1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thơ và từ trong truyền kỳ mạn lục của nguyễn dữ

41 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu Thơ Và Từ Trong Truyền Kỳ Mạn Lục Của Nguyễn Dữ
Trường học University of Social Sciences and Humanities - Vietnam National University in Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bài nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 142 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài “Tìm hiểu thơ và từ trong Truyền kỳ mạn lục” chúng tôi sẽ đi sâu vào việc xác định thơ và từ trong tác phẩm, khảo sát tần số xuất hiện vàvai trò ,tác dụng của nó đối với nội d

Trang 1

Phần Mở Đầu

I Lý do chọn đề tài

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm tiêu biểu của văn học

trung đại Việt Nam, đuợc xem là một áng “thiên cổ kỳ bút” Tác phẩm cũng

đợc đánh giá là “một cái mốc quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc”[3,112] Tuy nhiên việc nghiên cứu tác phẩm này cha phải đã hoàn tất

1 Truyền kỳ mạn lục đợc viết bằng ba loại văn: Văn xuôi, văn vần và

văn biền ngẫu Trong loại văn vần bao gồm những bài thơ và từ Thơ và từ

trong Truyền kỳ mạn lục chiếm một số lợng đáng kể và có tác dụng tích cực

đối với giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Vì thế, việc tìm hiểu thơ

và từ là tìm hiểu một yếu tố quan trọng trong lời văn nghệ thuật của tácphẩm

2 Nguyễn Dữ sáng tác Truyền kỳ mạn lục dựa vào tác phẩm Tiễn

đăng tân thoại của Cù Hựu Việc xen thơ và từ trong tác phẩm văn xuôi tự

sự cũng đợc mô phỏng theo sáng tác của Cù Tông Cát Sáng tác của ông cònchịu ảnh hỏng của truyện dân gian Tuy nhiên Nguyễn Dữ đã tiếp thu mộtcách có sáng tạo Thơ và từ trong tác phẩm của ông đã có sự đổi mới phùhợp với nội dung nghệ thuật của tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu vấn đề này làgóp phần khẳng định sự tiếp thu truyền thống và sự cách tân của NguyễnDữ

II Mục đích yêu cầu của việc giải quyết đề tài.

1 Đi vào tìm hiểu thơ và từ là đi vào tìm hiểu một yếu tố quan trọng

trong lời văn nghệ thuật của tác phẩm Thơ và từ đợc xen với khối lợngnhiều nh vậy có vai trò gì đối với việc diễn tiến cốt truyện, xây dựng

tính cách nhân vật hay đơn thuần nó chỉ là một yếu tố để tô đậm màu sắcvăn chơng của tác phẩm, khiến tác phẩm đợc trau chuốt mợt mà chứ khôngkhô khan nh các tác phẩm văn xuôi khác? Đề tài này sẽ đi vào trả lời câuhỏi đó bằng việc nêu và lý giải vai trò của văn vần đối với việc diễn tiến cốttruyện, xây dựng tính cách nhân vật và tô đậm màu sắc văn chơng

2 Truyền kỳ mạn lục đợc mô phỏng Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu

trong đó có việc xen thơ và từ vào tác phẩm văn xuôi Vì thế ở đây chúng ta

Trang 2

bớc đầu sẽ so sánh với phần thơ và từ trong Tiễn đăng tân thoại để có thể

thấy đợc tài năng của Nguyễn Dữ

III Phạm vi giải quyết đề tài- Văn bản sử dụng.

1 Phạm vi giải quyết đề tài.

Với đề tài “Tìm hiểu thơ và từ trong Truyền kỳ mạn lục” chúng tôi sẽ đi

sâu vào việc xác định thơ và từ trong tác phẩm, khảo sát tần số xuất hiện vàvai trò ,tác dụng của nó đối với nội dung nghệ thuật của tác phẩm.Tuynhiên, chúng tôi cũng đặt tác phẩm vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ

để có thể hiểu hết đợc nét đặc sắc của việc xen thơ và từ vào trong văn xuôi

IV Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Truyền kỳ mạn lục đợc xem là “mốc quan trọng trong lịch sử văn học

dân tộc” nên đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, cả trong và ngoài

n-ớc Những bài nghiên cứu của các tác giả đã cho thấy đợc rõ hơn giá trị củatác phẩm.Những bài tiểu luận khoa học trên tạp chí đã đi vào nhiều phơng

diện của tác phẩm này.Đặc biệt là những bài viết so sánh Truyền kỳ mạn lục

và Tiễn đăng tân thoại, đã góp phần cho ta thấy đợc sự kế thừa có tính sáng

tạo của Nguyễn Dữ Có thể kể đến tác giả nớc ngoài nh Trần ích Nguyên

với công trình nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn

lục Trong cuốn sách của mình tác giả cho thấy sự sáng tạo của Nguyễn Dữ

so với tác phẩm Trung Quốc; đồng thời tác giả cũng đã có một chút ít so

sánh về thơ và từ trong tác phẩm : “ Tình hình vận văn xen kẽ trong Truyền

kỳ mạn lục có giảm hơn so với sách gốc là Tiễn đăng tân thoại [6,247].

Trong giáo trình “Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷVIII”, tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân cũng đã có nói đến hiện tợng

dùng văn vần trong tác phẩm “ Truyền kỳ mạn lục đợc viết bằng cả ba lối

văn: tản văn, biền văn và vận văn, lối nào cũng hay”[4,525] ở một số

Trang 3

truyện cụ thể, tác giả đã đi vào hiện tợng dùng thơ và từ trong tác phẩm Ví

nh Chuyện ngời tiều phu núi Na ,tác giả viết: “Cuộc sống của ngời tiều phu

đợc tóm lại trong ý tứ của hai bài ca thích ngủ và thích cờ đề trên bức vách”[4,515]; Hay “ thể hiện nỗi buồn thơng mong nhớ của những cặp tình nhânphải xa cách nhau, không thông cảm thì không thể viết nổi những câu thơthắm thiết nh thế này” [4,518]

Tuy nhiên, nhìn chung các bài nghiên cứu thờng tập trung vào sự ảnh

h-ởng của Tiễn đăng tân thoại với Truyền kỳ mạn lục, vào sự ra đời của tác

phẩm chứ cha có công trình nào đi sâu nghiên cứu vào thành phần thơ và

từ trong Truyền kỳ mạn lục.

Với tiểu luận này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu thơ và từ trong tác phẩm

Truyền kỳ mạn lục trên cơ sở tiếp thu những ý kiến đóng góp của các nhà

nghiên cứu và góp một phần nhỏ vào việc khẳng định tài năng của NguyễnDữ, đồng thời đa ra kiến giải của riêng mình với đề tài này

V Phơng pháp nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu để có thể

đi sâu vào vấn đề Tuy nhiên, phơng pháp chính mà chúng tôi sử dụng là

Chơng I: Thơ và từ đối với việc xây dựng nhân vật

Chơng II: Thơ và từ đối với việc phát triển cốt truyện

Chơng III: Thơ và từ đối với việc thể hiện chủ đề tác phẩm

2 Cái mới của luận văn

Giải quyết đề tài theo hớng trên đây, luận văn sẽ góp phần vào việctìm hiểu thơ và từ – hai thể loại văn học chủ yếu của nền văn học trung đại Luận văn góp phần vào một hớng tiếp cận mới đối với tài năng củaNguyễn Dữ, góp phần vào việc nghiên cứu tác giả Nguyễn Dữ

Trang 4

PHầN NộI DUNG chính

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đợc viết theo thể loại truyền kỳ, gồm 20 truyện, chia làm bốn quyển Cốt truyện chủ yếu mô phỏng Tiễn

đăng tân thoại , ngoài ra còn lấy từ những câu chuyện lu truyền trong dân

gian Việt Nam, nhiều trờng hợp xuất phát từ truyền thuyết Thơ và từ chiếmmột số lợng đáng kể trong ngôn ngữ tác phẩm Trong 20 truyện thì có tới 11truyện có xen lẫn thơ và từ

“Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện nhữngtâm trạng , những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc , giàu hình

ảnh và nhất là có nhịp điệu” [2,262]

“Từ là một thể thơ ở Trung Quốc bắt nguồn từ trung gian Từ nguyên lànhững bài hát phổ nhạc do ca kỹ, nhạc công sống bằng nghề đàn hát lấy ởbài hát dân gian hoặc thơ tuyệt cú của văn nhân Để phối hợp với tiết tấu âmnhạc ,họ cải biên hoặc sáng tác một số lời, câu dài ngắn xen kẽ Do đó cógiá trị độc lập, có cách luật cố định về mặt âm thanh, tiết tấu Vì từ có câudài câu ngắn nên còn đợc gọi là “trờng đoản cú thi” có hàng trăm điệu[8,327.328]

Trên Tạp chí nghiên cứu văn học số 9 năm 2004, ở bài “Từ-một chủng

loại còn ít đợc biết tới”-PGS-TS Trần Ngọc Vợng và Th.S Đinh Thanh Hiếu

đã khái quát đợc nội dung của thể loại từ Theo quan niệm truyền thống thờitrung đại thì “thơ để nói chí ,từ để tỏ tình” mà tỏ tình chủ yếu là “t tình nhinữ” Vơng Quốc Duy đã khái quát “Từ có thể thể hiện đợc những điều màthơ không thể thể hiện đợc nhng không thể thể hiện đợc hết những điều màthơ thể hiện đợc” Từ sở trờng là thể hiện tình một cách uyển chuyển hàmsúc ,“về mặt tình, có chỗ văn không thể thấu đạt, thơ không thể nói tỏ màchỉ có ở trong “trờng đoản cú” (từ), có thể hình dung một cách uyển chuyển

hàm súc(Tra Lễ -Đồng cổ th đờng từ thoại) [8,328].

Nh vậy,thơ và từ đã có sự bổ sung cho nhau, nên việc xen cả thơ và từvào trong tác phẩm tự sự của mình không phải là không có ý nghĩa Trong

Trang 5

tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, thơ và từ không những làm cho câu văn trau

chuốt mợt mà mà nó còn có vai trò rất lớn trong việc thể hiện nội dung

tác phẩm Sự bổ sung cho nhau của thơ và từ trong Truyền kỳ mạn lục đã

làm nên giá trị độc đáo của tác phẩm, khiến cho tác phẩm vợt xa lối văn

ch-ơng cử tử thời trung đại

Hầu hết các nhà văn khi xây dựng nhân vật thờng qua một số biệnpháp chủ yếu nh miêu tả ngoại hình, nội tâm, qua lời nói hành động, việclàm của nhân vật và ngoại cảnh, môi trờng mà nhân vật xuất hiện.Nguyễn

Trang 6

Dữ cho dù không xây dựng nhân vật đầy đủ các biện pháp trên nhng nhữngnhân vật trong tác phẩm của ông cũng hiện lên đầy đủ với những nét tính

cách riêng biệt ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu xem nhân vật trong Truyền kỳ

mạn lục đợc Nguyễn Dữ xây dựng nh thế nào và thơ, từ có vai trò gì trong

việc xây dựng nhân vật ấy

2 Vai trò của thơ và từ trong việc xây dựng nhân vật của tác

phẩm Truyền kỳ mạn lục

Nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục khá đa dạng, phong phú Dù số

l-ợng nhân vật không nhiều, mỗi truyện có khi chỉ xoay quanh một vài nhânvật nhng nhân vật lại mang đầy đủ những nét riêng của tâm hồn con ngời,

tức là có tốt, có xấu Nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục là những con ngời

đời thờng, có khi là ma quái, cũng có khi là con vật thành tinh nhng lại thểhiện những nét cá tính con ngời.Nhân vật đợc thể hiện qua các phơng diệnnghệ thuật, nhng có thể nói một phần chủ yếu đợc hiện lên qua phần thơ và

từ trong tác phẩm do nhân vật khởi xớng Trong tác phẩm này, Nguyễn Dữ

đã triệt để sử dụng vai trò, chức năng của hai loại văn học này để thể hiện ý

đồ nghệ thuật của mình trong một tác phẩm văn xuôi

Thơ và từ không chỉ có tác dụng làm cho văn xuôi trau chuốt, mợt

mà, đỡ khô khan mà nó còn có tác dụng trong việc xây dựng nhân vật, khắchoạ tính cách nhân vật Tính cách nhân vật trong tác phẩm đợc xây dựngthành công một mặt có sự góp phần của thơ và từ Chúng tôi sẽ làm rõ vaitrò của thơ và từ ở các phơng diện cụ thể của việc xây dựng nhân vật

2.1.Thơ và từ là phơng tiện để thể hiện cá tính, tài năng và ý chí của nhân vật.

Cũng nh các tác phẩm khác của văn học trung đại, Truyền kỳ mạn lục

không đi vào miêu tả ngoại hình nhân vật một cách chi tiết, cụ thể Cácnhân vật từ nho sĩ đến ngời phụ nữ là những nhân vật chính thờng đợc thểhiện lên bằng những nét phác hoạ cơ bản Ví nh ngời phụ nữ thì xinh đẹp vàtài hoa, giỏi thơ từ, chung thuỷ nết na nh nàng Lệ Nơng, hay nàng NhịKhanh, Chi Lan ; Những nhà nho có khí phách hiên ngang, coi thờng danh

lợi (Từ Thức, ngời tiều phu ở núi Na ); có ngời phụ nữ xinh đẹp nhng vì hoàn cảnh đã trở thành những kẻ xấu xa (Liễu, Đào ) Nhìn chung đó th-

Trang 7

ờng là những nhân vật đợc khắc hoạ một cách chung chung, không chi tiết ởngoại hình.

Nét đầu tiên tác giả khắc hoạ về nhân vật là những nét cá tính, tàinăng và ý chí của nhân vật Trong hầu hết các truyện có xen thơ và từ, cátính, tài năng, ý chí của nhân vật thờng đợc hiện lên qua các bài thơ, bài từ

mà nhân vật làm Ví nh trong các truyện: Câu chuyện ở đền Hạng Vơng;

Cuộc nói chuyện ở Kim Hoa, Chuyện nghiệp oan của Đào Thị

ở Câu chuyện ở đền Hạng Vơng, Hồ Tông Thốc đợc miêu tả “là con

ngời hay thơ, lại giỏi lối mỉa mai giễu cợt”.Khi phụng mệnh sang Trung

Quốc, ông đã đề một bài thơ lên đền Hạng Vơng Bài thơ ấy cũng là một bàithơ châm biếm, giễu cợt.Nó chứng tỏ tài năng cũng nh phong cách thơ ông:

Non nớc trăm hai nổi bụi hồng

Đem đoàn đệ tử đến Quan Trung

Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh

Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không

Thua chạy giời xui đờng Trạch Tả

Quay về đất lấp nẻo Giang Đông

Năm năm lặn lội hoài công cốc

Còn đợc vùi trong mã Lỗ Công

(dịch)

Bằng những câu thơ ấy, Hồ Tông Thốc đã cho ta thấy rõ thực chất con

ng-ời đợc thờ kia Những sự kiện lịch sử; cuộc đng-ời của một vị vua trong lịch sửxng hùng xng bá đã đợc đánh giá lại bằng những câu thơ đầy mỉa mai giễucợt Đó không phải là những sự kiện không có thật trong lịch sử, nhng cáilịch sử ấy dới sự châm biếm của Hồ Tông Thốc đã làm nổi bật bộ mặt thậtcon ngời mà ông muốn nói tới Đó là Hạng Vũ Ông mỉa mai Hạng Vũ làcon ngời bất tài khi cho rằng sự đánh giặc hơn thua là ở trời, là do “giời xui’nên phải “ thua chạy” để rồi sau đó phải tự tử ở Ô Giang Sự mỉa mai ấy của

Hồ Tông Thốc đã đợc Hạng Vũ nhận xét “Bài thơ ông đề lúc ban ngày, sao

mà mỉa mai ta dữ thế! ừ thì hai câu “Thua chạy giời xui đờng Trạch Quay về đất lấp nẻo Giang Đông” kể rằng cũng là đúng; nhng đến hai câu

Tả-“Năm năm lăn lộn hoài công cốc-Còn đợc vùi trong mã Lỗ Công” há chẳng

Trang 8

phải là chê bai quá lời ?” Sự nhận xét ấy của Hạng Vũ đã cho chúng ta biết

đợc sự mỉa mai của con ngời hay thơ ấy đến thế nào Cái lối mỉa mai giễucợt trong thơ Hồ Tông Thốc đợc thể hiện đầy đủ qua bài thơ thất ngôn này.Qua đó ta còn thấy đợc Hồ Tông Thốc là con ngời ngay thẳng, thẳng thắn vàkhông sợ quyền uy Chính vì vậy mà khi Hạng Vũ biện luận cho mình, tựbào chữa cho mình, Hồ Tông Thốc đã không ngần ngại kể ra cái sai củaHạng Vũ và bảo vệ ý kiến của mình Đối với một vị vua mà ông có thái độ

đó, quả thật ông là con ngời cơng trực và không sợ trớc bất cứ một thế lựcnào

Bài thơ ấy không chỉ cho ta thấy Hồ Tông Thốc là con ngời hay thơ,giỏi lối mỉa mai, giễu cợt mà còn cho ta thấy đợc con ngời của Hạng Vũ Đó

là một con ngời bất tài, hèn kém , an phận Cho dù đã đánh đổ đợc nhà Tần,lập nên vơng quốc của mình nhng vì không biết dùng ngời hiền tài để đếnnổi phải thua trận, bỏ mạng.Khi thua trận không tự biết mình bất tài mà lại

đổ cho mệnh tại trời, trời không giúp ắt sẽ thua: “Sự hng vong của Hán, sở

dĩ là do ở sự may rủi mà thôi”.Đó là lý lẽ của con ngời hèn kém, bất tài Con

ngời ấy từ thời đại của mình đã bị thi nhân mặc khách chế giễu:

Cái thế anh hùng sức nhổ núi

Sở ca bốn mặt lệ tràn lan.

Hạng Vơng tự cho mình là ngời có sức mạnh phi thờng nhng rồi cuối cùngcũng chịu thua quân Hán Một con ngời đã là vị vua của một nớc, nhng lại

là “vua chẳng ra vua,tôi chẳng tôi” nên mọi ngời thấy cái công lập miếu thờ

cho Hạng Vũ chỉ là hoài công mà thôi Con ngời bất tài nh thế lại thích đợcngợi ca , thích danh tiếng Hạng Vũ chỉ hài lòngvới hai câu thơ của Đỗ Mụckhi khen Hạng Vũ là ngời có tài, biết lãnh đạo và dới trớng của mình đã thuphục , có nhiều tớng giỏi

Giang Đông tử đệ nhiều tay giỏi Cuốn đất quay về chửa biết đâu

Trong Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa, tác giả đã khắc hoạ ngời con

gái họ Ngô tên là Chi Lan “chữ tốt văn hay, nhất là thơ ca càng giỏi lắm”.Nếu nh chỉ dừng lại ở lời trần thuật đó, ta không thể thấy rõ tài năng xuấtchúng của nàng Tài năng của nàng đợc thể hiện qua bốn bài từ đề vào bốn

Trang 9

bức bình bằng vân mẫu Đó là bốn bài từ do nàng làm ra Bốn bài từ là bốnbức tranh về bốn mùa thật sinh động, mỹ lệ ở đó con ngời và thiên nhiênhoà quyện vào nhau Trên nền cảnh sắc bốn mùa, con ngời hiện lên với dáng

vẻ và tâm t cụ thể, có nét gì đó vừa đẹp lại vừa buồn Có thể nói “ Trong bốnbài từ, lời trang điểm cực kỳ diễm lệ, thơm tho đáng yêu, thực là NguyênChẩn, Bạch C Dị trong đám nữ lu vậy” [ 6,245] Cái tài làm từ của nàngcũng đã đợc Lã Sái Đờng tiên sinh nhận xét: “Nam Châu nếu không có tôi,biết đâu phu nhân chẳng là tay tuyệt xớng, mà tôi nếu không có phu nhân,

biết đâu chẳng là tay kiệt xuất một thời” Nói thế mới biết đợc rằng tài thơ

của nàng là rất cao, có thể sánh ngang với một nhà thơ có tên tuổi trong nềnvăn học dân tộc

Tài năng của nàng còn đợc thể hiện qua bài thơ tứ tuyệt nàng đề trên núi

Vệ Linh, là nơi Đổng Thiên Vơng bay lên trời Bài thơ tả cảnh núi Vệ Linh,

đồng thời tả lại sự việc “ngựa sắt về trời” để rồi cái “Oai thanh còn dậy khắp

xa gần” Bài thơ ấy đã đợc truyền khắp trong cung, đợc nhà vua rất khenngợi Tài năng của nàng ngày càng đợc khẳng định hơn qua những lần làmthơ, từ cho vua Thơ, từ của nàng luôn đợc khen ngợi trong khi thơ từ củangời khác lại không làm vừa lòng nhà vua Nàng đã đợc nhà vua gọi là “Phù gia nữ học sĩ”, bởi bài từ trong đó có hai câu cuối:

Ngng bích phi thành kim điện ngoã

Trứu hồng chức tửu Cẩm Giang la

( Biếc đọng kết nên ngói đền vàng,

Hồng châu dệt thành lụa Cẩm Giang)

Khi Đức hoàng đế mất, nàng cũng làm thơ viếng Đó là một bài thơ thấtngôn thể hiện tình cảm của nàng đối với đức hoàng đế mà nàng đã thờ “Bàithơ tuy không có gì mới lạ nhng thơng nhớ có thừa, rất hợp với ý thái củanguòi đời xa” Đó chính là tài năng đợc công nhận của Ngô Chi Lan

Trong Chuyện nghiệp oan của Đào Thị, ngời danh kỹ ở Từ Sơn là

Đào Thị, tiêu tự là Hàn Than cũng hiện lên là ngời thông hiểu âm luật vàchữ nghĩa; là ngời con gái đẹp có tài thơ văn Tài thơ văn của nàng đơc biết

đến qua việc nối vần hai câu thơ của nhà vua-khi cha ai nối đợc Nhà vua đãngâm hai câu:

Trang 10

Vụ ế chung thanh điểu

Sa bình thụ ảnh trờng (Mù toả tiếng chuông nhỏ cát phẳng bóng cây trờng)

Nàng đã nối bằng hai câu:

Hàn Than ng hấp nguyệt

Cổ luỹ nhạn minh sơng (Bến lạnh cá đớp nguyệt Luỹ cổ nhạn kêu sơng)

Sự ứng khẩu mau lẹ và có ý của nàng đã đợc nhà vua khen ngợi, tặng chocái tên là “ả Hàn Than”.Nhng Hàn Than còn là một cô gái đẹp,”nết khôngcẩn nguyện, tính bén lẳng lơ”, chính vì vậy mà khi phải trốn lên chùa, HànThan đã t thông với s Vô Kỷ, biến chùa chiền thành nơi ân ái của mình.Những bài thơ liên cú trong truyện cũng đã thể hiện cái nét xấu xa đó củaHàn Than:

S lời tiểu cũng lời ghê

Siêng năng khép cửa bồ đề mấy ai?

Trong Chuyện đối đáp của ngời tiều phu núi Na thì bài ca mà ngời

tiều phu hát cùng với hai bài ca đề trên vách, chát keo trắng đã bộc lộ cáichí của ngời tiều phu Đó là một con ngời có khí phách coi khinh tất cảnhững gì gọi là danh lợi, hàng ngày vui vẻ gánh củi đem đổi “cốt đợc no saychứ không lấy một đồng tiền nào”.Ông là một nho sỹ ở ẩn Với ông, một

ngời ẩn sỹ chẳng cần “mũ đai Tấn Đại”, “cung kiếm Tống Triều”, “sự

nghiệp Triệu Tào” hay “phong lu Vơng Tạ” mà chỉ cần “quanh mình bạn đỏhầu xanh” để rồi “bng tai chuyện thế eo xèo” hay “công danh quên bẵng,

Trang 11

chuyện đời hơn thua” giống nh Gia Cát khổng Minh ở ẩn tại lầu Nam Dơng,

hay ngời ẩn sỹ tại Quán Vân vậy

Trong các truyện nh Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện bữa tiệc đêm

ở đà Giang cũng hiện lên hình ảnh nho sĩ có khí phách ,không lấy danh lợi

làm trọng mà chỉ cầu sự yên vui Họ có tài, coi khinh những thói thờng Họlên án vua chúa truỵ lạc, lo chơi bỏ quên dân Đó còn là bộ phận ẩn sĩ tìmchốn yên vui nơi thiên nhiên, chứ vòng danh lợi họ không màng đến Chínhvì vậy thơ ca của họ cũng thờng là những bài về cảnh sắc thiên nhiên.Những bài thơ ấy thể hiện những nho sĩ có phẩm tiết cao lánh đục về trong,lánh cõi trần đầy toan tính lọc lừa, gian trá để về với thiên nhiên trong sạnh

và yên vui:

ẩm liễu thanh toàn hựu bích than

Du du danh lơi bất tơng can (Khe trong suối biếc nớc ngon lành

Đờng thế chi màng đến lợi danh)

Hay:

Ngã đầu lâm mộc quân nham huyệt, Khâm tiếu cầu an kế bất đồng (Tôi lên rừng bác vào hang núi Tìm chốn yên thân cũng một lòng)

Nh thế có nghĩa là phần thơ ca trong các truyện trên đã góp phần thểhiện những nét chính của nhân vật Qua thơ, từ mà tác giả gán cho họ ta cóthể thấy một vài nét tính cách của họ

Trong Chuyện Lệ Nơng, nhân vật Lệ Nơng là một ngời con gái xinh

đẹp, nết na chung thuỷ, có khí tiết Cái sự chung thuỷ, nết na ấy đã đợc thểhiện ở việc nàng tìm đến cái chết để bảo vệ danh tiết, để “thà chết rấp ở ngòilạch, gần gũi quê hơng, còn hơn là sang làm những cái cô hồn ở bên đấtBắc”.Cái khí tiết của nàng còn đợc hiện lên ở bài thơ cách luật mà nàng thổ

lộ với Nhuận Sinh:

Thuỷ bất năng toàn tiết dĩ tòng phu Chung hựu nhẫn cam tâm nhi hàng lỗ (Trớc đã không vẹn tiết để theo chồng

Trang 12

Sau lại nỡ can tâm mà hàng giặc)

Chính vì “ không can tâm mà hàng giặc” nên nàng mới chịu số phận nh vậy

Cái chết của nàng đã minh chứng cho tính cách, cho phẩm chất cao đẹp của

Lệ Nơng.

Qua một số tác phẩm trên, ta thấy thơ và từ quả là đã có vai trò tíchcực trong việc thể hiện cá tính, tài năng và cái chí của nhân vật

2.2 Thơ và từ là phơng tiện để diễn tả nội tâm của nhân vật.

Thơ trung đại bên cạnh để tỏ chí “ngôn chí” còn để diễn tả nội tâm,tâm trạng bên trong của con ngời Ngôn từ thơ ca ít nhng ý lại nhiều do “ýtại ngôn ngoại”.Tính hàm súc trong thơ khiến thơ nhiều ý nghĩa, mang đợcnhiều nội dung và hơn hết, nó diễn tả thành công đợc thế giới bên trong củacon ngời Tuy nhiên thơ trung đại chủ yếu mang tính chất tỏ chí, ngôn chí.Việc thể hiện tình cảm “nhi nữ thờng tình” đợc từ thể hiện một cách thấu

đạt và thành công hơn Đa cả thơ và từ vào tác phẩm, tác giả Nguyễn Dữ đãlàm cho thế giới bên trong nhân vật hiện lên đầy đủ; các cung bậc tình cảm

đợc miêu tả một cách tỉ mỉ qua những bài thơ, bài từ trong tác phẩm

Trong Truyền kỳ mạn lục “nội tâm, cảm giác của nhân vật đợc thể

hiện bằng thơ Các nhân vật hầu hết đều làm đợc thơ”[7,352] Thơ và từkhông chỉ chứng tỏ tài năng của nhân vật (cả tài năng của tác giả) mà trênhết nó còn thể hiện tâm t tình cảm của nhân vật trong tác phẩm ở đây “thơkhông chỉ đợc xem nh một nhã thú của đời sống tinh thần”[7,352] mà nócòn là cái thế giới bí ẩn, cái khát khao ớc muốn của con ngời Những bàithơ, bài từ nhân vật làm ra đều là những cảm xúc, suy nghĩ trong sâu thẳmtâm hồn họ

Trong Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu, Trọng Quỳ khi nhận

đ-ợc tin vợ đã vội vàng thu xếp để về quê Sau bao nhiêu năm xa cách nay gặplại vợ, chàng rất mừng và vui sớng Niềm vui sớng ấy đã phải trả giá chobao nhiêu năm tủi hờn, sầu đau nơi đất khách quê ngời Trong đêm sumhọp chàng đã ngâm một bài thơ Bài thơ diễn tả nỗi lòng của chàng khi phải

xa quê hơng Bài thơ còn có cả niềm vui khi nhận đợc tin nhà của chàng Rõràng ở đây không hề có cuộc đối thoại nào giữa vợ chồng Nhị Khanh, nhng

Trang 13

tấm lòng của ngời chồng đã đợc thể hiện qua bài thơ của chàng Bao năm

xa cách bởi “số anh riêng lắm gian truân cũng kỳ”, rồi “chia tay một sớm ra

đi, trờng đình chén rợu phân ly rớc mời”, chàng đã phải sống trong cảnh:

Y y sầu lĩnh kiện Nhiễu nhiễu cách phong trần (Sầu treo đỉnh núi chơi vơi Mịt mù gió bụi cách vời xa xăm).

Hay:

Mắt mòn trông ngóng quê nhà Lòng đau nghĩ nỗi phơng xa lạc loài (dịch)

Dù phải sống trong cảnh đời “bê tha” vì nghèo, sống trong cảnh nỗi nhớ cứdày vò nhng khi nhận đợc tin nhà,chàng rất vui mừng Vui mừng bởi :

Hay đâu tin đến bất ngờ Ngời tiên còn vẫn yêu vì cha thôi (dịch)

Sau bao năm xa cách, ngời vợ ở quê nhà vẫn nhớ thơng và yêu chàng hếtmực Điều đó đã khiến chàng quên hết những tháng ngày gian khổ đã qua

mà hớng tới ngày sum họp Quả thật bài thơ Trọng Quỳ làm ra “từng chữ,tững chữ đều từ cõi lòng viết ra”[1,9] cả Những câu thơ ấy đã diễn tả hộTrọng Quỳ cái tâm t tình cảm của chàng

Thơ để nói chí, từ để tả tình; nhng thơ cũng có thể để tả tình Cái tìnhtrong thơ, từ có khi không đợc bộc lộ trực tiếp, mà nó nằm trong câu chữ.Thể hiện tình cảm bằng thơ, từ có cái gì đó sâu hơn, đúng hơn cung bậc tìnhcảm và khiến ngời đọc dễ hình dung hơn so với những lời nói trần thuật Đó

là những u điểm mà thơ và từ đem lại

Trong Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây , Hà Nhân là học trò ở quê lên kinh

trọ học đã gặp hai ngời con gái xinh đẹp Họ đã có những ngày tháng vui vẻbên nhau Một lần khi Hà Nhân khen nàng Liễu là “mỹ nhân nhan sắc đẹp

nh hoa” thì nàng Đào đã “lặng lẽ cúi đầu” Cái cúi đầu “xấu hổ không dám

đến nữa” ấy là bởi nàng nghĩ Hà Nhân đã “thiên vị”, để “một cành héo, mộtcành xuân” Đó chính là suy nghĩ của riêng nàng Còn với Hà Nhân, chàng

Trang 14

lại không nh Đào nghĩ Với chàng, chẳng có” hoa nào bỏ héo? lá nàoxuân?” cả mà lúc nào cũng “ái ân cha hề lệch cán cân” Hai bài thơ tứ tuyệtcủa Đào và Hà Nhân chính là suy nghĩ, là tình cảm của chính họ.

Thế giới bên trong của nhân vật trong truyện này còn đợc thể hiệnqua những bài ca Hà Nhân khi đợc tin nhà phải về quê Trớc khi chàng ra

đi, hai nàng đã đọc một bài ca để từ biệt Hai bài ca biểu lộ những nỗi niềm,tình cảm đang diễn biến trong tâm t của họ Tuy đều thể hiện nỗi buồn khiphải chia tay, đều có nớc mắt nhng ở hai nàng lại có biểu hiện khác nhau vàcung bậc tình cảm cũng có phần khác nhau

Trong lời ca của nàng Liễu, kể lại tuần tự của cuộc gặp gỡ, rồi gắn bónên khi chia lìa sự buồn thơng là không tránh khỏi Nàng đã khóc trớc hoàncảnh hiện tại, đã buồn bã, khô héo khi phải tiễn ngời đi:

Bon bon xe ruổi trời mai, Lòng em khô héo tiễn ngời đờng xa

Bến nam cỏ áy bóng tà Vờn tây một rặng mai già khóc ma.

Cỏ cây rầu rĩ tiêu sơ

Chàng về thiếp luống ngẩn ngơ tâm hồn

Vì chàng hát khúc nỉ non, Biệt ly để nặng nỗi lòng cho ai (dịch)

Đó chính là những gì đang diễn ra trong tâm hồn nàng trớc cảnh chia

ly Cái tâm trạng buồn đau này đã lây đến cả cảnh vật xung quanh “ Cáingẩn ngơ tâm hồn”, cái “khô héo” của “lòng em” đã khiến cho “mai giàkhóc ma”, cho “cỏ cây rầu rĩ tiêu sơ” Bởi đã có những ngày “năm tròn chăngối vừa êm”, bởi “duyên cha buộc mà lòng đã trao” nên nỗi buồn, nỗi sầukhi phải chia tay với ngời mình yêu là điều dễ hiểu

Còn Đào, nàng cũng rất buồn khi phải xa Hà Nhân Nàng cũng đãcảm thấy cảnh vật thật buồn “khói chiều thảm đạm, sầu mới mênh mông”.Trong lời ca của nàng có sự nhớ thơng:

Than ôi em hát một khúc chừ, nhớ thơng khôn cùng.

Cũng có nỗi hận:

Trang 15

Hận không sợi tơ chừ, buộc níu chinh an Hận không bờ bãi chừ, gọi khách miên man.

Nàng hận vì mình không có “sợi tơ” để “buộc níu chinh an” buộc níu ngờitình; nàng hận bởi không có “bờ bãi” để ngày ngày “gọi khách miên man”.Nàng hận sự biệt ly bởi đó là sự biệt ly “khó lúc trùng phùng”, biệt ly khôngbiết “bao lại đoàn loan” chính vì vậy sự ra đi của Hà Nhân đã khiến chonàng “ôm mối hờn oan”

Tuy rằng ở đây tác giả phê phán mối tình trái với đạo lý phong kiến ,phê phán ngời học trò chỉ lo “son phấn tình nồng” mà “bút nghiên chí nản”,nhng ông cũng đã nêu lên đợc khát khao hạnh phúc của con ngời Hai bài ca

là tâm t, là dòng lệ của ngời ca Chính vì vậy nó đã làm cho Hà Nhân rất xúc

động, “rng rng hàng nớc mắt”

Việc thể hiện tâm lý, tình cảm có vai trò quan trọng trong việc xâydựng tính cách nhân vật Tính cách nhân vật đợc hiện lên một phần qua suynghĩ, những tâm t tình cảm của nhân vật “Đối với việc khắc hoạ nhân vậttính cách, việc miêu tả tâm lý, cá tính đóng vai trò cực kỳ quan trọng ở đâycác nhà văn chú ý tới các chi tiết thể hiện đời sống bên trong, các trạng thái

cảm xúc, các quá trình tâm hồn nhân vật” [5,293] Trong tác phẩm Truyền

kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã xây dựng thành công tính cách nhân vật một

phần quan trọng là từ việc miêu tả tâm lý nhân vật này

Trong Chuyện nàng Thuý Tiêu, bức th mà D Nhuận Chi viết cho

nàng Thuý Tiêu-ngời vợ yêu của chàng đã bị quan Trụ Quốc họ Thân bắt đi

- chứa đựng tấm lòng yêu dấu của một ngời chồng đối với vợ.Trong bức th

ấy có cả sự việc chàng và Thuý Tiêu phải xa nhau, việc chàng gặp lại ThuýTiêu trong hoàn cảnh chỉ biết đứng nhìn theo kiệu của nàng đi xa; còn có cảtâm t tình cảm của chàng Rõ ràng dùng văn vần để diễn tả tâm trạng củamình, chàng đã làm cho ngời vợ thấu hiểu nỗi buồn đau mà chàng đang phảigánh chịu, trải qua Trong bức th ấy hiện lên hình ảnh một ngời chồng

đang rất đau khổ, buồn bã:

Trông ai nớc mắt thầm rơi Tấc gang bỗng cách đôi nơi mịt mùng Cửa hầu sâu thẳm nghìn trùng

Trang 16

Sớm hôm khách những riêng lòng ngẩn ngơ.

(dịch)

Hay:

Ngời nơng trớng gấm êm ru Ngời ôm một mảnh chăn cù giá đông Ham vui nệm tía màu hồng Biết chăng kẻ chốn th phòng thơng đau (dịch)

Ngời vợ yêu dấu ngày nào trong vòng tay mà giờ đây chàng chỉ đợc

“trông” mà “nớc mắt thầm rơi” cho cảnh ngộ của mình và nàng Việc mất đingời vợ yêu đã khiến lòng chàng “ ngẩn ngơ” Chàng không biết ngời vợ giờ

ở nơi “trớng gấm êm ru”, nơi “nệm tía màu hồng” có biết, hiểu cho hoàncảnh, tình cảm của chàng, của một kẻ đang “một mảnh chăn cù giá đông”của “kẻ chốn th phòng thơng đau” hay không? Và việc ớc mong đợc đoàn tụ

đa Thuý Tiêu về cho chàng? Việc “tìm hơng trả bích” còn có thể ao ớc đợckhông khi mà Thuý Tiêu giờ đây ở nơi “ của hầu sâu thẳm nghìn trùng” Nhuận Chi đã vậy, còn nàng Thuý Tiêu thì sao? Nàng Thuý Tiêu, khi

bị quan Trụ Quốc bắt đi cũng rất đau khổ Tuy đợc sống trong cảnh “ nệmtía màu hồng”, trong “ trớng gấm êm ru” nhng tâm hồn nàng trĩu nặng sầu

đau Nàng cũng giống ngời đời xa “đã coi rẻ giàu sang”, “xem khinh sung ớng”, một lòng một dạ với ngời chồng yêu dấu, dù ngời chồng ấy có là “anhhàng bánh” hay chăng đi nữa Nàng đã thổ lộ tâm sự của mình bằng mộtbức th Trong bức th ấy,Thuý Tiêu hiện lên với những tình cảm yêu thơng,

s-sự nhớ mong đối với ngời chồng:

Trang 17

Chơng đài cành liễu nghiêng chao Biệt ly mag nặng biết bao oán sầu.

Duyên may hoá rủi ngờ đâu Ngậm hờn nuốt tủi chịu rầu cho xong.

Bẽ bàng đỗi khác t dong Tóc xanh biếng chải môi hồng biếng tô.

Thơng xuân vách phấn đèn lu Trông gơng ngấn lệ mơ hồ ngại soi.

(dịch)

ở đây nỗi buồn đợc cụ thể hoá, đợc biểu hiện bằng những hành động cụthể của Thuý Tiêu Trong lòng nàng “mang nặng biết bao oán sầu” Nàngbuồn đến phải “nuốt tủi”, “chọn rầu cho xong” để mong có ngày đợc đoànviên với ngời chồng Nàng buồn đến quên cả trang điểm - là công việc cầnthiết của ngời phụ nữ ở đây ta có thể thấy đợc rằng Thuý Tiêu rõ ràng làmột con ngời chung thuỷ, yêu chồng Nàng không chịu số phận hiện tại,nàng kiên quyết đấu tranh giành lạihạnh phúc.Và nàng đã da ra một lời hẹn

Sự chia cắt của đôi vợ chồng ấy đã gây bao nhiêu sự phiền muộntrong lòng họ Nhng đau dớn nào bằng ở cùng một nơi mà không đợc thấynhau, không đợc chuyện trò cho bõ nhớ thơng trong những ngày xa cách.Chàng đợc quan Trụ Quốc mời vào dinh nhng lại không cho gặp Thuý Tiêu,

mà chỉ cho chàng giữ việc ở phòng văn Những tháng ngày đau khổ xót xakhi ở trong dinh của Trụ Quốc đã đợc thể hiện rõ trong hai bài thơ tứ tuyệt

đề trên vách của Nhuận Chi làm Hai bài thơ là tâm trạng, là khối sầu chấtchứa trong con ngời Nhuận Chi:

Trớc thềm giày rách dẫm trên rêu Cửa khép phòng văn lạnh hắt hiu

Trang 18

Bằn bặt tin xanh tin chẳng lại Sân không vắng vẻ bóng trời chiều

“khóc thơng hoài” Chàng đã khóc từ cõi lòng, chứ đâu còn là tên mặt chữsuông mà thôi

Trong Chuyện Lệ Nơng ta bắt gặp bài thơ cách luật khi nàng kể lại sự

việc cho chồng nghe Trong những năm loạn lạc để bảo vệ trinh tiết, Lệ

N-ơng thà chết ở ngòi lạch, còn hơn làm cô hồn đất khách và nàng đã tự tử.Cảm cái khí tiết và tình cảm của nàng, Phật Sinh đã khóc và nói lên mong -

ớc đợc gặp nàng Cuộc gặp gỡ ấy đầy xúc động với bao tâm t Lệ Nơng đợcchia sẽ cùng chồng Đó là những nỗi đau, nỗi buồn:

- Hờn ôm lầu đỏ, từng trải hôm mai.

- Ngày tháng lửa lần trộm sống, Dòng quang mòn mỏi riêng buồn (dịch)

Là khí tiết của nàng:

-Trớc đã không vẹn tiết để theo chồng Sau lại nỡ can tâm mà hàng giặc.

Gửi một chiếc thân ở trong muôn chết, Trải một ngày nh thể ba thu (dịch)

Những câu thơ này bộc lộ sâu sắc tính cách của Lệ Nơng

Trang 19

Trong Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, ta biết Từ Thức là một nho sĩ nhng

không ham lợi danh phồn hoa Dù đã ở cõi tiên, sống cuộc đời êm ấmbên ngời vợ nhng trong lòng Từ Thức củng canh cánh nỗi nhớ quê hơng,

đất nớc Những bài thơ Từ Thức đề trên vách đều biểu hiện tấm lòng nhớquê của chàng Đó là một nỗi nhớ khôn nguôi:

Dứt tiếng canh đà trời sắp sáng Lòng quê theo dõi áng mây Tần

Hay:

Sóng nớc bao quanh núi một vùng Mộng về quê cũ lối không thông Mây vàng nớc biếc thân nơng đậu, Trần giới xa coi ngút mịt mùng (dịch)

Nh vậy chúng ta có thể thấy thơ và từ đã tham gia đắc lực vào việc thểhiện tâm lý, tình cảm của nhân vật, nếu dùng văn xuôi khó mà diễn tả đợc

2.3.Thơ và từ là phơng tiện diễn tả hành động, lời nói của nhân vật.

“Nhân vật thờng bộc lộ mình nhiều nhất qua việc làm, hành động , ý nghĩ”[5,291]

ở trong Truyền kỳ mạn lục hành động và lời nói của nhân vật khá rõ

ràng, chi tiết, nhất là trong khi tác phẩm văn học trung đại thờng diễn tảnặng nề ớc lệ Nhân vật có những hành động, lời nói cụ thể để biểu lộ cátính cá nhân của mình Những nhân vật thiện thì thờng có những hành động

đẹp, nh Từ Thức lấy áo chuộc ngời con gái; Nhị Khanh thì tự vẫn để bảo vệtrinh tiết; Lệ Nơng cũng thà chết chứ không làm cô hồn nơi đất khách Vànhững lời nói, suy nghĩ của họ cũng đầy tình nghĩa Tuy nhiên vẫn có nhữnghành động của nhân vật không thể miêu tả bằng lời, hoặc miêu tả bằng lời

sẽ không còn giá trị nữa Lúc này tác giả đã khéo léo vẽ hành động của nhânvật bằng những ý thơ, ý từ Và số lợng nhân vật giao tiếp với nhau bằng thơ

và từ không phải là ít trong Truyền kỳ mạn lục.

Nh trong Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu, khi Trọng Quỳ bày

tỏ tình cảm, nỗi nhớ của mình với ngời vợ, nếu không có những hành động

Trang 20

cụ thể, chúng ta cũng khó có thể hình dung đợc tâm sự và hoàn cảnh khắcnghiệt mà chàng đã sống Chàng đã từng:

Từng khi ngủ dới Đèo Ngang Từng khi bến Diễn ngâm vang điệu sầu

Lệ tuôn, Vơng Xán lên lầu Sầu ôm, Đỗ Phủ ngâm câu cảm hoài.

(dịch)

Với những câu thơ ấy ta có thể hình dung đợc hoàn cảnh, tâm t của mộtngời chồng xa vợ, một ngời con xa quê hơng Chàng cũng giống nh VơngXán thủa xa vì nhớ nhà hay lên lầu ngắm làm thơ Nỗi nhớ nhà, nhớ quê h-

ơng, nhớ vợ luôn day dứt trong lòng chàng, và rồi cũng giống nh Đỗ Phủ đãtừng sầu mà ngâm câu cảm hoài vậy

Trong Chuyện cây gạo, cuộc hoan lạc của đôi trai gái, tình trạng trong

chốn buồng the không đợc miêu tả bằng những lời văn; Hành động của nhânvật cũng không đợc thể hiện bằng lời trần thuật Tác giả đã sữ dụng nhữngcâu thơ, từ, những điển tích làm cho chúng ta hình dung thấy đợc một sốhành động của nhân vật Nh:

Măng ngọc vuốt ve nghiêng xuyến trạm Dải là cởi tháo trút hài thêu

Hay:

Đầu cài én ngọc hình nghiêng chếch Lng thắt ve vàng dáng oẻ oai.

(dịch)

Cũng là miêu tả chốn buồng the, trong Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây, tác

giả cũng đã thể hiện hành động của nhân vật bằng bài thơ tứ tuyệt và bátcú:

-Gió xuân xin nhẹ nhàng nhau, Thân non mềm chịu đợc đâu phũ phàng

Hay:

-Tài lang mặc sức vin cành

Đào non nhận lấy những nhành thắm tơi.

Hoặc:

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Tú Châu – Trần Thị Băng Thanh – Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục – NXBVH.H. 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn đăng tân thoạ"i và "Truyền kỳ mạn lục
Nhà XB: NXBVH.H. 1999
3. Nguyễn Phạm Hùng -Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ - Tạp chí văn học số 2/ 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục
6. Trần ích Nguyên – Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục – NXBVH 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn đăng tân thoại" và "Truyền kỳ mạn lục
Nhà XB: NXBVH 1999
2. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi – Từ điển thuật ngữ văn học – NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội– 2000 Khác
4. Đinh Gia Khánh – Bùi Duy Tân – Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII – NXBGD 2000.Phạm Thị Thu Hạnh - 50 - Khác
5. Phơng Lựu – Trần Đình Sử – Lý luận văn học – NXBGD 1997 Khác
7. Trần Đình Sử – Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam – NXBGD1999 Khác
8. Trần Ngọc Vợng - Đinh Thanh Hiếu – Từ – Một chủng loại còn ít đ- ợc biết tới – Nghiên cứu văn học số 9/ 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w