1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tư tưởng bành trướng của giới cầm quyền trung quốc thời phong kiến

72 1,3K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu tư tưởng bành trướng của giới cầm quyền Trung Quốc thời phong kiến
Tác giả Nguyễn Anh Dũng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 191,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao hiểu biết về lịch sử Trung Quốc và t tởng bành trớng qua các triều đại phong kiến Trung Quốc chúng tôi đã chọn đề tài làm khóa luận tốt nghiệp là: Tìm hiểu t“ tởng bành trớn

Trang 1

A A Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài:

Văn minh Trung Hoa cổ đại là một nền văn minh lớn không những ảnh hởng đối với các nớc châu á mà còn ảnh hởng đến nhiều nớc trên thế giới Nói đến Trung Quốc là nói đến một quốc gia rộng lớn về lãnh thổ, đông đúc

về dân c cho nên mỗi bớc vận động thăng trầm của Trung Quốc đều tác động

ảnh hởng nhất định đến lịch sử nhiều nớc nhất là các quốc gia ở châu á

Lịch sử chế độ phong kiến ở Trung Quốc là lịch sử của các triều đại lần lợt thay thế nhau từ nhà Tần đến nhà Thanh Trong suốt chiều dài lịch sử

đó các triều đại đã không ngừng bành trớng xâm lợc mở rộng đất đai và thống trị các dân tộc xung quanh ở đây đã hình thành một thứ chủ nghĩa đại dân tộc mà ngời ta gọi là chủ nghĩa Đại Hán Chủ nghĩa Đại Hán đã tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử Trung Quốc và nó đợc thể hiện rõ nhất trong thời kỳ phong kiến Vì vậy nghiên cứu vấn đề này là một yêu cầu cần thiết để có thể tìm hiểu và đánh giá đúng về lịch sử Trung Quốc trong thời kỳ này Đồng thời nhằm tìm hiểu bản chất của thứ chủ nghĩa đó Đó là t tởng bành trớng của giới cầm quyền qua các triều đại mà cụ thể là của các hoàng đế Trung Hoa

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia núi liền núi sông liền sông lịch sử quan hệ hai nớc đã có những bớc thăng trầm Dân tộc Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển của mình đã liên tục phải đơng đầu và chiến thắng các thế lực phong kiến phơng Bắc nh Tần, Tống, Minh, Thanh Do đó, nghiên cứu vấn đề này nhằm mục đích tìm hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc Trong thời đại ngày nay nghiên cứu t tởng đó còn nhằm tìm hiểu những chích sách đờng lối đối ngoại của giới cầm quyền Trung Quốc đối với các quốc gia láng giềng thời hiện đại Đồng thời để giải thích lí do tại sao Trung Quốc lại gây chiến tranh xâm lợc Việt Nam năm 1979 khi mà hai nớc

đang là hai nớc xã hội chủ nghĩa anh em

Trang 2

Vấn đề chính trị của Trung Quốc là một vấn đề rất rộng lớn bao gồm nhiều yếu tố vì vậy cần có nhiều thời gian và tìm tòi nghiên cứu Do đó, trong khoá luận chúng tôi không đủ khả năng để tiếp cận và khai thác một vấn đề gai góc và rộng lớn mà chỉ trình bày một nội dung có tính xuyên suốt trong lịch sử cổ trung đại Trung Hoa Nghiên cứu lịch sử chính trị Trung Quốc nói chung, t tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc nói riêng luôn là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Là một sinh viên ngành lịch sử, việc tìm hiểu t tởng bành trớng của giới cầm quyền trong lịch sử Trung Quốc càng

là vấn đề cần thiết Để nâng cao hiểu biết về lịch sử Trung Quốc và t tởng bành trớng qua các triều đại phong kiến Trung Quốc chúng tôi đã chọn đề tài

làm khóa luận tốt nghiệp là: Tìm hiểu t tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc thời phong kiến” Thực hiện đề tài này chúng tôi không

có tham vọng tìm ra một vấn đề có tính phát hiện mà chỉ để nâng cao hiểu biết bản thân về lịch sử Trung Quốc, nội dung và t tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc thời phong kiến, đồng thời hình thành kỹ năng nghiên cứu khoa học

2 Lịch sử vấn đề:

Lịch sử Trung Quốc nói chung và các vấn đề lịch sử nói riêng đã đợc nhiều học giả, nhiều sử gia, nhiều nhà nghiên cứu, cơ quan nghiên cứu quan tâm nghiên cứu Năm 1994 đã có hẳn một viện chuyên nghiên cứu về Trung Quốc ở Việt Nam Qua các công trình nghiên cứu đó đã làm giàu thêm cho vốn hiểu biết của nhân loại về Trung Quốc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và

đóng góp cho sự phát triển của ngành sử học…

Tuy nhiên, do hạn chế về mặt ngoại ngữ do đó chúng tôi chỉ có thể tiếp cận đợc với những tài liệu viết bằng tiếng Việt mà không thể tiếp cận hết đợc với những công trình viết bằng tiếng nớc ngoài, do vậy đã không tiếp cận đợc với nhiều cách nhìn, nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề chính trị Trung Quốc

Trang 3

ở Việt Nam, đã có một số sách, một số công trình nghiên cứu viết về vấn đề này khá rõ ràng nh cuốn “Về chủ nghĩa bành tr ớng Đại Hán trong lịch sử” của nhà sử học Nguyễn Anh Dũng, nhà xuất bản Thông tin lý luận Hà

Nội năm 1982 Tác giả đã trình bày khá đầy đủ và hệ thống về chủ nghĩa bành trớng, bá quyền ở Trung Quốc Trong cuốn “Th tịch cổ Việt Nam nói về chủ nghĩa bành trớng, bá quyền Đại Hán” của Viện nghiên cứu quốc tế và Viện

Mác – Lênin của nhà xuất bản Thông tin lý luận Hà Nội năm 1985 đã trình bày khá rõ về chủ nghĩa bành trớng, bá quyền Đại Hán trong thực tế lịch sử ở Việt Nam Cuốn “Chính sách bành tr ớng, bá quyền Trung Quốc ở Đông Nam á” của Nhuận Vũ, nhà xuất bản Sự thật Hà Nội năm 1985 Cuốn Kẻ

thù trực tiếp và nguy hiểm” của Khổng Doãn Hợi, nhà xuất bản Quân đội

nhân dân năm 1983 đã trình bày một cách ngắn gọn và hoàn chỉnh về nguồn gốc, bản chất của chủ nghĩa bành trớng, bá quyền Trung Quốc cùng những âm

mu thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt của chúng đối với thế giới và cách mạng Việt Nam

Bên cạnh đó, có một số ấn phẩm viết về t tởng bành trớng, bá quyền thời hiện đại có đề cập đến t tởng của các hoàng đế xa nh cuốn “Biên giới từ chủ nghĩa bành trớng cổ truyền đến chủ nghĩa bá quyền ngày nay” của nhà

xuất bản Thông tấn xã Nô-vô-xti do Hữu Duy Anh dịch, cuốn “Lộ nguyên hình bành trớng” của Lê Kim, nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm

1979 Cuốn “Những nguồn gốc và sự tiến hoá của t tởng Mao Trạch Đông”

của A.M.Ru-mi-an-xep hay cuốn “Thực chất phản động của chủ nghĩa Mao” của nhà xuất bản Sự thật.v.v…

Ngoài ra liên quan đến vấn đề này còn có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đăng trên các báo tạp chí nh công trình nghiên cứu của Thế Tăng-Thái Lan trong mu đồ bành trớng của phong kiến Trung Hoa Các bài…viết đăng trên tạp chí lịch sử, tạp chí cộng sản, tạp chí nghiên cứu Trung Quốc…

Trang 4

Qua những tác phẩm, những công trình nghiên cứu, những bài viết này chúng tôi sẽ khái quát, tổng hợp lại để có một cái nhìn chung, toàn diện vê t tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc thời phong kiến.

3 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu.

Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các sự kiện lịch sử diễn ra trong phạm vi lãnh thổ Trung Quốc do chính sách xâm lợc và mở rộng lãnh thổ của các nhà cầm quyền Trung Quốc, một số quốc gia láng giềng có liên quan đợc đề cập đến trong khoá luận

T tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc đợc hình thành từ thời cổ đại và nó vẫn tồn tại cả trong thời kì tiếp theo Do thời gian có hạn và

đề tài chỉ nghiên cứu ở mức độ là khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ chủ yếu tập trung tìm hiểu t tởng bành trớng của các hoàng đế Trung Hoa thời phong kiến( từ năm 221 trớc công nguyên đến năm 1911)

Khi nghiên cứu vấn đề này đề tài phải xác định đợc nguồn gốc, quá trình hình thành của t tởng đó, nội dung và biểu hiện của t tởng, và nó đã để lại hậu quả gì cho xã hội Trung Quốc

4 Phơng pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp lịch

sử, phơng pháp logic, phơng pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các học giả trớc

5 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm có 3 chơng:

Ch

ơng 1: Tổng quan lịch sử các triều đại Trung Quốc thời cổ trung đại

1.1 Các nhà nớc chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc

1.2 Các triều đại phong kiến Trung Quốc

Ch ơng 2: T tởng bành trớng trong lịch sử Trung Quốc

Trang 5

2.1 Cơ sở hình thành t tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc

2.2 Nguồn gốc của t tởng bành trớng Trung Quốc

2.3 Nội dung và biểu hiện của t tởng bành trớng qua các triều đại phong kiến Trung Quốc

Ch ơng 3: Hậu quả của chính sách bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc

3.1 Hậu quả của chính sách bành trớng của giới cầm quyền đối với

đất nớc Trung Quốc

3.2 Hậu quả của chính sách bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc đối với các quốc gia bị Trung Quốc xâm lợc

B Nội dung Chơng 1:

Trang 6

Tổng quan lịch sử các triều đại Trung Quốc

thời cổ trung đại

Trong suốt chiều dài phát triển lịch sử của mình, Trung Quốc luôn là một quốc gia lớn ở Đông á.Trên lãnh thổ Trung Quốc có hai con sông lớn chảy qua, đó là Hoàng Hà( dài 5,464 km) ở phía Bắc, và Trờng Giang (dài

6300 km) ở phía Nam Lu vực hai con sông này sớm trở thành cái nôi của nền văn minh Trung Quốc Về mặt chủng tộc c dân ở lu vực Hoàng Hà thuộc giống ngời Mông Cổ đến thời Xuân Thu gọi là Hoa Hạ Đó là tiền thân của ngời Hán tộc sau này

Dới thời quân chủ, ở Trung Quốc, tên nớc đợc gọi theo tên triều đại vì thế lịch sử Trung Quốc lúc bấy giờ là lịch sử của các triều đại Trải qua gần

5000 năm lịch sử với hơn 400 vị hoàng đế từ chế độ nô lệ đến chế độ phong kiến đã trải qua các vơng triều Hạ (khoảng thế kỷ XXI-XVI trớc công nguyên), Thơng (khoảng thế kỷ XVI-XI trớc công nguyên), thời Xuân Thu- Chiến Quốc (720-221 trớc công nguyên) Rồi đến các triều đại phong kiến từ Tần, Hán cho đến Minh, Thanh Trong quá trình phát triển lãnh thổ Trung Quốc đã đợc mở rộng không ngừng Khi mới thành lập nớc (đời nhà Hạ) địa bàn Trung Quốc mới chỉ là một vùng nhỏ ở trung lu vực Hoàng Hà Nhng từ cuối thế kỷ III trớc công nguyên Trung Quốc trở thành một nớc phong kiến thống nhất Từ đó nhiều triều đại Trung Quốc đã chinh phục các nớc xung quanh, do đó có những thời kỳ cơng giới của Trung Quốc đợc mở ra rất rộng

Đến thế kỷ XVIII lãnh thổ Trung Quốc về cơ bản đợc xác định nh hiện nay

Đất nớc Trung Hoa nhỏ bé với diện tích khoảng chừng 320.000 km2 đã trở thành một đế quốc phong kiến rộng lớn có diện tích 9.600.000 km2 vào thế kỷ XVIII, chiếm khoảng 1/15 diện tích lục địa thế giới tăng hơn thời kỳ mới lập quốc gần 31 lần

1.1.Các nhà nớc chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc

Trang 7

Trong sử sách Trung Quốc đã ghi lại nhiều truyền thuyết về sự xuất hiện loài ngời và đời sống xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc Đó là những truyền thuyết về Nữ Oa, Phục Hi, Hữu Sào, Toại Nhân.v.v Đến thời công xã…thị tộc ở vùng Hoàng Hà có nhiều bộ lạc c trú do các thủ lĩnh Si Vu, Viêm Đế, Hoàng Đế đứng đầu Giữa các bộ tộc này đã diễn ra những cuộc đấu tranh quyết liệt, kết quả Si Vu và Viêm Đế lần lợt bị Hoàng Đế đánh bại Sau Hoàng Đế có các nhân vật nh Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đ-ờng Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ Họ đều là hậu duệ của Hoàng Đế.

Thời Vũ, sự phân hoá tài sản trong xã hội đã diễn ra rõ rệt, thế lực của những ngời giàu có trong bộ lạc ngày càng mạnh, uy quyền của thủ lĩnh bộ lạc ngày càng lớn Sau khi Vũ chết các quý tộc thị tộc đã ủng hộ con của Vũ

là Khải lên nối ngôi Khải nghiễm nhiên trở thành một ông vua có quyền hành rất lớn, các quý tộc phải triều bái, phục tùng dới uy quyền của Khải Từ đó trở

đi chế độ thế tập đợc bắt đầu ( cha truyền con nối) Trong thực tế Khải là ông vua đầu tiên ở Trung Quốc, nhng Hạ Vũ đợc suy tôn là ngời sáng lập vơng triều Hạ, vơng triều đầu tiên ở Trung Quốc (ra đời vào khoảng thế kỷ XXI tr-

ớc công nguyên)

Để bảo vệ địa vị của vua và quyền lợi của giai cấp quý tộc các tổ chức

nh bộ máy quan lại, quân đội, nhà tù đợc thiết lập Tuy nhiên sự thống trị buổi

đầu của nhà Hạ cha đợc củng cố Thủ lĩnh tộc Hữu Cùng là Hậu Nghệ thừa cơ vua Hạ là Thái Khang đi săn đã cớp lấy chính quyền nhà Hạ làm cho quý tộc Hạ phải lu vong khắp nơi.Cuối cùng vua Hạ Thái Khang liên hợp với nhiều bộ lạc khác đánh bại đợc tộc Hữu Cùng để khôi phục lại triều Hạ.Trong mấy thế

kỷ trị vì triều Hạ thờng đem quân đi chinh phục các bộ lạc láng giềng để bắt nô lệ thôn tính đất đai, buộc các bộ lạc đó thần phục ( chịu cống nạp sản vật

và thực hiện liên minh bảo vệ triều Hạ) Bằng chiến tranh xâm lợc nhà Hạ dần dần khống chế cả một vùng rộng lớn ở trung du Hoàng Hà

Khoảng thế kỷ thứ XVII trớc công nguyên ở hạ lu Hoàng Hà xuất hiện một quốc gia chiếm hữu nô lệ của tộc Thơng làm nông nghiệp Trong khi triều

Trang 8

Hạ suy vi thì nớc Thơng mạnh lên Lãnh đạo tộc Thơng là Thành Thang đã đa quân lần lợt đánh bại các bộ lạc liên minh với Hạ sau đó tấn công Hạ Kiệt, lật

đổ nền thống trị nhà Hạ, dựng nên nhà Thơng thiết lập ách cai trị trên các vùng đất mới chiếm đợc Từ đó nhà Thơng khống chế phần lớn miền trung du

và hạ du Hoàng Hà Kinh đô nhà Thơng đóng tại đất Bạc (tỉnh Hà Nam), sau mấy lần di chuyển đến thế kỷ XIV trớc công nguyên dời đô lên đất Ân Do đó

về sau nhà Thơng cũng còn gọi là nhà Ân Nhà Thơng đã đem quân đi đánh chiếm đất đai các bộ tộc láng giềng mở rộng lãnh thổ tới phần lớn trung du và hạ du Hoàng Hà và một phần lu vực sông Hoài Đầu thế kỷ XI trớc công nguyên nhà Thơng suy vi Bộ tộc Chu làm nông nghiệp tại vùng đất Chu Nguyên ở phía Nam Kỳ Sơn (Thiểm Tây ngày nay) mạnh lên Trong quá trình hng khởi tộc Chu đã nhiều lần chinh phạt các bộ lạc xung quanh để mở rộng lãnh thổ, sau đó mở cuộc chinh phạt tiêu diệt nhà Thơng lập ra nhà Chu (từ thế kỷ XI đến thế kỷ III trớc công nguyên) Trong mấy thế kỷ đầu trị vì, nhà Chu tuy phải đối phó với sự xâm nhập của các bộ tộc du mục nhng vẫn ráo riết bành trớng về phía Đông và phía Nam Cho đến nửa đầu thế kỷ thứ VIII trớc công nguyên, đất đai nhà Chu đợc mở rộng suốt từ lu vực Hoàng Hà xuống tận hạ du Trờng Giang, lập thêm hàng chục nớc ch hầu nữa

Khi nhà Chu suy vi, Trung Quốc bớc vào thời kỳ Xuân Thu (từ 770 –

475 trớc công nguyên ), Chiến Quốc (từ 475 – 221 trớc công nguyên ) với những cuộc hỗn chiến liên miên giữa các nớc ch hầu Đây là một giai đoạn lịch sử đã phát sinh nhiều thủ đoạn “tranh bá, đồ vơng” ảnh hởng sâu sắc tới t tởng giới cầm quyền phản động Trung Quốc hàng chục thế kỷ tiếp sau đó Các ch hầu của nhà Chu vừa đánh lẫn nhau để tranh giành ngôi “bá” vừa tiếp tục thôn tính đất đai của các bộ tộc xung quanh nhằm mở rộng biên cơng của nớc mình Song song với quá trình đó trong kinh tế cũng có sự chuyển biến đó

là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ dần dần giải thể và quan hệ sản xuất phong kiến đợc xác lập ở từng nớc ch hầu nói riêng và ở Trung Quốc nói

Trang 9

chung Giai cấp địa chủ phong kiến đang từng bớc tiến lên thay thế cho giai cấp quý tộc chủ nô trên vũ đài chính trị.

1.2.Các triều đại phong kiến Trung Quốc

Từ đầu thế kỷ III trớc công nguyên về sau, nớc Tần càng ngày càng hùng mạnh uy hiếp cả sáu nớc Hàn, Triệu, Yên, Nguỵ, Tề, Sở Đến năm 250 trớc công nguyên nớc Tần diệt nhà Chu và từ năm 230 đến năm 221 trớc công nguyên nớc Tần lần lợt đánh bại sáu nớc, kết thúc cục diện chia cắt và hỗn chiến kéo dài hơn 500 năm suốt cả thời Xuân Thu – Chiến Quốc

Sau khi thống nhất đợc cả nớc, Tần vơng Doanh Chính xng làm hoàng

đế lấy hiệu là Tần Thuỷ Hoàng Đế (hoàng đế đầu tiên, lịch sử quen gọi là Tần Thuỷ Hoàng) và thiết lập nên triều đại phong kiến đầu tiên của Trung Quốc là triều Tần (221-206 trớc công nguyên) Đế chế Tần kiểm soát cả một vùng đất

đai rộng lớn suốt từ Bắc Hoàng Hà tới Nam Trờng Giang, từ vùngTứ Xuyên tới tận bờ biển phía Đông Tần Thuỷ Hoàng đã thiết lập một chính quyền chuyên chế quân phiệt tàn bạo, về tổ chức bộ máy chính quyền Tần Thuỷ Hoàng không thực hiện chế độ phân phong cho con em mình nh thời Tây Chu

mà chia cả nớc thành 36 quận, mỗi quận do quận th cai trị, mỗi quận lại chia

ra làm nhiều huyện do huyện lệnh hoặc huyện trởng cai trị Dới cấp huyện là cấp hơng đình, lý Tất cả các quan lại quận, huyện đều do vua bổ nhiệm

Về đối ngoại, nhà Tần gây ra những cuộc chiến tranh xâm lợc và mở rộng bờ cõi Nhiều quốc gia đã bị thôn tính và sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc, làm cho Trung Quốc trở thành một đế chế lớn hồi đó Đây là một bớc phát triển mới của t tởng bành trớng, bá quyền Trung Quốc

Trong suốt hơn 2000 năm sau khi Tần Thuỷ Hoàng chết Trung Quốc lâm vào tình trạng hỗn chiến liên miên, thống nhất rồi phân chia, lại thống nhất lại phân chia Tuy nội bộ bị phân chia nh vậy nhng các vơng triều phong kiến Trung Quốc vẫn tiến hành hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lợc nhiều nớc láng giềng” [32;12].

Trang 10

Năm 206 trớc công nguyên, triều Tần bị tiêu diệt nhng rồi ngay sau đấy lại diễn ra cuộc Hán- Sở tranh hùng khốc liệt Qua 5 năm chiến tranh giành quyền bá chủ Trung Quốc, năm 202 trớc công nguyên Hán vơng tiêu diệt đợc

Sở vơng thôn tính hầu hết vùng Trung Nguyên Lu Bang lên ngôi hoàng đế

đóng đô ở Trờng An Trong mấy chục năm đầu triều Hán tập trung vào việc

ổn định tình hình đất nớc Nhng khi đất nớc đã hng thịnh, triều Hán lại nối gót bành trớng của triều Tần, đem quân đi chinh phục bốn phơng, nhất là dới thời trị vì của vua Hán Vũ Đế

ở phía Bắc, từ năm 113 đến năm 119 trớc công nguyên Vũ Đế tập trung lực lợng để đánh ngời Hung Nô Kết quả là Trung Quốc đã đẩy bộ tộc

du mục này lên tận sa mạc Gôbi

ở phía Tây, vùng Tân Cơng và Trung á ngày nay lúc bấy giờ có 36

n-ớc, Trung Quốc gọi chung là Tây Vực Triều Hán đã hai lần cử Trơng Khiên

đi sứ vào các năm 138 và 121 trớc công nguyên đến các nớc Ô Tôn (ở Tân

C-ơng) Đại Nhục Chi, Đại Hạ (ở Apganixtan), Đại Uyển tr… ớc mắt là nhằm để kết giao, đổi hàng hoá, nhng về lâu dài là để tiến tới chinh phục các nớc ấy

ở phía Đông, năm 108 trớc công nguyên nhà Hán đem quân sang xâm lợc Triều Tiên, chia thành các quận huyện rồi sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc

ở phía Nam, trong thời gian đầu nhà Hán tập trung lực lợng đánh ngời Hung Nô ở phía Bắc, nhng sau khi đã đuổi đợc ngời Hung Nô tới tận sa mạc Gôbi thì nhà Hán đã tập trung lực lợng bành trớng xuống phía Nam Năm 111 trớc công nguyên, nhà Hán chinh phục đợc Nam Việt đồng thời nhà Hán thôn tính luôn cả đất Âu Lạc đã bị nhà Triệu chiếm đóng từ trớc, sau đó quân Hán tiến xuống thôn tính cả vùng phía Nam (Trung Trung Bộ) rồi đặt thành quận, huyện của Trung Quốc Nhà Hán đã kết hợp các thủ đoạn vũ lực tàn bạo với các thủ đoạn mua chuộc, đe doạ để khuất phục các nớc

Trang 11

Đầu thế kỷ thứ II nhà Hán suy yếu nghiêm trọng để rồi đi tới sụp đổ Nhân cơ hội đó các thế lực thi nhau cát cứ, xng hùng xng bá khắp nơi Năm

220 ngôi vua Đông Hán bị một thế lực quân phiệt chiếm đoạt Trung Quốc một lần nữa lâm vào tình trạng nội chiến triền miên Đế chế Hán tan rã hoàn toàn

Năm 581 nhà Tuỳ đợc thành lập Nhà Tuỳ đã chú ý thi hành nhiều chính sách để củng cố nền thống trị của vơng triều mới nh tiếp tục thi hành chế độ quân điền, giảm bớt nghĩa vụ tô thuế và lao dịch cho nông dân, thống nhất tiền tệ Nhờ vậy kinh tế b… ớc đầu phát triển, xã hội tơng đối ổn định

Mặc dù tồn tại trong một thời gian ngắn nhng sau khi đã ổn định tình hình trong nớc triều Tuỳ đã bành trớng khá mạnh về phía Đông và phía Nam: Triều Tiên và Vạn Xuân Trong đó mu đồ xâm lợc Triều Tiên là cuồng nhiệt nhất Chỉ trong vòng 16 năm nhà Tuỳ đã đa quân sang xâm lợc nớc Cao Câu Ly (Bắc Triều Tiên) nhỏ bé 4 lần nhng đều thất bại” [26; 114] ở

phía Nam triều Tuỳ đã thôn tính đợc Vạn Xuân, Lâm ấp (Chiêm Thành) lập thành các quận huyện của Trung Quốc

Chế độ su dịch và binh dịch hết sức nặng nề và liên tục đeo đuổi chiến tranh xâm lợc của triều Tuỳ đã dẫn tới sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa Lợi dụng phong trào nông dân và nhân lúc chính quyền trung ơng suy yếu nghiêm trọng, bọn quan liêu và địa chủ phong kiến ở các địa phơng nổi dậy cát cứ, tranh đoạt quyền bính Năm 618 một thế lực phong kiến lớn ở miền Bắc do Lý Uyên cầm đầu đã lật đổ triều Tuỳ, lập ra triều Đờng Mở đầu thời kỳ phát triển thịnh trị nhất của các triều đại phong kiến Trung Quốc Sau khi thành lập, triều Đờng tập trung tiêu diệt lực lợng còn lại của triều Tùy và các lực lợng của quân nông dân Để điều hòa những mẫu thuẫn trong xã hội triều Đờng đã có một số chính sách nhợng bộ nông dân nh ban hành chế độ quân điền, giảm mức tô thuế và su dịch, chọn quan lại thanh liêm, phát triển

Trang 12

chế độ khoa cử v.v Do đó chỉ sau mấy năm kinh tế đ… ợc khôi phục và phát triển, chính trị ổn định

Đến thời nhà Đờng, tổ chức bộ máy nhà nớc đã đợc hoàn chỉnh Chính quyền từ trung ơng đến các địa phơng đợc thiết lập một cách quy củ, chặt chẽ Nếu nh Tần Thuỷ Hoàng là ngời đặt nền móng trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nớc thì đến nhà Đờng đã đợc hoàn chỉnh Về thiết chế chính trị nói chung và về tổ chức bộ máy nhà nớc nói riêng thì đây đợc xem là khuôn mẫu cho chế độ phong kiến Trung Quốc Chính quyền chuyên chế ngày càng đợc củng cố

Về đối ngoại, lao theo vết xe đổ của các triều đại trớc nhà Đờng lại tiếp tục chính sách bành trớng xâm lợc ra xung quanh Nhà Đờng đã xây dựng một lực lợng quân đội nhằm duy trì trật tự xã hội, trấn áp bên trong và thực hiện mục tiêu này của các hoàng đế

ở phía Bắc, nhà Đờng lần lợt chinh phục Đông Đột Quyết, Tiết Diên

Đà thiết lập một cơ quan cai trị gọi là An Bắc đô hộ phủ ở Phía Tây, thôn tính Đột Dục Hồn (năm 635), Cao Xơng (năm 640) rồi thành lập ở đây An Tây đô hộ phủ Tiếp đó nhà Đờng chiếm thêm một số nớc, bắt một số nớc nhỏ

bé khác phải thần phục ở phía Đông, trên bán đảo Triều Tiên có xung đột giữa các nớc Tân La (ở miền Đông Nam) với hai nớc Bách Tế (ở miền Tây Nam) và Cao Câu Ly (ở miền Bắc), đồng thời đợc sự cầu viện của Tân La triều Đờng đã điều quân sang xâm lợc Cao Câu Ly và Bách Tế Sau khi đã thôn tính đợc Cao Câu Ly và Bách Tế nhà Đờng đã thiết lập cơ quan cai trị ở

đây gọi là An Đông đô hộ phủ ở phía Nam, thì triều Đờng thay thế triều Tuỳ cai trị Vạn Xuân thiết lập ở đây bộ máy đô hộ gọi là An Nam đô hộ phủ

Nh vậy, với chính sách bành trớng nhà Đờng đã thôn tính đợc nhiều

n-ớc xung quanh trở thành một đế chế rộng lớn vào loại mạnh nhất thời bấy giờ

Đế chế Đờng, phía Đông lan ra tới biển, phía Đông Bắc sang tới Triều Tiên, Mãn Châu, phía Bắc tới sa mạc Gôbi, phía Tây tới Tân Cơng, phía Nam tới

Trang 13

Vạn Xuân Chính Đờng Thái Tông đã từng ngạo mạn tuyên bố rằng y đã

khuất phục đ

ợc 200 vơng quốc, dẹp yên bốn biển ” Song đây là những cuộc chiến tranh xâm lợc thôn tính các bộ tộc, các nớc láng giềng mang tính chất phi nghĩa Vì vậy nên không bao lâu sau các dân tộc đều nổi dậy đấu tranh thoát khỏi sự cai trị, đô hộ trực tiếp của nhà Đờng, tiêu biểu nh cuộc đấu tranh của nhân dân Triều Tiên, nhân dân Giao Châu (Bắc Việt Nam) và các bộ tộc ở Tây Vực (vùng Tân Cơng và Trung á)

Nhng nền thịnh trị của nhà Đờng không tồn tại lâu đến đầu thế kỷ thứ VIII đế chế Đờng bắt đầu suy yếu dần và nảy sinh những nhân tố bên trong, bên ngoài trực tiếp dẫn tới sự bại vong của nó Đó là các vụ phiến loạn trong nớc nh loạn An Lộc Sơn – Sử T Minh, các cuộc khởi nghĩa của nông dân nh cuộc khởi nghĩa của Hoàng Sào và Vơng Tiên Chi Rồi các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ở các nớc bị đế chế Đờng thống trị Tình trạng phong kiến cát cứ lại diễn ra Năm 907 nhà Đờng bị lật đổ, bắt đầu từ đây Trung Quốc lại rơi vào thời kì chia cắt và nội chiến kéo dài hơn nửa thế kỷ

Trong thời kì này ở miền Bắc Trung Quốc lần lợt dựng lên năm triều

đại Hậu Lơng, Hậu Đờng, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu Còn ở miền Nam, các thế lực quân phiệt trớc sau đã thành lập chín nớc là Ngô, Nam Đờng, Ngô Việt, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Sở, Mân, Kinh Nam cộng với nớc Hán thành lập vào cuối thời Ngũ đại ở miền Bắc là mời nớc Lịch sử Trung Quốc gọi thời kì này là “Ngũ đại thập quốc” tức năm đời, mời nớc Đây là thời kì các thế lực quân phiệt cát cứ hỗn chiến lẫn nhau để tranh giành quyền bá chủ Trung Quốc, bởi thế t tởng bành trớng ít đợc phát huy Thậm chí thời kì này các triều đại Trung Quốc còn phải cắt đất, cống nạp cho nớc Liêu của tộc ngời Khiết Đan ở lu vực Liêu Hà Nhng khi triều Tống đợc thiết lập thì t tởng đó lại tiếp tục

Nhà Tống (960-1279), năm 960 một đại thần của nhà Chu là Triệu Khuông Dẫn cớp ngôi nhà Hậu Chu lập ra nhà Tống, sử gọi là Bắc Tống đóng

Trang 14

đô ở Khai Phong Khi Bắc Tống mới thành lập trên lãnh thổ Trung Quốc còn

có nhiều nớc nhỏ cát cứ và vùng đất ở phía Bắc Hoàng Hà đang bị Liêu chiếm Khoảng mời mấy năm sau triều Tống đã lần lợt tiêu diệt các thế lực cát

cứ ở miền Nam còn trừ địa bàn bị nớc Liêu chiếm còn đại bộ phận đất đai của Trung Quốc đã đợc thống nhất

Tuy nhiên, triều Tống không phải là một triều đại hùng cờng trong lịch

sử Trung Quốc Điều đó đợc thể hiện vào các năm 979 và 986, Bắc Tống đã tập trung lực lợng thu hồi đất đai đã mất nhng cả hai lần tấn công nớc Liêu

đều thất bại Sau đó chính phủ Bắc Tống đã không dám chủ động tấn công

n-ớc Liêu nữa, trong khi đó thì nn-ớc Liêu vẫn không ngừng xâm lấn, cớp bóc Trung Quốc Năm 1004 vua Liêu đem quân thọc sâu vào nội địa Trung Quốc

đến gần Khai Phong sau đó quân Bắc Tống đánh đuổi đợc quân Liêu nhng lại phải kí hoà ớc cắt đất đai cho Liêu và hàng năm phải nộp cho Liêu 10 vạn lạng bạc, hơn 15 vạn tấn lụa và 3 vạn cân chè

Mặc dù với thái độ ơn hèn khi đối đầu với các quốc gia ở phía Bắc nhng các hoàng đế nhà Tống vẫn không từ bỏ t tởng bành trớng của mình, triều Tống đã gấp rút cho các cuộc “chinh Nam, phạt Bắc” Nhà Tống đã hai lần

đem quân sang xâm lợc Đại Cồ Việt vào các năm 981 và 1076-1077 nhng cả hai lần quân Tống đều bị quân dân Đại Cồ Việt đánh cho tan tác Nh vậy nhà Tống định dùng chiến tranh xâm lợc bên ngoài để làm tăng sức mạnh bên trong đồng thời để thực hiện mu đồ t tởng bành trớng của các hoàng đế Thế nhng những cuộc chiến tranh “chinh Nam, phạt Bắc” đã không thành công mà lại còn làm cho nớc Tống càng gặp nhiều khó khăn và ngày càng suy yếu, các cuộc khởi nghĩa nông dân lại liên tiếp nổ ra Trong lúc đó Bắc Tống lại đứng trớc hiểm hoạ xâm lợc của ngời Kim Năm 1125 Kim diệt xong Liêu đã thừa cơ tràn xuống đánh Tống Vua Tống bị bắt, cả hoàng tộc phải chạy xuống phía Nam và lập ra nhà Nam Tống Sau đó triều đình nhà Tống đã kí hoà ớc với Kim nhờng miền Bắc Trung Quốc sát nhập vào nớc Kim và hàng năm phải cống nạp Còn phía Nam do triều đình nhà Tống cai quản Từ đó trên lãnh thổ

Trang 15

Trung Quốc song song tồn tại hai quốc gia Tống và Kim trong suốt một thế kỷ.

Đầu thế kỷ thứ XIII ở phía Bắc nớc Liêu xuất hiện một quốc gia rất mạnh của các bộ tộc du mục Mông Cổ đang trong quá trình chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thuỷ lên chế độ phong kiến Trên bớc đờng chinh phục hai lục địa á- Âu quân Mông Cổ đã tiêu diệt Tây Hạ, Kim, thôn tính Thổ Phồn, Đại Lý (Vân Nam), Cao Ly (cả bán đảo Triều Tiên) Năm 1257 quân Mông Cổ đánh vào Nam Trung Quốc từ ba phía Bắc, Tây và Tây Nam Năm

1259 vì nội bộ Mông Cổ có sự biến nên cuộc tấn công đó tạm ngừng Sau khi

ổn định nội bộ, năm 1267 quân Mông Cổ tiếp tục tấn công Nam Tống Năm1271 vơng triều Mông Cổ do Hốt Tất Liệt đứng đầu đổi tên là Nguyên, dời đô từ Khai Bình đến Bắc Kinh (Đại Đô) Hốt Tất Liệt tự xng làm hoàng

đế, đặt chế độ quan lại giống nh các triều đại phong kiến Trung Quốc Sau đó Hốt Tất Liệt sai đem đại quân đi đánh Tống Năm 1276 triều đình Tống đầu hàng nhng một số quan lại yêu nớc đã lập dòng dõi nhà Tống lên làm vua ở Phúc Kiến và tiếp tục kháng chiến đến năm 1279 mới hoàn toàn bị tiêu diệt

Nh thế sau khi tiêu diệt Hạ, Kim và Nam Tống nhà Nguyên đã thiết lập

đợc nền thống trị của họ trên cả đất nớc Trung Quốc thống nhất bao gồm một vùng rộng lớn: phía Bắc tới đất Mông Cổ, Mãn Châu, phía Tây tới Tây Vực, Thổ Phồn, phía Nam tới Vân Nam, Lỡng Quảng, phía Đông tới Cao Ly

Trong thời kỳ cai trị Trung Quốc, bọn phong kiến Mông Cổ một mặt thi hành chính sách áp bức giai cấp và áp bức dân tộc hết sức tàn bạo, một mặt lại chịu ảnh hởng, tiếp thu ít nhiều nền văn hoá phát triển tơng đối cao của ngời Hán Song song với chính sách đó quý tộc Mông Cổ đã nhanh chóng lôi kéo

đợc quý tộc ngời Hán đi theo chính sách bành trớng xâm lợc của triều Nguyên nhằm mở rộng biên cơng Trung Quốc Chỉ trong vòng 20 năm đầu thời Nguyên Hốt Tất Liệt đã phát động nhiều cuộc chiến tranh để xâm lợc Nhật Bản, Miến Điện, Chiêm Thành, Đại Việt và Giava Nhng trong các quốc gia

Trang 16

này thì chỉ có Miến Điện là chịu thần phục còn ở các quốc gia khác các cuộc chiến tranh của nhà Nguyên đều thất bại Mặc dù vậy thì đây vẫn là thời kì Trung Quốc có cơng vực lãnh thổ rộng nhất Đế chế Nguyên có lãnh thổ kéo dài từ Âu sang á, phía Đông tới ven biển châu á, phía Nam tới quần đảo Nam Dơng, phía Bắc tới Xibia, phía Tây tới Đông châu Âu.

Thế nhng dù đã đợc Trung Quốc hoá, triều Nguyên vẫn là triều thống trị của kẻ chinh phục ngoại tộc Do đó xã hội Trung Quốc tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp Trong suốt thời kì thống trị của nhà Nguyên các phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc

nổ ra liên tiếp càng về sau càng mạnh mẽ Trong điều kiện đó phong trào khởi nghĩa của nông dân đã bùng nổ ở nhiều nơi và phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng to lớn Sau hơn mời năm chiến đấu đến năm 1368 nghĩa quân

do Chu Nguyên Chơng đứng đầu đã lần lợt đánh đuổi quân Mông Cổ khỏi Giang Nam và Trung Nguyên thu hồi gần hết Trung Quốc

Năm 1368, triều Minh đợc đợc thành lập đóng đô ở Nam Kinh, mùa thu năm đó Chu Nguyên Chơng tiến đánh Đại Đô (Bắc Kinh) triều đình nhà Nguyên bỏ chạy lên phía Bắc ra khỏi Trờng Thành Nền thống trị của nhà Nguyên Trung Quốc kết thúc Sau khi lên cầm quyền về đối nội trong mấy chục năm đầu nhà Minh đã có một số chính sách tích cực nh khuyến khích khai hoang, đẩy mạnh sản xuất, giảm nhẹ tô thuế, su dịch cho dân, nghiêm trị nạn quan lại tham nhũng Do đó, Trung Quốc lại mau chóng trở thành một quốc gia phong kiến cờng thịnh Về đối ngoại, một mặt nhà Minh thu hồi một

số vùng đất còn lại của Trung Quốc, tăng cờng phòng thủ biên cơng chống sự xâm nhập của các tộc ngời phơng Bắc Mặt khác, đi theo vết xe đổ của các triều đại cũ, nhà Minh lại bành trớng thế lực ra các vùng thuộc đế chế Nguyên ngoài Trung Quốc nhất là xuống các nớc phơng Nam

Dới thời trị vị của Minh Thành Tổ ông đã tích cực thi hành chính sách

“viễn giao cận công”, “dĩ Di trị Di” Về phía Bắc, Minh Thành Tổ đã năm lần

Trang 17

tự mình đem quân đánh ngời Tácta và ngời Oirát, hai chi nhánh của tộc Mông

Cổ, mua chuộc và xúi giục họ đánh lẫn nhau Ông còn hết sức lôi kéo tộc Nữ Chân thần phục triều Minh Kết quả có lúc thủ lĩnh của các bộ tộc này tạm thời quy phục nhng mối quan hệ ấy không bền chặt, trái lại sau đó nó lại trở thành mối đe dọa lớn cho Trung Quốc trong một thời gian dài

Về phía Nam, năm 1406 triều Minh đã huy động một lực lợng lớn quân

đội ồ ạt tấn công Đại Việt, nhng âm mu bành trớng đã bị nhân dân Đại Việt

đánh bại, phải rút quân về nớc sau hơn hai mơi năm đeo đuổi chiến tranh xâm lợc hao binh tổn tớng Ngoài ra Minh Thành Tổ còn nhiều lần cử sứ giả đến các nớc Đông Nam á, Nam á, Tây á nhằm lôi kéo những nớc ở vùng này

đến thần phục Trung Quốc Trong khoản gần ba mơi năm đầu thế kỷ XV nhà Minh đã cử phái đoàn Trịnh Hoà bảy lần vợt biển tới các nớc đó Bằng biện pháp vừa đe doạ, uy hiếp bằng quân sự vừa mua chuộc bằng của cải, lừa dối bằng ngoại giao Trịnh Hoà đã chiêu dụ đợc 30 nớc ở vùng này thần phục và triều cống thiên triều

Sau khi Minh Thành Tổ qua đời từ thập kỷ 30 của thế kỷ XV trở về sau, triều Minh bắt đầu suy sụp, bên trong triều đình bị hoạn quan thao túng, bên ngoài Trung Quốc bị ngời Mông Cổ xâm lợc, cuộc sống nhân dân vô cùng khổ cực Do đó, đến đầu thế kỷ XVII các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân diễn ra liên tục Chính các phong trào đấu tranh đó đã làm cho nhà Minh diệt vong Trong các phong trào đấu tranh tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của đạo quân do Lý Tự Thành lãnh đạo Năm 1644 Lý Tự Thành đã lãnh đạo một đạo quân từ Tây An(Thiểm Tây) kéo về đánh Bắc Kinh diệt triều Minh Đế chế Minh đến đây hoàn toàn tan rã

ở phía ngoài khu vực Liên Hà có tộc Nữ Chân (thuộc chủng tộc Mãn) vốn thần phục nhà Minh đã trỗi dậy lập ra nớc Hậu Kim Sau đó ngời Nữ Chân đã chinh phục Triều Tiên, Nội Mông rồi đặt tên tộc ngời mình là Mãn Châu và đặt lại quốc hiệu là Thanh năm 1636 Ngời Mãn Châu ngày càng

Trang 18

mạnh đến giữa năm 1644 giặc Thanh tiến xuống chiếm Bắc Kinh Bọn quan liêu và địa chủ Hán tộc đã đầu hàng rồi tổ chức lực lợng vũ trang phối hợp với quân xâm lợc chống lực lợng kháng chiến của nông dân Với sự ủng hộ tiếp tay đắc lực của bọn phong kiến Hán tộc phản quốc, giặc Thanh nhanh chóng thôn tính đợc miền Bắc Trung Quốc và thống trị Trung Quốc Trong mấy chục năm tiếp theo đã thôn tính các vùng ở phơng Nam nh Tứ Xuyên, Hồ Nam, L-ỡng Quảng, Vân Nam.

Sau khi đã củng cố đợc nền thống trị ở trong nớc nhà Thanh lại hung hăng bành trớng ra bên ngoài Chúng đã chiếm Đài Loan, Nội Mông, Tân C-

ơng, Tây Tạng Phạm vi thống trị của nhà Thanh về phía Bắc tới Mãn Châu, phía Tây tới lu vực sông Ily và vùng rừng núi Khang Tạng, phía Nam tới Vân Nam, Lỡng Quảng, phía Đông tới Đài Loan, Triều Tiên Trong số các cuộc chiến tranh xâm lợc của nhà Thanh chỉ có cuộc chiến tranh xâm lợc Đại Việt

là thất bại thảm hại

Từ giữa thế kỷ XIX triều Thanh – triều đại phong kiến cuối cùng ở Trung Quốc bắt đầu suy yếu Lúc này chủ nghĩa t bản đã phát triển mạnh ở châu Âu đang đẩy mạnh việc chiếm đoạt các nớc châu á mà Trung Quốc là một đối tợng để các nớc t bản chia nhau xâu xé Trong tình hình đó, giai cấp t sản Trung Quốc cố nhảy lên vũ đài chính trị nắm chính quyền Nhng do sự suy yếu của chế độ phong kiến Trung Quốc và sự yếu đuối của chính giai cấp

t sản Trung Quốc mà bọn t bản phơng Tây đã nhảy vào xâu xé Trung Quốc, biến Trung Quốc thành một xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến Và cho tới cách mạng Tân Hợi – cuộc cách mạng t sản năm 1911 đế chế Thanh đã hoàn toàn sụp đổ

Tóm lại, các triều đại trên đây trong lịch sử Trung Quốc từ thời nhà Hạ nhất là nhà Chu cho tới nhà Thanh đều nuôi trong mình t tởng bành trớng ra bên ngoài Các triều đại đã dùng mọi cách bạo lực dã man, ngoại giao xảo quyệt nhằm thôn tính đất đai, đồng hoá dân tộc và thiết lập bá quyền của họ

Trang 19

Và t tởng đó không ngừng đợc bổ sung, ngày càng hoàn thiện với cái gọi là

truyền thống

“ ” của dân tộc Trung Hoa

Chơng 2:

T tởng bành trớng trong lịch sử Trung Quốc

2.1 Cơ sở hình thành của t tởng bành trớng Trung Quốc.

Lịch sử chế độ phong kiến kéo dài hơn hai nghìn năm có vai trò đặc biệt to lớn trong sự phát triển của xã hội Trung Quốc Đứng về một mặt nào

đó mà nói lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc là lịch sử “tranh bá, đồ

v-ơng”, lịch sử giành giật quyền bính trong nớc và bành trớng ra bên ngoài của những vơng hầu, khanh tớng Kẻ giành giật đợc quyền bính thì chủ trơng đạo vơng, kẻ muốn lật đổ thì chủ trơng đạo bá T tởng đó không ngừng đợc củng

cố, phát huy qua các triều đại Các hoàng đế Trung Hoa đã lần lợt đánh chiếm hết nớc này đến nớc khác tiêu diệt hết dân tộc này đến dân tộc khác làm cho

đất nớc Trung Hoa vốn chỉ ở lu vực Hoàng Hà đã trở thành một đế quốc rộng lớn nh ngày nay

T tởng này đợc hình thành rõ rệt từ thời nhà Chu (thế kỷ XI-III trớc công nguyên) và đợc thịnh hành mạnh mẽ cho tới thế kỷ XIX sau công

Trang 20

nguyên cùng với sự ngự trị kế tiếp nhau của tám đế chế Trung Hoa là Tần, Hán, Tuỳ, Đờng, Tống, Nguyên, Minh và Thanh T tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc không phải là một hiện tợng ngẫu nhiên mà nó đợc sản sinh ra trong một điều kiện lịch sử kinh tế, xã hội cụ thể của đất nớc này “ Sự hình thành phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc với những nét chung và nét riêng, những quy luật phổ biến và đặc thù suy cho cùng đều

do trình độ phát triển của kinh tế, của việc sản xuất ra của cải vật chất của quốc gia ấy, dân tộc ấy quyết định Trình độ phát triển của kinh tế của việc sản xuất ra của cải vật chất của một quốc gia, một dân tộc tuỳ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể trong đó không thể không kể đến điều kiện tự nhiên nh: địa lí, đất đai, khí hậu Tuỳ theo điều kiện nơi c trú là vùng rừng núi, đồng bằng hay vùng bình nguyên mà việc chuyển biến về phơng thức kiếm sống của mỗi cộng đồng dân c một khác ở vùng núi cao rừng rậm, dân c suốt một thời gian dài vẫn dừng lại ở phơng thức săn bắn, lấy săn bắn làm ngành kiếm sống chủ yếu ở vùng cao nguyên đồng cỏ, dân c chuyển dần lên phơng thức chăn nuôi, rồi tiến tới lấy nghề du mục làm nghề kiếm sống chủ yếu ở vùng bình nguyên, dân c chuyển dần lên phơng thức trồng trọt rồi tiến tới lấy nghề nông làm nghề kiếm sống chủ yếu” [6;64- 65]

2.1.1 Về kinh tế.

Đất nớc Trung Hoa- một đất nớc với bình nguyên mênh mông nhất là ở vùng trung và hạ du Hoàng Hà Điều kiện đó đã cho phép những ngời dân ctrú ở đây sớm bỏ đợc phơng thức kiếm sống bằng săn bắt và hái lợm chuyển sang phơng thức trồng trọt, tiến tới lấy nghề nông làm nghề kiếm sống chủ yếu Nhờ đất đai màu mỡ, khí hậu thích hợp với cây trồng nên sản xuất phát triển nhanh, nơi đây đã trở thành một trong những trung tâm văn minh cổ đại của thế giới Trên cơ sở đó sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng đẩy nhanh

sự chuyển biến từ xã hội công xã nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ- chế độ có giai cấp và nhà nớc đầu tiên (bắt đầu từ triều Hạ khoảng thế kỷ XXI

Trang 21

trớc công nguyên đến nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trớc công nguyên) đã chuyển dần từ xã hội chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến (mốc bắt đầu từ thời Chiến Quốc thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ III trớc công nguyên).

Trong khi đó ở chung quanh Trung Quốc nhiều tộc ngời cho đến thiên niên kỷ thứ II trớc công nguyên vẫn sống bằng phơng thức săn bắn hoặc du mục và còn trong thời kì công xã nguyên thuỷ, nhiều tộc ngời cho đến thế kỷ

X sau công nguyên vẫn sống bằng phơng thức du mục là chính và còn đang trong thời kì tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ hoặc mới bắt đầu chuyển dần lên chế độ có giai cấp Đây chính là một trong những điều kiện thuận lợi cho t tởng bành trớng nảy nở

2.1.2 Về xã hội.

Việc sớm chuyển sang chế độ nô lệ chính là điều kiện xã hội cho lực ợng sản xuất, khoa học, văn hoá phát triển mạnh mẽ hơn, vấn đề dân số cũng

l-đợc gia tăng nhanh chóng Một mặt do sinh sôi nảy nở tự nhiên, các cộng

đồng ngời Hoa Hạ ở các vùng bình nguyên trung và hạ du Hoàng Hà tăng lên nhanh chóng hơn nhiều lần so với số dân các bộ lạc du mục hoặc săn bắn ở chung quanh Nguyên nhân là do c dân ở đây sống định c trong các làng mạc,

do sản phẩm dồi dào của nền kinh tế nông nghiệp Mặt khác do yêu cầu lớn về nhân công để khai thác đất đai trồng trọt và do phải xây dựng những công trình trị thuỷ lớn để chống lại tai hoạ của thiên nhiên Do đó các vơng triều Trung Hoa đã tiến hành liên tục các cuộc chinh phục các bộ lạc du mục và săn bắn ở chung quanh, thôn tính đất đai và cớp đoạt lao động, bắt tù binh làm nô lệ

Theo sử sách Trung Quốc dân số Trung Quốc thời Tây Hán thế kỷ

thứ I trớc công nguyên là ngót 60 triệu ngời Thời Bắc Tống đầu thế kỷ XII, ngót 100 triệu ngời Thời Thanh giữa thế kỷ XVIII khoảng 150 triệu ngời, cuối thế kỷ XVIII khoảng 300 triệu ngời Trong khi ấy dân số toàn thế giới theo số liệu tạm ớc của một tài liệu nớc ngoài vào năm 1100 có khoảng 306

Trang 22

triệu ngời, đến năm 1800 khoảng 906 triệu ngời So sánh các số liệu dân c thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XII và cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XIX trên đây có thể thấy dân số Trung Quốc đông đảo đến mức nào, thờng là bằng một phần ba tổng số dân toàn thế giới ” [6;67- 68] Có đợc một quốc gia với dân số hết sức đông đảo đó là một điều kiện cho các vơng triều Trung Hoa

có thể vơ vét đợc nhiều sức ngời, sức của nhất là tổ chức đợc một đội quân hết sức lớn để phục vụ cho chính sách đối nội, đối ngoại của mình Đối nội đàn áp các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, đối ngoại tiến hành chiến tranh xâm lợc các nớc khác Do yếu thế về chính trị tinh thần bởi vậy giới cầm quyền Trung Quốc trong t tởng bành trớng của mình chỉ nhìn thấy sức mạnh ở tiềm lực vật chất, ở nguồn nhân lực, vật lực của nớc mình, đặc biệt là số quân

đội rất đông đợc huy động mà thôi Vì thế giai cấp thống trị Trung Quốc cho rằng có nớc lớn, ắt dân đông có sức mạnh khuất phục, thôn tính nớc khác, giành quyền bá chủ thiên hạ

2.1.3 Về chính trị.

Để đấu tranh đợc với thiên nhiên và để tự vệ thì cần phải thống nhất các công xã, phải có bộ máy điều hành chung Bộ máy này có nhiệm vụ điều tiết công việc xây dựng các công trình trị thuỷ và các công trình to lớn khác Muốn làm đợc điều này thì phải có quyền lực thống trị tuyệt đối và có toàn quyền sử dụng lao động Điều này tất yếu dẫn đến chiếm đoạt quyền sở hữu tuyệt đối về ruộng đất và nguồn nớc Trên cơ sở đó một chính quyền chuyên chế ra đời chiếm hữu toàn bộ t liệu sản xuất chủ yếu của xã hội đồng thời chiếm đoạt toàn bộ sản phẩm thặng d của đất nớc

Trong điều kiện của nớc Trung Hoa, chính quyền nhà nớc ấy đứng đầu

là nhà vua Nhà vua đã chiếm giữ trong tay mình quyền sở hữu tối cao đối với toàn bộ ruộng đất trong nớc, các tầng lớp trong xã hội đều bị biến thành ngời lao động của vơng triều Chính vì vậy mà Khổng Tử đã nói trong Kinh Thi rằng: “D ới gầm trời không nơi nào không phải là đất đai của nhà vua, trên

Trang 23

đất đai ấy không ngời nào không phải là thần dân của nhà vua” (Phổ thiên

chi hạ, mạc phi vơng thổ; xuất thổ chi tân, mạc phi vơng thần) chế độ quân chủ chuyên chế đợc thiết lập ngay từ thời chiếm hữu nô lệ và thời đại phong kiến nó là một chỉnh thể “Trong chỉnh thể ấy quyền lực cá nhân của kẻ làm vua không bị hạn chế trên bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, không bị kiểm soát bởi bất cứ một cơ quan nhà nớc nào Trong chỉnh thể ấy, ý chí và hành động của cá nhân kẻ làm vua đợc tôn thành ý chí và hành động của đấng tối cao

đứng trên cả triều đình, cả toàn bộ nhà nớc, cả giai cấp mà nó đại diện là mặt trời là thiên tử thay trời trị dân

Nh vậy, với tất cả những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội ấy

và với quan điểm về quyền lực cực kỳ phản động, những ngời đứng đầu xã hội Trung Quốc cổ đại mặc sức thao túng quyền hành, luôn luôn khao khát bành trớng và bá quyền, say mê lao vào việc chinh phục các nớc láng giếng với chiêu bài thay trời trừng phạt những kẻ “Man, Di” xúc phạm đến “thiên triều , thiên tử” “ ”, dám chống lại “mệnh trời”…để thoả mãn lòng tham không

đáy của các đế vơng Với tính chất chuyên quyền, độc đoán cá nhân cao độ, nền quân chủ chuyên chế ở Trung Quốc thời đại chiếm hữu nô lệ và thời đại phong kiến đã tiến hành khủng bố hết sức tàn bạo, đàn áp bằng vũ lực một cách có hệ thống quần chúng lao động và các phe phái chống đối chúng để

Trang 24

các vùng bình nguyên trung và hạ du Hoàng Hà dần dần nảy sinh những quan

điểm bất bình đẳng và kỳ thị chủng tộc, đề cao, sùng bái dân tộc mình, hạ thấp bài xích các dân tộc khác Cho đến đời Chu những quan điểm ấy đã đợc phát triển thành cả một hệ thống lý luận và trở thành một nội dung của hệ t t-ởng của giai cấp thống trị các cộng động dân c làm nông nghiệp ở trung và hạ

du Hoàng Hà

Những nhà t tởng của giai cấp thống trị các cộng đồng dân c làm nông nghiệp tự đặt cho mình cái tên là “Hoa Hạ ” “áo mũ rực rỡ, đẹp đẽ gọi là Hoa, nớc lớn gọi là Hạ” Cái tên Trung Quốc, có nghĩa là một quốc gia ở

giữa Ngời ta cho rằng trái đất là một hình vuông, còn mặt trời là hình tròn

Do mặt trời là hình tròn nên nó chỉ có thể toả xuống không gian ở giữa trái đất hình vuông ấy Và ở giữa cái hình bốn góc vuông ấy chính là bộ tộc của ngời Hoa Ngời Hoa ở chính giữa là Trung Quốc Còn những nớc không đợc diễm phúc nằm dới bóng mặt trời thì theo các nhà t tởng Trung Hoa cổ đại, cũng chẳng có bốn mùa, quanh năm tăm tối, hoang vu lạnh lẽo, nếu không có những vùng sa mạc chết thì cũng là biển cả mênh mông Những c dân không

đợc nằm trong vòng trong chiếu sáng của mặt trời là những ngời thấp kém về mọi mặt, sống ở bốn xung quanh Đông, Tây, Nam, Bắc là những kẻ dã man

Trang 25

góp quân, lơng theo lệnh quân tử) Do đó các nhà t tởng, các vơng triều Hoa Hạ xác định thiên tử, hoàng đế của Trung Quốc là vua của tất cả vua trong thiên hạ.

Thuyết dân tộc trung tâm đã đợc các đạo Khổng, thuyết Pháp trị, Đạo giáo nâng lên thành giáo lí, thành phơng pháp t duy, thành thủ đoạn truyền thống kiểu Trung Quốc Những đạo, những thuyết này kế thừa lẫn nhau, củng

cố cho nhau, phát triển và bổ sung cho nhau, làm cho ý thức hệ ấy ngày càng hoàn chỉnh cả về lí luận và phơng pháp cả về mục tiêu và thủ đoạn Đạo Khổng thì đề cao uy quyền tuyệt đối của “thiên tử”, coi ý vua là mệnh trời“ ”

là chân lí đề cao “trung quân” nghĩa là trung thành tuyệt đối với vua chấp hành vô điều kiện mọi mệnh lệnh và ý kiến của nhà vua Đây chính là thớc đo giá trị là đạo đức cao nhất của con ngời Mạnh Tử thì lại cho rằng “chỉ có ng -

ời trí mới có thể đem thân phận nớc nhỏ thờ nớc lớn”… “ lấy thân phận n ớc nhỏ để thờ nớc lớn là sợ trời sợ trời thì giữ đợc nớc [21;9]” Đạo giáo lại thổi lên xu hớng bài ngoại rất thô bạo, luôn luôn khẳng định vị trí độc tôn của dân tộc Trung Hoa Còn thuyết pháp trị trung thành với những t tởng đó đã đề

ra cơng lĩnh cụ thể để đạt đợc mục tiêu bằng xây dựng một nhà nớc độc quyền chuyên chế, xây dựng một quốc gia hùng mạnh nhất thiên hạ mà biện pháp chủ yếu là bạo lực: đối nội thì thẳng tay tàn sát, cỡng bức nhân dân triệt để, thực hiện chính sách ngu dân Đối ngoại thì gây chiến tranh và xâm lợc liên miên để bành trớng, thuần phục và đồng hoá các dân tộc khác

Thuyết dân tộc trung tâm của Trung Quốc cổ xa trải qua mấy nghìn năm ngày càng đợc củng cố, ăn sâu bám rễ và trở thành ý thức hệ đặc thù của những ngời chiếm đoạt quyền hành cai quản đất nớc của các triều đại phong kiến Nó trở thành lý luận, nguyên tắc về nhà nớc và pháp luật là cơng lĩnh cho các chính sách về đối nội và đối ngoại và trở thành ý thức hệ chủ đạo của xã hội Trung Hoa Mà cái cốt lõi của ý thức hệ này là t tởng bành trớng đại tộc, bá quyền nớc lớn của giai cấp thống trị Hoa – Hán Dới thời nhà Chu,

Trang 26

nhà Chu đã chinh phục các dân tộc nhỏ yếu xung quanh mình và biến họ thành các quốc gia ch hầu, cứ ba năm phải cống nạp và phải chuẩn bị quân l-

ơng để khi nhà Chu cần đến Và tất cả các quốc gia phải hớng về nhà Chu ớng về “thiên tử ,” cứ 5 năm phải đến chầu khi có việc cần vua Chu triệu tập Hội nghị đồng minh bất thờng các ch hầu phải cắt máu ăn thề để bảo vệ ngôi bá chủ của nhà Chu Đến thời nhà Tần cùng với sự kết hợp với t tởng bá quyền thực hiện đờng lối pháp trị nhà Tần đã nhanh chóng chinh phục đợc các quốc gia xung quanh thiết lập đế chế Tần hùng mạnh

h-Sự kết hợp giữa quan điểm tộc ngời thợng đẳng – quốc gia trung tâm với quan điểm dùng chiến tranh chinh phạt để bình định thiên hạ đã đẻ ra t t-ởng bành trớng đại tộc và bá quyền nớc lớn của giai cấp thống trị Hán tộc T t-ởng đó đợc hình thành cùng với sự thiết lập của đế chế Trung Hoa đầu tiên hồi thế kỷ thứ III trớc công nguyên và đợc thịnh hành mạnh mẽ cùng với sự ngự trị kế tiếp nhau của 8 đế chế Trung Hoa từ thế kỷ thứ III trớc công nguyên đến thế kỷ XIX trớc công nguyên

2.2.2 Nho giáo.

Hệ t tởng chính trị Nho gia đợc thể hiện một cách cơ bản, có hệ thống trong t tởng của ngời khởi xớng – Khổng Tử Những nhà nho tiếp theo, xuất phát từ đó mà cụ thể hoá và phát triển thêm theo một số hớng khác nhau (tiêu biểu là Mạnh Tử và Tuân Tử) Bộ sách Tứ th gồm Luận ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử, là những tác phẩm kinh điển của hệ t tởng Nho giáo Hệ t t-ởng Nho giáo thừa nhận sự thống trị của giai cấp phong kiến, đứng đầu là thiên tử, có sự phân chia đẳng cấp xã hội ngời lao động chỉ là hạng tiểu nhân, hèn kém còn tầng lớp trên là hạng quân tử cao sang Chính vì cốt lõi t tởng đó,

hệ t tởng Nho gia đợc giai cấp phong kiến Trung Quốc qua các thời đại sử dụng làm t tởng thống trị

Nho giáo thực chất là một học thuyết trị nớc trong đó bao gồm những vấn đề cơ bản của chính trị nh quyền lực, bang giao, phẩm chất của ngời cai trị Qua quá trình phát triển của lịch sử để sử dụng công cụ trị n… ớc đó có

Trang 27

hiệu quả đạo Nho đã không ngừng đợc bổ sung, cải biến và đạo Nho đã không còn giữ nguyên đợc cái gốc ban đầu của nó Khi nhà Hàn lên ngôi Đổng Trọng Th đã thêm nhiều yếu tố huyền bí, ma quái vào đạo Nho làm cho đạo Nho có nhiều yếu tố tôn giáo vì thế nó đợc gọi là Nho giáo mà tiêu biểu là thuyết Thiên mệnh Thuyết này đa ra chỉ nhằm khẳng định sự bất biến quyền lợi của giai cấp thống trị mà thôi T tởng của Đổng Trọng Th chủ yếu là kính dâng mệnh trời, đề cao quyền lực tối thợng của hoàng đế, minh định danh phận của mỗi hạng ngời và trị nớc theo khuôn mẫu của kinh Xuân Thu Sau

Đổng Trọng Th đến đời Tống, Minh, Thanh, Nho giáo cũng đã đợc cải biến

để phù hợp với tình hình

Nhng cốt lõi trong t tởng của Khổng Tử đó là thuyết “tu, tề, trị, bình”

đây là ý rút ngắn trong các câu, “sở vị bình thiên hạ, tại trị kỳ quốc; sở vị trị

kỳ quốc, tất tiên tề kỳ gia; sở vị tề kỳ gia, tại tu kỳ thân giả”, nghĩa là muốn

bình thiên hạ phải chỉnh trị công việc đất nớc, muốn chỉnh trị công việc đất

n-ớc phải chỉnh trị công việc gia đình, muốn chỉnh trị công việc gia đình phải sửa mình Theo thuyết này thì mục tiêu cuối cùng cũng chỉ là bình thiên hạ

mà thôi Bình thiên hạ theo Khổng Tử chỉ là mở rộng quan hệ với các quốc gia xung quanh, cai quản đợc đất nớc yên bình Nhng sau khi áp dụng thuyết này vào thực tế thì các hoàng đế của các triều đại lại cho rằng bình thiên hạ có nghĩa là phải ổn định đất nớc, đồng thời phải mở rộng ảnh hởng ra bên ngoài

Do vậy ở Trung Quốc thời phong kiến hầu nh các triều đại đều thực hiện chính sách bành trớng ra bên ngoài

Nhà Hán đã thực hiện cuộc viễn chinh vừa để đẩy nhân khẩu thừa ra bên ngoài, vừa để xâm chiếm thêm đất đai và mở rộng thêm nơi buôn bán Hán Vũ Đế đã tổ chức đánh đuổi Hung Nô, đô hộ Tây Vực, chinh phục Nam Việt, Triều Tiên Kết quả của việc mở rộng bờ cõi của nhà Hán là biên cơng Trung Quốc đợc mở rộng hơn, văn hoá các nớc á châu giao lu càng làm phong phú thêm, bọn địa chủ và thơng nhân cớp đợc nhiều tài sản

Trang 28

Cũng nh nhà Hán, đến nhà Đờng vai trò của Nho giáo khá lớn mạnh trong mọi lĩnh vực và xã hội trật tự Cho nên nhà Đờng cũng đã thực hiện bành trớng ra bên ngoài Đờng Thái Tông và các vua Đờng đã tiêu diệt Đông

Đột Quyết (phía bắc Trung Quốc), đô hộ Tây Đột Quyết và Tây Vực, thống trị Cao Ly, Bách Tế, Tân La, Giao Châu Quân viễn chinh Đờng bắt đầu vào Trung á, xung đột với quân đội ả Rập Việc mở rộng lãnh thổ, bành trớng thế lực ra bên ngoài đã đa Trung Quốc trở thành nớc lớn trên thế giới

Sau này nhà Thanh cũng thực hiện sự bành trớng lớn mạnh thế lực ra bên ngoài nhằm đa đất nớc Trung Quốc đạt tới đỉnh cao của sự thống trị

Nh vậy, Nho giáo không chỉ là một hệ t tởng chính thống để trị nớc của xã hội phong kiến Trung Quốc mà nó còn có một vai trò to lớn cho sự mở rộng, bành trớng thế lực ra bên ngoài của các triều đại Trung Quốc

Tóm lại, nguồn gốc này đã là cơ sở cho sự hình thành t tởng bành trớng của giới cầm quyền Trung Quốc trong lịch sử, cụ thể là các hoàng đế Trung Hoa qua các triều đại Biểu hiện rõ nhất của t tởng đó là chính sách xâm lợc của các triều đại Nhờ sức mạnh về quân sự lại là nớc đông dân vì thế các hoàng đế Trung Hoa muốn dựa vào sức mạnh đó để thực hiện t tởng của mình

2.3 Nội dung và biểu hiện của t tởng bành trớng qua các triều đại phong kiến Trung Quốc

2.3.1 Nội dung của t tởng bành trớng.

- Chính sách bành trớng lãnh thổ

T tởng cốt lõi trong t tởng bành trớng qua các triều đại đó là chính sách bành trớng lãnh thổ, dựa vào sức mạnh, vào vũ lực và vào các cuộc chiến tranh chinh phạt Từ khi lập quốc đến khi chế độ phong kiến bị tan rã hầu hết các triều đại Trung Hoa đều tiến hành các cuộc chiến tranh chinh phạt “là một trong những quốc gia phong kiến quân phiệt điển hình ở phơng Đông Xã hội Trung Quốc dù trong trạng thái tập quyền hay cát cứ bao giờ cũng vẫn sản sinh ra một chủ nghĩa quân phiệt, bao giờ cũng có xu hớng tạo ra một đội

Trang 29

quân hùng mạnh, một thiết chế xã hội quân sự hoá để tiến hành chiến tranh hoặc là chiến tranh giữa các tập đoàn quân phiệt với nhau hoặc là chiến tranh xâm lợc bành trớng và nô dịch các dân tộc khác”[28;77].

Do bản chất của nó bất kỳ một kẻ bành trớng nào cũng đều là kẻ tôn sùng bạo lực, dựa vào sức mạnh bạo lực để áp đặt sự thống trị của họ lên các dân tộc khác Điều này càng đúng với truyền thống của dân tộc Trung Hoa

Trong lịch sử qua thực tiễn “tranh bá, đồ v ơng” trong nớc và tiến hành

chiến tranh xâm lợc nớc ngoài hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, các vơng triều Hoa Hán đều cho rằng càng có nhiều quân thì càng có thể thiết lập đợc quyền cai trị mạnh trong nớc và mở rộng bờ cõi Chính vì vậy mà dới bất kỳ triều đại nào đội quân thờng trực cũng đợc chú trọng và số binh lính ngày càng tăng

Để có đợc lơng thực nuôi sống một đội quân đông nh vậy các triều đại phong kiến Trung Hoa đã tăng cờng tận dụng bóc lột sức lao động của binh lính tức

là họ phải làm trong các đồn điền để nuôi thân và đóng góp quân lơng cho nhà nớc Với đội quân thờng trực khổng lồ nh vậy trong tay, khi phát động chiến tranh xâm lợc nớc ngoài các vơng triều đại Hán thờng huy động một lực lợng quân chiến đấu và quân phu phục dịch rất lớn, có khi gấp bội tổng số quân th-ờng trực nớc bị xâm lợc, thậm chí có khi còn gần bằng cả tổng số dân c nớc

ấy Nhng về cơ bản và lâu dài thì không vững vàng, rất dễ bị suy yếu, tan rã khi chúng gặp những khó khăn tổn thất trên chiến trờng hoặc khi chiến tranh

bị kéo dài triền miên

Dựa vào sức mạnh, vào vũ lực, vào chiến tranh chinh phạt mà triều Hạ

đã mở rộng phạm vi khống chế từ một địa bàn nhỏ hẹp ra khắp một miền rộng lớn ở trung du Hoàng Hà Triều Thơng đã tiêu diệt triều Hạ lúc suy vi rồi mở rộng phạm vi khống chế ra phần lớn miền trung du, hạ du sông Hoàng Hà và một phần lu vực sông Hoài Triều Chu đã tiêu diệt triều Thơng lúc suy vi rồi

mở rộng phạm vi khống chế ra cả một miền rộng lớn, phía Bắc tới trung, hạ

du Hoàng Hà, phía Nam tới hạ du Trờng Giang với hàng trăm nớc ch hầu lớn

Trang 30

nhỏ Thời Xuân Thu – Chiến Quốc cũng chính là dựa vào sức mạnh vũ lực, vào chiến tranh chinh phạt, các nớc ch hầu nhân lúc nhà Chu suy yếu đã nổi dậy tranh vơng giành bá, thôn tính lẫn nhau, nớc lớn tiêu diệt nớc nhỏ, rồi các nớc lớn lại tiêu diệt lẫn nhau Trung Quốc lâm vào tình trạng hỗn loạn cha từng thấy “Kẻ mạnh thắng ng ời yếu, kẻ đông hành hạ ngời ít, dùng binh mà giết hại nhau”.

Nhà Tần, vốn là một ch hầu nhỏ trên mảnh đất phân phong của nhà Chu

ở Thiểm Tây sau nhiều năm phát triển thế lực, đem quân chinh phục các bộ lạc du mục lân cận trở thành một nớc lớn và mạnh xng bá ở “Tây Nhung”, rồi

từ đó cất quân sang phía đông tranh quyền bá ở Trung Nguyên, cuối cùng tiêu diệt cả triều Chu và tiêu diệt cả 6 nớc lớn còn lại là Hàn, Triệu, Nguỵ, Sở, Yên, Tề thôn tính toàn bộ Trung Quốc

Tần Thuỷ Hoàng sau khi thôn tính cả 6 nớc thiết lập nên đế chế đầu tiên ở Trung Quốc đã nói với các quan văn, quan võ của mình rằng: “Tr ớc

đây, vua Hàn nộp đất hiến dâng ấn tín xin làm bầy tôi ở ngoài rào giậu

Đ-ợc ít lâu, vua Hàn bội ớc hợp tung với Triệu và Nguỵ phản bội lại nớc Tần Cho nên ta đem quân tiêu diệt, cầm tù vua Hàn Vua Triệu sai thừa tớng

Lý Mục đến giao ớc ăn thề, cho nên ta cho con của vua Triệu đang làm con tin ở Tần về Đợc ít lâu vua Triệu lại bỏ lời thề, phản lại ta ở Thái Nguyên cho nên ta đem quân tiêu diệt bắt vua Triệu Công tử nớc Triệu là Gia lại từ lập làm Đại Vơng cho nên ta đem quân đánh và tiêu diệt Vua Ngụy lúc đầu giao ớc phục tùng, sát nhập vào Tần đợc ít lâu lại bàn mu với các nớc Hàn, Triệu đánh úp nớc Tần nhng bị quan quân của Tần giết chết và đánh tan Vua nớc Kinh (Sở) hiến đất đai từ Thanh Dơng về phía Tây, đợc ít lâu lại phản lời ớc, đánh Nam quận của ta, cho nên ta đem binh tiêu diệt, bắt đợc vua Kinh, sau đó bình định đất Kinh Vua nớc Yên hôn ám làm loạn, thái tử nớc Yên là Đan lại ngầm sai Kinh Kha ám sát ta, tớng sĩ của ta đánh tiêu diệt nớc Yên Vua Tề dùng mu kế của Hậu Thắng cắt đứt liên hệ với Tần và

Trang 31

muốn làm loạn Ta sai quân đánh cầm tù vua Tề, bình định đất Tề Quả nhân, một ngời nhỏ bé hng binh trừ khử bọn bạo nghịch làm loạn Nhờ uy linh của tôn miếu, sáu nớc đều chịu tội, thiên hạ bình định” [30;43- 44]

Điều này cho thấy từ Tần Thuỷ Hoàng t tởng dùng binh đao để áp chế thiên hạ đã trở thành một hệ t tởng

Ca ngợi bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng, kẻ đã thôn tính toàn Trung Nguyên, thiết lập đế chế đầu tiên ở Trung Quốc, bọn đại thần văn võ triều Tần nói: “Ngũ đế ngày x a chỉ đất vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của ch hầu và của man di, họ vào chầu hay không thiên tử cũng không sao cai quản

đợc Nay bệ hạ dấy nghĩa binh, giết bọn tàn ác và nghịch tặc, bình định đợc thiên hạ, bốn biển thành quận và huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thợng cổ đến nay cha hề có” [30; 44].

Cứ mỗi lần thôn tính thêm đợc nhiều quốc gia chung quanh vào bản đồ

đế chế Trung Hoa, hoặc biến thành quận, huyện thuộc lãnh thổ Trung Quốc, hoặc biến thành phiên thuộc của hoàng đế Trung Quốc, t tởng bành trớng đại tộc và bá quyền nớc lớn của giai cấp thống trị Trung Quốc lại nh đợc tiếp thêm tà khí càng trỗi dậy và hoành hành dữ dội

Không chỉ các vơng triều Hán tộc cờng thịnh là Tần, Hán, Tuỳ, Đờng

mà cả các vơng triều hèn yếu nh Tống cũng luôn mang theo t tởng bành trớng

đó Trong lúc một phần lãnh thổ phía Bắc Trung Quốc còn bị ngời Khiết Đan chiếm đóng cha có đủ sức mạnh để giành lại đợc nhng triều Tống vẫn ấp ủ cuồng vọng mở rộng lãnh thổ xuống phơng Nam nối gót các vơng triều trớc Triều Tống đã nhiều lần gửi th thậm chí là đa quân sang xâm lợc Việt Nam hai lần vào các năm 981 và 1076 – 1077 rồi gây xung đột với nớc Tây Hạ của ngời Khơng

Không chỉ các vơng triều Hán tộc là Tần, Hán, Tuỳ, Đờng, Tống mà cả các vơng triều đế chế ngoại bang đến thôn tính thống trị Trung Quốc cũng đã

kế thừa và phát huy những t tởng này nh nhà Nguyên, nhà Thanh Dới thời

Trang 32

thống trị của hai triều đại này bằng chính sách xâm lợc lãnh thổ, cơng vực của Trung Quốc đã đợc mở ra rất rộng, phía Bắc tới đất Mông Cổ, Mãn Châu; phía Tây tới Tây Vực (vùng Tân Cơng và Trung á), Thổ Phồn (vùng Thanh Hải và Khang Tạng ngày nay); phía Nam tới Vân Nam, Lỡng Quảng; phía Đông tới Cao Ly (bán đảo Triều Tiên)

Đến khi bị thôn tính vào đế chế Trung Hoa dới triều Tần tiếp tục bị Hoa Hạ hoá bởi chính sách đồng hoá của vơng triều Hoa Hạ này Thời Nam- Bắc triều

ở miền Trung Nguyên các tộc ngời “Hồ” (Hung Nô, Yết, Tiên Ti, Chi và

Kh-ơng), hoặc tự phát hoặc tự giác tiếp thu nền văn hoá cao hơn của ngời Hán ở miền Giang Nam, do sự di chuyển ồ ạt của ngời Hán từ miền Bắc xuống đây lập nghiệp, việc Hán hoá các tộc ngời bản địa đợc xúc tiến từ các thế kỷ trớc giờ đây càng đợc mở rộng và đẩy nhanh hơn nữa Dới các vơng triều Đại Hán tộc là Tần, Hán, Tuỳ, Đờng, Tống và Minh, việc Hán hoá các tộc ngời bị nô dịch đợc tiến hành ráo riết trên quy mô lớn Dới các vơng triều ngoại tộc đến thôn tính, thống trị Trung Quốc là Nguyên và Thanh, việc bị đồng hoá, diễn ra không phải chỉ đối với ngời Hán bị chinh phục và lại là đối với thế lực đi chinh phục kém văn minh và có dân số ít hơn nhiều lần kia

Trang 33

Từ thực tiễn lịch sử hết thế kỷ này sang thế kỷ khác đồng hoá liên tục

và có hiệu quả nhiều tộc ngời lạc hậu và dân số ít hơn rất nhiều so với ngời Hán, kể cả các tộc ngời bị thôn tính vào Trung Quốc lẫn các tộc ngời đến chinh phục Trung Quốc mà giai cấp thống trị Trung Quốc đã mặc nhiên quan niệm mình là ngời giữ vai trò ban “uy, đức” cho bốn phơng đi giáo hoá cho thiên hạ Còn các nhóm hệ tộc khác ở xung quanh chỉ là Nhung, Địch, Man,

Di mà thôi

Tống Thái Tông trong th gửi vua Đinh nớc Đại Cồ Việt từng nói: “Thái

tổ hoàng đế ta nhận ngôi của nhà Chu nhờng, đổi quốc hiệu là Tống, thanh minh văn vật biến đổi theo xa, ở ngôi của các đế vơng, xem bệnh của ngời Man Mạch cho nên năm thứ nhất, thứ hai thì thuốc thang cho các đất Kinh, Thục, Tơng Đàm năm thứ ba thì châm cứu cho các đất Quảng, Việt, Ngô,

Sở, gân cốt và mạch máu có vẻ hơi khá không phải là thần cơ trí tuệ của

v-ơng giả mà làm đợc nh thế ? Đến khi ta nối giữ nghiệp lớn, thân coi chính

sự cho đất Phần, đất Tĩnh là ở trong lòng bụng, nếu cha chữa khỏi bệnh trong lòng bụng thì chữa sao đợc bệnh ở bốn chân tay Bấy giờ mới luyện thuốc thang bằng nhân nghĩa, soạn đồ châm cứu bằng đạo đức, đem chữa cho đất Phần, đất Tĩnh chỉ chữa một lần mà khỏi Nay chín châu bốn biển

đã khoẻ mạnh và yên ổn, duy còn Giao Châu của ngơi xa ở trời, thực là ở ngoài năm cõi mà là chỗ thừa của bốn chân tay của thân thể ngơi, tuy rằng một ngón bị đau, thánh nhân lại không nghĩ đến sao? Vì thế cần mở lòng ngu tối của ngơi để thực đợc thấm nhuần thanh giáo của ta, ngơi có theo không?” [9;162].

Quan niệm ban “uy, đức” cho bốn phơng, đi giáo hoá cho thiên hạ không chỉ là cái ý nghĩ thâm căn cố đế của những kẻ đại diện cho các vơng triều Đại Hán tộc, mà còn ăn sâu vào tiềm thức cả những kẻ đại diện các vơng triều ngoại tộc đến thôn tính, thống trị đất nớc Trung Hoa nhng bị Hán hoá trở lại Nh các vua nhà Nguyên và nhà Thanh sau khi thôn tính đợc Trung Hoa đã

Trang 34

tiếp thu t tởng của ngời Trung Hoa và tiến hành đồng hoá các dân tộc đã bị mình thôn tính.

Tất cả những t tởng hành động của giai cấp thống trị ở Trung Hoa chỉ

để nhằm chứng minh rằng vơng triều nắm quyền cai trị trên đất nớc của ngời Hán này đơng nhiên là vơng triều của tất cả các quốc gia khác dới gầm trời, là vơng triều thâu tóm cả thiên hạ trong tay mình Và trong suốt thời phong kiến thực tế nớc Trung Hoa đã làm đợc điều đó Hàng loạt các nớc nhỏ, các dân tộc xung quanh Trung Hoa đã bị thôn tính và đã bị đồng hoá hoặc là hoàn toàn hoặc

có ảnh hởng sâu rộng nhằm mục đích biến lãnh thổ của họ thành lãnh thổ của ngời Hán, mở rộng quốc gia của mình

Nh vậy, với chính sách xâm lợc, bành trớng lãnh thổ và chính sách nô dịch về văn hoá giai cấp thống trị thời phong kiến đã không ngừng phát triển

t tởng bành trớng của các hoàng đế xa và xem đó là chính sách đối ngoại là ờng lối ngoại giao với các nớc láng giềng Nhìn lại toàn bộ lịch sử Trung Quốc từ khi nhà nớc ra đời đến khi chế độ phong kiến kết thúc đã chứng minh

Quá trình bành trớng của các vơng triều đại Hán đợc thể hiện rõ rệt từ thời Chu (thế kỷ thứ XI - thế kỷ III trớc công nguyên) Nhng trớc đó, vào các thời Hạ (khoảng thế kỷ thứ XXI – XVII trớc công nguyên) xu hớng bành tr-ớng cũng đã từng bớc hình thành trong quá trình chinh phục các bộ lạc chung quanh Và sau đó, từ cuối thế kỷ thứ III trớc công nguyên trở đi, xu hớng bành trớng đại Hán càng thể hiện mạnh mẽ, nhất là vào các thời đế chế Tần (năm

Trang 35

221 – 206 trớc công nguyên), Hán (năm 202 trớc công nguyên – 220 sau công nguyên), Tuỳ (năm 558 – 618), Đờng (616 – 917), Tống (960 – 1279), Nguyên (1279 – 1368), Minh (1368 – 1644) và Thanh (1644 – 1911).

Nớc Tần trải qua 100 năm thực hiện hiến pháp của Thơng Ưởng làm cho nền kinh tế nớc này phát triển hơn so với các nớc khác Năm 245 trớc công nguyên, khi Tần Doanh Chính lên ngôi Hoàng đế để thực hiện giấc mộng thay trời làm bá chủ thế giới, Tần Thuỷ Hoàng đã dùng quân đội lần lợt thôn tính các nớc, năm 230 trớc công nguyên diệt nớc Hàn, năm 228 trớc công nguyên diệt nớc Triệu, năm 225 trớc công nguyên diệt nớc Ngụy, năm

223 trớc công nguyên diệt nớc Sở, năm 222 trớc công nguyên diệt nớc Yên, năm 221 trớc công nguyên diệt nớc Tề kết thúc đợc cục diện Chiến Quốc ở Trung Hoa Tần Thuỷ Hoàng với tham vọng làm bá chủ thiên hạ, năm 215 tr-

ớc công nguyên đã đem 30 vạn quân đánh Hung Nô ở phía Bắc Trung Hoa chiếm đợc một vùng rộng lớn thuộc khu tự trị Nội Mông ngày nay Mặt khác nhà Tần vì ham sừng tê, ngà voi, lông trả, ngọc trai của đất Việt nên dùng…

50 vạn quân chia làm 5 đờng tấn công Bách Việt Năm 214 trớc công nguyên

bị quân dân Nam Việt đánh cho đại bại sau đó nhà Tần đã dùng thủ đoạn nham hiểm để thôn tính Nam Việt xây dựng thành 3 quận Nam Hải, Quế Lâm

và Tợng quận rồi đa những ngời nghèo khổ, tội nhân từ Trung Nguyên đến

đây khai khẩn ruộng đất, đồng hoá dần dần dân c các tộc Việt bản địa

Với chính sách bành trớng đó, triều Tần đã mở rộng lãnh thổ của mình

ra ngoài Trung Nguyên, bao gồm một miền rộng lớn, phía Bắc tới Bắc Hoàng

Hà (Nam Tuy Viễn – Liêu Linh), phía Nam tới Nam Châu Giang (Quảng

Đông, Quảng Tây), phía Tây tới Thành Đô thuộc Tứ Xuyên, phía Đông tới ven biển Đông

Đến triều Hán, đế quốc Trung Hoa tiếp tục chính sách bành trớng của

đế quốc Tần nhất là dới thời trị vì của Hán Vũ Đế Sau khi ổn định tình trong nớc, Hán Vũ Đế đã liên tiếp mở những cuộc chiến tranh xâm lợc các nớc xung quanh để mở rộng lãnh thổ

Trang 36

ở phía Tây, (vùng Tân Cơng và Trung á ngày nay) có 36 nớc nhỏ Trung Quốc gọi chung là Tây Vực Năm 138 và 121 trớc công nguyên Hán

Vũ Đế hai lần sai Trơng Khiên đi sứ các nớc ở khu vực này Họ Trơng đã đến các nớc ÔTôn (ở vùng Tân Cơng), Đại Nhục Chi, Đại Hạ (ở Apganixtan), Đại Uyển và Khang C (tức Sogdiane ở Udơbêkixtan)v.v Sau đó Hán Vũ Đế sai…nhiều đoàn sứ giả đến các nớc ở vùng này ban đầu là thông thơng trao đổi hàng hoá, sau đó là tiến tới chinh phục các nớc và nhà Hán đã khống chế đợc một vùng rộng lớn ở Trung á

ở phía Bắc, cả một vùng rộng lớn tại Bắc và Nam sa mạc Gôbi là địa bàn của tộc Hung Nô Họ không ngừng xâm nhập quấy nhiễu Trung Quốc Các vua đầu Tây Hán phải thi hành chính sách “hoà thân” tức là đem công chúa Hán gả cho Thiền Vu (vua của Hung Nô), đồng thời nộp cho họ nhiều tặng phẩm, thực chất là nộp cống Với lực lợng hùng mạnh, từ năm 133 đến

119 trớc công nguyên, Hán Vũ Đế đã đẩy bộ tộc du mục này lên tận sa mạc Gôbi

ở phía Đông Bắc, trên bán đảo Triền Tiên và một phần đất đai Trung Quốc ngày nay, có các nớc Cổ Triều Tiên, Phù D, Thìn Quốc Để kiếm cớ xâm lợc, năm 109 trớc công nguyên, Hán Vũ Đế sai sứ sang quở trách vua cổ Triều Tiên đã thu nhận ngời Hán chạy trốn và cản trở sứ giả hai nớc Phù D và Thìn Quốc đến Trung Quốc Năm 108 trớc công nguyên, nhà Hán đa quân sang chiếm cổ Triều Tiên sáp nhập Cổ Triều Tiên vào bản đồ Trung Quốc

ở phía Nam, từ năm 206 trớc công nguyên Triệu Đà đã lập ra nớc Nam Việt sau khi nhà Tần suy vong Năm 179 trớc công nguyên Hán Vũ Đế sai sứ sang đòi vua Nam Việt là Triệu Ai Vơng (Triệu Hng) và Thái hậu họ Cù phải sang chầu và bắt Nam Việt phải nội thuộc đế quốc Hán, nhng nớc Nam Việt không chịu Vì thế Hán Vũ Đế đã đa quân sang đánh Nam Việt Năm 111 trớc công nguyên, nớc Nam Việt bị chinh phục Trớc đó từ năm 179 trớc công

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Hữu Duy Anh (dịch), Biên giới Trung Quốc từ chủ nghĩa bành tr- ớng cổ truyền đến chủ nghĩa bá quyền ngày nay. Nxb. Thông tấn xã Nô - vô - xti Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên giới Trung Quốc từ chủ nghĩa bành tr-ớng cổ truyền đến chủ nghĩa bá quyền ngày nay
Nhà XB: Nxb. Thông tấn xã Nô - vô - xti
[4]. Đỗ Bang (1980), Chính sách bành trớng của đế chế Mãn Thanh vào Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và sự thất bại thảm hại của nó, Nghiên cứu lịch sử số 1 (190) 1980, tr. 27 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách bành trớng của đế chế Mãn Thanh vào Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và sự thất bại thảm hại của nó
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 1980
[6]. Nguyễn Anh Dũng (1982), Về chủ nghĩa bành trớng Đại Hán trong lịch sử. Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa bành trớng Đại Hán trong lịch sử
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: Nxb. Thông tin lý luận
Năm: 1982
[7]. Dơng Danh Dy (2004), Một số t tởng học thuyết, thủ đoạn ngoại giao chủ yếu của Trung Quốc trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, – Nghiên cứu Trung Quốc số 1 (53) 2004, tr. 50 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số t tởng học thuyết, thủ đoạn ngoại giao chủ yếu của Trung Quốc trong thời Xuân Thu Chiến Quốc
Tác giả: Dơng Danh Dy
Năm: 2004
[8]. Lâm Hán Đạt – Tào D Chơng, Lịch sử Trung Quốc 5000 năm (3 tập). Nxb. Văn hoá thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc 5000 năm
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin Hà Nội
[9]. Đại Việt sử ký toàn th (1972) tập 1. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
[10]. Trần Độ (1981), Hành động xâm lợc Việt Nam và sự thất bại của quân Minh dới ngoài bút của sử gia hiện đại Trung Quốc. Nghiên cứu lịch sử sè 6 (201) 1981, tr. 42 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành động xâm lợc Việt Nam và sự thất bại của quân Minh dới ngoài bút của sử gia hiện đại Trung Quốc
Tác giả: Trần Độ
Năm: 1981
[11]. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Lịch sử t tởng chính trị. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử t tởng chính trị
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[12]. Khổng Doãn Hợi (1983), Kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm
Tác giả: Khổng Doãn Hợi
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1983
[13]. Lê Kim (1979), Lộ nguyên hình bành trớng. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lộ nguyên hình bành trớng
Tác giả: Lê Kim
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 1979
[14]. Nguyễn Hiến Lê - Thiên Giang (1998), Lịch sử thế giới cuốn 1. Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ịch sử thế giới cuốn 1
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê - Thiên Giang
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 1998
[16]. Phan Ngọc Liên (CB - 2000), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông. Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
[17]. Đổng Tập Minh, Sơ lợc lịch sử Trung Quốc. Nxb. Ngoại văn Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lợc lịch sử Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Ngoại văn Bắc Kinh
[18]. Nguyễn Khắc Phi (1979), Tội bành trớng xâm lợc của phong kiến Trung Hoa qua bức th của Tô Thức, Nghiên cứu lịch sử số 6(189) 1979, tr. 56 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội bành trớng xâm lợc của phong kiến Trung Hoa qua bức th của Tô Thức, Nghiên cứu lịch sử số 6
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi
Năm: 1979
[19]. Văn Phong (1979), Những mộng bá vơng Đại Hán thời xa qua một số sách lịch sử Trung Quốc thời nay, Nghiên cứu lịch sử số 1 (184) 1979, tr.21 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mộng bá vơng Đại Hán thời xa qua một số sách lịch sử Trung Quốc thời nay
Tác giả: Văn Phong
Năm: 1979
[20]. Văn Phong (1979), Quan hệ Trung Việt và Việt Trung, – – Nghiên cứu lịch sử số 4 (187) 1979, tr.1 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Trung Việt và Việt Trung
Tác giả: Văn Phong
Năm: 1979
[21]. Văn Phong (1980), Từ cuộc chinh phạt cuối cùng vua Trụ thời Thơng Ân đến chủ nghĩa bá quyền nớc lớn của tập đoàn phản động Bắc Kinh ngày nay, Nghiên cứu lịch sử số 1 (190)1980, tr.9-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cuộc chinh phạt cuối cùng vua Trụ thời Thơng Ân đến chủ nghĩa bá quyền nớc lớn của tập đoàn phản động Bắc Kinh ngày nay
Tác giả: Văn Phong
Năm: 1980
[22]. Nguyễn Gia Phu- Nguyễn Huy Quý (2001), Lịch sử Trung Quốc. Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Gia Phu- Nguyễn Huy Quý
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2001
[23]. Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Anh, Đỗ Đình Hăng, Trần Văn La (2001),Lịch sử thế gới trung đại. Nxb.Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế gới trung đại
Tác giả: Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Anh, Đỗ Đình Hăng, Trần Văn La
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2001
[24]. Vũ Đại Quang (1996), Một trăm nhân vật ảnh hởng lịch sử Trung Quốc (Bùi Hữu Hồng dịch). Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm nhân vật ảnh hởng lịch sử Trung Quốc
Tác giả: Vũ Đại Quang
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w