Nhân vật trữ tình trong thơ thực ra là hình tợng nhà thơ” và “nhân vật trữ tình là con ngời đồng dạng” của tác giả...nhng không nên đồngnhất đơn giản nhân vật trữ tình với tác giả, bởi t
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Thiếp là nhà thơ mà cuộc đời và sự nghiệp vừa có những
điều bình thờng vừa có những điều khác thờng Khi đang có điều kiện làmquan, Nguyễn Thiếp lại bỏ về ở ẩn Ông đợc Chúa Trịnh mời ra làm quankhi đã ngoài 60 tuổi Sau ba lần khớc từ Nguyễn Thiếp lại hợp tác với TâySơn vốn bị coi là ngụy triều Theo lẽ thờng, những cách hành xử đó không
đợc đề cao trong xã hội đơng thời, tuy nhiên Nguyễn Thiếp vẫn đợc tôn xng
là phu tử (nghĩa là bậc thầy của thiên hạ) Thơ văn của một tác giả nh vậyrất đáng đợc nghiên cứu
1.2 Nguyễn Thiếp sống trong thời kỳ lịch sử có những biến động dữdội ảnh hởng mạnh mẽ đến t tởng tình cảm nhà thơ Nghiên cứu thơ ông sẽhiểu thêm về đời sống tinh thần của Nho sĩ, của thời đại đầy biến động vàgóp phần nhận thức văn học đơng thời
1.3 Nguyễn Thiếp đợc tôn xng là La Sơn phu tử nghĩa là đợc coi nhmột mẫu ngời điển hình của nhà nho Việt Nam Vì vậy nghiên cứu thơ ôngkhông chỉ hiểu về thơ một tác giả mà còn góp phần hiểu thêm về thơ củanhà nho Việt Nam nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp, đầu tiên phải kể đến
công trình La Sơn phu tử của Hoàng Xuân Hãn Đây là một công trình
nghiên cứu khá đầy đủ và tỉ mỉ về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Thiếp.Tác giả đã tiếp cận đợc với nhiều nguồn t liệu gốc Trong công trình này cóthơ văn chữ Hán của Nguyễn Thiếp đợc dịch, tuy nhiên cách bố cục và sắpxếp thời gian cũng nh cách đánh số các bài thơ không thống nhất Đây làcông trình rất có giá trị trong việc nghiên cứu về Nguyễn Thiếp
Công trình La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp của tác giả Nguyễn Sỹ Cẩn
(Nxb nghệ An, 1998) cũng bàn đến sự nghiệp thơ của Nguyễn Thiếp Côngtrình này có bổ sung một số tài liệu mới đợc phát hiện
Trang 2Công trình Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp ba bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam của Trần Lê Sáng (Nxb Giáo dục, 1990) nêu
những đóng góp của Nguyễn Thiếp trên lĩnh vực giáo dục cùng những bổ sung
về các giai thoại trong dân gian về Nguyễn Thiếp còn lu lại đến ngày nay
Trong Lịch sử xã Nam Kim, (Nxb Nghệ An, 2003), tác giả Phạm Hồng
Phong đã viết về vùng đất có thể coi là quê hơng thứ hai của Nguyễn Thiếp.Nơi ông gắn bó những năm tháng cuộc đời và là nơi yên nghỉ vĩnh hằng củanhà thơ này
Ngoài ra còn có nhiều công trình về Nguyễn Thiếp đợc đăng tải trênmột số sách báo hay tạp chí nh:
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá
Thế (1992), Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Hồ sơ di tích và danh thắng (1993), Mộ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp,
Sở văn hóa và thông tin Nghệ An
Hồ sơ di tích lịch sử danh nhân (1993), Đền thờ La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp, Sở văn hóa và thông tin Hà Tĩnh
Nghệ An ký, Bùi Dơng Lịch (1993), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, Nguyễn Lơng Bích, Phạm
Ngọc Phụng (1996), Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội
Lịch sử và văn hóa Việt Nam những gơng mặt trí thức (tập 1), Nguyễn
Quang Ân (1998), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
Danh nhân Hà Tĩnh tập I, Nhiều tác giả (1998), Sở Văn hoá Thông
tin Hà Tĩnh
Nam Đàn xa và nay, Nhiều tác giả (2000), Nxb Văn hóa Thông tin Danh tớng Việt Nam (tập 3) – Danh t Danh t ớng trong chiến tranh nông dân thế kỷ XVIII và phong trào Tây Sơn, Nguyễn Khắc Thuần (2001), Nxb Giáo
dục
Bản sắc văn hóa của ngời Nghệ Tĩnh, Nguyễn Nhã Bản (2001), Nxb
Nghệ An
Trang 3Tạp chí văn hóa Hà Tĩnh, số 64-65, tháng 11 và 12 năm 2003.
Can Lộc một vùng địa linh nhân kiệt, Nhiều tác giả (2005), Nxb Chính
trị quốc gia Hà Nội
Nghệ An lịch sử và văn hoá, Ninh Viết Giao (2005), Nxb Nghệ An Nguyễn Huệ với Phợng Hoàng Trung Đô, Chu Trọng Huyến (2005),
Nxb Nghệ An
Những công trình này chỉ giới thiệu sơ lợc về danh nhân Nguyễn Thiếphay bàn luận về việc Nguyễn Thiếp cộng tác với Tây Sơn
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những bài thơ chữ Hán của La Sơn phu tử NguyễnThiếp đã đợc dịch ra tiếng Việt và đợc công bố rộng rãi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu thơ chữ Hán của La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp trong hai công trình: Thơ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp của Nguyễn Sĩ Cẩn (1998) do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành và công trình Tác phẩm đợc tặng giải thởng Hồ Chí Minh (phần La Sơn phu tử) của tác giả Hoàng Xuân
Hãn (2003), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
4 Mục đích nghiên cứu
4.1 Khái quát những giá trị nổi bật nhất trong t tởng tình cảm củaNguyễn Thiếp với lý tởng sự nghiệp
4.2 Nhận thức đợc tình cảm của nhà thơ dành cho mảnh đất và conngời Hoan Châu, ngày nay là Nghệ Tĩnh
4.3 Làm rõ đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp
5 Phơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi luôn gắn chặt sự nghiệp thơ Nguyễn Thiếp với hoàn cảnh xã hộiViệt Nam đơng thời Đây là thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn, ýthức hệ phong kiến và giới nho sĩ bộc lộ nhiều hạn chế Trong hoàn cảnh đónhững trí thức có tài năng và lơng tri không thể chỉ hành xử theo các chuẩn mựctruyền thống
Luận văn sử dụng những phơng pháp nghiên cứu văn học phổ biến nhphơng pháp phân tích, phơng pháp tổng hợp chú trọng phơng pháp lịch sử
và phơng pháp so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu những phơng diện cơ bản nhất của thơ chữ Háncủa La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, nhìn nhận thơ chữ Hán của tác giả trong
Trang 4mối liên hệ với các sự kiện của đời sống cá nhân thi sĩ và hoàn cảnh lịch sửxã hội đơng thời
Chơng 1 Hình tợng trữ tình trong thơ chữ Hán
của Nguyễn Thiếp
1.1 Khái niệm hình tợng nhân vật trữ tình
Hình tợng là sự phản ánh hiện thực bằng nghệ thuật với những hiện ợng cụ thể, sinh động và điển hình, đợc nhận thức bằng cảm tính Hình tợngvăn học là bức tranh sinh động của cuộc sống đợc xây dựng bằng ngôn từ,nhờ sự sáng tạo và đánh giá của ngời nghệ sĩ
t-150 thuật ngữ văn học viết: “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ
thuật, nó mang tính ớc lệ, không thể bị đồng nhất với con ngời có thật, ngaykhi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật”[5,250] Tác giả đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tác thơ ca, là yếu tốnằm ngoài hệ thống các mối liên hệ nghệ thuật Còn con ngời trữ tình trong
Trang 5thơ là một hình tợng nghệ thuật, đợc khái quát hóa theo quy luật của nghệthuật, khác con ngời tác giả ở ngoài đời
Tác giả luôn để lại dấu ấn của mình, trong quá trình sáng tác Dù cóvai trò rất quan trọng nhng tác giả vẫn là yếu tố nằm ngoài hệ thống cácmối liên hệ nghệ thuật Hình tợng tác giả có mối quan hệ biện chứng vớihình tợng nhân vật trữ tình trong thơ, giữa chúng tồn tại một khoảng cáchgiữa thực tế và sáng tạo, h cấu
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Nhân vật trữ tình là hình tợng
chủ thể tác giả trong loại trữ tình mà thơ là thể loại biểu hiện tập trung nhấtcủa loại trữ tình Nhân vật trữ tình trong thơ thực ra là hình tợng nhà thơ” và
“nhân vật trữ tình là con ngời đồng dạng” của tác giả nhng không nên đồngnhất đơn giản nhân vật trữ tình với tác giả, bởi trong thơ trữ tình, nhà thơ xuấthiện nh “ngời đại diện cho xã hội và cho nhân loại” nhà thơ tự nâng mìnhlên một tầm khác với cái tôi tầm thờng cá biệt” [20, 201]
Hình tợng nhân vật trữ tình là một kiểu hình tợng nhân vật đặc biệttrong tác phẩm trữ tình và là một trong những phơng tiện nghệ thuật để tácgiả chiếm lĩnh hiện thực đời sống Hình tợng nhân vật trữ tình đợc nhà thơxây dựng nên trong tác phẩm nhằm thể hiện quan niệm, t tởng, tình cảmriêng về con ngời và thế giới Hình tợng nhân vật trữ tình trong tác phẩm chủyếu đợc miêu tả qua cảm xúc, tâm trạng, qua sự suy ngẫm về bản thân và
đời sống Vì thế, ngời đọc chỉ có thể hình dung ra hình tợng nhân vật trữtình thông qua cách nhìn nhận đời sống, qua giọng điệu, qua tâm trạng đợcbộc lộ trong tác phẩm Cảm xúc, tâm trạng nhân vật trữ tình chính là nộidung tác phẩm trữ tình, phân tích tác phẩm trữ tình là phân tích cảm xúc, tâmtrạng của con ngời bộc lộ trong đó Tâm trạng, cảm xúc của con ngời làmthành nội dung cơ bản của tác phẩm trữ tình, điều ấy cho thấy tác phẩm vănhọc nào cũng trực tiếp đi vào khám phá và bày tỏ cảm xúc, suy t của tác giả
về hiện thực cuộc sống Đây không chỉ là cảm xúc riêng của cá nhân nhà thơ
mà là cảm xúc đợc kết tinh cao độ, mang tính đại diện và phổ quát cao
Không nên đồng nhất hình tợng trữ tình với cái tôi trữ tình trong thơ.Cái tôi trữ tình là sự thể hiện cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới vàcon ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chứccác phơng tiện của thơ trữ tình “Thơ là một thể loại mà ở đó tác giả trực tiếp
tự trình diễn mình thông qua thế giới nội tâm của chính mình Cái tôi cùng vớithế giới tri giác bằng cảm giác, cảm xúc và ấn tợng…bộc lộ một cách hoànbộc lộ một cách hoàntoàn công khai hơn bất cứ ở thể loại nào” [40, 128] Cái tôi trữ tình không chỉ
Trang 6là cái tôi nhà thơ, nó là cái tôi thứ hai hoặc cái tôi đợc khách thể hoá, đợcthăng hoa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật Cái tôi nhân cách (hay còngọi là cái tôi của nhà thơ trong cuộc sống) là sự ý thức về con ngời và cuộcsống, tính cách riêng biệt của ngời này so với ngời khác Trong đời sống,cái tôi cá nhân có sự chi phối đến mọi hoạt động, lời nói, t tởng, tình cảm,thái độ của ngời đó Khi đi vào thơ ca, cái tôi nhân cách là nền tảng, là cốtlõi để tạo nên cái riêng biệt, độc đáo của nhà thơ này so với nhà thơ khác.Cái tôi cá nhân trong sáng tác của nhà thơ tạo nên đợc một thế giới nghệthuật riêng, một cái nhìn riêng về cuộc đời, gắn với một hệ thống phơngthức, phơng tiện biểu hiện độc đáo
Lý luận văn học của nhóm tác giả Trần Đình Sử, Phơng Lựu,
Nguyễn Xuân Nam đa ra cách hiểu cụ thể hơn về nhân vật trữ tình: “Nhânvật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể nh nhânvật tự sự và kịch Nhung nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc,trong cách cảm, cách nghĩ Qua những trang thơ ta nh bắt gặp tâm hồn ng-
ời, tấm lòng ngời Đó chính là nhân vật trữ tình” [38, 359]
Theo Lại Nguyên Ân trong công trình 150 thuật ngữ văn học, “Nhân
vật trữ tình là kẻ song sinh “đồng dạng” với tác giả” và “quan hệ nhân thânxã hội của nhà thơ một cá nhân có tiểu sử xác định với nhân vật trữ tình củaanh ta cũng giống nh quan hệ giữa nguyên mẫu trong đời thực với điển hìnhnghệ thuật” [5, 252]
Tác phẩm trữ tình làm sống dậy thế giới chủ thể của hiện thực kháchquan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy t, tâm trạng, nỗi niềm.Những tâm trạng, cảm xúc trong tác phẩm trữ tình đợc bộc lộ một cách trựctiếp kiểu “tự bạch”, “tự thuật” Và mặc dù những rung động, tình cảm này
đợc nảy sinh trong những hoàn cảnh có tính cá biệt, gắn liền với những đặc
điểm đời sống cá thể Trong thơ, nhân vật trữ tình luôn cảm xúc thực tạitrên t cách phổ quát, động chạm đến những cái chung nhất của sự tồn tạicon ngời Nói cách khác, đó là những cảm xúc mang tính kết tinh cao, dovậy tiếng nói trữ tình có thể trở thành tiếng lòng thầm kín của con ngời.Hình tợng nhân vật trữ tình là đối tợng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, lànguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả
Nhân vật trữ tình thờng hiện lên dới hai dạng thức, một là dạng tácgiả tự thuật tâm trạng, hai là con ngời tác giả nhập vai đối tợng miêu tả đểbày tỏ tâm trạng Sự bày tỏ suy ngẫm và cảm xúc một cách trực tiếp, chân
Trang 7thực, có độ tin cậy cao, khiến ngời đọc luôn tin vào nhân vật trữ tình nh mộtcon ngời có thực.
Trần Đình Sử nhận xét: “Thực ra, thơ trữ tình đích thực thờng nói đếnnhững điều phổ quát của mọi tâm hồn, và điều đó đã làm cho mọi tâm hồn
Nội dung của tác phẩm trữ tình đợc thể hiện thông qua hình tợngnhân vật trữ tình “Đó là hình tợng con ngời đang trực tiếp thổ lộ những suynghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm” [55, 184]
Tác phẩm văn học nào cũng chứa đựng những quan niệm, t tởng, tìnhcảm riêng của nhà văn đối với con ngời và cuộc sống Tuy nhiên, mỗi loạitác phẩm có những phơng thức, phơng tiện biểu hiện khác nhau Do nhucầu phản ánh hiện thực đời sống trong tính khách quan của nó, nên trongtác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhânvật có đờng đi và số phận của chúng Trong kịch, bằng đối thoại và độcthoại, tác giả thể hiện tính cách và hành động con ngời thông qua nhữngmâu thuẫn xung đột Tác phẩm trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trực tiếp đi vàokhám phá thế giới chủ quan của con ngời, trực tiếp thể hiện những t tởng,tình cảm, tâm trạng, suy nghĩ của chủ thể trữ tình Trong thơ trữ tình, hiệnthực khách quan đợc tái hiện thông qua lăng kính cảm xúc chủ quan củanhà thơ
Nh vậy, hình tợng nhân vật trữ tình là những bộ phận của hình tợngcái tôi nghệ thuật, mà nhờ nó hình tợng cái tôi nghệ thuật đợc biểu hiện mộtcách sinh động, sáng rõ, cụ thể hơn Thông qua những cảm xúc vui, buồn,giận hờn, hạnh phúc hay đắng cay của nhân vật trữ tình đợc lặp đi lặp lạimột cách bền vững và độc đáo mà tạo nên hình tợng trong hình tợng cái tôinghệ thuật Nói cách khác, nhân vật trữ tình chính là sự khách quan hóahình tợng cái tôi trong thơ ca Do đó khi đi vào nghiên cứu hình tợng nhânvật trữ tình trong thơ thực chất đi vào nghiên cứu hình tợng cái tôi nghệthuật ở cấp độ nhỏ, cụ thể
Hình tợng cái tôi nghệ thuật là hình tợng trung tâm trong tác phẩmthơ Nó chỉ những nét riêng biệt, sự độc đáo trong sáng tạo giữa nhà thơ này
Trang 8với nhà thơ khác Nghiên cứu nhân vật trữ tình thực chất là nghiên cứu hìnhtợng cái tôi nghệ thuật trong những kết cấu văn bản cụ thể, gắn liền vớinhững hệ thống hình ảnh, hình tợng sinh động Hình tợng thơ là bức tranhsinh động và tơng đối hoàn chỉnh về cuộc sống đợc xây dựng bằng hệ thốngcác đơn vị ngôn ngữ có vần điệu với trí tởng tợng sáng tạo và cách cảmnhận của nhà thơ
Hình tợng trữ tình không chỉ phụ thuộc vào thể loại mà trong mỗi thểloại còn có dấu ấn của thời đại Hình tợng trong thơ trung đại chịu ảnh hởngcủa quan niệm về tự nhiên, xã hội và con ngời của đơng thời
1.2 Hình tợng ẩn sĩ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp
1.2.1 Những phẩm chất phổ quát của hình tợng ẩn sĩ trong văn học trung đại Trung Quốc
Trong xã hội Trung Quốc cổ đại và trung đại, thơ ca đã thâm nhậprộng rãi vào đời sống con ngời Mỗi trí thức trớc hết là một thi nhân Thơ calàm cho tâm hồn ngời thêm thanh khiết, giải toả đợc cả nỗi bất hoà của conngời với hiện thực đen tối của xã hội, làm xúc động bản tính lãng mạn củacon ngời, làm cho họ vợt lên trên đời sống trần thế đầy những phức tạp, làmcho ngời kết bạn với nhau, cao hơn nữa có thể trở thành tri kỷ, tri âm Tìnhbạn dựa trên thơ ca không phân biệt sang hèn, tuổi tác
Lòng yêu thiên nhiên tràn trề trong thơ Trung Quốc là một di sản tinhthần quan trọng, là một trong những cội nguồn sản sinh hồn thơ ẩn sĩ cùngvới một đời sống rất bình dị chốn thôn dã, không đua chen danh lợi Thơ ẩn
sĩ phản ánh một cuộc sống lý tởng hài hoà với ngời lao động, hoà nhập vớithiên nhiên của ẩn sĩ
Ngời ta đi ở ẩn ban đầu là do bất mãn với thời cuộc không muốn sựnhiễu nhơng đồi bại của xã hội làm vấy bẩn khí tiết, cốt cách thanh cao, lýtởng sống và để bảo toàn sinh mệnh “Về sau, ẩn dật đợc xem là hành độngkhông ham công danh, không phụng sự quyền quý, đợc mọi ngời thừa nhận
là cao sĩ, vẻ vang hơn ngời làm quan” [54, 108] ẩn sĩ còn gọi là u nhân,dật nhân, cao sĩ “ẩn sĩ là ngời có học vấn hữu danh mà ở ẩn” [2, 18], “làngời vốn có học thức và tài năng nhng đau lòng về những đảo lộn chính trịcủa thời đại bèn lánh khỏi xã hội để ẩn náu trong thiên nhiên” [41, 53]
Tác phẩm ẩn sĩ Trung Hoa của Hàn Triệu Kỳ (Cao Tự Thanh dịch
sang tiếng Việt, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001) đã cung cấp một cái nhìn
về đời sống của ẩn sĩ Trung Hoa khá toàn diện Công trình nghiên cứu từnguồn gốc của ẩn sĩ, nguyên nhân ở ẩn, diện mạo muôn hình muôn vẻ của
ẩn sĩ, ẩn sĩ trong mối quan hệ với chính trị đơng thời, tình hình cơm áo, c
Trang 9trú, quan hệ gia đình, xã hội của ẩn sĩ và sở thích ngao du sơn thủy, thởngtrà nếm rợu, dỡng sinh đặc biệt là năng khiếu nghệ thuật
Theo lời ngời dịch “tác giả đã bớc đầu phác họa một cách khá toàndiện về diện mạo của đội ngũ ẩn sĩ suốt mấy ngàn năm ở Trung Quốc”[31, 09] Lịch sử ẩn sĩ cũng lâu đời nh lịch sử quan lại với những con ngời
nh Sào Phủ, Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề, Vơng Nghệ…bộc lộ một cách hoàn họ là những bậc đạidanh, việc làm và khí tiết của họ đã trở thành những điển tích, điển cố, giaithoại cho văn học đời sau
Thế giới ẩn sĩ Trung Hoa muôn hình muôn vẻ với nhiều kiểu ẩn sĩ vìnhiều lý do khác nhau, nguyên nhân ở ẩn phức tạp Chung quy là các trờnghợp sau : Chính trị hắc ám, thế đạo hỗn loạn; tránh loạn rời xa sự nguy hại,
để cầu sự an toàn của bản thân và gia đình; một số ngời ở quan trờng đãnhiều lần lận đận, sau cùng đụng độ tới sứt đầu mẻ trán, lửa lòng nguộilạnh; hoặc có kẻ vốn cha đụng độ, nhng vì ở quan trờng quá lâu, nhìn thấyquá nhiều, vì thế sau cùng rời khỏi chốn thị phi, trở thành ẩn sĩ; tính tìnhvốn đạm bạc, không màng danh lợi, không muốn chịu sự ràng buộc chốnquan trờng hoặc yêu thiên nhiên sơn thuỷ Tóm lại, muốn tiêu dao nhàn tản,
tự do tự tại; có tài thức, có chí tiến thủ công danh mãnh liệt, nhng do chagặp cơ duyên nên đành tạm thời ẩn nhẫn; muốn trực tiếp cầu quan màchẳng đợc, bèn rẽ ngoặt sang đờng tắt Chung Nam
Trong mối quan hệ với chính trị - xã hội đơng thời, các ẩn sĩ cónhững cách hành xử khác nhau Có thể khái quát thành hai loại: một loạikhông hợp tác với chính trị - xã hội đơng thời và một loại hợp tác
Kiểu ẩn sĩ không hợp tác với chính trị xã hội đơng thời là những ngờikhông làm quan nớc loạn, không phục vụ dị tộc Những ẩn sĩ này “bộc lộmột thái độ đối kháng mạnh mẽ với kẻ thống trị đơng thời” “Kiên quyết rời
bỏ quan trờng, không nhận bổng lộc của kẻ thống trị, không chịu hòa mìnhvào dòng đục của quan trờng đen tối” [31, 50-51] Cũng có ẩn sĩ vì “lo nghĩ
về cục diện chính trị của triều đình, bất mãn với chính sách của quốc gia,tức dận bất bình với hệ thống bộ máy cầm quyền từ trung ơng đến địa ph-
ơng, nhng tự mình lại cảm thấy không đủ sức xoay chuyển thời thế” nên
đành giữ “minh triết bản thân” [31, 53]
Hợp tác với chính trị - xã hội đơng thời là những ẩn sĩ không ở trongquan trờng nhng lại là kẻ có thể giảm bớt phiền toái cho triều đình, hóa giảikịp thời nhiều mâu thuẫn ở cấp cơ sở Đây là những ẩn sĩ tài cao, đức trọngchuyên dạy học, đóng cửa viết sách, tuyên tryền lối sống đạo đức, đề cao
Trang 10trung hiếu tiết nghĩa của Nho gia Đặc biệt có những ẩn sĩ lúc thời thế lâmvào hoàn cảnh nguy cấp, tình thế lịch sử gay cấn đã trở thành quân s bày m-
u tính kế giúp đỡ kẻ thống trị Song trong số những ẩn sĩ hợp tác với chínhtrị xã hội đơng thời có kẻ mợn danh nghĩa ẩn sĩ để đi tắt vào đờng quan lộ.Loại này rất xu phụ chính trị đơng thời
Đời sống kinh tế của ẩn sĩ cũng có khác nhau : có ngời nghèo khổ, cóngời d dả, không lo lắng cơm áo Tuy nhiên, với hạng ẩn sĩ nghèo khổ, họchấp nhận “an bần lạc đạo”, nghèo khó nhng trong sạch thanh cao, “a thích
tự nhiên, không ham danh lợi” Với ẩn sĩ có đời sống khá giả, tuy sống một
đời vô u, phóng khoáng nhng không tỏ ra xa hoa, lãng phí; họ đợc nhiều ngòiquý trọng không phải vì họ giàu sang mà vì thông đạt, tự tại an nhiên; thángngày trôi qua đối với họ là tháng ngày tiêu dao, đọc sách ngâm thơ, đánh
đàn, uống rợu, đi đó đây để thởng ngoạn cảnh đẹp của núi sông, trời nớchoặc vui cùng mảnh vờn, miếng ruộng, luống hoa chậu cảnh
Trong các mặt nh hoạt động của đời sống tinh thần nh ngao du sơnthuỷ, ứng xử với thơ, với trà, với rợu, với học thuật và nghệ thuật, với việcdỡng sinh, các ẩn sĩ Trung Hoa cũng đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp của một
đời sống phong phú tích cực, có giá trị cho việc đối sánh giữa ẩn sĩ TrungHoa và ẩn sĩ Việt Nam
Điều đáng nói ở đây là những ẩn sĩ có cống hiến rất lớn trong sựnghiệp văn học Các tác phẩm của họ là những ký thác, dòng tâm t, nỗi đau
đời…bộc lộ một cách hoàn Không chỉ dừng lại ở những xúc cảm mà các tác phẩm của nhiềutrong số các ẩn sĩ đã có giá trị nghệ thuật cao đợc coi là một di sản văn hóaquan trọng
ẩn sĩ Trung Hoa có rất nhiều diện mạo, có những mặt đáng ngợi ca
và cũng có những điều cần phê phán Nhng trên hết vẫn là những cái đẹp vềmột lối sống, cách hành xử, sự xuất chúng về tài năng, trí tuệ mãi còn đợcngợi ca
1.2.2 Những phẩm chất phổ quát của hình tợng ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam lu danh khá nhiều hình tợng ẩn sĩ Vì chịu
ảnh hởng sâu sắc từ nền văn hóa Trung Hoa nên hình tợng ẩn sĩ trong văn họctrung đại Việt Nam cũng có nhiều điểm tơng đồng, bên cạnh đó cũng cónhững điểm riêng biệt do đặc thù lịch sử và truyền thống văn hoá
Văn học trung đại Việt Nam có rất ít kiểu ẩn sĩ tiêu cực nh ẩn sĩTrung Hoa (kiểu ẩn sĩ lời biếng, ăn hang ở lỗ, ăn mày ăn xin, bộ dạng nhngời điên) ẩn sĩ Việt Nam trung đại đa phần là lớp ngời có tri thức và tinh
Trang 11thần yêu nớc Họ thờng lui về ở ẩn khi gặp hoàn cảnh bất đắc chí, loạn li,giai cấp thống trị chuyên quyền sa đọa, mục nát…bộc lộ một cách hoàn Những lý tởng sống cao
đẹp không có khả năng thực hiện, họ tìm đến cuộc sống ẩn dật tìm về vớithiên nhiên lánh đục, “minh triết bảo thân” Loại ẩn sĩ này vừa tích cực vừatiêu cực, một mặt “vừa thể hiện phơng châm xử thế “độc thiện kỳ nhân” củaNho giáo, vừa thể hiện triết lý xuất thế của Phật, Lão, nhng không hoàntoàn quên đời” [38, 567]
Sống đời ẩn sĩ không phải là sự sáng tạo, là một phát minh mới mẻcủa nhà nho Việt Nam nào mà là một ứng xử khá phổ biến trớc thực tại bếtắc Đó là một sự hòa hoãn với hiện thực đen tối của xã hội để giữ đạo ẩn sĩViệt Nam chọn lối sống nhàn nhng không biếng nhác Họ thờng sống đờinhàn dật nơi thôn dã và lấy đó làm vui Họ vui với niềm vui thật bình dị hồnnhiên, trong sáng, vui với đời sống lao động ở nông thôn, vui với hoa, rợunhng không đắm mình trong hoa trong rợu, say nhng không chìm đắm mà đểtiêu sầu; để ngắm nhìn nhân thế, để thấy đời nh giấc mộng, phú quý tựachiêm bao Họ chán chờng thế sự nhng không quên trung với vua, khôngquên nỗi thơng nớc lo đời, luôn mong có một đấng minh quân để tôn thờ, để
đem tài lơng đống phục vụ nhân dân, phục vụ đất nớc
Trần Đình Hợu trong công trình Đến hiện đại từ truyền thống có viết:
“Nho giáo trang bị cho mỗi nhà nho một quan niệm thế giới, một phơng phápsuy nghĩ, một quan niệm làm ngời Mục đích cả cuộc đời họ là học, thi đỗ,làm quan Đó là con đờng duy nhất trong xã hội phong kiến nớc ta trớc đâylàm cho họ thỏa mãn đợc ớc mong, nói một cách văn hoa, lý tởng là an dân,giúp vua, mà nói một cách thật thà là no ấm, vinh hoa, phú quý Thái độ củanhà nho đối với cuộc đời là tích cực, hữu vi nhng đối với ngời cầm quyền họlại không nhập cuộc gắn bó hoàn toàn ở vị trí tầng lớp trung gian, họ xử sựtheo phơng châm “dụng nhi tắc hành, xả chi tắc tàng” - vua dùng thì đem
đạo ra hành, vua bỏ không dùng thì cất giấu cho mình Quan niệm hành tàng,xuất xử đó làm cho nhà Nho thành hai mẫu ngời: hành đạo và ẩn dật Hành
đạo và ẩn dật vốn là hai mặt không thể tách rời trong mỗi nhà nho: nhập thế
mà vẫn xấu hổ, xấu hổ vì tham luyến công danh, xuất thế mà vẫn băn khoănvì không làm tròn trách nhiệm”
Điểm lại các nhà nho trong lịch sử và văn học dân tộc ta có thể kể têncác ẩn sĩ nổi tiếng nh: Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Trần Quang Triều,
Hồ Tông Thốc, Nguyễn Trãi, Nguyễn Hàng, Nguyễn Dữ, Nguyễn Bỉnh
Trang 12Khiêm, Nguyễn Khuyến Chân dung của các ẩn sĩ đó cho ta cái nhìn tổngquan về những ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.
Chu Văn An là ngời chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhng không
ra làm quan, mà mở trờng dạy học Ông có công lớn trong việc truyền bá,giáo dục t tởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam
Đời vua Dụ Tông quần thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém bảy tên gian thần nhng vua không nghe Ông chán nản từ
quan về ở núi Phợng Hoàng (Chí Linh- Hải Dơng), dạy học, viết sách Ông
để lại cho lịch sử văn học dân tộc hai tập thơ biểu lộ t tởng tình cảm của ẩn
sĩ : Tiều ẩn thi tập và Tiều ẩn quốc ngữ thi tập Hai tập thơ này đến nay không còn, chỉ còn 12 bài trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn Cuộc
đời thanh bạch tiết tháo của ông là tấm gơng sáng của thời phong kiến Ông
là một trong số ít bậc thánh hiền nho đợc thờ ở Văn Miếu Có câu đối thờ
ông :
Trần văn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc,
Phợng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lu trờng ngỡng triết nhân phong.
(Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải là thúvui của bậc hiền giả,
Núi Phợng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mãi mãi ngỡng mộphong thái kẻ triết nhân.)
Trần Nguyên Đán, hiệu là Băng Hồ, dòng dõi nhà Trần, đã giữ chứcquan dới đời Trần Dụ Tông, sau đó từ quan về ở ẩn Năm 1307 ông lại ragiúp Trần Nghệ Tông dẹp loạn Dơng Nhật Lễ, sau đó đợc phong chức T đồcoi ngang hàng với tể tớng Ông can ngăn Trần Nghệ Tông trong việc giaohết binh quyền cho Hồ Quý Ly nhiều lần không đợc, bèn xin thôi quan vềCôn Sơn ở ẩn Tâm sự khi về quê ở ẩn là nỗi niềm lo nớc thơng đời Ôngcảm thấy xót xa thân phận, nhiều đêm không ngủ, sách vở thánh hiền đọcnhiều nhng chẳng đủ tài sức giúp dân, giúp nớc “Nếu thơ Chu An thể hiệnniềm cảm khái trớc tình trạng suy vi của triều đại nhà Trần hồi cuối thế kỷXIV thì thơ Trần Nguyên Đán phản ánh rõ tình trạng khủng hoảng của xã
hội phong kiến khi ấy” [28, 108] Bài thơ Nhâm Dần lục nguyệt tác viết về
tình trạng đó:
Niên lai hạ hạn hữu thu lâm,
Hòa cảo miêu thơng hại chuyển thâm.
Tam vạn quyển th vô dụng xứ,
Bạch đầu không phụ ái dân tâm.
Dịch nghĩa: Mấy năm liền mùa hè bị hạn, mùa thu bị lụt,
Trang 13Lúa khô mạ thổi tai hại rất nhiều.
ẩn tại Côn Sơn, mà đợc vời ra làm việc trở lại, cái vui mừmg hớn hở nh trút
đợc gánh nặng nghìn đời, cái vui mừng tởng nh làm ngời ta trẻ lại, cái hớn
hở gần nh vồ vập ở con ngời ngoài sáu mơi lấy gì mà cắt nghĩa đợc? ” [71,65]
Việc về Côn Sơn quy ẩn của ức Trai là sự kế thừa tinh hoa của Nhohọc trong một vấn đề nhân sinh cơ bản: Xuất thế, nhập thế Với NguyễnTrãi, giữa hồn thơ quy ẩn và con ngời thật cha có sự thống nhất cao ngay cảkhi ông về ở ẩn, đó cũng là một cách ẩn đặc biệt, điển hình, không có sựnhẹ nhõm, h tâm, không có sự an bần lạc đạo, độc thiện kỳ thân, mà luôn
trăn trở, bồn chồn, khắc khoải vì đất nớc, vì cật chng hồ hải đặt cha an.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho nhập thế hành đạo, mang tấmlòng “tiên u” đến già cha thôi Nhng “Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một ng-
ời nhàn dật, một c sĩ cao khiết”, với “hai quan niệm, hai cách sống đối lậpnhau đã hội tụ tạo nên một nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhân cách
đa dạng, phong phú, khác ngời nhng nhất quán” Theo đánh giá của TrờngChinh, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những thiên tài, một trong “nhữngngôi sao sáng nhất trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi ” [9,34]
Thế kỷ XVI còn có Nguyễn Dữ là bậc ẩn sĩ cuối đời Hồng Đức, đọcrộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tởng lấy văn chơng nối nghiệp nhà Khi thi
Trang 14cử đỗ đạt, ra làm quan đợc bổ làm tri huyện, nhng chỉ đợc một năm do bấtmãn với thời cuộc, viện cớ nuôi mẹ từ quan về ở ẩn
Trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã bộc lộ rõ t tởng
ẩn dật của mình thông qua nhân vật ngời tiều phu núi Na : “ta là kẻ dật dântrốn đời, ông lão già lánh bụi, gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinhnhai trong búa gió rìu trăng; ngày có lối vào làng say, cửa vắng vết chânkhách tục, bạn cùng ta là hơu nai tôm cá, quẩn bên ta là tuyết gió trăng hoa;chỉ biết đông kép hè đơn, nằm mây mà ngủ khói, múc khe mà uống, bới núi
mà ăn” [60, 139]
Nguyễn Công Trứ là một nhà nho thành đạt, thỏa chí nam nhi, tàihoa và tài tử, có cuộc đời làm quan với bao nỗi thăng trầm Chất ẩn sĩ củaNguyễn Công Trứ thể hiện ở những bài thơ ca ngợi cuộc sống ngoài vòng c-
ơng tỏa, đậm màu tài tử , bất cần đời, ngông nghênh thỏa chí vì “một ngờiluôn tự hào về tài năng của mình và sống theo những sở thích của bản thân
nh vậy thì làm sao trọn đợc đạo vua tôi, bởi những đạo lý ấy luôn đòi hỏi sự
hi sinh vô điều kiện, đến mức “quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” [66,119]
Nguyễn Khuyến, là “ngời mang ơn sâu nặng của chế độ xã hội đã
đào tạo và tôn vinh mình và đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang cũng
là lúc nhận ra mặt trái đen tối của xã hội mà mình nguyện đem hết sứcmình ra phụng sự tôn thờ” [58, 12] Trên hoạn lộ, Nguyễn Khuyến là ngờithành đạt, công danh phú quý đã trải qua Là một nhà nho có phẩm hạnh,thời thế không cho phép ông “trí quân trạch dân” Vua bấy giờ là bù nhìn,tay sai của thực dân Pháp, nhân dân trong cảnh nớc mất lâm vào cảnh lầmthan Sở đắc không dụng đợc thì tốt nhất là dừng chân hoạn lộ, buông bỏ
mà quay về “Nguyễn Khuyến chọn con đờng của Đào Uyên Minh, hy vọnglàm một ẩn sĩ để giữ trọn tiết sạch giá trong” [3, 292], những ngày thángnơi quê nhà là những năm tháng ông tiếp tục góp phần làm rạng rỡ nền vănhọc dân tộc “Nguyễn Khuyến là một mẫu ẩn sĩ đẹp đẽ nhng đó cũng là ng-
ời ẩn sĩ cuối cùng có thể có” [14, 40]
“Khi nhà nho ẩn dật đã trở nên một định hớng tồn tại độc lập, văn
ch-ơng ẩn dật trở thành bộ phận của văn chch-ơng nho giáo Khác với sáng táccủa các nhà nho hành đạo, sáng tác của ngời ẩn dật không bị ràng buộc vàoyêu cầu giữa giáo hóa trực tiếp Cũng vẫn chịu sự chi phối của những quan
điểm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, tuy nhiên ở ngời ẩn dật “chí” lạithờng đồng nghĩa với “bất đắc chí” và chính vì thế ta tìm thấy ở họ những
Trang 15tâm sự, những cảm xúc thành thực hơn mang sắc thái chiêm nghiệm củacon ngời cá nhân một cách rõ ràng hơn” [67, 68].
Những phẩm chất phổ quát về hình tợng ẩn sĩ trong văn học trung đạiTrung Quốc và Việt Nam có những nét tơng đồng nhng đồng thời cũng cónhững điểm khác biệt Song điều đọng lại cuối cùng là hình ảnh đẹp đẽ củahình tợng ẩn sĩ, những ngời “trốn đời”, “lánh bụi”
1.2.3 Những phẩm chất đặc thù của hình tợng ẩn sĩ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp
Hình tợng ẩn sĩ là hình tợng văn học đợc xây dựng trên nguyên mẫu
là ngời sống ẩn dật, lánh đời do bất mãn với thời thế Điều này thể hiện rõtrong các sáng tác thơ văn của các ẩn sĩ Những bài thơ, những trang văn lànhững tâm sự, suy nghĩ, cách nhìn cuộc đời của ẩn sĩ Nó là hình ảnh phảnchiếu con ngời ẩn sĩ
Nguyễn Thiếp (1723 - 1804), ngời con của xã Nguyệt Ao, tổng LaiThạch, huyện La Sơn (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) Sau khi từquan về ở ẩn gần núi Lạp Phong, ông lấy hiệu là Lạp Phong c sĩ NguyễnThiếp ở am đặt trên núi Bùi Phong nên còn có hiệu là Bùi Phong c sĩ Từquan về ở ẩn, Nguyễn Thiếp tự gọi mình là Cuồng ẩn hay Điên ẩn Ông xnghô khiêm tốn nh thế là để giấu đi thân phận thật của mình
Nguyễn Thiếp còn có hiệu là Hạnh Am Tập thi văn của ông còn đợc
gọi Hạnh Am thi cảo và ngời đời gọi ông là Hạnh Am tiên sinh Ngọn núi
Nguyễn Thiếp ở ẩn nằm cạnh thành Lục Niên của Lê Lợi dùng để chốngquân Minh, vì thế ngời ta thờng gọi nhà thơ là Lục Niên tiên sinh hay HầuLục Niên Lúc tiếng tăm của Nguyễn Thiếp nổi khắp thiên hạ Ngời ta tônxng ông là La Giang phu tử (La Giang là tên huyện của quê Nguyễn Thiếp
đời chúa Trịnh Giang) Khi Nguyễn Huệ viết th mời Nguyễn Thiếp ra giúpmình gọi cụ là La Sơn phu tử (phu tử quê huyện La Sơn) Nguyễn Huệ tặngNguyễn Thiếp hiệu La Sơn tiên sinh Còn Nguyến Thiếp tự xng là KhảiXuyên khi viết th trả lời Nguyễn Huệ
Có nhiều ngời lấy tên làng mà gọi Nguyễn Thiếp là Nguyệt Ao tiên sinh.Tên gọi nào cũng thể hiện sự tôn kính, ngỡng mộ tài năng, đức độ của ngời đ-
ơng thời dành cho Nguyễn Thiếp Từ điển nhân vật xứ Nghệ Ninh Viết Giao
viết: “Đơng thời và cả sau này vẫn trọng vọng ông là ngời học rộng hiểu sâu ócchứa kinh luân mang tài kinh tế, thờng ngâm nga câu:
“Văn chơng ta chẳng gặp thời, bốn dân trăm họ suốt đời nghèo xơ”[17, 458]
Trang 16Song đó chỉ là cách nói khiêm tốn của bậc cao nhân Nguyễn Thiếp làngời nổi tiếng thông minh, lại từng trải, theo học nhiều thầy lỗi lạc Thơ văngắn bó với Nguyễn Thiếp nh một phần không thể thiếu trong cuộc sống Đọcthơ ông ta thấy rõ một hình tợng ẩn sĩ thanh cao mà giản dị gần gũi.
Nguyễn Thiếp từ bỏ con đờng quan lộ đầy hứa hẹn, khi mà mới haimơi tuổi thi lần đầu đã đậu Hơng giải Thật bất thờng khi phút chốc bỗng
từ bỏ đờng cử nghiệp, quay sang theo chí ẩn dật “Những thập niên loạn lạc,mối rờng đổ nát ở thế kỷ XVIII đã chặn đứng khát vọng kinh bang tế thếcủa Nguyễn Thiếp Và nỗi thất vọng hiền minh về hiện thực đã đa ông đếnquyết định khó khăn: từ bỏ con đờng cử nghiệp để làm một ẩn sĩ” [32, 19]
Trong Hạnh Am ký, Nguyễn Thiếp bộc bạch rằng vì bệnh cũ nên
phải “tự bỏ, từ biệt việc đời mà ẩn trong rừng núi, kẻo sợ bệnh không thôihẳn” [21, 466] Đi ở ẩn, để lại cho đời một phong cách sống, bản lĩnh sống
đầy khí tiết nhà nho thì đó là một việc làm cho đạo nghĩa muôn đời Tinhthần xuất thế mà nhập thế là ở đó, tích cực của ẩn sĩ cũng là ở đó Chẳnghơn thời loạn, mang tâm ng khuyển mà phục vụ cho hôn quân vô đạo đểchuốc lấy ô nhục muôn đời Ham muốn, dục vọng, vinh thân phì gia, giàusang phú quý, danh vọng chốn quan trờng chỉ nhất thời để rồi mai một, đểrồi nát với cỏ cây quả không sánh đợc với việc làm ẩn sĩ, sống đúng với đạo
lý nho gia Con ngời tự do, tự tại chính là con ngời La Sơn phu tử NguyễnThiếp trong những ngày ẩn dật ở Hạnh am
Bài thơ Sĩ các hữu chí cho ta hiểu đợc phần nào lẽ xuất xử của
Nguyễn Thiếp :
Đa thiểu anh hùng sản vực trung,
Kỳ vi chí dã bất tơng đồng.
Xuất t kiêm thiện công quang thế,
Xử tất thâm tàng đạo tuẫn cung.
Mục Dã nhất nhung khai đại nghiệp,
Lô Sơn ngũ liễu kích thanh phong.
Thời tai thân khuất phơng vi chính,
Thị đạo d tơng miễn dụng công.
Dịch thơ: Trong cõi anh hùng sinh lắm kẻ,
Mỗi ngời một chí phải đâu chung
Ngời ra đức cả công lừng thế,
Kẻ ẩn danh cao đạo thuận lòng
Mục Dã mảnh nhng gây đại nghiệp,
Lô Sơn chồi liễu nổi thanh phong
Trang 17Tùy thời co duỗi âu là phải,
Đạo ấy ta đây rắp gắng công
(Kẻ sĩ mỗi ngời một chí hớng)
Nguyễn Thiếp đã nói rõ chí hớng của ngời anh hùng trong thiên hạ.Ngời thỏa chí nam nhi vẫy vùng “phải có danh gì với núi sông”, kẻ lui vềgiữ tấm lòng trong sạch không nhuốm bụi trần, tránh chốn thị phi, tranhgiành đấu đá Đó là nơi Chu Võ Vơng dấy binh (Mục Dã) đánh bại vua Trụbạo ngợc lập nên đại nghiệp, tỏ mặt nam nhi Hay chọn con đờng chốn LôSơn nơi Đào Tiềm ở ẩn, trồng năm cây liễu trong vờn tự xng là “Ngũ liễutiên sinh”
Đối với Nguyễn Thiếp, cách sống không phải là khuôn mẫu, phải tùythời cuộc yên - loạn tùy thời mà “co duỗi” “Xuất xử - ra làm quan haykhông ra làm quan vốn là một vấn đề lớn thờng làm các nhà Nho bănkhoăn, suy nghĩ Nó không chỉ là chuyện quyết định nhận hay không nhậnmột chức vụ mà là lựa chọn một thái độ sống” [24, 204] Nguyện ớc “đạo
ấy ta đây rắp gắng công” chứng tỏ Nguyễn Thiếp có cái nhìn không cực
đoan về lẽ xuất xử Nếu gặp thời, gặp minh quân sẽ hết lòng phò tá xâynghiệp lớn, phải buổi loạn li, thời thế nhiễu nhơng nên ẩn mình giữ trọn tiếttháo Lẽ sống này thể hiện rõ trong việc Nguyễn Thiếp từ quan ở ẩn lúc bốnphơng bất ổn, cơ đồ bị xâu xé trong tay cả một bè lũ chuyên quyền sa, sa
đọa Nhng rồi ông hợp tác với Tây Sơn, một lực lợng chính trị tiến bộ vì lợiích của dân bấy giờ để đợc cống hiến giúp đời
Bỏ nghiệp khoa cử, Nguyễn Thiếp bớc vào vui thú lâm tuyền Ôngngao du sơn thủy khoảng năm năm “núi sông miền Nam Châu, dấu chân cógần khắp”
Vùng Hồng Lam với nhiều danh thắng làm say lòng du khách, nơi cónhiều núi non hùng vĩ, đền đài, thành lũy, chiến trận xa khiến NguyễnThiếp “tới đâu cũng có thơ đề vịnh” Trèo lên núi Nghĩa Liệt ngắm cảnh:
Liệt sơn sơn thợng tối cao phong,
Tứ cố vân yên nhập vọng trung.
Anh Quốc thành hoang phơng thảo lục,
Nghĩa Vơng kiều tại tịch dơng lầu.
Dịch thơ: Liệt Sơn chót vót, đứng cao trông,
Bốn mặt mây bao, thấy mịt mùng
Anh Quốc thành hoang, làn cỏ biếc,
Nghĩa Vơng cầu cũ, ánh chiều hồng
(Lên núi Nghĩa Liệt)
Trang 18Cảnh sắc phong cảnh làm ngời du khách luống ngâm ngùi Một vẻ đẹptrầm buồn trong ánh chiều chạy dài trên thành hoang, cỏ biếc
Bao nhiêu cảnh đẹp bấy nhiêu cảm xúc, nỗi xúc động về sự trôi chảycủa thời gian Lên đỉnh Hồng Lĩnh viếng cảnh chùa Hơng, đến núi GiaHanh ghé thăm nhà cũ Hoàng Dật – Danh t một kẻ tài hoa, đức hạnh, hiềm nỗikhông gặp thời, tức chí từ quan Ngậm ngùi ngời mà ngẫm việc mình Việc ngao du sơn thủy, thởng lãm danh lam thắng cảnh đã giúp choNguyễn Thiếp sự chiêm nghiệm về thế thái nhân tình, và quyết định dứt khoát
về việc là một ẩn sĩ Hơn nữa việc trải nghiệm này, sống giữa không gian vũ trụbao la làm cho “con ngời không chỉ cảm thấy mình trong vũ trụ” mà còn cảmthấy “trong con ngời mình có cả vũ trụ” [63, 66]
Có ý kiến cho rằng “Nguyễn Thiếp sống ẩn dật mà thơ ông không cótính chất ẩn dật mấy” [45, 95], nhng đọc thơ Nguyễn Thiếp ta thấy rõ chí h-ớng ẩn dật, cảm hứng ẩn dật thấm thía trong thơ ông
Chí hớng ẩn dật của Nguyễn Thiếp lộ rõ ở việc ông chọn núi BùiPhong nơi có “gềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu Núi trồng cây đ-
ợc, khe đánh cá đợc, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ giữ Ta mừng thay! Muốnchọn đất này để ở” [21, 510]
Sau 13 năm lu lạc chốn quan trờng, lấy cớ tuổi cao sức yếu, năm MậuTuất (1786), Nguyễn Thiếp cáo quan về nhà, mà lòng nhẹ nhõm:
Diện tiền nguyên hữu địa, Tâm ngoại cách vô thiên.
Dịch thơ: Trớc mắt có đất rộng,
Ngoài tâm không gì hơn
(Đợc nghỉ việc) Trớc mắt nhà thơ không còn công danh bổng lộc nhng đổi lại, là tự do, là
sự nhẹ nhõm, thanh thản của kẻ trợng phu khỏi phải thấy cảnh đấu đá, tranhdành quyền lực
Hai năm sau khi từ quan, Nguyễn Thiếp chính thức bắt đầu cuộc sống
ẩn dật Ông mang theo cả gia quyến lên núi, ngày ngày cùng các con lậptrại khai hoang trồng trọt Cuộc sống trên núi vất vả, nghèo nàn nhngNguyễn Thiếp vẫn duy trì lối sống thanh tao của một bậc danh nho Trênnhà ông ở có vọng Vân Đình (Đình ngắm mây), có Giới Thạch Trai (nhà đávững), có Thận Tật am (am dỡng bệnh) Ông tự xng là Cuồng ẩn Trongnhà có thờ Khảo Đình tiên sinh, tức Chu Hy, một vị Tống nho có công lớn
về truyền bá đạo Khổng Sĩ phu trong nớc gọi Nguyễn Thiếp là Hầu LụcNiên hay Lục Niên tiên sinh
Trang 19Hình tợng ẩn sĩ trực tiếp bộc lộ qua việc cảm hứng trớc thiên nhiên tơi
đẹp, tức cảnh sinh tình, giãi bày những tâm sự của kẻ “lánh bụi trần” Trong
Đăng nghĩa Liệt Sơn Nguyễn Thiếp bộc bạch:
Nhân lai nhân khứ phi trần ngoại,
Thuỳ thị thuỳ phi thệ thuỷ đông.
Tảo vãn phi mao thành tiểu ẩn,
Mãn giang minh nguyệt nhất phàm phong.
Dịch thơ: Kìa ngời qua lại đờng không bụi,
Mặc kẻ hay chăng nớc thuận dòng
Sớm tối lều tranh, ta tạm ẩn,
Ngắm buồm theo gió, nguyệt đầy sông
(Lên núi Nghĩa Liệt)
Nhà thơ lên đỉnh núi Nghĩa Liệt, phóng tầm mắt nhìn trông bốn phíathấy cảnh núi vừa thật hùng vĩ với điểm nhìn cao nhất mây bay khói phủ,thật nên thơ với cỏ thơm xanh và bóng trời chiều đỏ ối Phu tử nhìn dòngngời mà ngẫm “ai đúng ai sai mặc dòng nớc chảy” tự mình sẽ:
Sớm tối lều tranh, ta tạm ẩn,
Ngắm buồm theo gió, nguyệt đầy sông
Cảnh thanh bạch với lều tranh, vui với gió trăng Lòng phu tử đãquyết Đời ẩn sĩ thanh đạm, không bận lẽ đúng sai.Trong mối quan hệ vớithiên nhiên, ẩn sĩ thờng trong vai trò của ngời biết khám phá, chiếm lĩnh,thởng thức, đồng thời cũng gửi gắm, bày tỏ những tâm t hoài bão và luôncanh cánh bên lòng những lo âu thế cuộc Đó chính là cách sống nhàn tảncủa La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp Nhàn là sự từ chối công danh để khônglàm trái với lơng tâm mình Nh vậy nhàn là một thái độ chính trị, đợc ứng
xử một cách đúng đắn trớc thời suy thế loạn Chọn cách sống, thái độ nhthế trớc thời cuộc, làm một ẩn sĩ giúp phu tử giữ đợc lơng tâm thanh khiết
của mình Đó cũng là điều mà phu tử khẳng định trong bài thơ Bạc Nam Ngạn tự:
C thân ngô chí định,
Trờng ức Lạp Phong am.
Dịch thơ: Chí ta quyết ẩn dật,
Nhớ mãi am Lạp Phong
(Đỗ thuyền ở chùa Nam Ngạn)
Neo thuyền ở chùa Nam Ngạn, cùng s cụ trò chuyện trong tiết thulạnh lẽo, sau “ba năm vất vả ở phủ đờng”, để mà nhớ am Lạp Phong nơi
“chí ta quyết ẩn dật” Theo Nguyễn Khắc Viện, “trong mỗi trí thức xa đều
Trang 20hỗn hợp hai luồng t tởng xuất và xử, vừa muốn ra làm quan kinh bang tếthế, vừa muốn trung thành với đạo lý nhân bản gần dân” [61, 187] Đâycũng là tâm trạng của Nguyễn Thiếp trong thời gian này Ông phân vân bởibao năm tháng quan trờng mệt mỏi, để rồi quyết chí ở ẩn.
Không chỉ nghĩ việc mình mà trong bài Ký Bình Hồ ch hữu, Nguyễn
Thiếp cũng thẳng thắn bộc lộ rõ quan điểm khi khuyên nhủ:
Tuy nhiên tễ lạo minh hành chỉ,
Vị tất trì khu thợng ẩn luân.
Dịch thơ: Rõ tùy ma nắng đi hay nghỉ,
Giong ruổi chi bằng ẩn lại hay
(Gửi các bạn ở Bình Hồ)
“Đạo chỉ có một mà thôi, khi nên ra làm quan thì làm, khi nên nghỉ thìnghỉ Ngời quân tử phải tìm cái chỗ đúng nhất của nghĩa này” [58, 214] Đóchính là cái lý của phu tử
Bài thơ Phục Đặng Điền Phạm Thạch Động của La Sơn phu tử nh sau:
Khảo đình sinh hậu đạo di chơng, Cửu bả chi lan dụ giác hơng.
Lu thủy mỗi đa thanh lý trọc, Hảo ngân tối phạ bạch trung thơng.
ẩn tàng hạnh ngã nắng trì tỉnh, Hủy vặn hoàn tha tự ức dơng.
Hồi tởng nghi đình ng hữu phận, Bất phờng Thiên Nhẫn độc cao tờng.
Dịch thơ: Từ thời nghiên bút đạo thêm tinh,
Quen thú chi lan hơng vị thanh
Nớc chảy thờng e trong có đục,Bạc ròng chỉ sợ trắng hoen xanh
ẩn tàng ta dễ bề trì tỉnh,Bôn tẩu ngời luôn thế gập gềnh
Nghĩ lại nghi đình âu có phận,
Hề chi Thiên Nhẫn sống riêng mình
(Đáp thơ ông Phạm Thạch Động ở Đặng Điền)
Sự ngợi ca cái thú ở ẩn đợc bộc lộ với bạn một cách tự nhiên, không
dấu diếm Hơn nữa theo Nguyễn Thiếp, việc ở ẩn chính là để ẩn tàng hạnh ngã năng trì tỉnh (ẩn tàng may ta dễ bề giữ mình) Đó là nỗi lòng chân thật,
bộc lộ chí ẩn mình của La Sơn phu tử
La Sơn phu tử làm thơ kể việc phu tử vẽ lại ngôi nhà ở ẩn của mình:
Trang 21Tâm khoan hải, Thất tiểu thuyền.
Tâm thờng sơ bố, Nhân dã hữu thiên.
Thanh sơn vi bình, Thơng thạch vi tọa.
Nhất đới yên hà, Thùy kỳ tranh ngã.
ợc tự do trong sinh hoạt Ngời ẩn dật cho phép mình phóng túng, không bị bóbuộc trong cách sống, trong hoạt động, có thể ung dung thởng thức trọn vẹncái đẹp của tự nhiên, có thể có những khoảnh khắc thời gian sống trong sựnghiệm sinh nhân thế, vui với lạc thú của đời sống an nhàn, bình ổn, không âu
lo, không vớng bận vì bổn phận, trách nhiệm với đời
Đọc thơ Nguyễn Thiếp ta thấy hình tợng ẩn sĩ rất nổi bật Lúc trựctiếp bộc bạch chí hớng ẩn dật, cũng có khi kín đáo gửi gắm qua việc tán d-
ơng những ẩn sĩ khác Tất cả đều khẳng định là với Nguyễn Thiếp, ẩn sĩ làcon đờng đúng đắn mà ông đã chọn
Ta không chỉ thấy một hình tợng ẩn sĩ La Sơn phu tử mà còn bắt gặpnhiều hình ảnh ẩn sĩ khác nh An Lạc Thiệu tiên sinh, Nghiêm Từ Lăng,Quản ấu An, Tuyết Giang phu tử…bộc lộ một cách hoàn
Bắc Hải Quản ấu An, Kiệt nhiên vong bần phú.
Sừ địa đắc hoàng kim,
Trang 22Đẳng nhàn nhợc ngoã thổ.
Bất độc Liêu Đông mạo, Thanh cảo cao thiên cổ.
Dịch thơ: Bắc Hải có Quản Ninh,
Giàu nghèo đâu bận nhọc
Cày ruộng đợc vàng thỏi,
Dửng dng nh đất cục
Mũ rách nớc Liêu Đông,
Tiết tháo muôn đời rực
(Quản ấu An bừa thấy vàng không thèm nhìn)
Đó là tình cảm chân thành, sự ngỡng mộ tài năng của ngời xa Họ
đều gặp nhau ở điểm chính là muốn lánh xa cõi bụi trần, giữ sạch tiết tháo.Tiết tháo ở đây chính là chữ tiết chỉ danh khí và giá trị con ngời, chỉ sựcứng rắn, khảng khái của nhân cách, sự cao sạch của phẩm giá tâm hồn
Nguyễn Thiếp làm thơ ca ngợi họ để tỏ lòng kính phục cũng nh đểgiãi bày tâm sự, những nỗi lòng chỉ những kẻ cùng cảnh ngộ mới thấu hiểulòng nhau
Tích văn Mạc Trình trạng,
Kim đáo Tuyết Kim tân.
Cổ quán d thơng kiệt,
Di an chỉ Bạch Vân.
.Am không bi diệc diệt,
Liêu lạc Tuyết Kim giang.
Dịch thơ: Nghe Trạng Trình đời Mạc,
Nay đến bến Tuyết Kim
Quán cổ bia rêu phủ,
Am xa mây trắng chìm
…bộc lộ một cách hoàn Mênh mang, nớc chảy hút,
“Chân tri” ngời khó tìm
(Qua chùa Trình Tuyền hầu)
Nghe tiếng ngời, mến ngời mà tìm đến, vậy mà cảnh đó ngời đâu?Chỉ còn sự hoang tàn, lạnh giá Sự mất mát, đổi thay quá lớn, quá phũ
phàng Để đau lòng kẻ đến viếng, chân tri, ngời khó tìm La Sơn phu tử
Trang 23cũng nh Bạch Vân c sĩ đều là những kẻ lánh đời mà lòng ôm nặng nỗi sầunhân thế Là ẩn sĩ nhng nặng lòng lo nớc thơng đời, thân tuy xa rời việcquan mà lòng và trí không xa việc lo cho dân, sáng tối vẫn quan tâm đếnnhân sinh thế sự, vẫn băn khoăn trớc những ý tởng giúp đời cứu ngời Dù ẩn
c vui thú nhàn song Bạch Vân c sĩ trớc đây lòng lúc nào cũng mang nỗi lo
“tiên u ậu lạc” La Sơn phu tử ẩn c không phải vì a nhàn Không phải nh cácdật khách khác, sau cuộc đời lăn lộn chốn quan trờng, về già tìm chốn lâmtuyền để yên tuế nguyệt Trong các thơ của phu tử không có câu nào táncảnh an nhàn mà khinh thế sự” [21, 661]
Sống ẩn dật nhng không lánh đời Tấm lòng của những chí sĩ vẫn đau
đáu hớng về dân, về nớc Cuộc sống ẩn dật không làm họ quay lng hoàntoàn với thời cuộc Tấm lòng họ vẫn nặng nợ với nhân dân
Hình tợng ẩn sĩ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp rất đẹp vì nócòn gợi đến hình ảnh Đào Tiềm - một hình mẫu ẩn sĩ ngời mà phu tử ng-ỡng mộ Đào Uyên Minh đời Tấn là một nhà thơ vĩ đại trong lịch sử vănhọc Trung Quốc, ngời khơi dòng cho văn chơng ẩn dật Vơng Khang Cự đờiTấn (Trung Quốc) cho rằng:
Tiểu ẩn ẩn lăng tẩu,
Đại ẩn ẩn triều thị.
Dịch nghĩa: Kẻ ẩn sĩ nhỏ thì ẩn ở nơi gò đầm,
Ngời ẩn sĩ lớn thì ẩn ở giữa triều đình thành thị
Đây là quan niệm của những ẩn sĩ có t tởng nhập thế tích cực ĐàoUyên Minh tìm về chốn điền viên vì “nông thôn vắng vẻ thanh bình lànơi trong sạch duy nhất bấy giờ, nó đối lập với chốn quan tr ờng vẩn đục”[3, 292] Đào Uyên Minh thuở nhỏ đã có lý tởng “cứu vớt dân đen” vớimơ ớc “trí quân trạch dân” (vua sáng suốt dân no đủ) của xã hội thờiNghiêu Thuấn Ông vốn là một ngời tích cực nhập thế, có tráng khí và
ôm ấp hoài bão lớn Trong nhiều bài thơ viết lúc về già, ông vẫn th ờngnhắc đến những điều mình đã làm và những điều mình mong ớc thực hiệnvới sự tiếc rẻ, “tài bất phùng thời” (tài không gặp thời) nên đành chọn
Trang 24con đờng “cùng tắc độc thiện kỳ thân” Trong bài Cảm sĩ bất ngộ phú tự
(Tựa bài phú thơng cảm kẻ sĩ không gặp thời) Đào Uyên Minh viết: “Khiphong tục thần hậu đã mất đi, thì sự giả dối cùng cực nổi lên, nơi h ơngthôn bỏ rơi sự liêm khiết, chốn triều đình giục giã lòng mê say tiến thân.Những kẻ sĩ ôm ấp chí đạo chân chính, thì một số đi ở ẩn giữa tuổi trángniên, những ngời tiết tháo trong sạch thì một số suốt đời lận đận Vì thế
mà Bá Di và Từ Hạo mới có lời than “về nơi đâu”, Tam l đại phu mới cónỗi buồn “thế là hết” [3, 289]
Mục Dã nhất nhung khai đại nghiệp, Lô Sơn ngũ liễu kích thanh phong.
Dịch thơ: Mục Dã mảnh nhung gây đại nghiệp,
Lô Sơn chồi liễu nổi thanh phong
(Kẻ sĩ mỗi ngời một chí hớng)
Lô Sơn là nơi Đào Tiềm ở ẩn, có trồng trong vờn năm cây liễu và tự
xng là Ngũ liễu tiên sinh Trong Ngũ liễu tiên sinh, Đào Uyên Minh tự kể
chuyện mình với giọng văn khoáng đạt nh: “Tờng vách tiêu điều, không
đủ che ma nắng; bận áo cụt vá, bầu giỏ thòng rỗng mà vẫn vui” [43, 177].Nguyễn Thiếp nhắc nhiều, nói nhiều tới hình ảnh Đào Tiềm nh nhắc, nhnhớ tới một ngời bạn tri kỷ, có chung một nỗi niềm ẩn sĩ
Tấn hữu Đào Cát Thiên,
Tố cầm ca Nam huân.
Dịch thơ: Đào Tiềm ẩn sĩ Tấn triều,
Nam huân ca khúc thời Nghiêu thanh bình ( Tới tỉnh dự thi nhng không thi, trèo lên thành Đông Luỹ)
Trong Quy khứ lai từ Đào Uyên Minh viết “Ta về đi thôi! Ruộng
v-ờn ta sắp trở thành hoang vu, cớ sao ta cha về? Đã để tâm hồn cho thể xácgiày vò, thì sao còn ảo não, buồn khổ một mình làm chi? Ta hiểu rõ nhữngviệc đã qua không thể sửa chữa, nhng mà những việc cha đến còn có thể thay
đổi đợc, vì ta cha đi sâu vào con đờng lầm lạc Ta hiểu rõ những ngày hômnay ta làm là đúng và việc hôm trớc đã làm là sai”[10, 164] Tâm sự của ĐàoUyên Minh cho thấy sự trăn trở, thao thức chọn đờng của một tâm hồn bịgiày vò trớc một hiện thực không nh ý Ông thấy con đờng làm quan làvực sâu, là ràng buộc hiểm nguy cho tâm hồn a tự do, phóng khoáng Đócũng chính là tâm sự của Nguyễn Thiếp trong thời thế rối ren này
Trang 25bỏ về nghỉ cho đến trọn đời Câu nói nổi tiếng của huyện lệnh Bành Trạch
“Ta không vì năm đấu gạo mà phải khom lng trớc đứa trẻ nơi thôn xóm” là
lý do giải thích việc trở về ở ẩn của Đào Uyên Minh
Cảm ngôn ẩn hối Đào trng quân
Dịch nghĩa: Có đâu giám so sánh với ông ĐàoTiềm
(Viết khi ở núi)
Một ngời nh La Sơn phu tử mà vẫn luôn cho rằng không dám so bìcùng Đào Tiềm, vẫn luôn lấy Đào Tiềm là hình mẫu để hành xử theo Và tựlòng cảm thấy không bằng “vì năm đấu gạo mà quên mất chí hớng ban
đầu” Điều đó cũng góp phần làm hình tợng ẩn sĩ trong thơ phu tử trọn vẹn
và đẹp hơn
Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp ta thấy phu tử là một ẩn sĩ đồngthời là nhà thơ Thơ ông tràn đầy cảm hứng siêu thoát, biểu lộ tâm sự củamột ẩn sĩ lánh đời nhng không quay lng lại với thời cuộc
Trang 26Chơng 2 Bức tranh đời sống trong thơ chữ Hán
của Nguyễn Thiếp
Thơ thời nào cũng vậy, trớc hết là nơi biểu lộ tởng, cảm xúc của nhàthơ Đồng thời thơ cũng phản ánh hiện thực bên ngoài Nói cách khác, trongthơ nội dung biểu hiện và nội dung tái hiện không tách rời
2.1 Vấn đề phản ánh hiện thực trong thơ nhà Nho Việt Nam
Văn học tác động vào con ngời thông qua ngôn ngữ, bằng hình tợngnghệ thuật Bằng trí tởng tởng của ngời đọc, một thế giới sinh động đợc táihiện Văn học nghệ thuật, nhất là văn học có vị trí không thể thay thế trongviệc xây dựng cho con ngời những tình cảm lành mạnh, đa đến sự thay đổicách nghĩ, cách sống
Hiện thực đời sống chính là nguồn nuôi dỡng của văn học nghệ thuật.Hiện thực cung cấp tài liệu, chất liệu, tạo nên những rung cảm cho sáng tạonghệ thuật Từ xa đến nay văn học nghệ thuật bao giờ cũng vận động vàphát triển trong sự gắn bó tất yếu ràng buộc tự nhiên với hiện thực đờisống Những đỉnh cao nghệ thuật xa nay đều bắt rễ từ nguồn mạch sâu xa
từ thực tế thời đại mình Văn học không chỉ phản ánh thế giới khách quanqua lăng kính cá nhân mà còn biểu hiện thế giới khách quan bằng cái nhìnchủ quan muôn màu Đọc tác phẩm của ngời nghệ sĩ lớn ta dễ dàng nhận ralịch sử, bối cảnh thời đại Thực tế cuộc sống sống động trong từng trangviết qua cách nhìn, cách cảm của ngời cầm bút Mỗi một thời đại, thời điểmlịch sử, một giai cấp và từng nghệ sĩ có những cách nhìn về cuộc sốngkhông hoàn toàn giống nhau
Nho giáo xuất hiện từ vài thế kỷ trớc công nguyên Đến thời nhà Hán(Hán Vũ Đế), Nho giáo đã chính thức trở thành hệ t tởng độc tôn và luôngiữ vị trí đó cho đến ngày cuối cùng của chế độ phong kiến Nho giáo rấtphát triển ở các nớc châu á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và ViệtNam Những ngời thực hành theo các tín điều của Nho giáo đợc gọi là nhàNho
Nho giáo còn đợc gọi là Khổng giáo, là hệ thống đạo đức triết lý và tôngiáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng xã hội thịnh trị “Nho giáo từTrung Quốc vào Việt Nam đồng thời với Phật giáo và Đạo giáo (cả t tởngLão - Trang) nhng phải đến hàng chục thế kỷ sau, đến cuối đời Trần nó mới
có ảnh hởng lớn Trớc đó là một thời kỳ cực thịnh của Phật giáo, và về văn
Trang 27học trớc văn học các nhà nho là văn học các nhà s Nho giáo, các nhà nholàm chủ văn học ta từ thế kỷ XV đến vài thập kỷ đầu thế kỷ XIX” [25 , 53].Nho giáo là cốt lõi t tởng văn hóa chính thống Việt Nam từ thế kỷ XV
đến hết thế kỷ XIX, suốt hai triều đại Lê - Nguyễn Nho giáo Việt Nam vềcơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhng không còn giữ nguyêntrạng thái ban sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định Quá trình dunhập và tiến tới xác lập vị trí nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng
là quá trình tiếp biến văn hóa sáng tạo của ngời Việt Nam trong suốt chiềudài lịch sử dựng nớc và giữ nớc, góp phần tạo nên tính đa dạng nhng thốngnhất và độc đáo của văn hóa Việt Nam
Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm mốiquan hệ giữa ngời với ngời Các nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mốiquan hệ này, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc nhng không mù quángtrung quân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đầu Họ đòi hỏi nhà vua phải đặt sốphận tổ quốc, của nhân dân lên trên hết
Nho sĩ là giới đứng đầu trong tứ dân (sĩ, nông, công, thơng) Phần lớnnho sĩ xuất thân từ những gia đình bình dân ở nông thôn, là những thanhniên có chí học hành, có mộng ớc “đi học, đi thi để làm quan” vì ngày xa
đó là con đờng thuận lợi để tiến thân
Nho sĩ là một trong những hình tợng lý tởng của văn học trung đạiViệt Nam Nho sĩ là lực lợng sáng tác chủ yếu của văn học trung đại, họ cócách nhìn, biểu hiện riêng trớc hiện thực đời sống Là những kẻ sĩ xuất thân
từ cửa Khổng sân Trình, các nhà nho khi viết về cuộc sống hiện thực, trớctiên là viết về cuộc sống xã hội Đối với họ, xã hội lý tởng là xã hội ổn địnhvới hình mẫu là thời Nghiêu - Thuấn Đời sống của nhân dân đợc nhìnnhận ở hai mặt: cuộc sống no đủ, thanh bình và ngợc lại là cuộc đời thốngkhổ cơ hàn của nhân dân lao động Tiêu chí đánh giá của các nhà nho hiệnthực thời đại là cách nhà vua - ngời đứng đầu nhà nớc- xây dựng và cai trịdân chúng nh thế nào
2.1.1 Lý tởng vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn “ ”
Khi bức tranh hiện thực trong thơ nhà nho thanh bình, ta bắt gặp niềmvui sớng, tự hào về non sông, đất nớc cũng nh ngợi ca công đức, tài năngcủa các minh quân Chẳng hạn chiến thắng vĩ đại của Lê Lợi chống quânMinh không những giành độc lập cho đất nớc mà còn đập tan đợc ý chí xâmlợc của các triều đại phong kiến phơng Bắc đơng thời “Dới thời Lê ThánhTông, nhà nớc chú ý phát triển sản xuất nông nghiệp, khuyến khích công th-
ơng nghiệp, chăm nom đời sống của nhân dân” [45, 36]
Trang 28Bài thơ Vịnh năm canh của Lê Thánh Tông cho thấy “một buổi tối
thanh bình và tràn đầy sức sống, không một nét tiêu sơ trong thiên nhiêntạo vật,không một nỗi lo âu trong cuộc sống con ngời” [ 37, 174]:
Chập tối trời vừa mọc đẩu tinh, Ban hôm trống một mới sơ canh.
Đầu nhà khói tỏa lồng sơng bạc, Sờn núi chim về ẩn lá xanh.
Tuần điếm kìa làng khua mõ cá, Dâng hơng, nọ kẻ nện chày kình.
Nhà Nam, nhà Bắc đều no mặt, Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình.
Lời thơ giản dị biểu thị niềm tự hào về thời thịnh trị của xã hội phongkiến dới thời Lê Thánh Tông Không gian mở rộng từ Nam chí Bắc, tất cả
“đều no mặt”, “cùng ca khúc thái bình” Bài thơ nh một bức tranh vẽ cảnh
no đủ, tràn đầy âm thanh cuộc sống
Trong thơ nhà nho Việt Nam, chúng ta bắt gặp hình ảnh một ng ông
nhàn nhã trong bài thơ Ng nhàn của Không Lộ thiền s, tiêu dao trong cái
thiền định của cõi Phật, lòng bình yên thi vị trong sắc xanh vô hạn
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.
Ng ông thụy trớc vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.
Dịch thơ: Vạn dặm sông xanh, vạn dặm trời,
Một thôn mây khói một thôn dâu
Ông chài ngủ tít không ngời gọi,
Tỉnh dậy thuyền tra ngập tuyết rơi
(Cảnh nhàn của ng ông)
Hình ảnh đồng quê với những nơng dâu bạt ngàn gợi lên một nếpsống dân dã cần cù Màu khói nhạt phủ mờ thôn xóm nơng dâu gợi đến mộtlàng quê ven sông yên bình Đó là hình ảnh điển hình của nớc Đại Việttrong thế kỷ XII, sau khi đánh tan quân Tống xâm lợc Hiện thực đợc khắchọa ở đây là cuộc sống thanh bình, một ng ông nhàn nhã, quá giấc tra tỉnhdậy bao quanh là một màu xanh “màu xanh quyến rũ kia làm cho con ngời
dù khô héo đến đâu cũng hồi sinh sống lại làm ngời Nó đánh thức lòngham sống” [7, 66] Màu trắng xóa của tuyết thể hiện sự thanh lọc của thiênnhiên Hay “ông lão chài chính là tác giả, giấc mê ngủ đối với đời chính là
Trang 29giấc tỉnh của chân lý, mặt trời quá ngọ là quá nửa thiên cổ qua, đám tuyết
đầy thuyền là thế sự” [49, 189], vô thờng không ở cảnh mà ở lòng
Bài thơ Lu Gia độ của Trần Quang Khải biểu hiện cách nhìn đời sống
bằng thớc đo chính sự Từ bức tranh hiện thực tác giả tỏ lòng biết ơn, sùngkính ngời trị vì đất nớc:
Lu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đình lu thủy thợng, Hoang tử cổ trũng thạch lân tiền.
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lý đại quan hà nhị bách niên.
Thi khánh trùng lai đầu phát bạch, Mai hoa nh tuyết chiếu tình xuyên.
(Bến đò Lu Gia)Sau chiến thắng giặc Nguyên, nhân dân ta xứng đáng hởng cuộc sốnghòa bình Cái cảnh “thuyền buồm lớp lớp” ở trên sông và “trên đồng lúa tốttựa mây lồng” mà Bùi Tông Hoan miêu tả là hiện thực trong những nămphấn khởi xây dựng lại đất nớc sau chiến tranh Cảnh “thăng bình thịnh trị”
mà Sử Hi Nhan nói đến chắc không ngắn ngủi, cho nên mãi đến nửa sau thế
kỷ XIV vào khoảng năm 1370 mà Nguyễn Bá Thông còn có thể nói đếncảnh “Lúa, bắp bát ngát đầy long, Dâu gai mơn mởn thẳng hàng”, “Tấp nậpthuyền bè dây kéo, Dọc ngang đờng lối chim muông”
Xã tắc thanh bình, dân chúng no đủ là sở nguyện của của ngời đứng
đầu đất nớc Bài thơ Thiên Trờng vãn vọng của vua Trần Nhân Tông tả cảnh
thôn quê đơn sơ, đạm bạc nh muôn vàn cảnh thôn quê lúc chiều xuống songlại có sức chứa lớn lao kỳ vĩ và ý nghĩa hiện thực sâu rộng:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dơng biên.
Trang 30Mục đồng địch lý quy ngu tận,
Bạch lộ sông phi hạ điền.
Dịch thơ: Trớc xóm sau thôn tựa bóng lồng,
Bóng chiều man mác có dờng không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng
(Ngắm cảnh chiều ở Thiên Trờng) Trần Nhân Tông là vị vua đã gần gũi dân chúng, cùng nhân dân vàosinh ra tử gian khổ mới đánh đuổi đợc quân giặc, giành lại đợc cho đợc cho
đất nớc, cho dân cảnh sống thanh bình “Bài thơ ngắn này không phải làmột khắc mà thơ của một triều đại, rất tiêu biểu cho một thời đại vẻ vangvào bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta” [64, 71-75]
Cuộc sống hiện thực còn đợc nhìn bằng con mắt trìu mến, bằng sựbiết ơn những vị thánh quân, những anh hùng xả thân vì đất nớc
Nhị thánh hề tịnh minh,
Tựu thử giang hề tẩy giáp binh.
Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.
Tín tri: bất tại quan hà chi hiểm hề,
Duy tại ý đức chi mạc kinh.
Dịch: Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao
(Phú sông Bạch Đằng)
Xã tắc thái bình, non sông nghìn năm bền vững là bởi có thánh quânlãnh đạo “Thánh quân” là Thái thợng hoàng Trần Thánh Tông và vua TrầnNhân Tông, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba đánhthắng giặc Nguyên - Mông Nhờ những nhân tài mà đất nớc đợc “điện an”,nhờ những vị vua anh minh mà Đại Việt đợc “thanh bình muôn thuở” Đứccao là lòng yêu nớc thơng dân, là tinh thần đại đoàn kết dân tộc Cái đứccao hơn đất hiểm ấy của hai vị thánh quân đã thu phục đợc lòng dân trămhọ
Cùng chung cảm hứng, cái nhìn về một chế độ vua sáng tôi hiền,nhân dân đợc an c lạc nghiệp Lý Tử Tấn đã ca ngợi mối thống nhất nớc Đại
Việt trong Tứ hải nhất gia:
Anh minh duệ toán thánh thần công,
Tứ hải xa th hỗn đại đồng.
Trang 31Tinh đẩu nhất thiên giai củng bắc, Giang hà vạn phái tận trào đông.
Mao nghê cổ vũ quy vơng hóa,
Hà nhĩ âu ca yển đức phong.
Dịch thơ: Sáng suốt mu toan nên sự nghiệp thánh thần,
Bốn bể cùng chung một khối thống nhất
Cả trời sao đều quay về hớng bắc,Muôn dòng sông thảy nhằm vào hớng đông
Già lẫn trẻ mừng rỡ theo về vơng hóa,Khắp xa gần vui hát, thuận chiều đức phong
(Bốn biển một nhà) “Nhìn cuộc sống xã hội nh một “thực tại chính sự” đã trở thành mộtthứ công thức, khuôn mẫu của văn chơng nhà nho Nhìn cuộc sống nhândân từ góc độ đánh giá chính sự của một triều đại là một nét đặc trng củamảng thơ văn nhà nho viết về đề tài này” [57, 130]
2.1.2 Hình ảnh các giai cấp cần lao
Trong niềm khao khát đợc sống và thực hành đạo lý thánh hiền, nhiềunhà nho vỡ mộng trớc hiện thực đen tối của xã hội, vấp ngã trên con đờnghoạn lộ, thất vọng, họ đành quay về tu thân Trên hành trình “lánh đục vềtrong” con đờng không phải bằng phẳng, thênh thang mà lắm gian nan, khókhăn, trắc trở Từ đó, tầng lớp nhà nho ẩn sĩ đợc hình thành và phát triển.Hình ảnh, bóng dáng họ in dấu trong văn chơng Họ là những ngời đối lậpvới quan lại, với triều đình phong kiến chính thống đơng thời Nhà nho làchủ thể chính của văn học viết Việt Nam thời trung đại Họ có thể “xuất” hay
“xử”, “hành” hay “tàng” tùy sự lựa chọn của chủ quan cá nhân
Bức tranh đời sống hiện thực trong thơ nhà Nho không chỉ có cảnhthanh bình no đủ, mà còn có cảnh nghèo đói, khổ đau “Cuộc sống lầmthan, cơ cực của nhân dân là một đề tài đi suốt cùng văn thơ nhà Nho thờitrung đại” [57, 133] Nhìn chung nhà Nho nhìn cuộc sống của nhân dân lao
động bằng con mắt cảm thông, chia sẻ, không có ý miệt thị cái nghèo, cáihèn của ngời dân, dù cách nhìn của họ xuất phát từ nhiều điểm khác nhau
Nguyễn Du trong bài thơ Sở kiến hành thuộc tập thơ Bắc hành tạp lục, với
cảm hứng nhân đạo đã phản ánh hai cảnh đời trái ngợc trong xã hội phong kiếnthối nát bất công Cảnh đời nào cũng gây cho ngời đọc nhiều ám ảnh
Trang 32Hữu phụ huê tam nhi,
Tơng tơng toạ đạo bàng.
Tiểu giả tại hoài trung,
Đại giả trì trúc khuông.
Nửa ngày bụng vẫn không,
áo quần thật lam lũ
Gặp ngời chẳng dám nhìn,
Lệ sa vạt áo ớt
(Những điều trông thấy)Một hiện thực đầy nớc mắt hiện ra trớc mắt nhà nho Cái đói cái khổ
đã biến bốn mẹ con nhà nọ thành những kẻ tiều tụy, bẩn thỉu, nhếch nhác
“Gặp ngời chẳng dám nhìn - Lệ sa vạt á ớt” Chẳng có gì ngoài một chiếcgiỏ “mớ rau lẫn tấm cám- Nửa ngày bụng vẫn không” Đau xót cho tínhmệnh của ngời mẹ và lũ con thơ đói rét, trớc mắt là vực thẳm không chết
đói thì cũng làm mồi cho thú dữ Khát khao đợc sống, đợc sinh tồn đã là
động lực giúp ngời mẹ sống lay lắt làm chỗ dựa cho lũ con thơ “mẹ chết cótiếc gì - Thơng con càng đứt ruột”
Trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du viết về cuộc sống của các cô hồn
vừa mang một không khí ma quái lại vừa có vẻ hiện thực, đó là một cuộcsống lam lũ của những con ngời cùng khổ nhất trong xã hội:
Trang 33Hoặc là ẩn ngay bờ dọc bụi,
Hoặc là nơng ngọn suối chân mây.
Hoặc là bụi cỏ bóng cây,
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ.
Hoặc là tựa thần từ Phật tự,
Hoặc là quanh đầu chợ cuối sông.
Hoặc là thơ thẩn đồng không,
Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.
Một thế giới cõi âm hết sức đen tối, bi đát, không có nơi nơng tựabám víu Đó chính là hình ảnh của trần gian với bao dáng ngời xiêu vẹotrong đói khát, nh là những thây ma trên mặt đất
Trong bài thơ Ngẫu hứng của Nguyễn Du ta thấy hình tợng một con
ngời trong một đêm thu nhớ quê dài dằng dặc, với tiếng thở dài khi miênman nhớ tới lũ con thơ đói, cảnh khổ cực lầm lũi trong dáng lẩn khất của kẻqua đờng:
Cố hơng cang hạn cửu phơng nông,
Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng.
Thí tự thuần lô tối quan thiết, Hoài quy nguyên bất đãi thu phong.
Hữu nhất nhân yên lơng khả ai, Phá y tàn lạp sắc nh hôi.
Dịch thơ: Quê hạn hán, lúa mùa hao,
Mời con thơ đói mặt rau xanh rờn
Nếu thích cá vợc, dền vờn,Chẳng cần đợi gió, về luôn lâu rồi
Ngời qua đờng, đáng thơng ôi,Nón bung áo rách, tro bôi mặt còm
Còn trong Phản chiêu hồn ta bắt gặp “niềm cảm thông thơng xót của
tác giả đối với linh hồn trung nghĩa nghìn xa kia, nỗi căm phẫn kín đáo ngụtrong những nhận xét sắc cạnh, đanh thép đối với bọn thống trị dã man,lòng thơng cảm mênh mông đằng sau cái nhìn hiện thực đối với nhân dânnghèo khổ, nh có cái gì vợt quá tầm cảm xúc đối với một cá nhân đã chết,một quốc gia và một thời đại không còn nữa, mà trở thành những cảm khái,những nhận thức đối với bọn thống trị đơng thời, đối với cuộc đời trớc mắt”[62, 156]
“Nguyễn Du ý thức một cách khá rõ rệt rằng trong xã hội phong kiến,
sự giàu sang bao giờ cũng là kết quả của sự áp bức bóc lột Sự sung sớng
Trang 34của một thiểu số ngời là nguyên nhân sự đau khổ lớn lao của đông đảonhững ngời khác Giai cấp thống trị sống trên mồ hôi, nớc mắt và cả xơngmáu của quần chúng bị áp bức” [45, 470].
Hiện thực cuộc sống đợc mở rộng khi xuất hiện mảng đề tài về cuộcsống xã hội ở thành thị giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhng tduy truyền thống của nhà nho vẫn đợc tiếp nối
Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cho thấy một ngòi bút bao quát
sâu rộng nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam trung đại với khaokhát xây dựng một nền phong hóa chuẩn mực và tốt đẹp của dân tộc Phạm
Đình Hổ đau lòng mà ví chốn kinh thành cũng nh cuộc đời và xã hội đơngthời ấy nh “lục hải”, sản vật thì nhiều nhng tệ nạn và sự đồi bại cũng lắm.Trong một truyện ông nhận xét: “những lối ăn cắp nh thế rất nhiều, khôngthể kẻ hết đợc Cái tài giỏi của kẻ gian cũng lắm lối rất buồn cời, xem thế
đủ hiểu cái thịnh suy của đời thăng bình vậy” [23, 84] và ông kết luận “đócũng là thời vận xui nên”
Nói chung trong văn học phong kiến các nhà thơ nhà văn thờng viết
về cuộc sống của những ngời thuộc tầng lớp trên, ít khi chú ý đến cuộc đờicủa những ngời thuộc tầng lớp dới Ngay nói về nỗi khổ, thì họ cũng thờngxuyên chú ý dến nỗi khổ có tính chất của những ngời thuộc tầng lớp quýtộc, thợng lu chứ không mấy khi nói đến cái khổ gay gắt, dai dẳng và hếtsức vật chất của những ngời thuộc tầng lớp dới
2.1.3 Hình ảnh tầng lớp thống trị
Trong thơ nhà nho Việt Nam bên cạnh đề tài cuộc sống của thứ dân,còn đề cập đến hiện thực cuộc sống của tầng lớp thống trị xã hội “Khi quansát và mô tả các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội phong kiến, nhànho thờng đặc tả, nhấn mạnh những phơng diện có liên quan đến đạo đứccủa kẻ thống trị, thờng chú ý đa ra những đánh giá về nhân cách Các tácgiả có thể dùng những cách phúng thích khác nhau Nguyễn Bỉnh Khiêmdùng hình tợng con chuột ẩn náu nơi chân thành, đàn xã để ám chỉ những
kẻ lợi dụng chức quyền đục khoét lơng dân Nguyễn Dữ mợn yếu tố hoang
đờng, quái đản để ngụ ý phê phán bọn quan lại ức hiếp dân lành Nguyễn
Du viết “Phản chiêu hồn” để có cơ hội khái quát về bản chất vô nhân dạocủa quan lại phong kiến Mợn chuyện xa để nói chuyện nay, mợn chuyện n-
ớc ngoài để nói chuyện trong nớc, nhờ chuyện âm để nói chuyện dơnggian…bộc lộ một cách hoàn và cuối cùng là lối viết chua chát, đau đớn về nhân tình thế thái, đó
Trang 35là một kho kinh nghiệm nhiều thế kỷ của nhà nho khi họ muốn phát biểunhận xét về nhân cách đạo đức của tầng lớp phong kiến thống trị” [57, 138].
Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du thờng xuất hiện những bức tranh
đối lập, một bên là cảnh sống đói khổ của thứ dân, và bên kia là cuộc sống
xa hoa của giai cấp thống trị ở bài Sở kiến hành ta bắt gặp một bên là bốn
mẹ con ngời ăn xin sắp chết đói và một bên là cảnh tiệc tùng linh đình củabọn quan lại ở trạm Tây Hà:
Tạc tiêu Tây Hà dịch, Cung cụ hà trơng hoàng.
Lộc cân tạp ng xí, Mãn trác trần tr dơng.
Trởng quan bất hạ trợ, Tiểu môn chỉ lợc thờng.
Bát khí vô cổ tích, Lân cẩu yếm cao lơng.
Bất tri quan đạo thợng, Hữu thử cung nhi nơng.
Dịch thơ: Đêm qua trạm Tây Hà,
Mâm cỗ sang vô kể
Vây cá hầm gân hơu,Lợn dê mâm đầy ngút
Quan lớn không gắp qua,Các thầy chỉ nếm chút
Thức ăn thừa đổ đi,Quanh xóm no đàn chó
Biết đâu bên đờng quan,
Có mẹ con chết đói
(Những điều trông thấy)
Có sự đối lập gay gắt giữa cái đói khổ gần kề cái chết của chúng dân
và sự xa hoa, lãng phí của kẻ quyền thế, giàu sang Đây cũng là t tởng đợc
Nguyễn Du bộc lộ trong bài thơ Thái Bình mại giả ca Bài thơ đối lập giữa
một bên là ông già mù hát rong nghèo khổ:
Thái bình cổ s thô bố y,
Tiểu nhi khiên vãn hành giang mi.
Vân thị thành ngoại lão khất tử
Mại ca khất tiền cung thần xuy.
… Khẩu phún bạch mạt thủ toan sức,
Trang 36Khớc tọa, liễm huyền, cáo chung khúc.
Ven sông hát dạo lần mò kiếm ăn
…bộc lộ một cách hoàn Miệng sùi tay mỏi lão ông,
Cất đàn ngồi lại tha rằng đã xong
Gần một canh hết lòng hết sức,
Năm sáu đồng kiếm đợc thế thôi
Một bên là cảnh sống xa hoa của các thuyền đi sứ:
Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ,
Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ.
Hành nhân bão thực tiện khí d, Tàn hào lãnh phạn trầm giang để.
Dịch thơ: Kìa không thấy sứ từ xa lại,
Gạo thịt đầy thuyền cái thuyền con
Ngời ăn no ứ vẫn còn,
Đáy sông cơm ngọt món ngon đổ chìm
(Ngời hát rong ở Thái Bình)
T tởng về sự đối lập giữa cuộc sống của giai cấp thống trị và giai cấp
bị trị có trong nhiều tác phẩm văn chơng Việt Nam thời trung đại Điều nàycàng rõ rệt trong giai đoạn phong kiến suy đồi
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái là một tác phẩm phản
ánh hai sự kiện lớn nhất trong lịch sử nớc ta cuối thế kỷ XVIII Đó là sự sụp
đổ không gì cứu vãn nổi của nhà nớc phong kiến Lê – Danh t Trịnh và sức mạnh
phi thờng, công lao to lớn đối với đất nớc của phong trào Tây Sơn Hoàng
Lê nhất thống chí còn phản ánh phần nào cuộc sống của nhân dân thời Lê
mạt, một cuộc sống không có trật tự, không an toàn, không ấm no vì binhhỏa và nạn đói Thời gian miêu tả tác phẩm trong khoảng hơn 30 năm cuốithế kỷ XVIII, từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1767) đến lúc Nguyễn ánhlên ngôi vua (1802) Đây chính là giai đoạn rất nhiều biến động trong lịch
sử Việt Nam, cả cơ cấu xã hội phong kiến cùng những hình thái ý thức, t ởng, đạo đức hầu nh bị đảo lộn và lay chuyển tận gốc
t-Tác giả mô tả sinh động những biến động trong xã hội phong kiếnViệt Nam cuối thế kỷ XVIII Những nhân vật thuộc tầng lớp trên của xã hội
Trang 37phong kiến không còn là những thần tợng thiêng liêng, tôn quý mà đầy xấu
xa hủ bại Trong triều đình, vua không ra vua, tại phủ liêu, chúa không rachúa Vua Cảnh Hng cam chịu sống bạc nhợc; Trịnh Tông trở thành con rốicủa đám kiêu binh; Lê Chiêu Thống bị nhân dân căm ghét vì bán nớc vàluồn cúi trớc nhà Thanh
Hoàng Lê nhất thống chí còn phản ánh thực chất thối nát của bộ máy
quan liêu phong kiến thông qua hình ảnh của bọn quan lại đủ kiểu, “tất cả
đều là một lũ bất tài, bất lực hoặc mất nhân cách, trắng trợn đến bỉ ổi, thamlam đến ngu ngốc và tuỳ thời, cơ hội đến ghê ngời Còn biết bao chân dung,nhân cách sống của những kẻ thuộc tầng lớp thống trị bị bóc mẽ, lột trần
ở phơng diện này, các tác phẩm văn xuôi dung lợng lớn đã chứng tỏ uthế Một trong những tác phẩm tiêu biểu trong việc phê phán sự suy đồi của
giai cấp thống trị là Thợng kinh ký sự Cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa đợc Lê
Hữu Trác vẽ lại một cách tỉ mỉ Từ những ấn tợng ban đầu nh “thành có balần cổng ngăn, lần cổng nào cũng có lính gác hai bên, gơm giáo sáng loáng”,
“cổng dinh cao to, voi có thể chui lọt” cho tới tận mắt nhìn thấy cung cấm với
“bốn bề tám phía chỗ nào cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, trăm hoa đua
nở, gió thoảng hơng trời” Đó là vẻ bề ngoài của thành quách, còn đi tiếp vàotrong theo chân Hải Thợng lãn ông ta thấy cuộc sống sinh hoạt đầy đủ trànngập sự xa hoa “mọi đồ nghi trợng đều sơn son thếp vàng”, “toàn những thứ
mà ngời đời cha từng thấy”, “mâm vàng chén bạc, thức ngon của lạ”, rồi tớicăn phòng của thế tử ở đợc tác giả đặc tả lại với đầy đủ chi tiết mới thấy hếtcái xa hoa, lộng lẫy nơi thâm cung Để vào nơi thế tử ở phải “đi qua chừng bốnnăm lần màn trớng, cứ mỗi lần màn gấm lại thấy có thắp một cây nến để soi đ-ờng Đi qua chừng bốn năm lần màn trớng gấm thì đến một căn nhà rộng.Trong nhà, trên chiếc sập thếp vàng ở gian giữa có một ngời ngồi, khoảng nămsáu tuổi, mặc áo lụa hồng, hai bên có mấy ngời đứng hầu Trên chiếc giá bằng
đồng có thắp một cây nến lớn Bên cạnh sập có chiếc kỷ chạm rồng, sơn sonthếp vàng Trên kỷ đặt chăn gấm Một bức màn gấm che ngang Phía trong
đang có nhiều cung nhân, đèn lồng toả sáng, mặt phấn, áo hồng mọi thứ đềulóng lánh” Cái nhìn khách quan, với tinh thần phê phán, Lê Hữu Trác đã cho
ta thấy bộ mặt thật cuộc sống của tầng lớp thống trị, đầy xa hoa, phù phiếm,một cuộc sống chỉ có hởng thụ và suy đồi
Khi viết về tầng lớp thống trị các nhà nho có nhiều cách thể hiện
đánh giá song tựu trung họ đều gặp nhau ở một điểm là tập trung quan sátnhân cách, đạo đức của nhân vật Cách nhìn cuộc sống xã hội và con ngời
Trang 38của nhà nho nói chung mang tính công thức và chủ quan Ta nhận thấy, tuycách thể hiện đa dạng, nhiều giọng điệu, đề tài, chất liệu cuộc sống phongphú song bức tranh hiện thực cuộc sống đều đợc tái hiện theo quan niệm cótính chất công thức của nhà nho về cuộc sống.
Điểm lại sự phản ánh cuộc sống trong tác phẩm của một số tác giả
tr-ớc La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp để tạo cơ sở nhận thức, đánh giá sự phản
ánh cuộc sống trong văn chơng của tác giả này Tất nhiên chúng ta phảiluôn có quan điểm lịch sử cụ thể, tức là nhận thức văn chơng Nguyễn Thiếptrong khung cảnh thời đại và đặc điểm của thể loại
2 . 2 Hoan Châu địa linh nhân kiệt trong thơ Nguyễn Thiếp
Nguyễn Thiếp với thú ngao du sơn thủy từng trải nhiều nơi, thởngngoạn nhiều cảnh đẹp nhiều vùng miền, song có thể nói theo nhà thơ,không đâu đẹp bằng quê mình Bởi cảnh sắc đó không chỉ là vẻ hấp dẫn củadanh thắng bề ngoài mà còn là cái tình, lòng tự hào về hơng sắc thiên nhiêncủa quê hơng Vùng đất Hoan Châu quê ông triền sông Lam là một nơi
có rất nhiều thắng cảnh, nhiều nơi dấu tích xa: đền cũ, thành xa, bãi
chiến trờng, nơi ẩn dật Trong bài thơ Hoan Châu, nhà thơ viết:
Trung thổ đa tài kiệt,
Minh thời thuộc Diễn Hoan.
Long chi phân hữu cán,
Địa thế cực Nam man.
Thủy khoát Song Ng hải, Thiên cao vạn Nhẫn san.
Niên lai văn khí thịnh, Quang xạ Đẩu Ngu gian.
Dịch thơ: Trung thổ nhiều ngời giỏi,
Vợng ở châu Diễn Hoan
Mạch rồng chia nhánh hữu,Thế đất giáp Nam man
Đảo Song Ng biển rộng,Núi Vạn Nhẫn trời cao
Năm nay văn khí thịnh,Dọi đến sao Đẩu Ngu
(Hoan Châu)Mảnh đất Hoan Châu quê hơng trong thơ Nguyễn Thiếp thật đẹp Nó
đợc vẽ nên bởi sự hòa hợp của thiên, địa, nhân Trời u đãi cảnh sắc thiênnhiên hùng vĩ, có núi Vạn Nhẫn cao muôn trợng tới trời, có biển rộng soi
Trang 39bóng đảo Song Ng Đất chọn thế mạch rồng muôn đời đa lại sự may mắn,phát tài hiển vinh, lu danh thiên cổ Nhân kiệt tài giỏi, “văn khí thịnh” sángdọi đến sao Đẩu Ngu
Hoan Châu đợc thể hiện trong thơ La Sơn phu tử đúng nh Phan HuyChú từng nhận xét: “Con ngời ở đây rất cần kiệm và hiếu học, vật sản thìquý báu và hiếm lạ, thần núi biển đều linh dị, khí thiêng non sông kết thànhnhiều bậc danh hiền Đất này là vùng thông với xứ Man Lào lại là vùng giớihạn giữa Nam Bắc do đó mà nó xứng đáng là một thành trì kiên cố, là thenchốt của nớc nhà trải qua các triều đại” [12, 174] Đó là “một quê hơng,xóm làng vùng văn vật có nhiều khoa bảng, nhiều ngời làm quan”, “các nho
sĩ lo việc dùi mài kinh sử, đèn sách đèn sách để mong chiếm bảng vàngtrong các kỳ thi, họ đọc sách trên lng trâu, làm văn bài trên ngọn lửa lá đa.Nho sĩ đất này nuôi một ý chí tiết tháo, cách sống “đói cho sạch rách chothơm” [6, 146]
Hoan Châu địa linh, nhân kiệt trong thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp làbức tranh đẹp giữa cảnh sắc linh thiêng và con ngời tài hoa đã ghi dấu thời
gian Trong bài Đăng Nghĩa Liệt sơn, nhà thơ viết:
Liệt sơn sơn thợng tối cao phong,
Tứ cố vân yên nhập vọng trung.
Anh Quốc thành hoang phơng thảo lục, Nghĩa Vơng kiều tại tịch dơng hồng.
Dịch thơ: Liệt sơn chót vót đứng cao trông,
Bốn mặt mây bao thấy mịt mùng
Anh Quốc thành hoang làn cỏ biếc,Nghĩa Vơng cầu cũ ánh chiều hồng
(Lên núi Nghĩa Liệt)Bài thơ diễn tả hành động con ngời đứng trên đỉnh cao chót vót núiNghĩa Liệt bốn mặt mây phủ, để hoài niệm về ngời xa Cảnh trí hùng vĩ hàihòa giữa núi cao, sông dài Tự hào về quê hơng địa linh, tác giả không khỏiluống ngậm ngùi về mảnh đất tạo nên những con ngời anh hùng Thời thế
đổi thay, Nguyễn Thiếp không muốn xu thời đành quay về với niềm hoàiniệm Thơ ông là nỗi trở trăn của tấm lòng xót xa trớc những mất mát,những bi kịch, những giá trị tốt đẹp đã qua, cái còn lại chỉ là những chứngtích đau buồn Ông xót xa trớc cây cầu nơi Nguyễn Biểu đã tiết Nghĩa V-
ơng là tớc vua Lê Thánh Tông phong cho Nguyễn Biểu Nguyễn Biểu đợcvua Trần Trùng Quang sai đi sứ đến dinh Trơng Phụ Trơng Phụ sai dọn cỗ
đầu ngời để đe dọa Ông thản nhiên ngồi ăn Trơng Phụ thả cho về, nhng
Trang 40sau lại nghe lũ hàng thần Phan Liêu, bắt ông trở lại Trơng Phụ cho lính tróivào chân cầu để nớc lên dìm chết Tấm gơng anh dũng, quả cảm của ôngtruyền mãi muôn đời
Mỗi một địa danh nơi đây là một minh chứng cho quá khứ hào hùng,
tinh thần bất diệt của lòng yêu nớc quả cảm Trong bài thơ Kinh Hắc đế từ
ông viết:
Giao Châu tự Hán nhập Trung Quốc,
Thú tể thao thao vô túc lục.
Khả liên anh hùng Mai Thúc Loan, Khớc nhân tặc thần Dơng T Húc.
Nhất hô vạn nặc tỳ hu quần,
T Húc yên năng cự hại quân.
Thiên tâm vị dục phân nam bắc,
Giao long thất thủy đồng phàm lân.
Tự Đờng hất kim thiên d tuế,
Kỷ độ tang thơng biến nhân thể.
Cổn cổn Sa Nam cổ độ đầu,
Hành nhân do thuyết Mai Hắc Đế.
Dịch nghĩa: Giao Châu Hán nhập vào Trung Quốc,
Đám quan thái thú kể không xiết
Thơng bấy anh hùng Mai Thúc Loan,
Lại vì tặc thần Dơng T Húc
Một hô quan sĩ dạ vang long,
T Húc làm sao giết đợc ông ?Lòng trời cha muốn chia Nam, Bắc, Mắc cạn giao long hết vẫy vùng
Đời Đờng đến nay nghìn năm lẻ,Cuộc thế bao lần dâu hóa bể
Sa Nam cuồn cuộn bến đò xa,Khách còn nhắc chuyện Mai Hắc Đế
(Qua đền Mai Hắc đế)
Nguyễn Thiếp viết Kinh Hắc đế từ nhân một chiều đi công cán qua
núi Đụn, ghé bến đò Sa Nam, dừng chân ở đền vua Mai Hắc Đế, nhìn cảnhnhớ ngời, lu luyến chuyện xa Cả bài thơ là sự hồi tởng về một thời khắclịch sử khi ngời anh hùng xa tùng nổi dậy đánh đuổi tên thái thú bạo tàn,cứu dân khỏi ách lầm than Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa, giải phóng
đợc cả vùng Hoan - Diễn - ái ( Hà Tĩnh- Nghệ An- Thanh Hóa) Mai Thúc