Trong kho tàng Thành ngữ, Tụcngữ, t duy của ngời Việt thể hiện một cách cô đọng, lôgíc, tuy rằng nó không cụ thể rõ ràng nh Triết học phơng Đông, phơng Tây thể hiện qua những "trớc tác"
Trang 1Mục lục
Trang
A Phần mở đầu……… ……… 2
1- Lý do chọn đề tài………2
2- Tình hình nghiên cứu đề tài………3
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn……… 3
4- Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu……… 4
5- ý nghĩa của luận văn……… 4
6- Bố cục của luận văn………4
B Phần Nội dung……… ……… 5
Chơng 1: Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam-những vấn đề lý luận 1.1- Khái niệm Thành ngữ, Tục ngữ ……….5
1.2- Thành ngữ, Tục ngữ và t tởng Triết học Việt Nam………10
Chơng 2: T tởng Triết học về nguồn gốc và bản chất con ngời thể hiện trong Thành ngữ Tục ngữ Việt Nam 2.1- T tởng Triết học về nguồn gốc con ngời……… 14
2.2- T tởng Triết học về bản chất con ngời……… …… 17
Chơng 3: T tởng Triết học về mối quan hệ
giữa con ngời với tự nhiên và mối quan hệ giữa con ngời với xã hội thể hiện trong Thành ngữ -Tục ngữ Việt Nam 3.1- T tởng Triết học về mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên….23 3.2- T tởng Triết học về mối quan hệ giữa con ngời với xã hội……27
C Kết Luận……… 32
D Danh mục tài liệu tham khảo………33
A Phần mở đầu 1- Lý do chọn đề tài:
Lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt Nam đã vun đắp nên bản sắc văn hoá dân tộc giàu tính nhân văn cao cả Nền văn hoá ấy đã kết tinh trong mỗi một con ngời Việt Nam, tạo nên sức mạnh Việt Nam Sức mạnh
đó đã tạo nên những kỳ tích lịch sử mà không phải ai cũng có thể lý giải nổi
Trang 2Ngày nay, trong giai đoạn phát triển mới của lịch sử đất nớc, khi "…toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy truyền thống vẻ vang và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, …"[7,341]1 với
việc "phát huy nguồn lực con ngời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
tr-ởng kinh tế nhanh và bền vững"[7,109], thì yếu tố con ngời cần đợc xem xét một
cách kỹ lỡng hơn, toàn diện hơn trên những khía cạnh mới Và, sẽ là thiếu sót,phiến diện khi nghiên cứu con ngời theo quan điểm hiện đại lại không gắn kếtvới quan điểm truyền thống
Dân tộc Việt Nam đã có cách thể hiện độc đáo t tởng, quan điểm của mình
về thế giới, về ngay chính bản thân mình Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam là mộttrong những cách thể hiện độc đáo đó Những t tởng, quan điểm của con ngờiViệt Nam qua Thành ngữ, Tục ngữ nói riêng và Văn học dân gian nói chung đãchứa đựng nội dung mang tính triết lý sâu sắc Trong kho tàng Thành ngữ, Tụcngữ, t duy của ngời Việt thể hiện một cách cô đọng, lôgíc, tuy rằng nó không cụ
thể rõ ràng nh Triết học phơng Đông, phơng Tây thể hiện qua những "trớc tác"
tiêu biểu, nhng nó lại đợc thể hiện một cách rất riêng Ngời Việt Nam khi thểhiện quan điểm của mình đã chứa đựng nhiều yếu tố Triết học, mỗi một con ngời
thực chất đã là một "triết gia" xuất sắc và kho tàng Thành ngữ, Tục ngữ Việt
Nam là t tởng chung của dân tộc
Vì thế, việc chọn đề tài: "Tìm hiểu t tởng Triết học về con ngời trong
Thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam", sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc "phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể làm nền tảng cho sự giao lu văn hoá giữa các cộng đồng, giữa các vùng cả nớc và giao lu văn hoá với bên ngoài"[7,296] và cũng là để có một cái nhìn
mới về t tởng của ngời Việt Nam dới góc độ Triết học
2- Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong thời gian qua, nghiên cứu về Văn học dân gian mà đặc biệt lànghiên cứu về Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam có những công trình điển hình nh:
"Tục ngữ, Ca dao Việt Nam"[13]; "Từ điển Thành ngữ tiếng Việt phổ thông"[19];
"Kho tàng Ca dao ngời Việt"[12]; "Thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam"[2]; "Ca dao
Việt Nam - những lời bình"[10]… nhng, tựu trung lại, cũng chỉ dừng ở góc độ sutập, nghiên cứu trên phơng diện Văn học Tác giả Nguyễn Nghĩa Dân có cái nhìn
mới hơn ở góc độ Đạo đức, đó là cuốn "Đạo làm ngời trong Tục ngữ Ca dao Việt
Nam"[3] và đặc biệt, tác giả Vũ Hùng đã có bài viết ngắn: "Tìm hiểu những yếu
1 Trong chú thích số thứ nhất là thứ tự tên tài liệu tham khảo, còn số thứ hai là số trang của tài liệu tham khảo.
Trang 3tố Triết học trong tục ngữ Việt Nam"[9] Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn,
chúng tôi "Tìm hiểu t tởng triết học về con ngời trong Thành ngữ - Tục ngữ Việt
Nam" là một cái nhìn khá mới và hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc luận
giải t tởng Triết học trong Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Xuất phát từ sự phong phú, đa dạng của Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
(theo thống kê bớc đầu đã có tới 1,1 vạn đơn vị Tục ngữ) và yêu cầu của thực tế
nên chúng tôi chỉ giới hạn nội dung nghiên cứu là: Tìm hiểu t tởng Triết học về
con ngời trong Thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam.
Mục đích của luận văn là chỉ ra t tởng Triết học về con ngời trong khotàng Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam với nhiều nội dung phong phú, để gópphần khẳng định sự đặc sắc của t tởng Triết học Việt Nam
Luận văn có nhiệm vụ luận giải những vấn đề lý luận về Thành ngữ, Tụcngữ Việt Nam: nh là phân biệt nội hàm của từng khái niệm, điểm giống và sựkhác nhau giữa Thành ngữ và Tục ngữ; luận giải t tởng Triết học về con ngờitrong Thành ngữ, Tục ngữ từ những khía cạnh: nguồn gốc và bản chất con ngời,mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên, mối quan hệ giữa con ngời với xã hội
Là một công việc khá mới và khả năng, thời gian có hạn nên chúng tôicũng chỉ có thể tìm hiểu t tởng Triết học về con ngời trong hàng vạn đơn vịThành ngữ và Tục ngữ Việt Nam và trong đó cũng chỉ đa ra ở mức hạn chếnhững câu Thành ngữ, Tục ngữ tiêu biểu thể hiện tốt nhất, đầy đủ nhất ý tởngnghiên cứu của mình
4- Cơ sở lý luận và ph ơng pháp nghiên cứu:
Phép biện chứng duy vật, những t tởng của C Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về con ngời; cùng những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháttriển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cơ
sở phơng pháp luận quan trọng cho việc giải quyết các nhiệm vụ đặt ra của luậnvăn
Phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong luận văn là lôgíc và lịch sử,phân tích, tổng hợp và so sánh
5-
ý nghĩa của luận văn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn là khẳng định t tởng Triết học về con
ng-ời mà nhân dân ta đã đúc kết trong Thành ngữ, Tục ngữ Vì thế, thông qua luậnvăn chúng tôi muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào cách nhìn nhận mới về ttởng Triết học Việt Nam
Trang 4Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
đến t tởng Triết học trong Thành ngữ, Tục ngữ, đặc biệt là t tởng Triết học vềcon ngời trong Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
6- Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm ba chơng với 6 tiết
B Phần Nội dung
Chơng 1: Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam
-những vấn đề lý luận
1.1- Khái niệm Thành ngữ, Tục ngữ
Văn học dân gian Việt Nam đợc đúc kết từ trong quá trình lao độngsản xuất của con ngời Việt Nam: từ trong quan hệ giữa con ngời với con ngời,trong quan hệ giữa con ngời với tự nhiên và từ những kinh nghiệm trong sảnxuất Nói đến xã hội, nói đến lao động thì phải nói đến chính bản thân con ngời,vì không có con ngời lao động, thì không có xã hội Bởi vậy, xa - nay Triết họcphơng Đông và phơng Tây đều bàn rất nhiều về con ngời T tởng của con ngờiViệt Nam từ xa xa đã đợc thể hiện trong Văn học dân gian và đợc truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác Khi cha có văn học thành văn thì Thành ngữ, Tục ngữ
là một trong những cách thể hiện tốt nhất suy nghĩ, cách nhìn nhận của con ngời
về thế giới, về con ngời, về mối quan hệ giữa con ngời với con ngời, về mối quan
hệ giữa con ngời với tự nhiên Thành ngữ, Tục ngữ là một trong nhiều thể loạicủa Văn học dân gian, tác giả của nó là tập thể, là quần chúng nhân dân, nó làcách thể hiện độc đáo t tởng của ngời Việt Nam Chính vì vậy, việc phân địnhthời kỳ lịch sử của thể loại này hay cụ thể là phân định những Thành ngữ, Tụcngữ xuất xứ khi nào và từ đâu đã có nhiều ý kiến khác nhau Việc đa ra kháiniệm về Thành ngữ, Tục ngữ cũng có nhiều ý kiến, nhiều cách lý giải khác nhau,
đôi khi có những ý kiến sai lệch
Trong cuốn: “Việt Nam văn học sử yếu” của Dơng Quảng Hàm, Thành
ngữ và Tục ngữ đợc định nghĩa nh sau: “Một câu Tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa
đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn Thành ngữ chỉ là những lờinói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn tả một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có
Trang 5màu mè”[8,15] Định nghĩa nh vậy, theo chúng tôi là không đợc rõ, vì nếu thế,tác dụng của Thành ngữ cũng không khác gì Tục ngữ, đó là ta đã lấy cái nhỏ đặtngang hàng với cái lớn Khi diễn tả một trạng thái hay diễn đạt một ý gì cho cómàu mè ngời ta cũng thờng dùng Tục ngữ Vì, Tục ngữ là những câu đúc kết củanhiều ngời, có ý nghĩa vững chắc Ví nh để nói đến ý nghĩa của sự đoàn kết có
câu: “Bẻ đũa chẳng bẻ đợc cả nắm”[5,81]; hay lại có Thành ngữ: Đông tay hơn“
hay làm”[5,338].
Do đó, khi diễn tả một ý hay một trạng thái màu mè ngời ta đều có thểdùng Tục ngữ hay Thành ngữ Vì thế, ở đây chúng tôi dựa vào quan điểm của VũNgọc Phan, ông đã đa ra khái niệm Thành ngữ và Tục ngữ nh sau: “Tục ngữ làmột câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý,một công lý, có khi là một sự phê phán Còn Thành ngữ là một phần câu sẵn có,
nó là một bộ phận của câu mà nhiều ngời đã quen dùng, nhng tự riêng nó khôngdiễn đợc một ý trọn vẹn”[17,39]
Nh vậy, dù ngắn đến mấy Tục ngữ vẫn là một câu trọn vẹn ví nh: “Cây
chống chuối, chuối tựa cây, hổ cậy rừng, rừng cậy hổ”[5,132], “Cha mẹ sinh con trời sinh tính”[5,137] v.v còn Thành ngữ chỉ là một phần câu có sẵn, đã đợc tập
hợp, gắn bó thành cụm từ mà mọi ngời quen dùng nh: “Xanh vỏ, đỏ lòng" [5,772], “Khác máu, tanh lòng”[5,466] Tuy nhiên, trong cách thể hiện mang
tính dân gian thì trong Tục ngữ đã chứa đựng Thành ngữ
Thành ngữ và Tục ngữ là những thể loại trong Văn học dân gian đợc sángtác trong quá trình lao động và đúc kết kinh nghiệm của nhân dân, nên nó mangtính nhân dân, tính truyền miệng, thờng thay đổi so với xuất xứ và đợc lắp ghép,thay đổi cho phù hợp và dần hoàn thiện thành những câu quen dùng, có vần điệu,
dễ đọc, dễ nhớ Vì nó mang tính truyền miệng nên việc xác định xuất xứ của mỗicâu trong các thể loại, hay nói cách khác, là sự phân chia thời kỳ lịch sử cho nó
là rất khó Do đó, trong các công trình nghiên cứu đã có rất nhiều quan điểm vềviệc phân chia này Hơn nữa, Thành ngữ, Tục ngữ, Ca dao, thờng đợc dùng cùngnhau: trong Tục ngữ chứa đựng nhiều Thành ngữ, trong Ca dao lại chứa đựngnhiều Thành ngữ và Tục ngữ Vì lẽ đó, việc đa ra khái niệm về Thành ngữ và Tụcngữ cũng có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan điểm khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt, thì: “Tục ngữ là câu ngắn gọn, thờng có vần
điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đặc điểm thực tiễn của nhân dân”[18,1062]; còn “Thành ngữ: Tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thờngkhông thể giải thích đợc một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó”
Trang 6[18,915] Trong Từ điển Hán Việt, các tác giả định nghĩa: “Thành ngữ là câu nói
thờng lu hành trên xã hội”[1,312], “Tục ngữ là câu nói lu hành trên thế tục"[1,318](thế tục là phong tục trong đời) Nh vậy, ở đây đã có hai cách tiếp cậnkhác nhau và từ đó đa ra hai quan điểm không hoàn toàn trùng nhau, cả hai dạngkhái niệm đều chỉ sự thờng dùng của dân gian đối với Thành ngữ, Tục ngữ trong
cuộc sống thờng ngày Tuy nhiên, có thể nói khái niệm đợc đa ra trong Từ điển
Tiếng Việt rõ ràng hơn, còn trong Từ điển Hán Việt thì Thành ngữ, Tục ngữ cũng
không khác gì nhau, đều là những câu nói thờng lu hành trong cuộc sống Nói
nh vậy là quá chung chung, cha chỉ ra đợc sự khác biệt giữa Thành ngữ, Tục ngữ
và những câu nói thờng dùng khác của từng địa phơng
Tác giả Đinh Gia Khánh, trong cuốn"Văn học dân gian Việt Nam", lại
nhận định rằng: “Có thể so sánh nêu lên nhiều khía cạnh khác nhau giữa Thànhngữ và Tục ngữ, nhng sự khác nhau căn bản là ở chỗ: Tục ngữ là thành phẩmtrọn vẹn của ý thức và t duy (có nội dung ý nghĩa rõ ràng) còn Thành ngữ chỉ là
bán thành phẩm giống nh những tấm bê tông đúc sẵn ở trong ngôn ngữ mỗi dân
tộc Xét về nội dung ý nghĩa thì mỗi câu Thành ngữ chỉ diễn tả một khía cạnhnhất định (chứ không phải một phán đoán nh Tục ngữ) nghĩa là chỉ tơng đơng
với một từ hoặc một từ tổ (ví dụ khái niệm “xấu”đợc diễn tả bằng các Thành ngữ: xấu nh ma lem, xấu nh cú; khái niệm đen có các Thành ngữ: đen nh quạ,
đen nh củ tam thất, đen nh cột nhà cháy v.v ) tuy nhiên, cũng cần chú ý đến
hiện tợng lỡng tính và hiện tợng chuyển hoá thể loại trong công việc sử dụng
Thành ngữ và Tục ngữ của nhân dân, chẳng hạn những câu nh: mặt sứa gan lim;
ruộng sâu, trâu nái; mèo mả gà đồng ít nhiều mang tính chất lỡng tính (vừa
Tục ngữ, vừa Thành ngữ) và việc xác định thể loại của chúng cũng không thểlàm một cách cứng nhắc, bất di bất dịch, mà phải xem xét cách sử dụng của nhândân trong trờng hợp cụ thể "[11,110]
Chúng tôi cho rằng, sự khác nhau giữa Thành ngữ và Tục ngữ đợc xét trênhai phơng diện đó là về nội dung và về hình thức Tục ngữ là một câu hoànchỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm đã diễn đạt trọnvẹn đợc mong muốn biểu lộ của ngời nói, còn Thành ngữ chỉ là một phần câu cósẵn mà khi sử dụng thì đợc ghép thành câu Vì thế, khi đã tách biệt giữa Thành
ngữ và Tục ngữ thì khi sử dụng ngời ta chỉ gọi “Thành ngữ” chứ không ai gọi
“câu Thành ngữ” Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng dân gian đã quen thuộc với
những Thành ngữ nào đó nên trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể ngời ta có
Trang 7thể sử dụng Thành ngữ để diễn đạt ý của mình mà ngời khác vẫn có thể hiểu trọn
vẹn ý ngời muốn diễn đạt Khi đó chúng ta có thể hiểu đó nh là một câu tĩnh lợc.
Về hình thức ngữ pháp, mỗi Thành ngữ chỉ là một nhóm từ cha phải là mộtcâu hoàn chỉnh; còn Tục ngữ dù ngắn đến mấy cũng đã là một câu hoàn chỉnh,nói cách khác, Tục ngữ là một loại sáng tác ngang hàng với Ca dao, Dân ca, tuytác dụng có khác, song Thành ngữ là cụm từ trơn tru, quen thuộc, đợc dùng trongcâu nói thông thờng cũng nh đợc dùng trong Tục ngữ
Ví dụ: “Cha nào con nấy”[5,138]; “Có chí thì nên”[5,199]; “Vận ai nấy
tạo”[5,756]; “áo mảnh, quần manh”[5,25]; “Bụng đói, cật rét”[5,100] v.v
Những câu trên đều là những Thành ngữ, bởi nó có ý nghĩa không những
về một chiều, về một mặt, nói lên một tình trạng mà lại không kết thúc Nh
Thành ngữ: áo mảnh quần manh“ ”, “bụng đói cật rét” đều chỉ nói lên hai tình trạng nghèo, nhng ai nghèo, làm sao lại nghèo thì lại không rõ, hay “ngậm máu
phun ngời”[5,577], “bốc lửa bỏ tay ngời”[5,95] cũng chỉ là những Thành ngữ
muốn diễn đạt ý nghĩ của mình, ngời sử dụng cần tuỳ văn cảnh và thêm từ vào để
nó có thể trở thành một câu hoàn chỉnh, thể hiện đầy đủ ý nghĩa của câu
Còn những câu Tục ngữ: “chim có tổ ngời có tông”; “có công mài sắt, có
ngày nên kim”, hay câu: “con dân cầm đòn, con quan cỡi ngựa” và “con vua thì lại làm vua” [5,226], đã thể hiện trọn vẹn một ý của ngời nói đó là muốn phản
ánh một tình trạng của xã hội Phong kiến, theo quan điểm “cha truyền con nối”,
ai sinh ra đã có thân, có phận của mình, dù có cố gắng phấn đấu thì do thân phận
của mình phải chịu cảnh cơ hàn khó nhọc Còn "con vua", "con quan" thì nh thế
nào đi nữa cũng vẫn đợc mọi ngời trọng vọng, có chức tớc v.v
Dĩ nhiên, sự phân biệt Thành ngữ và Tục ngữ chỉ mang tính ớc lệ và không
rõ ràng Trong Tục ngữ có cả Thành ngữ: “Chồng yêu xỏ chân lỗ mũi” thì “xỏ
chân lỗ mũi”[5,775] là Thành ngữ, hay giữa Thành ngữ và Ca dao cũng vậy:
“Bờ xôi ruộng mật làng ta
ông hơng ông lý phân ra mới tài”;
Trong đó: “Bờ xôi ruộng mật”[5,97] là Thành ngữ”, hay:
“Yêu nhau bốc bãi giần sàng
Ghét nhau đũa ngọc mâm vàng bỏ đi”, thì trong đó “Bốc bãi giần sàng”[5,95] là
Thành ngữ…
Việc xem xét sự khác nhau giữa Thành ngữ và Tục ngữ còn có quan điểm
khác, nh trong “Tục ngữ Việt Nam”[4], lại nhận xét: cần phải nhận xét Thành
ngữ và Tục ngữ không phải chỉ nh là hai hiện tợng ngôn ngữ khác nhau, mà chủ
Trang 8yếu là một hiện tợng ngôn ngữ và một hiện tợng ý thức xã hội Cho nên tiêu chígốc để phân biệt là tiêu chí về nhận thức luận Với tiêu chí đó chúng ta xem xétTục ngữ nh là một hiện tợng ý thức xã hội, còn Thành ngữ thì chủ yếu nh là mộthiện tợng ngôn ngữ Cùng với tiêu chí đó, sự khác nhau cơ bản về nội dung củaThành ngữ và Tục ngữ sẽ đợc phát hiện nh là sự khác nhau về nội dung của haihình thức t duy khác nhau là khái niệm và phán đoán Họ cho rằng: nội dung củaThành ngữ là nội dung của những khái niệm, còn nội dung của Tục ngữ là nộidung của những phán đoán Quan hệ giữa Thành ngữ và Tục ngữ phản ánh quan
hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán Nh vậy, về ý nghĩa và nội dungcũng không có gì khác với quan niệm của Vũ Ngọc Phan về Thành ngữ, Tục ngữ
nhng các tác giả của “Tục ngữ Việt Nam” đã muốn trừu tợng hoá vấn đề, khái
quát hoá hơn nữa
Tóm lại: dù cách trình bày những nhận định có khác nhau ở khía cạnh nàyhay khía cạnh khác, nhng sự khác biệt nhau giữa Thành ngữ và Tục ngữ vẫn rõrệt về nội dung và hình thức, sự khác biệt giữa câu hoàn chỉnh và những cụm từquen dùng
1.2- Thành ngữ, Tục ngữ và t t ởng Triết học Việt Nam
Tục ngữ và Triết học là hai lĩnh vực, hai hiện tợng ý thức xã hội khác nhau.Thành ngữ, Tục ngữ thuộc lĩnh vực nghệ thuật, Triết học là khoa học về thế giớiquan và phơng pháp luận Tri thức của Thành ngữ và Tục ngữ là tri thức dân gian
đợc rút ra trên cơ sở quan sát và miêu tả cái cụ thể, đó là những tri thức kinh
nghiệm, những “lẽ phải thông thờng” Thành ngữ, Tục ngữ là một trong những
thể loại của Văn học dân gian nên tác giả là tập thể, là quần chúng nhân dân, cònTriết học là một môn khoa học nên tác giả của nó bao giờ cũng là cá nhân -những nhà hoạt động trí óc chuyên nghiệp[xem 9]
Thành ngữ và Tục ngữ tuy không phải là Triết học nhng về phơng diện nào
đó nó gần gũi với Triết học Thành ngữ và Tục ngữ đợc làm ra với mục đích triết
lý, luôn luôn cố gắng phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật vàhiện tợng tự nhiên, xã hội và đời sống con ngời Do đó, nhiều ngời gọi Thành
ngữ và Tục ngữ là “triết lý dân gian”, “triết học của nhân dân lao động” Điều
đó đợc thể hiện ở chỗ, trong nội dung Thành ngữ và Tục ngữ có chứa đựngnhững yếu tố của t tởng Triết học, nghĩa là những t tởng Triết học không đợc thểhiện một cách đầy đủ và chặt chẽ nh những quy luật, nguyên lý và mệnh đề Triết
Trang 9học mà nó chỉ đợc thể hiện một phần nào đó và bằng cách nào đó trong nội dungcủa Thành ngữ và Tục ngữ
T tởng Triết học trong kho tàng Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam đã đợc tác
giả Vũ Hùng khẳng định: nó nh là những di sản quý báu, những viên ngọc quý
của đời sống tinh thần ngời Việt Tác giả tìm thấy trong đó t tởng Triết học rấtsâu sắc, với lối t duy sắc sảo, có tính chất khái quát cao Thành ngữ, Tục ngữViệt Nam đã chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng, nhìn nhận sự vật, hiện tợng
trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng
"[5,386]; "Cháy thành vạ lây"[5,142], hay "ngời có lúc vinh lúc nhục, nớc có lúc
đục lúc trong"[5,582]; "Sông có khúc, ngời có lúc" [5,676]; "Đời ngời có nhiều
đoạn nhiều khúc"[5,346]… Đó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tợng không phải ởtrạng thái tĩnh, mà luôn luôn vận động biến đổi, muôn vật đều có lúc thịnh, lúcsuy, đời ngời có lúc thế này, lúc thế khác
Nội dung của Thành ngữ, Tục ngữ còn thể hiện t tởng duy vật tự phát, thừanhận sự tồn tại và vận động của thế giới khách quan, không phụ thuộc vào ý thức
của con ngời: "Chạy trời không khỏi nắng"[5,143]; "Trăng đến rằm trăng
tròn"[5,727]; "Còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây"[5,226]; "Còn da lông mọc, hết da trọc lông "[5,226], cho dù có tổn thất, mất mát nhng vẫn còn cái căn bản
nhất để phát triển thì vẫn còn hy vọng, mất cái căn bản thì hết hy vọng, khôngcòn phục hồi đợc nữa
Trong Thành ngữ, Tục ngữ đã thể hiện nhiều nội dung của các quy luật,phạm trù của phép biện chứng duy vật, tuy không cụ thể, rõ ràng nh trong các hệthống Triết học Ví nh: mối quan hệ giữa số lợng và chất lợng trong Thành ngữ,
Tục ngữ cũng đợc các triết gia Việt Nam thể hiện khá phong phú, đa dạng và tuy
không dùng các khái niệm "chất", "lợng", "độ", nhng đã thể hiện mối liên hệ rất
phong phú: "Chẳng chua cũng thể là chanh"[5,146], chất khác nhau sẽ tạo ra
những giá trị khác nhau, không thể lấy lợng thay chất đợc, dù rằng lợng đó gấp
bao nhiêu lần: "Trăm đom đóm chẳng bằng một bó đuốc"[5,726] Nhng khi lợng thay đổi đến một mức độ nhất định sẽ tạo ra sự biến đổi về chất: "Mèo già hoá
cáo, cáo già ra ma"[5,544]; "Góp gió thành bão"[5,425]; "Tốt quá hoá lốp"[5,721]… Khi thể hiện mối quan hệ giữa bản chất và hiện tợng, thì ngời Việtthể hiện dới nhiều góc độ rất thực tế và linh hoạt Bản chất luôn luôn bộc lộ qua
hiện tợng: "Ngời khôn dồn ra mặt"[5,583]; "Khôn dồn ra mặt, què quặt hiện ra
chân tay"[5,474] Trong mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức thì,
nội dung luôn đợc chuyển tải qua hình thức, thông qua hình thức có thể biết đợc
Trang 10bản chất của sự vật, hiện tợng, nhng, quan điểm của ngời Việt không chỉ dừng lại
ở đó, mà còn nhìn thấy cả những sự vật, hiện tợng xuyên tạc bản chất:"Tẩm
ngẩm tầm ngầm đá ngầm chết voi"[5,689]; "Bìm bịp bắt gà trống thiến"[5,89],
bề ngoài hiền lành ngờ nghệch nhng thực chất lại đáo để ghê gớm, làm đợcnhững việc bất ngờ, ngoài sức tởng tợng của mọi ngời, khác với những gì thểhiện ra bên ngoài v.v
Bên cạnh những t tởng duy vật tự phát và t tởng biện chứng có tính chất trựcquan đó, trong Thành ngữ, Tục ngữ cũng có những t tởng duy tâm tin vào thần
thánh, số mệnh: "Tốt số hơn bố giàu"[5,721]; "Trời cho hơn lo làm"[5,739];
"Đất có Thổ Công, Sông có Hà Bá "[5,301]; "Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba"[5,182]…
Tóm lại: Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam là một trong nhiều thể loại của Vănhọc dân gian, nhng, nó đã chứa đựng nhiều yếu tố triết lý thể hiện t duy của ngờiViệt Nam về thế giới, về con ngời, về mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên,với xã hội
Kết luận ch ơng 1
Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinhnghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán, còn Thành ngữ làmột phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều ngời đã quen dùng,nhng tự riêng nó không diễn đạt đợc một ý trọn vẹn Việc phân biệt Tục ngữ vàThành ngữ đợc căn cứ trên nội dung và hình thức Tuy nhiên, trong luận vănchúng tôi không phân biệt một cách cặn kẽ đâu là Thành ngữ, đâu là Tục ngữ vì
có những lúc trong Tục ngữ đã chứa đựng Thành ngữ, do vậy sự phân biệt chỉ có
ý nghĩa tơng đối
Tri thức của Thành ngữ và Tục ngữ là tri thức dân gian đợc rút ra trên cơ sở
quan sát và miêu tả cái cụ thể, đó là những tri thức kinh nghiệm, những “ lẽ phải
thông thờng” Thành ngữ, Tục ngữ là một trong những thể loại của Văn học dân
Trang 11gian nên tác giả là tập thể, là quần chúng nhân dân, còn Triết học là một mônkhoa học nên tác giả của nó bao giờ cũng là cá nhân - những nhà hoạt động trí
óc chuyên nghiệp Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam đợc làm ra với mục đíchtriết lý, luôn luôn cố gắng phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật vàhiện tợng tự nhiên, xã hội và đời sống con ngời Do đó, nhiều ngời gọi Thành
ngữ và Tục ngữ Việt Nam là “triết lý dân gian”, “triết học của nhân dân lao
động” Việt Nam
Chơng 2: T tởng Triết học về nguồn gốc và bản chất con ngời thể hiện trong Thành ngữ - Tục
ngữ Việt Nam
2.1- T t ởng Triết học về nguồn gốc con ng ời
Con ngời là đối tợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Tduy của con ngời về con ngời, về nguồn gốc, bản chất và mối quan hệ giữa conngời với con ngời, đó là t duy của con ngời đối với bản thân mình Thành ngữ,Tục ngữ là hình thức phản ánh t duy con ngời mang tính nhân dân, tính tập thể.Vì thế, nó kết tinh những t tởng sâu sắc, của con ngời Việt Nam trong quá trìnhdựng nớc và giữ nớc
Trong Triết học, nói về nguồn gốc và bản chất con ngời thì có nhiều quan
niệm khác nhau: có dân tộc và tộc ngời tôn thờ một con vật nào đó làm "vật tổ"
của mình; các tôn giáo nói chung đều quan niệm con ngời do thần thánh, thợng
đế sinh ra; các quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khi xem xét bản chất con ngời
đều quy đặc trng, bản chất con ngời vào lĩnh vực ý thức, t tởng hoặc xem bảnchất con ngời là cái gì đó đợc quy định sẵn từ những lực lợng siêu nhiên… Với
Trang 12quan điểm duy vật triệt để và phơng pháp biện chứng, C Mác đã cắt nghĩa sự thahoá bản chất con ngời từ lao động bị tha hoá, nghĩa là ông đã tìm bản chất conngời ở lao động Chỉ có xem xét con ngời trong đời sống xã hội hiện thực mớihiểu đợc đúng bản chất của nó không phải là cái gì trừu tợng cố hữu của cá thể
ngời và C Mác đã đi tới luận đề: “Con ngời là một sinh vật có tính loài”[14,116]
và “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ
xã hội”[14,257].
Cùng với những t tởng Triết học trên thì ngời Việt Nam lại có những quan
điểm, cách tiếp cận riêng của mình về việc xác định nguồn gốc và bản chất củacon ngời Qua Thành ngữ, Tục ngữ chúng ta sẽ hiểu rõ điều này
Trong xã hội không một ai nhầm lẫn con ngời với loài vật Song, khôngphải vì thế mà câu hỏi “con ngời là gì” bị trở thành giản đơn và câu hỏi chỉ làchân thực, khi con ngời có khả năng tách ra khỏi bản thân mình để nhận thứcmình với t cách là hệ thống trong quá trình vận động sinh thành Ngay từ xa xa,khi trình độ t duy khái quát cha cao, khả năng nhìn nhận vấn đề cha bao quát,vậy mà những “triết gia” Việt Nam đã có sự nhìn nhận, đánh giá rất sâu sắc vềcon ngời Con ngời không phải là thực thể tách khỏi hoàn toàn giới tự nhiên mà
bản thân con ngời là một phần của giới tự nhiên “Ngời ta là hoa đất”[5,584], nó
đã thể hiện một triết lý sâu sắc - con ngời là tinh hoa của đất trời, là một thực thểphát triển cao của giới tự nhiên, luôn gắn kết với giới tự nhiên Con ngời hội tụnhững tinh hoa của đất trời, cốt cách tinh thần của con ngời đợc tạo nên từ những
tinh hoa đó Con ngời còn là một thực thể thống nhất giữa "cái sinh vật" và "cái
xã hội" “Có thực mới vực đợc đạo”[5,210], ở đây, không hẳn chỉ là sự nhấn
mạnh mặt vật chất để con ngời tồn tại và phát triển mà đó còn là sự khẳng định
nh bao thực thể sinh vật khác, nhu cầu trớc hết mà con ngời cần phải đợc bảo
đảm đó là cần phải ăn, phải bổ sung những năng lợng cần thiết trớc khi thực hiệnnhững tiêu chuẩn đạo lý, đạo đức Nói cách khác, phải có cái để ăn, phải đảm đ-
ợc các nhu cầu vật chất tối thiểu mới có thể buộc ngời ta tuân theo những nguyêntắc, bổn phận đạo lý làm ngời, phải bằng cái cụ thể mới làm ngời ta tin và noitheo ở đây, chúng ta thấy sự bắt gặp tuyệt vời giữa triết lý dân gian Việt Nam
với Triết học Mác - Lênin khi các ông cho rằng: “cái sự thật giản đơn là con
ngời trớc hết cần phải ăn, uống, ở và mặc đã, rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, v.v ”[15,662].
Con ngời là một thực thể sinh vật, mặt tự nhiên của con ngời đợc hiểu làtính tất yếu khách quan của sự sinh thành, những hiện tợng và quá trình tâm -
Trang 13sinh lý của con ngời, những điều kiện quyết định sự tồn tại của con ngời Conngời có sinh, có tử, sinh thì hữu hạn, tử thì bất kỳ Quá trình phát triển của conngời trải qua các giai đoạn từ bào thai đến lứa tuổi nhi đồng, thanh niên, trung
niên đến già lão: "Rắn già rắn lột, ngời già ngời chột "[5,656], rắn già thì lột xác
để tiếp tục phát triển, ngời già thì ngày càng tàn lụi rồi chết Con ngời sinh ra thìhữu hạn mà tử thì bất kỳ, cuộc đời nh vòng chuyển hồi, không có sinh vật nàotồn tại vĩnh viễn trên thế giới
Cùng với những t tởng Triết học mang tính duy vật tự phát thì ngời ViệtNam, có đôi lúc lại thể hiện trong t tởng của mình cách giải thích duy tâm, thầnthánh về nguồn gốc của con ngời Chẳng hạn, ngời Việt coi nguồn gốc của mình
là: "Con Rồng cháu Tiên"[5,224]; "Dòng dõi Tiên Rồng "[5,265], qua đó đã giải
thích toàn bộ ngời Việt sinh ra cùng chung nguồn gốc, đều đợc sinh ra trong thếgiới khách quan (dựa trên truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ) Trong cách
lý giải này chúng ta dễ nhận ra sự dung hoà giữa hai dòng t tởng duy vật và duytâm Ngời Việt coi con ngời có nguồn gốc từ tự nhiên, gắn kết với tự nhiên, quan
điểm đó đã phủ nhận những quan điểm cho rằng nguồn gốc của con ngời do một
đấng siêu nhiên nào đó sáng tạo ra Tuy nhiên, với trình độ t duy và sự phát triểncủa khoa học còn hạn chế, họ lại không thể lý giải cụ thể t tởng đó, nên phải quyvào truyền thuyết, sa vào t tởng duy tâm thần bí Tuy vậy, t tởng đó cũng đã giúpcon ngời Việt Nam tạo đợc sự đoàn kết trong quá trình chinh phục thiên nhiên
cũng nh trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Bởi "chim có tổ, ngời có tông
"[5,169], ai cũng có tổ tiên, cội nguồn gắn bó của mình, chung nguồn cội nên dễhoà đồng, đoàn kết với nhau
Nh vậy, qua Thành ngữ, Tục ngữ ngời Việt Nam đã thể hiện quan điểm của
mình về nguồn gốc con ngời, khẳng định con ngời là sự thống nhất giữa "cái
sinh vật" và "cái xã hội", con ngời là một thực thể phát triển từ giới tự nhiên, đó
là t duy chứa đựng nhiều yếu tố duy vật và có tính chất biện chứng Nhng đôi lúcngời Việt lại không thoát khỏi sự hạn chế trong nhận thức để rơi vào duy tâm,thần bí khi giải thích nguồn gốc của con ngời
2.2- T t ởng Triết học về bản chất con ng ời
Cũng nh quan niệm của Triết học Mác - Lênin, ngời Việt Nam nhìn nhậnbản chất con ngời một cách toàn diện, cụ thể, xem xét bản chất con ngời khôngphải một cách chung chung, trừu tợng mà trong tính hiện thực, trong quá trình
Trang 14phát triển của nó Thành ngữ, Tục ngữ Việt Nam khi xem xét nguồn gốc và bảnchất con ngời có sự giao thoa giữa t tởng này với t tởng khác ở chỗ này bản chấtcon ngời đợc kết hợp giữa t chất sẵn có và sự giáo dục, ở chỗ khác, nơi khác lạichú trọng đến t chất di truyền Có lúc lại cho rằng bản tính con ngời do thiên
định - đã có sẵn do trời định Chẳng hạn nh: “chua ngọt tại cây”, “cha nào con
nấy” hay “Cha làm sao, con bào hao làm vậy”[5,136], ý muốn nói sinh ra trong
môi trờng đó nhận đợc sự giáo dục ngay từ nhỏ thì t chất của con ngời sẽ chịu sự
ảnh hởng rất lớn do sự giáo dục của cha mẹ Mối quan hệ đầu tiên mà con ng ờitiếp xúc đó là quan hệ gia đình, ngay trong môi trờng đó, con ngời đợc dần dầnhình thành và phát triển nhân cách của mình Truyền thống gia đình sẽ đợc lĩnh
hội qua cách giáo dục của cha mẹ: “cha hiền con thảo”[5,136] Bố mẹ, ăn, ở
nhân đức thì con cháu sẽ đợc thảo hiền Sau quan hệ gia đình, thì t cách, bản tính
con ngời còn chịu sự tác động của xã hội: “Không thầy đố mày làm nên”[5,480].
Con ngời khi sinh ra không phải chỉ là hội đủ những tố chất di truyền về mặtsinh học mà có thể hoàn thiện đợc mình, muốn hoàn thiện đợc mình cần có sự tudỡng, sự hớng dẫn của ngời khác ở đây muốn nói đến vai trò của giáo dục là rấtquan trọng để hình thành nên bản tính con ngời Qua đây, chúng ta thấy đợcrằng, ngời Việt Nam đã nhìn nhận, xem xét con ngời ở cả phơng diện sinh vật vàphơng diện xã hội Bản tính con ngời không phải là thiên định, không phải đã có
sẵn từ trớc mà là do môi trờng, quan hệ xã hội và do giáo dục mà nên “Dỡng
nam bất giáo nh dỡng l, dỡng nữ bất giáo nh dỡng tr”[5,274], có nghĩa là nuôi
con trai mà không dạy thì nh nuôi lừa, nuôi con gái mà không dạy thì nh nuôi
lợn Khi nói đến ảnh hởng của môi trờng xã hội đối với con ngời thì ngời Việt có
câu: “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, “gần lửa rát mặt, gần sông sạch
mình”[5,386] Gần kẻ xấu thì bị ảnh hởng, tiêm nhiễm cái xấu, gần ngời tốt thì
học hỏi, tiếp thu đợc những cái tốt, cái hay mà tiến bộ hơn…
Tuy nhiên, ở chỗ khác, cũng có lúc ngời Việt lại cho rằng, bản tính của conngời là chủ yếu do yếu tố di truyền hay là do thiên định; thì nó có nét giống với
t tởng Triết học của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo Do hoàn cảnh lịch sử và với sự
áp bức nặng nề của chế độ Phong kiến kéo dài nên t tởng của con ngời Việt Nam
cũng chịu sự ảnh hởng của t tởng thần quyền, có lúc họ cho rằng: “cha mẹ sinh
con, trời sinh tính”[5,137]; yếu tố tâm lý, t chất đạo đức của con ngời do trời
định, mọi sự tác động bên ngoài của môi trờng xã hội cũng không thể thay đổi
đ-ợc bản chất của con ngời
Trang 15Lịch sử cá nhân của mỗi con ngời cũng là lịch sử lao động sản xuất và hoạt
động xã hội của họ, chỉ có khác, mỗi cá nhân trong từng thời đại đều hoạt độngtrong khuôn khổ những quan hệ xã hội do các thế hệ trớc để lại và do mình tạo
ra, vì thế, mỗi cá nhân hiện ra nh kết quả tổng hợp của những yếu tố cá nhân vàyếu tố xã hội và do đó, mỗi cá nhân có một nhân cách đặc thù, nó hoàn toànkhông chỉ phụ thuộc tuyệt đối vào những yếu tố di truyền và cũng không hoàntoàn phụ thuộc một cách tuyệt đối vào yếu tố xã hội
Ngời Việt Nam cho rằng: Đức năng thắng số“ ”[5,351], ở đây vừa có sự chiphối của số phận, nó quy định sẵn cuộc sống, tơng lai của mỗi ngời ngay từ khisinh ra, nhng nó lại cũng thể hiện sự nỗ lực rèn luyện của bản thân, đó là đức -hạnh của ngời ta có thể thay đổi đợc cả số mệnh Nếu, chịu khó tu rèn phẩmhạnh, kiên trì phấn đấu thì chỗ thiếu sót của vận số sẽ bù lại đợc dù số mệnh đã
định
Thật vậy, không phải suy diễn nhng điều dễ nhận thấy là t duy biện chứng
về bản chất con ngời của ngời Việt Nam qua câu nói đó Khi sinh ra các tố chất
di truyền đã chứa đựng trong cơ thể con ngời, tuy cha ở mức hiểu biết khoa học
để có thể nhận định đó là t chất di truyền, nên ngời Việt đã cho đó là do “số”, và
rõ ràng ở đó đã khẳng định sự kế thừa do bẩm sinh Nhng những thứ đã đợc
định sẵn
“ ” chỉ là cái cơ sở hay những cái có thể thay đổi đợc nhờ sự tu dỡng rènluyện của bản thân mỗi con ngời Không ai sinh ra đã hoàn thiện, toàn mỹ mà để
có đợc điều đó cần có sự nỗ lực phấn đấu, học hỏi để bổ sung, khắc phục những
khiếm khuyết của mình Bên cạnh quan niệm: “giàu từ trong trứng giàu
ra”[5,404] là quan niệm giàu nghèo do tiền định, thì nhân dân ta lại có câu: “ có chí làm quan, có gan làm giàu”[5,199], nó cũng đồng nghĩa với câu: “có khôn mới làm nên quan, có gan mới làm nên giàu”, hay, nó còn là sự thể hiện “có chí thì nên”[5,199]; có hoài bão lớn, nhẫn nại, kiên trì thì sẽ thành công Điều đó thể
hiện trong t duy của ngời Việt có sự dung hoà một cách đặc biệt những dòng t ởng hay có sự thừa nhận tố chất di truyền thể hiện nh là giàu từ trong trứng giàu
t-ra, ngay từ trong lòng mẹ đã chứa tố chất, tính khí của con ngời Ngoài những gì
đã đợc thừa hởng từ cha mẹ do di truyền còn là sự phấn đấu rèn dũa từ bản thânthông qua sự phát triển, hay quá trình tự phát triển
Trong Thành ngữ và Tục ngữ ngời Việt Nam cũng thể hiện khá rõ tính cách
của mình Tục ngữ có câu: “cây ngay không sợ chết đứng”[5,132], bản tính của
ngời Việt vốn thẳng thắn bộc trực Tính ngay thẳng tạo nên tính cách của ngờiViệt Trong mối quan hệ với xã hội, sự ngay thẳng làm cho con ngời có một t t-