Đề tài “Một số giải pháp giúp học sinh khối 5, trường Tiểu học ……………….học tốt quy trình vẽ biểu cảm” A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hội họa có một vai trò quan trọng trong cuộc sống hướng con người đi tìm cái đẹp.Từ lâu hội họa đã cuốn hút trẻ thơ với sức mạnh diệu kì của nó. Nhà điêu khắc nổi tiếng người Pháp OWiter Rodanh đã nói:Thế giới chỉ có được hạnh phúc khi mỗi người có một tâm hồn nghệ sĩ . Môn Mĩ thuật ở trường tiểu học trang bị cho học sinh những kiến thức ban đầu, cơ bản nhất góp phần từng bước hình thành khả năng cảm thụ cái đẹp,biết vận dụng cái đẹp vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày . Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh. Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy Mĩ thuật, phong trào học Mĩ thuật ngày càng sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng. Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn học không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy không ít giáo viên, học sinh và các bậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tư cho môn học. Qua đó các em thấy rằng Mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ cao và còn bổ trợ tích cực cho các môn học khác. Vì thế các em sẽ đón nhận tiết học một cách nhiệt tình và hào hứng không còn là sự bắt buộc hay gò bó nữa. Trong những năm 2002 2003 các địa phương trên toàn quốc nỗ lực tổ chức dạy học với chương trình và sách giáo khoa mới, môn Mĩ thuật được giảng dạy chính thức trong cả nước với quy định là môn học bắt buộc. Được sự quan tâm quản lý, chỉ đạo của các cấp, công tác giảng dạy ở trường Tiểu học đang từng bước ổn định và phát triển, chất lượng giáo viên cũng dần được nâng cao. Năm học 20142015, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo triển khai phương pháp dạy học Mĩ thuật mới sử dụng những quy trình Mĩ thuật của SAEPS ở tất cả các trường Tiểu học trên toàn quốc, là sự đúc kết những kinh nghiệm quý báu từ Vương quốc Đan Mạch và nền giáo dục nghệ thuật tiên tiến trên thế giới. Những quy trình Mĩ thuật theo phương pháp mới của SAEPS đều hướng tới mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức. Trong 7 quy trình Mĩ thuật thử nghiệm thì có một quy trình mà tôi rất tâm đắc đó là quy trình thứ 2: Vẽ biểu cảm – là một quy trình đòi hỏi ở các em khả năng quan sát, tư duy cao và cũng là mục tiêu để hình thành những kỹ năng cần thiết cho các em. Từ thực tế giảng dạy trong suốt những năm qua tôi nhận thấy rằng các em rất hứng thú với cách học mới này đặc biệt là với quy trình vẽ biểu cảm. Tuy nhiên cũng có nhiều vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hành của các em, sự thiếu tự tin, không mạnh dạn, không thể hiện bản thân mình vì có thể các em chưa thật sự hiểu vấn đề, lối vẽ chỉ quan sát mẫu mà không nhìn vào giấy, thoạt mới nghe qua có lẽ không riêng gì ở học sinh mà người lớn còn thấy lạ, và cho rằng không nhìn giấy thì sao vẽ được, và vẽ sẽ không ra gì, rất lộn xộn...Cho nên tôi luôn tìm cách làm sao để các em đến với những bài học sử dụng qui trình vẽ biểu cảm một cách nhẹ nhàng, thoải mái tự do thể hiện bản thân mình. Đó là lý do để tôi thực hiện đề tài “Một số giải pháp giúp học sinh khối lớp 5, trường Tiểu học ………. học tốt quy trình vẽ biểu cảm” theo phương pháp Mĩ thuật mới (dự án do Đan Mạch hỗ trợ). 1. Mục đích đề tài: Nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của cái đẹp để các em tiếp xúc và làm quen với cái đẹp, cảm thụ, yêu quý cái đẹp, biết vận dụng vào trong cuộc sống hàng ngày. Hỗ trợ các em ở các môn học khác giúp các em phát triển toàn diện, lâu dài về Đức trí thể mĩ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. a) Đối tượng nghiên cứu Học sinh Khối 5, trường ……………………… b) Cơ sở nghiên cứu Góp phần giúp học sinh có thói quen quan sát một cách tập trung và có tính sáng tạo, bài vẽ sinh động hơn thì tôi đã nghiên cứu và giới thiệu những biện pháp tích cực trong việc dạy học Mĩ thật. Thông qua các biện pháp này tôi có thể nâng cao kiến thức của bản thân và ý thức được việc nghiên cứu, tìm tòi phương pháp giảng dạy là một nhu cầu cũng như nhiệm vụ của mình. c) Nhiệm vụ nghiên cứu Đưa ra một số biện pháp để nhằm góp phần khắc phục khó khăn trong điều kiện thực tế ở địa phương và vẽ hình tự tin, biết cách sử dụng màu phù hợp, bố cục hợp lý nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc môn mĩ thuật ở tiểu học. Đồng thời, cho các em thấy được cái hay, cái đẹp, ngộ nghĩnh, đáng yêu của quy trình vẽ biểu cảm. 2. Phương pháp a) Các phương pháp nghiên cứu Phương pháp quan sát, vấn đáp, trắc nghiệm, phân tích. Rèn kĩ năng vẽ hình, vẽ màu. Trò chơi học tập. Liên hệ với thực tiễn cuộc sống.... b) Giới hạn của đề tài Chỉ nghiên cứu về rèn luyện kĩ năng vẽ hình tự tin, bố cục hợp lý tạo, màu sắc phong phú tạo ra một bức tranh đẹp trong bài vẽ cho học sinh lớp 5, trường Tiểu học ………………….. II. THỰC TRẠNG 1. Thuận lợi a. Quan điểm nhận thức về môn Mĩ thuật: Bản thân là một giáo viên trẻ,được đào tạo chuyên về môn Mĩ thuật, được tham gia các buổi tập huấn, tôi có nhiều điều kiện để tự học hỏi, tìm tòi và tiếp thu các phương pháp hay và mới lạ từ bạn bè đồng nghiệp, cộng với sự gắn bó với các em học sinh. Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật vui tươi, nhẹ nhàng, thu hút rất nhiều học sinh. Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy Mĩ thuật, phong trào học Mĩ thuật ngày càng một sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học và môn học đã được chú ý. Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn học nghệ thuật sáng tạo, vì vậy không ít giáo viên và học sinh, các bậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tư cho môn học. Qua đó các em thấy rằng Mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học bổ trợ tích cực cho các môn học khác.Vì thế các em đón nhận tiết học một cách nhiệt tình và hào hứng. b.Trang thiết bị dạy học: Để giảng dạy môn mĩ thuật trong chương trình đào tạo được thành công, điều này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như : tài liệu, phương tiện, đồ dùng trực quan, ....Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, giáo viên đã chuẩn bị các dụng cụ hỗ trợ một phần đồ dùng học tập của học sinh như: giấy vẽ, máy phát nhạc, sách tham khảo, một số tranh ảnh có liên quan đến bài học, ... 2. Khó khăn: a, Về nhận thức: Bên cạnh những thuận lợi như trên thì dạy và học môm Mĩ thuật vẫn còn gặp phải một số khó khăn như: + Chương trình dạy học Mĩ Thuật theo phương pháp Đan Mạch mới áp dụng nên các em còn lúng túng trong cách phân chia nhóm, cách quản lý nhóm của nhóm trưởng còn rụt rè... + Không chỉ học sinh mà giáo viên cũng còn bỡ ngỡ, chưa nắm chắc được các kiến thức trong 7 quy trình. + Do quan niệm của một số bậc phụ huynh, thiếu sự quan tâm học tập cho học sinh, còn chưa coi trọng môn học Mĩ thuật ... Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác chán nản, không tự tin khi học bài. Trên thực tế điều tra tôi còn thấy có giáo viên giảng dạy bộ môn về phương pháp sư phạm còn hạn chế, lời nói còn chưa hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, trình bày bảng còn vụng về, lúng túng không khoa học,... dẫn đến học sinh không lắng nghe, không tập trung tìm hiểu bài còn mơ hồ, không nắm được mục tiêu của bài học. Điều đó khiến cho các em không thích thú với bài học, thể hiện tác phẩm của mình qua loa, đại khái, vì thế không thấy được cái hay, cái đẹp và vận dụng vào cuộc sống hàng ngày. b. Trang thiết bị dạy, học: Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế không những em có hoàn cảnh còn khó khăn không chuẩn bị đủ đồ dùng học tập để phục vụ cho tiết học mà những em gia đình có điều kiện cũng không chuẩn bị đủ đồ dùng học tập cho các em, ví dụ: giấy A4, A3… Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần học tập của các em. Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như : chưa đầu tư về công nghệ thông tin, phòng học chức năng, chương trình dạy học mới chưa có đồ dùng dạy học đáp ứng đầy đủ cho giáo viên và học sinh, ... vì thế ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập và giảng dạy của giáo viên và học sinh. Vì vậy, là một giáo viên luôn tâm huyết với nghề tôi luôn tự học hỏi, tìm tòi, cố gắng nỗ lực hết mình để làm sao mang lại hiệu quả tốt nhất cho các em khi học bộ môn Mĩ thuật. Thói quen theo cách học vẽ từ trước nên khi áp dụng phương pháp học mới các em còn nhiều bỡ ngỡ. Vì thế trong quá trình giảng dạy, tôi luôn phải cố gắng chuẩn bị tốt các khâu để kích thích động viên học sinh thường xuyên, kịp thời để các em cảm thụ hình ảnh, phát huy tối đa năng khiếu của mình. Không chỉ với các em mà với bản thân tôi cũng thế khi tiếp cận và thực hiện cách học mới mà ở đây là cách vẽ biểu cảm tôi cũng còn nhiều vấn đề đặt ra, nên trong suốt quá trình dạy tôi luôn tìm tòi cùng các em khám phá, mạnh dạn thể hiện thì kết quả sẽ được như ý. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Nghị quyết số 29 – NQTW của ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa . Tiếp tục khẳng định đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phát triển hiện đại vào quá trình dạy học. Bộ môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học là một trong những môn học đặc trưng, không nhằm đào tạo hoạ sĩ tương lai hay tạo ra những người chuyên làm về công tác Mĩ thuật mà nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của cái đẹp để các em tiếp xúc và làm quen với cái đẹp, cảm thụ, yêu quý cái đẹp, biết vận dụng vào trong cuộc sống hàng ngày. Hỗ trợ các em ở các môn học khác giúp các em phát triển toàn diện, lâu dài về Đức trí thể mĩ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Trong xã hội phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao, do vậy việc đào tạo con người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quan trọng. Những năm qua giáo dục thẩm mĩ đã trở thành môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, là một môn học độc lập, môn Mĩ thuật có mục tiêu chương trình sách giáo khoa, sách hướng dẫn, thiết bị riêng cho dạy và học, giáo viên được đào tạo bài bản hơn, kết quả học tập của học sinh được theo dõi và kiểm tra, đánh giá thường xuyên một cách nghiêm túc. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật tiểu học nhằm đảm bảo cho các em có thể giải quyết được các bài tập hàng ngày và hiểu về cái đẹp của nền mĩ thuật truyền thống, ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả cao hơn các môn học khác. II. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN Quy trình vẽ biểu cảm là một trong bảy quy trình mĩ thuật thử nghiệm của dự án SAEPS. Đó là vẽ hình ảnh bằng sự quan sát kết hợp tay và mắt mà không nhìn vào giấy hướng tới hình vẽ mang tính biểu đạt cao. Những bức vẽ sẽ rất ấn tượng và đôi khi rất hài hước. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục đã đề ra cho bậc tiểu học, xác định rõ vai trò và mục tiêu giáo dục của bộ môn cũng thông qua thực tế giảng dạy áp dụng phương pháp mới giúp học sinh thực hiện tốt quy trình vẽ biểu cảm trong bộ môn Mĩ thuật tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau: Giải pháp 1: Khơi gợi lòng ham thích bộ môn Mĩ thuật, thay đổi suy nghĩ về cách học cho học sinh. Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích môn học, được vẽ tự do, sáng tạo theo cảm xúc của mình. Tuy nhiên vẫn có một số em rất thờ ơ, thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ học, điều này khiến cho tiết học trở nên nặng nề, không hứng thú. Vì vậy việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và hết sức cần thiết. Dựa vào tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nên trước thời gian thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm vẽ tiêu biểu của những hoạ sĩ nhí, của các bạn, những bức tranh dân gian Đông Hồ hết sức biểu cảm để các em xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể hiện tranh. Phân tích cho các em thấy được cái hay, cái đẹp, ngộ nghĩnh, đáng yêu của quy trình vẽ biểu cảm được thể hiện qua các tác phẩm, đó là sự tự do suy nghĩ kết hợp các giác quan, đó là sự trải nghiệm bản thân mình chứ không cóa khái niệm đúng hay sai, đẹp hay xấu, khơi gợi lòng ham thích bộ môn Mĩ thuật ,động viên các em ai cũng có thể vẽ, có thể bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình qua bài vẽ đường nét và cả màu sắc. Bên cạnh các bức vẽ biểu cảm thì giáo viên sẽ cho các em quan sát các bức vẽ chân dung theo cách vẽ truyền thống để các em có thể so sánh đường nét và màu sắc có sự khác biệt rõ ràng, bản chất của các em là con nít ưa màu sắc thích vui tươi, hài hước nên khi nhìn thấy hai bức vẽ chắc chắn các em sẽ thích vẽ biểu cảm ngay và muốn vẽ liền. Tuy nhiên để các em chắc chắn có thể vẽ được thì cần phải quan sát thật kỹ và quan sát như thế nào thì ở hoạt động tiếp theo các em sẽ nắm được. Ví dụ : Giáo viên giới thiệu những bài vẽ có đường nét ngộ nghĩnh, đáng yêu, tính biểu cảm nổi bật và bài vẽ chân dung theo truyền thống (nhìn giấy vẽ ) Phụ lục 1 : Tranh vẽ biểu cảm Phụ lục 2: Tranh vẽ truyền thống Việc quan trọng yêu cầu của mỗi tiết học là giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trực quan, trực quan phải đẹp, hấp dẫn, đặc biệt không quá trừu tượng để học sinh quan sát, để học sinh cảm nhận được cái đẹp, ngộ nghĩnh của quy trình vẽ biểu cảm và có hứng thú với bài học, muốn được thể hiện. Trong mỗi tiết học, giáo viên cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp để luôn luôn tạo được không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, tránh giờ học tẻ nhạt, khô cứng. Giáo dục Mĩ thuật kích thích mọi giác quan và kết hợp nhiều trải nghiệm của học sinh. Những trải nghiệm này chính là các yếu tố khởi đầu trong các quy trình dạy và học Mĩ thuật. Hình thức giao tiếp thông qua hình ảnh sẽ giúp học sinh mở rộng vốn ngôn ngữ của mình, đúng như câu ngạn ngữ Trung hoa: “ Nghe rồi sẽ quên, Nhìn rồi sẽ nhớ, Chỉ có tự làm mới hiểu ”. Hiểu về tâm lý và động viên, khuyến khích học sinh cố gắng trong học tập. Không áp đặt đòi hỏi quá cao đối với học sinh. Nên lấy động viên, khích lệ là chính, cố gắng tìm những ưu điểm dù là nhỏ nhất ở từng học sinh để kịp thời động viên, khen ngợi. Giáo viên cần phải hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, hiểu biết được mức độ cảm nhận của học sinh về thế giới xung quanh thông qua các bài học, luôn tôn trọng gần gũi học sinh, có tính kiên trì trong công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp thời đối với các em. Đặc biệt không nên chê các em trước mặt các bạn khác trong lớp điều đó sẽ làm cho các em thấy thiếu tự tin và không muốn làm để không bị chê. Giải pháp 2: Hình thành cho học sinh thói quen quan sát để từ đó áp dụng vào vẽ biểu cảm có hiệu quả. Tôi nhận thấy rằng để sử dụng phương pháp này thực sự có hiệu quả thì các em phải luôn có thói quen quan sát một cách tập trung và có tính sáng tạo, hình dung được các nét tự nhiên của vẽ biểu cảm. Ở đây, học sinh cần quan sát thật tập trung, khi vẽ chủ yếu sử dụng sự kết hợp mắt và tay. Các em cố gắng không nhìn vào giấy. Giáo viên chia sẻ ngay từ đầu với học sinh rằng, mục đích không phải vẽ cho giống y mẫu, mà chúng ta quan sát để ghi nhớ mẫu và truyền cảm xúc qua tay, thể hiện lên giấy, tạo ra bức vẽ ấn tượng và hài hước, có tính mới lạ và điều mà các em không làm được nếu vẽ nhìn giấy, đôi khi lại kích thích cho sự tò mò của các em. Ví dụ1: Bài vẽ chân dung biểu cảm Trước khi bắt đầu vẽ biểu cảm, tôi sẽ cho vài học sinh nhận xét về một số nét biểu cảm trên gương mặt của bạn mình như là: buồn, vui, ngạc nhiên, lo lắng .. Mỗi trạng thái cảm xúc đều cho các em tự phát hiện bằng nhưng câu hỏi cụ thể, Nhìn gương mặt em thấy bạn có tâm trạng gì? Tâm trạng đó thể hiện rõ trên bộ phận nào?khi thay đổi cảm xúc thì hình dạng của các bộ phận trên mặt ra sao?... Giáo viên chú ý giúp các em nhất là các em học yếu thiếu tự tin thì các em có thể quan sát nhiều lần, sau quan sát bằng mắt thì nhắm mắt lại hình dung ra khuôn mặt bạn, và quên thì lại quan sát cứ như thế nhiều lần thì các đường nét sẽ có thể tự tin hơn Phụ lục 3: Biểu cảm trên gương mặt : vui, giận, buồn Ví dụ 2 : Trong bài vẽ tĩnh vật lọ và quả: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách quan sát các vật mẫu như thế nào để giúp các em có thể ghi nhớ trong đầu mình những hình ảnh chính của lọ hoa và quả. Học sinh vẽ tập trung trong vòng 10 15 phút. Mắt của các em nhìn tới đâu thì tay cầm bút vẽ trên giấy theo các bộ phận mắt quan sát. Các em cố gắng không nhìn vào giấy và đưa nét vẽ liền mạch khi vẽ. Học sinh rất thích thú với hoạt động này và tham gia một cách hăng say. Trong không khí làm việc tập trung và đầy háo hức, các em đã thể hiện hết khả năng quan sát và trí tưởng tượng phong phú của mình, cùng với sự hỗ trợ kịp thời của cô giáo khi các em gặp khó khăn. Giải pháp 3 : Tổ chức các hoạt động học tập một cách hiệu quả. Chuẩn bị cho tiết dạy: Xác định rõ mục tiêu bài học, soạn giáo án kỹ lưỡng cho từng hoạt động, đảm bảo tất cả các học sinh đều hứng thú tham gia các hoạt động học tập. Giáo viên trực tiếp thao tác vẽ lên bảng cho cả lớp cùng quan sát, nắm được các bước thực hiện một cách cụ thể nhất. Để học sinh hiểu được thế nào là vẽ biểu cảm, đòi hỏi người giáo viên phải thực hành thị phạm cho học sinh quan sát. Trong tiết dạy tôi thường kết hợp vừa vẽ vừa hướng dẫn cho các em hiểu, chỉ cho các em biết cách đặt bút vẽ ở đâu, bắt đầu quan sát và vẽ như thế nào, đặt ra những câu hỏi gợi mở hướng các em tự suy nghĩ, tìm ra cách giải quyết vấn đề. Ví dụ : Bài vẽ chân dung Trước khi vẽ lên bảng cho học sinh quan sát tôi sẽ gọi một học sinh lên làm mẫu, hướng dẫn cho các em biết tôi sẽ quan sát bạn như thế nào, mặt bạn có hình dáng ra sao, tóc dài hay ngắn, những bộ phận trên khuôn mặt bạn nằm ở vị trí nào trên khuôn mặt…Tiếp đó tôi sẽ hướng dẫn các em nên đặt bút ở đâu trong khung giấy, tập trung sự chú ý của các em khi quan sát giáo viên thị phạm, mắt nhìn đến đâu tay vẽ đến đó, lưu ý là nét vẽ liền mạch. Phụ lục 4: Hình a: Giáo viên thị phạm Hình b: Vẽ nét liền mạch Tiếp theo đó đặt câu hỏi gợi mở, để học sinh biết cách vẽ thêm nét làm cho hình vẽ trở nên sinh động, và bộc lộ rõ tình cảm như: “ Em đoán xem nhân vật trong hình vui hay buồn? Làm sao để thể hiện rõ cảm xúc của nhân vật..” Hướng dẫn học sinh cách vẽ màu chú trọng đến những mảng màu tương phản, cường điệu về đường nét có tính chuyển động (nhiều nét cong lượn). Vui dùng màu gì và buồn dùng màu gì cho phù hợp. Để tiết kiệm giấy vẽ, tận dụng những đồ dùng có sẵn trong điều kiện học sinh của trường còn nhiều khó khăn, do đó việc chuẩn bị đồ dùng của các em đôi khi còn chưa đầy đủ, nếu thực hiện theo đúng hướng dẫn, mỗi tiết học vẽ biểu cảm mỗi học sinh cần dùng 5 tờ giấy để trải nghiệm vẽ không nhìn giấy sẽ gặp không ít khó khăn, để khắc phục điều đó tôi thường cho học sinh tận dụng vẽ trên bảng con dùng phấn vẽ hoặc vẽ trên giấy lịch cũ, vẽ lần lượt nhiều hình. Phụ lục 5: Học sinh vẽ bảng con Như vậy các em vừa trải nghiệm được hoạt động, vừa tiết kiệm được giấy vẽ, luôn chú ý có những câu hỏi cho các lần vẽ để các em thấy được quá trình thực hành, luyện tập thường xuyên sẽ cho ta kết quả tốt hơn. Câu hỏi mấu chốt: ( lần vẽ 1) • Đường nét nào mà em nhận thấy trên khuôn mặt ? • Nơi các đường nét của cổ và mặt gặp nhau ? • Có bao nhiêu đường nhận thấy trên mái tóc ? • Cổ tiếp nối với ngực và vai ở điểm nào ? • Đường nét nào nhận thấy ở áo quanh cổ và hai vai ? Câu hỏi mấu chốt: ( lần vẽ 2) • Bức tranh nào thực sự giống người em vẽ ? • Bức tranh nào đẹp, tại sao ? • Bức tranh lần 2 có đẹp hơn lần 1 ? Tại sao ? • Cảm xúc bao trùm bức tranh ? • Cảm xúc cá nhân ? Tại sao nhận ra điều đó ? • Bạn có thích cách vẽ này không, tại sao ? Sau đó các em có thể tự tin mà thể hiện thành một bài vẽ mà các em cho là tốt nhất . Tùy điều kiện thực tế mà giáo viên yêu cầu học sinh thể hiện màu sắc, chất liệu phù hợp để vẽ nhằm tăng tính biểu cảm. Với đặc thù trường tiểu học Nhơn Hội thì đa số các em học sáp màu, sáp dầu, rất ít dùng màu nước. Nên tôi đã khuyến khích để các em mạnh dạn sử dụng màu nước nhằm phát huy năng khiếu kịp thời cho ra những tác phẩm hóm hỉnh, trong trẻo, lạ mắt. Ở bước này giáo viên cần quan sát theo dõi mỗi bàn, gợi ý kịp thời để học sinh tạo ra được nhiều tác phẩm vui mắt, độc và lạ. Bên cạnh đó việc tô màu cho tranh chân dung biểu cảm thì các em còn có thể sáng tạo thêm ra kết hợp với giấy màu hay các vật liệu khác sao cho phù hợp.như giấy màu, sợi len, vãi..kích thích tự tìm tòi khám phá cho các em. Nét vẽ biểu cảm với màu sắc tự nhiên sẽ làm cho bài học thêm thú vị hơn. Phụ lục 6: Học sinh vẽ màu và kết hợp sáng tạo vật liệu khác Giải pháp 4: Tổ chức hoạt động trưng bày, nhận xét bài vẽ của học sinh sao cho thật lôi cuốn. Giáo viên nên sử dụng kĩ thuật phòng tranh để học sinh trưng bày sản phẩm, điều này sẽ giúp học sinh có thêm kinh nghiệm thực tế và hứng thú, yêu thích tác phẩm của mình và học hỏi từ sản phẩm của bạn. Học sinh thưởng thức, thảo luận và nhận xét, đánh giá kết quả học tập của nhau, trong quá trình nhận xét đánh giá, giáo viên khuyến khích sự giao lưu, trao đổi và gợi mở những ý tưởng tiếp theo cho bài học sau của học sinh. Giáo viên có thể hướng dẫn làm khung tranh để học sinh trang trí, tạo thành bức tranh đẹp để tặng bạn bè, người thân, trưng bày góc học tập,… Ví dụ: Trưng bày kết quả học tập vẽ chân dung biểu cảm Sau khi giáo viên cho học sinh trưng bày sản phẩm lên bảng, cho 2 học sinh đóng vai phóng viên, tổ chức cuộc phỏng vấn buổi triển lãm. Như vậy học sinh sẽ được thoải mái hỏi – đáp về những “ tác phẩm” của các bạn Phụ lục 7: Học sinh trưng bày sản phẩm Tiếp đó giáo viên tổ chức bình chọn những tác phẩm được thể hiện có cảm xúc, đường nét, màu sắc ấn tượng thể hiện được đặc điểm nổi bậc nhất của nhân vật …. Phụ lục 8: Tổ chức bình chọn tác phẩm III. HIỆU QUẢ Qua thời gian giảng dạy được áp dụng những phương pháp mới trong soạn và giảng, với sáng tạo của thầy và họat động tích cực của học sinh cùng với một số phương pháp tổ chức hợp lý, bản thân tôi nhận thấy kết quả đạt được một cách rất tích cực với tỷ lệ học sinh yêu thích môn học Mĩ thuật, tự tin thể hiện, bộc lộ được cảm xúc qua tranh vẽ, hoàn thành được bài vẽ ngay tại lớp, thúc đẩy hứng thú học tập đạt những yêu cầu cụ thể là rất khả quan, điều đó chứng tỏ thành tích đạt được qua trải nghiệm hoàn toàn có sức thuyết phục. Những con số biểu hiện trong bảng thống kê dưới đây đã nói rất rõ điều đó: Phụ lục 8: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm thời điểm đầu năm học Phụ lục 9: Kết quả học kì I năm học 2018 2019 Phụ lục 10: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm thời điểm đầu năm học và cuối học kì II BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH BÀI VẼ BIỂU CẢM THỜI ĐIỂM ĐẦU NĂM HỌC VÀ CUỐI HKII NĂM HỌC : 2018– 2019 Lớp Sĩ số ĐẦU NĂM HỌC CUỐI HKII Hoàn thành tốt Tỉ lệ % Hoàn thành Tỉ lệ % Hoàn thành tốt Tỉ lệ % Hoàn thành Tỉ lệ % 5A 23 5 21,7 18 78,3 12 52,8 11 47,2 5B 29 8 27,6 21 72,4 14 48,8 15 51,2 5C 29 10 34,5 20 65,5 15 51,7 14 48,3 5D 11 3 27,3 8 72,7 6 54,4 5 45,6 5E 25 6 24 19 76 10 40 15 60 Với kết quả như trên, tôi thấy việc dạy học Mĩ thuật muốn có kết quả giảng dạy cao thì người thầy phải không ngừng tìm tòi và đổi mới phương pháp dạy học, để tạo được cách dạy lấy học sinh làm trung tâm cho bài dạy, giáo viên chỉ đóng vai trò là những người thúc đẩy, biết cần phải thêm chất xúc tác gì vào nước tưới để giúp những cây non đó phát triển. Thông qua môn Mĩ thuật, sẽ trang bị cho các em một số kiến thức, kỹ năng cơ bản về hội họa, tiếp thu những tinh hoa của nền Mĩ thuật dân tộc. Từ đó, phát huy óc sáng tạo và tính thẩm mỹ góp phần phát triển năng khiếu, phát hiện tài năng và bồi dưỡng nhân tài cho thế hệ tương lai. Với kết quả này, mỗi chúng ta cũng không lấy đó làm bằng lòng để rồi dừng ở đó. Theo tôi đã là giáo viên thì việc học hỏi, tìm tòi và sáng tạo trong cách dạy là một nhiệm vụ mỗi ngày của người thầy, hoạt động đó phải được diễn ra thường xuyên có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đối với môn Mĩ thuật và đặc biệt có thể tạo điều kiện cho học sinh vững vàng bước vào chương trình Mĩ thuật ở bậc Trung học cơ sở. Sau khi áp dụng các giải pháp trên vào thực tế giảng dạy. Kết quả thu được thật đáng khích lệ, không còn học sinh xếp loại chưa hoàn thành nữa, mà tỷ lệ ở mức hoàn thành và hoàn thành tốt rất cao. Đạt 100% vượt chỉ tiêu nhà trường giao . Ngoài những kết quả trên, điều làm tôi cảm thấy thành công nhất là sự hứng thú học tập, sự tích cực khi tham gia các hoạt động và nụ cười rạng rỡ của các em khi hoàn thành sản phẩm. C. KẾT LUẬN Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, kết quả của nó là kết quả của cảm xúc, chứ không đơn giản là kỹ thuật hay kỹ năng. Muốn tạo ra cái đẹp, học sinh phải có cảm xúc, cảm xúc phải xuất phát từ sự rung động của học sinh trước vẻ đẹp của đối tượng cùng với phương pháp giảng dạy hấp dẫn, lôi cuốn của giáo viên. Cái đẹp phù hợp với cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của mỗi học sinh. Trẻ em có cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận riêng, không giống cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của người lớn. Qua quá trình áp dụng phương pháp dạy học Mĩ thuật mới, tôi nhận thấy cái hay của phương pháp này là đặt người học vào vị trí chủ động phải tìm hiểu vấn đề và tìm ra cách giải quyết hiệu quả, sáng tạo nhất. Việc đánh giá học sinh cũng không còn bị đặt quá nặng vào sản phẩm của các em mà nó được đánh giá dựa trên cả quá trình mà các em tham gia. Đây là một chương trình giáo dục Mĩ thuật Tiểu học năng động, phát huy, rèn luyện được nhiều kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng sống. Giáo viên cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình, nhà trường có thể tổ chức triển lãm, trưng bày sản phẩm của học sinh vào các ngày sinh hoạt tập thể. I. PHẠM VI ỨNG DỤNG Học sinh khối 5, trường Tiểu học ……………... II. Ý NGHĨA Xuất phát từ mục tiêu giáo dục toàn diện cho đất nước, từ nhiệm vụ phải giáo dục thẩm mĩ cho thế hệ trẻ để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc giảng dạy Mĩ thuật nhằm mục tiêu giáo dục con người có một tầm quan trọng trong các trường phổ thông nói chung và cấp Tiểu học nói riêng. Phụ lục 11: Kế hoạch bài dạy minh họa theo quy trình vẽ biểu cảm lớp 5 TÀI LIỆU THAM KHẢO Phương pháp giảng dạy Mĩ thuật (Nhà xuất bản Giáo dục ) Sách Dạy Mĩ thuật lớp 5 ( Bộ giáo dục và đào tạo ) Tài liệu dạy học mĩ thuật ( Dự án hỗ trợ giáo dục mĩ thuật Tiểu học Saeps ) Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học ( Bộ giáo dục và đào tạo ) HIỆU TRƯỞNG …….., ngày 10 tháng 5 năm 2019 Người viết . PHỤ LỤC Phụ lục 1 : Tranh vẽ biểu cảm Phụ lục 2: Tranh vẽ truyền thống Phụ lục 3: Biểu cảm trên gương mặt : vui, giận, buồn Phụ lục 4: Hình a: Giáo viên thị phạm Hình b: Vẽ nét liền mạch Hình a Hình b Phụ lục 5: Học sinh vẽ bảng con Phụ lục 6: Học sinh vẽ màu và kết hợp sáng tạo vật liệu khác Phụ lục 7: Học sinh trưng bày sản phẩm Phụ lục 8: Tổ chức bình chọn tác phẩm Phụ lục 8: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm thời điểm đầu năm học BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH BÀI VẼ BIỂU CẢM THỜI ĐIỂM ĐẦU NĂM HỌC NĂM HỌC : 2018 – 2019 (Khi chưa áp dụng phương pháp Đan Mạch) Lớp Tổng số học sinh Tự tin thể hiện, thể hiện được cảm xúc. Vẽ rập khuôn, thiếu tự tin Hoàn thành bài tại lớp Chưa hoàn thành bài tại lớp SL % SL % SL % SL % 5A 23 5 21,2 11 47,8 17 73,9 6 26.1 5B 29 8 27,6 13 44,8 21 72,4 8 27,6 5C 29 10 34,5 9 31 22 75,8 7 24,2 5D 11 3 27,3 5 45,5 7 63,6 4 36,4 5E 25 6 24 8 32 18 72 7 28 Phụ lục 9: Kết quả học kì I năm học 2018 2019 KẾT QUẢ HỌC KÌ I NĂM HỌC 2018 2019 (Sau khi đã áp dụng phương pháp mĩ thuật Đan Mạch) Lớp Tổng số học sinh Tự tin thể hiện, thể hiện được cảm xúc. Vẽ rập khuôn, thiếu tự tin Hoàn thành bài tại lớp Chưa hoàn thành bài tại lớp SL % SL % SL % SL % 5A 23 18 78,3 5 21,7 23 100 0 0 5B 29 22 75,7 7 24,3 29 100 0 0 5C 29 23 79,3 6 20,7 29 100 0 0 5D 11 7 63,6 5 36,4 11 100 0 0 5E 25 19 76 6 24 25 100 0 0 Phụ lục 10: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm thời điểm đầu năm học và cuối học kì II BẢNG SO SÁNH KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH BÀI VẼ BIỂU CẢM THỜI ĐIỂM ĐẦU NĂM HỌC VÀ CUỐI HKII NĂM HỌC : 2018– 2019 Lớp Sĩ số ĐẦU NĂM HỌC CUỐI HKII Hoàn thành tốt Tỉ lệ % Hoàn thành Tỉ lệ % Hoàn thành tốt Tỉ lệ % Hoàn thành Tỉ lệ % 5A 23 5 21,7 18 78,3 12 52,8 11 47,2 5B 29 8 27,6 21 72,4 14 48,8 15 51,2 5C 29 10 34,5 20 65,5 15 51,7 14 48,3 5D 11 3 27,3 8 72,7 6 54,4 5 45,6 5E 25 6 24 19 76 10 40 15 60 Phụ lục 11: Kế hoạch bài dạy minh họa theo quy trình vẽ biểu cảm lớp 5 • Kế hoạch bài dạy hoàn chỉnh : __TUẦN 1__ Ngày soạn: .................. Ngày dạy: ................... CHỦ ĐỀ 1 (2 tiết) CHÂN DUNG TỰ HỌA (Tiết 1) I. MỤC TIÊU: Kiến thức: HS nhận ra đặc điểm riêng, sự cân đối của các bộ phận trên khuôn mặt. Kĩ năng: HS thể hiện được tranh chân dung tự họa bằng nhiều hình thức và các chất liệu khác nhau. II. CHUẨN BỊ: 1. Đồ dùng: Giáo viên: Sách học MT lớp 5, tranh chân dung phù hợp nội dung chủ đề. Sản phẩm của HS về tranh chân dung tự họa. Học sinh: Sách học MT lớp 5. Màu, giấy, keo, bìa gương, ảnh chân dung, vải, sợi len, hoa, lá... 2. Quy trình thực hiện: Sử dụng quy trình: Vẽ biểu cảm. 3. Hình thức tổ chức: Hoạt động cá nhân. Hoạt động nhóm. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠYHỌC: Hoạt động của GV Hoạt động của HS 1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG: Tổ chức cho HS chơi trò chơi: Đoán tâm trạng qua biểu hiện trên khuôn mặt. GV nhận xét, giới thiệu chủ đề. 2. HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU Mục tiêu: + HS hiểu được khái niệm tranh chân dung tự họa là gì và biết được các bộ phận trên khuôn mặt con người. + HS nắm được nội dung, màu sắc, chất liệu có thể thực hiện bức tranh chân dung tự họa. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Tổ chức HS hoạt động theo nhóm. Yêu cầu HS quan sát hình 1.1 sách Học MT để tìm hiểu về tranh chân dung tự họa và cách vẽ tranh chân dung tự họa qua các câu hỏi gợi mở. GV tóm tắt: + Tranh chân dung tự họa có thể được vẽ theo quan sát qua gương mặt hoặc vẽ theo trí nhớ nhằm thể hiện đặc điểm của khuôn mặt và biểu đạt cảm xúc của người vẽ. + Khuôn mặt người bao gồm các bộ phận: Mắt, mũi, miệng, tai nằm đối xứng với nhau qua trục dọc chính giữa khuôn mặt. + Tranh chân dung tự họa có thể vẽ khuôn mặt, nửa người hoặc cả người và thể hiện bằng nhiều hình thức, chất liệu. + Tranh chân dung tự họa có bố cục cân đối, màu sắc hài hòa, kết hợp đậm nhạt để biểu đạt được cảm xúc của nhân vật. 3. HOẠT ĐỘNG 2: CÁCH THỰC HIỆN Mục tiêu: + HS tìm hiểu, nêu được cách vẽ chân dung tự họa theo ý hiểu của mình. + HS nắm được các bước vẽ tranh chân dung tự họa. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Yêu cầu HS thảo luận tìm ra cách thể hiện tranh chân dung tự họa phù hợp qua một số câu hỏi gợi mở. Yêu cầu HS quan sát hình 1.2 và thảo luận nhóm để tìm hiểu cách vẽ tranh chân dung tự họa. Yêu cầu HS tham khảo hình 1.3 để có thêm ý tưởng tạo hình cho bức tranh chân dung chân dung tự họa của mình. GV tóm tắt, minh họa trực tiếp: + Vẽ phác hình khuôn mặt. + Vẽ các bộ phận. + Vẽ màu hoàn thiện bài. 4. HOẠT ĐỘNG 3: THỰC HÀNH Mục tiêu: + HS vẽ được tranh chân dung tự họa. + HS hoàn thành được bài tập. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Tổ chức HS hoạt động cá nhân. Yêu cầu HS vẽ chân dung tự họa bằng các chất liệu tự chọn. Quan sát, động viên HS hoàn thành bài vẽ. HS chơi theo hướng dẫn của GV Lắng nghe, mở bài học Hiểu khái niệm tranh chân dung tự họa và biết được các bộ phận trên khuôn mặt con người. Nắm được nội dung, màu sắc, chất liệu có thể thực hiện bức tranh chân dung tự họa Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. Hoạt động nhóm Quan sát, thảo luận nhóm, báo cáo kết quả thảo luận của nhóm mình. Ghi nhớ Lắng nghe, tiếp thu Tiếp thu Có thể vẽ màu, xé cắt dán bằng giấy màu, vải, đất nặn... Tiếp thu Nêu được cách vẽ chân dung tự họa theo ý hiểu của mình. Nắm được các bước vẽ tranh chân dung tự họa. Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. Thảo luận, trả lời Quan sát, thảo luận nhóm và báo cáo Quan sát, tìm ra thêm ý tưởng hay cho bài vẽ của mình. Quan sát, tiếp thu cách làm Vuông, tròn, trái xoan... Mắt, mũi, miệng, tóc... Theo ý thích Hiểu công việc của mình phải làm Hoàn thành được bài tập trên lớp Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. Vẽ cá nhân Thể hiện chân dung tự họa bằng chất liệu tự chọn. Thực hiện Dặn dò: Nhắc nhở HS bảo quản sản phẩm đã làm được trong Tiết 1 để tiết sau hoàn thiện thêm cho trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập cho Tiết 2. __TUẦN 2__ CHỦ ĐỀ 1: CHÂN DUNG TỰ HỌA (Tiết 2) I. MỤC TIÊU: Kĩ năng: HS thể hiện được tranh chân dung tự họa bằng nhiều hình thức và các chất liệu khác nhau. Thái độ: HS giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn. II. CHUẨN BỊ: 1. Đồ dùng: Giáo viên: Sách học MT lớp 5, tranh chân dung phù hợp nội dung chủ đề. Sản phẩm của HS về tranh chân dung tự họa. Học sinh: Sách học MT lớp 5. Sản phẩm của Tiết 1. Màu, giấy, keo, bìa gương, ảnh chân dung, vải, sợi len, hoa, lá... 2. Quy trình thực hiện: Sử dụng quy trình: Vẽ biểu cảm. 3. Hình thức tổ chức: Hoạt động cá nhân. Hoạt động nhóm. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠYHỌC: Hoạt động của GV Hoạt động của HS KHỞI ĐỘNG: GV kiểm tra sự chuẩn bị ĐDHT của HS. Kiểm tra sản phẩm của HS trong Tiết 1. Tổ chức cho HS tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của Tiết 1. 5. HOẠT ĐỘNG 4: TRƯNG BÀY, GIỚI THIỆU SẢN PHẨM Mục tiêu: + HS trưng bày, giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Tổ chức cho HS trưng bày sản phẩm. Hướng dẫn HS thuyết trình sản phẩm của nhóm mình. Đặt câu hỏi gợi mở giúp HS khắc sâu kiến thức, phát triển kĩ năng thuyết trình: + Em thấy bức chân dung nào được vẽ giống tác giả nhất? + Em có nhận xét gì về bố cục, màu sắc trong sản phẩm của mình, của bạn? + Em hãy giới thiệu về bản thân mình? + Em hãy mời tác giả bức tranh chân dung mà em thích lên chia sẻ về tác phẩm? Nhận định kết quả học tập của HS, tuyên dương, rút kinh nghiệm. ĐÁNH GIÁ: Hướng dẫn HS đánh dấu tích vào vở sau khi nghe nhận xét của GV. GV đánh dấu tích vào vở của HS. Đánh giá tiết học, khen ngợi HS tích cực. VẬN DỤNG SÁNG TẠO: Gợi ý HS tạo hình chân dung người thân bằng các chất liệu khác. Trình bày đồ dùng HT Trình bày sản phẩm Thực hiện Trưng bày, giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn. Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. Trưng bày sản phẩm HS khác tham gia đặt câu hỏi chia sẻ, trình bày cảm xúc, học tập lẫn nhau... Trả lời, khắc sâu kiến thức bài học 1, 2 HS Trả lời 1, 2 HS 1, 2 HS Rút kinh nghiệm Đánh dấu tích vào vở của mình Ghi lời nhận xét của GV vào vở Phát huy Có thể tạo một hoặc vài chân dung trong một tranh, bằng các chất liệu khác. Dặn dò: Chuẩn bị đồ dùng cho chủ đề: SỰ LIÊN KẾT THÚ VỊ CỦA CÁC HÌNH KHỐI. Quan sát các đồ vật xem nó có dạng khối gì. Chuẩn bị đầy đủ: Giấy màu, màu vẽ, keo dán, bìa, một số vật liệu chai, lọ,… Rút kinh nghiệm: ................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................ Ngày soạn: .................. Ngày dạy: ................... __TUẦN 29__ Mĩ thuật CHỦ ĐỀ 11: VẼ BIỂU CẢM CÁC ĐỒ VẬT (2tiết) (Tiết 1) I. MỤC TIÊU: Kiến thức: HS nhận biết được đặc điểm về hình dáng, màu sắc của các đồ vật. Kĩ năng: HS vẽ được tranh biểu cảm đồ vật. II. CHUẨN BỊ: 1. Đồ dùng: Giáo viên: Sách học MT lớp 5, tranh vẽ biểu cảm các đồ vật. Mẫu vẽ: bình nước, ấm tích, chai, lọ hoa, ca, cốc... Hình minh họa cách vẽ biểu cảm các đồ vật. Học sinh: Sách học MT lớp 5. Giấy vẽ, màu vẽ, bút chì... Một số đồ vật như bình đựng nước, ca, cốc, chai, lọ hoa, trái cây... để vẽ nhóm. 2. Quy trình thực hiện: Sử dụng quy trình: Vẽ biểu cảm. 3. Hình thức tổ chức: Hoạt động cá nhân. Hoạt động nhóm. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠYHỌC: Hoạt động của GV Hoạt động của HS 1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG: Tổ chức cho HS chơi trò chơi: “Bịt mắt đoán tên đồ vật”. GV nhận xét, giới thiệu chủ đề. 2. HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU Mục tiêu: + HS hiểu nội dung chủ đề. + HS biết được cách sắp xếp hình ảnh, cách vẽ màu cho bức tranh vẽ biểu cảm đồ vật. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Tổ chức HS hoạt động theo nhóm. Yêu cầu HS quan sát hình 11.1 hoặc hình minh họa đã chuẩn bị và nêu câu hỏi gợi mở để các em thảo luận tìm hiểu về vẻ đẹp của tranh tĩnh vật. Yêu cầu HS quan sát hình 11.2 và 11.3 để tìm hiểu cách sắp xếp hình ảnh, tạo hình, vẽ màu cho tranh vẽ biểu cảm đồ vật. GV tóm tắt: + Tranh biểu cảm đồ vật diễn tả cảm xúc của người vẽ thông qua đường nét và màu sắc. + Những đường nét, màu sắc được vẽ cách điệu theo cảm xúc của người vẽ tạo nên vẻ đẹp ấn tượng cho bức tranh. 3. HOẠT ĐỘNG 2: CÁCH THỰC HIỆN Mục tiêu: + HS tìm hiểu mẫu vẽ và nêu được cách vẽ tranh biểu cảm đồ vật theo cảm nhận riêng. + HS nắm được các bước thực hiện vẽ tranh biểu cảm đồ vật. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Tổ chức cho HS bày mẫu vẽ. Yêu cầu HS quan sát các vật mẫu để nhận ra hình dáng, đặc điểm, màu sắc của các vật mẫu. Yêu cầu HS nêu cách vẽ biểu cảm. Yêu cầu HS quan sát hình 11.4 để tham khảo cách vẽ biểu cảm đồ vật. GV tóm tắt cách vẽ biểu cảm đồ vật: + Mắt tập trung quan sát hình dáng, đặc điểm của mẫu, tay vẽ vào giấy. Mắt quan sát đến đâu, tay vẽ đến đó. Mắt không nhìn giấy, tay đưa bút vẽ liên tục không nhấc lên khỏi giấy trong cả quá trình vẽ. + Vẽ thêm các nét biểu cảm, có thể theo chiều dọc, ngang...theo cảm xúc. + Vẽ màu vào các đồ vật. Cho HS tham khảo một số hình ảnh sản phẩm đã chuẩn bị để các em có thêm ý tưởng thực hiện. 4. HOẠT ĐỘNG 3: THỰC HÀNH Mục tiêu: + HS hiểu và nắm được công việc phải làm. + HS hoàn thành được bài tập. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Tổ chức cho HS thực hành vẽ cá nhân: + Yêu cầu HS quan sát mẫu, vẽ không nhìn vào giấy. + Vẽ thêm các nét theo cảm xúc + Vẽ màu biểu cảm theo ý thích GV tiến hành cho HS vẽ biểu cảm đồ vật. HS chơi theo sự hướng dẫn của GV, chọn ra đội thắng cuộc. Lắng nghe, mở bài học Hiểu nội dung chủ đề Biết được cách sắp xếp hình ảnh, cách vẽ màu cho bức tranh vẽ biểu cảm đồ vật. Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. Hoạt động nhóm Quan sát tranh, thảo luận nhóm tìm hiểu vẻ đẹp của tranh tĩnh vật và cử đại diện báo cáo. Quan sát, tìm hiểu cách sắp xếp hình ảnh, tạo hình và vẽ màu cho tranh biểu cảm đồ vật. Ghi nhớ Có tính biểu cảm cao thông qua đường nét vẽ, màu sắc. Những nét vẽ không nhìn giấy sẽ rất thú vị, mềm mại và biểu cảm, tạo nên sự ấn tượng đặc biệt của tranh. Nêu được cách vẽ tranh biểu cảm đồ vật theo cảm nhận riêng. Nắm được các bước thực hiện vẽ tranh biểu cảm đồ vật. Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. HS bày mẫu theo gợi ý của GV Quan sát, thảo luận và báo cáo kết quả. 1, 2 HS nêu theo ý hiểu của mình Quan sát, học tập Lắng nghe, tiếp thu Quan sát kĩ mẫu vẽ để nắm được hình dáng, đặc điểm nổi bật của đồ vật, kết hợp đưa nét vẽ liền mạch và không nhìn xuống giấy vẽ. Các nét biểu cảm thêm vào để trang trí cho đồ vật đẹp hơn, biểu cảm hơn. Sử dụng màu tương phản cho nổi bật Quan sát, học tập, áp dụng vào cho sản phẩm của mình. Hiểu công việc của mình phải làm Hoàn thành được bài tập trên lớp Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. Làm việc cá nhân Quan sát kĩ mẫu vẽ để bắt được đặc điểm nổi bật của đồ vật. Nét dọc, ngang; nét bo tròn... Rõ đậm nhạt, sáng tối, nóng lạnh... HĐ cá nhân. Dặn dò: Nhắc nhở, dặn dò HS bảo quản sản phẩm đã làm được trong Tiết 1 để tiết sau hoàn thiện thêm và trưng bày và giới thiệu sản phẩm. Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập cho Tiết 2. Rút kinh nghiệm: ................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... Ngày soạn: .................. Ngày dạy: ................... __TUẦN 30__ Mĩ thuật CHỦ ĐỀ 1: VẼ BIỂU CẢM CÁC ĐỒ VẬT (Tiết 2) I. MỤC TIÊU: Thái độ: HS giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn. II. CHUẨN BỊ: 1. Đồ dùng: Giáo viên: Sách học MT lớp 5. Mẫu vẽ: bình nước, ấm tích, chai, lọ hoa, ca, cốc... Sản phẩm của HS lớp trước. Học sinh: Sách học MT lớp 5. Giấy vẽ, màu vẽ, bút chì... Sản phẩm của Tiết 1. 2. Quy trình thực hiện: Sử dụng quy trình: Vẽ biểu cảm. 3. Hình thức tổ chức: Hoạt động cá nhân. Hoạt động nhóm. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠYHỌC: Hoạt động của GV Hoạt động của HS KHỞI ĐỘNG: GV kiểm tra sự chuẩn bị ĐDHT của HS cho tiết học. Kiểm tra sản phẩm của Tiết 1. Cho HS tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của Tiết 1. 5. HOẠT ĐỘNG 4: TRƯNG BÀY, GIỚI THIỆU SẢN PHẨM Mục tiêu: + HS trưng bày, giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn. + HS tập trung, nắm bắt được kiến thức cần đạt trong hoạt động này. Tiến trình của hoạt động: Tổ chức cho HS trưng bày sản phẩm. Hướng dẫn HS thuyết trình sản phẩm của mình. Gợi ý HS khác tham gia đặt câu hỏi để cùng chia sẻ, học tập lẫn nhau. Đặt câu hỏi gợi mở giúp HS khắc sâu kiến thức, phát triển kĩ năng thuyết trình: + Em có cảm nhận gì sau khi tham gia vẽ biểu cảm các đồ vật? + Em thấy trên các bài vẽ của em và các bạn đã thể hiện được các đường nét và màu sắc biểu cảm chưa? Các đường nét và màu sắc đó được thể hiện như thế nào? Nhận định kết quả học tập của HS, tuyên dương, rút kinh nghiệm. ĐÁNH GIÁ: Hướng dẫn HS đánh dấu tích vào vở sau khi nghe nhận xét của GV. GV đánh dấu tích vào vở của HS. Đánh giá giờ học, động viên khen ngợi HS tích cực học tập. VẬN DỤNG SÁNG TẠO: Gợi ý HS vẽ một đồ vật theo trí tưởng tượng, quan sát mẫu hoặc vẽ theo trí nhớ dưới hình thức không nhìn giấy. Trình bày đồ dùng HT. Trình bày sản phẩm của mình. Thực hiện nhóm. Trưng bày, giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn. Tập trung, ghi nhớ kiến thức của hoạt động. Trưng bày sản phẩm Tự giới thiệu về bài của mình, HS khác đặt câu hỏi chia sẻ, học tập lẫn nhau... Trả lời, khắc sâu ghi nhớ kiến thức bài học. 1, 2 HS trả lời. HS nêu. Lắng nghe, rút kinh nghiệm Đánh dấu tích vào vở của mình Ghi lời nhận xét của GV vào vở Phát huy Thực hiện vẽ ở nhà theo sự gợi ý của GV, dùng trang trí lớp học, góc học tập... Dặn dò: Chuẩn bị đồ dùng cho chủ đề: THỬ NGHIỆM VÀ SÁNG TẠO VỚI CÁC CHẤT LIỆU. Quan sát và sưu tầm tranh, ảnh phù hợp với nội dung chủ đề. Chuẩn bị đầy đủ: Giấy vẽ, giấy màu, màu vẽ, bút chì, đất nặn, keo, kéo, các vật tìm được: Vải vụn, lá cây, đá, sỏi, dây, vỏ sò, rơm... Rút kinh nghiệm: ................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................ TÀI LIỆU THAM KHẢO Phương pháp giảng dạy Mĩ thuật (Nhà xuất bản Giáo dục ) Sách Dạy Mĩ thuật lớp 5 ( Bộ giáo dục và đào tạo ) Tài liệu dạy học mĩ thuật ( Dự án hỗ trợ giáo dục mĩ thuật Tiểu học Saeps ) Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học ( Bộ giáo dục và đào tạo ) Tài liệu dạy học Mĩ thuật giành cho giáo viên tiểu học Nguyễn Thị Nhung (Chủ biên) , NXB Giáo dục Việt Nam. Dạy và học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực Nguyễn Thị Nhung(Chủ biên). NXB Giáo dục Việt Nam. Tâm lý học đại cương Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên). NXB Đại học Sư phạm
Trang 1Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh Cho đến nay cáctrường đã có giáo viên dạy Mĩ thuật, phong trào học Mĩ thuật ngày càng sôi nổi, hầuhết các em học sinh hào hứng Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn họckhông thể thiếu trong giai đoạn hiện nay Vì vậy không ít giáo viên, học sinh và cácbậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tư cho môn học Qua đó các em thấy rằng Mĩthuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩcao và còn bổ trợ tích cực cho các môn học khác Vì thế các em sẽ đón nhận tiết họcmột cách nhiệt tình và hào hứng không còn là sự bắt buộc hay gò bó nữa Trong những năm 2002 - 2003 các địa phương trên toàn quốc nỗ lực tổ chức dạyhọc với chương trình và sách giáo khoa mới, môn Mĩ thuật được giảng dạy chính thứctrong cả nước với quy định là môn học bắt buộc Được sự quan tâm quản lý, chỉ đạocủa các cấp, công tác giảng dạy ở trường Tiểu học đang từng bước ổn định và pháttriển, chất lượng giáo viên cũng dần được nâng cao Năm học 2014-2015, Bộ Giáo dục
và Đào tạo chỉ đạo triển khai phương pháp dạy - học Mĩ thuật mới sử dụng những quytrình Mĩ thuật của SAEPS ở tất cả các trường Tiểu học trên toàn quốc, là sự đúc kếtnhững kinh nghiệm quý báu từ Vương quốc Đan Mạch và nền giáo dục nghệ thuật tiêntiến trên thế giới Những quy trình Mĩ thuật theo phương pháp mới của SAEPS đềuhướng tới mục tiêu lấy học sinh làm trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo
và phát triển nhận thức Trong 7 quy trình Mĩ thuật thử nghiệm thì có một quy trình
mà tôi rất tâm đắc đó là quy trình thứ 2: Vẽ biểu cảm – là một quy trình đòi hỏi ở các
Trang 2em khả năng quan sát, tư duy cao và cũng là mục tiêu để hình thành những kỹ năngcần thiết cho các em.
Từ thực tế giảng dạy trong suốt những năm qua tôi nhận thấy rằng các em rấthứng thú với cách học mới này đặc biệt là với quy trình vẽ biểu cảm Tuy nhiên cũng
có nhiều vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hành của các em, sự thiếu tự tin,không mạnh dạn, không thể hiện bản thân mình vì có thể các em chưa thật sự hiểu vấn
đề, lối vẽ chỉ quan sát mẫu mà không nhìn vào giấy, thoạt mới nghe qua có lẽ khôngriêng gì ở học sinh mà người lớn còn thấy lạ, và cho rằng không nhìn giấy thì sao vẽđược, và vẽ sẽ không ra gì, rất lộn xộn Cho nên tôi luôn tìm cách làm sao để các emđến với những bài học sử dụng qui trình vẽ biểu cảm một cách nhẹ nhàng, thoải mái tự
do thể hiện bản thân mình Đó là lý do để tôi thực hiện đề tài “Một số giải pháp giúp học sinh khối lớp 5, trường Tiểu học ……… học tốt quy trình vẽ biểu cảm” theo
phương pháp Mĩ thuật mới (dự án do Đan Mạch hỗ trợ)
1 Mục đích đề tài:
Nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của cái đẹp để các em tiếp xúc
và làm quen với cái đẹp, cảm thụ, yêu quý cái đẹp, biết vận dụng vào trong cuộc sốnghàng ngày Hỗ trợ các em ở các môn học khác giúp các em phát triển toàn diện, lâu dài
về Đức - trí - thể - mĩ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành con người Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa
a) Đối tượng nghiên cứu
Học sinh Khối 5, trường ………
b) Cơ sở nghiên cứu
Góp phần giúp học sinh có thói quen quan sát một cách tập trung và có tính sángtạo, bài vẽ sinh động hơn thì tôi đã nghiên cứu và giới thiệu những biện pháp tích cựctrong việc dạy học Mĩ thật Thông qua các biện pháp này tôi có thể nâng cao kiến thứccủa bản thân và ý thức được việc nghiên cứu, tìm tòi phương pháp giảng dạy là mộtnhu cầu cũng như nhiệm vụ của mình
c) Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra một số biện pháp để nhằm góp phần khắc phục khó khăn trong điều kiệnthực tế ở địa phương và vẽ hình tự tin, biết cách sử dụng màu phù hợp, bố cục hợp lý
Trang 3nhằm nâng cao chất lượng dạy-học môn mĩ thuật ở tiểu học Đồng thời, cho các emthấy được cái hay, cái đẹp, ngộ nghĩnh, đáng yêu của quy trình vẽ biểu cảm.
2 Phương pháp
a) Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát, vấn đáp, trắc nghiệm, phân tích
- Rèn kĩ năng vẽ hình, vẽ màu
- Trò chơi học tập
- Liên hệ với thực tiễn cuộc sống
b) Giới hạn của đề tài
Chỉ nghiên cứu về rèn luyện kĩ năng vẽ hình tự tin, bố cục hợp lý tạo, màu sắcphong phú tạo ra một bức tranh đẹp trong bài vẽ cho học sinh lớp 5, trường Tiểu học
………
II THỰC TRẠNG
1 Thuận lợi
a Quan điểm nhận thức về môn Mĩ thuật:
- Bản thân là một giáo viên trẻ,được đào tạo chuyên về môn Mĩ thuật, đượctham gia các buổi tập huấn, tôi có nhiều điều kiện để tự học hỏi, tìm tòi và tiếp thu cácphương pháp hay và mới lạ từ bạn bè đồng nghiệp, cộng với sự gắn bó với các em họcsinh
- Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật vui tươi, nhẹ nhàng, thu hút rất nhiều học sinh
- Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy Mĩ thuật, phong trào học Mĩthuật ngày càng một sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học và mônhọc đã được chú ý Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn học nghệ thuật sángtạo, vì vậy không ít giáo viên và học sinh, các bậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tưcho môn học Qua đó các em thấy rằng Mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui,
có tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học bổ trợ tích cực cho các môn họckhác.Vì thế các em đón nhận tiết học một cách nhiệt tình và hào hứng
b.Trang thiết bị dạy học:
Trang 4- Để giảng dạy môn mĩ thuật trong chương trình đào tạo được thành công, điều nàyphụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như : tài liệu, phương tiện, đồ dùng trựcquan, Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, giáo viên đã chuẩn bị các dụng cụ hỗ trợmột phần đồ dùng học tập của học sinh như: giấy vẽ, máy phát nhạc, sách tham khảo,một số tranh ảnh có liên quan đến bài học,
2 Khó khăn:
a, Về nhận thức:
- Bên cạnh những thuận lợi như trên thì dạy và học môm Mĩ thuật vẫn còn gặp
phải một số khó khăn như:
+ Chương trình dạy học Mĩ Thuật theo phương pháp Đan Mạch mới áp dụng nêncác em còn lúng túng trong cách phân chia nhóm, cách quản lý nhóm của nhóm trưởngcòn rụt rè
+ Không chỉ học sinh mà giáo viên cũng còn bỡ ngỡ, chưa nắm chắc được các kiếnthức trong 7 quy trình
+ Do quan niệm của một số bậc phụ huynh, thiếu sự quan tâm học tập cho họcsinh, còn chưa coi trọng môn học Mĩ thuật Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng học tập của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác chán nản, không tựtin khi học bài Trên thực tế điều tra tôi còn thấy có giáo viên giảng dạy bộ môn vềphương pháp sư phạm còn hạn chế, lời nói còn chưa hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, trìnhbày bảng còn vụng về, lúng túng không khoa học, dẫn đến học sinh không lắng nghe,không tập trung tìm hiểu bài còn mơ hồ, không nắm được mục tiêu của bài học Điều
đó khiến cho các em không thích thú với bài học, thể hiện tác phẩm của mình qua loa,đại khái, vì thế không thấy được cái hay, cái đẹp và vận dụng vào cuộc sống hàngngày
b Trang thiết bị dạy, học:
- Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế khôngnhững em có hoàn cảnh còn khó khăn không chuẩn bị đủ đồ dùng học tập để phục
vụ cho tiết học mà những em gia đình có điều kiện cũng không chuẩn bị đủ đồ dùnghọc tập cho các em, ví dụ: giấy A4, A3… Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thầnhọc tập của các em
Trang 5- Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như : chưa đầu tư về công nghệthông tin, phòng học chức năng, chương trình dạy học mới chưa có đồ dùng dạy họcđáp ứng đầy đủ cho giáo viên và học sinh, vì thế ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập
và giảng dạy của giáo viên và học sinh
Vì vậy, là một giáo viên luôn tâm huyết với nghề tôi luôn tự học hỏi, tìm tòi, cốgắng nỗ lực hết mình để làm sao mang lại hiệu quả tốt nhất cho các em khi học bộmôn Mĩ thuật
Thói quen theo cách học vẽ từ trước nên khi áp dụng phương pháp học mới các emcòn nhiều bỡ ngỡ Vì thế trong quá trình giảng dạy, tôi luôn phải cố gắng chuẩn bị tốtcác khâu để kích thích động viên học sinh thường xuyên, kịp thời để các em cảm thụhình ảnh, phát huy tối đa năng khiếu của mình
Không chỉ với các em mà với bản thân tôi cũng thế khi tiếp cận và thực hiện cáchhọc mới mà ở đây là cách vẽ biểu cảm tôi cũng còn nhiều vấn đề đặt ra, nên trong suốtquá trình dạy tôi luôn tìm tòi cùng các em khám phá, mạnh dạn thể hiện thì kết quả sẽđược như ý
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nghị quyết số 29 – NQ/TW của ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tiếp tục khẳng định đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng cácphương pháp tiên tiến và phát triển hiện đại vào quá trình dạy học
Bộ môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học là một trong những môn học đặc trưng,
không nhằm đào tạo hoạ sĩ tương lai hay tạo ra những người chuyên làm về công tác
Mĩ thuật mà nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của cái đẹp để các emtiếp xúc và làm quen với cái đẹp, cảm thụ, yêu quý cái đẹp, biết vận dụng vào trongcuộc sống hàng ngày Hỗ trợ các em ở các môn học khác giúp các em phát triển toàndiện, lâu dài về Đức - trí - thể - mĩ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành conngười Việt Nam Xã hội chủ nghĩa
Trang 6Trong xã hội phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao, do vậy việc đào tạo conngười biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quan trọng Những năm qua giáo dụcthẩm mĩ đã trở thành môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, là một môn họcđộc lập, môn Mĩ thuật có mục tiêu chương trình sách giáo khoa, sách hướng dẫn, thiết
bị riêng cho dạy và học, giáo viên được đào tạo bài bản hơn, kết quả học tập của họcsinh được theo dõi và kiểm tra, đánh giá thường xuyên một cách nghiêm túc Việcgiảng dạy môn Mĩ thuật tiểu học nhằm đảm bảo cho các em có thể giải quyết được cácbài tập hàng ngày và hiểu về cái đẹp của nền mĩ thuật truyền thống, ngoài ra nó còntạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả cao hơn các môn học khác
II CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Quy trình vẽ biểu cảm là một trong bảy quy trình mĩ thuật thử nghiệm của dự ánSAEPS Đó là vẽ hình ảnh bằng sự quan sát kết hợp tay và mắt mà không nhìn vàogiấy hướng tới hình vẽ mang tính biểu đạt cao Những bức vẽ sẽ rất ấn tượng và đôikhi rất hài hước
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục đã đề ra cho bậc tiểu học, xác định rõ vai trò vàmục tiêu giáo dục của bộ môn cũng thông qua thực tế giảng dạy áp dụng phương phápmới giúp học sinh thực hiện tốt quy trình vẽ biểu cảm trong bộ môn Mĩ thuật tôi rút ramột số kinh nghiệm như sau:
* Giải pháp 1: Khơi gợi lòng ham thích bộ môn Mĩ thuật, thay đổi suy nghĩ về cách học cho học sinh.
Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích môn học,được vẽ tự do, sáng tạo theo cảm xúc của mình Tuy nhiên vẫn có một số em rất thờ ơ,thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ học, điều này khiến cho tiết học trở nên nặng nề,không hứng thú Vì vậy việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và hết sứccần thiết Dựa vào tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nêntrước thời gian thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm vẽ tiêu biểu củanhững hoạ sĩ nhí, của các bạn, những bức tranh dân gian Đông Hồ hết sức biểu cảm đểcác em xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể hiện tranh
Trang 7Phân tích cho các em thấy được cái hay, cái đẹp, ngộ nghĩnh, đáng yêu của quytrình vẽ biểu cảm được thể hiện qua các tác phẩm, đó là sự tự do suy nghĩ kết hợp cácgiác quan, đó là sự trải nghiệm bản thân mình chứ không cóa khái niệm đúng hay sai,đẹp hay xấu, khơi gợi lòng ham thích bộ môn Mĩ thuật ,động viên các em ai cũng cóthể vẽ, có thể bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình qua bài vẽ đường nét và cả màu sắc Bên cạnh các bức vẽ biểu cảm thì giáo viên sẽ cho các em quan sát các bức vẽ chândung theo cách vẽ truyền thống để các em có thể so sánh đường nét và màu sắc có sựkhác biệt rõ ràng, bản chất của các em là con nít ưa màu sắc thích vui tươi, hài hướcnên khi nhìn thấy hai bức vẽ chắc chắn các em sẽ thích vẽ biểu cảm ngay và muốn vẽliền Tuy nhiên để các em chắc chắn có thể vẽ được thì cần phải quan sát thật kỹ vàquan sát như thế nào thì ở hoạt động tiếp theo các em sẽ nắm được.
Trong mỗi tiết học, giáo viên cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học
phù hợp để luôn luôn tạo được không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốnhọc sinh, tránh giờ học tẻ nhạt, khô cứng
Giáo dục Mĩ thuật kích thích mọi giác quan và kết hợp nhiều trải nghiệm của họcsinh Những trải nghiệm này chính là các yếu tố khởi đầu trong các quy trình dạy vàhọc Mĩ thuật Hình thức giao tiếp thông qua hình ảnh sẽ giúp học sinh mở rộng vốnngôn ngữ của mình, đúng như câu ngạn ngữ Trung hoa:
“ Nghe rồi sẽ quên,
Trang 8Giáo viên cần phải hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, hiểu biết được mức độ
cảm nhận của học sinh về thế giới xung quanh thông qua các bài học, luôn tôn trọnggần gũi học sinh, có tính kiên trì trong công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp thờiđối với các em Đặc biệt không nên chê các em trước mặt các bạn khác trong lớp điều
đó sẽ làm cho các em thấy thiếu tự tin và không muốn làm để không bị chê
* Giải pháp 2: Hình thành cho học sinh thói quen quan sát để từ đó áp dụng vào vẽ biểu cảm có hiệu quả.
Tôi nhận thấy rằng để sử dụng phương pháp này thực sự có hiệu quả thì các emphải luôn có thói quen quan sát một cách tập trung và có tính sáng tạo, hình dung đượccác nét tự nhiên của vẽ biểu cảm Ở đây, học sinh cần quan sát thật tập trung, khi vẽchủ yếu sử dụng sự kết hợp mắt và tay Các em cố gắng không nhìn vào giấy Giáoviên chia sẻ ngay từ đầu với học sinh rằng, mục đích không phải vẽ cho giống y mẫu,
mà chúng ta quan sát để ghi nhớ mẫu và truyền cảm xúc qua tay, thể hiện lên giấy, tạo
ra bức vẽ ấn tượng và hài hước, có tính mới lạ và điều mà các em không làm được nếu
vẽ nhìn giấy, đôi khi lại kích thích cho sự tò mò của các em
Ví dụ1: Bài vẽ chân dung biểu cảm
Trước khi bắt đầu vẽ biểu cảm, tôi sẽ cho vài học sinh nhận xét về một số nét biểucảm trên gương mặt của bạn mình như là: buồn, vui, ngạc nhiên, lo lắng
Mỗi trạng thái cảm xúc đều cho các em tự phát hiện bằng nhưng câu hỏi cụ thể,Nhìn gương mặt em thấy bạn có tâm trạng gì? Tâm trạng đó thể hiện rõ trên bộ phậnnào?khi thay đổi cảm xúc thì hình dạng của các bộ phận trên mặt ra sao?
Giáo viên chú ý giúp các em nhất là các em học yếu thiếu tự tin thì các em có thể quansát nhiều lần, sau quan sát bằng mắt thì nhắm mắt lại hình dung ra khuôn mặt bạn, vàquên thì lại quan sát cứ như thế nhiều lần thì các đường nét sẽ có thể tự tin hơn
Trang 9Phụ lục 3: Biểu cảm trên gương mặt : vui, giận, buồn
Ví dụ 2 : Trong bài vẽ tĩnh vật lọ và quả:
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách quan sát các vật mẫu như thế nào để giúp các em
có thể ghi nhớ trong đầu mình những hình ảnh chính của lọ hoa và quả Học sinh vẽ tập trung trong vòng 10 - 15 phút Mắt của các em nhìn tới đâu thì tay cầm bút vẽ trên giấy theo các bộ phận mắt quan sát Các em cố gắng không nhìn vào giấy và đưa nét
vẽ liền mạch khi vẽ Học sinh rất thích thú với hoạt động này và tham gia một cách hăng say
Trong không khí làm việc tập trung và đầy háo hức, các em đã thể hiện hết khả năngquan sát và trí tưởng tượng phong phú của mình, cùng với sự hỗ trợ kịp thời của côgiáo khi các em gặp khó khăn
* Giải pháp 3 : Tổ chức các hoạt động học tập một cách hiệu quả.
Chuẩn bị cho tiết dạy: Xác định rõ mục tiêu bài học, soạn giáo án kỹ lưỡng chotừng hoạt động, đảm bảo tất cả các học sinh đều hứng thú tham gia các hoạt động họctập
Giáo viên trực tiếp thao tác vẽ lên bảng cho cả lớp cùng quan sát, nắm được cácbước thực hiện một cách cụ thể nhất
Để học sinh hiểu được thế nào là vẽ biểu cảm, đòi hỏi người giáo viên phải thựchành thị phạm cho học sinh quan sát Trong tiết dạy tôi thường kết hợp vừa vẽ vừahướng dẫn cho các em hiểu, chỉ cho các em biết cách đặt bút vẽ ở đâu, bắt đầu quansát và vẽ như thế nào, đặt ra những câu hỏi gợi mở hướng các em tự suy nghĩ, tìm racách giải quyết vấn đề
Ví dụ : Bài vẽ chân dung
Trước khi vẽ lên bảng cho học sinh quan sát tôi sẽ gọi một học sinh lên làm mẫu,hướng dẫn cho các em biết tôi sẽ quan sát bạn như thế nào, mặt bạn có hình dáng rasao, tóc dài hay ngắn, những bộ phận trên khuôn mặt bạn nằm ở vị trí nào trên khuônmặt…Tiếp đó tôi sẽ hướng dẫn các em nên đặt bút ở đâu trong khung giấy, tập trung
sự chú ý của các em khi quan sát giáo viên thị phạm, mắt nhìn đến đâu tay vẽ đến đó,lưu ý là nét vẽ liền mạch
Phụ lục 4:
Trang 10Hình a: Giáo viên thị phạm Hình b: Vẽ nét liền mạch
Tiếp theo đó đặt câu hỏi gợi mở, để học sinh biết cách vẽ thêm nét làm cho hình vẽtrở nên sinh động, và bộc lộ rõ tình cảm như: “ Em đoán xem nhân vật trong hình vuihay buồn? Làm sao để thể hiện rõ cảm xúc của nhân vật ” Hướng dẫn họcsinh cách vẽ màu chú trọng đến những mảng màu tương phản, cường điệu về đườngnét có tính chuyển động (nhiều nét cong lượn) Vui dùng màu gì và buồn dùng màu gìcho phù hợp
Để tiết kiệm giấy vẽ, tận dụng những đồ dùng có sẵn trong điều kiện học sinh củatrường còn nhiều khó khăn, do đó việc chuẩn bị đồ dùng của các em đôi khi còn chưađầy đủ, nếu thực hiện theo đúng hướng dẫn, mỗi tiết học vẽ biểu cảm mỗi học sinh cầndùng 5 tờ giấy để trải nghiệm vẽ không nhìn giấy sẽ gặp không ít khó khăn, để khắcphục điều đó tôi thường cho học sinh tận dụng vẽ trên bảng con dùng phấn vẽ hoặc vẽtrên giấy lịch cũ, vẽ lần lượt nhiều hình
Phụ lục 5: Học sinh vẽ bảng con
Như vậy các em vừa trải nghiệm được hoạt động, vừa tiết kiệm được giấy vẽ, luônchú ý có những câu hỏi cho các lần vẽ để các em thấy được quá trình thực hành, luyệntập thường xuyên sẽ cho ta kết quả tốt hơn
Câu hỏi mấu chốt: ( lần vẽ 1)
Đường nét nào mà em nhận thấy trên khuôn mặt ?
Nơi các đường nét của cổ và mặt gặp nhau ?
Có bao nhiêu đường nhận thấy trên mái tóc ?
Cổ tiếp nối với ngực và vai ở điểm nào ?
Đường nét nào nhận thấy ở áo quanh cổ và hai vai ?
Câu hỏi mấu chốt: ( lần vẽ 2)
Bức tranh nào thực sự giống người em vẽ ?
Bức tranh nào đẹp, tại sao ?
Bức tranh lần 2 có đẹp hơn lần 1 ? Tại sao ?
Cảm xúc bao trùm bức tranh ?
Trang 11 Cảm xúc cá nhân ? Tại sao nhận ra điều đó ?
Bạn có thích cách vẽ này không, tại sao ?
Sau đó các em có thể tự tin mà thể hiện thành một bài vẽ mà các em cho là tốtnhất Tùy điều kiện thực tế mà giáo viên yêu cầu học sinh thể hiện màu sắc, chấtliệu phù hợp để vẽ nhằm tăng tính biểu cảm Với đặc thù trường tiểu học Nhơn Hội thì
đa số các em học sáp màu, sáp dầu, rất ít dùng màu nước Nên tôi đã khuyến khích đểcác em mạnh dạn sử dụng màu nước nhằm phát huy năng khiếu kịp thời cho ra nhữngtác phẩm hóm hỉnh, trong trẻo, lạ mắt Ở bước này giáo viên cần quan sát theo dõi mỗibàn, gợi ý kịp thời để học sinh tạo ra được nhiều tác phẩm vui mắt, độc và lạ
Bên cạnh đó việc tô màu cho tranh chân dung biểu cảm thì các em còn có thểsáng tạo thêm ra kết hợp với giấy màu hay các vật liệu khác sao cho phù hợp.như giấymàu, sợi len, vãi kích thích tự tìm tòi khám phá cho các em Nét vẽ biểu cảm với màusắc tự nhiên sẽ làm cho bài học thêm thú vị hơn
Phụ lục 6: Học sinh vẽ màu và kết hợp sáng tạo vật liệu khác
*Giải pháp 4: Tổ chức hoạt động trưng bày, nhận xét bài vẽ của học sinh sao cho thật lôi cuốn.
Giáo viên nên sử dụng kĩ thuật phòng tranh để học sinh trưng bày sản phẩm, điềunày sẽ giúp học sinh có thêm kinh nghiệm thực tế và hứng thú, yêu thích tác phẩm củamình và học hỏi từ sản phẩm của bạn Học sinh thưởng thức, thảo luận và nhận xét,đánh giá kết quả học tập của nhau, trong quá trình nhận xét đánh giá, giáo viên khuyếnkhích sự giao lưu, trao đổi và gợi mở những ý tưởng tiếp theo cho bài học sau của họcsinh
Giáo viên có thể hướng dẫn làm khung tranh để học sinh trang trí, tạo thành bứctranh đẹp để tặng bạn bè, người thân, trưng bày góc học tập,…
Ví dụ: Trưng bày kết quả học tập vẽ chân dung biểu cảm
Sau khi giáo viên cho học sinh trưng bày sản phẩm lên bảng, cho 2 học sinh đóngvai phóng viên, tổ chức cuộc phỏng vấn buổi triển lãm
Như vậy học sinh sẽ được thoải mái hỏi – đáp về những “ tác phẩm” của các bạn
Trang 12Phụ lục 7: Học sinh trưng bày sản phẩm
Tiếp đó giáo viên tổ chức bình chọn những tác phẩm được thể hiện có cảm xúc,đường nét, màu sắc ấn tượng thể hiện được đặc điểm nổi bậc nhất của nhân vật …
Phụ lục 8: Tổ chức bình chọn tác phẩm III HIỆU QUẢ
Qua thời gian giảng dạy được áp dụng những phương pháp mới trong soạn vàgiảng, với sáng tạo của thầy và họat động tích cực của học sinh cùng với một sốphương pháp tổ chức hợp lý, bản thân tôi nhận thấy kết quả đạt được một cách rất tích
cực với tỷ lệ học sinh yêu thích môn học Mĩ thuật, tự tin thể hiện, bộc lộ được cảm xúc qua tranh vẽ, hoàn thành được bài vẽ ngay tại lớp, thúc đẩy hứng thú học tập đạt những yêu cầu cụ thể là rất khả quan, điều đó chứng tỏ thành tích đạt được qua trải nghiệm hoàn toàn có sức thuyết phục Những con số biểu hiện trong bảng thống kê
dưới đây đã nói rất rõ điều đó:
Phụ lục 8: Bảng so sánh kết quả khảo sát về mức độ hoàn thành bài vẽ biểu cảm thời điểm đầu năm học
Tỉ lệ
%
Hoàn thành
Tỉ lệ
%
Hoàn thành tốt
Tỉ lệ
%
Hoàn thành
Tỉ lệ
%
Trang 13đó, phát huy óc sáng tạo và tính thẩm mỹ góp phần phát triển năng khiếu, phát hiện tàinăng và bồi dưỡng nhân tài cho thế hệ tương lai.
Với kết quả này, mỗi chúng ta cũng không lấy đó làm bằng lòng để rồi dừng ở
đó Theo tôi đã là giáo viên thì việc học hỏi, tìm tòi và sáng tạo trong cách dạy là mộtnhiệm vụ mỗi ngày của người thầy, hoạt động đó phải được diễn ra thường xuyên cónhư vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đối với môn Mĩ thuật và đặc biệt cóthể tạo điều kiện cho học sinh vững vàng bước vào chương trình Mĩ thuật ở bậc Trunghọc cơ sở
Sau khi áp dụng các giải pháp trên vào thực tế giảng dạy Kết quả thu được thậtđáng khích lệ, không còn học sinh xếp loại chưa hoàn thành nữa, mà
tỷ lệ ở mức hoàn thành và hoàn thành tốt rất cao Đạt 100% vượt chỉ tiêu nhà trườnggiao
Ngoài những kết quả trên, điều làm tôi cảm thấy thành công nhất là sự hứng thúhọc tập, sự tích cực khi tham gia các hoạt động và nụ cười rạng rỡ của các em khi hoànthành sản phẩm
C KẾT LUẬN
Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, kết quả của nó là kết quả của cảm xúc, chứ không đơngiản là kỹ thuật hay kỹ năng Muốn tạo ra cái đẹp, học sinh phải có cảm xúc, cảm xúcphải xuất phát từ sự rung động của học sinh trước vẻ đẹp của đối tượng cùng với
Trang 14phương pháp giảng dạy hấp dẫn, lôi cuốn của giáo viên Cái đẹp phù hợp với cáchnhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của mỗi học sinh Trẻ em có cách nhìn, cách nghĩ,cách cảm nhận riêng, không giống cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của người lớn.
Qua quá trình áp dụng phương pháp dạy học Mĩ thuật mới, tôi nhận thấy cáihay của phương pháp này là đặt người học vào vị trí chủ động phải tìm hiểu vấn đề vàtìm ra cách giải quyết hiệu quả, sáng tạo nhất Việc đánh giá học sinh cũng không còn
bị đặt quá nặng vào sản phẩm của các em mà nó được đánh giá dựa trên cả quá trình
mà các em tham gia
Đây là một chương trình giáo dục Mĩ thuật Tiểu học năng động, phát huy, rènluyện được nhiều kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng sống Giáo viên cần chohọc sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình, nhàtrường có thể tổ chức triển lãm, trưng bày sản phẩm của học sinh vào các ngày sinhhoạt tập thể
Phụ lục 11: Kế hoạch bài dạy minh họa theo quy trình vẽ biểu cảm lớp 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Phương pháp giảng dạy Mĩ thuật (Nhà xuất bản Giáo dục )
- Sách Dạy Mĩ thuật lớp 5 ( Bộ giáo dục và đào tạo )
- Tài liệu dạy học mĩ thuật ( Dự án hỗ trợ giáo dục mĩ thuật Tiểu học Saeps )
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học ( Bộ giáo dục và đào tạo )
Trang 16Phụ lục 2: Tranh vẽ truyền thống
Phụ lục 3: Biểu cảm trên gương mặt : vui, giận, buồn
Phụ lục 4:
Trang 17Hình a: Giáo viên thị phạm Hình b: Vẽ nét liền mạch
Hình a Hình b
Phụ lục 5: Học sinh vẽ bảng con
Phụ lục 6: Học sinh vẽ màu và kết hợp sáng tạo vật liệu khác