Còn ở đây do năng lực vàtrình độ của chúng tôi còn hạn chế nên không có tham vọng gì nhiều hơn là đợctìm hiểu một phần nào đó của các quốc gia cổ đại Lỡng Hà nh vấn đề giai cấp và quan h
Trang 1trờng đại học vinh khoa lịch sử
- -hà thị lan
khóa luận tốt nghiệp đại học
tìm hiểu tính chất xã hội của các
quốc gia lỡng hà cổ đại
ngành s phạm lịch sử
Trang 2- -khóa luận tốt nghiệp đại học
tìm hiểu tính chất xã hội của các
quốc gia lỡng hà cổ đại
ngành s phạm lịch sử
Giảng viên hớng dẫn: ThS Hoàng Đăng Long
Sinh viên thực hiện : Hà Thị Lan
Lớp : 47A (Khoá 2006 - 2010)
Trang 3
Vinh - 2010
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Hoàng Đăng Long đã trực tiếp tận tình hớng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình lựa chọn và hoàn thành khoá luận này.
Để hoàn thành khoá luận, tôi còn nhận đợc sự động viên, khích lệ của quý thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, Th viện tr- ờng Đại học Vinh, Th viện tỉnh Nghệ An, gia đình và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài này.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng nh tài liệu tham khảo và năng lực trong nghiên cứu của bản thân, nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè
để khoá luận đợc hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn
Vinh, tháng 5 năm 2010 Sinh viên
Hà Thị Lan
Trang 5Mục lục
Trang
A Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục 6
B Nội dung 7
Chơng 1 Lợc sử các quốc gia Lỡng Hà cổ đại 7
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân c 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Dân c 10
1.2 Khái quát về lịch sử các quốc gia Lỡng Hà cổ đại .12
1.2.1 Nhà nớc của ngời Xume (cuối thiên niên kỷ IV đến đầu thiên niên kỷ III TCN) 12
1.2.2 Nhà nớc của ngời Accát (2334 – 2154 TCN) 15
1.2.3 Vơng triều III Ua (2132 – 2024 TCN) 18
1.2.4 Nhà nớc cổ Babilon (1894 – 1595 TCN) 21
1.2.5 Nhà nớc Tân Babilon (626 – 538 TCN) 28
Chơng 2 Xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại 33
2.1 Công xã nông nghiệp ở Lỡng Hà cổ đại 33
2.1.1.Đặc điểm công xã nông thôn phơng Đông cổ đại 33
2.1.2 Đặc điểm công xã nông nghiệp ở Lỡng Hà cổ đại 35
2.2 Giai cấp và quan hệ xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại 38
2.2.1 Giai cấp nông dân 38
2.2.2 Giai cấp nô lệ 44
2.2.3 Thơng nhân và thợ thủ công 50
Trang 62.2.4 Giai cấp thống trị 52
2.3 Xác định tính chất xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại 56
2.3.1 Quan điểm của một số nhà nghiên cứu 56
2.3.2 Quan điểm của tác giả 58
2.3.2.1 Về tổ chức nhà nớc của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại 58
2.3.2.2 Về quan hệ xã hội 70
C Kết luận 74
Tài liệu tham khảo 77 Phụ lục
Trang 7A mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Vào khoảng 4000 - 5000 TCN các nền văn minh của nhân loại đợc phátsinh, đó là bớc tiến nhảy vọt của lịch sử, là tổng thể mọi thành tựu của con ngờitrong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, triết học, kĩ thuật Những nền văn minh
đó xuất hiện trên những vùng đất khác nhau của địa cầu vào những thời kì lịch
sử khác nhau, mang dáng vẻ đặc trng riêng của từng khu vực Trong số nhữngnền văn minh lớn của loài ngời không thể không kể đến văn minh Ai Cập, Lỡng
Hà, ấn Độ, Trung Quốc, Hi Lạp, La Mã Lịch sử của những nền văn minh cổ
đại này đã lùi sâu vào quá khứ, nhiều nền văn minh đã suy tàn nhng nhữngthành tựu của nó mãi mãi để lại dấu ấn không thể phai mờ, có ảnh hởng rất sâusắc trên từng bớc tiến của lịch sử nhân loại
Việc tìm hiểu các nền văn minh cổ xa suy cho cùng chính là truy tìm gốc
rễ của văn minh loài ngời nói chung, là một nhân tố không thể thiếu trong họcvấn văn hóa Việt Nam vốn cũng là một cái nôi sản sinh ra loài ngời Nó có vaitrò quan trọng giúp chúng ta hội nhập với thế giới
Lỡng Hà là nơi chôn rau cắt rốn của một trong những nền văn minh tối cổcủa loài ngời ở đây xã hội có giai cấp và nhà nớc hình thành từ rất sớm vàcũng tại nơi đây nhân dân Lỡng Hà đã sáng tạo nên một nền văn hóa lâu đờinhất
Văn hóa Lỡng Hà xuất hiện khi mà hầu khắp châu Âu còn bị những cánhrừng rậm rạp bao phủ, dân c tha thớt, vẫn còn sống trong tình trạng thị tộc, bộlạc thì một nền văn hóa cao, phong phú đã phát triển trên những mảnh đất phìnhiêu ven các dòng sông Tigrơ và Ơphơrát ở đó con ngời đã thoát thai khỏitrạng thái nguyên thủy để kiến tạo nên những nền văn minh đầu tiên của miềnTây á, góp phần mở đầu thời đại văn minh trong lịch sử nhân loại
Trang 8Ra đời sớm, trên một nền sản xuất thấp kém còn nhiều tàn d của xã hộinguyên thủy là điểm dễ nhận thấy của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại Những đặctrng này có ảnh hởng không nhỏ tới trình độ và tốc độ phát triển đồng thời tác
động sâu sắc tới tính chất xã hội của khu vực này
Cho đến ngày nay nhiều cơ sở vật chất cũng nh những t liệu về Lỡng Hà
cổ đại vẫn còn lại khá phong phú Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ học đã đa lạinhững tài liệu quý giá giúp chúng ta khôi phục lại diện mạo xã hội Lỡng Hà cổ
xa Đặc biệt là năm 1901 các nhà khảo cổ học ngời Pháp đã tìm thấy một cột đá
ở di chỉ của thành cổ Susa, kinh đô xa của ngời Êlam (phía đông Lỡng Hà).Trên cột đá khắc luật do vua Hammurabi ban hành Đây là bộ luật cổ sớm nhấthầu nh còn nguyên vẹn mà ngày nay đã phát hiện đợc Nhờ đó, giúp chúng tahiểu thêm về xã hội Lỡng Hà thời kì Babilon thống trị Nhng bên cạnh đó nhiềucông trình kiến trúc đã bị biến mất qua thời gian nh vờn treo Babilon, cung
điện, đền đài nó chỉ còn lại vết tích mà thôi Đây là một lí do thôi thúc chúngtôi đi tìm hiểu khám phá những bí ẩn về xã hội Lỡng Hà cổ đại
Sự thật là còn rất nhiều bí ẩn mà cho đến nay con ngời vẫn cha giải thích
đợc, đó là một động lực thúc đẩy các nhà khoa học trên khắp thế giới tìm mọicách đổ mồ hôi, công sức để nghiên cứu tìm hiểu Còn ở đây do năng lực vàtrình độ của chúng tôi còn hạn chế nên không có tham vọng gì nhiều hơn là đợctìm hiểu một phần nào đó của các quốc gia cổ đại Lỡng Hà nh vấn đề giai cấp
và quan hệ giai cấp trong xã hội, đời sống kinh tế, chính trị cũng nh văn hóatinh thần để có thể bớc đầu xác định tính chất xã hội của Lỡng Hà cổ đại, nhằm
có một cách nhìn, một hiểu biết sâu hơn về Lỡng Hà, góp một phần nhỏ vàoviệc giảng dạy Lịch sử thế giới nói chung và Lịch sử Lỡng Hà cổ đại nói riêng
sau khi ra trờng Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu tính chất xã hội của
các quốc gia Lỡng Hà cổ đại" làm khóa luận tốt nghiệp.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi không có tham vọng phát hiện ra những
điểm mới, mà chỉ thông qua một số công trình nghiên cứu của một số học giảtrong và ngoài nớc về lịch sử Lỡng Hà cổ đại, nhất là những tác phẩm có liên
Trang 9quan đến giai cấp và quan hệ giai cấp, tính đặc thù của xã hội phơng Đông,những t liệu về xã hội phơng Đông, vấn đề nhà nớc, tôn giáo Để từ đây nắm bắt
đợc các kiến thức về lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, góp phần làm sáng rõtính chất xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại, giúp mọi ngời có cái nhìn
đúng đắn hơn về xã hội ấy và về những đóng góp to lớn của nền văn minh nàyvới sự phát triển của lịch sử nhân loại
đó còn chứa nhiều bí ẩn cha có lời giải đáp Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về
đất nớc, con ngời nói chung và những vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa nói riêng
là đề tài hấp dẫn với nhiều học giả
Đầu tiên phải kể đến những tác phẩm mang tính chất giáo trình đợc sửdụng giảng dạy trong các trờng đại học, cao đẳng nh: Chiêm Tế “Lịch sử thếgiới cổ đại”, tập 1 (NXB Đại học quốc gia Hà Nội), tác giả Vũ Dơng Ninh cótác phẩm “Lịch sử văn minh thế giới” (NXB Giáo dục), Lơng Ninh (chủ biên) “Lịch sử thế giới cổ đại” (NXB Giáo dục), Nghiêm Đình Vỳ “Lịch sử thế giới cổtrung đại” (NXB Đại học S phạm), Trịnh Nhu “Đại cơng lịch sử thế giới cổ đại”(NXB Đại học Giáo dục và chuyên nghiệp Hà Nội, 1960), hay tập hợp giáoviên khoa sử Đại học S phạm Hà Nội với tác phẩm “Lịch sử thế giới cổ đại”(NXB Giáo dục Hà Nội, 1960) Đây là những công trình nghiên cứu rất cơ bản,
hệ thống về sự ra đời, phát triển kinh tế, chính trị – xã hội, văn hóa của cácquốc gia Lỡng Hà cổ đại
Đặc biệt tác phẩm “Một số chuyên đề Lịch sử thế giới”, trong đó có bàinghiên cứu của Nguyễn Gia Phu đã nghiên cứu sâu sắc nhà nớc Lỡng Hà cổ đại,miêu tả rất tỉ mỉ về những điều kiện dẫn đến sự hình thành nền văn minh Lỡng
Hà, cũng nh cơ cấu giai cấp trong xã hội đó Và những chuyên đề có liên quan
Trang 10đến Lỡng Hà cổ đại nh: Văn Tạo “Phơng thức sản xuất châu á - lí luận Mác –Lênin và Việt Nam” (NXB Khoa học xã hội – Hà Nội, 1997), Đinh Ngọc Bảo
“Các mô hình xã hội thời cổ đại” (NXB Giáo dục, 2000) Hai tác phẩm này đãnêu lên đợc những đặc trng trong xã hội phơng Đông nói chung và xã hội Lỡng
Hà cổ đại nói riêng Đồng thời, còn có những tác phẩm đi sâu vào lĩnh vực vănhoá mà chúng tôi đã tiếp cận đợc nh: Nguyễn Quốc Hùng “Những nền vănminh rực rỡ cổ xa” (tập 1, NXB Quân đội nhân dân - Hà Nội, 1993), Lơng Ninh
“Lịch sử văn hóa thế giới cổ trung đại” (NXB Giáo dục) đã miêu tả khá chi tiết
về những thành tựu mà ngời Lỡng Hà đã sáng tạo nên nh văn học, thiên văn,kiến trúc
Bên cạnh đó còn có nhiều tác phẩm mang tính chất tham khảo góp phầnlàm cơ sở cho việc đánh giá tính chất xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại
nh các tác phẩm của C.Mác: “Bàn về các xã hội tiền t bản”, “Các phơng thức cótrớc sản xuất t bản chủ nghĩa”, đã nói về vấn đề nhà nớc và sự ra đời của nhà n-
ớc cùng với tình hình xã hội của phơng Đông, sau này Ph.ăngghen đã tiếp tục
bổ sung và hoàn thiện trong cuốn “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu vànhà nớc”, công trình này đã vận dụng t tởng của Mác về “phơng thức sản xuấtchâu á” và làm rõ thời kì thị tộc, về nguồn gốc và bản chất của nhà nớc
Những luận điểm của C.Mác, Ph.ăngghen đã đợc V.I.Lênin bổ sung vàphát triển trong tác phẩm “Nhà nuớc và cách mạng” (NXB Sự thật, Hà Nội1958) Những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đợc xem là những lí luận
có tính chuẩn mực, là nền tảng soi đờng cho những nghiên cứu về nhà nớc và xãhội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại nói riêng, phơng Đông nói chung Ngoài
ra còn có nhiều tác phẩm khác liên quan đến mà chúng tôi cha có điều kiện tiếpcận Để nâng cao hiểu biết của bản thân cũng nh cung cấp những kiến thức sâusắc hơn nữa về một nền văn minh rực rỡ của nhân loại, từ đó có thể nghiên cứumột cách có hệ thống những nét cơ bản về xã hội Lỡng Hà cổ đại, làm nổi lênnhững đóng góp của nền văn minh cổ đại này đối với lịch sử nhân loại, là sự thể
Trang 11hiện dụng ý đó của chúng tôi trong việc “Tìm hiểu tính chất xã hội của các
quốc gia Lỡng Hà cổ đại”.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng
Đối tợng trực tiếp nghiên cứu của khoá luận là khu vực Lỡng Hà cổ đại, cụthể là cơ cấu giai cấp và quan hệ giai cấp cùng một số đặc trng về nhà nớc, đặcbiệt là những đánh giá của các nhà nghiên cứu về xã hội của các quốc gia Lỡng
Hà cổ đại Trên cơ sở đó để có thể rút ra tính chất xã hội ở các quốc gia này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung tìm hiểu giai cấp và quan hệ xã hội trong các quốc giaLỡng Hà cổ đại, từ đó bớc đầu chúng tôi mạnh dạn nêu lên tính chất xã hội củacác quốc gia đó
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này tôi đã tập trung tìm tòi, thu thập, chọnlọc những nguồn tài liệu cơ bản liên quan đến đề tài khoá luận Trớc hết là cácsách giáo trình lịch sử cổ đại, các nguốn tài liệu chuyên sâu về nhà nớc cổ đạiphơng Đông, đặc biệt là viết về lịch sử của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại củaNXB Giáo dục, NXB Sự thật, NXB Khoa học xã hội tại th viện trờng Đại họcVinh, th viện tỉnh Nghệ An, th viện Đại học Quốc gia Hà Nội Quan trọng nhất
là các bài viết trong một số cuốn chuyên đề về xã hội phơng Đông cổ đại nóichung, xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại nói riêng của nhiều tác giả nổitiếng
Bên cạnh đó nguồn thông tin từ một số tạp chí, website, một số khoá luậntốt nghiệp của các khoá trớc cũng là những tài liệu hết sức giá trị để tham khảophục vụ cho đề tài
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 12Tiến hành đề tài này tôi đã sử dụng nhiều phơng pháp Trong đó quantrọng nhất là việc vận dụng phơng pháp logic và phơng pháp lịch sử Bên cạnh
đó, để có những kết luận đúng đắn tôi còn sử dụng một số phơng pháp khác nhphơng pháp phân tích, phơng pháp tổng hợp Qua đây có thể khái quát hoá hay
cụ thể hoá vấn đề cho phù hợp với nội dung đề tài
5 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chínhcủa đề tài đợc chia làm 2 chơng:
Chơng 1 Lợc sử các quốc gia Lỡng Hà cổ đại
Chơng 2 Xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại
Trang 13B nội dung Chơng 1 Lợc sử các quốc gia Lỡng Hà cổ đại
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân c
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Về điều kiện tự nhiên: Lỡng Hà là vùng bình nguyên nằm giữa hai consông Tigrơ và Ơphơrát ở hạ và trung lu mà ngời Hi Lạp gọi bằng cái tênMêdôpôtami “Miền đất giữa hai con sông” bắt nguồn từ miền rừng núiAcmênia chảy qua lãnh thổ Irắc ngày nay rồi cùng đổ ra vịnh Pecxích (Vịnh BaT) Phía bắc và phía đông bình nguyên Mêdôpôtami có dãy núi biên giớiAcmênia và cao nguyên Iran cằn cỗi, phía Tây giáp thảo nguyên Xiri và sa mạcArabi, phía Nam là vịnh Pecxích Những đoạn quan trọng của hai con sông này
đều nằm trên đất nớc cộng hòa Iran ngày nay Vùng này có khí hậu lục địa,ngày rất nóng, đêm rất lạnh, ít ma
Hai con ông Tigrơ và Ơphơrát có vai trò rất quan trọng đối với sự hìnhthành và phát triển của các quốc gia ở khu vực Lỡng Hà (sông Tigrơ dài 2000
km và sông Ơphơrát dài 2800 km) Hai con sông này không những đã vận phù
sa tới tạo nên khu vực Lỡng Hà mà còn mang nớc tới dồi dào để biến đồngruộng thành vựa lúa, thành kho thóc, kho lơng thực Lu vực Lỡng Hà về phía th-ợng du, lợng ma khá lớn, cơ bản có thể cung cấp đầy đủ nớc ngọt cho hoa màusinh trởng Khu vực trung du ít ma, nên không thể cung cấp đầy đủ nớc ngọtcho hoa màu nông nghiệp phát triển Hàng năm vào mùa xuân, băng tuyết ởvùng rừng núi Acmênia tan ra, lũ đổ về xuôi làm mực nớc hai con sông ấy dângcao, gây nên những trận lụt lớn, biến Lỡng Hà thành một vùng biển nớc mênhmông, nớc sông rút đi, để lại lớp phù sa màu mỡ dày đặc có nơi dày tới 10 m,
đất ở đây rất mềm và tơi xốp Vì thế c dân Lỡng Hà chỉ cần dùng những chiếc
Trang 14cày, cuốc gỗ thô sơ cũng có thể xới đất gieo trồng ngũ cốc, trên đồng ruộng câycối tốt tơi.
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, cùng với những tiến bộ về kĩ thuật và thủylợi, c dân trên lu vực các dòng sông đã trồng một năm 2 vụ lúa So với các miềnkhác lúa của Lỡng Hà tốt đợc xếp vào loại bậc nhất thời cổ đại Ngời ta vẫn th-ờng ví “Lỡng Hà là thiên đờng của cõi trần” Tigrơ và Ơphơrát không chỉ cungcấp nớc tới, bồi đắp phù sa cho vùng đồng bằng châu thổ, mà còn là nơi khaithác và cung cấp nguồn thực phẩm đáng kể cho c dân nơi đây, đó là nguồn lợithủy sản vô cùng phong phú, việc đánh bắt tôm cá trở nên phổ biến
Hai con sông này ảnh hởng tới mọi mặt đời sống của c dân Lỡng Hà, hệthống thủy nông đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, mang lại cho conngời nhiều loại nông sản quý Vì vậy, thần nớc Ea đợc coi nh vị thần dạy choloài ngời các nghề thủ công, nghệ thuật và khoa học, vị thần của lòng nhân từ.Thần nớc Tammu là “con trai hình ảnh của thần Ea” rất đợc sùng bái
Hai con sông Tigrơ và Ơphơrát chảy theo hớng tây bắc - đông nam nh cáicầu nối liền vùng Hắc Hải với vịnh Ba T, nối liền Địa Trung Hải với phơng
Đông, tạo thành cái hành lang thuận tiện cho sự giao lu kinh tế và văn hóa giữa
đông và tây, giữa nam và bắc
Lỡng Hà có khí hậu lục địa rất nóng và khô Lợng ma hàng năm rất ít, do
đó nông nghiệp chủ yếu đợc tiến hành trên những vùng đất đã đợc nớc sông tớitiêu tự nhiên hay bằng sức lao động của con ngời Từ xa xa c dân Lỡng Hà đãchăm lo tới công tác thủy lợi Những ngời xa có thu đợc t liệu sinh hoạt trong tựnhiên thì cũng phải trải qua một quá trình lao động gian khổ Để khắc phụcnhững tác hại do tự nhiên gây ra và tranh thủ những điều kiện thuận lợi trongsản xuất, c dân ở lu vực Lỡng Hà phải làm công tác thủy lợi, đắp đê điều nớc
đào kênh máng thành hệ thống mạng nhện để tới tiêu cho đồng ruộng
Về tài nguyên thiên nhiên: Đầu tiên là nhờ nớc và phù sa của sông Tigrơ
và Ơphơrát, nhờ đất đai màu mỡ nên trên mảnh đất Lỡng Hà nông nghiệp sớmphát triển và chiếm u thế hơn so với nghề chăn nuôi, săn bắn
Trang 15Mặc dù ngời ta đã biết đến đồng, nhng những công cụ bằng đá vẫn đợc sửdụng rộng rãi Với những cái cày thô sơ, những cái liềm lỡi đá lửa cán gỗ nhngvới đất đai màu mỡ, phì nhiêu, có hệ thống thủy lợi tốt nên ngời ta đã trồng đợccác loại đại mạch, tiểu mạch và một số loại lúa khác “Năng suất lúa khá cao, sốlúa đại mạch thu hoạch đợc gấp 36 lần và trong một số trờng hợp có thể thuhoạch tới 104,5 lần so với số lúa gieo” [27, 46].
Theo Hêrôđôt, mức thu hoạch các loại ngũ cốc ở Lỡng Hà còn cao hơnnhiều khiến những ngời cha tới vùng đó khó mà tin đợc sự giàu có của xứ này.Ngoài ra ngời ta còn trồng nhiều cây ăn quả khác nh nho, mận và nhất là chà là
Có thể nói rằng cây chà là chính là một sự u đãi của thiên thiên đối với Lỡng Hà
để bù lại việc hầu nh không có mỏ khoáng sản và đá quý Kĩ thuật trồng chà làphát triển khá cao, có những giống chà là đợc cải chủng, ngời ta đã biết thụphấn nhân tạo chà là Cây chà là rất quý hiếm và có nhiều công dụng: quả để
ăn, vỏ để đan lát và hạt có thể dùng để đốt thay than Những cánh đồng cỏ xanhtốt đã giúp cho c dân Lỡng Hà cổ đại sớm phát triển nghề chăn nuôi ở nhữngthế kỉ đầu thiên niên kỉ III TCN ngời ta đã biết thuần dỡng bò, cừu, dê để ănthịt, lấy sữa hoặc dùng bò để chuyên chở đồ đạc
Lỡng Hà hầu nh không có kim loại và mỏ đá quý, đây là một khó khăn vàthua thiệt lớn của Lỡng Hà so với các nớc khác Nhng bù lại, Lỡng Hà lại cónhiều loại đất sét tốt, là nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho phát triển nghềgốm, gạch sứ của Lỡng Hà Từ thời ngời Xume làm chủ Lỡng Hà thì họ đã chếtạo đợc những sản phẩm đồ gốm rất tinh xảo
Với những đặc điểm của điều kiện tự nhiên đó đã ảnh hởng rất lớn đối vớihoạt động kinh tế cũng nh đời sống chính trị, xã hội của c dân khu vực này, tạonên sắc thái riêng của vùng Lỡng Hà Khác hẳn với Ai Cập, điều kiện tự nhiênbốn bề đều có thiên nhiên cách trở, đất nớc không bị ngoại tộc đến xâm lợc mộtcách thờng xuyên Còn lu vực Lỡng Hà thì địa hình bằng phẳng, không có mộtbiên giới thiên nhiên che chắn đất đai phì nhiêu, cỏ cây xanh tốt nằm giữa vùng
sa mạc Xiri nóng bỏng và cao nguyên Iran cằn cỗi Do đó nhiều bộ tộc du mục
Trang 16sống ở ven núi hay trên các miền sa mạc chung quanh khu vực Lỡng Hà đềunhòm ngó thèm khát vùng đất phì nhiêu ấy Vì vậy, ở Lỡng Hà thờng xảy ranhững biến động chính trị – xã hội to lớn, những cuộc chiến tranh giữa các bộtộc diễn ra liên miên, kết quả là những bộ tộc khác nhau đó đã đồng hóa vớinhau và cùng góp sức xây dựng nên nền văn hóa lâu đời, đặc sắc của khu vựcnày.
1.1.2 Dân c
Vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ IV TCN cùng thời kì mà ngời Ai Cậpbắt đầu xây dựng nhà nớc, c dân ở lu vực Lỡng Hà cũng đã sớm thoát li khỏichế độ công xã nguyên thủy và bắt đầu xây dựng nhà nớc của mình
C dân xa nhất của khu vực Lỡng Hà là ngời Xume, họ đã đặt nền móng
đầu tiên cho nền văn hóa cổ đại ở đây Nhng ngời Xume cũng không phải là
ng-ời dân bản sứ đã sống từ trớc ở đây Vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, họ mới
di c từ Trung á vào nam Lỡng Hà Ngời Xume thuộc chủng tộc nào? Đến ngàynay, các nhà nhân loại học và khảo cổ học cha thể xác định một cách chính xácdứt khoát, chỉ có thể nói rằng: “ngời Xume khác hẳn với giống ngời Xêmít sống
ở Tây bộ châu á, họ di c từ miền núi rừng Antai ở Trung á xuống Ngời Xume
đầu tròn, cổ ngắn, hình voi gần giống với ngời Mông Cổ” [23, 140]
Sau khi ngời Xume đã thiên di đến lu vực Lỡng Hà thì ban đầu họ cònsống tập trung với nhau để chăn nuôi và làm ruộng theo chế độ công xã thị tộc
Họ đã phát minh ra đồ đồng rất sớm, đã bớc từ thời đại đồ đá sang thời đại đồkim loại Họ chế tạo đợc những đồ gốm tinh xảo, dệt các thứ vải, đồng thời xây
đắp đợc những công trình thủy lợi khá hoàn bị, biết dùng trâu bò để cày ruộng.Ngời Xume cũng là những bộ tộc đã xây đắp thành thị sớm nhất trong lịch
sử loài ngời Sự xuất hiện thành thị cũng đánh dấu thời kì chế độ thị tộc tan rã
và thời đại văn minh bắt đầu Cách đây khoảng 6000 năm về trớc, trên vùng
đồng bằng Xume đã mọc lên nhiều thành thị, mà quan trọng nhất là các thànhthị Ua, Êriđu, Lagas, Kis, Surupac, Urúc, Nippua
Trang 17Khoảng thiên kỷ III TCN, ngời Xêmít đã di c từ miền ngoại Capcadơxuống phơng Nam, bao gồm ngời Accát, Phênixi, Hêbơrơ, Atxiri, Canđê, ngời
Êtiôpi (châu Phi), ngay trong ngời Ai Cập cũng có ít máu của ngời Xêmít
Trong tất cả giống ngời thuộc chủng tộc Xêmít, thì ngời Accát là giốngngời bớc vào lịch sử sớm nhất Vào khoảng 3500 TCN họ đã chuyển từ đời sống
du mục sang lối sống định c dựa trên kinh tế nông nghiệp tới tiêu ở vùng trung
lu Lỡng Hà Lúc mà ngời Xume đang dựng nên những quốc gia , thành thị của
họ và miền nam lu vực Lỡng Hà, thì ngời Accát cũng đã rời bỏ đời sống du mục
để làm nghề nông
Trên lu vực Lỡng Hà, ngời Xume và Accát đã từng đánh nhau mấy trămnăm để tranh giành quyền bá chủ Ban đầu do trình độ của ngời Xume cao hơnnên họ đã đánh thắng ngời Accát Nhng càng về sau thì trong nội bộ của ngờiXume diễn ra mâu thuẫn sâu sắc, thế lực của họ ngày càng yếu đi, ngời Accátgiành lại u thế trong chiến tranh
Sau khi chinh phục đợc ngời Xume, ngời Accát lại tiếp thu nền văn hóacủa những c dân Xume về tất cả các lĩnh vực nh kĩ thuật canh tác nông nghiệp,
về lịch pháp, số học, kiến trúc, công nghệ cũng nh về tín ngỡng tôn giáo và chữviết Về sau đến thiên niên kỷ III TCN, ngời Xume và Accát đã đồng hóa vớinhau
Tiếp sau đó có rất nhiều bộ lạc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau ở các khuvực lân cận, cũng đã tràn tới c trú ở khu vực Lỡng Hà tạo nên sự đồng hóa hỗnhợp của các cộng đồng ngpời với những ngữ hệ khác nhau, điều đó càng làmcho thành phần c dân ở Lỡng Hà phức tạp thêm rất nhiều
Năm 2228 TCN, bộ tộc Guti sống tại miền rừng núi Gutium ở phía đôngsông Tigrơ, xâm nhập lu vực Lỡng Hà đốt phá, tàn sát c dân ở đây Ngời Gutithay ngời Accát thống trị Lỡng Hà trong suốt hơn 70 năm
Tiếp theo, đó là sự phục hng của ngời Xume rồi đến ngời Êlam, ngờiAmôrít, ngời Canđê luân phiên thống trị vùng Lỡng Hà và đã tạo dựng ở nơi
đây những kì quan nổi tiếng Những bộ tộc này trong quá trình thống trị đã
Trang 18đồng hóa hòa lẫn vào nhau Đây là một nét đặc sắc trong thành phần c dân cũng
nh bản sắc văn hóa đa dạng của vùng đất này
1.2 Khái quát về lịch sử các quốc gia Lỡng Hà cổ đại
1.2.1 Nhà nớc của ngời Xume (cuối thiên niên kỉ IV đến đầu thiên niên
kỉ III TCN)
Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ học đã đa lại cho chúng ta những tài liệuquý để có thể khôi phục lại bộ mặt xã hội Lỡng Hà ở cuối thiên niên kỷ IV đầuthiên niên kỷ III TCN
Vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngời Xume đã thiên di đến lu vực ỡng Hà, chuyển từ lối sống du mục sang một cuộc sống ổn định hơn, định c trêndải đất màu mỡ, phù sa giữa hai con sông Tigrơ và Ơphơphát Họ xây đắp nhiềucông trình thủy lợi, hệ thống kênh rạch đợc hoàn bị để dẫn nớc vào đồng ruộngphục vụ cho hoạt động kinh tế nông nghiệp, biến Lỡng Hà thành một khu vực
L-“Có đầy đủ những điều kiện tốt nhất đối với nông nghiệp” (Hêrôđốt) Tronglịch sử thế giới, những bộ tộc đã xây đắp thành thị sớm nhất cũng là ngời Xume
Sự xuất hiện thành thị đã đánh dấu thời kì chế độ thị tộc tan rã và thời đại vănminh bắt đầu Do sự phát triển của lực lợng sản xuất và sự phân hóa giàu nghèo,
đã xuất hiện nhiều nhà nớc nhỏ lấy một thành thị làm trung tâm gọi là nhữngthành bang Đại thể là cách đây 6000 năm về trớc, trên vùng đồng bằng Xume
đã mọc lên nhiều thành thị, mà quan trọng nhất là các thành thị Êriđu, Lagas,
Ua, Umma, Urúc…
Những thành bang của Xume đều tạo nên do mấy công xã của nông thônvây quanh thành thị ở trung tâm Nói chung, đất không rộng quá 100 dặm, ngờikhông đông hơn vài chục nghìn Tại trung tâm của thành thị đợc xây dựng mộtngôi đền thờ thần Ngời thủ lĩnh của thành bang thờng là trởng quan về hànhchính và ngời chủ tế tối cao Mỗi khi có chiến tranh nổ ra họ sẽ đảm nhiệm vaitrò là một thống soái quân sự Cơ cấu quản lí quốc gia vẫn còn sót lại nhiều chế
độ quân sự dân chủ, tức vẫn còn giữ những cơ cấu quân chủ nh Hội đồng bô lão,Hội đồng dân chúng Chính thể của các thành bang không hoàn toàn giống
Trang 19nhau, nh ở Lagas, Hội đồng bô lão nắm toàn quyền, ngợc lại ở Urúc, Hội đồngdân chúng có tác dụng tơng đối lớn.
Về kinh tế: Do điều kiện tự nhiên quy định nên việc trị thủy ở đây rất đợcchú trọng, mỗi quốc gia Xume đều có những viên quan đặc trách công tác thủylợi, ngời Xume gọi bằng cái tên Nubanđa
Trong hoạt động thủ công nghiệp, do ở lu vực này hiếm kim loại và tuyệt
đại bộ phận kim loại phải mua về nhng ngời Xume cũng đã tạo ra những thànhtựu quan trọng trong lĩnh vực thủ công nghiệp nh dệt, làm đồ gốm rất tinh xảo
Về công cụ sản xuất ngoài gỗ ra thì từ thiên niên kỷ III TCN, ngời Xume đã sửdụng đồng thau để chế tạo công cụ sản xuất, vũ khí, đồ dùng và đồ trang sức.Nhờ vào vị trí giao thông thuận tiện cộng với sản phẩm nông nghiệp và thủcông nghiệp tơng đối phong phú, nên việc buôn bán giữa các thành thị của L-ỡng Hà với nhau và các vùng phụ cận tơng đối phát triển Tuy vậy, nó vẫn mangtính chất của nền kinh tế tự nhiên Sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ cho nhucầu tại chỗ của c dân Xume
Về chính trị – xã hội của Xume, với sự phát triển của lực lợng sản xuất đãdẫn tới chế độ t hữu ngày càng phát triển, xã hội phân hóa thành 2 giai cấp cơbản: giai cấp thống trị và giai cấp bị trị
Giai cấp thống trị bao gồm quý tộc và tầng lớp tăng lữ, nắm quyền sở hữuruộng đất Đứng đầu mỗi quốc gia là một ông vua gọi là Patêsi, về danh nghĩatoàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Patêsi, nhng thực tế thì bị phân bổthành nhiều bộ phận: ruộng đất của Patêsi, hoàng tộc, quý tộc, quan lại và các
đền miếu, số ruộng đất này chiếm diện tích khá lớn
Đền miếu chiếm nhiều ruộng đất, lấy thành bang Lagas làm thí dụ Nơi
đây có tất cả 2000 km ruộng đất đợc thiên nhiên tới tiêu, thì trong số đó các đềnthờ thần chiếm hết 500 km, thậm chí lên tới 1000 km có khi còn hơn thế.Những ruộng đất do các đền thờ thần chiếm hữu gồm có 3 loại: Một, đất côngcủa đền thờ thần, tức đất do ngời trong đền thờ thần cùng canh tác để thu hoalợi cho đền Hai, đất của đền thờ thần chia cho ngời phục dịch tại đền Ba, đất
Trang 20của đền cho thuê, tức phần đất của đền phân phối cho những ngời bần nông thuê
để canh tác, nộp tô cho đền (loại đất này chiếm chừng 1/3 đến 1/6 tổng số đấtcủa đền) Đất của đền không đợc mua bán, nhng vơng quyền của thành bangngày một mạnh, đã xâm chiếm số đất của đền để làm đất riêng cho vơng thất.Phần còn lại thuộc quyền cai quản của công xã nông thôn Ruộng công xã chianhỏ theo định kì và giao cho mỗi gia đình canh tác
Giai cấp bị trị gồm: nông dân công xã, nô lệ, tầng lớp thơng nhân và thợthủ công Nông dân công xã nhận ruộng phải nộp thuế cho nhà nớc đồng thờiphải làm nghĩa vụ khác nhau nh nghĩa vụ quân sự, lao dịch không công trênruộng đất của quý tộc, đền miếu, xây dựng các công trình công cộng, lăng tẩm,
đờng xá
Nông dân công xã là bộ phận c dân đông đảo, là chỗ dựa của nhà nớc cổ
đại ở Lỡng Hà Trên danh nghĩa họ là những ngời tự do nhng kì thực, họ bị lệthuộc, cai quản và chịu sự bóc lột của giai cấp quý tộc Đây là lực lợng sản xuấtchính nuôi sống xã hội, là đối tợng bị bóc lột chủ yếu của nhà nớc, những nôngdân công xã lại sống gắn bó chặt chẽ với công xã của mình, đời sống của họ bị
bó hẹp trong phạm vi công xã có tính chất đóng kín Với sự tồn tại của công xãnông thôn cùng với những quan hệ của những ngời nông dân công xã đã tạo nênnét đặc trng riêng trong tổ chức xã hội ngời Xume ở thiên niên kỷ IV, III TCN.Bởi vậy, ở Lỡng Hà tuy luôn luôn xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc,những cuộc biến động chính trị to lớn, song tất cả những cái đó cũng không làmcho diện mạo xã hội đó biến đổi một cách thực sự
Giai cấp thống trị đã tìm mọi cách không ngừng dùng quyền lực để baochiếm ruộng đất của nông dân công xã Nông dân bị tớc đoạt t liệu sản xuấtngày càng tăng dẫn đến sự phân hóa sâu sắc: một bộ phận giữ đợc t cách tự dotheo đúng nghĩa của nó (tự do thân thể và dợc tự do canh tác trên phần đất riêngcủa mình), một bộ phận đông đảo khác bị mất hết t liệu sản xuất, trở thànhnhững ngời lĩnh canh hoặc làm thuê cho quý tộc, đền miếu (thực chất thân phận
Trang 21của họ không khác nô lệ là mấy), một số ít khác bị bần cùng, bị biến thành nô
lệ của các gia đình chủ nô hoặc đền miếu
Về văn hóa, tín ngỡng: Trong các quốc gia nhỏ ở vùng Xume, tín ngỡngtôn giáo mỗi nơi một khác, nhng tất cả đều theo tín ngỡng đa thần giáo NgờiXume giải thích nguồn gốc của vạn vật trong vũ trụ bằng những câu chuyệnthần thoại
Khoảng 3500 TCN, ngời Xume cũng đã phát minh ra chữ viết của mình, làmột trong thứ chữ sớm nhất của loài ngời Họ cũng làm ra lịch pháp theonguyên tắc âm lịch: một năm 12 tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày Đếnngày nay, ngời Hồi giáo và ngời Do Thái ở Tây á vẫn sử dụng lịch pháp này.Toán pháp cùng với kiến trúc cũng có những bớc tiến đáng kể, thể hiện trình độ
và tài năng của con ngời thời kì này
1.2.2 Nhà nớc của ngời Accát (2334 - 2154 TCN)
Sự thống nhất Xume do Lugandăcgidi ở thế kỷ XXIV TCN thực hiện chỉ làbớc mở đầu của công cuộc thống nhất toàn Lỡng Hà
Khoảng thiên niên kỷ III TCN, ngời Xêmít đã di c từ miền ngoại Capcadơxuống phơng nam và ào ạt tràn vào Tây á, sống du mục trên một dải đất từ Xiri
đến sa mạc Arập Trong tất cả các giống ngời thuộc chủng tộc ngời Xêmít, thìngời Accát là giống ngời bớc vào lịch sử sớm nhất Họ đã xây dựng nên quốcgia của mình ở đây lấy thành thị Accát làm thủ phủ, Accát là một thành bangnằm giữa hai con sông Tigrơ và Ơphơrát gần nhau nhất Nhiều đờng giao thôngthủy bộ chạy qua vùng này, tạo cho Accát trở thành một trung tâm giao dịch,
đồng thời nó cũng tiếp nhận đợc nhiều ảnh hởng kinh tế và văn hóa từ nhiều nơi
Trang 22đều bị Sacgôn xâm chiếm và tơng truyền ông đã ‘‘rửa vũ khí ở biển’’ [19, 106].Sau đó ông tiến đánh Êlam chiếm vùng đông bắc Lỡng Hà Đến đây lần đầutiên trong lịch sử Lỡng Hà, Sacgôn đã thống nhất đợc vùng đất rộng lớn từ vịnh
Ba T cho tới thợng lu sông Tigrơ Sacgôn còn mở rộng ảnh hởng tới Xiri vàPalextin, Sacgôn tự nhận mình là ‘‘chúa tể của thiên hạ’’
Sacgôn đã tăng cờng bộ máy quốc gia xây dựng một đạo quân thờng trực
đầu tiên trong lịch sử lu vực Lỡng Hà Theo bản ghi chép trên bản đất sét do cácnhà khảo cổ tìm thấy, có ghi chép những chiến công hiển hách của Sacgôn chothấy: Mỗi ngày có 5400 binh sĩ ăn cơm trong cung điện của nhà vua Sacgôncòn thống nhất cân đong, đo đếm ở phía nam lu vực Lỡng Hà, là việc rất có lợicho sự mở rộng tới tiêu, cũng nh phát triển, trao đổi trong thơng nghiệp ở khuvực Ua, ngời ta còn phát hiện đợc những con dấu của nền văn minh sông ấn
Độ, chứng tỏ việc mậu dịch đối ngoại thời bấy giờ đã phát triển xa đến lu vựcsông ấn Độ
Trong khoảng thời gian mà Sacgôn trị vì đã rất quan tâm và củng cố thêmnhiều công trình tới tiêu, tiến hành việc sửa chữa, đào đắp kênh mơng, sông đàonối liền hai sông Tigrơ và Ơphơrát đợc hoàn thành, hệ thống đo lờng đợc thốngnhất áp dụng cho toàn bộ khu vực Lỡng Hà, là điều kiện thuận lợi cho việc giao
lu buôn bán phát triển ngành thơng nghiệp ở vùng này
Về chính trị: Giai đoạn cờng thịnh nhất của Accát là những năm cầmquyền của vua Naramxin (2270 - 2251 TCN) Sau khi đàn áp những cuộc chống
đối của các thành bang đứng đầu là Kisơ, Naramxin đã tiến hành nhiều cuộcxâm chiếm Trong một năm, Naramxin đã chiến thắng 9 đội quân và bắt sống 3quốc vơng, Naramxin đã hoàn thành công cuộc chinh phục những miền đất củangời Êlam, ngời Lumlubây Naramxin còn đa quân đánh cớp cả vùng Acmêni,Xiri và tràn tới bờ Địa Trung Hải Có một số tài liệu cho phép chúng ta chứngminh rằng, rất có thể Naramxin đã đánh tới tận biên giới Ai Cập Một vùng
Trang 23rộng lớn nằm dới sự thống trị của Accát Naramxin tự xng là ‘‘vua 4 hớng củathế giới’’ và tự thần thánh hóa mình
Về xã hội: Tới giai đoạn Accát thống trị lịch sử Lỡng Hà không chỉ đạt
đ-ợc những thành tựu về kinh tế, mà về xã hội cũng có nhiều chuyển biến mới.Công xã nông thôn vốn là tế bào của xã hội là tàn d của xã hội nguyên thủy vẫntồn tại nhng sự rạn nứt đã bộc lộ khá rõ nét Đất công của công xã bị quan lạicắt xén lấn chiếm đem bán Những tài liệu ghi trên tấm bia của vua Manistusu
đã cho chúng ta biết rằng nhà vua đã mua những lô đất lớn của thành thị Kisơ
và ba vùng phụ cận, có những lô đất rộng tới 2000 ha, vừa để lập những trangtrại riêng vừa là để làm vật tặng cho các quan chức, tớng lĩnh có công Quan lại
và con cháu của các Patêsi của các thành bang trở thành giàu sang có nhiềuruộng đất, và chính lớp ngời này đã giúp việc đắc lực cho chính quyền trung -
ơng Manistusu rất u đãi tăng lữ Xume, tăng cờng thế lực chính trị và kinh tếcho chúng Manistusu đã mang hiến cho thần những thỏi bạc, vàng, bạc nặng
30 talăng và hậu đãi giới tăng lữ Êlam với mục đích dùng họ để thống trị c dân
Êlam
Nh vậy chế độ t hữu tài sản đã lấn vào chế độ sở hữu công cộng của côngxã ở nhiều công xã, nhất là những công xã ở gần trung tâm kinh tế phát triển,quá trình rạn vỡ ấy diễn ra rõ nét hơn
Cùng với quá trình phân hóa tài sản, trong công xã số ngời phá sản trở nên
đông hơn Nhiều nông dân công xã vốn sống chủ yếu dựa vào số ruộng đất đợccông xã chia cho hàng năm trở thành lĩnh canh ruộng đất của quý tộc, hoặc làmthuê theo những giao kèo cam kết cho các trang trại của quý tộc, đền chùa, thânphận của họ không khác gì nô lệ, nhờ vậy quan hệ nô lệ phát triển hơn
Với ách bóc lột nặng nề của giai cấp thống trị đã gây ra sự chống đốiquyết liệt của quần chúng lao động Trong những năm cầm quyền cuối cùngcủa Sacgôn, đã bùng lên hai cuộc khởi nghĩa của những ngời nghèo khổ trongphạm vi cả nớc Rumesơ đã đàn áp một cuộc khởi nghĩa của dân nghèo, hàngngàn ngời bị bắt Hầu nh khắp nơi đều chống lại chính quyền trung ơng, đến nỗi
Trang 24Rumesơ phải thốt lên rằng: "Những địa phơngg mà cha ta - Sacgôn - đã để lạicho ta, đều chống ta Không có một địa phơng nào trung thành với ta cả” [13,70] Tất cả những cuộc đấu tranh đó đều bị các vua Accát dùng vũ lực đàn áp
“đốt thành ra tro, một tổ chim cũng không còn”
Năm 2228 TCN, bộ tộc Guti sống tại miền rừng núi Gutium ở phía đôngsông Tigrơ, đã xâm nhập lu vực Lỡng Hà, đốt phá tàn sát vô kể Đế quốc củangời Accát đã bị lật đổ, ngời Guti liền đặt ách thống trị lên toàn bộ lu vực L-ỡng Hà, thay cho ngời Accát Ngời Guti thống trị Lỡng Hà khoảng chừng 60– 70 năm làm lịch sử Lỡng Hà dờng nh bị chững lại nền kinh tế bị phá hoại,
hệ thống thủy nông không đợc quan tâm, kinh tế bị kiệt quệ và đời sống c dânhết sức điêu đứng ‘‘Những ngời con gái của nó (các thành bang), than khóc vìngời Guti’’ Thời gian đó, đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh của ngời Accát vàXume, cuối cùng ngời Guti ‘con rồng núi’ bị đánh đuổi Cho đến năm 2132TCN quyền thống trị ở Lỡng Hà chuyển sang vơng triều III Ua
1.2.3 Vơng triều III Ua (2132 – 2024 TCN)
Sau khi đã đánh đổ ách thống trị của ngời ngoại tộc - ngời Guti, quyền lựccủa ngời Xume đợc phục hng Thành bang Ua ở vùng Xume phát triển lên thànhmột đế quốc tồn tại trên 100 năm (2118 – 2007 TCN) đã thống nhất lại Xume
và Accát tạo điều kiện cho kinh tế tiếp tục phát triển
Ngời sáng lập vơng triều III Ua là Uanammu và con trai là Sulighi trởthành ‘‘vua Xume và Accát’’ Cả hai đều thực hiện chiến tranh xâm lợc mởrộng chiếm đóng ra các vùng xunng quanh Uanammu đã tự xng là ‘‘Đấng tr-ợng phu hùng mạnh, vua của Ua, vua của Xume và Accát’’ và khoe rằng đã ‘‘đabàn chân mình tới biển dới đến biển trên’’ (tức là từ vịnh Pecxich đến bờ ĐịaTrung Hải) Các vua của vơng triều III Ua cũng cố gắng xây dựng nhà nớc củamình theo thể chế quân chủ chuyên chế trung ơng tập quyền nắm cả vơngquyền và thần quyền Quyền lực của Ua là cao nhất Nhà vua bổ nhiệm quanlại, chỉ huy quân đội, khống chế tòa án, tập trung các quyền về quân sự, hànhchính và t pháp vào tay mình Trên thực tế quyền lực của Patêsi đã bị thủ tiêu
Trang 25Patêsi trở thành một viên quan, chịu sự bổ nhiệm của nhà vua, phải nộp cốngcho vua Vua đợc coi nh thừa hành sứ mệnh của thần và nhiều khi tự xng làthần Ngoài ra, giá cả của những loại hàng hóa quan trọng nh lơng thực, dầu
mỡ, lông cừu, muối ăn và đồng đều do quốc gia quy định Điều đó cũng nói lên
sự củng cố mạnh hơn chế độ trung ơng tập quyền Nhng nền thống trị của vơngtriều III Ua cũng trở nên suy yếu vào những năm cuối cùng của thiên niên kỷ IIITCN Những mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt Đặc biệt là những cuộctấn công của các bộ lạc ngời Amôrit từ phía tây tới làm cho thế lực của vơngtriều III Ua suy yếu nhanh chóng Cuối cùng quân đội Êlam và Mari tấn côngtiêu diệt vơnng triều III Ua vào năm 2024 TCN
Về kinh tế: Sau khi ngời Guti bị đánh đuổi đất nớc thống nhất, kinh tế ỡng Hà lại phát triển mạnh Đặc biệt vấn đề thủy lợi luôn là mối quan tâm hàng
L-đầu của quốc gia Những kênh đào cũ đợc sửa chữa và đào những kênh mới.Những cánh đồng cũng đợc tới nớc, do đó mà diện tích canh tác không ngừng
đợc mở rộng Gần Nippua có một nhà kho lớn chứa ngũ cốc, rau, quả là sảnphẩm nông dân đi nộp cho đền miếu Miền Nam có u thế về trồng cây chà là, làloại cây cho giá trị rất lớn, khắp miền này bạt ngàn cánh đồng trồng cây chà là.Còn miền Bắc lại có cây đặc sản đó là trồng nho Vào thời điểm này, nghề chănnuôi đã có bớc phát tiển hơn trớc rất nhiều, cung cấp nhiều da thú, lông thú choxởng thủ công
Nghề thủ công có bớc phát triển đáng kể Có rất nhiều văn bản còn lại đếnngày nay nói về kho tàng chứa da, lông thú, đồng và gỗ Hoạt động thơngnghiệp ngày càng đợc mở rộng cả nội và ngoại thơng đều rất đợc chú trọng,phát triển hơn trớc, những thỏi bạc đợc sử dụng trong buôn bán Nhng sự pháttriển này vẫn nằm trong khuôn khổ của một nền kinh tế tự nhiên, hàng hóa vẫnchủ yếu là phục vụ cho nhu cầu tại chỗ, sự trao đổi buôn bán với bên ngoài códiễn ra nhng vẫn còn rất hạn chế
Công xã nông thôn còn tồn tại nh loại hình cơ bản của xã hội Xume nhng
sự rạn nứt có từ thời cuối Accát vẫn tiếp diễn Ruộng đất thuộc quyền sở hữu
Trang 26của công xã bị thu hẹp Việc mua bán ruộng đất trở thành phổ biến Nhiềuthành viên công xã bị mất ruộng đất trở thành những ngời làm công cho trangtrại của nhà vua và đền miếu Một tài liệu của Lagas đã nói tới ruộng đất t hữucủa nhiều loại ngời, một tăng lữ tối cao có 36 ha, kẻ giúp việc của ông ta có 18
ha, ngời quản lí tronng trang trại của ông ta có 15 ha, còn những chủ đất nhỏchỉ có từ 1/5 đến 1/6 ha mà thôi
Nhà nớc đặc biệt chú ý phát triển những trang trại riêng của mình, lấn át cảnhững trang trại của tăng lữ Nhà vua còn nắm cả một số ngành thơng mại.Tamca chính là ngời buôn bán cho nhà vua và quý tộc
Về xã hội: Nông dân công xã vẫn là lực lợng sản xuất chính của xã hội
nh-ng tronh-ng thời kì thốnh-ng trị của vơnh-ng triều III Ua quan hệ nô lệ vẫn khônh-ng nh-ngừnh-ng
đợc tăng cờng Số nô lệ làm việc trong nông nghiệp ít hơn số nô lệ làm việctrong thủ công nghiệp Một cứ liệu lịch sử thời bấy giờ cho chúng ta biết rằng,trong một trang trại rộng chừng 200 ha mà chỉ có 24 nô lệ làm việc Giữa cácchủ nô với nhau họ còn cho thuê nô lệ (thể hiện trong điều 3 của luật Xume),hiện tợng buôn bán nô lệ trở nên phổ biến Điều 40 của bộ luật Esmuna (mộtquốc gia ở phía đông bắc Babilon đã nói đến việc mua bán nô lệ nh mua báncác loại súc vật và đồ vật khác: “Nếu nh một ngời mua nam nô lệ, nữ nô lệ, bòhay bất cứ một đồ vật gì mà không có thể xác định đợc ngời bán là ai, thì chínhngời ấy là kẻ ăn trộm” Đời sống của nô lệ vô cùng cực khổ, họ làm việc nặngnhọc, ăn uống thiếu thốn và phải chịu nhiều hình phạt Điều 51 của bộ luậtEsmuna đã quy định: “Nô lệ và nữ nô lệ của Esmuna trên ngời chúng có gôngxiềng và dấu ở mặt, không đợc đi ra cổng thành Esmuna nếu không có chủ đitheo” Đời sống khổ cực đã tiêu hao rất nhanh sức lực của nô lệ Một trang trạicủa nhà vua có 170 nữ nô lệ mà trong một năm chết mất hơn 50 ngời Mộtnhóm nô lệ khác có 44 ngời chỉ trong 5 tháng đã chết mất 14 ngời Vì vậy nô lệthờng đấu tranh bằng cách bỏ trốn
Sự thống trị của vơng triều III Ua trong khoảng thời gian từ 2132 – 2024TCN) đã phục hng lại uy quyền của ngời Xume ở Lỡng Hà, đa Lỡng Hà phát
Trang 27triển thêm một bớc Nhng sau hơn một trăm năm thống trị, trong xã hội của
v-ơng triều III Ua vốn chứa chất nhiều mâu thuẫn đã dần bộc lộ ra Những cuộc
đấu tranh của quần chúng lao khổ và những đợt tấn công liên tục của ngời Êlam
và Amôrit đã làm Ua suy yếu Năm 2024 TCN, vơng triều III Ua bị lật đổ, lịch
sử Lỡng Hà bớc sang trang sử mới
1.2.4 Nhà nớc cổ Babilon (1894 - 1595 TCN)
Sau khi vơng triều III Ua bị lật đổ, ngời Êlam cớp bóc Lỡng Hà rồi kéo vềnớc, những ngời Amôrit thì định c ở vùng đất màu mỡ này và dần dần hòa hợpvới dân địa phơng cùng xây dựng ở đây nhiều thành thị nổi bật nh Ixin và Laxa(ở Nam Lỡng Hà, Esmuna và Mêri (ở Bắc lu vực sông Tigrơ và Ơphơrát) Tầnglớp quý tộc trong các quốc gia ấy đều muốn thực hiện quyền bá chủ trên toàn L-ỡng Hà Chính các vua của Ixin hay Laxa đều xng là “vua của Xume và Accát”.Nhng cuộc đấu tranh của các quốc gia giàu tham vọng ấy chỉ làm cho tiềm lựccủa các quốc gia đó suy yếu đi mà thôi, cuối cùng vơng quốc Babilon của ngờiAmôrit đã thống nhất toàn Lỡng Hà
Babilon một thành phố quan trọng nằm ở vùng bắc Lỡng Hà có sức thu hútvới các vùng khác nhờ vào vị trí địa lí thuận lợi của mình Nằm trên bờ sông
Ơphơrát, Babilon trở thành nơi gặp gỡ của nhiều đờng giao thông thủy bộ củavùng Tiền á Tên gọi của nó nguyên là Babili, có nghĩa là cổng của thần TênBabilon là do ngời Hi Lạp gọi Từ đầu thế kỷ XIX TCN, ngời Amôrit xâm nhậpLỡng Hà, lập ra vơng quốc mà thủ đô là Babilon
Ngời có công xây dựng vơng triều Babilon thành quốc gia hùng mạnh,thống nhất cả khu vực Lỡng Hà là vua Hammurabi (1792 – 1750 TCN) Vớinhững biện pháp khôn khéo, kiên quyết kết hợp vũ lực và ngoại giaoHammurabi đã thống nhất toàn bộ Lỡng Hà
Thời kì tồn tại của vơng quốc Babilon (1894 – 1595 TCN), là thời kì huyhoàng nhất của lịch sử Lỡng Hà Thủ đô Babilon trở thành trung tâm kinh tế,chính trị và văn hóa lớn của phơng Đông cổ đại trong nhiều thế kỷ tiếp theo
Trang 28Về tình hình kinh tế xã hội của vơng quốc Babilon cổ, chúng ta có thể tìmhiểu đợc thông qua bộ luật Hammurabi và một số văn kiện khác (nh th tín giữacác quan lại địa phơng và Hammurabi).
Thời đại của Hammurabi, sức sản xuất của khu vực phía nam lu vực Lỡng
Hà đã có bớc phát triển rõ rệt Thời kì này nông nghiệp vẫn giữ vai trò quantrọng nhất trong toàn bộ nền kinh tế Lỡng Hà Có một văn hiến thời bấy giờ,trong đó có câu: “Chả lẽ anh không biết ruộng đất là sinh mệnh của quốc giahay sao?” [24, 123] Hệ thống thủy nông đợc chú trọng, lên ngôi đợc 9 năm,Hammurabi cho đào một con sông lớn mang tên “Hammurabi – sự giàu có”,guồng nớc đã đợc cải tiến để có thể đa nớc lên các cánh đồng cao Hammurabirất tự hào về những công trình thủy lợi của mình không kém gì những chiếncông Trong lời mở đầu bộ luật của mình, Hammurabi đã tự tán dơng là: “Đấnganh quân đã cho Urúc cuộc sống, đã mang lại cho c dân của nó nguồn nớc dồidào” Dới thời Hammurabi công tác thủy lợi đợc triển khai rộng và không chỉ làmột công việc quan trọng của nhà nớc mà đã trở thành “việc của dân”
Điều 53 luật Hammurabi đã quy định rõ: “Nếu dân tự do lời biếng khôngchịu củng cố đê đập bên ruộng của mình, do đó đê đập bị vỡ, nớc ngập ruộng
đất, cày cấy (của công xã), thì ngời dân tự do có đê đập bị vỡ đó phải bồi thờng
số hoa màu đó đã bị thiệt hại” [13, 250] Nhờ có hệ thống tới nớc tốt, các nghềtrồng trọt của Lỡng Hà phát triển mạnh
Vào thời điểm này, kĩ thuật canh tác đợc cải tiến nhiều Đồ đồng xanh đã
đợc sử dụng một cách rộng rãi Ngời ta đã dùng loại cày có lắp phễu đựng hạt
để gieo Sản phẩm nông nghiệp không những đủ cung cấp cho c dân trong nớc,
mà còn dùng để trao đổi với các vùng lân cận, nhất là các bộ lạc chăn nuôin ởvùng đồng cỏ Xiri Nghề chăn nuôi cũng rất phát triển, nhất là ở vùng nam L-ỡng Hà
Việc sản xuất thủ công cũng đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể, cung cấpcho sản xuất và đời sống Bộ luật Hammurabi đã nói tới nhiều ngành nghề thủ
Trang 29công nh nghề làm gạch, nghề dệt, nghề rèn, đặc biệt là nghề xây dựng nhà cửa
và chế tạo thuyền bè
Thơng nghiệp ở Lỡng Hà thời Babilon tiến bộ rất nhiều Sông và kênh đào
là những đờng giao thông rất thuận tiện để trở hàng đi khắp đất nớc Ngoại
th-ơng có cơ hội phát triển mạnh vì Lỡng Hà nằm trên đờng giao thông quốc tế vàvì nhu cầu trao đổi sản phẩm lúc bấy giờ Lỡng Hà trở thành trung tâm trao đổihàng hóa của vùng Tiền á Lái buôn vận chuyển hàng hóa bằng đờng bộ và đ-ờng thủy
Do yêu cầu của thơng mại, tiền tệ đã đợc sử dụng khá phổ biến Cho vaynặng lãi trở thành một ngành kinh doanh của giới quý tộc có thu nhập cao Vậtcho vay, có thể là tiền (bạc) có thể là ngũ cốc với lãi xuất khá cao, thờng là từ20% đến 30%
Về ruộng đất cũng nh các thế kỷ trớc, các công xã nông thôn vẫn còn giữ
đợc quyền chiếm hữu ruộng đất Về danh nghĩa quyền sở hữu ruộng đất tối caothuộc về nhà vua Song vào thời điểm chế độ t hữu ruộng đất phát triển mạnh vàruộng t đã chiếm tỉ lệ quan trọng Ruộng đất do đền miếu chiếm giữ cũng khánhiều Diện tích ruộng đất t không lớn lắm, diện tích không quá 8,5 ha, nhữngtrang trại lớn nhất thời bấy giờ cũng chỉ có 31 ha, hiện tợng phát canh thu tô trởnên phổ biến Khi thuê ruộng, chủ ruộng và ngời thuê ruộng phải kí giao kèo.Cách phát canh thu tô và quyền lợi nghĩa vụ của chủ ruộng và ngời lĩnh canh đã
đợc quy định rõ ràng từ điều 42 đến điều 47 của bộ luật Hammurabi Mức tôquy định từ 1/3 đến 1/2 thu hoạch Điều 45 của bộ luật Hammurabi viết: “Nếungời tự do cho nông dân thuê ruộng của mình để thu tô và đã nhận đợc tô ruộngrồi mà sau đó thần Adát mới làm ngập ruộng nơng hay nớc lũ cuốn trôi (mùamàng) thì nông dân phải chịu số thiệt hại ấy” [13, 249]
Các chủ đất còn phát canh vờn tợc, ngời lĩnh canh chỉ đợc hởng 1/3 số hoalợi, còn phải nạp cho chủ 2/3 Nếu nh số thu hoạch bị giảm sút vì chăm bónkém, chủ vờn sẽ tính theo số thu hoạch của láng giềng để thu tô Đã xuất hiệnhình thức lĩnh canh tập thể và hình thức quá điền Ngời ta cũng phát hiện một số
Trang 30tài liệu nói về việc mua bán ruộng đất Nh vậy cùng với sự phát triển của chế độ
t hữu tài sản, ruộng đất t đã trở thành một nhân tố quan trọng trong đời sốngkinh tế của Babilon cổ
Nhà nớc không những dùng ruộng đất để ban cấp cho quan lại, tăng lữ vàlập ra những trang trại riêng của mình, mà họ cũng phát canh thu tô nh nhữngchủ đất khác Binh lính đợc nhà vua ban cấp ruộng đất, nhng họ không đợc phéptruyền cho con cháu hay mang gán nợ Họ cũng không đợc bán bò, cừu của nhàvua ban cho Bọn tăng lữ, bọn lái buôn của nhà vua đợc ban cấp ruộng đất, vờntợc Sự phát triển của chế độ t hữu ruộng đất trực tiếp của nhà vua đã thu hẹpphạm vi chiếm hữu ruộng đất của công xã nông thôn Nhng dù sao, số ruộng đấtcủa công xã nông thôn và chiếm tỉ lệ cao nhất so với ruộng của nhà vua hay của
t nhân Bọn quý tộc trong công xã đã dùng quyền thế để sử dụng và chiếm đoạtruộng đất của công xã
Quan hệ nô lệ thời cổ babilon rất phát triển, số lợng không ngừng tăng lên,
do đợc bổ sung từ tù binh chiến tranh và do số dân nghèo phải bán mình làm nô
lệ Nô lệ đợc xem nh một thứ tài sản, hàng hóa đem trao đổi mua bán ở thị ờng Thể hiện rõ trong điều 7 bộ luật Hammurabi: “Nếu dân tự do mua của conhoặc nô lệ của dân tự do hoặc dữ dúp họ cho họ bạc hoặc vàng hoặc nô lệ, hoặcnữ nô lệ, hoặc bò, hoặc cừu, hoặc lừa, hoặc bất cứ vật gì, mà không có ngời làmchứng, hoặc giấp chứng nhận thì tức là ăn trộm sẽ bị xử tử” [13, 248]
tr-Quan hệ nô lệ dới thời Hammrabi có sự phát triển hơn nhng nó vẫn chathoát khỏi khuôn khổ của chế độ nô lệ gia trởng Lực lợng sản xuất chính đóngvai trò nhất trong xã hội vẫn là nông dân công xã Hầu nh chủ nô chỉ có từ 5
đến 7 nô lệ Nô lệ vẫn ccó quyền có gia đình riêng, chủ nô có thể lấy nô lệ
Điều 117 quy định rằng: “Nếu dân tự do vì mắc nợ phải bán vợ, con trai hoặccon gái, hoặc làm nô lệ vì nợ thì họ phải phục dịch ở nhà ngời mua hoặc ngờichủ nợ 3 năm, đến năm thứ t họ đợc trả lại tự do” [13, 252]
Về tổ chức bộ máy chính quyền nhà nớc dới thời cổ Babilon đợc tổ chứchoàn thiện và chặt chẽ hơn Hammurabi đã tổ chức bộ máy chính quyền nhà n-
Trang 31ớc từ trung ơng tới địa phơng theo nguyên tắc tập trung chuyên chế, chia Lỡng
Hà thành hai khu vực hành chính Nhà vua trực tiếp bổ nhiệm những viên tổng
đốc đẻ cai trị những vùng ấy Trong các thành phố tuy vẫn còn tồn tại hội đồngtrởng lão nhng hoạt động của nó bị đặt dới quyền kiểm soát của tổng đốc
Hammurabi đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức quân đội và thực sự những
đội quân hùng mạnh đã giúp Hammuraibi chinh phục những vùng đất của cácquốc gia khác để thống nhất Lỡng Hà Quân đội thời Hammurabi là một đạoquân mạnh mẽ thật sự là cây trụ vững chắc để chống đỡ chính quyền Đối vớivấn đề quân sự, Hammurabi đã cho áp dụng một số biện pháp hữu hiệu Lúcbấy giờ binh sĩ đợc gọi là Rêdum, Bairum Họ đợc nhà nớc phân chia cho một
số đất đai (bao gồm ruộng đất trồng trọt, nhà ở và gia súc) Nếu Rêdum vàBairum bị bắt làm tù binh hoặc chết mà có con trai vào quân ngũ để thay thếngời đó, thì phần đất đã chia cho gia đình vẫn tiếp tục đợc giữ để canh tác, thulợi nhng không đợc mua bán Nếu ngời bị bắt làm tù binh mà con còn nhỏ, thì
đợc để lại 1/3 số đất đã cấp, giúp cho vợ con họ tiếp tục sống (điều 29) Nếu
ng-ời bị bắt làm tù binh trốn trở về, có thể xin lãnh lại phần đất trớc kia (điều 27).Chính phủ còn quy định sĩ quan không đợc quyền xâm phạm đến tài sản củabinh sĩ, ai vi phạm sẽ bị tử hình Tất cả ngời dân khác nếu mua ruộng đất, nhàcửa, gia súc Rõ ràng những quy định đối với quân đội là rất nghiêm ngặt,Hammurabi đã dùng từ điều 26 đến điều 41 để quy định trách nhiệm, nghĩa vụ
và quyền lợi của binh sĩ Việc Hammurabi thực hiện chia đất cho binh sĩ vànhững chế độ có liên quan đến ngời đi làm nghĩa vụ quân sự, tổ chức theo quychế thờng trực đã giúp nhà vua có đợc một đạo quân hùng mạnh vững chắc, lúcnào cũng trong t thế sẵn sàng đi chinh phạt khắp mọi nơi
Mọi quyền lực tối cao của nhà nớc tập trung vào tay nhà vua Mọi hoạt
động của vua đều đợc thần thánh hóa Chính vua Hammuraibi đã tự nói vềmình: “Ta, Hammurabi, một mục s đợc thần Enlin lựa chọn kẻ nối dõi của các
vị đế vơng do thần Xin tạo ra Macđúc, kêu gọi ta lên cai trị nhân dân và mang
đến cho đất nớc cuộc đời hạnh phúc” [23, 196 – 219]
Trang 32Chính những chính sách cai trị cùng với đội quân thờng trực vững mạnhHammurabi đã thống nhất toàn Lỡng Hà, tiếp đó ổn định tình hình phát triểnkinh tế, đa Babilon trở thành, “Thời kì hoàng kim” của lịch sử Lỡng Hà, thựchiện ba chức năng của nhà nớc chuyên chế phơng Đông: cớp bóc nhân dântrong nớc và ngoài nớc; tổ chức xây dựng và quản lí các công trình công cộng,nhất là công trình thủy lợi Hammurabi đã ra lệnh đào nhiều kênh lớn: “Theothánh dụ của Hammurabi, ngơi phải chiêu mộ những ngời có ruộng đất ở vensông đào Đummanum, để vét sông Đummanum Trong tháng này, họ phải nạovét xong” Đó là lệnh của Hammurabi do viên th lại gửi cho bọn quan lại.
Dới thời trị vì của vua Hammurabi lần đầu tiên ở Lỡng Hà đã chế định một
bộ luật thành văn hoàn chỉnh và áp dụng thống nhất cho toàn khu vực Lỡng Hà
Bộ luật này đợc khắc trên tấm đá ba gian, cao hai mét Phần trên của bộ luật cóhình Hammurabi đứng trớc thần mặt trời Samat (vị thần bảo vệ tòa án), vị thầnnày ngồi trên ngai, đội mũ, phía trên đầu có một vầng thái dơng thể hiện dấuhiệu của thần Phần nửa phía dới khắc toàn văn bộ luật Hammurabi bằng chữhình niệm Bộ luật Hammurabi là sự kế thừa và phát triển những bộ luật trớc đócủa các quốc gia Lỡng Hà Đó là một công cụ pháp lí rất quan trọng để bảo vệquyền lợi của giai cấp thống trị Năm 1901, một đội khảo cổ ngời Pháp đã pháthiện ra và hiện nó đợc trng bày tại bảo tàng Livơrơ ở Pari
Bộ luật Hammurabi có tất cả 282 điều đợc soạn thảo từ thế kỷ XIII TCN
Bộ luật này đợc chia thành ba phần: tựa, chính văn và kết luận Phần tựa và phầnkết luận, bộ luật đề cao việc nhà vua đợc trao sứ mệnh, cũng nh tôn chỉ của việclập pháp, khẳng định uy quyền của vua Nội dung của phần chính văn baogồm những quy định về hình sự, về quyền thừa kế tài sản, về gia đình, về nô lệ,
về lĩnh canh ruộng đất, về trách nhiệm của mọi ngời với việc bảo vệ các côngtrình thủy lợi Mục đích chính của bộ luật là bảo vệ tài sản t hữu của các chủnô quý tộc, tăng lữ, đại thơng gia và những ngời cho vay nặng lãi Bộ luật cũngmột phần điều chỉnh mối quan hệ giữa những ngời tự do, đồng thời tăng cờng sự
Trang 33bóc lột và thống trị đối với đông đảo nô lệ Đây là bộ luật thành văn lớn nhấtcủa phơng Đông cổ đại còn giữ lại cho đến ngày nay.
Bộ luật Hammurabi là t liệu rất quý để chúng ta nghiên cứu tình hình kinh
tế, xã hội của Babilon cổ Qua bộ luật, cho ta thấy rõ tính chất giai cấp của nhànớc cổ Babilon Nó đợc xây dựng trên cơ sở duy trì và phát triển bộ máy bạo lực
đàn áp nô lệ và thành viên công xã Là một văn bản phản ánh rõ nét bản chấtgiai cấp, quan hệ bạo lực giai cấp Là một t liệu quan trọng để xem xét tính chấtxã hội của Lỡng Hà cổ đại
Năm 1755 Hammurabi mất, vơng quốc cổ Babilon rơi vào khủng hoảng,
sự suy yếu đã đợc thể hiện rất rõ Lợi dụng cơ hội ấy, nhiều bộ lạc ở xungquanh ào ạt tràn vào Lỡng Hà: ngời Xêmít vùng duyên hải Xume, ngời Êlam từphía đông, ngời Hittít từ phía bắc và ngời Catxít từ phía đông bắc Hơn nữa,Xamxtluna (con vua Hammurabi) còn phải đánh nhau với một liên minh
“những nớc vùng biển” bao gồm Êlam, Esmuna, Ixin, Urúc và một số thành phốkhác ở Xume Năm 1518 TCN ngời Catxít chiếm đợc Babilon và thống trị ở đâymãi cho tới năm 1165 TCN, sau đó lại bị đế quốc Atxiri thôn tính
Sự thống trị của các tộc ngời đó trong nhiều thế kỷ đã khiến Babilon mấthết vai trò chính trị quan trọng của mình, mãi cho tới thế kỷ VII TCN, khi vơngquốc Tân Babilon đợc thiết lập, địa vị chính trị của Babilon mới đợc khôi phục
1.2.5 Vơng quốc Tân Babilon (626 – 538 TCN)
Vào thế kỷ XI TCN, một nhánh của tộc ngời Xêmit là ngời Canđê đã thiên
di đến Lỡng Hà sau ngời Accát và ngời Atxiri rồi dần dần tự phát triển lên.Trong thời gian ngời Catxít và ngời Atxiri thay nhau thống trị Luỡng Hà, ngờiCanđê đã định c ở miền nam Lỡng Hà chịu sự thống trị của ngời Atxiri nhngngời Canđê cha bị chinh phục hoàn toàn Vì thế khi đế quốc Atxiri yếu đi, họ đãvùng dậy
Năm 626 TCN, thừa cơ lúc Atxiri suy yếu, ngời Canđê liên minh với ngờiMêđi cớp phá thiêu hủy thành Ninivơ và cuối cùng lật đổ đế quốc Atxiri Saugần 300 năm thống trị, đế quốc của Atxiri đã bị diệt vong, lãnh thổ rộng lớn này
Trang 34đã bị ngời Canđê và ngời Mêđi chia cắt thống trị và trở thành hai đại cờng quốctại Tây á.
Ngời Mêđi chiếm lĩnh vùng đất phía bắc và vùng đất phía đông bắc củaAtxiri Còn ngời Canđê đã xây dựng vơng quốc của họ trên sự bại vong của đếquốc Atxiri, chiếm lĩnh vùng phía nam khu vực Lỡng Hà, Xiri, Palextin NgờiCanđê đã chọn Babilon làm kinh đô của vơng quốc nên lịch sử đã gọi vơngquốc do ngời Canđê lập ra trong lịch sử Lỡng Hà là Tân Babilon Và từ đây, cóthể nói rằng vơng quốc cổ Babilon hơn 1000 năm trớc đó đã đợc vực dậy Đờisống kinh tế xã hội phát triển hơn nhiều
Sau khi tiêu diệt xong đế quốc Atxiri không bao lâu, nhà vua sáng lập ra
v-ơng quốc Babilon mới là Nabôpôlaxa từ trần, Nabusôđônôxo lên kế vị (605 –
561 TCN), là một ông vua nổi tiếng nhất của vơng quốc Tân Babilon, dới sựthống trị của nhà vua đất nớc Tân Babilon phát triển rất cờng thịnh Trớc khi lênngôi ông đã kết hôn với công chúa xứ Mêđi, từ đó củng cố sự liên minh vớiMêđi càng chặt chẽ hơn Trong tình trạng vùng biên giới phía Đông đợc tạmthời yên ổn, Nabusôđônôxo chủ yếu lo việc bình định vùng biên giới phía Tây.Nhà vua đã thực hiện nhiều cuộc viễn chinh xâm lợc để mở rộng cơng vực củamình Nabusôđônôxo đem quân đi đánh chiếm Xiri, Palextin Trong vòng mờinăm đầu sau khi lên nối ngôi, vào hai năm thứ năm và thứ chín ông liên tiếp đaquân tiến công vào Xiri, Palextin Năm 597 và 586 TCN, đã hai lần công hãmGiêrudalem, diệt vơng quốc Do Thái, bắt tất cả quý tộc, tăng lữ, thơng nhân vàthợ thuyền Do Thái về quản thúc ở Babilon, đó là “cái nhà tù Babilon” mà lịch
sử Do Thái thờng nhắc đến với nỗi kinh hoàng, đau đớn Tiếp đóNabusôđônôxo lại phái binh tấn công và hoàn tất việc chinh phục Xiri và cácthành bang của Phênixi, đặt ách thống trị của Babilon ở vùng ven bờ Đông ĐiạTrung Hải Năm 567 TCN, Nabusôđônôxo lại chỉ huy quân đội xâm nhập AiCập, cớp bóc thẳng tay rồi kéo về nớc
Nabusôđônôxo sợ sự liên minh với Mêđi không đợc dài lâu nên đã cho xâydựng một dãy trờng thành chắn ngang đồng bằng Lỡng Hà nằm về phía bắc của
Trang 35Babilon để đề phòng Mêđi tập kích bất ngờ Về sau, nhà vua lại sử dụng nhiều lao
động của tù binh và ngời bản quốc xây dựng, mở rộng kinh thành Babilon Kinhthành đợc xây dựng rất kiên cố với ý đồ biến thành Babilon trở thành một đế đônguy nga đồ sộ Để làm vui lòng hoàng hậu gốc Mêđi của mình, nhà vua khôngtiếc xơng máu và mồ hôi của nhân dân cho xây dựng một khu “vờn treo” rực rỡ,cao 25m nằm bên trong hoàng cung, để cho hoàng hậu đỡ mong nhớ quê hơngnhiều rừng núi của mình Khu vờn treo này về sau đợc ngời Hi Lạp xem là mộttrong bảy kì quan của thế giới cổ đại
Về tình hình kinh tế của vơng quốc Babilon mới trong thời kì đầu dới sự trịvì của Nabusôđônôxo, sinh hoạt kinh tế của Lỡng Hà không những đợc phục h-
ng mà còn rất phồn thịnh Công tác thủy lợi vẫn là vấn đề đợc quan tâm, chútrọng nhất của chính quyền trung ơng Các công trình thủy lợi đợc tu sửa, xâydựng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển Cũng nh các triều đại trớc, thờiBabilon mới công xã nông thôn vẫn tồn tại và kinh tế trong công xã nông thônvẫn giữ vai trò trọng yếu đối với xã hội này Chế độ t hữu ruộng đất và lĩnh canhngày càng phát triển hơn, đã tạo nên những gia đình chủ nô giàu có nổi tiếng, đi
đôi với nó là số lợng nông dân nghèo khó tăng lên, họ bị mất ruộng đất phải đilĩnh canh hoặc bán thân làm nô lệ với thời hạn dài hơn truớc
Trong hoàn cảnh đồ sắt đợc sử dụng một cách phổ biến và trên cơ sở bóclột ngày càng nặng nề với nô lệ, cũng nh lao động nói chung, ngành thủ công vàthơng nghiệp của Babilon mới đã một thời xuất hiện cảnh phồn vinh rõ rệt Th-
ơng nhân mua và bán các sản phẩm thủ công nghiệp, ngũ cốc, ruộng đất, nô lệ.Thậm chí bỏ tiền để cai thầu cả hệ thống tới tiêu thu lợi nhuận Tại kinh thànhcác thơng nhân từ á Phi tụ hội về đông đến ngoài 100000 ngời Đặc biệt làthành Babilon, ngôi thành này chẳng những to lớn, xinh đẹp, mà còn là trungtâm mậu dịch và văn hóa của cả vùng Tây á
Thể chế chính trị dới thời vơng quốc Babilon mới cũng không khác trớc,mọi quyền hành đều nằm tập trung trong tay nhà vua theo thể chế quân chủchuyên chế trung ơng tập quyền Dới sự thống trị của Nabusôđônôxo, nhà vua
Trang 36đã dựa vào tập đoàn tăng lữ, các thơng nhân cho vay nặng lãi và quý tộc chủ nô
để cai trị đất nớc “Nhà vua xây dựng ở kinh thành Babilon một tòa tháp cao90m, có bốn cạnh đáy, mỗi cạnh rộng 91m Tòa tháp này có tất cả bảy tầng,mỗi tầng một màu khác nhau tiêu biểu cho “Thần Thất Tinh” [24, 139] Hàngnăm đến ngày nguyên đán, quốc vơng phải tuân theo tập quán, đến đền thờ thầnMacđúc để cử hành lễ đăng quang Nhà vua sẽ nhận từ tăng lữ tại đền thờ thầnMacđúc một “bảo khí” tợng trng cho vơng quyền Qua đó ta thấy rõ vơng quyền
và thần quyền kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên sức mạnh và quyền hạn tuyệt
đối của nhà vua
Tầng lớp tăng lữ này đợc hởng nhiều đặc quyền, thu nhập của họ khá lớn,ngoài khoản thu từ đền thờ thần, họ còn dựa vào nhiều thứ thu nhập từ hoạt
động buôn bán công thơng nghiệp Họ trực tiếp mở các tiệm buôn bán và nhữngcơ sở cho vay nặng lãi Tổ chức những thơng đội mậu dịch, buôn bán đất đai vàhoa lợi, thu mua kênh đào và ao hồ để bắt các nông hộ phải nộp thuế khi sửdụng nớc
Vào thời kì này chế độ nô lệ đại để cũng nh thời vơng quốc Babilon cổ.Chế độ nô lệ gia truởng vẫn thịnh hành, mặc dù số tù binh chiến tranh vẫnkhông ngừng tăng lên Nô lệ đợc sử dụng làm việc trong các cơ sở sản xuất của
t nhân cũng tăng lên Đặc biệt trong sản xuất thủ công nghiệp một phơng thứcbóc lột nô lệ mới xuất hiện Chủ nô cung cấp cho nô lệ t liệu sản xuất rồi chophép họ tự kinh doanh sản xuất, hàng năm nạp cho chủ nô một khoản tiền theogiao kèo từ trớc Chủ nô không phải trực tiếp nuôi nô lệ mà vẫn có thu nhập, ph-
ơng thức bóc lột này phần nào đó đã tạo ra sự tự do tơng đối cho ngời nô lệtrong lao động sản xuất Nô lệ cũng có quyền có gia đình, đợc giao dịch muabán với ngời tự do và cũng có khả năng đem tiền chuộc lại thân phận tự do củamình để đợc giải phóng
Nabusôđônôxo rất quan tâm đến việc xây dựng những công trình kiến trúc
Ông đã cho tiến hành tu sửa và xây dựng kinh thành Babilon nguy nga, tráng lệ,biến nơi đây thành trung tâm văn hóa và trung tâm công thơng nghiệp của Tây
Bộ châu á hồi đó Thành Babilon có chu vi dài hơn 13 km đợc bao xung quanh
Trang 37bởi ba lớp tờng thành cao vững chắc, kiên cố Thành có khoảng 10 vạn dân sinhsống; phía trong xây dựng những cung điện, phố xá huy hoàng, lộng lẫy trong đóphải kể đến “vờn hoa trên không” tơng truyền là nhà vua cho xây dựng để chiềulòng ý vơng hậu - công chúa xứ Mêđi Đứng trên đó có thể nhìn bao quát toàncảnh Babilon, ngời Hi Lạp xem “vờn hoa trên không” này là một trong bảy kìquan của thế giới cổ đại Về sau, khi mà vơng quốc Canđê đã bị diệt vong (giữathế kỷ V TCN), sử gia Hi Lạp Hêrôđốt đến thăm Babilon còn khen đó là thànhphố phồn vinh nhất thế giới.
Trong thời kì vơng quốc Babilon mới cai trị, sự phân hóa giàu nghèo ngàycàng sâu sắc hơn Tại thành thị những ngời sản xuất nhỏ bị sự tấn công của kinh
tế hàng hóa nô lệ đua nhau phá sản Số nông dân ở chung quanh thành thị đềuphải đi lính, làm phục dịch cho nhà vua, đời sống cực khổ Có không ít nhữngngời tự do vì thiếu nợ không trả nổi nên trở thành nô lệ Họ phải nô lệ đến mờinăm (Bộ luật Hammurabi chỉ quy định có ba năm)
Những dân tộc bị Nabusôđônôxo chinh phục đều tìm mọi cánh để phụcthù, họ mang lòng hận thù với chủ nô Babilon Do đó ở Xiri, Palextin, luôn xảy
ra những cuộc khởi nghĩa Ngời Do Thái họ luôn tin tởng rằng đức Chúa cứu thế
sẽ giải cứu họ để họ trở về tổ quốc Hơn nữa, trong nội bộ của giai cấp thống trịcủa Babilon đã diễn ra mâu thuẫn Sau khi vua Nabusôđônôxo chết, tình hìnhchính trị nớc này không còn ổn định nh trớc Tập đoàn tăng lữ tiến hành nhiềucuộc chính biến Chỉ trong vòng sáu năm mà họ đã lật đổ ba vị quốc vơng.Trong đó có hai ngời bị giết Trong vòng 24 năm đã thay đổi tới 4 triều đại.Năm 558 TCN vua Nabôxít lên nối ngôi (558 – 538 TCN), Tân Babilon đứngtrớc nguy cơ xâm lợc của đế quốc Ba T Sau khi Ba T chinh phục Mêđi, lại raquân chiếm Tiểu á, rồi tiến về thành Babilon Giới tăng lữ ở Babilon hi vọngsức mạnh vũ lực của ngời Ba T sẽ giúp họ mở thị trờng càng rộng lớn, cớp bócnô lệ càng nhiều hơn, đồng thời dới sự thống trị của Ba T, họ sẽ giữ đợc địa vị
đặc quyền của mình Do vậy, khi quân đội Ba T kéo tới chân thành Babilon, thìvua Nabôxít hoàn toàn bị cô lập Mùa thu năm 538 TCN, ngời Ba T đa quân ào
ạt tiến vào thành Babilon, Nabôxít bị bắt, con trai là Vantaxa bị giết Thế là
Trang 38v-ơng quốc Tân Babilon sau một thời gian tồn tại, đã bị đế quốc Ba T xâm chiếmbiến thành một bộ phận trong bản đồ của nớc họ.
Chơng 2 Xã hội của các quốc gia Lỡng Hà cổ đại
2.1 Công xã nông nghiệp trong xã hội Lỡng Hà cổ đại
Công xã nông thôn là đơn vị cơ sở của xã hội phơng Đông nói chung và ởLỡng Hà cổ đại nói riêng Do đó nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm củacông xã nông thôn phơng Đông cổ đại
2.1.1 Đặc điểm công xã nông thôn phơng Đông cổ đại
Công xã nông thôn là một tổ chức trong đó có sự kết hợp giữa chế độ cônghữu và t hữu tài sản Công hữu bao gồm ruộng đất, bãi cỏ, rừng núi, sông đầm,
ao hồ, các công trình thủy lợi do công xã chiếm hữu tập thể T hữu gồm nhà cửa, vờn tợc, nông cụ, gia súc, gia cầm của cải trong nhà từng hộ nông dân côngxã Hiểu rõ đặc trng này C.Mác nói rằng: “…Trong hình thức á châu (ít ra làtrong hình thức thờng thấy của nó không có sở hữu của cá nhân riêng rẽ, mà chỉ
có chiếm hữu cá nhân, mà ngời sở hữu thực tế, chân chính là công xã, do đó sởhữu chỉ tồn tại với t cách là sở hữu tập thể về ruộng đất mà thôi” [6, 29]
Công xã nông thôn là đơn vị kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc Có thể nóicông xã nông thôn thực chất là một xã hội thu nhỏ kiên cố và đóng kín Nhữngsản phẩm làm ra nh lơng thực, thực phẩm, công cụ sản xuất, đồ dùng sinhhoạt Tất cả đều do các thành viên công xã tự sản xuất ra để đáp ứng nhu cầucuộc sống của mình Nếu sản phẩm có d thừa thì họ cũng chỉ đem trao đổi vớinhau trong công xã mà thôi Điều đó đã khiến cho nền kinh tế hàng hóa chậm
ra đời và kém phát triển Chỉ khi nào nền kinh tế trở nên quan trọng trong đờisống xã hội thì công xã nông thôn mới đi vào con đờng suy tàn C.Mác đã nóirằng: “Trong những phơng thức sản xuất châu á thời cổ, phơng thức sản xuất cổ
đại v.v thì việc biến sản phẩm thành hàng hoá và do đó, sự tồn tại của con
Trang 39ng-ời với t cách là những ngng-ời sản xuất hàng hoá, chỉ đóng một vai trò thứ yếu thôi.Tuy nhiên, vai trò này ngày càng tở nên quan trọng hơn khi các công xã đi vàogiai đoạn suy tàn” [6, 106 – 107].
Đặc điểm của nền kinh tế tự nhiên đó chính là ngành thủ công nghiệpkhông tách khỏi nông nghiệp Trong các công xã nuôi một số thợ thủ công lànhnghề làm nghề rèn, mộc, đồ gốm, thợ kim hoàng Vậy tại sao lại có sự gắn kếtgiữa nông nghiệp và thủ công nghiệp? Thời cổ đại xuất phát điểm của trình độphát triển thấp, tức là họ đi từ đồ đá, đồng, sắt những ngời nông dân họ tự đục
đẽo lấy dụng cụ để phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi, cũng nh sinh hoạt hàngngày, họ còn làm ra đồ trang sức để tự làm đẹp mình
Trong xã hội phơng Tây cổ đại thì đô thị vừa là trung tâm kinh tế vừa làtrung tâm chính trị và xã hội Còn ở phơng Đông đô thị lại là trung tâm chính trị
nó giống nh cái bứu của cơ cấu kinh tế Bởi vai trò quyết định đến sự tồn tại vàphát triển của các nớc phơng Đông cổ đại là nền kinh tế nông nghiệp “nôngnghiệp tới nớc là ngành kinh tế quan trọng, chủ yếu, là cơ sở kinh tế của tất cảcác quốc gia cổ đại phơng Đông” T liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất, vua làngời sở hữu tối cao về ruộng đất trong toàn quốc Bên cạnh đó nền nông nghiệptrong công xã là nền kinh tế tự nhiên, mà nền kinh tế tự nhiên không có đất chonền kinh tế hàng hóa nảy nở và phát triển, điều đó sẽ dẫn đến đô thị không thể
có trung tâm kinh tế sầm uất Thế nên ta thấy đô thị ở phơng Đông phần lớn làtrung tâm chính trị và nơi sinh sống của quan lại, quý tộc, quân đội… và cáccông xã nông thôn phải duy trì sự tồn tại của các trung tâm này Nó sống kí sinhtrên cơ cấu kinh tế nó làm chính trị chứ không làm kinh tế, nó hởng bổng lộccủa nhà vua, hởng thụ chứ không sản xuất
Công xã nông thôn khép kín, lạc hậu lại duy trì khá lâu nên tình trạng thấpkém nó dần hạn chế t duy của con ngời và hạ thấp nhân phẩm trớc cả tự nhiên
và xã hội Họ không thể giải thích nổi những hiện tợng tự nhiên nên đã gắn cho
nó thần thánh hóa cho đó là ma quỷ, là các vị thần Trình độ của họ quá thấp lại
bị tác động bởi tự nhiên và xã hội nên đã sinh ra sùng bái tự nhiên và sinh ra tôn
Trang 40giáo Nó là sự hạn chế lí trí của con ngời, biến con ngời trở thành công cụ ngoanngoãn của mê tín tôn giáo cam chịu trớc hoàn cảnh Điều đó nh C.Mác viết:
“Chúng ta không đợc quên rằng những cônng xã nông thôn thơ mộng ấy, dẫucho chúng có vẻ vô hại nh thế nào chăng nữa, bao giờ cũng vẫn là cơ sở bềnvững của chế độ chuyên chế phơng Đông, rằng những công xã ấy đã hạn chế lítrí của con ngời trong một khuôn khổ trật hẹp nhất, làm cho nó trở thành công
cụ ngoan ngoãn của mê tín trói buộc những xiềng xích nô lệ của các quy tắc cổtruyền” Điều này cũng không có gì lạ, khi con ngời ở trình độ thấp họ luôncảm thấy sợ hãi và nhỏ bé trớc vạn vật có linh hồn
2.1.2 Đặc điểm công xã nông nghiệp ở các quốc gia Lỡng Hà cổ đại
Khoảng nửa sau thiên niên kỷ IV TCN, ngời Xume đã thiên di đến lu vựcLỡng Hà, nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi họ đã định c ở đây, và chuyển từchăn nuôi du mục sang làm nghề nông Trong cơ cấu kinh tế của các nớc phơng
Đông nói chung và Lỡng Hà cổ đại nói riêng thì từ thời xa xa nông nghiệp đã
đ-ợc xem là ngành kinh tế chủ yếu Hầu hết dân c đều theo đòi nghề nông, khichế độ thị tộc tan rã và xã hội có giai cấp ra đời thì là lúc c dân nông nghiệp vensông tập trung sống trong từng công xã nhỏ, công xã nông thôn chính là tổchức kinh tế cơ sở của Lỡng Hà cổ đại Nh C.Mác nói: “công xã nông thôn là
tổ chức xã hội đầu tiên của những ngời tự do không bị ràng buộc bởi quan hệdòng máu” Với câu nói này của C.Mác cho chúng ta hiểu khi chế độ thị tộc tanrã thì những con ngời không còn cùng chung dòng máu lại tập hợp, nhóm họpnhau lại ở các công xã nông thôn và ở Lỡng Hà cũng diễn ra nh vậy
Vào thời điểm lúc bấy giờ nông nghiệp đang trong tình trạng thấp kém,công cụ sản xuất chủ yếu bằng đá, gỗ, phơng thức canh tác còn hết sức lạc hậu,
c dân mới chỉ biết xới đất lên rồi gieo hạt giống xuống nhng nhờ đất đai phù xamàu mỡ nên thu hoạch cũng đủ sống Để đảm bảo cho thu hoạch đợc đều đặn,chống mọi thiên tai, hạn hán, lũ lụt thờng xuyên xảy ra, thì công tác thủy lợi trởnên đặc biệt quan trọng của công xã nông thôn nh đắp đê ngăn lũ, đào hố vàkênh máng dẫn nớc v.v Khi nông nghiệp càng phát triển thì đòi hỏi các công