Để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi cần phải có nhiều nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên sâu về các khía cạnh khác nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
HOÀNG THÁI SƠN
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN MỘT SỐ DỰ ÁN VỀ KHU TÁI ĐỊNH CƯ VÀ CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả Luận văn
Hoàng Thái Sơn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Chu Văn Thỉnh đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường đã giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân quận Long Biên, Ban quản lý
dự án quận Long Biên, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Long Biên, Trung tâm phát triển quỹ đất quận Long Biên, các đồng nghiệp trong cơ quan và trong phòng đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian, tài liệu và những ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành tốt bản luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Thái Sơn
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 3
1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3
1.1.2 Đặc điểm của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 4
1.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số nước, các tổ chức trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam 5
1.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Trung Quốc 5
1.2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Thái Lan 6
1.2.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Hàn Quốc 7
1.2.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cưu tại Inđônêxia 8
1.2.5 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) 9
1.2.6 Kinh nghiệm cho Việt Nam 11
1.3 Chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ 12
1.3.1 Thời kỳ trước 1988 12
1.3.2 Thời kỳ 1988 đến 1993 13
1.3.3 Thời kỳ 1993 đến 2003 13
1.3.4 Thời kỳ từ 2003 đến nay 16
Trang 51.4 Thực tiễn công tác bồi thường, GPMB ở Việt Nam 18
1.4.1 Tình hình Bồi thường, GPMB trên phạm vi cả nước 18
1.4.2 Tình hình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số địa phương 21
Chương 2NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của quận Long Biên, thành phố Hà Nội 28
2.2.2 Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cưu khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu 28
2.2.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở 2 dự án nghiên cứu trên địa bàn quận Long Biên 28
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, GPMB tại quận Long Biên 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu 29
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Long Biên 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
3.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 37
3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn quận Long Biên – Hà Nội 39
3.2.1 Nhóm đất nông nghiệp: 40
3.2.2 Nhóm đất phi nông nghiệp 40
3.2.3 Nhóm đất chưa sử dụng 41
3.2 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên 41
3.3.1 Các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 41
Trang 63.3.2 Trình tự thủ tục thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất 43
3.4 Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở 2 dự án trên địa bàn quận Long Biên 48
3.4.1 Giới thiệu về 2 dự án nghiên cứu 48
3.4.2 Kết quả xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường tại 2 dự án trên địa bàn quận Long Biên 50
3.4.3.Việc xác định giá đất tính bồi thường, hỗ trợ 53
3.4.4 Giá bồi thường về tài sản trên đất 56
3.4.5 Các chính sách hỗ trợ và tái định cư 58
3.4.6 Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tại 2 dự án 65
3.5 Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại quận Long Biên 76
3.5.1 Về chính sách 76
3.5.2 Về tổ chức thực hiện 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn BNN&PTNT
3 Bộ Tài nguyên và Môi trường BTNMT
12 Kinh tế – Văn hóa – Xã hội KT – VH – XH
13 Ngân hàng phát triển Châu Á ADB
20 Tài nguyên và Môi trường TN & MT
21 Thông tư liên bộ TTLB
22 Uỷ ban nhân dân UBND
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Cơ cấu kinh tế quận Long Biên giai đoạn 2010 -2014 39
3.2 Hiện trạng sử dụng đất quận Long Biên năm 2014 39
3.3 Tổng hợp diện tích thu hồi của các dự án 50
3.4 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ của 2 dự án 50
3.5 Tổng hợp kết quả xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 51
3.6 Ý kiến của người bị thu hồi đất về kết quả xác định đối tượng bồi thường và không được bồi thường 52
3.7 Tổng hợp đơn giá bồi thường về đất tại 2 dự án 54
3.8 So sánh mức độ chênh lệch giữa giá bồi thường của 2 dự án và giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất 54
3.9 Ý kiến của người bị thu hồi đất về giá đất tính bồi thường tại 2 dự án 55
3.10 Tổng hợp đơn giá bồi thường tài sản tại 2 dự án 56
3.11 Ý kiến của người bị thu hồi đất trong việc bồi thường về tài sản gắn liền với đất 57
3.12 Tổng hợp các chính sách hỗ trợ của 02 dự án 60
3.13 Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của 2 Dự án 61
3.14 Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính sách Tái định cư của 01 Dự án 64
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Sơ đồ hành chính quận Long Biên, Hà Nội 31
3.3 Cơ cấu sử dụng đất quận Long Biên năm 2014 41
3.3 Tuyến đường dọc đường tàu UBND phường Đức Giang 49
3.4 Khu tái định cư tại phường Cự Khối 49
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý báu, là địa bàn để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội quốc phòng, an ninh; là nguồn vốn, nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia Trong quá trình đổi mới ở nước ta, đặc biệt những năm gần đây, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới đã phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH đất nước với mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một diện tích lớn đất đai, trong đó chủ yếu là đất tại các khu vực nông thôn được thu hồi
sử dụng vào mục đích phát triển công nghiệp, phát triển đô thị, xây dựng cơ sở
hạ tầng Việc thu hồi đất diễn ra trên diện rộng trong nhiều năm qua đã tác động lớn tới đời sống nhân dân và tình hình kinh tế - xã hội khu vực có đất bị thu hồi ở
cả hai góc độ tích cực và tiêu cực
Chính sách bồi thường của Nhà nước, việc thực thi chính sách, pháp luật của các địa phương một cách chưa thực sự thỏa đáng cũng là nguyên nhân gây nên những bất hợp lý, nhiều vụ khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đông người, kéo dài tạo ra những điểm nóng về chính trị, xã hội Một chính sách hợp lý phải bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi, nhưng đồng thời cũng phải có tác dụng ngăn chặn những người có tư tưởng cơ hội lợi dụng nhu cầu bức thiết của Nhà nước để đưa ra những đòi hỏi bất hợp lý
Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã xây dựng, ban hành và triển khai nhiều văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người
có đất bị thu hồi Những bất cập đã được chỉnh sửa, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế Tuy nhiên, công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi vẫn là những vấn đề nóng, gây nên sự chú ý của xã hội
Trang 11Để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người
có đất bị thu hồi cần phải có nhiều nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên sâu về các khía cạnh khác nhau của vấn đề, trên cơ sở đó đánh giá đúng,
đủ, khách quan thực trạng công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư; nắm rõ bản
chất của các vấn đề bất cập Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình
thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện một số dự án về khu tái định cư và chỉnh trang đô thị trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội” là cần thiết trong thời điểm hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
để thực hiện một số dự án về khu tái định cư và chỉnh trang đô thị trên địa bàn quận Long Biên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tại quận Long Biên
3 Yêu cầu của đề tài
- Các tài liệu điều tra, thu thập phải phản ánh khách quan chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn quận Long Biên - Thành phố Hà Nội
- Các giải pháp phải phù hợp với điều kiện của quận Long biên và có tính khả thi
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.1.1 Bồi thường và chính sách bồi thường
- Bồi thường có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thu hồi đất
- Quyết định thu hồi đất: Là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi
- Giải phóng mặt bằng là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phần đất nhất định được quy định cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới trên đó
- Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng từ khi thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng cho tới khi bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư
1.1.1.2 Hỗ trợ
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, hỗ trợ việc làm, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới
1.1.1.3 Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống
và làm ăn Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường hỗ trợ về đất, tài sản;
di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế,
xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Trang 13Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở;
- Bồi thường bằng giao đất ở mới;
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng giúp người bị thu hồi đất ổn định nơi ở
1.1.2 Đặc điểm của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình mang tính đa dạng và phức tạp
- Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó mỗi khu vực bồi thường, GPMB có những đặc trưng riêng
và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại
là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng
đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết
để đảm bảo đời sống dân cư sau này
- Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
Trang 14+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở
+ Nguồn gốc sử dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý khác nhau, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường xuyên
+ Thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu
+ Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển
Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì công tác GPMB được thực hiện khác nhau
1.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số nước, các tổ chức trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Trung Quốc
Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực
sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa
Về bồi thường thiệt hại về đất đai, do đất đai thuộc sở hữu nhà nước nên không có chính sách bồi thường thiệt hại Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể, nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất
Về phương thức bồi thường thiệt hại, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Tại thủ đô Bắc kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn bồi
Trang 15thường thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc, nơi làm việc của mình
Về giá bồi thường thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với đất nông nghiệp việc bồi thường thiệt hại theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu)
Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng
bộ và kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu
sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được nhà nước chú ý và có chính sách xã hội riêng
1.2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Thái Lan
Thái Lan chưa có chính sách bồi thường, TĐC cấp quốc gia, nhưng tại Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ
sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị cải tạo đất đai và mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng BĐS áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc có lợi ích khác cho đất nước phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình
tự tiến hành bồi thuờng TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá bồi thường, các bước lập và phê duyệt dự án bồi thường thủ tục thành lập các cơ quan, ủy ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường quyền khiếu
Trang 16nại, quyền khởi kiện đưa tòa án Ví dụ: Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng và đặt một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng
và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực
tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án
1.2.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Hàn Quốc
Luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được chia làm hai thể chế:
+ Một là: Luật “Đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công cộng đã được quy định theo thủ tục thương lượng của pháp luật
+ Hai là: Luật “Sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp
Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộng trong một thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật “Sung công đất” đã được xây dựng vào năm 1962 Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc này trên toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào năm 1975
và dựa vào hai luật trên, Hàn Quốc đã triển khai bồi thường thiệt hại cho đến nay Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “Đặc lệ” thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “Sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng nếu như thế thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi
bị trùng hợp cho nên thời gian có thể bị kéo dài hoặc chi phí bồi thường sẽ tăng lên Do đó luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc mới ra đời và thực hiện theo 3 giai đoạn:
+ Thứ nhất: tiền bồi thường đất đai sẽ được giám định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc bồi thường
Trang 17+ Thứ hai: pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có quyền sử hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi
+ Thứ ba: biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng Chế độ này được Nhà nước hỗ trợ tích cực về mọi mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của Nhà nước Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn người dân tự nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc giải phóng mặt bằng Theo luật bồi thường, nếu như toà nhà nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng, xây cư trú hoặc hỗ trợ 30% giá trị của toà nhà đó Còn nếu như là dự án xây nhà chung cư thì cung cấp cho các đối tượng này nhà chung cư hoặc nhà ở với giá thấp hơn giá thành Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng có pháp nhân, các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì có chính sách mang tính chất ân huệ thì ngoài biện pháp
di dời còn ưu tiên cung cấp cho họ các cửa hàng hoặc khu vực kinh doanh
1.2.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cưu tại Inđônêxia
Đối với In-đô-nê-xi-a di dân tái định cư, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế xã hội từ trước đến nay vẫn được coi là sự hi sinh mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộng đồng Các chương trình bồi thường TĐC chỉ giới hạn trong phạm vi bồi thường theo luật cho đất bị dự án chiếm dụng hoặc một số ít trường hợp bị thu hồi đất để xây dựng khu TĐC
TĐC được thực hiện theo 3 yếu tố quan trọng:
- Bồi thường tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ và phương tiện phù hợp
- Trợ cấp khôi phục để ít người bị ảnh hưởng có được mức sống đạt hoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án Đối với các dự án có di dân TĐC, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung di dân là yếu tố không thể thiếu ngay từ khi
Trang 18chu kỳ đầu tiên của việc lập dự án đầu tư và những nguyên tắc chính phải đề cập đến gồm:
+ Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di dân bắt buộc, vấn đề khó tránh được khi triển khai thực hiện các dự án
+ Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng kinh tế, xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp không có dự án
+ Các dự án về TĐC phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt
+ Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường TĐC
+ Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất, trong đó có những người không hoặc chưa có quyền lợi hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ
1.2.5 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Ngân hàng Thế giới (WB) là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế đầu tiên đưa ra chính sách về TĐC bắt buộc Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính sách TĐC được ban hành dưới dạng một Thông báo, Hướng dẫn hoạt động nội bộ (OMS 2.33) cho nhân viên Từ đó đến nay chính sách TĐC đã được sửa đổi và ban hành lại nhiều lần
Như chúng ta đã biết, khi Nhà nước thu hồi đất và TĐC thì những người BAH là những người mà do hậu quả của dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, cộng gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hoá và tiềm năng về
sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái Kinh nghiệm của WB cho thấy việc TĐC không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm hoạ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hoá khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dàng dẫn tới sự bần cùng hoá đời sống dân cư
Trang 19Từ tháng 2/1994, ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã bắt đầu áp dụng bản hướng dẫn hoạt động của WB về TĐC và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này
đã có chính sách riêng của Ngân hàng về TĐC bắt buộc
Nhìn chung, phương châm của ADB cũng tương tự như của WB đều có
xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, đồng thời có chính sách thoả đáng, phù hợp đảm bảo cho người BAH không gặp phải bất lợi trong cuộc sống, khôi phục, cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống
Để thực hiện được phương châm đó, thì chìa khoá dẫn tới sự thành công đó là phải chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển mà con người là trung tâm Kinh nghiệm về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, TĐC thành công là những chính sách phù hợp của Chính phủ: nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương và trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của nhân dân Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là yếu tố đồng hành trong quá trình thực hiện các dự án
Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường TĐC hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện
Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường TĐC được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phục thuộc vào số lượng người BAH và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ BAH Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà nhập được với cộng đồng mới
Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ BAH, các tổ chức quốc tế quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường TĐC của dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác, thậm chí trao quyền
Trang 20cho các hộ BAH và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi thường TĐC cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch
1.2.6 Kinh nghiệm cho Việt Nam
Mặc dù mỗi nước có chế độ sở hữu đất đai khác nhau nhưng chính sách thu hồi đất, pháp lý về thu hồi đất là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, có thể chính sách pháp luật của các nước không quy định
chi tiết đến từng đối tượng nhưng bao quát đầy đủ (kể cả chính sách lẫn sự chuẩn
bị về vốn và quỹ đất, quỹ nhà) cùng với các cơ chế phù hợp được người dân ủng
hộ, chấp thuận Đặc biệt là ý thức tự giác và sự tuân thủ luật pháp của người có đất
bị thu hồi
Đối với các nước nêu trên, để thực hiện có hiệu quả chính sách thu hồi đất trước hết phải hoạch định chiến lược các chính sách; xây dựng, bổ sung, điều chỉnh kịp thời chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; phổ biến chính sách pháp luật về thu hồi đất, đưa pháp luật đất đai đi vào đời sống xã hội; kiên quyết xử lý thu hồi đất đối với tất cả các trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đảm bảo kỷ cương trong công tác quản lý,
sử dụng đất và đặc biệt cần quan tâm đến giá đền bù thiệt hại về đất đai, tài sản cho người bị thu hồi đất với mục tiêu đảm bảo cuộc sống cho người có đất bị thu hồi ngang bằng hoặc tốt đẹp hơn
Những kinh nghiệm này tác dụng trực tiếp và ảnh hưởng sâu sắc đối với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn ở Việt Nam Mặc dù mỗi nước đều có chế độ sở hữu đất đai riêng nhưng chính sách thu hồi đất đai là hiện tượng không tránh khỏi trong quá trình phát triển Qua nghiên cứu, chính sách quản lý, sử dụng đất của các nước và tổ chức không có gì mới mà là do việc tuân thủ pháp luật đất đai rất nghiêm minh, sự chấp hành vô điều kiện pháp luật trong quá trình thực hiện chính sách thu hồi đất từ cơ quan có thẩm quyền đến người sử dụng đất Cuối cùng là tính pháp chế cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền là nguyên nhân thành công của mọi thành công ở các nhà nước này
Ở nước ta, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc
Trang 21liên quan đến việc làm và chính sách giải quyết việc làm sau khi thu hồi đất Đây
là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ chính sách giải quyết việc làm sau khi thu hồi đất của Trung Quốc, Hàn Quốc chúng ta có thể rút
ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
(1) không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên
cơ sở nhu cầu lao động của xã hội
(2) phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học - công nghệ và những ngành nghề sử dụng lao động
(3) phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường lao động
(4) thực hiện cái cách chế độ tiền lương, thu nhập của người lao động
1.3 Chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.3.1 Thời kỳ trước 1988
Sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, lần đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Hiến pháp vào năm 1946 Đến năm 1953, Nhà nước ta thực hiện cuộc cải cách ruộng đất và Luật cải cách ruộng đất được ban hành Sau đó, Đảng và Nhà nước ta đã vận động nông dân vào làm ăn tập thể, đồng thời Nhà nước thành lập các nông trường quốc doanh, các trạm trại nông nghiệp - hình thức sở hữu tập thể
Ngày 14/4/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 151-TTg quy định về thể lệ tạm thời trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và tái định cư ở Việt Nam, sau đó Ủy ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành thông tư liên bộ số 1424/TTg của Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây dựng các công trình kiến thiết cơ bản
Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong nghị định này là đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm
1960 Cách bồi thường như vậy được thực hiện cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời
Trang 221.3.2 Thời kỳ 1988 đến 1993
Luật Đất đai năm 1988 ban hành quy định về việc bồi thường cũng cơ bản dựa trên những điều quy định tại Hiến pháp 1980
Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT
về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại
về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và
vị trí đất Mỗi hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tại quyết định này, mức bồi thường còn được phân biệt theo thời hạn
sử dụng đất lâu dài hay tạm thời quy định việc miễn giảm tiền bồi thường đối với việc sử dụng đất để xây dựng hệ thống đường giao thông, thủy lợi…
1.3.3 Thời kỳ 1993 đến 2003
- Hiến pháp 1992 (thay thế Hiến pháp 1980) đã quy định:
“ Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN”
- Điều 17 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”
- Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Tổ chức và cá nhân
có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”
- Điều 23 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá
Trang 23nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”
- Điều 58 quy định về quyền sở hữu cá nhân: “Công dân có quyền sở hữu
về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và điều 18 Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”
Những quy định trên đã tạo điều kiện củng cố quyền hạn riêng của Nhà nước trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi ích quốc gia
Sau khi Luật đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản đó, bao gồm:
- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường GPMB theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng và mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP
Trang 24- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998, thay thế Nghị định 90/CP nói trên và quy định rõ phạm vi áp dụng, đối tượng phải bồi thường, đối tượng được bồi thường, phạm vi bồi thường, đặc biệt người có đất bị thu hồi có quyền được lựa chọn một trong ba phương án bồi thường bằng đất, bằng tiền hoặc bằng đất và bằng tiền
1.3.3.2 Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998
Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998 được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng cơ bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp thực tế
Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự thảo lần thứ nhất về sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc bồi thưòng hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Trong đó, một số điều cơ bản đã được đề nghị sửa đổi như xác định mức đất để tính bồi thường, giá bồi thường, lập khu tái định cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cư, Hội đồng bồi thường GPMB và thẩm định phương án bồi thường GPMB
- Thông tư 145/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương án bồi thường và một số nội dung khác
- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04/9/1999 của Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB
1.3.3.3 Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 2001
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001 quy định cụ thể hơn về việc bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng, cụ thể:
a Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ Việc bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định của Chính phủ
Trang 25b Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi Trong trường hợp người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được mua nhà ở của Nhà nước hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở Trong trường hợp phương án bồi thường được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được công bố công khai và có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật mà người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi thì cơ quan quyết định thu hồi đất có quyền ra quyết định cưỡng chế Trong trường hợp Chính phủ ra quyết định thu hồi đất thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định cưỡng chế
c Trong trường hợp cộng đồng dân cư xây dựng công trình phục vụ lợi ích công cộng của cộng đồng theo quy hoạch bằng vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước có hỗ trợ thì việc bồi thường hoặc hỗ trợ cho người có đất được sử dụng
để xây dựng công trình do cộng đồng dân cư và người có đất đó thoả thuận
Luật Đất đai năm 2003 là luật có phạm vi điều chỉnh bao quát nhất, thể hiện đầy đủ nhất hơi thở của cuộc sống so với các Luật Đất đai đã ban hành trước
đó Luật có rất nhiều nội dung mới, trong đó đáng chú ý tập trung vào các vấn đề đang đặt ra trong quản lý sử dụng đất đai sau:
- Làm rõ nội dung quyền sở hữu toàn dân về đất đai với những quyền định đoạt, quyền được hưởng lợi cụ thể và vai trò của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu;
- Khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
Trang 26ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi đất;
- Đổi mới công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai theo hướng phát huy vai trò của toà án trong giải quyết các tranh chấp dân sự và các khiếu nại hành chính về đất đai; khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm dẫn tới khiếu kiện kéo dài vượt cấp
Hiện nay, có rất nhiều các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp, khu thương mại đang được thực hiện và trong tương lai con số các dự án
sẽ tăng lên rất nhanh Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, bao gồm:
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất,
Trang 27trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
Từ thực tế tình hình quản lý nhà nước và các chính sách đất đai, chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ và hiện tại, chúng tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu, chỉnh lý, bổ sung chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là cần thiết nhằm góp phần đẩy nhanh tiến
độ GPMB thực hiện CNH-HĐH, ổn định đời sống nhân dân
1.4 Thực tiễn công tác bồi thường, GPMB ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình Bồi thường, GPMB trên phạm vi cả nước
Luật Đất đai 1993 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại” (Điều 27) Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này là
cơ sở pháp lý quan trọng, là chính sách cơ bản cho việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong giai đoạn từ 1994 đến 1998 Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Nghị định này cũng còn bộc lộ những tồn tại nhất định như: chưa bao quát, điều chỉnh đầy đủ phạm vi thu hồi đất; mức bồi thường thiệt hại về đất đai, tài sản chưa tương xứng với mức thiệt hại thực tế; không có quy định về các biện pháp hỗ trợ ổn định đời
Trang 28sống, sản xuất và xây dựng các khu tái định cư để phục vụ việc di dân giải phóng mặt bằng …
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ thay thế cho Nghị định số 90/CP Chính sách bồi thường thiệt hại về đất được thể chế tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã điều chỉnh đầy đủ, cụ thể, chi tiết về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ
về đất, về tài sản phù hợp với mức thiệt hại thực tế, giải quyết hài hoà mối quan
hệ về lợi ích giữa người bị thu hồi đất với Nhà nước và các bên có liên quan Với việc ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, Nhà nước đã thực hiện đổi mới một bước chính sách đền bù và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia
Thực trạng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật Đất đai 2003
Ở Việt Nam, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của Nghị định 84/2007/NĐ-CP đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận bồi thường hỗ trợ cũng thấy thỏa đáng
- Mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất
- Việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
Trang 29- Trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả
- Các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm
2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn
- Nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực
để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và
có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sử kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu
tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng
cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại, vướng mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó đặc biệt là vấn đề giá bồi thường, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản
Theo quy định của Luật đất đai 2003 và Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
Trang 30nước thu hồi đất thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hiện nay có những điểm đổi mới cơ bản như sau: Nhà nước chỉ thực hiện bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư đối với những trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh
tế theo quy định tại Điều 36, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
- Giá đất để bồi thường được thực hiện theo các quy định về giá đất mới nên người sử dụng đất sẽ thực hiện bàn giao mặt bằng nhanh hơn, tình trạng khiếu kiện giảm đi
- Trường hợp Nhà nước thu hồi đất, việc tổ chức thực hiện thu hồi đất và bồi thường cho người có đất bị thu hồi theo quy định được giao cho tổ chức phát triển quỹ đất Đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền
sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất
1.4.2 Tình hình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số địa phương
1.4.2.1 Tại thành phố Hải Phòng
Tại Hải Phòng, cùng với sự phát triển của đất nước, các dự án đầu tư có sử dụng đất tại thời điểm này bắt đầu gia tăng Trong quá trình thực hiện, UBND Thành phố và các ngành chức năng vừa làm vừa nghiên cứu để hoàn thiện chính sách trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của người bị thu hồi đất, tuân thủ các chính sách của Nhà nước và quy định của pháp luật Trong thời gian qua, công tác bồi thường GPMB đã được các ngành, các cấp thực hiện tuy còn nhiều vướng mắc, song phần nào cũng giải quyết được vấn đề bàn giao mặt bằng cho các dự án Trong thời gian từ 15/11/2002 đến 21/6/2007, ngành địa chính đã cùng với các ngành có liên quan tổ chức kiểm kê, lập phương án bồi thường cho
151 dự án trong đó đã chi trả xong tiền bồi thường cho 126 dự án với diện tích đất 1055 ha, kinh phí bồi thường 302,96 tỷ đồng, hoàn thành phương án bồi thường trình UBND thành phố phê duyệt cho dự án với diện tích 300,10 ha, giá trị bồi thường 115 tỷ đồng Đang triển khai kiểm kê, lập phương án bồi thường cho 61 dự án với diện tích chiếm đất là 1368,69 ha Các huyện, quận, thị xã đã
Trang 31kiểm kê, lập phương án bồi thường cho 108 dự án, đã chi trả xong tiền bồi thường cho 79 dự án, còn 29 dự án đang tiến hành kiểm kê lập phương án bồi thường và trình phê duyệt (huyện An Hải 25 dự án, huyện Kiến Thụy 7 dự án, huyện Thủy Nguyên 11 dự án, quận Ngô Quyền 21 dự án, quận Hồng Bàng 28
dự án, quận Kiến An 33 dự án và Thị xã Đồ Sơn 14 dự án)
1.4.2.2 Tại thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là một thành phố không lớn, mới được thành lập là một thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở tách thành phần thành phố Đà Nẵng cũ và khu vực ngoại vi từ tỉnh Quảng Nam trước đây (thành lập ngày 06/11/1996) Ngay từ khi mới thành lập, lãnh đạo thành phố đã có chủ trương tập trung vào quy hoạch, phát triển hạ tầng cho một đô thị hiện đại, sử dụng quỹ đất làm nội lực để phát triển Trong giai đoạn 2001 - 2005, Đà Nẵng đã cho chuyển 3,821 ha
từ đất nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, đất chưa sử dụng sang
sử dụng vào mục đích phát triển khu công nghiệp, dịch vụ và mở rộng đô thị (theo báo cáo kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 của Thành phố Đà Nẵng) Và đã đạt được nhiều hiệu quả về kinh tế - xã hội, tăng trưởng GDP đạt mức 11,56%, Bình quân GDP trên đầu người từ 392 USD (1996) đến nay là 1164 USD (2007) Đà Nẵng đã có cách tiếp cận đất đai riêng, sử dụng giá trị của đất đai là nguồn thu chính cho ngân sách thành phố từ đó tổ chức quy hoạch lại không gian thành phố, phát triển hạ tầng cho toàn thành phố, tổ chức tái định cư trên diện rộng, thực hiện thu hồi đất kết hợp với điều chỉnh đất đai theo quy hoạch và đấu giá đất hoặc giao đất trực tiếp cho các dự án đầu tư Tất cả những công việc từ quy hoạch lại thành phố, mở rộng tới thu hồi đất, điều chỉnh đất đai, tái định cư đều do UBND thành phố tổ chức thực hiện trực tiếp Trong việc tính toán bồi thường về đất, Đà Nẵng cũng là địa phương tính toán giá trị phần đất bị thu hồi, phần đất còn lại ven đường với giá trị tăng thêm do con đường đó mang lại Đây là một biện pháp tạo sự công bằng giữa người bị thu hồi toàn bộ thửa đất, người bị thu hồi một phần đất Cơ chế chuyển đổi đất đai tại Đà Nẵng là cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc trên nguyên tắc đạt được đồng thuận giữa lãnh đạo thành phố và người dân Trong nhiều trường hợp người dân không đồng
Trang 32thuận với quyết định của lãnh đạo thành phố về đất đai, trực tiếp chủ tịch UBND thành phố đã đối thoại trực tiếp với dân để tìm kiếm sự đồng thuận
Hồ Chí Minh tháng 4/2007) Đến nay, tất cả các trường hợp bồi thường về đất trong cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc đều được các tổ chức cung cấp dịch vụ định giá bất động sản thực hiện định giá và đó là cơ sở để Ủy ban nhân dân thành phố quyết định về giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Thành phố Hồ Chí Minh là nơi chấp nhận mô hình doanh nghiệp ngoài Nhà nước tham gia cung cấp dịch vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng Năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố cũng đã cho phép Tổng công ty bồi thường và GPMB - một doanh nghiệp cổ phần được cung cấp dịch vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng như một mô hình thí điểm Sự thật, đây là một mô hình mới, doanh nghiệp ngoài Nhà nước được cung cấp dịch vụ làm cầu nối giữa cơ quan hành chính và người dân trong cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc Từ mô hình thí điểm này, có thể nghĩ đến kiện toàn hệ thống phát triển quỹ đất đã được thành lập ở các địa phương để đủ điều kiện thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Bên cạnh
đó, có thể đưa vào quy định của pháp luật cho phép doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước được cung cấp dịch vụ này Thành phố Hồ Chí Minh đã thí điểm một số dự án tại khu đô thị mới Hiệp Phước để thực hiện
mô hình này Tuy nhiên, các dự án gặp nhiều khó khăn do chưa nhận được sự
Trang 33hưởng ứng của cả phía nhà đầu tư lẫn phía người đang sử dụng đất Dự án tạm thời dừng lại, không tiếp tục triển khai Đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục áp dụng hình thức bồi thường, hỗ trợ, TĐC theo cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc Dù vậy, vẫn liên tục đổi mới chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế và tăng lợi ích của người dân có đất bị thu hồi
1.4.2.4 Tại thành phố Hà Nội
a Kết quả thực hiện chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Trong những năm gần đây với việc phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng, cơ
sở vật chất kỹ thuật phục vụ thu hút đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội Do vậy công tác bồi thường GPMB được đặt ra là một nhiệm vụ quan trọng làm tiền đề cho công tác xây dựng cơ bản Từ đó đến nay Thành phố đã thực hiện công tác bồi thường GPMB với một khối công việc khá lớn, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra
Số dự án phải giải phóng mặt bằng lớn, năm sau nhiều hơn năm trước, liên quan tới nhiều hộ dân; Số hộ tái định cư lớn, nhất là các dự án trong khu vực nội thành, 80% diện tích đất giải phóng mặt bằng trong những năm qua là đất nông nghiệp, tư liệu sản xuất của nông dân thuộc các huyện ngoại thành và các quận nội thành mới được thành lập Đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng bàn giao cho các chủ đầu tư 1.048 trên tổng số 1.830 dự án phải giải phóng mặt bằng; với 5.699 ha đất, liên quan tới 153.725 hộ dân, tổng số tiền bồi thường hỗ trợ là 9.726.509 triệu đồng, bố trí tái định cư cho 10.580 hộ dân Bình quân mỗi năm Thành phố đã giải phóng mặt bằng khoảng 1.000ha đất Các dự án thuộc 9 cụm công trình trọng điểm, các khu đô thị mới, các dự án phục vụ đấu giá quyền sử dụng đất… cơ bản hoàn thành, đáp ứng yêu cầu đầu tư: Nhiều khu đô thị mới được xây dựng: Khu Đô thị Linh Đàm, Khu Đô thị Trung Hòa - Nhân chính, Khu
Đô thị Ciputra, Việt Hưng, Nam Trung
Kết quả của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng của Thành phố trong những năm qua đã góp phần quan trọng tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn các thành phần kinh tế phát triển; triển khai nhiều dự án lớn của Nhà nước và Thành phố trên địa bàn, góp phần quan trọng vào thành tựu
Trang 34phát triển toàn diện của Thành phố trong những năm qua: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân 11,1%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng theo xu thế hiện đại, Thành phố đã đầu tư xây dựng 4 khu công nghiệp tập trung,
16 khu công nghiệp vừa và nhỏ, di chuyển 80 cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi nội thành và các khu dân cư Kim ngạch xuất khẩu tăng 15,4%/năm, kinh tế có vốn đầu tư mới tăng 12,7%/năm Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển (ODA), vốn đầu tư của các Tổ chức phi chính phủ (NGO) được trên 3 tỷ USD Hà Nội trở thành điểm đến hấp dẫn,
an toàn đối với các nhà đầu tư và du khách Quốc tế Hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại, đã hoàn thành nhiều tuyến đường, nút giao thông quan trọng Diện tích cây xanh bình quân đầu người năm 2006 đạt 5,3m2 (năm 2001 mới đạt 3,5m2) Đang xây dựng 40 khu đô thị mới, nhiều khu chung cư cao tầng hiện đại, từ năm 2001 đến 2006, Thành phố đã xây mới 6 triệu m2 nhà ở (bình quân trên 1 triệu m2/năm) Giải quyết lao động, việc làm: bình quân hàng năm cho khoảng 70.000 lao động
Vấn đề quan tâm ở Hà Nội là lãnh đạo thành phố có quan điểm không nhất trí với việc định giá đất phù hợp với giá thị trường, giá đất cần được Nhà nước quản lý chặt chẽ, nguyên nhân của những bất cập về đất đai không phải do địa phương làm chưa tốt mà do quy định của pháp luật về đất đai về “giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp với giá đất trên thị trường “là không phù hợp với thực tế nên địa phương không thể chấp nhận được Cách tiếp cận như vậy làm cho Hà Nội luôn quy định giá đất chỉ bằng khoảng 50-70% giá đất trên thị trường Đồng thời Hà Nội rất khó khăn khi tiếp thu các chính sách tăng mức bồi thường, hỗ trợ người dân có đất bị thu hồi Hà Nội có rất nhiều ý kiến không đồng thuân khi triển khai chính sách bồi thường cho những người bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng bằng một diện tích làm cơ sở kinh doanh hoặc đất ở tại những nơi có thể phát triển kinh doanh dịch vụ nhằm mục tiêu chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân bị thu hồi đất
Mặc dù công tác GPMB còn nhiều vấn đề bất cập phải tháo gỡ nhưng với tinh thần quyết tâm cao, UBND thành phố Hà Nội đã có sự chỉ đạo cụ thể và
Trang 35nghiêm túc Vì vậy công tác GPMB của Thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Hà Nội tập trung vào triển khai cơ chế chuyển đổi đất đai bắt bước với sự tham gia rất triệt để của bộ máy hành chính các cấp Mặt khác
Hà Nội lại thực hiện khá mạnh cơ chế thu hồi đất để thực hiện đấu giá giữa các nhà đầu tư, tạo nguồn thu khá cao từ đất cho ngân sách nhà nước của thành phố Thực hiện tốt công tác bồi thường GPMB đã góp phần tích cực cải thiện diện mạo cũng như đô thị hoá phát triển theo hướng hiện đại của thành phố Hà Nội trong những năm tới Phấn đấu đến năm 2020 Thành phố Hà Nội trở thành thủ
đô hiện đại xứng tầm với các nước phát triển trong khu vực
b Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường hỗ trợ nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Về cơ bản việc ban hành và thực hiện các chính sách về bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thống nhất được
cơ chế bồi thường cho tất cả các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cũng như nguồn vốn khác Chính vì vậy các mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ dự án đã được giải quyết thỏa đáng Nhà nước giữ vai trò chủ
sở hữu đất và thống nhất quản lý đất đai, đồng thời đảm bảo quyền sử dụng đất
ổn định, lâu dài của người bị thu hồi đất và tạo điều kiện cho các chủ dự án có quỹ đất đầu tư cho sản xuất kinh doanh
- Việc bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân hầu hết được trả bằng tiền, trong
số tiền được bồi thường, hỗ trợ đó có người dân có đủ điều kiện để tạo lập nơi ở mới có điều kiện sống tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, song cũng có nhiều người do nhu cầu cuộc sống còn khó khăn, nhiều nhu cầu chi tiêu quan trọng hơn vì vậy họ không đủ tiền để tạo dựng nơi ở mới, phải sống tạm bợ với nhu cầu sống thấp
Trang 36- Một trong những vấn đề cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội và môi trường bền vững là đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị
Từ đó cần phải nghiên cứu, đánh giá những ưu điểm, thuận lợi, khó khăn tồn tại vướng mắc trong việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi đến tình hình phát triển kinh tế
xã hội của địa phương
Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Với những đổi mới tích cực như đã nghiên cứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay
Trang 37Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
- Người dân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án tái định cư cho các hộ bị thu hồi đất theo quy hoạch các khu đất dọc đường tàu phường Đức Giang (Dự án 1) và Xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ tái định cư tại ô quy hoạch C3-6/LX8, phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội (Dự án 2)
- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để
C3-2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của quận Long Biên, thành phố Hà Nội
- Điều kiện tự nhiê
- Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
ở 2 dự án nghiên cứu trên địa bàn quận Long Biên
- Giới thiệu về 2 dự án nghiên cứu
- Công tác bồi thường: việc xác định giá bồi thường về đất và tài sản trên
Trang 38đất: Giá bồi thường về đất; Giá bồi thường về tài sản gắn liền trên đất
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu
* Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp
Thu thập các loại số liệu, tài liệu thứ cấp về: Điều kiện tự nhiên – kinh tế
xã hội Quận Long Biên; Tình hình phát triển kinh tế thành phố Hà Nội; Tình hình quản lý đất đai của Quận Long Biên; Hiện trạng sử dụng đất Quận Long Biên; Phương án bồi thường của Ban Quản lý dự án Các văn bản, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp về thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng.Những số liệu này được thu thập chủ yếu ở: Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận Long Biên; Sở Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội; Ban quản lý dự án; Trung tâm phát triển quỹ đất quận Long Biên Một số thông tin, tư liệu thu thập từ tạp chí, sách, báo và những báo cáo khoa học đã được công bố
* Thu thập số liệu sơ cấp
Thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp được thực hiện bằng các phương pháp điều tra tại thực địa sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn người dân bị thu hồi đất tại
2 dự án (Tổng số phiếu phát ra 150 phiếu: Làm các hộ gia đình cá nhân nằm
Trang 39trong diện tích giải phóng mặt bằng thực hiện của 02 dự án; Việc lựa chọn các hộ gia đình cá nhân được thực hiện ngẫu nhiên dựa trên Phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư của 02 dự án) Quan sát tình hình đời sống và thu thập các ý kiến của người dân về những vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng 2 dự án Tham hỏi người dân tại địa bàn nghiên cứu về cuộc sống của họ trước và sau thu hồi, ý kiến về chính sách bồi thường hỗ trợ và việc thực hiện tái định cư Tiếp nhận các ý kiến đóng góp của người dân về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được, tôi tiến hành tổng hợp, thống kê
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Long Biên
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quận Long Biên là Quận mới thành lập theo Nghị định số
132/2003/NĐ-CP ngày 23/11/2003 của Chính phủ trên cơ sở chia tách địa giới hành chính của Huyện Gia Lâm Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội,
là một trong 9 quận nội thành của Thành phố Hà Nội Ranh giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp với huyện Đông Anh;
- Phía Đông giáp với huyện Gia Lâm;
- Phía Nam giáp quận Hoàng Mai;
- Phía Tây giáp quận Hoàn Kiếm
Hình 3.1: Sơ đồ hành chính quận Long Biên, Hà Nội