Cùng với việc tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Việt Namđang đối đầu với nhiều khó khăn của sự phát triển kinh tế như: quy mô sảnxuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN HOẰNG HÓA -
THANH HÓA
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất đai là nguồn lực quan trọng của bất cứ nền sản xuất nào Với sảnxuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không cóđất thì không có sản xuất nông nghiệp Vì vậy sử dụng đất đai là hợp phầnquan trọng của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững [10] Việt Nam là nước có diện tích đất bình quân thấp cho nên sự phát tiển của ViệtNam phụ thuộc rất nhiều của hiệu quả việc sử dụng đất Với hơn 70% dân sốđang sống ở khu vực nông thôn và nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chínhthì hiệu quả của việc sử dụng đất đai nói chung, đất nông nghiệp nói riêng là
vô cùng quan trọng Việc sử dụng đất nông nghiệp thích hợp có ảnhhưởng rất lớn đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nước
Nông nghiệp đã đạt được không ít những thành tựu sau hơn 20 năm đổimới Thắng lợi rõ rệt nhất của nông nghiệp là tạo ra và duy trì quá trình tăngtrưởng sản xuất với tốc độ nhanh trong thời gian dài Từ năm 1986 – 2005, giátrị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,5%/năm Thắng lợi lớn thứ hai là đã
cơ bản đảm bảo an ninh lương thực Năm 1989 ở miền Bắc, khoảng 39, 7% số
hộ nông nghiệp của 21 tỉnh thành bị đói Chính sách đổi mới đã tạo nên sựthần kỳ: sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng liên tục, giải quyếtđược vấn đề an ninh lương thực Nông nghiệp đã tạo nhiều việc làm, xoá đóigiảm nghèo (tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 2%/năm) Trước đổi mới số người sốngdưới mức đói nghèo là 60%, năm 2003 giảm xuống còn 29% và năm 2006 còn19% Mức giảm đói nghèo ấn tượng này chủ yếu là nhờ thành tựu to lớn tronglĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn Trong khi công nghiệp và dịch vụcòn đang lấy đà thì nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn là nơi tạo việc làmchính cho cư dân nông thôn [18]
Trang 3Cùng với việc tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Việt Namđang đối đầu với nhiều khó khăn của sự phát triển kinh tế như: quy mô sảnxuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ đồng đều, chất lượng sản phẩmcòn thấp, khả năng hợp tác liên kết của nông dân Việt Nam nói chung còn rấtyếu [16].
Hoằng Hoá là một huyện thuần nông, nông nghiệp là nguồn thu nhậpchính của nhân dân trên địa bàn huyện Hiện nay đời sống nhân dân trên địabàn huyện còn gặp nhiều khó khăn Những năm gần đây đất nông nghiệp giảmxuổng nhanh chóng do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, càng làm cho vấn đề
“tam nông” ở Hoằng Hoá được quan tâm nhiều hơn Tính từ năm 2000 đếnnăm 2009 diện tích đất nông nghiệp đã giảm từ 22.453,0 ha xuống còn14.540,88 ha, con số này chưa thực sự lớn hơn so với các địa phương có tốc độ
đô thị hoá cao khác, tuy nhiên còn tiếp tục tăng trong những năm tới
Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu thực trạng sử dụng
đất nông nghiệp ở huyện Hoằng Hoá - tỉnh Thanh Hoá”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Cung cấp cơ sở dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địabàn huyện Hoằng Hoá
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường, củacác loại cây trồng trên địa điểm nghiên cứu
- Tìm hiểu và đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụngđất
Trang 4Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
1.1 Đất nông nghiệp
Đất được hình thành trong hàng triệu năm và là một trong những yếu tố khôngthể thiếu cấu thành môi trường sống Đất là nơi chúa đựng không gian sống của conngười và các loài sinh vật, là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạtđộng sản xuất của con người Với đặc thù vô cùng quý giá là có độ phì nhiêu, đất làmnhiệm vụ của một bà mẹ nuôi sống muôn loài trên trái đất
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếubiết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên [2] Sản xuấtnông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn nguyênliệu cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thựcphẩm Hiện tại cũng như trong tương lai, nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọngtrong sự phát triển của xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được CácMác đã từng nói “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất”
Theo luật đất dai năm 2003, đất nông nghiệp được chia làm các nhóm đấtchính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ hải sản, đấtlàm muối và đất nông nghiệp khác
1.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp
1.2.1 Khái quát về sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng đất Trước đây, người tathường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khácnhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quảnhư yêu cầu của công việc mang lại [13]
Trang 5Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi,hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệusuất, năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nóichung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí
để tạo ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trongmột đơn vị thời gian
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đíchcủa con người, được biểu hiện bằng những chi tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâuthuẫn giữa nguồn tìa nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phảixem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kếtquả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạtđộng tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nộidung của đánh giá hiệu quả [10]
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đấtthì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh
tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặthiệu quả xã hội là thể hiện được mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh
tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh
tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coitrọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loạinông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu,…) để đảmbảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổchức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phụccác khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn
Trang 6gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuấttrong nước với thị trường quốc tế.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu câytrồng, vật nuôi là một trong những vấn đề luôn được quan tâm hiện nay của hầu hếtcác nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, cácnhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốncủa nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp [14]
Hiện nay các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đâtkhông chỉ xem xét đơn thuần là một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xéttrên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môitrường
1.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quyluật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngànhsản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì “Hiệu quả là không lãngphí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quảkinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích
và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, gópphần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội [10]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuấthàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế hiệu quảkinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải được quan tâm và tuân theoquy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệthống;
Trang 7- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạtđộng kinh tế bằng quá trình tăng các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của conngười.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạtđược và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt đựoc làphần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị củanguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối vàtương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sửdụng đất là “với một điều kiện đất đai nhất định sản xuất ra một lượng của cải nhiềunhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng về vật chất của xã hội” [10]
1.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữ kết quả xét về mặt xã hội vàtổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết vớinhau và là một phạm trù thống nhất Theo Nguyễn Duy Tính [12], hiệu quả về mặt xãhội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làmtrên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập củanhân dân… Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy dượcnguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất đai phù hợpvới tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
1.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệđược sự màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thái hoá đất bảo vệ môi trường sinhthái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ở ngưỡng an toàn sinh thái (>35%), đa dạng sinhhọc biểu hiện qua thành phần loài [5]
Trang 8Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: Hiệu quảhoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường [11].
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hóa học môi trường được đánh giá thôngqua mức độ sử dụng chất hoá học trong nông nghiệp đó là việc sử dụng phân bón vàthuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng vàphát triển tốt, cho năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa câytrồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoáchất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tàinguyên khí hậu như: ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạtđược sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
1.2.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 1.2.2.1 Đặc điểm
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ởcác mặt [10]:
+ Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vàokinh tế: Vì thế khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải đượcxác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha), tínhtrên một đồng chi phí, trên một công lao động
+ Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do
đó phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh
+ Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tácđộng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế cần phảinghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnhhưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
Trang 9+ Phát triển nông nghiệp chỉ thích hợp được khi con người biết làm cho môitrường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cầnquan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xungquanh.
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội sâu sắc Vì vậy, khi đánhgiá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuấtnông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nângcao trình độ dân trí nông thôn…
1.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểuhiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêuchuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dungkinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn [6]
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ởnước ta, đồmg thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất lànhững sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải cótác dụng kích thích sản xuất phát triển
Trang 101.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan hệ này
là mối quan hệ hiệu số hoặc là mối quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệthống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
+ 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
• Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm, vật chất và dịch vụđược tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là 1 năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộc các khoản chi phí vật chất thườngxuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sửdụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trunggian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX – CPTG
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,GTGT/CPTG) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sửdụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao
động.
Trang 11• Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau [7]:
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
• Các chỉ tiêu hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải [6], chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản
lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Đánh giá các tài nguyên đất;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nôngnghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tíchtrong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệuquả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thựcvật và nhận xét của nông dân đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
1.3 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Những hạn chế của cuộc cách mạng xanh và công nghiệp hoá nông nghiệp đãdẫn đến việc nhiều nước quay trở lại với nền nông nghiệp hữu cơ, làm cho nôngnghiệp hữu cơ ngày càng được nâng cao vị trí quan trọng trong đời sống xã hội vàtrên thị trường thế giới Đặc điểm quan trọng nhất của nông nghiệp hữu cơ là không
sử dụng các chất hoá học tổng hợp như phân bón, thuốc trừ sâu và sử dụng hợp lý tàinguyên tự nhiên như đất, nước,…và tăng cường sử dụng các vật liệu hữu cơ Mặc dùnông nghiệp hữu cơ có khuynh hướng sử dụng các biện pháp kỹ thuật kinh tế như làm
Trang 12đất tối thiểu…Sử dụng có hiệu quả đầu tư hữu cơ và làm giảm giá thành sản phẩm,tăng chất lượng nông sản.
Xu hướng nông nghiệp hữu cơ đã lan rộng khắp thế giới và hiện nay bao gồmnhiều nhóm phụ, thí dụ như nông nghiệp sinh học (biological agriculture), nôngnghiệp sinh thái (ecological agriculture), hệ thống nông nghiệp thiên nhiên (naturefarming), thuyết động lực sinh học (biodynamics) Theo các xu hướng này, việc sảnxuất phải tuân thủ những hướng dẫn của nền sản xuất hữu cơ (ESIA 2001, EU 2000,EUREPGAP 2001, IFOAM 1996…) Nền nông nghiệp hữu cơ cung cấp một loạt giảipháp dể làm giảm nhẹ ảnh hưởng tai hại trực tiếp cũng như tích luỹ tồn lưu lâu dài do
sử dụng không đúng hoặc quá liều các hoá chất nông nghiệp làm ảnh hưởng xấu đếnchất lượng nông sản và môi trường
Giá các sản phẩm lương thực thực phẩm hữu cơ thường cao hơn từ 10% đến40% so với sản phẩm cùng loại được sản xuất theo phương pháp thông thường Năngsuất của các trang trại hữu cơ bình quân thấp hơn từ 10 – 15% so với năng suất củacác trang trại thông thường Tuy nhiên, năng suất giảm được bù vào chi phí vật tư đầuvào (phân bón, thuốc trừ sâu) và tăng lợi nhuận Các công trình nghiên cứu và quansát lặp lại đã nhận thấy rằng các trang trại hữu cơ chịu đựng được thời tiết khắc nghiệttốt hơn các trang trại thông thường, và thường sinh lợi cao hơn từ 70 – 90% so vớicác trang trại thông thường trong thời kỳ hạn hán [1]
Các phương pháp sản xuất hữu cơ đòi hỏi nhiều lao động hơn, tạo công ăn việclàm cho khu vực nông thôn
Ngoài việc loại bỏ sử dụng hoá chất nông nghiệp tổng hợp, những phươngpháp này bao gồm bảo vệ đất (khỏi bị xói mòn, suy kiệt chất dinh dưỡng và huỷ hoạicấu trúc đất), đẩy mạnh đa dạng sinh học (ví dụ: trồng nhiều loại cây khác nhau thay
vì một loại cây hoặc trồng hàng rào bờ giậu quanh thửa ruộng), và làm bãi cỏ chochăn nuôi gia súc và gia cầm Trong khuôn khổ đó nông dân phát triển các hệ thống
Trang 13sản xuất hữu cơ của riêng mình, được xác định bởi các yếu tố như khí hậu, điều kiệntiêu thụ và các điều luật nông nghiệp ở nước sở tại [1].
Một số khảo sát và công trình nghiên cứu đã cố gắng xem xét thẩm tra và sosánh các hệt hống canh tác thông thường và theo phương pháp hữu cơ Kết quả cuảnhững khảo sát này dều thống nhất rằng canh tác theo phương pháp hữu cơ thì ít gâythiệt hại hơn tói môi trường bởi vì những lí do sau:
- Các trang trại không được sử dụng hoặc không thải vào môi trường các loạithuốc trừ sâu tổng hợp mà một số trong các loại thuốc này có thể gây hại đối với đất,nước và các sinh vật hoang dã trên cạn và dưới nước
- Các trang trại hữu cơ hơn hẳn các trang trại thông thường về mặt giúp giữvững được các hệ sinh thái khác nhau; nghĩa là các tập đoàn động vật, thực vật và côntrùng,… được bẩo tồn tốt hơn
- Khi tính toán theo một đơn vị diện tích hoặc theo một đơn vị năng suất thìcác trang trại hữu cơ ít được sử dụng năng lượng hơn và sản ra ít chất thải hơn, thí dụcác chất thải của vật liệu bao bì đóng gói hoá chất nông nghiệp
Đã có nhiều công trình về phơi nhiễm thuốc trừ sâu tới sức khoẻ của nông dânnhư vấn đề về hô hấp, rối loạn trí nhớ, các bệnh ngoài da, ung thư, suy nhược, thiểunăng trí tuệ, sẩy thai, và khuyết tật ở trẻ sơ sinh Như vậy, phương pháp canh tác hữu
cơ góp phần bảo vệ sức khoẻ của nông dân và cư dân nông thôn
1.1.2 Những nghiên cứu về đánh giá đất đai trên thế giới
Từ những thập kỷ 50 của thế kỷ này, việc đánh giá khả năng sử dụng đất đượcxem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất, xuất phát
từ nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp đánh giá đất được nhiều nhàkhoa học hàng đầu trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm, do vậy trở thànhmột trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với nhữngnhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng Những nghiêncứu và những hệ thống đánh giá đất sau đây được sử dụng khá phổ biến
Trang 14- Phân loại khả năng thích hợp đất có tưới (Irrigation land SuitabilityClassfication) của cục cải tạo đất đai Hoa Kỳ (USBR) biên soạn năm 1951 Phân loạigồm 6 lớp (Classes), từ lớp có thể trồng được (Arable) đến lớp có thể trồng được mộtcách giới hạn (Limited arable) và lớp không thể trồng được (Non arable) Trong phânloại này ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế định lượng cũng được xem xétnhững giới hạn của phạm vi thủy lợi Bên cạnh đó khái niệm về khả năng đất đai(Land capability) cũng được mở rộng trong công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ doKlingebiel và Montgomery (Vụ bảo tồn đất đai – Bộ nông nghiệp Mỹ) đề nghị năm
1964 Trong đó các đơn vị bản đồ đất được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất mộtloại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chính là lớp hạn chế của lớp phủthổ nhưỡng đố với mục tiêu canh tác được đề nghị Đây là một loại đánh giá đất đai
sơ lược, gắn với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là loại hình sử dụng đất
- Ở Liên Xô và các nước Đông Âu từ những thập niên 60 việc phân hạng vàđánh giá đất đai cũng được thực hiện gồm 3 bước sau:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tự nhiên).+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (Yếu tố được xem xét với khí hậu,
độ ẩm, địa hình)
+ Đánh giá về kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại củađất) Phương pháp này thuần nhất quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đấtđai, chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất đai
- Từ những năm 70, nhiều quốc gia ở Châu Âu đã cố gắng phát triển các hệthống đánh giá đất đai của họ, cuối cùng các nhà nghiên cứu đã thấy rằng cần có một
nỗ lực quốc tế đạt được sự thống nhất về tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất đai
Do đó có hai ủy ban nghiên cứu được thành lập ở Hà Lan và FAO (Rome-ý).Kết quả một dự thảo đầu tiên ra đời (FAO, 1972), tại hội nghị được tổ chức ở Rome,những ý kiến đóng góp cho bản dự thảo năm 1973 đã được các chuyên gia hàng đầu
về đánh giá đất đai của FAO (K.J.Beek, J.Benema, P.J.Mabiler, G.A.Smyth, ) biên
Trang 15soạn lại để hình thành lại nội dung phương pháp đầu tiên của FAO vế đánh giá đất đaicông bố năm 1976, sau đó được bổ sung và chỉnh sửa năm 1983.
- Bên cạnh những tài liệu tổng quát của FAO về đánh giá đất đai một số hướngdẫn cụ thể khác về đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt cũng được FAO
Hiện nay công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia
và trở thành một khâu quan trọng trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quyhoạch sử dụng đất đai (theo FAO, Guidelines for land use planning 1994) Công tácđánh gia đất đai hiện nay được sự hỗ trợ mạnh mẽ của kỹ thuật máy tính, hệ thốngthông tin địa lý (GIS) và trở thành công cụ cần thiết cho mục tiêu phát triển bền vững
1.4 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.4.1 Những nghiên cứu về sử dụng đất ở Việt Nam
Diện tích bị tác dộng xói mòn tiềm năng đáng kể ở Việt Nam (mất đất trên 50tấn/ha/năm) chiếm hơn 60% lãnh thổ Tuy nhiên, những quan trắc có hệ thống xóimòn về đất tiến hành từ năm 1960 đến nay cho thấy, trên thực tế có 10 – 20 % lãnh