1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu truyền thống hiếu học và khoa bảng xã hoằng hoá huyện hoằng hoá tỉnh thanh hoá

48 734 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu truyền thống hiếu học và khoa bảng xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 296 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

H, 1995…Hoằng Lộc là quê h Trong các tác phẩm này đã đề cập đến danhsách những ngời đỗ cử nhân, phó bảng, tiến sĩ, tiểu sử, sự nghiệp và trớc táccủa các nhà khoa bảng quê ở Hoằng Lộc.. c

Trang 1

Những chữ viết tắt

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

TDTT : Thể dục thể thao

UBND : Uỷ ban nhân dân

NXBTN : Nhà xuất bản thanh niên

NXBVH : Nhà xuất bản văn hoá

BNCBSLS : Ban nghiên cứu biên soạn lịch sử

NXBGD : Nhà xuất bản giáo dục

Phần A : Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Từ thành phố Thanh Hoá, qua cầu Hàm Rồng xuôi hớng đông namchừng 4km chúng ta đến Hoằng Lộc, một vùng quê xứ Thanh Hẳn rằngchúng ta sẽ bị cuốn hút bởi khung cảnh náo nhiệt rạng ngời lên niềm tự hào

Trang 2

về quê hơng xứ sở Truyền thống tốt đẹp của Hoằng Lộc đợc các bậc tiềnnhân khơi dòng vẫn tuôn chảy trong tâm hồn mỗi ngời dân nơi đây

Là một bộ phận cấu thành của huyện Hoằng Hoá, trong tiến trình phát triểncủa lịch sử, Hoằng Lộc là nơi sản sinh ra nhiều bậc hiền tài, trí thức nho sĩ cho đấtnớc Tên tuổi sự nghiệp của họ từng nổi danh một thời, đợc sử sách lu danh nh:Nguyễn Nhân Lễ, Bùi Khắc Nhất, Nguyễn S Lộ, Nguyễn Ngọc Huyền, Hà DuyPhiên…Hoằng Lộc là quê hHoằng Lộc là quê hơng Nguyễn Quỳnh, con ngời tài ba đợc xã hội đơngthời xét vào ” Tràng an tứ hổ” Họ chính là tài sản vô giá mà lao động cùng với trítuệ, tài và đức đã góp phần làm rạng rỡ non sông đất nớc quê hơng Là tấm gơngsoi sáng, là những gì nhắc nhở cho con cháu hôm nay ra sức học tập vơn tới đỉnhcao khoa học góp phần xây dựng một quê hơng giàu đẹp

Là con ngời của quê hơng Hoằng Lộc và rất đỗi tự hào là con cháu củavùng đất học, tôi thiết nghĩ cần tìm hiểu thêm về truyền thống hiếu học và khoabảng trên quê hơng mình, với mong muốn tìm hiểu, tổng hợp lại những giá trị

đích thực mà cha ông ta đã xây dựng lên, qua đó muốn nhắn nhủ các thế hệ trênquê hơng Hoằng Lộc hôm nay và mai sau phải biết kế thừa và phát huy truyềnthống đó

Xuất phát từ những mong muốn trên mà tôi chọn đề tài: Tìm hiểu truyềnthống hiếu học và khoa bảng xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoálàm đề tài khoá luận tốt nghiệp Với hy vọng sẽ giới thiệu đợc các tri thức Nhohọc và những đóng góp của họ đối với đất nớc Qua đó để thấy đợc chính sáchtrọng dụng nhân tài, khuyến khích học tập trong làng Không riêng mỗi ngời conHoằng Lộc mà cả tỉnh Thanh càng thấy tự hào về truyền thống khoa bảng từ xa

Đối với tôi, việc biên soạn lịch sử địa phơng là công việc hoàn toàn mới mẻ

và hữu ích vì nó tập cho tôi làm quen với kinh nghiệm, phơng pháp nghiên cứukhoa học lịch sử để tiến tới phục vụ cho nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa ph ơng.Hơn nữa, là ngời giáo viên dạy sử tơng lai, nên sau khi hoàn thành tốt đề tài này

sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc hiểu biết thêm về truyền thống lịch sử xã

Đồng thời cố gắng bày tỏ những hiểu biết của mình với mong muốn đóng gópmột phần nhỏ cho quê hơng mình Đặc biệt giúp ích cho tôi rất nhiều sau này khi

ra dạy lịch sử địa phơng, cũng nh lịch sử dân tộc Việt Nam

2 Lịch Sử Vấn Đề:

Nghiên cứu lịch sử về một xã, nhất là một xã nh Hoằng Lộc, huyện HoằngHoá, tỉnh Thanh Hoá vốn là một vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng,thì hiện nay đã có nhiều ngời nghiên cứu nhng mới chỉ ở mức độ khái quát hoặc

Trang 3

ở từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau chứ cha có một tác giả nào viết hoàn chỉnh vềvấn đề này với t cách là một chuyên đề độc lập Đặc biệt với những thông tin gần

đây nhất để thấy rằng đất hiếu học Hoằng Lộc là dòng chảy không ngừng, là cầunối giữa gơng xa và nay

Tuy nhiên đầu tiên phải kể đến các tài liệu đó là:

- Các nhà khoa bản Việt Nam 1075-1919 của Ngô Đức Thọ chủ biên NXBVH1993; Lợc truyện các tác gia Việt Nam của Trần Văn Giáp( CB )-NXBKHXHHN 1971; Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn của Bùi HạnhCẩn(CB)- NXBVH H, 1995…Hoằng Lộc là quê h Trong các tác phẩm này đã đề cập đến danhsách những ngời đỗ cử nhân, phó bảng, tiến sĩ, tiểu sử, sự nghiệp và trớc táccủa các nhà khoa bảng quê ở Hoằng Lộc

- Lịch triều hiến chơng loại chí của Phan Huy Chú, NXBKHXHHN 1992 cóphần: D địa chí, Nhân vật chí và Khoa mục chí ghi chép có hệ thống về lịch

sử giáo dục khoa cử nho học và đóng góp của kẻ sĩ Hoằng Lộc từ đời Lý đếntrớc đời Nguyễn

- Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến ViệtNam của Trần Hồng Đức NXBVHTT H, 1999 kể tên các vị tam khôi từ triềuTrần đến triều Nguyễn trong cả nớc

- Các bộ sử xa nh: Đại Việt sử ký toàn th của Ngô Sỹ Liên; Phủ biên tạp lục của

Lê Quý Đôn; Đại Nam nhất thống chí; Đại Nam liệt truyện; Đại Nam thực lụccủa Quốc sử quán triều Nguyễn…Hoằng Lộc là quê hlà những tác phẩm đề cập đến tiểu sử cácnhà khoa bảng Hoằng Lộc

Bên cạnh đó còn có những cuốn sách viết riêng về Thanh Hoá:

- Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xa của Trần Văn Thịnh(CB) NXB ThanhHoá 1995, liệt kê danh sách những ngời đỗ đạt và đề cập tới một số văn hóa xãHoằng Lộc nh: Bảng Môn Đình, chính sách trọng dụng nhân tài khuyến khíchhọc tập…Hoằng Lộc là quê h

- D địa chí văn hóa Hoằng Hoá của Ninh Viết Giao(CB)- NXBKHHN năm

2000 Biên soạn có hệ thống về lịch sử giáo dục khoa cử nho học, đặc biệt làmnổi bật truyền thống hiếu học huyện Hoằng Hóa nói chung, Hoằng Lộc nóiriêng

- Hoằng Lộc đất hiếu học của Bùi Khắc Việt (CB) NXB Thanh Hoá 1996, đềcập các mặt hoạt động chủ yếu trong đời sống xã hội cuả Hoằng Lộc, qua cácthời kỳ lịch sử, đặc biệt chú trọng đến hoạt động giáo dục văn hóa

Trang 4

Ngoài ra còn có các báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện quy ớc xây dựng làng văn hóaHoằng Lộc 2000- 2002; Bài viết về làng Hoằng Lộc hôm nay của cộng tác viên

Đức Dân (2003) và những bài báo đề cập nhiều đến vẫn đề truyền thống hiếu họcvới những thông tin mới nhất

Các tài liệu trên là cơ sở giúp tôi có kiến thức chung Từ đó có định hớngtiếp cận, nghiên cứu vấn đề cũng nh t liệu cho đề tài Tuy nhiên, ngoài sự cố gắng

nỗ lực hết mình của bản thân, là sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Hoàng Quốc Tuấncả về phơng pháp lẫn kiến thức để tôi có một đề tài nghiên cứu tâm huyết, nhữngmong sẽ góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào nền sử học quê hơng và sửhọc chung của dân tộc

3 Đối Tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

a Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng của đề tài là tìm hiểu truyền thống giáo dục xã Hoằng Lộc từ x a

tới nay Vì thế tôi chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu các vấn đề có liên quan trực tiếp haygián tiếp tới đối tợng đã đợc xác định

b Phạm vi nghiên cứu.

Đề tài đợc giới hạn trong thời gian lịch sử từ xa đến nay ở xã Hoằng Lộc, chủ yếu

đi sâu nghiên cứu sự đỗ đạt, đóng góp của các nho sĩ Hoằng Lộc và trình bày sựchuyển biến của nền giáo dục xã nhà từ khi kết thúc chế độ giáo dục khoa cử nhohọc (1919) đến thời điểm hiện nay Tuy nhiên để trình bày một cách có hệ thốnghơn chúng tôi khái quát chung về lịch sử xã Hoằng Lộc, đặc điểm chung về truyềnthống giáo dục Đó là sự kỳ diệu tạo nên hoa khoa bảng, đặt nền móng vững chắccho ngày hôm nay

4 phơng pháp nghiên cứu

Việc lựa chọn phơng pháp nghiên cứu là một vấn đề hết sức quan trọng, quyết

định đến sự thành công hay thất bại của đề tài Vì lẽ đó nghiên cứu đề tài này tôilựa chọn phơng pháp chuyên ngành để trình bày nh : Đọc tài liệu, su tầm, thống

kê tập hợp các con số, trích dẫn tài liệu, đối chiếu so sánh và có phân tích đánhgiá vấn đề

Ngoài ra, tôi còn sử dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháp lô gíc để mở rộng

nhiều sự kiện lịch sử, nhiều tài liệu lịch sử nhằm rút ra những nhận xét sát thựchơn

5 Bố cục luận văn

Trang 5

1.1.2 Tên gọi qua các thời kỳ lịch sử

1.1.3 Vài nét về con ngời Hoằng Lộc

1.2 Hoằng Lộc nay

1 1.3 ảnh hởng của các yếu tố văn hoá bên ngoài

Chơng 2: Giáo dục và Khoa bảng ở Hoằng Lộc thời phong kiến

2 2.1 Đặc điểm chung về truyền thống giáo dục

2.1.1 Trọng dụng nhân tài

3 2.1.2 Khuyến khích học tập trong làng

2.2 Kết quả sự đỗ đạt khoa bảng

4 2.2.1 Kết quả của sự đỗ đạt

2.2.2 Những đóng góp của nho sĩ Hoằng Lộc đối với đất nớc

Chơng 3: Sự nghiệp giáo dục ở Hoằng Lộc từ sau cách mạng tháng tám đến nay.

Khái quát chung về lịch sử x Hoằng Lộc – huyện Hoằngã Hoằng Lộc – huyện Hoằng

Hoá - tỉnh Thanh Hoá

1.1 Hoằng lộc xa

Trang 6

Xét theo vĩ độ và kinh độ trên mặt địa cầu thì Hoằng Hoá ở vĩ tuyến 190 50’30”bắc ở Lạch Trào đến 19030’30” vĩ độ bắc ở núi Sơn Trang và từ kinh độ 105 059’50”

ở Ngã Ba Bông đến 105059’30” ở Lạch Trờng

Cũng nh các xã khác trong huyện, Hoằng Lộc là một bộ phận cấu thành củahuyện Hoằng Hoá, một huyện có nền văn hiến lâu đời Từ thị xã Thanh Hoá, quacầu Hàm Rồng, xuôi hớng đông nam lối chừng 4km đờng đê ven Sông Mã, đếnNguyệt Viên rồi rẽ ngang sang con đờng hai bên trải rộng những thảm lúa vàngmùa gặt, chúng ta đến Hoằng Lộc Từ phía bắc vào, theo quốc lộ số 1, qua cầuTào, rẽ về Bút Sơn, huyện lỵ Hoằng Hoá cũng có đờng về Hoằng Lộc Xa kia đờngthiên lý Bắc - Nam chạy tơng đối gần làng Con đờng này từ Thăng Long vào, quaNga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, rồi vào phía nam Nhờ con đơng huyết mạch nàycủa đất nớc, trang Đờng Bột ngày xa đã có điều kiện tham gia vào việc lu thôngthơng mại và văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá từ kinh bắc ,Thăng Long, Nam

Định vào và văn hoá từ phơng nam ra

Giữa Hoằng Lộc với các xã lân cận, với huyện và tỉnh có mối quan hệ tiếpxúc giao lu thuận tiện và thông thoáng ở phía đông, qua làng ông Hoà, đến HộiTriều, một làng khoa cử nổi tiếng ở đông bắc, qua Hoằng Thịnh, Hoằng Thái, vốn

có tên Kẻ Hành nối đờng ra Bút Sơn, từ đó sang Hậu Lộc Về phía nam quaHoằng Đại, xa kia là Kẻ Đại, Phú Cả, Dơng Thành, có thể đến các xã ven biển củaHoằng Hoá Từ Hoằng Đại, qua một chuyến đò ngang vợt hạ lu Sông Mã, có đờngsang Quảng Xơng Phía tây là xã Hoằng Quang, nổi tiếng với vùng đất vĩnh trị

Với vị trí địa lý ấy là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hìnhthành, giao lu và phát triển văn hoá, giáo dục

Về cảnh quan, Hoằng Lộc nh một bức tranh sống động, vừa có vẻ đẹp tựnhiên, mợt mà của màu xanh cây lá, vừa có cái dịu dàng, duyên dáng của mộtvùng đất văn vật Hình thể của làng vuông vức, khiến có ngời nghĩ rẵng vùng đấthọc này giống một cái nghiên lớn và con đờng từ Nguyệt Viên về làng tựa nh mộtcái bút đang chấm vào nghiên mực ở đây chúng ta không giải thích sự phát triểncủa văn hoá, giáo dục bằng lý luận phong thuỷ nhng thừa nhận cảnh quan của

Trang 7

làng in những dấu ấn sâu sắc vào tâm hồn, tình cảm mỗi ngời, tác động đến sựphát triển văn hoá, giáo dục.

Quần thể kiến trúc trong làng đợc bố trí hợp lý, cân xứng, hài hoà với môitrờng thiên nhiên Hội quán đợc xây dựng ở trung tâm làng, cách đó không xa làhai cái áng, áng Thợng của làng Bột Thợng và áng Thái của làng Bột Thái, nơilàng tổ chức hội lễ Đại kỳ phúc

Bốn cái miếu án ngữ bốn góc làng Miếu Đệ Nhất, Đệ Nhị và Đệ Tam đềuhớng ra đồng, chung quanh cây cối xanh tơi, phiá trớc là dãy kè che chắn Xa kia,

ở gần các miếu những cây đa sum suê cành lá tỏa bóng mát che chở cho bao ngờiqua lại, nghỉ chân

Miếu Đệ Tứ gắn liền với đình, về phía bái, trên một khoảng đất rộng trớcchợ, thuận lợi cho việc tập trung dân làng trong những ngày lễ hội Chùa tọa lạcphía nam làng mới tĩnh mịch vì xa kia cách xa chợ, các nhà thờ họ nằm trongcác ngõ xóm, quây quần xung quanh thờng là nhà cửa con cháu trong họ Trờnghọc ở sâu trong khuôn viên lớn rộng nên yên tĩnh Sau ngày chợ Quăng chuyển

địa điểm về Cồn Mã Hàng, thì chợ đợc ngăn cách với trờng bằng một hồ lớn mới

đào, xung quanh trồng dừa Trong những năm 60 của thế kỷ này, trờng cấp 2

đựơc xây dựng ở phía đông làng, trạm ytế ở phía tây, khang trang, đàng hoàng

Trứơc năm 1950 đầu làng và cuối làng sừng sững hai cây gạo Cây gạo ởxóm đồng, gốc năm ngời ôm không xuể, với hàng trăm năm tuổi, là chứng nhâncủa bao sự kiện lịch sử Từ Hàm Rồng đã nhìn thấy cây gạo, về đến Nguyệt Viên,cây gạo hiện ra, cao lồng lộng tán rộng, màu đỏ của hoa chen lẫn màu xanh của látrông nh một cái lọng khổng lồ

Hoằng Lộc còn đợc mang tên “Làng dừa” Bởi vậy có câu”Dừa xóm sau,cau xóm nhỏ”, mỗi xóm trồng riêng một thứ cây, hoặc là dừa hoặc là cau Nhngdần dần vị trí cây dừa đã chiếm vị trí cây cau Dừa còn là nguồn cảm xúc củanhiều thi nhân đến với Hoằng Lộc

Tóm lại với vị trí, cảnh quan Hoằng Lộc mang phong thái thanh lịch, duyên dángcủa một vùng đất học, làm cho ai qua đây dù chỉ một lần thôi cũng lu lại trong kí

ức những ấn tợng khó phai mờ

1.1.2 Tên gọi qua các thời kì lịch sử

Về mặt địa lý hành chính, ngay từ thuở sơ nguyên đến nay Hoằng Lộc đãnhiều lần thay đổi tên gọi, đơn vị hành chính

Xa kia, Hoằng Lộc có tên là Kẻ Vụt Địa danh này giúp chúng ta xác địnhlàng đợc hình thành từ rất sớm Ngày nay, chúng ta thờng bắt gặp nhiều làng vốn

Trang 8

có tên ghép với từ Kẻ nh: Kẻ Đăm ( làng Tây Đam), Kẻ Mẩy(làng Mễ Trì), KẻSét (làng Thịnh Liệt)…Hoằng Lộc là quê hở Bắc bộ, hay nh ở Hoằng Hoá, những Kẻ Đại, Kẻ Đà, KẻHành vẫn còn đợc nhắc nhở nh dấu của một thủơ xa xa.

Nhiều nhà sử học cho rằng: Địa danh có từ Kẻ là những làng cổ hình thành

từ thời kỳ Hùng Vơng dựng nớc đến thế kỉ X sau công nguyên Thế kỉ X trở đi,

đơn vị hành chính cấp cơ sở không chỉ là làng mà còn là trang, trại, xã, thôn,sách, động, giáp…Hoằng Lộc là quê h từ Kẻ không còn đợc dùng trong các thống kê, khai báo hànhchính mà chỉ còn trong tên tục, tên phụ

Từ khi nớc ta dành đợc độc lập năm 906, nhà nớc trung ơng quản lý tất cảcác làng xã Để đăng kí vào danh sách do chính quyền quản lí, tên làng xã phải làtên chữ Hán, vì thời kì đó chữ Nôm cha ra đời hoặc đã ra đời nhng cha đợc dùngphổ biến Từ “Vụt” là từ Nôm, đợc chuyển thành từ “Bột” là từ Hán, cả về tự dạng

và âm đọc, từ đó làng đợc gọi là Đờng Bột Đờng Bột trở thành một “trang” vàothế kỉ X và địa danh này là tên gọi chính thức của làng sau tên Kẻ Vụt

Tên Đờng Bột đã xuất hiện trong cuốn “thần phả” ghi lại sự tích vị thànhhoàng của làng là Đại Tớng quân Nguyễn Tuyên, trong đó nói rõ ông ở trang Đ-ờng Bột thuộc huyện Cổ Đằng, Phủ Hà Trung, Trấn Thanh Hoa

Bia “Đờng Bột kiều bi” do tiến sỹ Nguyễn Nhân Thiệm soạn và dựng khắcnăm 1591 có nói về địa danh Đà Bột Đà Bột gồm làng Bột Thợng và Bột Hạ Muộn nhất vào thế kỷ XV, Bột Hạ đổi thành Bột Thái, Đà Bột gồm hai xã :Bột Thợng và Bột Thái Trên thực tế thì sự chia cắt này chỉ thuần túy về mặt hànhchính là cơ sở để nhà nớc phong kiến quản lý chứ không gây sáo trộn gì về địa lý

và dân c Tuy mang tên hai xã với bộ máy quản lý riêng biệt nhng tính chất c trúcủa dân c không có gì thay đổi Các hộ gia đình, các tộc họ chung sống với nhautrong các ngõ xóm Mỗi làng có một văn chỉ riêng, nhng hàng năm vẫn cùng nhauhội họp ”làng văn” ở Bảng Môn Đình Điều đặc biệt là c dân hai xã vẫn tôn thờchung một vị thành hoàng Chỗ khác biệt với phần đông các làng xã là mỗi khichia tách, trớc hết phải có một địa giới hành chính cụ thể, ranh giới thờng là mộtcon đờng, một rạch ngòi …Hoằng Lộc là quê hphong tục tập quán có thể vẫn giữ nguyên, nhngkhông ít nơi xẩy ra tranh giành kiện tụng nhau nh : Tranh nhau đất đai, đình chùathậm chí giành nhau cả thần vị thành hoàng làng ở trang Đờng Bột về danhnghĩa thì là chia đôi nhng sự thực đây vẫn là một khối cộng đồng c dân đã tồn tại

ổn định và bền vững từ hàng ngàn năm Mọi hoạt động đều mang tính cộng đồng

rõ rệt, điều đó thể hiện tính thống nhất đoàn kết trong nội bộ cộng đồng, mọi ngờidân địa phơng sống bên nhau chan hoà, thân ái từ nhiều thế kỉ qua Tuy mỗi xã có

Trang 9

tên riêng Bột Thợng, Bột Thái nhng mọi ngờivẫn gọi là làng Bột hay Lỡng Bộthoặc Nhị Bột.

Cho tới đầu triều vua Minh Mệnh, hai làng Bột Thợng và Bột Thái vẫn tồntại bên cạnh nhau với t cách là hai đơn vị cơ sở trong hệ thống hành chính của nhànớc Sách “ Các tổng trấn danh bị lãm ” đợc biên soạn khoảng từ năm 1810 đến

1813 là bộ danh mục các đơn vị hành chính thời Gia Long vẫn còn ghi rõ hailàng Bột Thợng và Bột Thái thuộc tổng Hành Vĩ, huyện Hoằng Hoá, phủ HàTrung, nội trấn Thanh Hoa Hơn mời năm sau, khi bộ sách hoàn thành thì hai xã

đã có sự thay đổi không chỉ về tên gọi mà cả về mặt hành chính Năm MinhMệnh thứ 2( 1821) , Thợng th Bộ hộ là Hứa Đức làm bản tấu trình lên MinhMệnh về việc sửa đổi một số tên tổng xã, thôn trong cả nớc Trong đợt này hầu

nh ở trấn nào cũng có một số làng xã thay đổi tên Huyện Hoằng Hoá có 17 tổng,xã, đợc đổi tên mới Tổng Lỗ Đô đổi thành tổng Lỗ Hơng, sở Lỗ Đô đổi là sởNghĩa Hng…Hoằng Lộc là quê hhai xã Bột Thợng và Bột Thái lại đợc tái nhập và mang địa danh mới

là xã Hoằng Đạo với tên xã này giữ lại mãi đến năm 1843

Từ nửa cuối thế kỉ XIX đến trớc cách mạng tháng tám năm 1945, xuất hiệnhai tên xã Hoằng Nghĩa-Bột Hng vẫn trên cơ sở địa d và thành phần c dân củalàng Bột Thợng- Bột Thái, thời Lê hay xã Hoằng Đạo đầu thời Nguyễn nghĩa làhai xã lại tồn tại bên cạnh nhau dới những tên gọi mới

Sau cách mạng tháng tám năm 1945, hai xã Hoằng Nghĩa và Bột Hng đợcsát nhập vào các xã Thịnh Hoà, Đoan Vỹ, Bình Yên thành xã Hng Thịnh

Ngày 06 tháng 01 năm 1946 ngày tổng tuyển cử đầu tiên của nớc Việt Namdân chủ cộng hoà Hoằng Nghĩa- Bột Hng đợc tách riêng và lập thành xã HoằngBột

Tháng 04 năm 1947 xã Hoằng Bột đợc gộp với xã Bái Trung, xã Đại Bái lập thànhxã Hoằng Lộc, Hoằng Bột trở thành một thôn của xã Hoằng Lộc

Cuối năm 1953 xã Hoằng Lộc chia thành 4 xã: Hoằng Lộc, Hoằng Trạch,Hoằng Đại, Hoằng Thành Hoằng Bột trở thành một xã và lấy tên chính thức là xãHoằng Lộc cho đến ngày nay

Nh vậy ta thấy rằng trải qua mấy nghìn năm lịch sử, quê hơng Hoằng Lộc đã bao lần thay đổi tên gọi, cùng với quá trình tách ra rồi lại nhập vào Nhng hầu

nh quá trình ấy không gây nên một sự sáo trộn nào về mặt địa d cũng nh các nếpphong tục tập quán của nhân dân địa phơng Chính quá trình đổi thay này lại càngchứng tỏ sự ổn định của địa phơng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xãhội qua nhiều thế kỉ

Trang 10

1.1.3 Vài nét về con ngời Hoằng Lộc

Bàn về con ngời Hoằng Hóa nói chung, con ngời Hoằng Lộc nói riêng đã”sinh bao văn võ công hầu giỏi”, “cháu giống con rồng tiếp nối xa” Con ngờiHoằng Lộc trong trờng kì lịch sử đã kiên cờng chế ngự thiên nhiên, cần cù khaikhẩn đất đai để làm nên những cánh đồng màu mỡ, xóm làng sầm uất, trù mật.Ngời dân Hoằng Lộc đã năng động sáng tạo trong việc khai thác tiềm năng thiênnhiên ở quê hơng, tiềm năng trí tuệ của con ngời làm cho Hoằng Lộc không hoàntoàn bị động bởi thiên nhiên cùng với các lực lợng hắc ám trong xã hội Bàn tay,khối óc của họ đã vợt lên trên cuộc sống nông nghiệp thuần tuý, tiếp cận với nềnvăn hoá các làng và các địa phơng khác, các thành thị nh học hành, buôn bán, làm

ăn …Hoằng Lộc là quê h a tầm nhìn của ngời Hoằng Lộc vợt ra phần nào cái vòng khép kín, vốn là đ

cố hữu của làng xã Việt Nam Họ không để cho những khó khăn của thiên nhiên,của xã hội đè lên mình mà kiên nhẫn năng động đối phó để có một chỗ trong trời

đất Điều đó cho ta thấy rằng tại sao nhân dân Hoằng Hoá nói chung, nhân dânHoằng Lộc nói riêng rất ít phiêu tán trong những năm mất mùa, dịch tả, ít bị đóitrong những năm đói kém trớc đây Họ có đi đó đây, đi nhiều nơi trong nam ngoàibắc, đi để làm thợ, đi để làm thầy, đi để kiếm tiền tiêu bằng đôi bàn tay khéo léo

và trí óc sáng láng của mình Trớc đây cũng vậy mà bây giờ cũng thế

Trong cuộc sống hằng ngày, họ tôn trọng tổ tiên, tôn trọng những ngời cócông đối với đất nớc, đối với làng xã, kính yêu cha mẹ, sống với anh em, bà con,bạn bè, làng nớc sống có nghĩa, có tình Họ còn là những ngời vừa có tinh thầnhiếu học, vừa biết thởng thức cái đẹp trong cuộc sống, trong xã hội, trong văn ch-

ơng

Tóm lại con ngời Hoằng Lộc là “con ngời cần cù trong lao động, hào hùngtrong đấu tranh, năng động trong việc làm, hoạt bát trong ứng xử, thông minhtrong học hành, phóng khoáng trong ăn ở, nghĩa tình trong cách sống, thắm thiết

đối với quê hơng, đất nớc, hâm mộ anh hùng, trọng danh dự, trọng khí tiết, trọng

vẻ đẹp của thiên nhiên, của xã hội và của con ngời, kể cả vẻ đẹp của lý tởng, củatâm linh, không bao giờ để cho lợi ích nhỏ nhen trớc mắt làm vẩn đục nhân cách,vẩn đục nghĩa lớn”(1) Hẳn rằng điều đó không chỉ là do núi sông chung đúc mà

do quá trình lao động, quá trình đấu tranh, quá trình tiếp cận với một nền văn hoá,mọi thông tin văn hoá Con ngời Hoằng Lộc đã lao động, học hỏi và giao lu trongquá trình lịch sử để tạo cho mình một tính cách nh vậy

1.2 Hoằng Lộc nay.

Trang 11

Là vùng quê có truyền thống hiếu học, truyền thống cách mạng, 58 nămqua lớn lên cùng đất nớc, làng Hoằng Lộc hôm nay luôn phát huy truyền thống

đó

Các lớp ngời trong làng đã và đang ra sức phấn đấu xây dựng làng HoằngLộc thành một làng văn hoá mới có đời sống tiến bộ ấm no, hạnh phúc Để giữvững và phát huy truyền thống cao đẹp của quê hơng địa phơng luôn quan tâm

đến mọi lĩnh vực hoạt động về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng Trong đó sựnghiệp văn hoá đặc biệt là công tác giáo dục luôn có sự đầu t và quan tâm thích

đáng Hiện nay toàn làng đã phổ cập cấp 2, trờng tiểu học Lê Mạnh Trinh đã đạtchuẩn quốc gia từ 2000 và hoàn thành ngôi trờng hai tầng khang trang đa vào sửdụng Đã và đang nỗ lực cho việc huy động, đóng góp của nhân dân để tiếp tụccho việc xây dựng trờng cấp 2 Tố Nh và trờng mầm non vào thời gian tới đây Cáctrờng trong làng luôn giữ vững danh hiệu tiên tiến từ hàng chục năm nay, chất l-ợng đại trà hàng năm đều đạt kết quả cao và nhất là đội hình học sinh giỏi cáckhối những năm qua luôn dẫn đầu toàn huyện Công tác xã hội hoá giáo dục đuợcphát triển sâu rộng ngày càng đi sâu vào đời sống của toàn dân cùng với việc mởmang dân chủ trong trờng học đang tạo lập một phong cách giáo dục mới, chất l-ợng mới trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ Bên cạnh đó là sự ra đời và hoạt độngthiết thực của hội khuyến học trong các năm đã góp phần đáng kể trong việckhuyến học, khuyến tài của vùng quê hiếu học này

Cùng với sự đi lên của ngành giáo dục, văn hoá làng luôn đợc cán bộ, nhândân quan tâm : Đó là phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hoá, là

đời sống dân trí ngày một nâng cao, là phong trào thể dục thể thao ngày càng pháttriển, đồng thời các hoạt động khác của mặt trận tổ quốc phát động nh phong trào

“toàn dân đoàn kết , xây dựng cuộc sống mới ở khu dân c” …Hoằng Lộc là quê hCùng với nhiều hoạt

động bổ ích mà các tổ chức đoàn thể, nhất là của thanh niên đã làm giàu thêmkhông khí phấn chấn, hăng say góp phần thúc đẩy lao động, sản xuất và học tập

Lãnh đạo từ xã đến thôn rất chú trọng đến các hoạt động kinh tế, chỉ đạosản xuất nông nghiệp, khuyến khích mô hình VAC, khuyến khích các dịch vụ th-

ơng mại, các nghành nghề tiểu thủ công …Hoằng Lộc là quê hĐến nay đời sống của đại bộ phậnnhân dân cơ bản đã ổn định từng bớc xoá nghèo, tỷ lệ hộ nghèo toàn làng đến naychỉ còn 7%

Chính nhờ những cố gắng nh vậy nên đã thúc đẩy đợc sự nghiệp văn hoá, cùngvới việc xây dựng tình làng nghĩa xóm trong những năm qua ở Hoằng Lộc đã cónhiều khởi sắc và thu đợc kêt quả đáng kể Đó là hiệu quả cao trong việc làm

Trang 12

lành mạnh môi trờng văn hoá, nâng cao dân trí , nâng cao mức hởng thụ đời sốngvăn hoá tinh thần, góp phần thiết thực xoá đói, giảm nghèo, bệnh tật và hủ tục lạchậu.

Về Hoằng Lộc hôm nay, lại có thêm sự đổi mới rất đáng phấn khởi làphong trào giao thông nông thôn Cùng với hai tuyến đờng nhựa liên xã gần 3km,

là các tuyến đờng liên thôn, nội thôn đợc rải đá cứng hoá với gần 10km dọcngang tựa bàn cờ đã làm khang trang hẳn diện mạo của làng quê Điều rất đặcbiệt là một làng quê bé nhỏ với diện tích chỉ 1km2 và năm ngàn dân mà có tới 4 ditích lịch sử văn hoá đợc nhà nớc cấp bằng xếp hạng trong đó có ba di tích quốcgia là: Bảng Môn Đình, nhà thờ Nguyễn Quỳnh, đền lăng tớng công Bùi KhắcNhất và một di tích xếp hạng cấp tỉnh là Chùa thiên nhiên Ngoài ra còn có 12nhà thờ 12 vị Đại khoa đỗ đạt thời phong kiến và nhiều nhà thờ dòng họ Cônghầu, Võ tớng…Hoằng Lộc là quê hnên bạn bè thập phơng còn gọi Hoằng Lộc là làng di tích Nhngcòn gì cao quý hơn làng Hoằng Lộc có một niềm tự hào về truyền thống hiếu học

đã đi vào trang sử vàng của đất nớc

Trên con đờng đi tới làng văn hoá Hoằng Lộc còn gặp không ít những khókhăn nhng những kết quả mà làng đã đạt đợc trong thời gian qua là hành trangvững chắc cho quê hơng hoà cùng đất nớc hôm nay trên con đờng công nghiệphoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Hoằng Lộc là một vùng đất cổ Ngay từ giai đoạn đầu của nền văn hoá

Đông Sơn tức là nền văn minh trống đồng, trên địa bàn này đã có c dân sinh sốnglàng đợc hình thành từ giai đoạn này và nằm trong bộ Cửu Chân, là một trongnăm bộ của nớc Văn Lang Vào đầu thời kì văn hoá Đông Sơn, trên địa bànHoằng Hoá đã có nhiều nhóm c dân sinh sống Cho đến nay trong số 85 di chỉkhảo cổ học lu lại dấu tích của văn hoá Đông Sơn đợc phát hiện ở Thanh Hoá thì

có 35 di chỉ ở huyện Hoằng Hoá cách Hoằng Lộc khoảng 2km Điều đó cho phépkhẳng định: Cho đến giai đoạn văn hoá Đông Sơn thì đã có nhiều nhóm c dân từphía tây Thanh Hoá tràn xuống chiếm lĩnh chinh phục vùng đồng bằng ven biển.Trên địa bàn Hoằng Lộc đã xuất hiện những chủ nhân

Hoằng Lộc có diện tích đất tự nhiên 231.13 ha, dân số 4.900 ngời, là xã có diệntích nhỏ nhất nhng dân số vào loại cao nhất huyện Chính vì vậy Hoằng Lộc phảiphát triển nhiều ngành nghề nhng chủ yếu là nông nghiệp, bên cạnh đó là cácngành nghề khác nh nghề dệt, nghề thợ (thợ xây, thợ mộc) nghề buôn bán…Hoằng Lộc là quê hmặc

Trang 13

dù còn thấp kém, nhng kinh tế Hoằng Lộc tơng đối ổn định, đáp ứng đợc nhu cầutối thiểu về đời sống vật chất, làm tiền đề cho phát triển văn hoá, giáo dục.

Theo thần phả thủơ ban đầu trang Đờng Bột chỉ có ba dòng họ: Nguyễn,Bùi, Lê Trải qua hơn 10 thế kỉ Hoằng Lộc có 72 dòng họ lớn nhỏ, các dòng họnơi khác đến đều mang theo những ngành nghề, phong cách nếp sống riêng Sựhoà hợp kết hợp với quá trình chắt lọc chọn lựa những tập quán tốt đẹp, đã xâydựng Hoằng Lộc thành một làng thuần phong mỹ tục

Nhìn chung, Hoằng Lộc ngay từ thủơ ban đầu đã có điều kiện giao lu vănhoá tơng đối rộng rãi, có sức thu hút nhiều ngời tài nhiều tinh hoa văn hoá từ cácvùng khác đến Ngời Hoằng Lộc đi làm ăn xa, làm thợ, đi buôn, dạy học, làmthuốc …Hoằng Lộc là quê hgóp phần giao lu, phát triển văn hoá chung Đồng thời tiếp thu nhiềuthông tin mới, kinh nghiệm hay vun đắp cho quê hơng đó là những yếu tố ảnh h-ởng đến sự hình thành và phát triển văn hoá giáo dục ở Hoằng Lộc

Chơng 2 Giáo dục và khoa bảng ở Hoằng Lộc thời

phong kiến

2 1 Đặc điểm chung về truyền thống giáo dục

2.1.1 Trọng dụng nhân tài

Khuyến học cầu hiền bao giờ cũng là quốc sách đối với sự nghiệp dựng

n-ớc giữ nn-ớc và hng thịnh quốc gia Từ xa nhân dân ta đã có câu “Chẳng thamruộng cả ao liền, tham vì cái bút cái nghiên anh đồ ”

Truyền thống hiếu học của dân tộc, đạo “Cơng thờng” “Trung hiếu”,”Tu tềtrị bình”, và mục tiêu đào tạo, tuyển chọn nhân tài qua việc học, việc thi thờiphong kiến đã thôi thúc ông cha ta “nấu sử sôi kinh’’, “ngày đêm đèn sách ”…Hoằng Lộc là quê hđể

“chiếm bảng đề danh ” đem tài đức học vấn “phò vua giúp nớc cứu dân” Bởinhân tài là nguyên khí của nhà nớc, còn khoa cử là thản đồ của học trò, là con đ-ờng tiến thân duy nhất của nho sinh Nguyên khí thịnh thì thế nớc mạnh rồi lên

Trang 14

cao, nguyên khí suy thì thế nớc yếu rồi xuống thấp Vì vậy các đấng thánh đếminh vơng chẳng ai không lấy việc bồi dỡng nhân tài kén chọn kẻ sĩ, vun trồngnguyên khí làm việc đầu tiên Sự hùng mạnh của một triều đại cũng tuỳ thuộc vàochính sách dùng ngời, một dân tộc càng nhiều lớp ngời hiền tài thì càng hùng c-ờng bấy nhiêu Để có đợc đội ngũ quan lại thống nhất từ trung ơng đến địa phơng,phải đào tạo một lớp ngời mới, phải có nền giáo dục chính quy của một nhà nớc.

Nhìn thấy đợc tầm nhìn quan trọng đó, nên ngay từ đời Lý đặc biệt là LýThánh Tông( 1054-1072) niên hiệu Thần Vũ (1069-1072) và đời Lý NhânTông( 1072-1127) niên hiệu Thái Ninh (1072-1076) diễn ra 3 sự kiện lớn đó là:Tháng 8 năm 1070 Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử và 72

vị tiên hiền Năm 1075 triều đình mở khoa thi Nho học đầu tiên ở nớc ta gọi làkhoa tam trờng dành cho những ngời học rộng thông hiểu kinh sử (gọi là khoaminh kinh) Ngời đỗ đầu Lê Văn Thịnh trở thành bậc khai khoa của các nhàkhoa bảng nớc ta Năm 1076 lập Quốc Tử Giám Điều đó cho thấy rõ triều Lý đãkhẳng định chọn Nho giáo làm nền giáo dục chính thống, đánh dấu bớc tiến củanho học Năm 1165 thời Lý Anh Tông( 1138-1175) nhà vua cho mở khoa thiThái học sinh Năm 1195 Lý Cao Tông mở khoa thi tam giáo để tuyển những ng-

ời tinh thông đạo Nho, Phật, Lão

Có thể nói vơng triều Lý đợc coi là triều đại đã đặt nền móng cho việc học,việc thi cử ở nớc ta Nhà Trần thay nhà Lý đã kế tiếp và mở rộng hệ thống họchiệu, tổ chức đợc một nền giáo dục khoa cử quy mô hơn Năm 1253 nhà Trần đổiQuốc tử giám thành Quốc học viện, dần dần nâng lên thành Thái học viện Việclập Văn miếu- Quốc tử giám đã tạo đợc tầng lớp quan văn trị nớc khá đông Định

lệ thi giữa các khoa thi cũng dần dần ổn định hơn Năm Kỷ Hợi quy định khoathi cách nhau 7 năm, sang đời Lê năm ất Mão (1435) đời Lê Thái tông mỗi kỳthi rút ngắn còn 6 năm và cho đến năm Quang Thuận thứ 7 (1466) lệ thi rút ngắnxuống còn 3 năm và lệ thi này kéo dài mãi về sau cho đến đời Nguyễn thế kỉ thứXIX ”(2)

Năm 1232 nhà Trần mở khoa thi đầu tiên đó là khoa thi Thái học sinh,niên hiệu Kiến Trung thứ 8 đời vua Trần Thái Tông khoa thi này cho đỗ tamgiáp Năm 1247 nhà Trần đặt lệ lấy tam khôi: Trạng nguyên, bản nhãn, thám hoa

và lấy đỗ 48 Thái học sinh Theo sử cũ năm 1256 nhà Trần mở khoa thi lấy mộttrạng nguyên dành cho các lỗ phía bắc (gồm 4 trấn : Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải D-

ơng, Sơn Tây) và một trại Trạng Nguyên dành cho các vùng từ Hoan- ái trở vào

Trang 15

Mục đích là để khuyến khích việc học ở vùng xa kinh thành, thực hiện định chếnày đợc hai khoa thì xoá bỏ

Rõ ràng ngay từ đầu nhà Lý- Trần các vua chúa đã nhận thấy rằng” nhântài là nguyên khí của quốc gia ” muốn trị vì đất, xây dựng nớc hùng mạnh khôngchỉ giỏi múa kiếm trên lng ngựa cho nên triều đình đã liên tục tuyển chọn nhântài đỗ đạt cao trong các kì thi để bổ sung vào hàng ngũ quan lại Chế độ khoa cử

và chính sách sử dụng hiền tài của các triều đại phong kiến đã tạo điều kiện chocác đời vua chúa giữ gìn, xây dựng đợc non sông đất nớc vững mạnh Đến thời LêSơ, nho giáo từ chỗ giữ vị trí còn mờ nhạt đã tiến lên trở thành nền giáo dục chínhthống Nhờ đó mà các triều đại phong kiến có đợc một vua sáng, tôi hiền, tớng tá

có tài, đa đất nớc Đại Việt tiến lên trình độ cờng thịnh một thời, khiến cho phongkiến phơng bắc tuy lớn mạnh hơn rất nhiều lần phải kiêng nể

Năm 1802, sau khi lật đổ triều Tây Sơn, Nguyễn ánh lên ngôi vua niênhiệu Gia Long lập nên một nớc Đại Nam hùng mạnh ở khu vực Đông Nam á-

mở đầu cho sự thống trị của triều Nguyễn ở triều Nguyễn các đấng thánh đếminh vơng cũng coi việc bồi dỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khílàm việc đầu tiên

Nh vậy, ở triều đại nào việc trọng dụng nhân tài để bổ sung vào bộ máy nhànớc là rất cần thiết Hoằng Hoá là một huyện lớn của xứ Thanh, còn Hoằng Lộc làmột tế bào của huyện Hoằng Hoá nên cũng không tránh khỏi những biến đổi củatình hình đất nớc

2.1.2 Khuyến khích học tập trong làng

Xa kia ở các địa phơng khác ca ngợi về Hoằng Hoá” thí Hoằng Hoá, khoá

Đông Sơn” hay” cơm Nông Cống, cá Quảng Xơng, văn chơng Hoằng Hoá ” Nói

đến Hoằng Hóa là nói đến một vùng đất hiếu học mà trong tất cả các xã củahuyện, xã đầu tiên ta phải kể đến đó là Hoằng Lộc, là một trong những xã có sốngời đỗ đạt nhiều nhất Điều làm nên sự kỳ diệu đó của xã Hoằng Lộc trớc hết taphải nói tới chính sách khuyến khích học tập trong làng từ thời xa cũng nh nay

Có thể thấy rằng việc giáo dục học hành ở Hoằng Lộc từ xa đã đợc xã hộihoá, nghĩa là đợc đa số trong cộng đồng làng xã quan tâm

Tổ chức rộng rãi của tầng lớp nho sĩ ở Hoằng Lộc là làng văn Cả hai làngBột Thợng và Bột Thái đều có làng văn riêng Làng văn do ngời có học thức caonhất trong làng đứng đầu và có một Hạp trởng làm chức năng th ký Hạp trởng làchức danh do làng đặt ra có nhiệm vụ giữ và ghi sổ sách của làng văn, tổ chức

Trang 16

việc tế lễ ở văn chỉ thu nhị kỳ Khi Hạp trởng qua đời thì đợc hởng vinh dự ngangvới ông tú tài

Mục đích của làng văn là khuyến khích việc học hành của kẻ sĩ, thắp hơng

ở văn chỉ nơi thờ Khổng Tử và các vị văn quan hiển đạt, viết và đọc văn tế ở đình,miếu, tổ chức các đợt bình văn thơ, giảng sách Mặc dù không nắm đợc thựcquyền nhng làng văn là bộ tham mu vạch kế hoạch quản lý về mọi mặt cho chứcdịch thi hành Làng Văn có uy tín với dân làng, quan trên cũng phải kính nể Lýtrởng chức dịch trong làng nếu tham nhũng hống hách với dân, làng Văn có ýkiến đề nghị quan trên thì sẽ bị cách chức Làng là đơn vị hành chính nhng cố kếtcộng đồng rất chặt chẽ do đó phép vua thua lệ làng Cũng chính điều đó nên hơn

1000 năm Bắc Thuộc, chính quyền phơng bắc nhằm đồng hoá nhân ta song chúngkhông thể xâm nhập tới làng xã Việt Nam đợc là chính vì làng rất có phép tắc

Các nhà khoa bảng, những ngời biết chữ Hán và sau này là chữ Quốc Ngữ

từ trình độ tiểu học, có phẩm chất đạo đức tốt, tổ tiên không làm điều gì phảnlàng, phản nớc, đã ngụ c ít nhất ở làng 3 đời, nộp lệ phí cho làng từ 10 đến 20quan thì đợc vào làng Văn Đối với thành viên của mình, làng văn có hình thứcgiáo dục đòi hỏi phải đảm bảo t cách đạo đức tốt, giữ gìn danh dự của ngời cóhọc Những ngời không chấp hành điều lệ làng văn, có hành động, thái độ trái với

lệ làng, phép nớc thì sẽ bị xoá tên trong làng văn

Không chỉ có làng văn mà còn có làng hộ gồm những ngời dân không biếtchữ Những trai đinh 18 tuổi trở lên đợc biên vào sổ làng hộ phải phục dịch trongnhững ngày lễ hội, họp hành, đón rớc, phải làm việc phu phen tạp dịch

Làng văn và làng hộ là hai tổ chức tồn tại bên cạnh nhau trong một cộng đồng cdân thống nhất Sự phân biệt này có nghĩa tôn trọng, động viên khuyến khích ngời

có học Nếu đời cha ông là dân làng hộ nhng đến đời con cháu đợc học hành thì

có thể đợc vào làng văn Cũng chính do một số điều phân biệt quyền lợi và nghĩa

vụ của dân hai làng nên nhiều gia đình dù nghèo khó đến mấy cũng cố cho con

em theo đòi bút nghiên chữ nghĩa để có dịp “vào làng văn ” để có vị trí trong hoạt

động của làng xã

Ngoài làng văn và làng hộ đến thế kỷ XV làng Hoằng Lộc đã xây dựngBảng Môn Đình và biến Bảng Môn Đình thành biểu tợng thiêng liêng có tácdụng lớn lao trong việc giáo dục, khích lệ tinh thần học tập , rèn luyện nhằm pháthuy tài năng, trí tuệ, phẩm chất đạo đức của kẻ sĩ Bảng Môn Đình ở Hoằng Lộccũng nh đình của các làng khác, là nơi thờ thành hoàng, nơi sinh hoạt văn hoácộng đồng trong các dịp lễ hội, nhng nét đặc sắc là ở chỗ, nó đợc dùng chủ yếu

Trang 17

nơi hội tụ, nơi hoạt động, nơi đào luyện những ngời theo học Nho học, những tríthức của làng Những ngời dự họp ở Bảng Môn Đình, nhất là những ngời chuẩn

bị đi thi học hỏi đợc nhiều điều hay qua các cuộc bình văn giảng tập

Trên thực tế Bảng Môn Đình ở Hoằng Lộc là nơi hội tụ của nhiều nho sinh, nơigiúp họ dùi mài kinh sử để qua các kỳ thi hơng, thi hội, thi đình chiếm bảng đềdanh các học vị Sinh đồ (tú tài ), Hơng cống (cử nhân ), Đại khoa (tiến sĩ ) vànhững Nho sinh sĩ tử thi cha đỗ nhng có phẩm chất đạo đức tốt

Sự tồn tại và hoạt động của Bảng Môn Đình củng cố và phát huy truyềnthống hiếu học của ngời Hoằng Lộc theo tục lệ’’ trọng khoa hơn trọng hoạn” tứctrọng ngời đỗ đạt, có học vị hơn là ngời có phẩm trật quan tớc Mỗi lần họp hành,các vị thứ trong đình đợc quy định rất cụ thể và thực hiện nghiêm túc theonguyên tắc: Ai đỗ đạt cao thì đợc ngồi hàng chiếu trên, chức quan to nhng học vịthấp vẫn phải ngồi hàng chiếu thấp hơn, dới những ngời có học vị cao hơn mặc dù

họ còn trẻ, cha làm quan hoặc đã làm quan nhng chức tớc, phẩm trật còn thấp.Trong đình trải 3 hàng chiếu: Trung hàng, tả hàng và hữu hàng

ở trung hàng( hàng chiếu giữa) phía trên là chiếu cạp điều dành cho nhữngngời có học vị tiến sĩ Còn chiếu cạp xanh bên dới dành cho những ngời đã đỗ H-

ơng cống, Cử nhân

Hàng chiếu bên tả là vị trí của các sinh sinh đồ, Tú tài Hàng chiếu bên hữudành cho những nho sinh, sỹ tử cha thi đỗ, hoặc nhng ngời trong làng văn tuykhông có học vị nhng phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong làng xã Cuối hànggiữa có riêng một chiếu cho bọn hơng lý đơng chức ngồi, để lắng nghe ghi chépnhững quyết định của cuộc họp

Tuy nhiên cả 3 chiếu lấy tuổi cao làm trọng, đúng với truyền thống “trọngxĩ”

Sinh hoạt ở Bảng Môn Đình tạo nên đầu óc ngôi thứ, ganh đua nhng đã tạo

ra đợc nhiều thế hệ thành đạt và có nhiều cống hiến xứng đáng cho quê hơng đấtnớc Nhiều nhà chính trị, quân sự, nhà giáo lỗi lạc, đã trởng thành từ vành nôiBảng Môn Đình

Nh trên ta đã nói, Bảng Môn Đình đợc dựng lên từ thời Lê (cuối thế kỷXV) ban đầu chỉ là 3 gian, vừa làm chỗ họp, vừa làm nơi tế lễ thành hoàng Niênhiệu Cảnh Hng thứ 11 triều vua Lê Hiển Tông năm 1750 ông Nguyễn Điền làmquan án sát xứ Nghệ An về nghỉ hu tại quê nhà đã đề xớng và tổ chức việc sửasang tôn tạo lại đình Đầu năm 1932, đình đợc xây cất quy mô hơn, ba mặt đợcxây gạch, bên trong đình là những hàng cột gỗ lim lớn đờng kính khoảng 50cmcác cột gỗ đợc kê trên những phiến đá tảng vững chãi Trang trí chạm trổ trên cácbức gỗ tinh xảo hơn, hai đầu hồi có những mảng kiến trúc đắp nổi rồng phợng rấtcông phu

Trong Bảng Môn Đình có treo một bức đại tự lớn “địa linh nhân kiệt”.Theo thần phả, vua Lý Thái Tông trên đờng đi dẹp giặc Chiêm Thành đã cho

đóng quân tại đây và mệnh danh vùng quê này là nơi” địa linh nhân kiệt” Vănbia ở văn từ huyện Hoằng Hoá đã khắc hoạ địa thế và vị trí đặc sắc của HoằngLộc” hình thể thì có núi phong châu làm án, có dòng sông mã uốn quanh nonsông đúc kết khí thiêng, sinh trởng nhân tài anh tuấn kẻ sỹ nhiều ngời đỗ đạt,danh tiếng lẫy lừng đứng hàng đầu Châu ái mà sánh chung cả nớc”(3)

Trong Bảng Môn Đình còn có một số câu đối đề cao truyền thống văn hiếncủa làng nhắc nhở kẻ sĩ giữ vững khí tiết

Trang 18

“ Đia vị quân tử hơng, thanh danh sở tụyNhân tại văn hiến ấp, phong tiết từ trì”

( Đất sinh ngời quân tử tiếng tăm hội tụNgời ở làng văn hiến khí tiết vững bền)

Cách đây không lâu Bảng Môn Đình còn giữ đợc một chiếc trống đại(trống cù), đờng kính mặt trống 1,5m tiếng trống đánh lên vọng rất xa làm hiệulệnh khi hội họp, sinh hoạt văn hoá cộng đồng, dân gian trong vùng có câu: “

Đình huyện tống, trống Chợ Quăng, cờ Nam Ngạn” Gần đây những di tích lịch

sử mang dấu ấn một thời nh tấm bia “ Đờng Bột kiều bi”, “ hòn đá S Lộ ” đợc đa

về đình Một tấm bia lớn ghi lại công lao hành trang của các vị đại khoa đ ợcdựng lên trớc cửa đình Giá trị đích thực của Bảng Môn Đình đang “sống lại” khơidậy niềm tự hào chính đáng của Hoằng Lộc

Bên cạnh đó, trong làng, trong họ còn có những tục lệ khuyến khích bằngvật chất cho những gia đình có ngời đi học Những bà mẹ có công nuôi dạy concái thành tài, những bà vợ đã và đang nuôi chồng ăn học thành đạt, nếu làm nghềbuôn bán thì đợc làng u tiên cho chọn chỗ ngồi tốt trong lều chợ, vừa sạch sẽ, vừathuận lợi cho việc làm ăn Còn nếu làm ruộng thì cày số ruộng mà làng hoặc họdành làm tặng phẩm cho ngời chiếm bảng

Truyền thống hiếu học đã đợc tiếp nối từ đời này qua đời khác khiến chobản thân những ngời đi học và đỗ đạt đều cảm thấy vinh dự và hạnh phúc đợc

đem trí tuệ và tài năng đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nớc Mục tiêu của

họ là” tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nhng trớc hết là tu dỡng đạo đức củabản thân để từ đó giữ lấy nề nếp trong sạch của gia đình và góp phần đem lạiphồn vinh cho đất nớc

Kế thừa di sản vô giá của làng, ngày nay việc học hành ở Hoằng Lộc cũngrất đợc chú trọng và khuyến khích học tập rất nhiều Đó là việc thành lập hộikhuyến học vào đầu tháng 01 năm 2001 với gần 200 hội viên và tiếp theo là sự ra

đời của 5 chi hội cơ sở Chi hội chùa là đơn vị đầu tiên đợc thành lập với hơn 30hội viên Tuy mới ra đời nhng đợc sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, các tổ chức

đoàn thể và con em quê hơng ở các vùng, miền hội đã có quỹ Tôqsi 20.000.000 đ,quỹ này đã và đang chi thởng cho học sinh giỏi đạt giải các tuyến, lu niệm thísinh đậu đại học và một phần hỗ trợ cho học sinh nghèo vợt khó vơn lên học giỏi

Nh vậy, Xã Hoằng Lộc ngày xa cũng vậy và ngày nay cũng thế luôn luônchú trọng đến công tác giáo dục, đặt nhiệm vụ giáo dục lên hàng đầu Tronghuyện Hoằng Hoá, Hoằng Lộc là đất Nho học lâu đời Chính vì lẽ đó mà từ thế

kỷ XIX dới nho sỹ Hoằng Hoá đã lập văn từ thờ Khổng Mạnh và những bậc vănnhân của huyện ngay trên quê hơng Hoằng Lộc

2.2 Kết quả sự đỗ đạt khoa bảng

2.2.1 Kết quả

Hoằng Lộc là xã có truyền thống lâu đời về học hành khoa cử Trong lịch

sử Hoằng Lộc đã sản sinh ra nhiều nhà khoa bảng, nhiều quan lại có phẩm chất,tài năng đóng góp lớn lao vào sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc, xây dựng vàbảo vệ đất nớc

Nh chúng ta đã biết chế độ khoa cử Hán học của nớc ta bắt đầu từ đời vua

Lý Nhân Tông năm 1075 và kết thúc dới triều Khải Định năm 1919 Trong lịch sửkhoa cử 844 năm ấy có tổng số 187 khoa( đại khoa) lấy đỗ 2291 tiến sỹ

Nớc ta là một nớc văn hiến, có truyền thống hiếu học từ xa xa, nhng chế

độ thi cử thời xa cực kì khắt khe, phải vợt qua 4 trờng thi hơng mới đợc dự thi hội,

đỗ rồi mới đợc dự thi đình để chọn các danh hiệu cao quý: Trạng nguyên, Bảngnhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ

Hoằng Lộc có lịch sử khoa cử 438 năm, kể từ năm có vị khai khoa là ôngNguyễn Nhân Lễ đỗ tiến sĩ khoa Tân Sửu, Hồng Đức thứ 12 (1481) đến khoa thi

Trang 19

nho học cuối cùng triều Khải Định (1919) gia phả các dòng họ hiện còn lu giữ chỉghi chép những ngời đỗ đạt tính từ triều Lê Sơ trở về sau, nhng chắc hẳn việc giáodục, học hành ở địa phơng đã có từ thời Lý- Trần song có thể vì trong khoa cửcha có ai chiếm thứ vị cao, cũng có thể tài liệu bị thất lạc nên đến nay không biết

Trong hơn 4 thế kỷ, Hoằng Lộc có 12 ngời đỗ Tiến sĩ (triều Lê -Mạc 10

ng-ời và triều Nguyễn 2 ngng-ời) theo nhà sử học Phan Huy Chú cho biết, trải qua cáctriều đại Lý,Trần, Lê, Mạc cả huyện Hoằng Hoá có 36 ngời đỗ Đại khoa – riêngHoằng Lộc có 10 ngời, chiếm tỷ lệ khá cao so với cả huyện và cả nớc

Dới triều Nguyễn, theo quốc triều khoa bảng lục của Cao Xuân Dục có 38khoa thi tiến sĩ, lấy đỗ 538 ngời thì Hoằng Hoá có 11 ngời đỗ tiến sĩ, riêng HoằngLộc có 2 ngời đỗ Theo thống kê cha đầy đủ, số lợng đỗ Hơng cống ( Cử nhân ),Sinh đồ ( Tú tài) và các học vị tơng đơng khá đông đảo Trong hơn 300 năm triều

Lê - Mạc có 149 ngời đỗ Hơng cống, Hơng tiến và các học vị Nho sinh trúngthức, Giám sinh Quốc Tử Giám Trong 117 năm Triều Nguyễn (1802-1919) có

37 ngời đỗ Hơng Cống, Cử nhân Số lợng đỗ Sinh đồ, Tú tài ở Hoằng Lộc cókhoảng 140 vị Với số liệu nói trên ta có thể khẳng định rằng Hoằng Lộc là mộtxã có nhiều ngời đỗ đạt hơn tất cả các xã của huyện Hoằng Hoá Đây là xã đợcxem là cái rốn khoa bảng của huyện Có nhiều gia đình cha con, ông cháu, anh

em cùng thi đậu cụ thể đó là ở đời Nguyễn, gia đình họ Nguyễn ở Bột Hng( Hoằng Lộc ) Anh Nguyễn Đăng Nhợng đỗ khoa Kỹ Mão, niên hiệu Tự Đức 32(1879); em Nguyễn Thúc Đôn đỗ khoa Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc 1 (1884);con Nguyễn Năng Nhợng là Nguyễn Thiện Phỏng đỗ khoa ất Dậu, niên hiệuThành Thái 9 (1897) Cũng nh gia đình họ Nguyễn ở Bột Thợng, cha NguyễnThận Tuyển đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mạng 15 (1834); conNguyễn Bá Nhạ đỗ cử nhân khoa Tân Sữu, niên hiệu Thiệu Trị 1 (1841) Sau đónăm 22 tuổi , đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân ( Hoàng Giáp ) ân khoa Quý Mão,niên hiệu Thiệu Trị 3 (1843) Rồi gia đình họ Nguyễn Huy ở Bột Hng, chaNguyễn Huy Lịch đỗ cử nhân khoa Tân Mão niên hiệu Minh Mạng 12(1831);con, Nguyễn Huy Võ đỗ cử nhân khoa Canh Ngọ , niên hiệu Tự Đức 23 (1870).Trớc đó đời Lê Trung Hng, gia đình Nguyễn Quỳnh cũng 3 ngời đỗ Hơng Cống

và biết bao gia đình khác cha con, ông cháu đều đỗ đạt không kể xiết…Hoằng Lộc là quê h

Nh vậy, qua các triều đại Lê-Mạc – Nguyễn, Hoằng Lộc đã có 12 vị đợc

đề danh trên bảng vàng Đại khoa, trong đó có 7 vị đợc khắc tên ở bia đá đặt tạiVăn Miếu – Quốc Tử Giám

3- Nguyễn S Lộ: Sinh năm Kỷ Mão (1519), đỗ Đệ nhất giáp chế khoa xuất thân

đệ tam danh ( Thám Hoa ) khoa Chế khoa năm Giáp Dần, Thuận Bình thứ 6(1554) triều vua Lê Trung Tôn Khoa này triều đình Lê Trung Hng lấy đỗ 13 ngời

4- Bùi Khắc Nhất : Sinh năm Quý Tỵ (1533) đỗ Đệ nhị giáp Chế khoa xuất thân

đệ nhị danh ( Bảng Nhãn ) khoa Chế khoa Ât Sửu năm Chính Trị thứ 8 (1565)triều Lê Anh Tông lúc 33 tuổi Khoa này triều Lê Trung Hng lấy đỗ 10 ngời.5- Nguyễn Cẩn : Sinh năm Đinh Dậu (15370 ), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thânthứ 3 (Hoàng Giáp ), khoa Canh Thìn, Diên Thành thứ 3 ( 1580), triều Mạc MậuHợp ,lúc 44 tuổi Khoa này triều Mạc lấy đỗ 17 ngời

Trang 20

6- Nguyễn Nhân Thiệm : Sinh năm ất Mùi (1535), đỗ Hội nguyên khoa QuýMùi, Quang Hng thứ 6 (1583) triều Lê Thế Tôn, lúc 49 tuổi Khoa này triều LêTrung Hng lấy đỗ 4 ngời

7- Nguyễn Thứ : là con ông Nguyễn S Lộ, sinh năm Nhâm Dần (1572), đỗ Đìnhnguyên Hoàng Giáp khoa Mậu Tuất Quang Hng thứ 27 (1598) triều Lê Thế Tôn,lúc 27 tuổi Khoa này triều Lê Trung Hng lấy đỗ 5 tiến sĩ

8- Nguyễn Lại : Sinh năm Tân Tỵ (1581), đỗ Đình nguyên Hoàng Giáp, khoa KỷMùi Hoằng Định thứ 20 (1619) triều Lê Kính Tông lúc 39 tuổi, khoa này triều Lêlấy đỗ 7 tiến sĩ

9- Nguyễn Ngọc Huyền : Sinh năm ất Sửu (1685) đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩxuất thân khoa Tân Sửu Bảo Thái thứ 2 (1721) triều Lê Dụ Tôn lúc 37 tuổi Khoanày triều Lê lấy đỗ 25 ngời, ông xếp thứ 19

10- Lê Huy Du: Sinh năm Đinh Sửu (17570, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuấtthân ,khoa Đinh Mùi, Chiêu Thống nguyên niên (17870 triều Lê Mẫn Đế lúc 31tuổi, khoa này là khoa cuối cùng của triều Lê, lấy đỗ 14 ngời, ông xếp thứ 3

11- Nguyễn Tôn Thố: Sinh năm Quý Sửu(1793), đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuấtthân thứ 5 khoa ất Mùi Minh Mệnh thứ 16 (1835) lúc 43 tuổi, khoa này triềuNguyễn lấy đỗ cả Tiến sĩ và Phó bảng

12- Nguyễn Bá Nhạ : Sinh năm Nhâm Ngọ (1822), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuấtthân thứ nhất (Hoàng Giáp) và là ngời đỗ thứ hai khoa thi Quý Mão Thiệu Trị 3(1843) lúc 22 tuổi, khoa này triều Nguyễn lấy đỗ Tiến sĩ và Phó bảng

Trong12 vị đại khoa, có 2 ngời đỗ tam khôi là ông Bảng nhãn Bùi KhắcNhất và ông Thám hoa Nguyễn S Lộ; hai ngời đỗ Đình nguyên Hoàng giáp (đỗ

đầu kỳ thi đình – hai kỳ thi này không lấy tam khôi ) là ông Nguyễn Thứ và ôngNguyễn Lại; một ngời đỗ Hội nguyên (đỗ đầu kỳ thi hội, khoa này tuy chia làmhai giáp: Đệ nhị và Đệ tam giáp nhng không tổ chức thi đình )là ông NguyễnNhân Thiệm và hai ngời đỗ Hoàng giáp là ông Nguyễn Cẩn và ông Nguyễn BáNhạ

Các vị đại khoa cùng với 200 ngời đỗ Hơng cống, Cử nhân (trong đó có 8

ng-ời đỗ thủ khoa), 140 ngng-ời đỗ Sinh đồ, Tú tài và 1 lực lợng khá đông đảo nhữngngời có học thức nhng về lí do nào đó mà không thi hoặc không thi đỗ, đã tạo nêntầng lớp nho sĩ đông đảo ở Hoằng Lộc trong suốt gần 5 thế kỷ

Phần lớn những ngời đỗ đạt đều ra làm quan với tâm huyết phò vua giúp nớc.Qua thống kê cha đầy đủ trong vòng 450 năm ở hai làng Bột có 116 ngời đợc bổdụng làm quan, từ chức thợng th đến tri phủ, tri huyện, huấn đạo, giáo thụ Số

đông quan lại là những ngời đỗ từ Cử nhân trở lên, một số ít là Tú tài đợc hởng chế

độ tập ấm, một số là quân nhân qua đờng binh nghiệp mà thành võ quan, số võquan ở hai làng Bột không ít Đó là cha kể những vị vốn là quan văn nhng do điềukiện đất nớc có chiến tranh đợc chuyển sang binh nghiệp

Trang 21

Trong lịch sử khoa cử ở xã Hoằng Lộc qua các triều đại phong kiến đã để lạicho con cháu quê hơng niềm tự hào về lớp ông nghè, ông cống Đó là những ngờikhi ra làm quan nổi tiếng về tài năng, nhân cách chính trực , thanh liêm.

Tuy thành phần xuất thân, điều kiện gia đình, xã hội và con đờng tới đích củamỗi ngời có khác nhau, có ngời thành đạt, có địa vị cao sang trong xã hội (hiểnnho, hiển sĩ ) …Hoằng Lộc là quê hcó ngời học thức cao nhng không ra làm quan, ẩn náu nơi sơn lâmhoặc chốn thôn dã để chờ thời Có ngời học rộng, tài cao nhng không đỗ đạt mở tr-ờng dạy học, làm thuốc (hàn nho, hàn sĩ ) …Hoằng Lộc là quê h Dù cảnh đời khác nhau nhng họ đều

có một chí hớng chung là bồi đắp cho cơng thờng, giữ gìn chính giáo hoặc lấy sựnghiệp mà phò vua giúp nớc , lấy phẩm hạnh mà làm mẫu mực cho ngời đời, lấygiáo hoá mà tác thành hậu tiến …Hoằng Lộc là quê h nên đều đợc xã hội đơng thời tôn trọng Đó làtính cách của từng lớp sĩ phu Hoằng Lộc Tuy nhiên hầu hết những ngời đỗ đạt ởHoằng Lộc ra làm quan, giúp dân giúp nớc và giữ những chức quan từ các bộ,tỉnh, phủ, huyện…Hoằng Lộc là quê h điều đó nó đợc chứng minh qua bảng thống kê sau:

Những chức quan do ngời Hoằng Lộc đảm nhiệm

Hồng lô tự thanh 1 Hồng lộ tự thiếu thanh 2

Trang 22

Các phủ, huyện

Sứ thần

1 – Nguyễn Nhân Thiệm đi sứ năm 1597 làm phó sứ

2 – Nguyễn Lại đi sứ năm 1626 làm phó sứ

Tặng phong

Thái bảo 1

Thiếu bảo , văn minh điện đại hoc sĩ 1

Thái tử thái bảo 1

1 Nguyễn Tớng Công(Anh Tú Quận Công)

TrầnLêTrungHng

2 Nguyễn Ngọc Hiền

(Thái Quận Công)

2 Trinh Giàu(Viêm Quận Công)

3 Trịnh Công Thụ(Trạch Quận Công)

Trang 23

Ngoài ra còn nhiều ngời giữ chức tớc hầu nh Nguyễn S Lộ (Đoan Túc hầu);Nguyễn Nhân Thiệm (Phúc Nguyên hầu); Nguyễn Lại (Quế Lĩnh hầu); Lê VănDuyệt ( Trung liệt hầu ); Trịnh Công Mạnh ( Thạc Trung hầu) ở Triều Lê Trung H-

ng Còn ở triều Nguyễn có: Nguyễn Viên (Châu Phong hầu); Hà Duy Phiên ( BútPhong hầu) …Hoằng Lộc là quê h

Bên cạnh chức tớc hầu là chức tớc Bá nh Nguyễn Thanh (Văn Khê bá);Nguyễn Châu (Diễn Lộc bá); Nguyễn Văn Phúc(An Thành bá ); Nguyễn Bính(Bích Ngọc bá ); Nguyễn Thuần Tuý (Tuý Đức bá ); Nguyễn Hiệu (Dơng Danhbá); Nguyễn khắc Tráng (Tráng Hiến bá ) …Hoằng Lộc là quê h

Tớc Tử có : Nguyễn Hoán ( Khuôn Nghĩa tử), Nguyễn Trạm ( Hiển Đạt tử ).Tớc Nam có: Nguyễn Tấn ( Phúc Nhạc nam), Hà Thận Mật (Hoa Nghĩa nam)2.2.2 Những đóng góp của nho sĩ Hoằng Lộc đối với đất nớc.

Trong số Nho sĩ Hoằng Lộc ra làm quan, nhiều ngời đã vận dụng sáng tạonhững điều học trong kinh điển vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, do đó cócống hiến lớn cho đất nớc trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, ngoại giao và

đào tạo nhân tài

Một số nho sĩ tiêu biểu đó là:

Quan thợng th Bùi Khắc Nhất với 44 năm làm quan tại 6 bộ, trải qua 3 triềuvua, hoạt động trên nhiều lĩnh vực và ở cơng vị nào cũng giải quyết một cách trọnvẹn

Khi đất nớc có chiến tranh , tuy là một quan văn nhng Bùi Khắc Nhất đợctriều đình tin cậy giao cho thợng th bộ binh trong nhiều năm Năm 1578, cùng vớithái phó Vinh quận công Hoàng Đình ái, ông đề xuất và chỉ đạo việc chôn, đóngcọc ven núi Mông Sơn ( Nga Sơn ngày nay) giữ nơi quan yếu ngăn chặn có hiệuquả cuộc tấn công xâm lấn của nhà Mạc khi nam triều còn trong thế yếu…Hoằng Lộc là quê h

Năm 1592 , khi nhà Lê Trung Hng thắng Mạc, chuẩn bị trở về thăng Long,

ông đang giữ chức Hữu thị lang bộ công, đợc triều đình giao cho phụ trách sửasang tu bổ lai cung điện, kho tàng, thành luỹ vừa bị binh lửa tàn phá Chỉ mộttháng sau công việc hoàn tất, kịp ngày đón vua Lê vào kinh thành ngự giá thiếttriều Khi giữ chức Hữu Thị lang bộ hình, ông trông coi xét sử việc ngục, không

để xảy ra việc gì oan khuất, xã hội yên ổn, đợc ngời đời ngợi ca là thời thái bìnhthịnh trị , dùng đức hiếu sinh để cứu vớt những ngời lầm lỗi là phơng châm hành

động của ông

Dới thời triều Lê Trung Hng, Hoằng Lộc có ông Nguyễn Ngọc Huyền là ngời

đợc sử sách đánh giá cao về tài năng và công trạng, ông đỗ tiến sĩ năm 1721, đếnnăm 1742 đợc bổ dụng làm Hữu thị lang bộ hộ giữ chức bồi tụng Sử cũ chép về

Trang 24

ông nh sau : “ Trớc kia Ngọc Huyền làm Đốc trấn Cao Bằng 7 năm, có tài về việc

vỗ yên dân chúng , chống cự giặc cớp, nên dân biên giới yên ổn làm ăn, TrịnhDoanh rất trọng, phong cho tớc hầu Đến nay về triều làm quan trong chính phủ ”.Chỉ ít tháng sau ông lại đợc thăng giữ chức tham tụng cùng với Độ ngự sử Ngô

Đình Oánh phân xử những hình ngục oan uổng cho hợp lí

Con ông là Nguyễn Trọng Hoành có tài dùng ân đức giáo huấn nhân dân,dùng uy vũ dẹp tan đảng cớp, nhân dân vùng biên viễn đợc ông ban nhiều ân huệ,quan đồng triều rất trọng nể ông Năm Cảnh Hng 30 (1769) ông đựơc cử giữ chứctán lý trong quân đội của triều đình đi đánh Hoàng Công Toản ở Thanh Châu

ở triều Nguyễn, Hoằng Lộc có nhiều ngời đỗ đạt, trong số những ngời ra làmquan có chức tớc cao và có nhiều cống hiến là ông Hà Duy Phiên Ông đỗ HơngCống năm 1819 và từng có 10 năm làm quan trị nhậm ở địa phơng Mãi đến năm

1828 , ông mới tham dự triều chính, và đây là thời kỳ ông thực sự phát huy đựơc

sở trờng cuả mình trên nhiều lĩnh vực Trong lần ban thởng năm 1838, vua MinhMệnh đã nói “ thợng th Hà Duy Phiên gặp việc cố gắng, hàng ngày hết sứcchăm chỉ …Hoằng Lộc là quê h”

Tháng 8/1838 hộ đốc Bắc Ninh Tôn Thất Bính tâu : “ kho thóc ở tỉnh chứa

đầy mà thóc tô sẽ nộp mùa đông năm nay đến 60 vạn hộc, xin phát ra 3 vạn hộc

để bán “ Vua cho hỏi Bộ hộ, Hà Duy Phiên tâu : “ không có việc mà bán thóc ra,không ích lợi cho dân, huống chi trong khi xuất nhập, tệ nạn gian sinh ra, sợkhông tịên, …Hoằng Lộc là quê h” vua đồng tình và phán “ đại thần mu việc nớc, nh thế là rất xứnglòng trẫm”(4)

Năm 1850 trong lần xét công, Hà Duy Phiên đợc vua Tự Đức đánh giá rấtcao “…Hoằng Lộc là quê h là bề tôi tài giỏi kỳ cựu, vốn có khí tiết trung thành, hoặc ra chuyên trách

1 địa phơng thì đã từng tỏ ra có công với dân hoặc dự hàng giúp việc trong triềuthì giúp đỡ chính sự thiết thực ”( 5)

Hà Duy Phiên là ngời rất quan tâm đến đời sống của nhân dân Năm 1852 vua

Tự Đức muốn lập lại sổ sách điền địa để điều chỉnh tỷ lệ ruộng công, ruộng t, trêncơ sở đó sửa đổi chính sách thuế ruộng nhằm tăng thêm nguồn thu cho nhà nớc.Hỏi ý kiến Hà Duy Phiên thì ông cho rằng “đã cấp ruộng đất cho quân, dân rồinếu vội lấy lại trả về sợ quân dân mất cách sinh sống “ Là một ông quan thanhliêm, hết lòng vì nớc, vì nhân dân, ông thực sự là ngời có năng lực đợc bạn đồngliêu đánh giá cao Vũ Phạm Khải đã từng khẳng định “ Hà Duy Phiên là mộtquan lại cao cấp, một học giả uyên thâm có thực tài”.(6)

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chủ sự lộ hình 1 Đô cấp sự trun g1 - Tìm hiểu truyền thống hiếu học và khoa bảng xã hoằng hoá   huyện hoằng hoá   tỉnh thanh hoá
h ủ sự lộ hình 1 Đô cấp sự trun g1 (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w