thân của lan Đai châu Trắng ngà
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
3.14 Động thái tăng trưởng rễ của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím trên
các loại phân bón lá khác nhau trồng tại Gia Lâm – Hà Nội 58
3.15 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên lan Đai châu Trắng ngà chấm tím ở
3.16 Động thái tăng trưởng số lá và kích thước lá của lan Đai châu Trắng
3.17 Động thái tăng trưởng kích thước thân của lan Đai châu Trắng ngà
3.18 Động thái tăng trưởng số rễ và kích thước rễ của lan Đai châu Trắng
3.19 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên lan Đai châu Trắng ngà chấm tím ở
3.20 Động thái tăng trưởng số lá và kích thước lá của lan Đai châu Trắng
ngà chấm tím với các khoảng thời gian tưới nước khác nhau 64
3.21 Động thái tăng trưởng kích thước thân của lan Đai châu Trắng ngà
3.22 Động thái tăng trưởng số rễ và kích thước rễ của lan Đai châu Trắng
ngà chấm tím với các khoảng thời gian tưới nước khác nhau 67
3.23 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên lan Đai châu Trắng ngà chấm tím ở
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
DANH MỤC ĐỒ THỊ
3.1 Động thái tăng trưởng chiều dài lá ở các công thức giá thể khác nhau 48 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân của lan Đai châu Trắng ngà
3.3 Động thái tăng trưởng số lá của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím trên
3.4 Động thái tăng trưởng chiều dài lá của lan Đai châu trắng ngà chấm
3.5 So sánh tốc độ tăng trưởng chiều cao thân của công thức 3 và đối
3.6 Động thái tăng trưởng chiều dài lá của lan Đai châu trắng ngà chấm
3.7 Động thái tăng trưởng chiều dài lá ở các công thức thời gian tưới nước
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, hoa lan luôn được con người ngưỡng mộ nhờ có vẻ đẹp rực
rỡ, quý phái, hương thơm kín đáo nhưng lại rất tao nhã và sang trọng Trước đây hoa lan được xem là loài quý hiếm, nên thú chơi hoa lan thường chỉ dành cho vua chúa hoặc giới thượng lưu Ngày nay, khi đời sống vật chất và tinh thần của con người được cải thiện và nâng cao thì nhu cầu tiêu dùng hoa ngày càng tăng, diện tích hoa cũng không ngừng được mở rộng Do đó, thú chơi hoa lan đã được nâng lên thành nghệ thuật Ngành sản xuất hoa lan cũng vì thế mà ngày càng phát triển
và lan rộng trên toàn thế giới, đem lại nguồn lợi lớn cho các quốc gia đầu tư vào nghiên cứu và sản xuất hoa lan như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngành sản xuất hoa nhìn chung vẫn trong tình trạng phân tán, nhỏ lẻ, chất lượng hoa chưa cao Vì thế hàng năm chúng ta vẫn phải lãng phí nguồn ngoại tệ lớn mua hoa từ nước ngoài về, trong khi khí hậu Việt Nam phù hợp cho rất nhiều loài lan sinh trưởng, phát triển Nếu biết tận dụng điều kiện thiên nhiên ưu đãi đó, nước
ta hoàn toàn có đủ điều kiện cho hoa lan phát triển với quy mô lớn, đáp ứng được thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu
Lan Đai châu (hay còn được gọi là lan Ngọc Điểm) có tên khoa học là
Rhynchostylis gigantea Ridl là loài lan rừng đẹp, quý của Việt Nam với những cụm hoa dài buông thõng, màu sắc tươi tắn phong phú, hương thơm nhẹ nhàng rất đặc trưng Hơn thế nữa, lan Đai châu thường nở hoa vào đúng dịp tết Nguyên Đán, thời gian chơi hoa kéo dài nên trở thành loài hoa đem lại giá trị cao và ngày càng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng Với mỗi loài hoa nói chung và lan Đai châu nói riêng, việc lựa chọn được các giống triển vọng và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật
là một trong những yếu tố hết sức quan trọng góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật cho giống hoa đó Tại Viện nghiên cứu Rau quả từ năm 2010 đã bắt đầu lai tạo lan Đai châu, gieo hạt vào tháng 10 năm 2011 và đưa ra ngôi 12 tổ hợp lai từ tháng 9/2012 để nghiên cứu Qua đánh giá ban đầu của Viện nghiên cứu, một số tổ hợp lai
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Đai châu cho thấy khả năng sinh trưởng tương đối tốt trong điều kiện sinh thái tại Gia Lâm- Hà Nội Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá chính xác các tổ hợp lai trên để tuyển chọn ra tổ hợp lai triển vọng nhất để nhân rộng ra sản xuất, phục vụ cho việc đa dạng hóa sản phẩm ở nước ta Bên cạnh đó, giống lan Đai châu Trắng ngà chấm tím là loại lan bản địa quý, hiện đang được thị trường rất
ưa chuộng, tuy nhiên đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật tác động lên giống đó trong giai đoạn vườn ươm để nâng cao khả năng sinh trưởng
của giống Vì vậy, chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu sinh trưởng của một số tổ
hợp lai lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea Ridl.) và biện pháp kỹ thuật chăm
sóc lan Đai châu Trắng ngà chấm tím tại Gia Lâm- Hà Nội”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm xác định được một số tổ hợp lai có triển vọng phù hợp điều kiện sinh thái tại Gia Lâm- Hà Nội, và bước đầu đưa ra một số biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao khả năng sinh trưởng phát triển của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím tại Gia Lâm- Hà Nội
2.2 Yêu cầu
- Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng của 12 tổ hợp lai lan Đai châu
- Lựa chọn được một số tổ hợp lai lan Đai châu có triển vọng dựa trên đặc
điểm sinh trưởng của 12 tổ hợp lai đó
- Lựa chọn được giá thể tốt nhất cho sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
- Lựa chọn được phân bón lá tốt nhất cho sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
- Lựa chọn được tần suất bón phân tốt nhất cho sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
- Lựa chọn được khoảng thời gian tưới nước thích hợp nhất cho sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu đề tài đã cung cấp những dẫn liệu khoa học mới có giá
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
trị trong việc lựa chọn tổ hợp lai triển vọng và một số biện pháp kỹ thuật nhằm tác động vào khả năng sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
- Kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về hoa lan nói chung và lan Đai châu nói riêng
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc, phân loại và phân bố của lan Đai châu
Hoa lan sớm được người Châu Âu biết đến Pharatus (376 - 285 TCN) được
coi là cha đẻ của ngành lan học vì ông là người đầu tiên dùng từ Orchid trong tác
phẩm “Nghiên cứu thực vật” Sau đó là Linneaus (1707-1778) và Robut Bron (1773
- 1858) là người đầu tiên phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác (dẫn theo Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Năm 1794, ở Anh người ta đã biết đến 15 loài lan nhiệt đới Người đặt nền tảng cho môn học về hoa lan chính là Joan Lindle (1799-1865) Năm 1836 ông đã công bố tài liệu (A Tabuler View of the Tribes of Orchidar) để sắp xếp cây và chi họ lan Tên của những họ lan do ông đặt được dùng tới ngày hôm nay
Vào khoảng thế kỷ 17, nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha - Joanisde Loureiro là người đầu tiên khảo sát về lan ở Việt Nam Nhưng chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu đáng kể F Gagnepain
và A Ginillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài lan cho cả ba nước Đông Dương trong cuốn “Thực vật chí Đông Dương” do H Lecomte chủ biên xuất bản năm 1932 đến
1934 Đến năm 1972, Phạm Hoàng Hộ trong bộ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” (Quyển II) đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Việt Nam Năm 1993 ông lại công bố có 755 loài lan ở nước ta trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” (Quyển III)
Tác giả Bùi Xuân Đáng (2005) cho biết: loài Ngọc Điểm Rhynchostylis được
nhà thảo mộc Carl Blume tìm ra vào khoảng cuối thập niên 1800 tại Java Tuy nhiên
loài lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley) được Wallich tìm thấy tại Miến điện năm 1833 Lần đầu tiên loài lan này được mô tả và gọi tên Saccolabium
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
giganteum bởi tác giả Lindley vào năm 1833, sau đó tác giả Ridley đã chuyển sang chi
Rhynchostylis với tên khoa học là Rhynchostylis gigantea vào năm 1896
1.1.2 Phân loại và phân bố
Theo những thống kê sơ bộ mới đây của Giáo sư Leonid V Averyanov and Anna L Averyanova (2003), họ lan ở Việt Nam hiện nay có khoảng 897 loài thuộc 152 chi, phân bố dọc đất nước từ Bắc vào Nam Trong đó một số chi có giá trị
kinh tế lớn như Aerides (có 7 loài); Cymbidium (24 loài); Dendrobium (có 107 loài); chi Paphiopedilum (có 18 loài) và Rhynchostylis (có 3 loài)… Với số lượng như
vậy có thể thấy sự phong phú của hoa lan ở Việt Nam
Trên thế giới, chi lan Ngọc Điểm có 3 loài với đặc điểm gần giống chi Vanda, phân bố từ Ấn Độ qua Malaysia đến Philippines Ba loài phân biệt thông qua các đặc điểm: cánh môi chia 3 thùy hay không, cụm hoa thẳng hay buông xuống và màu sắc của hoa (Trần Hợp, 1990) Đó là:
Lan Ngọc Điểm Đai Châu (Rhynchostylis gigantea (Lindl.) Ridl.) là loài lan
sống phụ, thân mập, có thể cao đến 1m, mang lá đều đặn thành 2 hàng trên thân, nhiều rễ chống lớn Lá dày, phẳng, hình dải rộng, dài 15- 40cm, rộng 4-7cm, màu xanh đậm nổi các vạch trắng dọc lá, đỉnh chia 2 thùy tròn, gốc có bẹ Cụm hoa bông lớn, cong xuống, dài 20-30cm Hoa màu trắng có nhiều đốm tím, cánh môi có vạch tím, đỉnh chia 3 thùy nhỏ, cựa ngắn màu trắng, có hương thơm Cây thường ra hoa vào mùa xuân Loài lan này phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam của Việt Nam Trên thế giới, cây phân bố ở Myanmar, Thái Lan, Lào, Camphuchia, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc Hiện nay có các giống lai mới du nhập về Việt Nam với hoa màu tím đỏ, màu trắng, màu đốm đỏ, màu cam Ở Việt Nam, lan Đai châu phân
bố dọc đất nước từ Bắc vào Nam, dọc theo dãy Trường Sơn đến các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam Bộ (Chu Thị Ngọc Mỹ và cs., 2009)
Lan Ngọc điểm Hải Âu (Rhynchostylis coelestis Rchb.f.) là loài lan sống
phụ sinh, cao 10-30cm nhiều rễ ở gốc, lá hình dải hẹp, dày, gấp theo gân giữa, màu xanh đậm, bóng, dài 10-15cm, đầu cắt ngang có hai thùy nhọn không đều Cụm hoa thẳng đứng, dài hơn lá, đường kính hoa 2cm, màu trắng với các đốm lớn màu lam ở
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
đỉnh, cánh môi hình bầu dục, màu lam, gốc màu trắng, cựa hơi cong màu lam, hoa thơm Cây thường ra hoa vào mùa hè (tháng 6-8) Loài lan này phân bố ở Lâm Đồng của Việt Nam, trên thế giới cây phân bố ở Lào, Campuchia, Thái Lan
Lan Ngọc Điểm Đuôi Cáo (Rhynchostylis retusa (L.) Blume) là loài lan
sống phụ, thân thẳng, mập, cao 15-30cm, nhiều rễ chống Lá hình dải, dày, màu xanh bóng, dài 20-40cm, rộng 2-5cm đỉnh bằng, chia 2 thùy không đều Cụm hoa buông xuống, dài 20-40cm, mang nhiều hoa xếp dày như một bông Đường kính hoa 2-2,5cm màu trắng có đốm tím Cánh môi hoàn toàn tím Cây thường ra hoa vào tháng 7- 8 trong năm Lan Ngọc Điểm Đuôi Cáo thường phân bố ở miền Bắc (Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình), Tây Nguyên (Đắc Lắc, Lâm Đồng) và trên thế giới lan phân bố ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia
Trong sách hoa lan Châu Á của tác giả Eng-Soon Teoh (2005) lại cho
rằng chi lan Rhynchostylis có 4 loài, trong đó 3 loài được tìm thấy ở Thái Lan và 1 loài mới Rhynchostylis violacea ít phổ biến hơn được tìm thấy ở Luzon của
Philippines Loài này gần giống với Rhynchostylis gigantea nhưng hoa ít hơn
Trong hệ thống phân loại thực vật, hoa lan Đai châu có tên khoa học
là Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley, là một trong 3 loài Rhynchostylis
gigantea, Rhynchostylis retura và Rhynchostylis coelestis ) thuộc chi Ngọc Điểm
(Rhynchostylis), họ Lan (Orchidaceae), Bộ Lan (Orchidales), lớp một lá mầm: (Monocotyledone), ngành Ngọc Lan, thực vật hạt kín (Mangoliophyta) (Nguyễn
Tiến Bân, 1997)
Trong những năm qua, lan Đai châu đã có rất nhiều tên giống tương ứng với các màu sắc khác nhau nhưng đều là tên địa phương Hiện nay, trong danh sách cây
một lá mầm (Kew Monocot) chỉ thừa nhận hai phân loài là Rhynchostylis
giganteasub sp violacea (Lindl.) Christenson và Rhynchostylis gigantea (Ed
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Lan Đai châu là loài lan sống phụ sinh, bám vào vỏ cây, treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác Chúng phát triển các dạng thân rễ nạc, to, dài, khỏe Hệ rễ khí sinh vừa làm nhiệm vụ lấy nước, muối khoáng trên bề mặt vỏ cây gỗ vừa bám chặt vào bề mặt giá thể để giữ cây khỏi bị đổ, hoặc gió cuốn đi, ngoài ra rễ còn chống đỡ cho cây mọc cao, vươn ra chỗ có nắng, dưới tán cây Để làm nhiệm vụ hút dinh dưỡng, chúng được bao bọc bởi lớp mô hút ẩm dày, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, có màu xám bạc Với lớp mô xốp đó, rễ không những có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc trên vỏ cây gỗ mà còn lấy được nước lơ lửng trong không khí (sương sớm hay hơi nước) Dưới lớp biểu bì vỏ rễ còn có các tế bào diệp lục giúp rễ lan Đai châu có thể quang tự dưỡng (Nguyễn Công Nghiệp, 2000)
1.2.2 Thân cây
Để thích nghi với điều kiện ngoại cảnh nên cấu trúc thân của phong lan cũng phải đa dạng để có thể tồn tại và phát triển trong tự nhiên.Mỗi loài phong lan khác nhau sẽ có hình dáng chiều dài, đường kính thân cũng khác nhau Có loài trên thân mang rất nhiều lá nhưng cũng có loài có rất ít hoặc không có lá (Phạm Hoàng Hộ, 1993)
Theo Pfizer (1882) thân lan có thể xếp thành hai nhóm là nhóm lan đa thân
và đơn thân (dẫn theo Nguyễn Tiến Bân, 1997):
Nhóm lan đơn thân (Monopodial): gồm các chi Vanda, Hồ Điệp (Phalaenopsis), Phượng Vỹ (Renanthera), Ngọc Điểm (Rhychostylis), Giáng Hương (Aerides) Thân lan đơn thân, phát triển theo chiều thẳng đứng Khi đỉnh bị
tổn thương, chồi bên xé rách bọc lá để hình thành nhánh mới Nhóm này được chia làm hai nhóm phụ:
+ Nhóm lá mọc đối (Sareathirae) như Phalaenopsis…
+ Nhóm lá dẹp phẳng hay tròn (Campylocentrinae) như một số loại thuộc chi: Vanda, Luisia
Theo Flora of China ghi: Đai châu là loài phong lan thân đơn, cao 70-80cm, thân hình ống đường kính 2cm, mọc cao trên 20 cm mang nhiều lá (dẫn theo Bùi Xuân Đáng, 2005)
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1.2.3 Lá cây
Cũng như thân, lá của họ lan có hình dạng và kích thước rất khác nhau Lá dạng đơn nguyên, dày, cứng hay mềm, có gân lá nổi rõ, có loài lá biến thành vẩy hay tiêu biến hoàn toàn Lá lan có dạng bầu dục hay hình giáo thuôn dài, ít khi có cuống và thường có bẹ Một số loài lan có lá dạng hình trụ dày nhọn hay phiến lá có rãnh
Đa số các loài phong lan đều là cây tự dưỡng nên hệ thống lá của chúng phát triển tương đối đầy đủ Lá lan thường rất bền vững, nhiều loài lan có lá rất dai và dày dặn có thể trữ nước và chất dinh dưỡng, nhưng cũng có những loài lá mềm mại thướt tha, có một số loài rụng lá vào mùa khô hanh để giảm bớt sự thoát hơi nước Tùy vào mỗi loài lá có thể mọc đơn độc, xếp dày đặc ở gốc hoặc xếp đều đặn trên thân, trên giả hành
Về màu sắc, phiến lá thường có màu xanh biếc hoặc xanh thẫm Nhưng đôi khi mặt trên và mặt dưới thường có màu xanh đậm hoặc tía, mặt trên có màu nhạt hơn hoặc màu sắc khác (Nguyễn Tiến Bân, 1997)
Ở lan đơn thân, lá thường mọc vuông góc với nhau cùng một đốt trên thân cây như Vanda, Bò Cạp, Phượng Vĩ Riêng lan Đai châu mọc từ kẽ lá thành 2 hàng trên thân, lá thuôn dài, hình lòng máng, bẹ lá bao bọc thân cây, phiến lá rộng, mọng, đỉnh tù và chia thùy không đều, chóp lá chia 2 thùy lệch, có gai nhọn Lá to bản, dài 30-40cm màu xanh, gân lá song song ( Bùi Xuân Đáng, 2005)
1.2.4 Hoa
Metchnikov (1903) đã coi sự thụ phấn của hoa phong lan là một trong những mẫu mực kỳ lạ trong những hiện tượng hài hoà của tự nhiên Do đó, cấu tạo của hoa Phong lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn (dẫn theo Trần Hợp, 1990)
Hoa phong lan tuy nhiều hình dạng và mầu sắc khác nhau nhưng chúng vẫn được cấu tạo theo cùng một khuôn mẫu- hoa mẫu 3 Tất cả các loài lan hoa đều gồm
7 bộ phận: 3 cánh đài bên ngoài, 3 cánh hoa và trụ của bông hoa Đoạn cuống tiếp giáp bông hoa, lá bầu hoa có 3 lá noãn chính là 3 ô của quả lan chứa đầy các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn (Trần Duy Quý, 2005) Hoa lưỡng tính, ba cánh đài thường
có dạng cánh hoa, giống nhau và giống với 2 cánh tràng Cánh tràng giữa biến đổi màu sắc và hình dạng có chức năng đặc biệt trong sự hấp dẫn và thụ phấn nhờ côn
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
trùng gọi là cánh môi Cánh môi xếp đối diện với cánh đài ở vị trí trong cùng Cánh môi chia 3 thùy Gốc cánh môi mang tuyến mật, gắn vào chân của cột nhị, nhụy Cột nhị, nhụy nằm chính giữa hoa mang hạt phấn ở phía trên và đầu nhụy ở phía dưới, mặt trước Nhị đực gồm 2 phần, bao phấn và hốc phấn Bao phấn nằm ở cột nhị nhụy Hốc phấn lõm lại, mang 2 khối phấn Khối phấn gồm toàn bộ hạt phấn dính lại với nhau, rất cứng do có tinh bột, sáp Hoa có bầu hạ, thuôn dài theo cuống, rất khó phân biệt giữa bầu (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Theo Bùi Xuân Đáng (2005), hoa Đai châu có 40-60 cánh; có nhiều mầu, thơm Chùm hoa cong vòng cung, cây có thể có 2-4 cần hoa dài 14-30cm, hoa dầy đặc, dài chừng 20 phân, hoa to ngang chừng 3 phân, thơm ngát Hoa mầu trắng điểm các chấm đỏ- tím, môi đỏ- tím xậm hơn
1.2.5 Quả
Quả phong lan thuộc dạng quả nang, khi quả chín sẽ nứt dọc theo 3- 6 khe Quả có dạng từ dạng quả cải nạc dài ở Vanilla (Lan vani) đến dạng hình trụ ngắn, phình to ở giữa (ở đa số các loài khác) Khi chín, quả mở ra các hạt bị gió cuốn đi còn lại đầu và cuống quả không rời ra Ở một số loài, quả chỉ mở theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí khi quả chín vỏ quả không nứt ra, hạt chỉ ra khỏi vỏ khi vỏ này bị mục nát (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Quả lan Đai châu là loại quả nang hình trứng
cỡ 4cm (Bùi Xuân Đáng, 2005)
1.2.6 Hạt
Hạt lan vô cùng nhỏ (Microsopique), số lượng hạt trong một quả là rất lớn và
hầu hết là không có nội nhũ Số lượng hạt rất nhiều, nhỏ li ti, nhẹ, có thể bị gió cuốn bay đi khắp nơi nên khả năng phát tán rộng
Hạt cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá Sau 8-9 tháng hạt mới chín tùy từng loài, phần lớn hạt đều chết vì không chứa nội nhũ, chúng chỉ sinh sôi nảy nở khi gặp được loài nấm cộng sinh hỗ trợ chất dinh dưỡng Vì vậy, khả năng hạt nảy mầm thành cây là rất hiếm, chỉ có thể trong điều kiện rừng ẩm ướt nhiệt đới (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1.3.Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh với hoa lan Đai châu
1.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một nhân tố có tính chất quyết định đến sự phân bố các loài lan trên thế giới và sự sinh trưởng, phát triển của các loài lan, nhiệt độ tác động vào cây lan thông qua quang hợp
Theo Trần Hợp (1990), căn cứ vào yêu cầu nhiệt độ cũng chia Phong lan Việt Nam thành 3 nhóm:
+ Lan nhiệt Đới: từ Nam Trung bộ trở vào, nhiệt độ trung bình năm trên 230C + Lan Á nhiệt Đới: chủ yếu ở vùng núi cao Bắc Việt Nam Nhiệt độ trung bình năm chỉ vào khoảng 10 - 120C
+ Lan trung sinh: phân bố ở vùng núi phía Bắc và Tây nguyên trung Nam bộ Nhiệt độ trung bình năm 13 - 150C
Lan Đai châu là lan nhiệt đới, nơi khởi nguồn của cây là ở những khu rừng nhiệt đới, nhiệt độ cao sẽ kích thích cây phát triển Nhiệt độ trung bình cả năm phải trên 23oC Giới hạn nhiệt độ 20-32oC thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển Nhiệt độ dưới 15oC cây ngừng sinh trưởng, nụ sẽ bị hỏng, sức sống suy giảm Vì thế trong điều kiện miền Bắc Việt Nam, vào mùa đông (tháng 11 đến tháng 3 năm
sau) cần phải có biện pháp che chắn, làm ấm chống rét cho vườn lan Lan Đai châu
thường nở đúng dịp tết Nguyên đán, tuy nhiên năm nào trời lạnh nhiều thì hoa sẽ nở trễ, năm nào trời nóng thì hoa sẽ nở sớm
Ngoài yêu cầu về nhiệt độ trung bình thì sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm cũng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của phong lan Sự chênh lệch càng lớn là điều kiện lý tưởng để trồng lan vì cây tăng cường độ quang hợp vào ban ngày
và giảm cường độ hô hấp vào ban đêm do đó cây tích lũy được chất khô nhiều hơn (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
1.3.2 Ánh sáng
Cũng như các loài thực vật bậc cao khác, ánh sáng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển thông quá trình quang hợp của lan Đồng thời, ánh sáng cũng là yếu tố có tính chất quyết định tới sự ra hoa của lan
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Tuỳ theo các loài phong lan khác nhau mà yêu cầu sống cần ánh sáng nhiều hay ít Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000), phong lan có thể chia thành 3 nhóm:
- Nhóm ưa sáng có thể chịu được 90 - 100% ánh sáng trực tiếp như các loài:
Vanda, Arachnis, Renanthera
- Nhóm chịu bóng chỉ cần 30 - 40% cường độ ánh sáng như Phalaenopsis,
ra hoa Nhưng sự ra hoa của đai châu không phải do ánh sáng nhiều hay ít, nắng hay rợp
mà là do thời gian chiếu của ánh sáng trong ngày Vì thế lan đai châu thường nở hoa vào dịp tết âm lịch, tức là vào thời điểm ngày ngắn, đêm dài
1.3.3 Độ ẩm
Ẩm độ không khí và chế độ tưới nước cho lan Đai châu là yêu cầu quan trọng Nhờ có ẩm độ thích hợp, cây có thể hấp thu nước, muối khoáng qua rễ và lá cây một cách dễ dàng Đai châu là loại lan chịu hạn khá tốt, nhưng nó thích ẩm, độ
ẩm càng cao rễ càng mọc nhanh và phát triển rất tốt, ẩm độ lý tưởng là 40 - 70% Cây sẽ sinh trưởng mạnh trong điều kiện đủ nước, đặc biệt thích hợp với những trận mưa rào bất chợt ở các khu rừng nhiệt đới Do đó, khi tưới nước cho cây không chỉ làm ướt cây phong lan mà cần chú ý làm cho cả khu vườn có độ ẩm cao Tuy nhiên nếu độ ẩm liên tục cao và duy trì lâu dài thì lại gây hại cho cây Bởi lan Đai châu
có khả năng dự trữ nước và dinh dưỡng tốt ở trong lá, trong thân và trong rễ, cây có khả năng chịu hạn tốt hơn chịu úng Rễ lan Đai châu yêu cầu lúc khô, lúc ướt, thoáng khí để quang hợp và trao đổi khí, ẩm độ giá thể từ 40-80% Giá thể khô thoáng, nhanh ướt, nhanh khô là điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển (Bùi Xuân Đáng, 2005)
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
1.3.4 Độ thông thoáng
Trong tự nhiên, phong lan là loại mọc ở rừng và chúng thường mọc trên những cây cao rất thông thoáng, đặc biệt các loài lan có hệ rễ cộng sinh với nấm và vươn dài trong không khí (Nguyễn Công Nghiệp, 2000) Vì vậy vườn trồng Đai châu cần đảm bảo độ thông thoáng nhất định Tuy nhiên nếu quá thoáng gió sẽ làm cho độ
ẩm giảm, giá thể nhanh khô, cây héo và phát triển kém Nhưng nếu vườn không thoáng gió thì khi gặp điều kiện nhiệt độ tăng, độ ẩm cao sẽ làm phát sinh nhiều bệnh tật Khi gió thoảng nhẹ sẽ đủ làm cho vườn lan thông thoáng Xung quang vườn
không bị chắn kín bởi các tòa nhà và tránh gió lùa (Bùi Xuân Đáng, 2005)
1.3.5 Môi trường dinh dưỡng
Đối với phong lan nói chung và Đai châu nói riêng, chúng không đòi hỏi một lượng dinh dưỡng lớn Chúng chỉ cần một lượng nhỏ nhưng dinh dưỡng đối với chúng là hết sức quan trọng Thiếu dinh dưỡng thì cây sẽ phát triển kém, còi cọc, ra hoa ít, hoa nhỏ, xấu hoặc có thể không ra hoa Khi cây được cung cấp đầy
đủ các chất dinh dưỡng cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, ra nhiều hoa, hoa to đẹp, bền và ít bị sâu bệnh hại (Nguyễn Công Nghiệp, 2000) Đai châu cũng như bất cứ loại cây trồng khác, chúng đều cần các chất dinh dưỡng thuộc 3 nhóm là:
đa lượng, trung lượng và vi lượng.
1.4 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng hoa lan Đai châu
Từ xưa hoa lan đã được coi là loại hoa vương giả bởi màu sắc hoa thắm tươi,
đủ vẻ cùng với trăm ngàn kiểu dáng hoa khác nhau Không chỉ thế mà từ những bông hoa xinh đẹp đó còn tỏa ra những mùi hương thoang thoảng, ngọt ngào cũng
đã đủ làm ngây ngất lòng người Lan thường sống trên các thân cây, cành cây khác nhưng lại không phải là loài ký sinh ăn hại vì nó không hút chất dinh dưỡng, không gây hại cho cây mà chỉ mượn cây làm chỗ dựa, nhiều trường hợp đem lại lợi ích cho cây mà chúng bám lên
Họ lan có rất nhiều chi, loài lan quý có giá trị kinh tế cao theo hướng sử dụng làm thuốc hoặc cây cảnh Theo Bretchacider thì từ đời vua Thần Nông (2800 TCN), loài lan rừng đã được dùng làm thuốc chữa bệnh Hoa lan được sử dụng rất đa dạng,
có thể dùng cắm lọ nhờ cành dài, cứng, hoa đẹp và lâu tàn hoặc dùng để trồng chậu,
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
trang trí nhà cửa, nơi làm việc, ngày lễ, ngày Tết, ngày cưới Một số loài hoa lan ở Trung và Nam Mỹ còn được dùng làm thức ăn, nước uống, chữa bệnh, dệt đồ trang sức, đan chiếu rổ, làm kèn trong lễ hội; công nghệ mỹ phẩm cũng dùng tinh dầu hoa lan làm hương liệu và nhiên liệu Ngoài việc sử dụng với mục đích làm cảnh, ở một số nước như Banglades, lá lan Đai châu còn được sử dụng với mục đích chữa
bệnh như làm giảm đau, chống viêm (Al-Amin et al., 2011)
Hoa lan Đai châu thường nở vào mùa xuân, trong dịp Tết cổ truyền của người Việt Nam Chùm hoa rủ xuống, lâu tàn, hương thơm ngát, lan tỏa nên hoa lan Đai châu ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng, đáp ứng được các nhu cầu giải trí, thưởng thức cái đẹp của con người Cây lan Đai châu được sử dụng chủ yếu để làm cảnh, có thể trồng trên các khúc gỗ, trên chậu nhựa, chậu đất nung, chậu thang gỗ với giá thể khô thoáng hoặc trên các cây gỗ đã chết hay cây đang sinh trưởng Cây
có thể được trồng gắn kết với non bộ, trồng trong chậu để trưng bày trong phòng khách hoặc treo trên ban công, bên hiên nhà, dưới tán cây to, nơi có ánh sáng tán xạ
Không chỉ thế, lợi nhuận từ vườn lan mang lại cao hơn nhiều lần các loại cây trồng nông nghiệp khác Theo các chuyên gia về lan, nếu trồng phong lan cắt cành mỗi ha đất trồng có thể thu nhập 500 triệu đến 1 tỷ đồng/năm Hiện nay trên thế giới, một số nước xuất khẩu hoa lớn như Thái Lan, Đài Loan, Hà Lan,… đang có xu hướng mở rộng diện tích các trang trại trồng hoa lan, các quy mô, dự án đầu tư cho ngành thương mại hoa lan cũng không ngừng gia tăng
Nếu sản xuất lan phục vụ cho xuất khẩu thì giá trị thu được lớn hơn rất nhiều Một cây lan Đai châu trưởng thành có giá từ 150.000- 200.000đ, một giò lan 5-10 cây có giá từ 700.000 đồng đến 2 triệu đồng Diện tích 500 m2 có thể trồng được 1500 giò, chỉ với 50% cây bán được cũng cho doanh thu đạt 500-700 triệu đồng Lợi nhuận thu được từ 200-300 triệu đồng/500m2 trong hai năm (Trồng phong lan làm giàu, 2009)
Trong tháng 9 năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan của Việt Nam tăng rất mạnh, tăng 218% so với tháng 8 năm 2009 và đạt 61.000 USD Nhật Bản là
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
thị trường xuất khẩu hoa lan tiềm năng của nước ta Hiện nay, mỗi năm Việt Nam vẫn phải chi hàng tỷ đồng để nhập phong lan từ các nước láng giềng cho nhu cầu nội địa Nguồn nhập khẩu lan Đai châu của Việt Nam trong thời gian qua là Thái Lan và Đài Loan Chính vì vậy, không chỉ thị trường xuất khẩu mà thị trường nội địa cũng rất tiềm năng cho người trồng lan nói chung và lan Đai châu nói riêng (Phát huy tiềm năng xuất khẩu phong lan ở Việt Nam, 2009)
1.5 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới
Trong những năm gần đây, nhờ các thành tựu khoa học và sự phát triển về công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi cùng với phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ, việc xuất, nhập khẩu hoa lan ngày càng tăng với quy mô rộng lớn Năm 1904, Noel Bernal đã sử dụng phương pháp cộng sinh nấm để gây nảy mầm cho hạt lan Nhưng đến năm 1922, phương pháp gieo hạt trong phòng thí nghiệm mà không cần nấm cộng sinh của Knudson thành công đã có sự chuyển đổi rõ rệt Không chỉ dừng lại ở đó Gần đây một phương pháp mới đã được ứng dụng thành công trong công tác nhân giống lan mà chỉ cần trong một thời gian ngắn có thể tạo ra được rất nhiều cây giống từ các bộ phận sinh dưỡng của chúng - đó chính là phương pháp nuôi cấy mô đã được Morel khám phá ra Lúc này ngành sản xuất hoa lan có nhịp độ phát triển mau lẹ, nhanh chóng vào lĩnh vực thương mại (Phan Thúc Huân, 1989) Ngày nay lan đã trở thành loại hàng hóa rất được ưa chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới Do đó một số nước phát triển như: Pháp, Mỹ, Hà Lan, Thái Lan, Trung Quốc…đã và đang ứng dụng những công nghệ tiên tiến vào việc nghiên cứu lai tạo ra các giống hoa lan mới có hương thơm và màu sắc đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đồng thời cũng nhằm đem lại một nguồn lợi kinh tế đáng kể cho các nước này
Trên thế giới hiện nay, lan Đai châu được sản xuất nhiều nhất ở Thái Lan và Đài Loan Ngoài ra, một số nước như Trung Quốc, Singapore, Malayxia, Mỹ hiện nay cũng rất chú trọng vào ngành sản xuất hoa lan
Thái Lan: Trong suốt một thập kỷ qua, Thái Lan vẫn giữ vững vị trí quốc
gia sản xuất và xuất khẩu hoa lan lớn nhất thế giới, 50% hoa lan ở Thái Lan được
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
trồng để xuất khẩu, 50% còn lại tiêu thụ trong nước Hàng năm, Thái Lan sản xuất
tới 31,6 triệu cây con Trong đó gồm các chi Hoàng Thảo (Dendrobium), Mokara và
lan Đai châu (Ngô Quang Vũ, 2002) Hoa lan Đai châu được coi là một trong những loài hoa đẹp nhất của Thái Lan Trong các năm 2005-2009 Thái Lan xuất khẩu khoảng 2.539, 2.921, 2.944, 2.833 và 2.738 triệu baht mỗi năm Tốp 5 loại hoa lớn
nhất là Rhynchostylis gigantea (Lindl.) Ridl., Grammatophyllum scriptum,
Pecteilis sagarikii , Ascocentrum miniatumand, Dendrobium chrysotoxum
(P Kaewkhiew and W Kaewduangta, 2010) Giá trị lan xuất khẩu Thái Lan năm
2009 là 79,8 triệu USD Giá trị lan xuất khẩu Thái Lan năm 2009 là 79,8 triệu USD Nhật Bản đang là thị trường tiêu thụ hoa lan lớn nhất của Thái Lan Bên cạnh đó, xu hướng phát triển mới của ngành hoa lan thương mại ở Thái Lan phải kể đến sự ra
tăng diện tích của các trại lan, ở đây đã có những trại lan chuyên trồng Dendrobium
rộng đến 39ha
Đài Loan có diện tích trồng hoa lan là 481ha Đài Loan có tiếng lớn trong
sản xuất lan Hồ điệp Những năm gần đây, Đài Loan cũng đang tập trung phát triển
mạnh các loài lan có giá trị kinh tế cao như Cát Lan (Cattleya), lan Hoàng Thảo (Dendrobium), lan Vũ Nữ (Oncidium), lan Ngọc Điểm (Rhynchostylis) Chất lượng
hoa thương phẩm tốt, hoa lan của Đài Loan đã được tiêu thụ khắp nơi trên thế giới
Trung Quốc: Là nước có truyền thống chơi lan lâu đời, họ đã coi loài lan
kiếm là quốc hoa Vì thế họ đã tập trung nghiên cứu rất mạnh nhất là 20 năm trở lại đây và đã thu được những kết quả rực rỡ Họ đã sử dụng phương pháp lai hữu tính thu quả, sau đó gieo và tuyển chọn các loài hoa đáp ứng được màu sắc, kiểu dáng
sau đó họ sử dụng kỹ thuật nhân giống vô tính In vitro và In vivo để tạo ra một
lượng cây giống lớn, họ xử lý cho những cây này ra hoa đồng loạt để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, giá bán 1 cành hoa khoảng từ 5-10 USD (Ngô Quang Vũ 2002)
Singapore: Năm 1987 bắt đầu nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên quy mô lớn
Nhận thấy được tiềm năng xuất khẩu của loại hoa này trên thế giới vì vậy các trang trại trồng lan đã không ngừng được mở rộng Năm 1993 quốc gia này đã xuất khẩu
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
3.8 triệu cành đến châu Âu và một số lượng khá lớn đến thị trường Nhật (Phan Thúc Huân, 1989)
Malaysia: Công nghiệp hoa cắt cành ở Malaysia là một ngành mới phát triển
so với các lĩnh vực nông nghiệp khác Theo kế hoạch kinh tế Malaysia lần thứ 7 (1996 - 2000) và chính sách nông nghiệp Quốc gia (1992 - 2010), hoa cắt cành được xác định là nhóm sản phẩm ưu tiên có nhiều tiềm năng đáp ứng cho nhu cầu
trong nước và thế giới, tạo ra thu nhập cao hơn cho người sản xuất Malaysia có
tổng số diện tích trồng hoa cắt cành khoảng trên 1.218,0 ha trong đó 580,0 ha trồng
hoa lan Hoa lan được trồng phổ biến là Dendrobium, Aranda, Oncidium và Mokara
đóng góp đến 97,0% hoa lan cắt cành của Malaysia (Giới thiệu khái quát về ngành trồng lan cắt cành ở Malayxia, 2008) Thị trường hoa và cây cảnh chính của Malaysia là Nhật Bản, Singapore và Hồng Kông Nhật Bản là thị trường hàng đầu của hoa lan cắt cành, Singapore là thị trường hoa cảnh trang trí và Hồng Kông là thị trường hoa ôn đới
Mỹ: Hoa lan là loại hoa mới được thương mại hoá ở Mỹ Tuy nhiên, chúng
đã chiếm được cảm tình của người tiêu dùng, doanh thu của chúng đem lại tăng lên rất nhanh chóng Năm 2006 với tổng giá trị thu thập từ một số loại hoa chính đạt trên 800 triệu USD trong đó hoa lan chậu là một trong những loại hoa được bán nhiều nhất (đứng thứ 2 sau hoa Trạng Nguyên) và đạt 144,0 triệu USD (Orchid Research Program, 2010) Và theo thống kê từ năm 1996 đến năm 2006 giá trị lan chậu bán ra tăng 206,4%, Trạng Nguyên chỉ tăng 12,6% trong khi đó nhiều loại hoa chủ lực trước đó lại không tăng đáng kể và đặc biệt nhiều chủng loại còn đạt giá trị
là -37,20% như hoa Hồng, Violet là -32,90%, Cúc là -18,60%
Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng Kim ngạch thương mại hoa lan cắt cành trên thế giới năm 2000 đạt 150,0 triệu USD, trong đó Nhật Bản là nước nhập khẩu hoa lan cắt cành đứng thứ nhất thế giới, sau đó là Ý, tiếp theo là Pháp, Đức đứng thứ tư và thứ năm là Mỹ (Griesbach and R.J, 2002)
Vì có giá trị kinh tế cao nên rất nhiều nước đã tập trung vào việc nghiên cứu hoa lan chất lượng cao để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu Các
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nước như Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêsia, Hà Lan đã đầu tư mạnh cho các trang trại, công ty để sản xuất hoa chậu và hoa cắt Họ tập trung chủ yếu vào việc nhân nhanh lan sạch bệnh, hoa đẹp, có mùi thơm, đa dạng về màu sắc và hình dạng để cung cấp cho hơn 50 nước trên thế giới Do đó, chúng ta có thể nói rằng ngành sản xuất lan
đã đem lại lợi nhuận rất cao cho các nước trên thế giới Việt Nam có các điều kiện thiên nhiên ưu đãi, phù hợp cho nhiều loài lan sinh trưởng, phát triển, đặc biệt là các
loài lan nhiệt đới như lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley), lan Hoàng Thảo (Dendrobium), lan Monkada… Việc quan tâm đầu tư nghiên cứu, sản
xuất cùng với kinh nghiệm trồng lan có từ rất lâu đời của ông cha ta, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển rộng rãi các loài lan bản địa quý này trong sản xuất
1.5.2 Tình hình sản xuất hoa lan ở Việt Nam
Trong những năm gần đây xuất khẩu hoa lan Việt Nam tăng mạnh Chín
tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan lại tăng 218% so với tháng 8/2008 Tuy xuất khẩu hoa đã có bước phát triển, nhưng diện tích còn quá nhỏ, số lượng và chủng loại ít, chất lượng lại chưa cao nên chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong nước Trong khi nhu cầu về hoa trên thế giới đang tăng rất nhanh, chỉ tính riêng thị trường châu Á, tổng kim ngạch nhập khẩu hoa đã lên đến
102 tỷ USD/năm với mức tăng trưởng 6%/năm, cao gấp nhiều lần so với thị trường các loại nông sản khác vốn được Việt Nam xem trọng như gạo, cà phê, cao su, chè
(Phát huy tiềm năng xuất khẩu phong lan ở Việt Nam, 2009)
Hiện nay, diện tích trồng hoa lan ở Việt Nam còn ở mức hết sức khiêm tốn, chỉ chiếm 10% diện tích các loại hoa đang được trồng (Nguyễn Xuân Linh, 2002) Việc trồng hoa lan ở nước ta chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, diện tích nhỏ lẻ Chỉ có một số công ty lớn, trong đó có những công ty nước ngoài trồng lan tại Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh với diện tích khoảng 50-60 ha trên một doanh nghiệp như công ty Dalat Hafarm, công ty Lâm Thắng của Đài Loan
Chỉ tính riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003 doanh số kinh doanh hoa lan và cây cảnh chỉ đạt 200 - 300 tỷ đồng, nhưng chỉ trong quý I năm 2006 thì doanh số này đã đạt 400 tỷ đồng Trung bình mỗi năm tại thành phố này đã tiêu thụ
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
khoảng trên một triệu cây lan
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu phong lan cắt cành qua đường chính ngạch của nước ta trong tháng 02/2007 là 26,515 nghìn USD, giảm 20,17% so với tháng 01/2007 nhưng vẫn tăng 51,76% so với tháng 12/2006 Thị trường nhập khẩu lan cắt cành chính của Việt Nam trong thời gian qua là Thái Lan với gần 100% lượng lan cắt cành Chính vì vậy, không chỉ thị trường xuất khẩu
mà thị trường trong nước cũng rất tiềm năng cho người trồng lan (Việt Nam có thể trở thành nước xuất khẩu Phong lan lớn, 2007)
Ở miền Bắc, một số cơ quan nghiên cứu như Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Nghiên cứu Rau quả, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, trong những năm
vừa qua đã tập trung nghiên cứu phương pháp nhân giống vô tính in vitro Kết quả
đã sản xuất mỗi năm được hàng vạn cây con giống hoa lan có giá trị trong đó có lan Đai châu (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)
Ở các xã Đông La, La Phù, La Khê thuộc huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội những năm gần đây trở nên nổi tiếng với nghề trồng lan, được coi là trung tâm nuôi trồng phong lan rừng lớn nhất miền Bắc Đến nay, cả xã đã có 52 hộ trồng lan, trong đó có hơn 30 hộ có diện tích vườn lan từ 500 đến 1000 m2, tập trung nhiều nhất ở thôn Đông Lao và Đồng Nhân với những vườn lan như Huyền Chân, Trường Uyên, Thực Hà, Tiền Hảo, các giống trồng chủ yếu là Tam Bảo Sắc, Phi Điệp thuộc chi Hoàng Thảo và lan Đai châu, Đuôi Cáo thuộc chi Ngọc Điểm Theo hội sinh vật cảnh xã Đông La, nghề trồng lan đã đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế của địa phương, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Trung bình mỗi năm, trừ chi phí, một hộ trồng lan cũng có lãi hàng trăm triệu đồng, gấp nhiều lần so với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp khác (Những vườn lan quý trong lòng thủ đô Hà Nội, 2009)
Ngoài ra, một số địa phương như Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên), Tiên Du (Bắc Ninh), Phổ Yên (Thái Nguyên) cũng đang có nhiều hộ gia đình tập trung đầu tư vào sản xuất và nuôi trồng phong lan bản địa, với quy mô
từ 300-500m2, phổ biến là các loài Đai châu, Đuôi Cáo, Hoàng Thảo, Quế Lan
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Hương (Đặng Văn Đông và Nguyễn Khê, 2007)
Với khí hậu ấm áp quanh năm, thành phố Hồ Chí Minh có tiềm năng lớn về nuôi trồng và kinh doanh hoa lan nhiệt đới điển hình là lan Hoàng Thảo, Monkada
và lan Đai châu Giai đoạn 2005 – 2006 thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tăng giá trị trên đơn vị diện tích đất canh tác, nông dân ở vùng ven đô thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư 20 ha nuôi trồng hoa lan và 20 ha trồng cây cảnh (Dự án đầu tư, phát triển hoa và cây cảnh tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 7/2005) Đến năm 2008, diện tích trồng lan của thành phố đã tăng lên gần 80
ha và năm 2010 là 200 ha Tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh và quận 12
đã có nhiều hộ trồng hoa lan với quy mô 2 ha Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương… có trên 100 loài lan khác nhau Các loại hoa lan này có thể cho doanh thu từ 500- 1.000 triệu đồng/ha/năm Các giống sản xuất chủ yếu thuộc chi lan Hoàng Thảo, Mokara và Đai châu Trong đó có những vườn lan Đai châu lên đến 1-2 ha rải rác ở các nhà vườn ở Thủ Đức, Bình Dương và Tây Ninh (Dương Hoa Xô, 2009)
Có thể nói, lĩnh vực kinh doanh lan ở Việt Nam còn rất non trẻ, chỉ mới thực
sự bắt đầu được hơn 10 năm trở lại đây Theo ông Đồng Văn Khiêm - Giám đốc công ty phong lan xuất khẩu thành phố Hồ Chí Minh thì khó khăn lớn nhất là nhà nước chưa có chính sách phát triển ngành lan, hơn nữa chính sách thuế lại không rõ ràng Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lan hiện nay còn qua ủy thác, chưa tập trung vào lan có giá trị kinh tế cao (Dương Hoa Xô, 2008)
Như vậy, vấn đề sản xuất, kinh doanh hoa lan ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phát huy hết được tiềm năng sẵn có Vì thế việc nghiên cứu, đầu tư phát triển mở rộng sản xuất hoa lan nói chung và Đai châu nói riêng thành ngành hàng cung cấp cho thị trường trong nước và hướng đến xuất khẩu hứa hẹn sẽ đem lại những thành công lớn trong thời gian tới, mang lại lợi nhuận cao cho người trồng
1.6 Những nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.6.1.Những nghiên cứu trên thế giới
Hạt giống của loài phong lan Đuôi Cáo (Rhynchostylis retusa Blume) nảy
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
mầm được trong điều kiện in vitro trên môi trường MS Tác giả Dennis Thomas and
Alwin Michael (2007) đã nghiên cứu trên môi trường này có bổ sung 15% nước dừa, cho thấy 93% các mô nuôi cấy tái sinh thành cây con sau 90 ngày Cây con được cấy chuyển trên MS có bổ sung kinetin (Kn) hoặc thidiazuron (TDZ), có hoặc không có than hoạt tính (AC), cho hình thành sự đa chồi cao Số lượng chồi nhiều nhất là 8,2 chồi đã được quan sát trên môi trường MS có bổ sung 2TDZmM và AC Các chồi được tạo rễ trên môi trường ½MS có bổ sung 2m Maxitindole-3-butyric (IBA) và được ra ngôi thành công Trong số 45 cây con được ra ngôi có 40 cây sống sót Kết quả của các tác giả rất hữu ích trong nhân nhanh giống và bảo tồn các loài phong lan quý này
Lan Đai châu là lan đơn thân, vì vậy, không thể nhân giống bằng tách thân Hạt lan Đai châu cũng rất khó mọc được trong điều kiện tự nhiên nên phương pháp
nhân giống in vitro là phương pháp tối ưu để nhân giống loại lan này Các tác giả
trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu về phương pháp nhân giống từ hạt trên môi trường nhân tạo
Các tác giả Zhi-Ying Li and Li Xu (2009) đã nghiên cứu nhân nhanh giống
hoa lan Đai châu đột biến, màu trắng Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley thông
qua protocorm (PLB) từ hạt chưa trưởng thành (nuôi cấy phôi 4 tháng tuổi), 75% PLB phát triển trên môi trường MS với 0,05 mg/l 6-BA và 0,2 mg/l NAA trong vòng
70 ngày kể từ ngày chuyển đến môi trường MS với 2,0 mg/l BA và 1,0 mg/l NAA đã tạo thành mô sẹo và sau đó phát triển thể chồi với 2-4 lá Môi trường phát sinh chồi là
MS có chứa 100 g/l chuối nghiền, rễ và chồi sinh trưởng thuận lợi Cây con sau in
vitro đạt 95% sống sót
Năm 2010, Distabanjong et al đã sử dụng hạt phong lan Rhynchostylis
gigantea (Lindley) Ridley được lấy từ quả 7-9 tháng và nuôi cấy trên môi trường rắn để làm tăng khả năng nảy mầm của hạt giống Tỷ lệ nảy mầm đạt cao nhất của
Rhynchostylis thu được trên môi trường Vacinand Went(VW), có bổ sung 150ml/l nước dừa và100g/l dịch chiết khoai tây Các môi trường nhân nhanh tốt nhất (tăng 1,7 lần so với trọng lượng tươi ban đầu trong vòng 9 tháng) là VW có bổ sung
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
150ml/l nước dừa và 1 mg/lphân bón phong lan(CT21-21-21) Việc bổ sung 2-4% mannitol là nồng độ tốt nhất cho sự duy trì sinh trưởng, chậm kéo dài trong 12 tháng mà không làm thay đổi môi trường Tất cả các cây đều sinh trưởng tốt sau khi chuyển sang môi trường nhân nhanh
Nattaporn Kerdsuwan and Sompong Te-chato (2012) đã nghiên cứu tạo giống mới thông qua xử lý đột biến tạo cây đa bội thể PLBs (Protocorm-like
bodies) ở giai đoạn của GI5 của phong lan Chang Daeng (Rhynchostylis gigantea var rubrum Sagarik) nuôi trong môi trường New Dogashima (NDM) lỏng với 2%
sucrose và 15% nước dừa (CW) đã được sử dụng để xử lý với colchicines để tăng gấp đôi nhiễm sắc thể Các xử lý bao gồm 5 nồng độ colchicin (0; 0,05; 0,10; 0,15
và 0,20%) cùng với 3 thời gian xử lý 24, 48 và 72 giờ Kết quả cho thấy, PLBs nhúng chìm trong colchicines ở nồng độ 0,20% trong 72 giờ có tỷ lệ sống là 26% và tạo ra tỷ lệ cây tứ bội cao nhất (60%) Tốc độ tăng trưởng và chiều cao của cây tứ bội, bao gồm cả hình dạng và kích thước lá thấp hơn nhiều so với đối chứng Đặc điểm giải phẫu của các cây tứ bội cho thấy mật độ lỗ khí khổng cao nhất 3,00 tế bào/mm2 so với cây con đối chứng Số lượng trung bình của lục lạp trong cây con tứ bội là 46 tế bào lục lạp/bảo vệ, thấp hơn so với các cây lưỡng bội
Lan Đai châu không chỉ nhân giống từ hạt mà còn được nhân giống từ nuôi
cây mô tế bào Các chồi non (dài khoảng10mm) của loài lan Rhynchostylis rubrum
có tỷ lệ tạo dạng đa chồi là cao nhất(100%), số chồi (10 chồi/mẫu cấy) và phôi callus (EC) (56%) Sự sản sinh các callus trên cả 2 loại môi trường VW và NDM có
bổ sung sucrose 2% và 15% nước dừa (CW) ở điều kiện sáng hoặc tối gần như
giống nhau Te-chato et al (2010) đã nghiên cứu và quan sát thấy rằng các callus
được cấy chuyển trên môi trường NDM trong điều kiện ánh sáng đã chuyển sang màu xanh lá cây và sau đó hình thành phôi soma với số lượng (9phôi/callus) và tỷ lệ cao nhất (79,8%) Trong 1 tháng, những phôi nảy mầm khi được bổ sung AC (than hoạt tính) trong môi trường nuôi cấy Các chồi cao hơn 3cm với số lượng rễ trung bình từ 2-3, đã được ra ngôi thành công ở ngoài vườn ươm Kỹ thuật này rất hữu ích
cho vi nhân giống cũng như cho việc chuyển gen vào Rhynchostylis rubrum
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Khi nghiên cứu sự thay đổi của các chất phụ gia tự nhiên trong môi trường
đến sinh trưởng của cây lan Đai châu (Rhynchostylis gigantea (Linldey) Rildey)
nuôi cấy mô tế bào, Kaewkhiew and Kaewduangta (2010) đã chỉ ra rằng: Môi trường VW có thêm chất phụ gia tự nhiên được sử dụng để thay thế cho môi trường hóa sinh đã được sử dụng trong nuôi cấy mô tế bào Kết quả cho thấy CT môi trường 2g/l than tre + 5g/l bột nhộng + 50g/l chuối nghiền + 50g/l gạo lật + 150mg/l nước dừa là tốt nhất cho sinh trưởng, phát triển của cây con, chiều cao cây đạt 8,05
Watthanasrisong et al (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện ngày ngắn với nhiệt độ thấp đến sinh trưởng của lan Rhynchostylis gigantea (Lindley)
Ridley var alba Hort cây 3 năm tuổi trong điều kiện tự nhiên hoặc ngày ngắn (sáng: tối là 10:14 giờ) với nhiệt độ thấp (18°C) vào các thời điểm khác nhau trong năm (tháng 3, tháng 4 và tháng 5), là 30, 60 và 90 ngày Kết quả cho thấy, cây hoa lan xử
lý trong điều kiện nhiệt độ thấp, trong tháng 4 và xử lý ngày ngắn 90 ngày cho thời gian ra hoa dài hơn những cây trong điều kiện tự nhiên khoảng 40 ngày Những cây trồng trong tháng 5 trong điều kiện ngày ngắn 30 ngày, cho thời gian ra hoa dài nhất
và có ý nghĩa nhất so với các điều kiện khác Hoa của những cây được trồng trong
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
tháng tư, xử lý ngày ngắn 30 ngày có ý nghĩa đáng kể hơn so với những cây phát triển trong điều kiện tự nhiên khoảng 6 ngày
1.6.2 Những nghiên cứu về hoa lan ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu về thu thập tập đoàn, đánh giá nguồn gen
Chu Thị Ngọc Mỹ và cs (2009) đã điều tra sự phân bố của hoa lan Việt Nam
và lưu giữ, đánh giá một số giống lan quý tại Gia Lâm - Hà Nội Các tác giả đã kết luận: Việt Nam được chia thành 6 vùng lan chính, khác nhau về tính đa dạng, độc đáo của lan rừng và sinh thái tự nhiên của các loài lan này: phía Tây Bắc Bộ; phía Đông Bắc Bộ và Trung tâm Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ; các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam Bộ Các tác giả đã thu thập được 1.035 chậu (giò) gồm 50 loài thuộc 17 chi Phong lan, Địa lan Việt Nam Nhiều loại hoa lan có có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu tại Gia Lâm - Hà Nội (Đai châu, Phi Điệp, Giáng Hương Thơm)
Kết quả nghiên cứu về hình thái và vùng sinh thái
Nhằm khắc phục hạn chế trong việc trồng hoa lan Đai châu ở miền Bắc Việt Nam là cây sinh trưởng, phát triển chậm, nhóm nghiên cứu Đinh Thị Dinh và
cs (2014) đã nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các vùng sinh thái khác nhau tới sinh trưởng của giống lan Đai châu trắng đốm tím, để từ đó tác động biện pháp kỹ thuật nhằm tăng sinh trưởng, phát triển của cây Kết quả cho thấy, cây sinh trưởng phát triển mạnh trong điều kiện miền Nam, sau đó là vùng Đồng bằng sông Hồng và chậm nhất là ở miền núi phía Bắc
Để phát triển loài lan Đai châu rộng rãi ngoài sản xuất, tác giả Đinh Thị Dinh
và Đặng Văn Đông (2014) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá đặc điểm thực vật học của một số giống lan Đai châu 3 năm tuổi là giống hoa trắng đốm tím, hoa đỏ, hoa đốm đỏ và hoa trắng Kết quả cho thấy các giống có đặc điểm khác nhau về hình thái và giải phẫu, mầu sắc rễ, thân, lá, hoa, quả có hai xu hướng: các giống hoa màu
đỏ, đốm đỏ thì chóp rễ, thân, lá, quả có mầu tía đỏ, còn giống hoa mầu trắng và trắng đốm tím thì chóp rễ, thân, lá, quả mầu xanh
Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống và nhân giống
Các nghiên cứu về nhân giống hoa lan đã được thực hiện ở nhiều cơ quan
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
khoa học và đã đạt được những thành công nhất định
Võ Hà Giang và Ngô Xuân Bình (2010) nghiên cứu nhân giống phong lan
Đuôi Chồn (Rhynchotylis retunsa [L] Blume) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế
bào Các tác giả đã nghiên cứu môi trường gieo hạt và nhân chồi cho kết quả: bổ sung BAP 0,3 mg/lít và kinetin 0,1 mg/lít cho tỷ lệ hạt nảy mầm cao nhất đạt 86,67%, bổ sung phối hợp kinetin và BAP cho hiệu quả cao nhất ở nồng độ 0,5 mg kinetin/lít + 0,3 mg BAP/lít hệ số nhân chồi đạt 5 - 6 cụm chồi và 5,7 chồi/cụm Khi nghiên cứu nhân giống lan Đai châu bằng phương pháp nuôi cấy trong ống nghiệm, Dương Mộng Hùng (2005) đã kết quả cho thấy: Thời điểm lấy quả lan Đai châu là vào tháng 1-3 năm sau, tốt nhất là vào cuối tháng 1 Môi trường Knudson C bổ sung thêm 0,2mg/l K và 0,5 mg/l BAP cho hệ số nhân thể chồi cao (4,0) Môi trường Knudson C bổ sung thêm 0,2 mg/l K và 0,2 mg/l NAA làm thể chồi nhanh hình thành cây lan Đai châu con đủ tiêu chuẩn huấn luyện để cho ra vườn ươm
Phạm Thị Kim Hạnh và cs (2008) đã nghiên cứu nhân nhanh in vitro loài lan Đai châu (Rhynchostylis gigantean) trong bioreactor và cho kết quả về tỉ lệ nảy mầm cũng như tốc độ sinh trưởng của cây con in vitro tốt hơn so với môi trường
đặc Môi trường nuôi cấy là WV bổ sung vitamin, axit amin MS, bằng phương thức lỏng - bioreactor với các thông số kỹ thuật: nhiệt độ 250C, lưu lượng không khí 0,5 lít/phút, thời gian 45 ngày, chu kỳ 4 ngày ngập: 1 ngày khô là tốt nhất để tăng tỉ lệ tạo cây con (91,1%), giảm thời gian phát triển mầm (5 tuần) đồng thời kích thích
sinh trưởng cây con in vitro Cây con được cấy chuyển sang môi trường đặc sau 3
tháng đạt được 5,8 lá; 5,2 rễ; dài lá 6,1 cm; rộng lá 1,35 cm; rễ mập 0,41 cm Giá thể nuôi cây ngoài vườn ươm bọt núi + than củi + tảo Đài Loan
Kết quả nghiên cứu về giá thể
Trong giá thể trồng lan, xơ dừa là thành phần quan trọng Theo Minh Trí và Xuân Giao (2010), xơ dừa có đặc điểm là hút nước chậm nhưng giữ ẩm lâu, có chứa nhiều khoáng chất nuôi dưỡng cây lan, tuy nhiên khi sử dụng cần xử lý ngâm nước để giảm lượng muối và cần chú ý chế độ tưới, không để bị ngập nước gây thối mục giá thể
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Dương xỉ là loại giá thể này không bao giờ bị rêu bám, khả năng hút ẩm khá tốt Tuy nhiên nếu không được phối trộn với các loại giá thể khác thì chậu lan rất dễ
bị úng nước, gây thối đầu rễ cây lan (Nguyễn Công Nghiệp, 2000)
Theo Việt Chương và Nguyễn Việt Thái (2002), Nguyễn Công Nghiệp (2000),
có thể sử dụng than hoa, gạch non, rêu, xơ dừa, rễ lục bình, vỏ thông để trồng hoa lan Đây là những vật liệu dễ kiếm ở điều kiện Việt Nam Có thể dùng một loại giá thể hoặc phối trộn các loại giá thể trên với nhau để trồng lan tùy thuộc vào điều kiện
cụ thể của từng vùng, từng loài lan cũng như độ tuổi của lan
Khi nghiên cứu về giá thể, Đặng Văn Đông và cs (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại gốc ghép đến sinh trưởng, phát triển của lan Đai châu cho thấy: trong các loại gỗ ghép cho lan Đai châu (gỗ nhãn, gỗ vải, gỗ ổi) thì gỗ nhãn cho kết quả sinh trưởng, phát triển tốt nhất, sau trồng một năm số lá tăng thêm 1,66
lá, đường kính chùm hoa 7,03 cm
Đinh Thị Dinh và cs (2014a) đã kết luận rằng, trong giai đoạn vườn ươm, giá thể phù hợp ra ngôi cho Đai châu là than hoa + vỏ cây + rong biển, (tỷ lệ 1:1:1, kích thước 0,5-1,0 cm) với số lần tưới nước 2 ngày/ lần (tỷ lệ sống 89%), hoặc giá thể than hoa + vỏ cây + mụn xơ dừa (tỷ lệ 1:1:1, kích thước 0,5- 1,0 cm) với số lần tưới 1 ngày /lần ( tỷ lệ sống 88%)
Nguyễn Thị Mai Ly (2015) nghiên cứu về giá thể cho Đai châu chỉ ra giá thể
là gỗ nhãn khô cho bộ rễ sinh trưởng tốt nhất
Kết quả nghiên cứu về phân bón
Nguyễn Công Nghiệp (2000) đã kết luận: mùa tăng trưởng của phong lan nên dùng phân tổng hợp N:P:K loại 30:10:10, khi chớm nở hoa phải dùng loại phân
có nồng độ lân cao để màu sắc hoa đặc trưng như phân N:P:K loại 10:20:20 hoặc 6:30:30 Trước khi lan bước vào mùa nghỉ dùng loại phân bón có nồng độ kali cao
để tăng sức chịu đựng như phân N:P:K loại 10:20:30 Cũng theo Nguyễn Công Nghiệp (2000), không nên dùng nồng độ phân bón quá 1g/lít nước vì sẽ làm cây lan chết hoặc thoái hoá Phân bón qua lá dưới dạng phun sương là rất hiệu quả
Đặng Văn Đông và cs (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của lan Đai châu
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
(Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley) tại Gia Lâm, Hà Nội kết quả cho thấy: sử
dụng phân bón lá Plant Soul 3 (tỷ lệ N:P:K là 20:20:20) cho kết quả tốt nhất đối với lan Đai châu thể hiện qua các chỉ tiêu động thái ra lá rất mạnh, lá màu xanh đậm, số
rễ nhiều, rễ to khỏe Đặc biệt tỷ lệ cây mang hoa lớn (91,76%)
Khi nghiên cứu về phân bón để làm tăng khả năng sinh trưởng, chất lượng hoa lan Đai châu trong vườn ươm, Đinh Thị Dinh và cs (2014a) đã chỉ ra loại phân Fish Emulsion (5:1:1), nồng độ 0,05%, tưới 5 ngày/lần cho số lá 4,7 lá, chiều dài lá 13,2 cm
Trần Minh Hiền Trang (2012) nghiên cứu về phân bón cho lan Đai châu đã cho rằng dung dịch dinh dưỡng đạm động vật cho kết quả tốt nhất ở cả 2 giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và ra hoa của cây
Nguyễn Thị Mai Ly (2015) cũng nghiên cứu về phân bón cho Đai châu đưa
ra kết luận phân bón lá HVP B1 cho bộ rễ sinh trưởng nhanh (3,0 rễ, dài rễ là 33,57cm)
Theo các tác giả Trung tâm Khoa học và sản xuất Nông - Lâm nghiệp Quảng Ninh thì phân bón thích hợp cho lan Đai châu giai đoạn vườn sản xuất là phân bón Atonik 1.8DD, 1ml/l kết hợp với NPK 1g/l cho số lá cao nhất đạt 7,8 lá/cây, chiều dài lá 10cm, chiều rộng lá 2,56cm (Trần Thị Doanh, 2013)
Kết quả nghiên cứu về biện pháp tưới nước
Đặng Văn Đông và cs (2010) khi nghiên cứu phương pháp tưới nước cho lan Đai châu tại Gia Lâm - Hà Nội kết luận rằng: tưới kết hợp phun sương và tưới bằng vòi hoa sen cho hiệu quả sinh trưởng mạnh nhất và tỷ lệ ra hoa đạt 90%
Trần Minh Hiền Trang (2012) chỉ ra rằng phương pháp tưới nước cho lan Đai châu bằng phun sương hạt to là hiệu quả nhất, số rễ đạt 6,17 rễ, chiều dài rễ 27,06cm, số lá 8,15 lá và chiều dài lá là 22,59cm, chiều dài cành hoa là 18,12 cm
Chất lượng nước tưới tốt nhất cho lan Đai châu ở giai đoạn vườn sản xuất là nước mưa (pH 5,55, EC 0,04) hoặc nước giếng khoan có lọc (pH 6,2, EC 0,26) ( Đinh Thị Dinh và cs , 2014a)
Năm 2013, tác giả Trần Thị Doanh đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: số lần tưới nước thích hợp cho lan Đai châu là 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ sáng và 4 giờ chiều
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Nước tưới có độ pH là 5,5-6,0, hàm lượng vi sinh vật trong nước không vượt quá 5000MPN/100ml và độ đục dưới 5 NTU
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở nước ta tương đối nhiều Các kết quả nghiên cứu đều có ý nghĩa nhất định trong việc chọn tạo và ứng dụng giống vào sản xuất Lan Đai châu ngày càng được ưa chuộng bởi vẻ đẹp quý phái và hương thơm ngọt ngào Hơn thế nữa, lan Đai châu có tiềm năng để nghiên cứu và mở rộng phát triển sản xuất thành một ngành hàng phục vụ cho nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cho người trồng hoa Tuy nhiên những nghiên cứu về Đai châu vẫn còn rời rạc, mới tập trung vào công tác lai tạo, nhân giống và tác động các biện pháp kỹ thuật với cây trưởng thành, còn việc tác động lên cây con sau khi ra ngôi thì chưa được quan tâm nhiều Đặc biệt là việc nghiên cứu tiếp để lựa chọn các tổ hợp lai tạo có triển vọng sau khi lai tạo Vì thế chúng tôi tiến hành đề tài nhằm nghiên cứu, đánh giá, lựa chọn ra tổ hợp lai có triển vọng, bước đầu góp phần đưa ra quy trình sản xuất nhân rộng cho loại lan này, phục
vụ nhu cầu trong và ngoài nước, tương xứng với tiềm năng vốn có của nó
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
* Thí nghiệm đánh giá về sinh trưởng, chúng tôi sử dụng 12 tổ hợp lai có nguồn gốc từ hạt, được lai tạo từ năm 2010 và đưa ra ngôi từ tháng 9/2012 tại Viện Nghiên cứu Rau quả, thời điểm thí nghiệm cây con đã được 8 tháng tuổi, Các tổ hợp lai lần lượt là Đ01, Đ02, Đ03, Đ04, Đ05, Đ06, Đ07, Đ08, Đ09, Đ10, Đ11, Đ12
- Các tổ hợp lai trên được so sánh, đối chứng với giống ĐC09, là giống lan bản địa, được nhân bằng gieo hạt từ hoa Trắng ngà chấm tím, cây con đã được 8 tháng tuổi
Nguồn gốc lai và kí hiệu các tổ hợp lai
STT Tên thương mại Kí
hiệu Nguồn gốc Cặp lai
Tổ hợp lai
1 Đai châu tím đậm ĐC01 Đài Loan ♀ ĐC04 x ♂ ĐC01 Đ01
2 Đai châu trắng ngà
5 Đai châu vàng cam ĐC05 Đài Loan ĐC02 x ĐC01 Đ05
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
- Về giá thể: Rêu có nguồn gốc từ trên núi, sau đó tẩy trắng sấy khô, được Viện nghiên cứu nhập nội từ Trung Quốc; Xơ dừa của Bến Tre sản xuất và đã được nghiền nhỏ, than hoa được rửa sạch, đập nhỏ, kích thước 0,5-1,0 cm
- Về phân bón:
+ Đầu Trâu 501 (tỉ lệ 30:15:10) do Công ty cổ phần phân bón Bình Điền sản xuất, thành phần 30% đạm (N), 15% lân (P2O5), 10% kali (K2O), 0,05% magie (Mg), 0,05% canxi (Ca), 0,01% bo (B), 0,05% kẽm (Zn), 0,05% đồng (Cu), 0,05% sắt (Fe), 0,025% mangan (Mn), 0,005% molypden (Mo), GA3, αNAA, bNOA, pha 1gr/1 lít nước
+ Growmore Orchid (tỉ lệ 20:20:20) do Công ty phân bón Hải Tiên sản xuất, với hàm lượng dinh dưỡng 20% đạm (N), 20% lân (P2O5), 20% kali (K2O), 0,05% đồng (Cu), 0,0005% mangan (Mn), 0,05% sắt (Fe), 0,05% kẽm (Zn), pha 1gr/1 lít nước + Plant soul 3 (tỉ lệ 30:10:10) được nhập từ Trung Quốc, do công ty phân bón Quảng Đông sản xuất, thành phần 30% đạm (N), 10% lân (P2O5), 10% kali (K2O), 0,1% Mg, 0,009% Bo, 0,02% Cu, 0,05% Mn, 0,002% Mo, 0,02% Zn, 0,005% Co, pha 3gr/10 lít nước
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí trong khu nhà lưới công nghệ cao của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hoa cây cảnh - Viện Nghiên cứu Rau quả (Gia Lâm, Hà Nội)
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 5/2013 đến tháng 3/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh trưởng của một số tổ hợp lai lan Đai châu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
+ Nghiên cứu ảnh hưởng phân bón lá đến sinh trưởng của lan Đai châu Trắng ngà chấm tím
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tần suất bón phân đến sinh trưởng của lan Đai châu
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
* Thí nghiệm1: Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh trưởng của một số tổ hợp lai
lan Đai châu tại Gia Lâm- Hà Nội
- Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại với 50 cây/tổ hợp lai Theo dõi ngẫu nhiên sinh trưởng của 30 cây/tổ hợp lai
- Thí nghiệm sử dụng giá thể 100% rêu; phân bón lá Plant soul 3 với tần suất bón
07 ngày/lần, sử dụng bình phun tay 2 lít, phun ướt đều toàn bộ thân lá, với lượng phun 3gr/10 lít nước; chế độ tưới nước 2 ngày/lần, lượng tưới 0,5 lít/m2, tưới vào buổi sáng từ 8h30 phút đến 9 giờ, sử dụng hệ thống phun mù dạng hạt nhỏ tự động bật tắt sau 5 phút
- Thí nghiệm gồm 13 công thức, trong đó 12 công thức được kí hiệu từ CT1 CT12 tương ứng với 12 tổ hợp lai lan Đai châu; riêng CT13 (đối chứng) là giống lan Đai châu ĐC09
Bảng 2.1 Các tổ hợp lai và kí hiệu công thức