Các tác phẩm đó đều đã đề cập một số nét về vị vua cuối cùng của nhà hậu Trần Trần Quý Khoáng, là thủy tổ của dòng họ Trần ở Hng Lộc, giới thiệu đôi nét vềdòng họ, cũng nh những ngời đỗ
Trang 1Tr ờng đại học vinh Khoa lịch sử
Trang 21 Lý do chọn đề tài 3
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài 5
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của khóa luận
7 6 Bố cục khóa luận 7
1.1.2 Về địa lý hành chính 9
1.1.3 Về dân c và hoàn cảnh kinh tế - xã hội 101.1.4 Truyền thống yêu nớc và cách mạng của nhân dân xã Hng Lộc 12
1.2 Sự hình thành và phát triển của dòng họ Trần ở Đức Thịnh, xã Hng Lộc
1.2.1 Sự hình thành dòng họ Trần ở Đức Thịnh - Hng Lộc 17 1.2.2 Họ Trần định c và phát triển ở Đức Thịnh - Hng Lộc 20
2.2 Những đóng góp về văn hóa giáo dục 42
Trang 3C kết luận 66
D Tài liệu tham khảo
68
E phụ lục
69
- Sắc phong
69 - Thơ
72 - Bút tích của Trùng Quang Đế
78 - Trần Cảnh Bình - Tấm gơng oanh liệt trớc quân thù 84
- Đông y : chữa chứng hậu bệnh thận
85 - ảnh
86
A mở đầu
1 lý do chọn đề tài
- Dòng họ là một cộng đồng gắn bó có vai trò rất quan trọng, đồng thời là sự tập trung những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Sức mạnh của
Trang 4dòng họ thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thơng yêu nhau ở trách nhiệm cu mang nhau
về mặt vật chất, hỗ trợ nhau về trí tuệ và dìu dắt nhau làm chỗ dựa cho nhau vềchính trị Dòng họ là cái nôi sinh ra những nhân tài, những anh hùng hào kiệt,những nhà văn hoá với những đóng góp to lớn cho quê hơng, đất nớc Vì vậy,nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa to lớn trong việc giữ gìn, phát huy truyền thống vănhoá dòng họ, làm rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp của các danh nhân; từ đó rút ranhững bài học quý báu về văn hoá, giáo dục để góp phần thúc đẩy sự nghiệp pháttriển đất nớc hôm nay
- Dòng họ còn là nơi hội tụ và bảo lu những giá trị văn hóa riêng biệt và độc đáo.Không chỉ để lại những dấu ấn trong lịch sử mà còn ảnh hởng mạnh mẽ đến cuộcsống hôm nay Trớc hết giá trị văn hóa đó đợc biểu hiện trên cơ sở tình nghĩa sâunặng giữa những con ngời cùng huyết thống, gắn bó với nhau theo một quan điểm
đơn giản "một giọt máu đào hơn ao nớc lã" "anh em vì tổ vì tiên không ai anh em
vì tiền vì gạo" tạo thành một sức mạnh truyền thống và có những hành vi văn hóa
thật đẹp đẽ lành mạnh góp phần làm " thuần phong mỹ tục" " trên thuận dới hoà"
"trong ấm ngoài êm" để có thể vợt qua bao trở ngại, thử thách để làm đợc việc lớn, những việc bất trắc khi "trái gió trở trời" lúc "tắt lửa tối đèn"v.v
- Vì vậy, nghiên cứu về các dòng họ là một vấn đề khoa học có ý nghĩa hết sức tolớn trong việc gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc Qua đó, giúp chúng tahiểu rõ hơn về vai trò, những đóng góp quý báu của dòng họ đối với lịch sử của địaphơng cũng nh đối với dân tộc, góp phần làm phong phú thêm lịch sử dân tộc
- Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc hôm nay, dới sự lãnh
đạo của Đảng, nhân dân ta đang phát huy hơn bao giờ hết sức mạnh dân tộc, nộilực dân tộc, tranh thủ thời cơ, vợt qua thách thức Trong đó, sức mạnh đại đoàn kếtdân tộc luôn đợc xác định là một vấn đề chiến lợc có ý nghĩa quyết định, nhằmthực hiện mục tiêu "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh".Vì vậy, việc nghiên cứu dòng họ không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩathực tiễn sâu sắc
Với lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu "Tìm hiểu về dòng họ Trần ở
Đức Thịnh(xã Hng Lộc, thành phố Vinh) để làm khóa luận tốt nghiệp
2 lịch sử vấn đề
Đề tài nghiên cứu dòng họ là một đề tài mới, hấp dẫn, lý thú, nhng gặp không ítkhó khăn về t liệu, về công tác thực tế, khảo sát điền dã Trong xu thế trở về cộinguồn hiện nay đợc sự quan tâm của Đảng và nhà nớc ở một số địa phơng nhiềudòng họ đã khôi phục lại đền thờ, lăng mộ gia phả nhằm khôi phục truyền thốngcủa dòng họ, truyền thống dân tộc, thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên mà quantrọng hơn là để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Việc nghiên cứu dòng họtrong những năm gần đây đã đạt đợc nhiều kết quả to lớn:
Trang 5- Năm 1997, hội thảo khoa học về "văn hóa các dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp
thực hiện chiến lợc con ngời Việt Nam đầu thế kỷ XXI"đã đợc tổ chức, với nhiều bài
viết đề cập về đề tài dòng họ trên tất cả các lĩnh vực nh đóng góp của dòng họ, vềmặt văn hóa, hay tìm về nguồn gốc của dòng họ v.v
- Ngoài ra, ở các địa phơng cũng nh trên cả nớc đã có những công trình nghiên cứu
về các dòng họ nổi tiếng nh Họ Hồ ở Quỳnh Lu, Họ Ngô, Họ Nguyễn Cảnh Một
số đề tài luận văn thạc sỹ sử học ở trờng Đại học Vinh cũng đã đề cập đến lịch sửvăn hoá dòng họ nh đề tài của Nguyễn Thị Xuân Hoa về truyền thống lịch sử vănhoá dòng họ Nguyễn Cảnh ở Đô Lơng
- Dòng họ Trần cũng là một dòng họ lớn, có lịch sử lâu đời, gắn liền với một thời
đại hào hùng với khí phách Đông A của dân tộc ở thế kỷ XIII Với những chiếncông vang dội trong công cuộc chống quân xâm lợc Mông- Nguyên, những đónggóp to lớn về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục đối với dân tộc, Nhà Trần đã tạolập nên vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu, các hội thảo khoa học đều đã khẳng định lịch sử lâudài, vai trò và những đóng góp to lớn cuả Nhà Trần, cũng nh của các vị vua, các vịtớng nổi bật dới thời Trần nh vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần ThánhTông, các vị tớng nh Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, TrầnNhật Duật
Với một lịch sử lâu đời, cho đến nay họ Trần đã phát triển rộng khắp cả nớc.Việc nghiên cứu về dòng họ này vẫn đợc tiếp tục ở những mức độ, phạm vi khácnhau
- Nghiên cứu về dòng họ Trần ở Đức Thịnh, Hng Lộc vốn là hậu duệ của Trần QuýKhoáng, đã đợc đề cập đến trong một số tác phẩm sau:
- Địa chí huyện Đức Thọ
- Lịch sử Nghệ Tĩnh tập 1 của Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh - NXB
Nghệ Tĩnh - Vinh 1984
- Mời bốn vị hoàng đế thời Trần sở văn hóa thông tin Nam Hà xuất bản.
- Khoa bảng Nghệ An (1075-1919) của Đào Tam Tỉnh biên soạn
- Lịch sử xã Hng Lộc - nhà xuất bản Nghệ An 1997.
Các tác phẩm đó đều đã đề cập một số nét về vị vua cuối cùng của nhà hậu Trần Trần Quý Khoáng, là thủy tổ của dòng họ Trần ở Hng Lộc, giới thiệu đôi nét vềdòng họ, cũng nh những ngời đỗ đạt khoa bảng của dòng họ Trần Tuy nhiên, cáctác phẩm đó đều mang tính chất khái quát giới thiệu chứ cha đi sâu nghiên cứumột cách toàn diện về quá trình hình thành, phát triển cũng nh những đóng góp củadòng họ Trần ở xã Hng Lộc
- Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt đợc, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu thêm
về dòng họ Trần ở Đức Thịnh, xã Hng Lộc để góp phần làm rõ hơn về một dòng họ
Trang 6vốn có một lịch sử lâu đời, có mối liên quan mật thiết với dòng họ lớn của dân tộc
- Tìm hiểu tơng đối toàn diện và có hệ thống về quá trình hình thành phát triểncủa dòng họ Trần ở Đức Thịnh - xã Hng Lộc - Vinh (Nghệ An), những đóng góp vàtruyền thống của dòng họ, làm rõ hơn những công lao của dòng họ này đối với quêhơng và đất nớc
- Tìm hiểu văn hóa truyền thống, những di sản văn hóa của dòng họ Trần ở
H-ng Lộc, ảnh hởH-ng và đóH-ng góp về văn hóa của dòH-ng họ đối với dòH-ng họ Trần nóiriêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1.Nguồn tài liệu.
Tiếp cận đề tài này, tôi gặp rất nhiều khó khăn về nguồn tài liệu, bởi vì đây làmột dòng họ cha đợc một nhà nghiên cứu lịch sử nghiên cứu đến, chỉ có một số íttài liệu viết về Trần Quý Khoáng vị vua cuối cùng của Hậu Trần và cũng là vị thủy
- Nguồn tài liệu dân gian:
Để bổ sung cho tính hạn chế của nguồn tài liệu trên, tôi đặc biệt chú ý đếnnguồn tài liệu dân gian truyền thống, những câu chuyện của các cụ cao tuổi trong
họ ở địa phơng kể lại
4.2.Phơng pháp nghiên cứu.
Để có đợc nguồn t liệu trên tôi đã tiến hành su tầm tích lũy, sao chép t liệu địa
Trang 7phơng, sao chép câu đối, gia phả, chụp ảnh sắc phong Sử dụng các phơng phápphỏng vấn điều tra xã hội học, nghiên cứu tại thực địa đền thờ.
Thực hiện đề tài này tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháplogic để trình bày quá trình hình thành phát triển của dòng họ theo thời gian Sosánh đối chiếu gia phả với chính sử để từ đó đánh giá, phát triển tổng hợp rút ranhững kết luận cụ thể
5 đóng góp của khóa luận
- Chọn để tài : "Tìm hiểu về dòng họ Trần ở Đức Thịnh xã Hng Lộc
Thành phố Vinh- Nghệ An" làm đề tài khóa luận một phần do mong muốn tìmhiểu về dòng họ của vị vua cuối cùng nhà hậu Trần ở địa phơng Mặt khác giớithiệu cho độc giả biết quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Trần ở HngLộc Làm rõ thêm về dòng họ cũng nh nét văn hóa truyền thống quý báu của dòng
họ góp phần giáo dục đạo đức t tởng, nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
- Qua tìm hiểu dòng họ Trần nhằm làm phong phú thêm lịch sử của địa phơng
và trở thành nguồn tài liệu quý để nghiên cứu lịch sử, xã hội, dân tộc, văn hóa dântộc
- Ngày nay khi sự nghiệp đổi mới đất nớc đạt đợc những thành tựu to lớn thìviệc hớng về cội nguồn trở thành nhu cầu ngày càng lớn của nhiều địa phơng, khôiphục lại đền thờ, lăng mộ gia phả, khơi dậy truyền thống dòng họ dân tộc
Khóa luận còn góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dòng họ, khôi
phục nghề truyền thống, góp phần vào sự nghiệp "công nghiệp hóa, hiện đại hóa"
đất nớc, thực hiên mục tiêu "dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng dân chủ văn
minh"
6 bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chínhcủa khóa luận chia thành 3 chơng :
Chơng 1 : Sự hình thành và phát triển của dòng họ Trần ở Đức Thịnh,
Hng Lộc
Chơng 2: Những đóng góp của dòng họ Trần ở Đức Thịnh, Hng Lộc
Chơng 3: Đền thờ và lăng mộ họ Trần ở Đức Thịnh
Kế thừa thành quả của những ngời đi trớc, kết hợp nghiên cứu thực địa, chúng
tôi mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình tìm hiểu, đánh giá vai tròcủa dòng họ Trần ở xã Hng Lộc Tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu,
về nguồn tài liệu, về cập nhập thông tin, vì vậy khóa luận này chắc chắn còn nhiềuthiết sót, hạn chế Rất mong đợc sự góp ý chỉ bảo chân thành của thầy cô, bạn bè.Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 81.1.2 Về địa lý hành chính
Hng Lộc là một vùng đất đã trải qua nhiều biến động đổi thay của các thời
kỳ lịch sử Các tài liệu lịch sử cũ không ghi chép rõ lai lịch vùng đất này Cuối thời
Lê đến giữa thời Nguyễn, Đức Thịnh thuộc xã Ngô Xá, Lộc Đa thuộc xã Ngô ờng tổng Yên Trờng, huyện Chân Lộc (nay là huyện Nghi Lộc)
Trang 9Thời vua Thành Thái (1889) nhà Nguyễn có sự điều chỉnh địa lý hành chính, một
bộ phận tổng Yên Trờng cắt sang phủ Hng Nguyên, Đức Thịnh và Lộc Đa tách rakhỏi 2 xã Ngô Xã, Ngô Trờng thành những đơn vị hành chính riêng gọi là xã ĐứcThịnh và xã Lộc Đa Xã Đức Thịnh trớc kia có tên là Biên Thịnh hoặc Bồ Sơn, tênnôm là làng Bồ, từ đó đề ra các tên Bồ, chợ Bồ, Cầu Bồ Xã Đức Thịnh gồm làngHạ, Làng Thợng, Làng Thạch, Làng Tháp, Làng Chay Làng Chay hình thành c dânchậm hơn bởi ngời góp các nơi về nên có đầu ngời mà không có đầu ruộng (hữu
đinh vô điền) Xã Lộc Đa gồm các thôn Lộc Đa, Mậu Lâm, Mậu Đơn, Ngũ Lộc,Triều Đông Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, bỏ cấp tổng, Lộc Đa và ĐứcThịnh thuộc phủ Hng Nguyên Năm 1945- 1946, hai xã Lộc Đa và Đức Thịnh hợpnhất thành xã Đức Lộc, thuộc phủ Hng Nguyên Đến năm 1948 - 1949 lại hợp nhấtcác xã Đức Lộc, Yên Dũng, Yên Lu thành xã Hng Phong, thuộc Hng Nguyên
Bớc vào những năm tháng cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,hậu phơng Thanh- Nghệ - Tĩnh đợc xây dựng vững mạnh, đóng góp ngày càngnhiều sức ngời, sức của cho tiền tuyến Tháng 7/1953, thực hiện chủ trơng của
Đảng và Chính phủ " chia xã lớn thành xã nhỏ", xã Hng Phong đợc chia thành baxã: Hng Hoà, Hng Dũng và Hng Lộc thuộc huyện Hng Nguyên Tên mới xã HngLộc có từ thời đó Lúc này, xã Hng Lộc bao gồm 2715 ngời và có 15 xóm: ĐứcVinh, Đức Thọ, Đức Thịnh, Mỹ Trung, Mỹ Thợng, Mỹ Hạ, Ngũ Phúc, Ngũ Lộc,Mậu Lâm, Hoà Tiến, Mậu Đơn, cùng ba xóm của Phong Phú thuộc xã Hng Hoàngày nay là Phú Minh, Phú Văn, Phú Lộc Xóm Xuân Thọ thuộc xã Hng Dũngcũng đợc cắt về xã Hng lộc và lấy tên là xóm Xuân Hùng
Trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, xã Hng Lộc ngày càng pháttriển, dân c tăng, đời sống của nhân dân đợc cải thiện Ngày 26/12/1970, nhân dânxã Hng Lộc vui mừng chào đón sự kiện mới: Phủ thủ tớng ra quyết định số 80 BT"Phê chuẩn việc sát nhập các xã Hng Hoà, Hng Lộc, Hng Đông, Hng Vĩnh, mộtphần đất đai ở bờ Bắc sông Cầu Đớc thuộc xã Hng Chính huyện Hng Nguyên và xãNghi Phú thuộc huyện Nghi Lộc vào thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An" Từ đây, xãHng Lộc đặt dới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành uỷ Vinh và sự chỉ đạo của Uỷ bannhân dân thành phố Vinh Sự kiện này đã mở ra một thời kỳ phát triển mới choThành phố Vinh nói chung và xã Hng Lộc nói riêng
1.1.3 Về dân c và hoàn cảnh kinh tế - xã hội
Cho đến nay cha tìm thấy một t liệu lịch sử nào nói về cội nguồn xa xa củangời dân bản địa ở vùng đất Hng Lộc Dựa vào các tộc phả của dòng họ ở đây, đãchỉ ra rằng đây là một vùng đất thu hút nhiều dòng họ từ nhiều nơi khác quy tụ lại.Các họ về đây sớm nhất là họ Nguyễn, họ Trần từ thế kỷ XV, cho đến nay đã pháttriển qua gần 20 đời Các họ đến sau nh họ Hoàng, họ Uông, họ Phạm đã qua 3 -
4 thế kỷ, từ một chi đã chia thành nhiều chi trong xã và ở nhiều vùng khác Cho
Trang 10đến nay lớp hậu duệ của một số dòng họ không còn tộc phả từ xa để lại nên cóphần còn mơ hồ về gốc tích của dòng họ mình Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945,
do điều kiện chiến tranh nên nhiều th tịch bằng chữ Hán nh gia phả, sách thuốc, không ngời bảo quản, thậm chí bị tiêu huỷ
ở Hng Lộc, một số họ còn giữ đợc các bản sơ lợc về nguồn gốc của mình
Họ Trần, vốn là lớp hậu duệ của vị võ tớng họ Trần (gốc Nam Hà ) đã từngcầm quân chống giặc Minh trên đất Nghệ Lớp con cháu sau này nhiều ngời đỗkhoa bảng làm quan thời Lê và Thời Nguyễn, một số khác làm nghề thuốc và dạyhọc
Họ Dơng gốc ở huyện Văn Lâm tỉnh Hải Hng, ngời mở đầu dòng họ ở đây là
Đốc đồng châu Nghệ An Dơng Tổng Quang, lớp sau đó có nhiều ngời thành đạttrên con đờng cử nghiệp
Họ Uông gốc ở Sơn Đông (Trung Quốc) sang Việt Nam từ lâu, thời Hậu Lê
có ngời là võ tớng quan lại cao cấp Cuối thời Lê, một nhánh họ từ Đức Quang(Đức Thọ), Phù Thạch (Hng Nguyên) chuyển về Đức Thịnh
Họ Hoàng vốn gốc là họ Mạc làng Lan Khê, huyện Chí Linh, tỉnh Hải H ng(theo lời kể của lớp cháu con hiện nay), ngời thay đổi dòng họ Mạc sang họ Hoàng
là Mạc Đăng Lơng thành Hoàng Đăng Quang cùng một số con cháu vào Lộc Đalập nghiệp
Họ Đặng thuộc dòng một võ tớng thời Hậu Lê là Đặng Sỹ Mai lớp con cháu sau
đó có nhiều ngời đỗ đạt làm quan thời Nguyễn
Ngoài ra còn một số họ khác nh họ Võ, họ Phạm, họ Lê, họ Phan, cũng từcác nơi khác về đây quy tụ, các lớp con cháu sau này sống ổn định và phát triểncho đến nay Một số dòng họ nh họ Hoàng đã tìm đợc cội nguồn của mình.[1; 12]
Nh vậy với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhiều dòng họ đã về quy tụ trênmảnh đất Hng Lộc, cùng chung sống và xây đắp nên những truyền thống tốt đẹpcủa dòng họ và cho cả miền đất này Các bậc tiền nhân của nhiều dòng họ ở đây lànhững ngời tài giỏi công đức dới các thời giữ nớc đợc các vua Lê, vua Nguyễn ban
đạo sắc thần hoàng vùng Ngô Trờng, Ngô Xã Các bậc hậu duệ của các bậc hiềntài thuở ấy đã và đang gìn giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp của tiền nhân vàocông cuộc dựng nớc và giữ nớc
Rõ ràng Hng Lộc là "Một vùng đất tràn ngập hạnh phúc phồn vinh thịnh
v-ợng" [3] Chính vì điều đó mà đã thu hút đợc nhiều dòng họ đến c trú ở đây, để rồi
cùng với sự trôi chảy của thời gian thì các dòng họ ngày càng phát triển, con cháucủa nhiều dòng họ luôn tiếp bớc truyền thống bất khuất của cha ông, giữ gìn đấutranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng quê hơng Hng Lộc ngày càng tơi đẹp
1.1.4 Truyền thống yêu nớc và cách mạng của nhân dân Hng Lộc.
Từ khi hình thành nên một vùng dân c có tên làng Lộc Đa, Đức Thịnh, Đức
Trang 11Mỹ cho đến xã Hng Lộc ngày nay, con ngời ở đây đã nối tiếp nhau đi qua mộtchặng đờng dài của lịch sử Từ một vùng đất thuộc huyện Chân Lộc, sau đó cắt vềphủ Hng Nguyên và từ năm 1971 đến nay là một xã ngoại thành của thành phốVinh, nhân dân Hng Lộc đã viết nên những trang sử vàng, góp phần quý báu vàolịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc
Trên mảnh đất này, mặc dù đất cát bạc màu, chua phèn, nớc đọng, cày bừalam lũ mà bát cơm không đầy, manh áo không đủ, nhng ngời dân nơi đây vẫn kiêncờng bám trụ, tìm cách vơn lên tồn tại và phát triển Khi đất nớc có giặc ngoại xâm,ngời Hng Lộc đã đứng lên, đoàn kết một lòng đánh giặc Đã bao lần nhiều danh t-ớng, những ngời yêu nớc vẫn dừng chân tại đây trong cuộc hành quân để dấy binhkhởi nghĩa chống giặc ngoại xâm.Trên vùng đất này đến nay vẫn lu truyền nhữngcâu chuyện về lòng nghĩa khí của nhân dân, những địa danh nơi đây còn in đậmnhững dấu tích về những con ngời, những trận đánh trong các cuộc chiến tranh giữnớc nh Đền Trung, Đền Mậu Đơn, Chùa Đen,Vó Ngựa, Cồn Voi, Dăm Tập
ở Lộc Đa - Đức Thịnh (Hng Lộc ngày nay) phong trào đấu tranh yêu nớc của nhândân diễn ra mạnh mẽ sôi nổi, hoà với phong trào đấu tranh của nhân dân trong tỉnh
và cả nớc Nó đã thôi thúc những ngời có tâm huyết vì lợi ích của nhân dân và đất
nớc vơn lên "Đối với các phần tử tiên tiến của phong trào quần chúng thì đây là
một trong những lò tôi luyện bản lĩnh đấu tranh Lộc Đa-Đức Thịnh đã thể hiện vị trí thao trờng chung và cho những gơng mặt cốt cán".
[23- 1]
Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa ở
Đông Dơng Các nhà máy, xí nghiệp mọc lên Xã hội Việt Nam phân hoá sâu sắc,nhiều giai tầng mới ra đời.Bên cạnh những ngời nông dân và dân nghèo thành thị ,
ở Lộc Đa - Đức Thịnh còn có lực lợng công nhân với khoảng hàng trăm ngời.Riêng xóm Mỹ Thợng (nay là đội 6) đã có 19 ngời là công nhân nhà máy TrờngThi và nhà máy Ca, một số khác làm nghề lao động tự do khuân vác, kéo xe nơinhà ga, bến cảng ở thị xã Vinh Trong gia đình cha là nông dân con là công nhân,chồng là công nhân vợ là nông dân tự nhiên tạo nên mỗi liên kết chặt chẽ thiêngliêng giữa ngời đi cày với ngời làm thợ Dới ách thống trị của thực dân, phong kiến,
đời sống của thợ thuyền, nông dân cũng nh các tầng lớp xã hội khác ngày càng trởnên bần cùng hoá Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn thực dân, đế quốc và phongkiến tay sai ngày càng phát triển gay gắt Phong trào dân tộc dân chủ phát triểnmạnh mẽ trong cả nớc những năm hai mơi của thế kỷ XX Khuynh hớng vô sản đợctruyền bá về nớc và tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, đa phong trào yêu nớc vàphong trào công nhân phát triển theo khuynh hớng vô sản Nửa đầu năm 1929, lịch
sử dân tộc chứng kiến sự thắng lợi của con đờng cứu nớc vô sản với sự xuất hiệncủa ba tổ chức cộng sản: Đông Dơng Cộng sản Đảng (6/1929), An nam Cộng sản
Trang 12Đảng(7/1929) và Đông Dơng Cộng sản Liên Đoàn(9/1929) Lúc này, ở Vinh- BếnThuỷ, Hng Nguyên, những ngời cộng sản hoạt động tích cực Tháng 7/1929, với vaitrò tích cực của đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Hoàng Trọng Trì Chi bộ Đông D-
ơng Cộng sản Đảng vùng nông thôn phía Đông Bắc Vinh- Bến Thuỷ đợc thành lập
Đó chính là Chi bộ Cộng sản vùngLộc Đa, Đức Thịnh, Yên Dũng - Một trong nămChi bộ Cộng sản đầu tiên và duy nhất của Hng Nguyên do Đông Dơng Cộng Sản
Đảng thành lập Giữa lúc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, gơng cao ngọn cờ
"Độc lập dân tộc và ngời cày có ruộng", đa công nông bớc vào cuộc tập dợt đầutiên: Phong trào cách mạng 1930 - 1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh Lúc này HoàngTrọng Trì đợc cử vào Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ Vinh- Bến Thuỷ, chi bộ ghép đ-
ợc chia thành hai chi bộ riêng: Chi bộ Lộc Đa, Đức Thịnh và Chi bộ Yên Dũng ợng.Phân cục Trung ơng quyết định thành lập Tỉnh uỷ Vinh có nhiệm vụ lãnh đạocác hoạt động cách mạng ở Vinh - Bến Thuỷ và hai huyện Hng Nguyên, Nghi Lộc.Trong 6 uỷ viên Tỉnh uỷ lâm thời có hai ngời là ngời Lộc Đa.Cơ quan Tỉnh uỷ Vinh
Th-và cơ quan Xứ uỷ Trung Kỳ đặt tại nhà thờ họ Hoàng Th-và nhà riêng của đồng chíHoàng Trọng Trì ở Lộc Đa Ngày 21/4/1930, Xứ uỷ Trung Kỳ và Tỉnh uỷ Vinh -Bến Thuỷ họp tại nhà đồng chí Hoàng Trọng Trì, quyết định phát động quần chúngnhân dân đấu tranh nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế lao động 1/5
Ngày 1 tháng 5 năm 1930, ở thành phố Vinh - Bến Thuỷ đã nổ ra cuộc biểutình nhằm phát động một cao trào đấu tranh dân tộc và dân chủ mạnh mẽ, biểu d-
ơng sức mạnh liên kết công nông, đòi quyền thiết thực cho công nhân, nôngdân.Công nhân Bến Thuỷ đã kề vai sát cánh cùng nông dân các vùng phụ cận thànhphố Vinh biểu tình đòi cải thiện đời sống, chống su cao, thuế nặng Họ gơng caocác khẩu hiệu"Giảm thuế chợ, bỏ thuế thân Tịch thu công điền, công thổ trong tay
địa chủ cờng hào chia cho dân nghèo Tăng lơng, giảm giờ làm cho côngnhân ".Thực dân Pháp xả súng bắn vào đoàn biểu tình làm 17 ngời chết và 18 ngời
bị thơng, sau đó vây ráp, bắt bớ hàng trăm ngời Nhng chúng không thể nào đè bẹp
đợc tinh thần cách mạng của nhân dân ta Sự "đứng đầu dậy trớc" của công nhânBến Thuỷ và nông dân Vinh, Hng Nguyên trong ngày 1/5/1930 đã mở đầu chophong trào cách mạng trong cả nớc Đảng ta đã đánh giấ rất cao sự kiện lịch sử
này:"Vẻ vang thay Thực là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng xứ ta, công, nông,
bắt tay nhau giữa trận tiền".[1; 32] Kể từ đây, công nông Nghệ - Tĩnh liên tục đấu
tranh ngày càng quyết liệt và đã đa phong trào lên đến đỉnh cao Nền thống trị củathực dân phong kiến ở các địa phơng sụp đổ, chính quyền Xô Viết ra đời, làmnhiệm vụ của một nhà nớc kiểu mới - Nhà nớc của dân, do dân, vì dân Chínhquyền Xô Viết ở Lộc Đa đợc thành lập do đồng chí Hoàng Ngãi phụ trách Tiếp dó,các đoàn thể cách mạng quần chúng đợc hình thành Lộc Đa có 17 tổ Nông hội với
227 hội viên, Hội Phụ nữ có 40 hội viên, đoàn Thanh niên Cộng sản có 120 đoàn
Trang 13viên, Đội Tự vệ đỏ có 15 thành viên [1; 40]
Để kỷ niệm Công xã Quảng Châu và tởng niệm các chiến sỹ hy sinh trongphong trào cách mạng 1930, ngày 26/12/1930, các cấp ủy Đảng trong huyện đã vận
động nhân dân tham dự lễ truy điệu các chiến sỹ đã hy sinh do Xứ ủy Trung kỳphối hợp với Tỉnh ủy Vinh tổ chức tại dăm Mụ Nuôi ở làng Lộc Đa (Hng Lộc).Hàng ngàn nhân dân Nghi Lộc cùng với công nhân các nhà máy, nhân dân thànhphố Vinh - Bến Thủy và phủ Hng Nguyên tập trung về đây dự lễ Lễ truy điệu này
đã đợc đồng chí Nguyễn ái Quốc phản ánh trong bài :"Nghệ Tĩnh Đỏ" gửi Bộ
ph-ơng Đông của Quốc tế cộng sản ngày 19/2/1931 Ngời viết :" ở làng Lộc Đa
cách Vinh 2 kilômét, 4.000 công nhân thành phố Vinh và nông dân Hng Nguyên, Nghi Lộc đã đến dự lễ truy điệu những chiễn sỹ bị hy sinh Một lá cờ búa liềm đợc chăng ra trên một chiếc bàn thờ đầy hơng hoa Ngời chủ trì lên đọc điếu văn, sau
đố đại biểu Công hội, Nông hội và đại biểu các làng lên nói chuyện Một đại biểu
đề nghị ngày hôm sau tất cả các chợ ở Hng Nguyên, Nghi Lộc đều bãi thị Đề nghị
đó đợc mọi ngời nhiệt liệt hởng ứng Ngày hôm sau đúng nh lời cam kết, tất cả các chợ đều vắng tanh Trong lúc buổi lễ đang tiến hành anh em công nhân cắt điện làm cho cả thành phố Vinh - Bến Thủy chìm ngập 10 phút trong đêm tối" [67 - 2]
Cuối cùng Ngời kết luận "Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh, tuyên truyền của
chính phủ báo chí đều bất lực không dập tắt nổi phong trào Cách mạng ở Nghệ Tĩnh" [7; 310-311]
Lộc Đa - Đức Thịnh đã từng trở thành một điểm nóng trong phong trào cáchmạng 1930 - 1931 và Xô Viết Nghệ - Tĩnh Nhiều cơ sở cách mạng đợc xây dựng,
đó là đền Trìa, nhà thờ họ Hoàng (Lộc Đa) nhà thờ họ Uông (Đức Thịnh) Pháthiện ra điều đó, bọn cầm quyền Pháp đã cấp tốc dùng sức mạnh quân sự đối phó,chúng đem lính khố đỏ, lính khố xanh đóng quân ở đó, đồng thời chúng vây hãmrình rập bắt ngời bằng mọi thủ đoạn Nhng nhân dân Lộc Đa - Đức Thịnh khôngkhuất phục mà tinh thần cách mạng ngày càng dâng cao Bởi "Bom đạn, súng máy,
đốt nhà, dồn binh, tuyên truyền của Chính phủ, báo chí đều bất lực không dập tắt
đ-ợc nổi phong trào cách mạng ở Nghệ - Tĩnh"
Sau phong trào cách mạng 1930 - 1931, mặc dù lâm vào thoái trào, nhng các
đảng viên Cộng sản ở Lộc Đa vẫn tìm mọi cách móc nối liên lạc, xây dựng lại tổchức Đảng và thành lập các tổ chức quần chúng, tiếp tục phát động quần chúng đấutranh qua các phong trào dân chủ 1936- 1939 Mùa thu tháng 8 năm 1945, dới sựlãnh đạo của Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh, cùng với một số địa phơng, với tinh
thần chủ động cách mạng, nhân dân Lộc Đa đã đứng lên giành chính quyền: "Nhân
dân đợc lệnh khởi nghĩa do Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh phát ra ngày 17/8/1945 Việt Minh cùng các làng Yên Dũng thợng( Hng Dũng), Yên Dũng hạ(Bến Thuỷ), Lộc
Đa, Đức Thịnh (Hng Lộc) lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền".
Trang 14Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân Lộc Đa, Đức Thịnh và sau này
là xã Hng Lộc lại tiếp tục cuộc trờng chinh cùng dân tộc Trải qua 30 năm chiếntranh cách mạng, đánh bại các thế lực thực dân đế quốc to lớn và hung bạo của thời
đại là Pháp và Mỹ Nhân dân Hng Lộc đã vợt qua bao gian nan, thử thách, đầu rơimáu chảy, bom xới đạn đào, làng mạc xơ xác Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của
Chủ Tịch Hồ Chí Minh "không có gì quý hơn độc lập - tự do" nhân dân Hng Lộc đã
góp phần xứng đáng trong chiến thắng vĩ đại của dân tộc mùa xuân 1975 Trongniềm vui chiến thắng, nhân dân Hng Lộc mãi mãi ghi nhớ công ơn các liệt sĩ đã hisinh vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc, làm rạng rỡ quê hơng, mà tiêu biểu làHoàng Trọng Trì, Trần Cảnh Bình
Bớc vào thời kỳ mới, thời kỳ cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội, là một vùng quênghèo, nhiều khó khăn, thử thách, nhng nhân dân Hng Lộc đã không ngừng đi lên.Ngày nay, trình độ dân trí, nghề nghiệp tầm vóc và sức sống của nhân dân Hng Lộc
đã có sự thay đổi Với 11.000 nhân khẩu, trong đó 4.000 làm nông nghiệp, 7.000ngời làm các ngành nghề khác Có một đội ngũ cán bộ quản lý và khoa học khá
đông, làm việc các ngành của tỉnh và thành phố Có một lực lợng về hu đông đảo,
có nhiều kinh nghiệm, có một Đảng bộ trong sạch, vững mạnh với trên 500 Đảngviên và một đội ngũ đoàn viên thanh niên ngày càng lớn mạnh Đó là cơ sở thuậnlợi để Hng Lộc có thể bớc nhanh trên con đờng xây dựng một xã ngoại thành hiệnnay và trong tơng lai thành một phờng giàu mạnh, công bằng, văn minh, từng bớccông nghiệp hóa hiện đại hóa
Có đợc những thành công đó cần phải có sự "ra sức" của hàng nghìn ngời dân mà xa kia thờng nói là của "trăm họ" trên mảnh đất này Đó là những đóng góp
quý báu của những dòng họ, những ngời con đợc sinh ra, lớn lên và trởng thành từmột vùng quê - Xã Hng Lộc, thành phố Vinh, Nghệ An
1.2 Sự hình thành và phát triển của dòng họ Trần ở
Đức Thịnh- Hng Lộc
1.2.1 Sự hình thành dòng họ Trần ở Đức Thịnh-Hng Lộc
Nghệ An là vùng đất "địa linh nhân kiệt", trên mảnh đất này đã sinh ra
nhiều nhân tài cho đất nớc, họ là các con cháu của các dòng họ c ngụ trên đất NghệAn
ở Nghệ An, thành phố Vinh đợc coi là trung tâm văn hoá xã hội của cả tỉnh.Ngày xa cũng có nhiều ông vua tiến hành xây căn cứ ở đây Tuy nhiên không có
ông vua nào định c lâu dài và không có một triều đình của một dòng họ nào đợc
xây dựng ở đây, hay cũng không phải là vùng đất mà các ông vua lựa chọn để làm chỗ "yên nghỉ" sau khi đã bớc vào "cuộc sống vĩnh hằng của thế giới bên kia."
Trang 15Vậy mà ở ngoại ô thành phố Vinh, xã Hng Lộc cách Thành cổ Vinh 2 kilômét, ởlàng Đức Thịnh, một trong những làng còn mang đậm nét hoang sơ nh thủa mớikhai sinh cây cối um tùm, nhiều cây cổ thụ vẫn hiên ngang sừng sững mặc dù phảichịu sự tàn phá của bom đạn, có khu đền thờ và lăng mộ yên nghỉ của vị vua nhàTrần thuộc thời kì hậu Trần - Trần Quý Khoáng
Vây câu hỏi đặt ra là tại sao khu lăng mộ Trần Quý Khoáng lại yên nghỉ ởvùng đất này?
Câu hỏi dờng nh khó có thể trả lời đợc khi chúng ta không tìm hiểu, không
trở về quá khứ để "tìm nhặt" lấy những gì còn "sót" lại, những gì cha đợc biết đến
về một vị vua cuối cùng của nhà Trần, mà lịch sử gọi đó là hậu Trần Nói nh Phan
Bội Châu :"Chỉ tiếc rằng Quốc sử chúng ta về việc vua Trùng Quang Đế chép quá
sơ lợc Những ngời đồng tâm thì chỉ nói đến Nguyễn Cảnh Chân tức ông Chân, Nguyễn Xý tức ông Xý và cha con Đặng Tất, Đặng Dung mà thôi, còn ngời khác thì mai một không hề nói đến" [169 - 4].
ở Đức Thịnh - Hng Lộc cũng có một dòng họ Trần và dòng họ đó liệu cóphải là lớp con cháu, là hậu duệ của Trần Quý Khoáng hay không? Theo các nguồn
t liệu, có thể lý giải vấn đề này nh sau:
Trần Quý Khoáng là con thứ của Mẫn Vơng Ngọc, cháu nội vua Trần Nghệ Tông,cháu gọi Giản Định đế (Trần Ngỗi) là chú Trần Quý Khoáng sinh năm 1356, vốn
là ngời thông minh và có chí lớn
Dới triều đại nhà Hồ, Trần Quý Khoáng đợc phong là Nhập nội thị trung Năm
1407, quân Minh xâm lợc nớc ta Cuộc kháng chiến của nhà Hồ bị thất bại, nớc tanằm dới ách thống trị của nhà Minh Sống trong cảnh nớc nhà bị đô hộ, nhiều lúcbầm gan tím ruột nhng ông cố nuốt hận ra sức nghiên cứu binh th, luyện võ nghệmong có thời cơ đáp đền nợ nớc gây dựng cơ đồ
Năm Đinh Hợi (1407), Giản Định Vơng Trần Ngỗi (là con của Trần NghệTông, chú của Trần Quý Khoáng) lên ngôi hoàng đế ở Mộ Độ Châu Trờng Yên(nay thuộc xã Yên Mô - huyện Yên Mô - tỉnh Ninh Bình), cùng với nhân dân tiếnhành cuộc kháng chiến chống quân Minh và dành đợc nhiều thắng lợi Sự bền vữngcủa Trần Ngỗi có đợc chính là nhờ sự phò tá của cha con Đặng Tất, Đặng Dung vàcha con Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị Họ đều là những bậc danh tiếng tàikiêm văn võ, cho nên thanh thế của Giản Định Đế lên rất nhanh Nhng do bất đồng
ý kiến với Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, để giải quyết bất đồng đó Trần Ngỗi đã
giết chết hai vị tể tớng "Việc làm ngu muội ấy thật không khác gì Trần Ngỗi tự chặt
đứt hai cánh tay của chính mình" [60 - 6] Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị vì căm
giận Trần Ngỗi giết hại cha mình bèn bỏ Trần Ngỗi chạy về Thanh Hóa rớc một tônthất khác của họ Trần là Trần Quý Khoáng vào Nghệ An lập minh chủ để tiếp tụccuộc kháng chiến
Trang 16Năm 1387, Trần Quý Khoáng vào đất Nghệ An cùng với vợ ( họ Vơng) và 2con trai, con trai cả là Trần Vinh về sau cùng cha cầm quân đánh giặc hi sinh lúc
24 tuổi Ngời con thứ là Trần Thả, rất anh tài cũng bị giặc Minh giết chết ở Nghệ
An, Trần Quý Khoáng sinh thêm một ngời con trai nữa đặt tên là Trần Hoa
Về sau con cháu của Trần Hoa đã phát triển đông đúc, nhiều ngời đã có cống hiến
đáng kể cho dân cho nớc Đó chính là hậu duệ của vua Trần Quý Khoáng trên đấtNghệ An
Dới sự lãnh đạo của Trần Quý Khoáng và các vị tớng cận thần tài giỏi nhNguyễn Biểu, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, nghĩa quân của Trần Quý Khoáng
đánh tan quân Minh ở Hải Hng Nhng do thiếu thốn về lơng thực, quân lực cha đủmạnh để đánh tan quân Minh hung hăng, thiện chiến nên quân của Trần QuýKhoáng nhanh chóng bị thất bại Bắt đợc Trần Quý Khoáng, quân Minh giải ông vềTrung Quốc Ngày 9 tháng 5 năm 1414, chiếc thuyền chở Trần Quý Khoáng từLam Thành theo dòng sông Lam về Cửa Hội để ra Bắc Khi đến vùng hạ lu thuộc
địa phận huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Hng Lộc - TP Vinh), lợi dụng ban đêmgiữa cảnh sông nớc, bọn lính canh sơ ý, vua Trần Quý Khoáng đã nhảy xuống sông
tự vẫn để giữ trọn danh tiết Thấy vậy bọn giặc vô cùng hoảng hốt cho ngời xuốngtìm nhng không thấy, sợ trời sáng sẽ bị tàn quân của Trần Quý Khoáng đi theophục kích, chúng đã phải quay về Lam Thành Đợc tin, nhân dân địa phơng vôcùng thơng tiếc và kính phục sự dũng cảm và khí phách kiên cờng của vua tôi nhàHậu Trần Họ đã tổ chức đi tìm và đã thấy thi hài của Trần Quý Khoáng Nhân dân
đã vớt lên, đa về mai táng trên mảnh đất cao ráo thoáng đãng tại làng Biện Thịnhxã NgôTrờng huyện Chân Phúc nay là xóm Đức Thịnh xã Hng Lộc -TP Vinh
Sau khi đánh tan quân Minh, để tởng nhớ công lao của Trần Quý Khoáng,
nhà Lê đã sắc cho nhân dân địa phơng lập đền thờ để thờ phụng hơng khói " Long
thao hổ lợc, Trần Đại tớng quân, anh vũ lẫm liệt, nhuệ khí hùng hoàn, tráng tiết quốc công, hộ dân phụ chính, diệu võ hách thanh, mu du cái thế, trung chính minh nghĩa, quyết thắng vĩ liệt Đại vơng, gia phong: hiền lơng quang ý, dực bảo trung hng, tôn thần.
Các đời vua nhà hậu Lê, từ Canh Hng về trớc chuẩn y ba xã Ngô Trờng, Ngô Xã
và Chân Yên thờ phụng Đến đời Minh Mệnh cũng chuẩn y nh vậy".[3]
Trong gia phả họ Trần ở Đức Thịnh, Hng Lộc cũng chép rằng: “Đức thỉ tổLong thao xuất thân từ Thanh Hoá”, lại chép :“Khi hai anh em vào đến ThanhHoá, Đức tổ bảo em rằng: anh nay còn cầm quân đánh giặc, em nên quay về xãHành Thiện (Nam Định) để phụng thờ tôn miếu” Hành Thiện là làng Tức Mặc(thuộc Mỹ Lộc, Nam Hà), là nơi phát tích của nhà Trần
Trong gia phả họ Trần ở Đức Thịnh còn chép một đoạn chữ Hán gọi là
Trang 17“Công thần sự tích tải vân”, và dịch ra là: “ Công thần sự tích tải vân: Th ợng tớng
Đại vơng linh thần, miếu nhất sở tại Biện Thịnh thôn, tức Kim Đức Thịnh.Nguyễn Trần tôn thất nhân, Trần Quý vi tớng, nhân hành quân trú y thôn địaphận, một hậu hiển linh, mhân dân lập từ phụng sự, lịch từ cụ hiệu sắc phong”
Đoạn này có nghĩa là: Sự tích công thần chép rằng: Vị Thợng tớng đại vơng, cómột ngôi miếu thờ ở thôn (xóm, làng) Biện Thịnh (nay là Đức Thịnh) Nguyêndòng dõi tôn thất họ Trần, Trần Quý làm tớng, nhân hành quân trú ở làng này, saukhi mất rất linh thiêng, nên nhân dân lập miếu thờ, các triều vua sau đều phongsắc”.[3]
Từ những t liệu trên, có thể cho thấy rằng, thuỷ tổ của dòng họ Trần ở ĐứcThịnh, Hng Lộc là Trần Quý Khoáng, là ông vua cuối cùng của dòng họ Trần
Ông lên ngôi vua trong một hoàn cảnh khá đặc biệt Do Trần Ngỗi ( Giản Định
Đế) nghe lời gièm pha, giết chết hai vị tớng giỏi là Đặng Tất và Nguyễn CảnhChân Dẫn đến việc con của hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đã đónTrần Quý Khoáng vào Nghệ An và lập làm vua Ngày 2/4/1409 (tức là ngày 17/3năm Kỷ Sửu), Trần Quý Khoáng lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Trùng Quang Ông
đã có nhiều công lao trong việc tập hợp lực lợng, đoàn kết nhân dân chống áchthống trị của nhà Minh Lực lợng của ông đã làm cho quân Minh gặp nhiều khókhăn trong qua trình thiết lập ách cai trị và bóc lột Mặc dù có nhiều cố gắng, nh -
ng ngọn cờ phù Trần không còn đủ sức hấp dẫn và tập hợp toàn dân, nên cuộckháng chiến của Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng đã bị thất bại Mặc dù vậy, nhngtấm gơng chiến đấu và hi sinh quyên mình vì độc lập dân tộc của vua tôi nhà HậuTrần, của Trần Quý Khoáng và các tớng sĩ vẫn mãi là tấm gơng bất hủ “Quốcquân chết vì xã tắc” cho đời sau Ngày 9 tháng 5 năm Đinh Hợi (1414), Trần QuýKhoáng đã bị bắt và đã “sát thân thành nhân”, để lại niềm tiếc th ơng to lớn trongnhân dân Đặc biệt, trên mảnh đất Đức Thịnh (xã Hng Lộc sau này), hậu duệ của
ông đã kế thừa sự nghiệp của cha ông, tiếp tục góp phần viết nên những trang sửvàng cho dân tộc Cho đến nay, họ Trần vẫn tự hào về nguồn gốc vinh quang và
vẻ vang của dòng họ mình: họ Trần ta thuộc dòng dõi Tôn thất, nghĩa là dòng“
1.2.2 Họ Trần định c và phát triển ở Đức Thịnh - Hng Lộc
Gia phả gia tộc họ Trần và những ngời dân địa phơng cho biết rằng con cháudòng họ Trần ở Đức Thịnh, Hng Lộc vốn là hậu duệ của Trần Quý Khoáng, đã
định c ở Đức Thịnh và coi mảnh đất này là quê hơng mình từ bao đời nay Sau
khi "giữ nghĩa không khuất đã nhảy xuống sông chết cùng mất với nớc", xác Trần
Quý Khoáng đã trôi dạt vào lạch Rào Đờơng Theo các cụ lớn tuổi trong làng kể lại
Trang 18thì trớc đây khi biển còn ăn sâu vào đất liền, có lạch Rào Đờơng uốn dòng chảy raSông Lam rồi đổ ra biển Nhân dân ta đã tìm thấy thi hài ông và đã chôn cất ôngvới sự tôn kính và thơng tiếc vô hạn.
Trần Quý Khoáng có ba ngời con Con đầu là Trần Vinh, năm 24 tuổi cầmquân đánh giặc Minh, tục truyền ngài đánh giặc lấy chuông vàng [3] Con thứ hai
là Trần Thả, ngời con thứ ba của ông là Trần Hoa làm quan với chức tớc là Đốc
đồng lôi công ở Đức Thọ Trải qua một quá trình "sinh sôi nảy nở" cho đến nay
dòng họ Trần đã phát triển đến đời thứ 18 và chia ra nhiều chi phái khác nhau Cóthể khái quát sự phát triển của dòng họ Trần ở Đức Thịnh, Hng Lộc qua các thế hệsau:
Đời thứ nhất: Trần Quý Khoáng là thủy tổ dòng họ di c từ Nam Định vào
Nghệ An (1387) khi giặc Minh kéo quân vào xâm lợc nớc ta, ông đợc tôn làm vua
Sách Đại Việt sử ký toàn th viết:"Con Nguyễn Cảnh Chân là Cảnh Dị con Đặng
Tất là Dung đều căm giận vì cha bị giết oan mới đem quân từ Thuận Hóa về Thanh Hóa, đón rớc Nội Thị Trung Trần Quý Khoáng đến Nghệ An lên làm vua.
Ngày 17 tháng 3 năm 1409 vua lên ngôi ở Chi La (Đức Thọ - Hà Tịnh) đổi niên hiệu là Trùng Quang "[226 - 5]
Đời thứ 2: Đề binh Trần Vinh là con trai đầu của đức thỉ tổ, năm 24 tuổi cầm
quân đánh giặc Minh, (tục truyền ngài đuổi giặc Minh lấy chuông vàng) và bị giặcMinh giết chết
Trần Thả là con thứ của đức thỉ tổ khi còn thiếu niên rất anh tài, sau đó bịquân Minh bắt và giết hại
Trần Hoa là con út của đức thỉ tổ khi mới 3 tuổi gặp thời giặc Minh quấyphá, đợc ông tú tài Lê Văn Dơng đa về nuôi, lớn lên làm quan đời Lê, phong tớc
Đốc đồng lôi công Ông sinh hạ ngời con trai tên là Trần Mỹ và một ngời con nữatên bị thất lạc, theo nh ngời trong họ nói lại thì ông này sinh ra một phái khác ởNghi Xuân - Hà Tĩnh
Đời thứ 3 : Trần Mỹ là con trai của Trần Hoa sinh hạ 1 trai là Nghị.
Đời thứ 4 : Trần Nghị là con của Trần Mỹ, làm quan dới thời Nam triều, đợc
phong tớc Hầu Ông sinh hạ 3 trai, ngời con đầu tên là Tần bị mất sớm Ngời conthứ hai tên là Gia (nghĩa là tốt đẹp) Ngời con thứ ba tên là Khơng (nghĩa là phúc,tốt)
Đời thứ 5 : Trần Tần là con trai đầu của Trần Nghị mất sớm Trần Gia là con
thứ của Trần Nghị hội trúng tam tờng, đậu hơng cống Năm Kỷ Sửu 1469, ông đỗTiến sỹ và làm quan đến chức Tri phủ thời Lê Đợc gọi là Hơng cống Tri phủ TrầnGia Ông sinh hạ đợc 1 trai là Minh
Đời thứ 6 : Viên tử Trần Minh (viên tử - con quan gọi là viên tử), sinh hạ 3
con trai.Con trởng là Tài, con thứ là Miễn, con út là Tân
Trang 19Đời thứ 7 : Trần Tài là con đầu của Trần Minh, đậu hơng cống đợc phong
chức làm quan
Trần Miễn là con thứ hai đậu hơng cống đợc phong chức làm quan Trần Tân là con út, đậu sinh đồ
Đời thứ 8 : Trần Nghị là con đầu của Trần Tài, đậu hơng cống đợc cử làm
quan Ông sinh hạ đợc 4 trai là Táo, Lâm, Hơng và Thảo
Đời thứ 9 : Trần Táo con đầu của Trần Nghị là Tòng quân chánh lục phẩm,
tiến phong Hầu, tăng công tớc, ông tham gia đánh giặc và bị hi sinh
Trần Lâm là con thứ 2 của Trần Nghị, đậu Hơng cống, Hội trúng tamtrờng, làm quan ở phủ Đức Thọ, tớc Đại phu, sinh hạ Bích Ngọc Hầu bà đi tu ởchùa Diễn Quang Bắc, Đức Thọ (chùa Hơng tích 1357)
Trần Hơng là con thứ 3, đậu Hơng cống, Hội trúng tam trờng, làmquan thời Lê Hiến Tông với chức Sở Ngự Tiền tuyền độc kiêm Hoa điện ngự sử,thông bắc binh nội các ch quân, tăng Công tớc
Trần Thảo là con út Trần Nghị, chức quan Kiểm các bộ trung langtam phẩm, làm quan ở phủ Đức Thọ, vâng chỉ đánh giặc, dâng kế đánh giặc, đắc
sách, đợc phong tam phẩm hữu dơng Ngời đơng thời tôn ông là "con ngời tri cơ"
có nghĩa là biết trớc mọi việc, ông làm và thờng ngâm bài thơ "tri cơ" Ông mất vào
ngày 9/10 âm lịch Mộ táng dới chân núi Quyết Có bản chép thêm rằng: Trần Thảocòn có 19 ngời con và sinh ra các phái họ Trần ở Diễn Châu, Thanh Chơng, Nam
Đàn
Đời thứ 10 : Phù giá trì uy Quận công Trần Thống là con đầu của Trần Thảo.
Ông đậu cử nhân dới thời Lê, chức Phù giá trì uy Tớng quan(Vị tớng quân có uy vũtruyền khắp xa gần, bảo vệ vua); Tớc Lộc thọ bá tiến phong tớc Vệ Quận công
Ông mất ngày 29/9 âm lịch, sinh đợc một con trai là Tơng.Ông này lấy vợ và pháttriển dòng họ Trần ở Thanh Chơng, Nghệ An
Trần Sung là con thứ của Trần Thảo, đậu cử nhân võ với chức chánh
đội, tiến phong Tân an bá Đợc gọi là Ưu binh Tân an bá Trần Sung
Trần Doãn là con thứ 3 làm quan dới triều Lê với chức cửu binh, tớcTrúc nộn bá, đợc gọi là Ưu binh Trúc nộn bá Trần Doãn, sinh đợc 3 con trai
Đời thứ 11 : Trần Tơng con Trần Thống Đợc gọi là Viên tử Trần Tơng, tự
Phúc Mẫn Ông mất ngày 2/11 âm lịch, mộ táng ở Mồ Xôi
Đời thứ 12 : Trần Trạch là con đầu Trần Tơng Trần Trạch nhiều tuổi cha có
con buồn rầu uống rợu đốt nhà, bỏ quê ra ở ngoài Nam Định
Trần Tích Lâm là con thứ hai của Trần Tơng, mất ngày 18/2 âm lịch Ông cóhai vợ và sinh đợc hai con trai, 4 con gái
Trần Lộc Hành là con trai thứ ba, làm nghề thuốc, có ba con trai là LộcLánh, Lộc Long, một ngời con út tên là Thứ mất sớm và 4 con gái
Trang 20Trần Siêu, Trần Huyền là các con của Trần Tơng nhng đều bị mất sớm.
Đời thứ 13 : Trần Phúc Toản là con trai đầu của Trần Tích Lâm sinh đợc một
trai là Đức Mậu và ba con gái
Trần Chiêu Trâm là con thứ, sinh đợc hai con trai là Giản, Nghị và ba congái
Trần Lộc Lánh là con đầu Trần Lộc Hành, làm nghề thuốc, sinh đợc hai trai
Trần Giản, con trai của Chiêu Trâm, mất sớm
Trần Nghị, con trai Chiêu Trâm, sinh đợc một con trai nhng bị mất tích TrầnNghị là ngời có công trong việc giữ gìn, bảo vệ nhà thờ họ Trần ở Đức Thịnh
Trần Lộng là con trai đầu của Trần Lộc Lánh Ông có hai vợ, vợ đầu có haigái, vợ hai có hai trai là Quý, Phú và hai gái
Trần Văn Học là con trai thứ của Lộc Lánh Ông có ba con trai là Chỏng,Huỳnh, Dự và 4 con gái
Trần Đình Lô là con trai đầu của Lộc Long, bị mất sớm
Trần Đình Liên, con thứ của Lộc Long, làm nghề thuốc, có 5 con trai làViễn, Trang, Tích, Đô, Chung và 4 con gái
Trần Nhung, con thứ ba của Lộc Long, làm nghề thuốc, có một con trai làNhơng
Trần Quật, con trai út của lộc Long, có hai con trai là Liễu và Dơng
Đời thứ 15 : Trần ý là con trai của Đức Mậu không có con trai nỗi dõi nên
Trần Văn Phú là con trai thứ của Trần Lộng lên làm tộc trởng Ông thọ 86 tuổi, có
5 con trai là Kỳ, Hy, Chỉ, Dị, Đề và 3 con gái
Đời thứ 16 : Trần Duy Kỳ là con trai đầu của Trần Phú, vợ đầu sinh đợc 3
trai là Châu, Tờng, Lý và 6 con gái, vợ hai sinh đợc 3 trai là Sơn, Thiệu, Nghĩa và 2gái Trần Duy Hy là con thứ, có 5 con trai là Trinh(mất sớm), Địch, Thiền(mấtsớm), Lộc, Thờng và hai con gái
Đời thứ 17 : Tộc trởng là Trần Duy Tờng, con thứ của Trần Duy Kỳ.Vợ cả
sinh đợc 3 trai là Toàn, Hợp, Thành và 2 gái
Trần Duy Lý là con thứ ba của Trần Duy Kỳ, có 4 con trai và một gái
Đời thứ 18 : Trần Duy Toàn là con của Trần Duy Tờng, sinh ngày 2/3/1957,
đi bộ đội chống Mỹ về, là tộc trởng của dòng họ Trần ở Đức Thịnh - Hng Lộc
Ông có 2 con trai là Cơng, Quân và ba con gái.Trần Duy Hợp là con thứ hai củaTrần Duy Tờng, sinh đợc một con gái, Trần Duy Thành là con thứ ba của Trần Duy
Trang 21Tờng, sinh đợc hai con trai là Điệp và Thắng
Hiện nay ngoài phái tộc trởng Trần Duy Toàn ở Đức Thịnh - Hng Lộc (đangthờ phụng và chăm coi mộ, đền thờ họ Trần ), còn có các chi nhánh khác phát triển
ở khắp các địa phơng trong và ngoài tỉnh nh :
- Phái thứ: Trần Văn Thơng, Trần Văn Khải, Trần Văn Thắng, định cự ở xã Diễn
An huyện Diễn Châu - Nghệ An
Phái thứ: Cử nhân Trần Chu Phu, định c tại làng Xuân La Huyện Nam Đàn Nghệ An
- Phái thứ: Trần Hữu Chí, Trần Hữu Du, định c tại thôn Mỹ Ngọc - xã PhơngNghi - Thuận Trung - Đô Lơng
- Phái thứ: Trần Quy, Trần Bi, định c tại xã Thanh Đàn - huyện Quỳnh Lu-NghệAn
- Phái thứ: Trần Khắc Liễu, Trần Dơng, định c tại xã Công Thành - Huyện YênThành - Nghệ An Phái này có 4 vị tiến sĩ thời kỳ hậu Lê : Trần Khắc Thang, TrầnKhắc Kế, Trần Khắc Quý (Quỵ), Trần Khắc Phúc
- Phái thứ: Trần Sóc, định c tại làng Đức Thịnh - xã Hng Lộc - TP Vinh
- Phái thứ: Trần Quang Sinh, định c tại Quang Trung - TP Vinh - Nghệ An
- Phái thứ: Trần Đình Hân, định c tại làng Đức Thịnh - xã Hng Lộc - Thành phốVinh
- Phái thứ : Trần Điển, làng Cổ Đan - Nghi Phúc - huyện Nghi Lộc- Nghệ An
- Phái thứ: Trần Bùi, làng Hải Côn nay là xã Nghi Thái - huyện Nghi Lộc - NghệAn
- Phái thứ: Trần Bô, làng Cổ Đan - Nghi Phúc - Nghi Lộc - Nghệ An
Phái thứ:Trần Huy Thứ ,tú tài Trần Huy Mậu,Trần Huy Thơng Thanh Thủy Huyện Nam Đàn - Tỉnh Nghệ An [3]
-Sau một quá trình hình thành và phát triển, trải qua 18 đời, hậu duệ của vuaTrần Trùng Quang - Trần Quý Khoáng đã ngày càng đông đúc, sinh sống ổn địnhtrên mảnh đất Lộc Đa, Đức Thịnh và từ đây chia thành nhiều phái thứ lan toả khắpmọi miền của đất nớc Thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ cội nguồn lâu đời và qúatrình lịch sử lâu dài, bền vững của dòng họ Trần ở Đức Thịnh Đi lên cùng dântộc, dòng họ Trần ở Đức Thịnh đã có nhiều đóng góp quý báu, góp phần xây dựngquê hơng, đất nớc
Trang 22Ch ơng II Những đóng góp của dòng họ Trần ở đức thịnh
Lịch sử phát triển mỗi dòng họ đều có những đóng góp nhất định đối với lịch
sử dân tộc Từ thế hệ này đến thế hệ khác tiếp nối nhau xây dựng và phát triển dòng
họ mình và đã tạo dựng nên những truyền thống tốt đẹp, góp phần tích cực đối vớicông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Dòng họ Trần ở Đức Thịnh, Hng Lộccũng là một trong những dòng họ có nhiều đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vựctrong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta
2.1 Đóng góp trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ
Tổ quốc
2.1.1 Thời trung đại.(Thế kỷ XV)
Đầu thế kỷ thứ XV, xã hội nớc ta trải qua nhiều biến động sâu sắc Nhà Trầnsụp đổ, nhà Hồ mới thiết lập đang đứng trớc nhiều thử thách nghiêm trọng Lợidụng cơ hội ấy nhà Minh phát động cuộc chiến tranh xâm lợc nớc ta
Ngày 19 tháng 11 năm 1406 (tức là ngày 09 tháng 10 năm Bính Tuất), hàngchục vạn quân Minh do tớng Trơng Phụ cầm đầu kéo vào xâm lợc Đại Việt Vậnmệnh dân tộc bị đe dọa nghiêm trọng, nhà Hồ quyết tâm lãnh đạo nhân dân takháng chiến Nhng cuộc kháng chiến của nhà Hồ nhanh chóng bị thất bại Saunhững trận tấn công ồ ạt của giặc Minh, quân đội nhà Hồ cơ bản bị thất bại
Đất nớc ta bị nhà Minh đô hộ với những chính sách áp bức, bóc lột vô cùng
hà khắc Chúng vơ vét của cải, hãm hiếp đàn bà con gái, thực hiện quốc sách đồnghóa dân tộc ta Chúng chia đất nớc ta thành quận huyện để cai trị và bòn rút đến tận
Trang 23cùng sức ngời sức của của nhân dân ta Nhng quân Minh không thể khuất phục đợcdân tộc ta.
Từ khi quân Minh vào nớc ta, nhiều phong trào kháng chiến chống ách đô hộnhà Minh của nhân dân vùng lên ở khắp nơi, chiến đấu quyết liệt với kẻ thù Tiêubiểu cho phong trào kháng chiến chống quân Minh lúc bấy giờ có cuộc khởi nghĩacủa hai quý tộc nhà Trần là Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng
Tháng 10 năm 1407, đợc nghĩa quân của Trần Triệu Cơ ở vùng Thiên Trờng(Nam Hà) tôn Trần Ngỗi lên làm Minh chủ, từ đây đã trở thành đầu mối quy tụ cáctoán nghĩa quân và một số quan lại yêu nớc muốn đánh đuổi quân Minh, muốnkhôi phục lại cơ đồ nhà Trần Trần Ngỗi xng là Giản Định Hoàng Đế lập hành cung
ở Yên Mô (Ninh Bình) Dới ngọn cờ của Trần Ngỗi nghĩa quân dành đợc nhiềuchiến thắng vang dội
Tháng 2 năm Kỷ Sửu (1409), sau chiến thắng lớn ở Bồ Cô (tỉnh Nam Định),
lo sợ uy tín của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, Giản Định Đế nghe lời gièm phacủa kẻ nịnh thần đã giết chết quốc công Đặng Tất và Đông Tri Khu Mật Viện SứTham Mu Quân Sự Nguyễn Cảnh Chân
Cha bị giết, nhng Đặng Dung con của Đặng Tất và Nguyễn cảnh Dị con củaNguyễn Cảnh Chân không vì thù riêng mà bỏ lỡ sự nghiệp cứu nớc Song họ cũngkhông thể cộng tác với Trần Ngỗi mà tìm vào Nghệ An tôn Trần Quý Khoáng,cháu của vua Trần Nghệ Tông làm minh chủ
Ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Sửu (tức ngày 2 tháng 4 năm 1409), Trần Quý Khoánglên ngôi vua ở Bà Hồ huyện Chi La, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ lấy hiệu làTrùng Quang
Dân Bà Hồ (Yên Hồ) đến nay vẫn nhớ khi :"Vua dựng trại Trùng Quang" thì toàn dân "Chịu dầu dải nắng ma-Lo cấy gặt cày bừa - Kẻ canh cửi, tằm tơ - Ngời
rèn thổi đục ca - Lo đi sớm về tra - Để nuôi quân đánh giặc - Giúp vua Trần đánh giặc " (Vè) [176 - 15]
Theo sách Nghệ An ký của Bùi Dơng Lịch thì :"Hành tại của vua Trùng
Quang đặt ở hữu Ngạn sông La, gần chỗ ngã ba sông La và sông Minh Lơng".
ở đây vua Trùng Quang đã tổ chức một triều đình, một bộ chỉ huy kháng chiến.Nguyễn Suý giữ chức Thái Phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái Bảo, Đặng Dung làm
đồng bình chơng sự, Nguyễn Chơng làm T Mã, và Nguyễn Biểu làm Điện tiền thịNgự sử
Bấy giờ, lực lợng kháng chiến của vua Giản Định đã suy yếu, đang cầm cựvới quân Minh ở thành Ngự Thiên (sau này thuộc huyện Hng Nhân - tỉnh TháiBình) Để thống nhất chỉ huy, bộ chỉ huy nghĩa quân ở Bà Hồ đã thực hiện kếhoạch táo bạo: Nguyễn Suý ngầm sai quân ra đánh úp Ngự Thiên, đa Giản Định vềNghệ An
Trang 24Sử chép :" Ngày 20 tháng 4 (năm Kỷ Sửu) Nguyễn Suý dẫn vua Hng Khánh
(tức Giản Định) về bến sông Tam Chế (tức đoạn sông Lam ở chợ Chế, xã Xuân Lam bấy giờ) Vua Trùng Quang đổi mặc áo thờng, xuống thuyền đón rớc Khi ấy trời đất đang tối sầm thốt nhiên mây vàng rực rở hiện ra, mọi ngời đều kinh ngạc cho là điềm lạ" [482 - 15]
Vua Trùng Quang rớc vua Giản Định về Bà Hồ tôn làm Thợng hoàng đểcùng đánh giặc Đây là hành động sáng suốt để tránh sự phân biệt 2 lực lợng khởinghĩa, sự đồng thời tồn tại hai ngôi vua, hai lá cờ tập hợp cùng chung một danhnghĩa diệt Minh
Sau đó, Thợng hoàng cùng vua và các tớng đều cầm quân ra trận, chỉ để lạimột bộ phận nhỏ ở lại Bà Hồ Lúc này nghĩa quân vẫn làm chủ vùng Thanh Nghệtrở vào Thợng hoàng tiến quân ra Hạ Hồng (nam Hải Hng bây giờ), còn vua TrùngQuang đóng ở Bình Than Hào kiệt các nơi đều nổi dậy hởng ứng Có những lúcphong trào khởi nghĩa lan khắp nhiều địa phơng
Tháng 7 âm lịch, Giản Định ở Hạ Hồng bị liên quân Phụ, Thạnh kéo đến
đánh, thế rất hung dữ Giản Định thua, phải bỏ thuyền lên bờ, dẫn quân bộ chạyvào Diễn Châu
Tháng 8 âm lịch, Trùng Quang vẫn cầm cự với quân Minh ở Bình Than chiabinh sai Bình Chơng, Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử (huyện Đông An, nay là phủkhoái châu Hng Yên) Bây giờ lơng thực thiếu Dung phải chia quân đi gặt lúa mùasớm để cung cấp cho binh sĩ, Trơng Phụ dò biết đem nhiều thủy quân đến đánhmạnh quân của Dung tan vỡ
Trùng Quang nghe tin Hàm Tử thất thủ liệu thế không thể giữ đợc nổi miềnbắc, bèn rút quân vào Nghệ An để mu việc tiến thủ
Bấy giờ Giản Định ở Diễn Châu bí mật đem quân đi theo đờng rừng núi chạy
ra bắc để hợp với các toán nghĩa quân nằm vùng ngoài đó chống giặc Nhng quânMinh bắt đợc giải về Kim Lăng và bị hại ở đó
Mùa xuân 1410, Trùng Quang cùng các tớng Nguyễn Súy,Hồ Bối, NguyễnCảnh Di đóng quân ở Diễn Châu, Nghệ An sát Thanh Hóa, Đặng Dung ở cửa sôngThần Đầu, Phúc Thành, giữ đờng trọng yếu đi Thanh Hóa vào các xứ Nghệ An.Còn Trơng Phụ đợc lệnh Minh chúa triệu về nớc, đem theo số quân đa đi năm trớc
Phụ sợ tâu nói rằng : " Trùng Quang đóng ở Nghệ An thế mạnh mẽ, nếu cho quân
về hết sợ quân Thạnh ít không địch nổi đợc, xin lu lại quân của đô đốc Giang Hạo
và bọn đô chỉ huy D Nhợng, Hoa Anh, S Bu để giúp Thạnh đóng giữ."[438-Thuyết
nhà Trần]
Vắng bóng Phụ đây là cơ hội thuận tiện cho nghĩa quân hoạt động mạnh mẽhơn Tháng 5 âm lịch, Trùng Quang đem bọn Cảnh Dị tiến quân ra bắc đến bến LaChâu, Hà Hồng, đánh phá đợc quân của đô đốc Giang Hạo, thừa thắng đuổi theo
Trang 25tiến quân đến Bình Than đốt phá gần hết thuyền trại của quân Minh lại ra đóngquân ở Bình Than Uy tín của nghĩa quân lại càng đợc nâng cao Hào kiệt ở khắpnơi hởng ứng lời kêu gọi cứu nớc của vua Trùng Quang Nghĩa quân đánh địch ởkhắp mọi nơi làm cho quân Minh bối rối lâm vào thế đối phó bị động Nhân cơ hội
đó, Trùng Quang Đế đa quân tiến ra hoạt động ở vùng Phụng Hóa (Nam Định) liênkết với các cánh quân khác tạo thành thế liên hoàn bao vây uy hiếp thành ĐôngQuan Hai bên quân nhau dữ dội, vì ít quân hơn nghĩa quân phải kéo về Nghệ An
cố thủ củng cố lực lợng
Tháng 4 năm 1413, Trùng Quang Đế lại phái Đặng Dung và Nguyễn Súy dẫnthủy quân theo đờng biển ra tận Hải Đông vân đồn đón chặn đoàn thuyền lơng của
địch từ Trung Quốc sang tiếp tế cho Trơng Phụ Tuy đánh chìm đợc nhiều thuyền
l-ơng của giặc nhng nghĩa quân cũng bị tổn thất đáng kể phải lui về Nghệ An Trl-ơngPhụ khẩn trơng tập trung quân kéo vào Nghệ An vây đánh nghĩa quân vua tôi TrầnTrùng Quang chống cự không nổi đành phải dẫn nghĩa quân vợt đèo ngang lui vềgiữ Tân Bình và Hóa Châu
Trùng Quang Đế một mặt đôn đốc quân sỹ phòng bị, một mặt cử NguyễnBiểu mang sản vật địa phơng đến Lam Thành đại bản doanh của Trơng Phụ để điều
đình và dâng biểu sang vua Minh để cầu phong Nguyễn Biểu đến doanh trại quân
Minh, Trơng Phụ đã uy hiếp bằng việc thiết đãi "cổ đầu ngời" Ông đã nêu cao khí tiết, điềm nhiên ngồi ăn đã để lại cho đời tấm gơng oanh liệt " ăn cổ đầu ngời".
Không lung lạc đợc tinh thần Nguyễn Biểu, Trơng Phụ đã sai bắt giữ trói ông dớichân cầu Lam Kiều, dùng nớc thủy triều dâng lên giết hại rồi tiến quân ra HóaChâu
Trớc cái chết hiên ngang của Nguyễn Biểu, đau xót Trùng Quang đã viết một
bài văn tế với tiêu đề Tế Nguyễn Biểu Bài Tế Nguyễn Biểu tuy cha phải là bài hay,
càng cha phải là đã viết đúng theo quy cách vốn rất chặt chẽ của văn tế, song cáitình của Trùng Quang Đế đối với Nguyễn Biểu thì ai cũng có thể thấy đợc
Tháng 9 năm 1413, Trùng Quang Đế sai tớng Đặng Dung, Nguyễn Súy đemquân tấn công Trơng Phụ ở kênh Thái Đà Ban đầu quân giặc đang trụ lại giữa sông
và vùng xung quanh chờ sáng, không bỏ lỡ cơ hội Đặng Dung và Nguyễn Súy đemquân đánh úp Giữa cuộc hỗn chiến Đặng Dung nhảy lên đợc thuyền của Trơng Phụsuýt bắt đợc tớng Trơng Phụ
Tháng 12 năm 1413, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đang trên đờng vợtrừng qua Xiêm thì bị giặc Minh phát hiên vây bắt và giết hại Nghe tin TrùngQuang Đế vô cùng đau xót rồi cùng với Nguyễn Súy chạy ngợc ra Nghệ An rồichạy tiếp sang Lào Trơng Phụ đa quân đuổi theo và bắt đợc ở Sách Cần Mông naythuộc huyện Cam Môn (tỉnh Tha Khét) và bị giải về đại bản doanh ở Lam Thành.Chúng làm mọi cách lung lạc dụ dỗ nhng không sao khuất phục đợc Cuối cùng
Trang 26chúng cho giải về Trung Quốc.
Ngày 9 tháng 5 năm 1414, chiếc thuyền của giặc giải Trần Trùng Quang vàNguyễn Súy từ Lam Thành theo dọc sông Lam về cửa hội để ra bắc Khi thuyền
đến vùng hạ lu thuộc huyện Chân Phúc (nay là xã Hng Hòa, Hng Lộc - Thành PhốVinh) lợi dụng ban đêm giữa cảnh sông nớc bến sông bọn lính canh sơ ý, vua tôi
Trần Trùng Quang đã nhảy xuống sông tự vẫn để giữ trọn danh tiết "vua tôi biết
chết cho xã tắc làm sáng tỏ đến ngàn đời" ( Việt sử Thông giám Cơng mục).
Nguyễn Sĩ Liên bàn : " Vua tôi Trùng Quang chỉ có quân một lúc mà mu khôi
phục nớc nhà trong lúc loạn lạc, lao lý, ví nh lấy một cây gỗ chống giữa nhà lớn đã xiêu, há chẳng biết là thế không thể vãn hồi hay sao? Nhng hãy làm hết bổn phận nên làm, hoặc giả có thể kéo dài đợc mệnh trời chăng? Còn nh việc bị giặc bắt đợc
đem về, giữ nghĩa không khuất đành nhảy xuống sông chết cùng mất với nớc thực
đúng với câu " Quốc quân chết vì xã tắc " "
Trong Việt sử giai thoại, trang 70, Nguyễn Khắc Thuần đã có lời bàn nh sau:
"Trùng Quang Đế cùng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý và nhiều bậc
t-ớng tài giàu lòng trung nghĩa khác, đã sống một cuộc đời quả cảm, ngang dọc tung hoành, tỏ cho quân Minh biết thế nào là hào kiệt nớc Nam.
Đến khi thế cùng lực kiệt, họ cam chịu nối đau của ngời bại trận và trút bỏ xác phàm để bớc vào thế giớ vĩnh cửu của sự tôn nghiêm mà hậu thế muôn đời trân trọng dành cho họ".
Thành Nghệ An thời thuộc Minh vừa là trụ sở của phủ Nghệ An vừa là căn cứ quân
sự kiên cố nhất của giặc Minh Trong quá trình đàn áp cuộc khởi nghĩa của TrầnQuý Khoáng, quân Minh tiến hành vơ vét của cải, để xây dựng thành Nghệ An mộtcăn cứ kiên cố của địch.Do chính sách bóc lột tàn bạo của quân Minh, đồng thời đểthể hiện tinh thần yêu nớc quả cảm của tầng lớp con cháu sau này Nghệ An là nơihiểm yếu đất rộng ngời đông, nhân dân ở đây giàu lòng yêu nớc căm thù giặc Vìvậy, ngay từ buổi đầu ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn đã trở thành điểm quy tụ cáchoạt động yêu nớc đã có nhiều thanh thiếu niên yêu nớc đã tìm đến với khởi nghĩaLam Sơn Con cháu trong dòng họ Trần ở Đức Thịnh, Hng Lộc đã đứng lên tiếp nốidòng máu yêu nớc, quật cờng của ông cha đánh giặc, góp nhiều công sức nhỏ bécủa mình để đánh đuổi giặc ngoại xâm
Con của Trần Quý Khoáng là Trần Vinh, Trần Thả cũng là những ngời tiếpbớc theo ông cha tham gia nghĩa quân chống giặc Minh dành nhiều thắng lợi nhngcuối cùng "sức cùng lực kiệt" đã hy sinh khi còn rất trẻ
Nhiều ngời con của dòng họ Trần đã học hành và đỗ đạt cao,làm quan ở đời nhà Lê
nh Trần Gia với chức tớc tri phủ Tòng quân chánh lục phẩm, tiến phong hậu, tặngcông tớc Trần Tảo Tiêu biểu là Trần Thảo làm quan tới chức kiêm các bộ trunglang tam phẩm ở phủ Đức Thọ, đánh giặc có nhiều kế hay đợc phong tớc Trần
Trang 27Thống làm quan dới triều Lê với chức phù giá trì uy tớng quân (nghĩa là vị tớng có
uy vũ truyền khắp xã gần bảo vệ nhà vua)
2.1.2 Thời cận đại (1858- 1945).
Ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầucuộc xâm lợc nớc ta Ngay từ đầu nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu chống thựcdân Pháp xâm lợc Phong trào chống xâm lợc lan rộng từ Đà Nẵng vào Nam Kỳ, raBắc kỳ và lan rộng khắp cả nớc Năm 1883 giữa kinh đô Huế vua Tự Đức chết, nhàNguyễn lâm vào tình trạng "bốn tháng ba vua" Dực Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc.Nhà Nguyễn đầu hàng hoàn toàn, nền độc lập của dân tộc bị xoá bỏ Ngày 23 tháng
5 năm ất Dậu (1885), kinh đô Huế thất thủ Vua Hàm Nghi phải bỏ hoàng cung rútlên miền núi tỉnh Quảng Trị Ngày 13 tháng 7 năm 1885 từ Sơn phòng - Quảng Trị,
Hàm Nghi ra " Chiếu Cần Vơng" hô hào nhân dân ra sức phò vua cứu nớc.
Hởng ứng Chiếu Cần Vơng, nhiều sĩ phu đứng lên khởi nghĩa Các sĩ phuyêu nớc dựa vào sự ủng hộ của nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chính nghĩa d-
ới danh nghĩa Cần Vơng - Phò vị minh quân yêu nớc, vì sự nghiệp chính nghĩa củadân tộc
Phong trào Cần Vơng bùng nổ và phát triển mạnh mẽ trong cả nớc, nhng các cuộckhởi nghĩa đều đi đến thất bại Điều đó chứng tỏ sự thất bại của con đờng cứu nớcphong kiến, để rồi sau đó xuất hiện con đờng cứu nớc theo khuynh hớng t sản đầuthế kỷ XX
Nghệ Tĩnh nói chung, làng Đức Thịnh nói riêng cũng là một trong những nơihởng ứng mạnh mẽ các phong trào cứu nớc đó Nhiều ngời con của dòng họ Trần
đã tích cực tham gia cứu nớc, tiêu biểu nh Trần Cảnh Tuân, Trần Cảnh Nhuận, TrầnCảnh T, Trần Cảnh Trạm (thuộc đời thứ 16 của Trần Quý Khoáng), , Trần CảnhThục, Trần Cảnh Hồng (thuộc đời thứ 17 của Trần Quý Khoáng) Họ đều là nhữngnho sỹ, trung thành với lá cờ "Trung quân ái quốc", hi sinh cả cuộc đời mình vì đấtnớc, quê hơng
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra bớcngoặt vĩ đại cho cách mạng nớc ta, không những khai thông sự khủng hoảng về giaicấp lãnh đạo, mà còn đáp ứng kịp thời yêu cầu chín muồi cấp bách của nhân dân ta
về con đờng cứu nớc
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cách mạng ViệtNam, làm dấy lên phong trào cách mạng 30 -31 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh
Đó đợc coi là "một mốc son chói lọi" trong cuộc diễn tập đầu tiên của cách mạng
Việt Nam, là sự chuẩn bị tiếp theo cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 Nói đến Xô Viết Nghệ Tĩnh là nói đến sự "quật khởi " của công nông NghệTĩnh Nhân dân Nghệ Tĩnh vốn đợc thừa hởng truyền thống yêu nớc, truyền thốngcách mạng hết sức rạng rỡ do ông cha để lại Mảnh đất này từng đợc xem là vùng
Trang 28"trọng tấn" "phên dậu", trong bao phen chống giặc giữ nớc của dân tộc Đây cũng
là mảnh đất "Địa linh - nhân kiệt", nơi đã sinh ra những ngời anh hùng dân tộc,những danh nhân văn hoá, những nhà cách mạng tiêu biểu của dân tộc ta
Kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta, nhân dân Nghệ Tĩnh luôn sátcánh cùng nhân dân cả nớc và các văn thân sĩ phu, tỏ rõ quyết tâm chống cả "Triềulẫn tây".Với đặc tính gan góc, mu trí, chịu đựng gian khổ, cơng trực, cùng vớitruyền thống yêu nớc của nhân dân Nghệ Tĩnh đã biến nơi đây trở thành " Điểmnóng nhất" "khâu mạnh nhất" của cách mạng nớc ta trong những năm 1930 - 1931 Năm 1929, Tân Việt đóng cơ quan tổng bộ ở Vinh, đã gây dựng đựơc cơ sở ở 5tổng, trong tổng Yên Trờng có các làng Lộc Đa, Đức Thịnh, Đức Hậu,Yên Dũng,Yên Lu Hoạt động phổ biến nhất của Tân Việt gây dựng phong trào học chữ quốcngữ, thông qua các lớp học, các nhóm học sinh mà truyền bá các sách báo thơ catiến bộ, khơi dậy lòng yêu nớc, chí căm thù giặc và phong kiến của các tầng lớpnhân dân
Những hội viên Tân Việt nhạy cảm với cái mới chuyển hớng hoạt động theokhuynh hớng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhất là ở Lộc Đa - ĐứcThịnh- nơi gần các nhà máy và sớm có cơ sở của tổ chức này
Một trong năm chi bộ cộng sản đầu tiên của Nghệ An và là chi bộ cộng sản
đầu tiên, duy nhất của Hng Nguyên do Đông Dơng Cộng sản Liên đoàn thành lậptháng 7 năm 1929, đó là chi bộ Lộc Đa -Đức Thịnh do đồng chí Hoàng Trọng Trìlàm bí th chi bộ Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí Hoàng TrọngTrì đợc cử vào Ban chấp hành Tỉnh bộ Vinh - Bến Thủy thì chi bộ này cũngchuyển thành các chi bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam: chi bộ Lộc Đa - Đức Thịnhtháng 3 năm 1930, chi bộ Yên Dũng tháng 4 năm 1930
Nh vậy ngay từ đầu Lộc Đa - Đức Thịnh là một trong những chi bộ đợcthành lập sớm và thu hút nhiều ngời yêu nớc tham gia Sự phát triển mạnh mẽ đó đãthúc đẩy nhiều ngời có tâm huyết vì lợi ích của nhân dân và đất nớc vơn lên Đốivới các phần tử tiên tiến của phong trào quần chúng thì đây là một trong những lòtôi luyện bản lĩnh đấu tranh Chính vì vậy nhân dân Lộc Đa - Đức Thịnh từ già, trẻ,gái, trai ai cũng có quyết tâm làm cách mạng, ai cũng có mong muốn góp một chútsức lực của mình cho Đảng, cho đất nớc Nh ở Đức Thịnh có ông Trần Xuân Lai(tên thờng goi là ông chánh Huân) tuy làm Lý trởng, nhng một lòng theo Đảng, bảo
vệ Đảng trong những năm 1930 – 1931 Lúc này một cơ sở cách mạng ở ĐứcThịnh đã che dấu cán bộ cách mạng (Chu Văn Biên) về chỉ đạo phong trào Xô ViếtNghệ Tĩnh, Trần Xuân Lai biết vậy nhng đã không trình báo, mà bí mật để đồngchí Chu Văn Biên ăn nghỉ tại làng
Tiêu biểu cho tinh thần yêu nớc của dòng họ Trần trong giai đoạn này phải
kể đến Trần Cảnh Bình con ông Trần Cảnh Nhuận (cháu đời thứ 17 của Trần Quý
Trang 29Khoáng), là một Đảng viên cốt cán, xông xáo của chi bộ Lộc Đa - Đức Thịnh.
Ngày 21 tháng 4 năm 1930, Xứ ủy Trung kỳ, Tỉnh ủy Vinh - Bến Thủy có cuộchọp quyết định lấy ngày 1 tháng 5 năm 1930 ngày kỷ niệm Quốc tế lao động làmngày phát động quần chúng đấu tranh dới hình thức biểu tình
Ngày 1 tháng 5 năm 1930, nhân dân các làng Yên Dũng, Lộc Đa, Đức Thịnhtập trung tại các địa điểm chợ Cọi và đền Trìa, cùng với một số nơi khác nh ĐứcHậu, An Hậu , Song Lộc (Nghi Lộc) Hàng nghìn ngời đã kéo xuống đờng biểutình tay không, xếp thành hàng cờ đỏ búa liềm đi đầu cùng nhiều băng vải đỏ đợccăng lên với khẩu hiệu :
- Giảm thuế ruộng, bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế muối
- Tịch thu công điên thổ chia cho dân cày nghèo
- Cách mạng Việt Nam muôn năm
- Việt Nam Cộng sản muôn năm
- Tinh thần ngày 1 tháng 5 muôn năm
Khi đến Bến Thủy, nơi ngã ba cột đèn, đoàn biểu tình quây thành khối lớnsôi động, dũng mãnh dơng cao cờ búa liềm hô vang khẩu hiệu cách mạng Anh chị
em công nhân các nhà máy ở Bến Thủy bị bọn chủ nhà máy khóa trái cổng nhốt ởbên trong, bèn đổ ra bám sát tờng rào vẫy tay chào bà con nông dân trong khối ng-
ời biểu tình, đồng thời hát vang bài Quốc tế ca Hào khí tràn đầy, anh Nguyễn ĐànNhoãn xông vào định phá cổng nhà máy để công nhân ra, liền bị tên lính Pháp bắnvào ngực Phía sau Trần Cảnh Bình trèo lên cột đèn hớng vào các nhà máy phất cao
cờ đỏ búa liềm, hô hào anh chị em công nhân phối hợp đấu tranh.Tiếng phá cổng
ầm ầm, tiếng hô khẩu hiệu, tiếng hò hét vang động Bỗng từ phía gác hai nhà máy
Đèn, tên chủ nhà máy Calali xối đạn vào Trần Cảnh Bình, anh ngã xuống tay còn
nắm chặt là cờ búa liềm Làn sóng ngời ào ạt dâng lên:"Đả đảo khủng bố !Đả đảo
quân giết ngời man rợ " Anh hy sinh vào lúc 10h 30 phút ngày 1 tháng 5 năm 1930
khi vừa tròn 20 tuổi Là một đội viên đầu tiên của Đội Tự vệ của Nghệ -Tĩnh trongtổng số 900 ngời, anh hi sinh để lại bao tiếc nuối cho gia đình , quê hơng
Sau đó, bọn mật thám đánh hơi của bọn chó săn ở làng nói :" Thằng Bình là
cháu ruột của ông chánh Huân, lý trởng Đức Thịnh" Tức tốc chúng về tại nhà lục
đập vỡ chum kiện và đánh đập ông Huân những trận đòn trọng yếu Ba tháng sau
ông chánh Huân chết, đám tang của ông đợc chi bộ Đảng tổ chức, nhân dân đa đón
đông đảo và thành kính
Tiếp đó Trần Cảnh Thuần, cháu đời thứ 15 của Trần Quý Khoáng, tham giahoạt động cách mạng rất nhiệt tình vào đầu năm 1930 Sau ngày 2 tháng 5 năm
1930, tổ chức Đảng ở Đức Thịnh bị lộ thì ông Trần Cảnh Thuần bị mật thám bắt đa
đi tù đày ở Lao Bảo, tra tấn tàn bạo và hy sinh ở đó vào năm 1938
Mặc dù Xô Viết Nghệ Tĩnh sau cùng đều bị quân thù dìm trong biển máu và
Trang 30tạm thời lắng xuống, nhng quân thù không thể ngăn cản nổi ảnh hởng xâu xa của
nó đến tiến trình Cách mạng và càng không thể ngăn cản tinh thần yêu nớc, ý chíkiên cờng, lòng tin vào thắng lợi của nhân dân Nghệ Tĩnh nói chung, cũng nh nhândân Lộc Đa - Đức Thịnh nói riêng Những tấm gơng chiến đấu, hi sinh của biết baongời trong phong trào cách mạng 1930 - 1931 và XôViết Nghệ Tĩnh, trong đó cónhững ngời con của dòng họ Trần mãi mãi đợc Tổ quốc ghi công và sống mãi tronglòng nhân dân ta
2.1 3 Thời hiện đại (1945- nay)
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thắng lợi thực sự đã phá tan xiềng xích củathực dân Pháp và ngai vàng phong kiến lập nên Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộnghòa, nhà nớc của nhân dân lao động Một cuộc đổi đời cha từng có của mỗi ngờiViệt Nam, từ thân phận nô lệ, bị trói buộc, dân ta đã trở thành ngời chủ đất nớc,làm chủ vận mệnh dân tộc
Mặc dù bản Tuyên ngôn Độc lập ngày mồng 2 tháng 9 đã tuyên bố quyềncon ngời, quyền dân tộc của Việt Nam và khẳng định trên thực tế nền độc lập củadân tộc Việt Nam Nhng với tham vọng thực dân, bất chấp những sự thật lịch sử,bất chấp sự phẫn nộ của nhân dân Việt Nam, ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dânPháp nổ súng xâm lợc Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lợc nớc ta lần thứhai Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ Nhân dân ta bớcvào cuộc kháng chiến trờng kỳ đầy gian khổ, hy sinh
Hởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh, nhân dân cáctỉnh đã hăng hái tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp ác liệt này.Thị xã Vinh là địa bàn chiến lợc của tỉnh Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ Tại thịxã Vinh thời điểm đó, số lợng quân Pháp không nhiều, chính vì vậy quân dân thị xãVinh nhanh chóng dành đợc một số thắng lợi nhất định Ta đã bắt đợc toàn bộ quânPháp ở Vinh, thu giữ nhiều vũ khí Chính những thắng lợi đầu tiên của thị xã Vinh
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã đánh bại âm mu "đánh nhanh, thắng nhanh" gópphần vào chiến công chung của cả nớc
Cuộc kháng chiến càng phát triển, trong lúc thực dân Pháp tiếp liên gặp thấtbại, thì càng cần đến sự đóng góp nhiều hơn về nhân tài, vật lực chi viện cho chiếntrờng Thực hiện Sắc lệnh Nghĩa vụ quân sự đợc Chính phủ ban hành (11/1949) tấtcả nam công dân tuổi từ 18 đến 45 đều phải lên đờng nhập ngũ Ngày 3 tháng 9năm 1949, Ban vận động tòng quân tỉnh Nghệ An ra lời hiệu triệu toàn dân lên đ-ờng nhập ngũ
Ngày 13 tháng 9 năm 1949, ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Nghệ Antiếp tục ra lời kêu gọi :
Trang 31Các bậc phụ lão! Với tinh thần phụ lão đời Trần, các cụ hãy thúc giục con cháu
tòng quân!
Các bà mẹ chiến sĩ! Lòng ái quốc của các bà đã đợc Hồ Chủ tịch khen ngợi, các
bà làm cho con em các bà thành những chiến sĩ tiên phong
Phụ nữ quyết không vớng gót nam nhi! Phụ nữ sẵn sàng đảm nhận mọi công tác hậu phơng thay thế cho chồng con ra mặt trận.
Tất thảy con dân Nghệ An phải sẵn sàng xông ra tiền tuyến, tất thảy đồng bào Nghệ An phải sẵn sang dốc toàn lực ra mặt trận [8]
Hớng về tuyền tuyến, nhân dân thị xã Vinh đã đóng góp tất cả sức ngời, sứccủa ủng hộ cho chiến trờng Ngay khi tiếng súng đang còn vang dội thì ở nhiềumiền quê nghèo, lớp lớp thanh niên đã tình nguyện ra đi để góp sức mình bảo vệ
đất nớc
Họ Trần ở Đức Thịnh cũng vậy, trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã có nhiều ngời tham gia vào phong trào chống Pháp, và có nhiều ngời hi sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu nh :
- Trần Cảnh Khoát : (thuộc cháu đời thứ 18, con ông Trần Cảnh Thuần)đi bộ
đội chống Pháp năm1946, vào Đảng Cộng Sản năm 1950, hy sinh ở sông
Chu-Thanh Hóa là liệt sĩ chống pháp
- Trần Xuân Hiếu : con ông Trần Xuân Chiêu (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), liệt sĩ chống Pháp năm 1950
- Trần Trung Nghệ : con ông Trần Trung Ngạn (thuộc cháu đời thứ 17 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội chống Pháp năm 1950
- Trần Duy Hữu (thuộc cháu đời thứ 17 của Trần Quý Khoáng) là con trai đầucủa ông Trần Duy Chí, đi bộ đội chống Pháp sau chuyển về công nhân nhà máy gỗ Vinh
- Trần Đình Cờng : con trai của ông Trần Đình Huy (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội chống Pháp năm 1949,vào Đảng năm 1954, đánh trận Điện Biên Phủ với cấp bậc Đại úy
- Trần Thức Tiến : con trai đầu của cụ cố Tân (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng) tham gia bộ đội chống Pháp
Trần Thị Bích Liễu họat động tiền khởi nghĩa vào Đảng cộng sản tháng 1 năm1946 tại Hà Nội, có nhiều hoạt động tích cực trong kháng chiến.[3]
Họ là một số ít trong tổng số những ngời ra chiến trờng đối mặt với bom đạn của kẻ thù, bất chấp sự nguy hiểm,cùng đồng đội góp sức vào sự nghiệp chống Pháp dành thắng lợi
Với chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, thực dân Pháp phải ký Hiệp định
Giơnevơ công nhận quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam, phải rút quân
về nớc Hoà bình đợc lập lại trên bán đảo Đông Dơng Một thời kỳ phát triển mới
Trang 32của đất nớc bắt đầu Trong niềm vui chiến thắng, Tổ quốc ta, nhân dân ta mãi mãi nhớ ơn những ngời con của dân tộc đã chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do Trong đó,
có cả những ngời con của dòng họ Trần ở Đức Thịnh, xã Hng Lộc, Vinh
* Kháng chiến chống Mỹ
Sau hiệp định Giơnevơ, đất nớc Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, miền Bắc
đợc giải phóng, còn miền Nam theo quy định của Hiệp định Giơnevơ lực lợng Liênhiệp Pháp tạm thời nắm quyền kiểm soát trong hai năm Nhng trong quá trình đó
đế quốc Mỹ đã gạt dần Pháp, độc chiếm miền Nam âm mu chia cắt lâu dài nớc ViệtNam, biến miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới Do đó, sự nghiệp giải phóngdân tộc thống nhất đất nớc cha hoàn thành Từ năm 1954 – 1975, Đế quốc Mỹ đãtiến hành cuộc chiến tranh xâm lợc thực dân mới ở Việt Nam bằng những thủ đoạnthâm độc, tàn bạo, với tất cả sức mạnh của một cờng quốc đứng đầu thế giới, “sứcmạnh Mỹ”
Sau môt quá trình thăm dò, ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ đã dùnglực lợng không quân hùng mạnh gồm hàng trăm máy bay phản lực hiện đại tập kíchthành phố Vinh Chúng bất ngờ đồng loạt tấn công, nhng đã gặp phải sự kháng cựquyết liệt của quân dân thành phố Vinh, chúng ta đã bắn rơi nhiều máy bay, bắt
sống nhiều giặc lái đã đợc Bác Hồ khen ngợi :"Vinh là thành phố đầu tiên bắn rơi
100 máy bay Mỹ Đó là một thắng lợi quang vinh Quân và dân thành phố Vinh còn làm tốt công tác phòng không nhân dân, ra sức khắc phục khó khăn thi đua sản xuất" Bác khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ thành phố Vinh Trong th bác
căn dặn :" Cần luôn luôn phát huy truyền thống Xô Viết Nghệ Tĩnh anh hùng, nêu
cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc, hăng hái thi dua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa" [7; 135].
Trong báo cáo sơ kết, Thành ủy đã khẳng định : " Dù rồi đây đế quốc Mỹ có
bắn phá thành phố Vinh ác liệt đến đâu, dù thiên nhiên, thời tiết có khắc nghiệt
đến mấy, Đảng bộ và quân dân thành phố Vinh cũng tuyệt đối tin tởng ở sự lãnh
đạo sáng suốt của Trung ơng Đảng và Hồ Chủ Tịch, ở sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, quyết nêu cao khi phách anh hùng, tinh thần Cách mạng triệt để, chỉ tiến không luì, tự lực tự cờng, trên t thế của ngời chiến thắng, quyết tâm lập nhiều thành tích vợt bậc, xứng đáng với cờ thởng của Bác, góp phần cùng toàn tỉnh, toàn quốc
đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lợc"[8].
Nhân dân miền Bắc cùng với nhân dân Nghệ Tĩnh và thành phố Vinh vừa sảnxuất để cung cấp đủ lơng thực, thực phẩm cho tiền tuyến, vừa chiến đấu chốngchiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa động viên thanh niên lên đờng nhập ngũ.Chính vì vậy, ở thành phố Vinh số lợng ngời tham gia vào quân đội ngày càngnhiều, trong đó có những ngời con của dòng họ Trần ở Đức Thịnh - Hng Lộc Họphải tạm xa gia đình rời quê hơng để lên đờng nhập ngũ, một số ngời đã hy sinh
Trang 33anh dũng trong chiến đấu, một số khác lại tiếp tục làm nhiệm vụ khi đất nớc hoàntoàn giải phóng (1975) Tiêu biểu nh :
- Trần Duy Nghĩa liệt sỹ chống Mỹ (thuộc cháu đời thứ 17 của Trần Quý Khoáng) con ông Trần Duy Kỳ
- Trần Xuân Huy liệt sỹ chống Mỹ (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), con ông Trần Xuân Quang
- Trần Tý con trai thứ của Trần Cảnh Loan (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), liệt sỹ chống Mỹ
- Trần Cảnh Hằng là con đầu của ông Trần Cảnh Hoạt (thuộc cháu đời thứ 19 của Trần Quý Khoáng) đi bộ đội chống Mỹ, tham gia chiến dịch 30 tháng 4 năm 1975 giải phóng Sài Gòn, thơng binh hạng 3/4
- Trần Trung Xin :con thứ 2 của Trần Trung Huân (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng),đi bô đội chống Mỹ 1963, tham gia chiến dịch 30/4/1975 thơng binh 4/4
- Trần Duy Toàn (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng) con đầu ông Trần Duy Tờng đi bộ đội chống Mỹ về, hiên đang là tộc trởng của dòng họ Trần tại Đức Thịnh
- Trần Duy Hợp (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng) con thứ 2 ông Trần Duy Tờng đi bộ đội chống Mỹ về
- Trần Duy Long con trai đầu của Trần Duy Lộc (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng) đi bộ đội chống Mỹ
- Trần Cảnh Phợng con ông Trần Cảnh Ôn (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng) đi bộ đội chống Mỹ năm 1966, cấp bậc đại úy, năm 1976 vào Đảng
- Trần Cảnh Tự, con thứ 5 của Trần Cảnh Ôn (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội - binh chủng quân y
- Trần Cảnh Phong con thứ 7 của Trần Cảnh Ôn (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội chống Mỹ với cấp bậc Trung úy
- Trần Cảnh Thịnh, con trai thứ 8 của Trần Cảnh Ôn (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), đi bộ chống Mỹ với cấp bậc Thiếu úy
- Trần Cảnh Lu con trai đầu của Trần Cảnh Dung (thuộc cháu đời thứ 19 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội chống Mỹ với cấp bậc Đại úy
- Trần Cảnh Ngạn con trai thứ của Trần Cảnh Uyên (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội chống Mỹ
- Trần Cảnh Biên, là con trai của ông Trần Cảnh Nhã (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng) học lái xe quân sự, vào quân đội nhân dân Việt Nam
- Trần Phú Khơng, con trai đầu của ông Trần Cảnh An (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội chống Mỹ - tiểu đội trởng binh chủng phòng không pháo binh
Trang 34- Trần Phúc Lơng (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), là con trai thứ của
ông Trần cảnh An đi bộ đội chống Mỹ, binh chủng Hải Quân
- Trần Nguyên Hợi : con trai thứ của Trần Nguyên Tục (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng) Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đi bộ đội chống Mỹ năm 1968
- Trần Khánh : con trai đầu của Trần Cảnh Loan (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng),đi bộ đội chống Mỹ cứu nớc về nghỉ hu tại Nghi Phú
- Trần Cảnh Nha con trai của ông Trần Cảnh Hồng (thuộc cháu đời thứ 18 của TrầnQuý Khoáng), đi bộ đội Hải quân - A trởng, trợ lý tác chiến
- Trần Đình Mão : con trai trởng của Trần Đình Hân (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng), đi bộ đội công A vũ Trang
- Trần Trung Khiêm : (thuộc cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng),con ông Trần Xuân Sinh, năm 1964 ông vào bộ đội chống Mỹ,
- Trần Trung Giao : con thứ của Trần Trung Huân (thuộc đời th 18 ), vào bộ đội chống Mỹ cứu nớc năm 1965 [3]
"Năm tháng sẽ trôi qua, nhng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nớc mãi mãi đợc ghi vào lịch sử dân tộc nh một trong những trang sử chói lọi" Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc của
nhân dân ta là thắng lợi oanh liệt nhất, vẻ vang nhất trong lịch sử chống ngoại xâmcủa dân tộc.Một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên cả nớc độc lập, thống nhất và
đi lên chủ nghĩa xã hội Hoà vào sự nghiệp cách mạng của cả nớc, các dòng họ ởNghệ An nói chung và dòng họ Trần ở Hng Lộc nói riêng luôn phát huy truyềnthống của cha ông kề vai sát cánh với nhân dân cả nớc để bảo vệ Tổ quốc Đã cóbiết bao ngời đã tham gia vào các cuộc kháng chiến, có nhiều ngời đã hy sinh,nhiều ngời trở về sau chiến tranh với những vết thơng còn in dấu Dù ở vị trí nào, c-
ơng vị nào, ai cũng làm tốt nhiệm vụ của mình, góp phần bảo vệ và xây dựng tổquốc, phát huy truyền thống yêu nớc của ông cha mình
Từ sau khi đất nớc độc lập, thống nhất cho đến nay, nhân dân ta lại tiếp tụccông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đi lên chủ nghĩa xã hội Những khó khăn,thách thức đặt ra trớc mắt chúng ta là hết sức nặng nề Nhng, dới sự lãnh đạo của
Đảng, phát huy truyền thống của dòng họ, nhiều con cháu họ Trần ở Đức Thịnh đã
đạt đợc những thành tích to lớn trong công tác, học tập Nhiều ngời đạt đợc học vịcao, đợc phân công ở những ngành nghề khác nhau, góp sức mình trong công cuộcbảo vệ đất nớc nh :
Bà Trần Thị Bích Liễu vốn con cháu đời thứ 17 của Trần Quý Khoáng vào
đảng tháng 1 năm 1946 tại Hà Nội, bà tốt nghiệp trờng ĐH tổng hợp khoa Lịch sử,công tác ở Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Hà Nội và là ngời đợc phân công viếtLịch sử Phụ nữ Hà Nội, xuất bản năm 1979
Trang 35ông Trần Trung Khiêm là con cháu đời thứ 18 của Trần Quý Khoáng Năm
1964, ông vào bộ đội chống Mỹ, đợc một năm thì đi học trung cấp quân y sauchuyên tu đại học để đa vào chiến trờng B5 - Quảng Trị Ông đã giữ chức vụ caotrong Đảng, là đảng ủy viên D204, chủ nhiệm quân y D204, giáo viên trờng y 325BThanh Hóa, giáo viên trờng y tá đoàn 200, đảng ủy thờng vụ thơng binh quân khu
4, cán bộ chuyên viên sở lao động thơng binh xã hội
Sau khi kháng chiến kết thúc thắng lợi, đất nớc hòa bình thống nhất, cả nớccùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Con cháu dòng họ Trần luôn chăm lo sảnxuất, nhiều ngời là chiến sĩ quân đội phục viên, là thơng binh, trở về góp sức xâydựng quê hơng, hăng hái góp sức mình để xây dựng đất nớc, con cháu dòng họTrần cùng con cháu các tộc họ khác trên quê hơng Xô Viết, tiếp nối truyền thốngcha ông nỗ lực học tập góp sức vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nớc ta
2.2 những đóng góp về văn hóa giáo dục
Cùng với lịch sử phát triển của sự nghiệp giáo dục, truyền thống hiếu học luôn
đợc các thế hệ Việt Nam xây dựng, kế thừa và phát huy qua mỗi thời đại Cũng nh các bà mẹ Việt Nam, các bà mẹ dòng họ Trần ở Đức Thịnh luôn có ý thức chăm lo việc đèn sách cho con ngay từ khi chúng mới sinh ra qua những lời ru :
Con ơi mẹ dạy con này
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm
Làm ngời đói sạch, rách thơm
Công danh là nợ nớc non phải đền.
Chính vì vậy, lớp lớp con cháu đã noi gơng tổ tiên, nối nghiệp thi th, sôi kinh nấu
sử, để trang bị cho mình nhiều tri thức và lập thân khoa bảng :
Làm trai có chí thì nên
Họ Trần đói khổ mà nghiền thi th
áo rách đổi lấy võng cờ
Nón mè đổi lấy lọng dù vua ban
Truyền thống hiếu học của dòng họ Trần ở Đức Thịnh - Hng Lộc đã đợc xây đắp vàphát triển theo các thời kỳ lịch sử, nhiều ngời đỗ đạt khoa bảng
Vào thế kỷ XV, vốn là con út của Trần Quý Khoáng, lúc lên 3 tuổi giặcMinh quấy phá khắp nơi, Trần Hoa đã đợc Sinh đồ Lê Văn Dơng quê ở KiềuThái( Hải Côn) nay là xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc nuôi đi học lớn lên làm quan
đời Lê với chức Đốc đồng Lôi Công
Tiếp đó là Trần Gia (cháu đời thứ 5 của Trần Qúy Khoáng) đậu Hơng cống
đợc bổ nhiệm làm quan với chức Tri phủ
Trần Tài, cháu Trần Gia (cháu chắt đời thứ 7), đậu Hơng cống khoa ất
Sửu-Đoan Khánh 1 (1505), đời Lê Uy Mục
Trần Miễn (cháu chắt đời thứ 7 của Trần Quý Khoáng), đậu Hơng cống khoa