1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thêm về giá trị của truyền kỳ mạn lục (nguyễn dữ)

76 1,1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu thêm về giá trị của Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ)
Tác giả Nguyễn Dữ
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 270,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp của luận văn: Chúng tôi hệ thống lại những ý kiến của các nhà nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục, từ đó tìm hiểu kỹ hơn một số vấn đề: nghệ thuật xây dựng nhân vật, mô hình cốt tru

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

Trang 2

1.2 Các loại nhân vật chủ yếu của Truyền kỳ mạn lục. 8

1.3.Đặc điểm nghệ thuật xây dựng các loại nhân vật của Truyền kỳ mạn lục.17 Chơng 2: Cốt truyện của các truyện trong Truyền kỳ mạn lục. 412.1 Khái niệm cốt truyện 41

2.2 Các kiểu cốt truyện của Truyền kỳ mạn lục. 42

2.2.1 Mô hình các kiểu cốt truyện của Truyền kỳ mạn lục. 43

2.2.2 Nhận xét các mô hình cốt truyện của Truyền kỳ mạn lục 51

2.3 So sánh các kiểu cốt truyện của Truyền kỳ mạn lục với những 59

kiểu cốt truyện mà Truyền kỳ mạn lục chịu ảnh hởng.

2.3.1 So sánh với các kiểu cốt truyện tiêu biểu của

truyện cổ tích Việt Nam 592.3.1.1 Kiểu cốt truyện tiêu biểu của truyện cổ tích

59

2.3.1.2 ảnh hởng của cốt truyện cổ tích Việt Nam đến

cốt truyện của Truyền kỳ mạn lục. 60

2.3.2 So sánh với các kiểu cốt truyện của Tiễn đăng tân thoại(Cù Hựu) 62 2.3.2.1 Tóm tắt các cốt truyện của Tiễn đăng tân thoại. 62

2.3.2.2 Các kiểu cốt truyện của Tiễn đăng tân thoại 69

Trang 3

2.3.2.3 So sánh cốt truyện Truyền kỳ mạn lục với cốt truyện

Tiễn đăng tân thoại, tìm sự sáng tạo của Nguyễn Dữ 71

Chơng 3: Lời văn nghệ thụât của Truyền kỳ mạn lục. 753.1 Khái niệm lời văn nghệ thuật 75

3.2 Các loại lời văn nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục. 753.3 Vai trò, ý nghĩa của các loại lời văn nghệ thuật trong 78 Truyền kỳ mạn lục.

Tài liệu tham khảo 91

Mở đầu

1 - Lý do chọn đề tài:

1.1 - Văn xuôi Việt Nam trung đại xuất hiện muộn Ban đầu văn xuôi Việt

Nam tồn tại với những loại chính: ghi chép truyện dân gian, truyện lịch sử,truyện tôn giáo Từ thế kỷ XV-XVI trở đi, văn xuôi Việt Nam trung đại có bớcchuyển biến quan trọng, tính chất ghi chép giảm dần, tính chất h cấu nghệ

thuật ngày càng sâu đậm Truyền kỳ mạn lục là một trong những tác phẩm văn

xuôi hình tợng ra đời sớm của nền văn học Việt Nam (thời điểm ra đời của

Truyền kỳ mạn lục - theo Trần ích Nguyên - sớm nhất là năm 1509, muộn

nhất là năm 1547) Vì thế, thành công của nó có ý nghĩa lớn đối với văn xuôihình tợng Việt Nam trung đại

Truyền kỳ mạn lục đợc đánh giá là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền

kỳ Việt Nam Vị trí đó của tác phẩm này đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứunhiều về nó

1.2 Những tác phẩm văn xuôi đầu tiên của các nền văn học trung đại có đặc

điểm chung là gắn bó chặt chẽ với truyện dân gian Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ cũng không nằm ngoài đặc điểm chung này Luận văn của chúngtôi khảo sát những mối quan hệ đó của tác phẩm để làm rõ sự sáng tạo củaNguyễn Dữ

1.3 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục chịu ảnh hởng tiểu thuyết truyền kỳ đời

Đ-ờng và tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1347 - 1433) ở đời Minh.

Giải quyết đề tài này còn nhằm chỉ ra sự sáng tạo của Nguyễn Dữ khi tiếp thunguồn ảnh hởng từ văn học Trung Quốc

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề:

ở phần này chúng tôi điểm lại những ý kiến của ngời đi trớc liên quan

đến đề tài

Truyền kỳ mạn lục đã đợc nhiều ngời đánh giá cao ngay thời kỳ tác phẩm

ra đời Các nhà nghiên cứu thời hiện đại tiếp tục nghiên cứu nó ở cả phơngdiện nội dung và hình thức nghệ thuật

2.1 Trớc hết chúng ta điểm lại những ý kiến đánh giá của ngời Việt Nam thời

trung đại:

- Hà Thiện Hán trong lời Tựa Truyền kỳ mạn lục viết năm Vĩnh Định sơ

niên (1547): "Xem văn từ của sách thấy không ra ngoài phên dậu của TôngCát nhng có ý khuyên răn, có ý nêu quy cũ phép tắc, đối với việc giáo hoá ở

đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu!"

- Lê Quý Đôn trong Nghệ văn chí phần Truyền kỳ ở Đại Việt thông sử

viết: "… trứ tác trứ tác Truyền kỳ mạn lục gồm bốn quyển, văn từ trong sáng, mỹ lệ,

đợc ngời đơng thời ngợi khen"

- Phan Huy Chú trong "Lịch triều hiến chơng loại chí" viết: "Sách Truyền

kỳ mạn lục bốn quyển, do dật sĩ Nguyễn Dữ soạn, đại lợc bắt chớc cuốn Tiễn

đăng tập của nhà nho đời Nguyên"

- Ngoài ra còn có thể kể đến ý kiến của Vũ Phơng Đề trong Công d tiệp

ký coi Truyền kỳ mạn lục là áng "thiên cổ kỳ bút".

Nh vậy, ngời Việt Nam thời trung đại đánh giá cao sức sáng tạo củaNguyễn Dữ, coi tác phẩm là một thành phẩm nghệ thuật thể hiện ý đồ nghệthuật riêng, mang dấu ấn tài hoa của tác giả Đặc biệt, học giả Lê Quý Đônphát hiện và khen ngợi thành công về phơng diện lời văn nghệ thuật của tácphẩm

2.2 Các ý kiến đánh giá của những nhà nghiên cứu thời hiện đại tiếp tục

khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn Dữ Một số ý kiến có sự đối sánh với Tiễn

đăng tân thoại - tác phẩm của Cù Hựu mà Nguyễn Dữ chịu ảnh hởng.

Những ý kiến đánh giá về Truyền kỳ mạn lục của các nhà nghiên cứu

Việt Nam thời hiện đại đợc trình bày trong các bài nghiên cứu: " Thử so sánh

Truyền kỳ mạn lục với Tiễn đăng tân thoại - Tạp chí Hán Nôm, số 1 - 2, 1987;

" Những biến đổi của yếu tố "kỳ" và "thực" trong truyện ngắn truyền kỳ ViệtNam" của Vũ Thanh, Tạp chí Văn học số 6 - 1994; "Về mối quan hệ giữa

Trang 5

Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục" của Phạm Tú Châu - Tạp chí Văn

học, số 3 - 1997; "Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục

của Nguyễn Dữ" của Nguyễn Phạm Hùng - Tạp chí Văn học, số 2 - 1987.Giáo trình "Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII" - NXB

Giáo Dục - 1989 nhận định: Truyền kỳ mạn lục đã "nâng thể loại truyện ngắn

lên một bớc phát triển mới, khẳng định những bớc đi vững chắc của văn xuôi

bên cạnh thơ ca" Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na cho rằng: bằng Truyền kỳ

mạn lục, "Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ

đạo nghệ thuật: văn học lấy con ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh"("Đặc điểm văn học trung đại - những vấn đề văn xuôi tự sự" - NXB Giáo dục

- 2001- trang 19) Nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh trong lời giới thiệu

tác phẩm Truyền kỳ mạn lục - NXB Văn học - 2001 đánh giá: "Về mặt thể loại

mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt

Nam"

Trong số các công trình nghiên cứu của các tác giả nớc ngoài có côngtrình nghiên cứu so sánh rất công phu của nhà nghiên cứu Đài Loan Trần ích

Nguyên: "Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục"

(dịch) - NXB Văn học - 2000 Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách

tỉ mỉ, công phu và khá đầy đủ về nguồn gốc, nội dung, kỹ xảo, nội hàm của

Truyền kỳ mạn lục, ảnh hởng của tiểu thuyết truyền kỳ Trung Quốc đối với tác

phẩm này Trần ích Nguyên nhận xét: trong nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết,

"Mạn lục ngôn ngữ văn tự thanh tân điển nhã; sự tu sức điểm trang khiến cho chủ đề thêm sáng tỏ, so với Tân thoại cũng không thể nói đến hơn

thua."[14,283]

2.3 Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đánh giá thành tựu mà Truyền kỳ mạn lục

đa lại cho văn học Việt Nam: giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của tác phẩm,

sự thành công về mặt thể loại Những ý kiến đánh giá, nhận xét của các nhànghiên cứu là nguồn t liệu quý giá giúp chúng tôi nghiên cứu thêm về tácphẩm này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những phơng diện sau:

3.1 Nghiên cứu nghệ thuật xây dựng hình tợng nhân vật (vấn đề h cấu nghệ

thuật, việc sử dụng yếu tố "kỳ", ), trong sự so sánh với nghệ thuật xây dựngnhân vật ở truyện dân gian và việc ghi chép về nhân vật lịch sử ở sử ký

Trang 6

3.2 Nghiên cứu phơng diện cốt truyện: mô hình các kiểu cốt truyện của

Truyền kỳ mạn lục; so sánh chúng với các kiểu cốt truyện tiêu biểu của truyện

cổ tích và cốt truyện của văn học Trung Quốc mà Nguyễn Dữ chịu ảnh hởng

Từ đó, rút ra sự tơng đồng và khác biệt, đánh giá sự sáng tạo của Nguyễn Dữ

3.3 Nghiên cứu lời văn nghệ thuật trong Truyền kỳ mạn lục Truyền kỳ mạn

lục sử dụng kết hợp ba loại lời văn: tản văn, biền văn, vận văn Luận văn

nghiên cứu vai trò, ý nghĩa của các loại lời văn này trong tác phẩm

4 Phơng pháp nghiên cứu:

Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu: phơng pháp hệthống, phơng pháp phân tích, phơng pháp tổng hợp, đặc biệt chú trọng phơngpháp so sánh

5 Đóng góp của luận văn:

Chúng tôi hệ thống lại những ý kiến của các nhà nghiên cứu về Truyền kỳ

mạn lục, từ đó tìm hiểu kỹ hơn một số vấn đề: nghệ thuật xây dựng nhân vật,

mô hình cốt truyện, các loại lời văn của tác phẩm

Chơng 2: Cốt truyện của các truyện trong Truyền kỳ mạn lục.

Chơng 3: Lời văn nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục.

Trang 7

Nội dungChơng 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của

"Truyền kỳ mạn lục".

1.1 Khái niệm nhân vật:

Nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằngphơng tiện văn học Nhân vật văn học là một hiện tợng nghệ thuật mang tính -

ớc lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con ngời

mà chỉ là sự thể hiện con ngời qua những đặc điểm điển hình Đó có thể lànhững con ngời đợc miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách,tiểu sử nh thờng thấy ở tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là những ngời thiếuhẳn những nét đó, những lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn nh nhân vật trầnthuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận nh nhân vật trữ tìnhtrong thơ trữ tình Nhng thật ra, khái niệm nhân vật thờng đợc quan niệm vớimột phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con ngời, những con ngời có tênhoặc không tên, đợc khắc hoạ sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoảng qua trongtác phẩm, mà còn có thể là những con vật bao gồm cả quái vật lẫn thần linh,

ma quỷ ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con ngời, đợc dùng nh nhữngphơng thức khác nhau để biểu hiện con ngời Khái niệm nhân vật có khi đợc

sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con ngời cụ thể nào mà chỉ một hiệntợng nổi bật trong tác phẩm - về con ngời hoặc có liên quan tới con ngời;

chẳng hạn, nói nhân dân là nhân vật chính của Chiến tranh và hoà bình, thời

gian là nhân vật chính trong sáng tác của Sêkhôp,… trứ tác

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của conngời Do tính cách là một hiện tợng xã hội, lịch sử, nên chức năng khái quáttính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử Trong thời cổ đại,nhân vật văn học của thần thoại, truyền thuyết thờng khái quát năng lực và sứcmạnh của con ngời ứng với xã hội phân chia giai cấp, nhân vật của truyện cổtích lại khái quát các chuẩn mức giá trị đối kháng trong quan hệ giữa ngời vàngời nh thiện với ác, trung với nịnh, thông minh với ngu đần

Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tởng thẩm mỹcủa nhà văn về con ngời Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tácphẩm Ngoài ra, nhân vật còn luôn gắn liền với cốt truyện Vì nhân vật đợcmiêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và các chi tiết Đó là mâu thuẫnnội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa

Trang 8

tuyến nhân vật này với tuyến nhân vật khác Nhờ đợc miêu tả qua xung đột,mâu thuẫn, nên nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách đợcbộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính chất quá trình.

Tóm lại, "nhân vật văn học là con ngời cụ thể đợc thể hiện, miêu tả trongtác phẩm văn học bằng phơng tiện văn học" Nhân vật văn học đó có thể làcon ngời có tên hoặc không tên; có thể là những con vật, bao gồm cả quái vậtlẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang đặc tính của con ngời

1.2 Các loại nhân vật chủ yếu của Truyền kỳ mạn lục.

Nhân vật văn học là hiện tợng hết sức đa dạng Lý luận văn học đã chỉ racác tiêu chí để phân chia nhân vật văn học thành những kiểu, loại khác nhau

Đối với tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi dựa vào hai tiêu chí sau để

Kiểu phân chia thứ nhất làm nổi bật đặc điểm của văn xuôi tự sự trung

đại, kiểu phân chia thứ hai làm nổi bật đặc điểm của tác phẩm truyền kỳ

Sự phân biệt nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) và nhânvật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực) gắn liền với những mâu thuẫn đốikháng trong đời sống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập giai cấp và quan

điểm t tởng Nhân vật chính diện mang lý tởng của tác giả và của thời đại Đó

là ngời mà tác phẩm khẳng định và đề cao nh những tấm gơng về phẩm chấtcao đẹp của con ngời một thời Trái lại, nhân vật phản diện lại mang nhữngphẩm chất xấu xa trái với lý tởng, đáng lên án và phủ định Nh vậy, hai loạinhân vật này luôn đối kháng với nhau

Trong văn học Việt Nam, sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vậtphản diện đã xuất hiện ở văn học truyền miệng (truyền thuyết, truyện cổ tích),

sau đó là văn học viết trung đại Bởi vậy, sự phân chia nhân vật trong Truyền

kỳ mạn lục không ra ngoài đặc điểm của văn xuôi tự sự trung đại.

Số lợng nhân vật chính diện và nhân vật phản diện trong Truyền kỳ mạn

lục xuất hiện gần nh cân xứng Khi Nguyễn Dữ muốn bộc lộ đạo đức tốt đẹp

thì ông xây dựng kiểu nhân vật chính diện Đồng thời, muốn làm nổi bật

Trang 9

những đặc điểm này của nhân vật chính diện thì phải có nhân vật phản diện.Qua nhân vật phản diện, quan điểm của tác giả cũng có cơ hội bộc lộ rõ nét.

Trong hai mơi truyện ngắn của Truyền kỳ mạn lục chúng tôi thống kê đợc những nhân vật chính diện sau: nàng Nhị Khanh (Chuyện ngời nghĩa phụ ở

Khoái Châu), đạo sỹ (Chuyện cây gạo), nàng Thuý Tiêu (Chuyện nàng Thuý Tiêu), nàng Vũ Nơng (Chuyện ngời con gái Nam Xơng), nàng Lệ Nơng (Chuyện Lệ Nơng), Trịnh Thái thú và Dơng thị (Chuyện đối tụng ở Long cung), Từ Thức (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên), ngời tiều phu (Chuyện ngời tiều phu ở núi Na), đạo nhân (Chuyện gã trà đồng giáng sinh), Ngô Tử Văn (Chuyện chức Phán sự ở đền Tản Viên), Phạm Tử H (Chuyện Phạm Tử H lên chơi Thiên Tào).

Những nhân vật thuộc loại phản diện: Trọng Quỳ (Chuyện ngời nghĩa

phụ ở Khoái Châu), Trình Trung Ngộ và nàng Nhị Khanh (Chuyện cây gạo),

Hà Nhân (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây), nàng Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của

Đào thị), viên quan họ Hoàng và hồn thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xơng Giang), các vị thần Phật (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều), quan

tớng (Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Chuyện Lý tớng quân, Chuyện Phạm

Tử H lên chơi Thiên Tào, …) )

Xem xét Truyền kỳ mạn lục sẽ thấy nhân vật chính diện đợc quan tâm

nhiều nhất là ngời phụ nữ và ngời trí thức Ngời trí thức ở đây có thể là họctrò, có thể là ẩn sĩ Thay vì hình ảnh ngời trí thức hớn hở trên đờng sĩ hoạn vớichí hớng lập công danh, cống hiến cho đất nớc nh trong văn học giai đoạn tr-

ớc, ngời trí thức của Truyền kỳ mạn lục là những con ngời say mê lao mình

vào những niềm vui thực tế, quên hết mọi nhiệm vụ cao quý, mọi lời răn dạycủa thánh nhân Họ bộc lộ thái độ bất hợp tác đối với vơng triều hiện tại, đi rangoài những lý tởng truyền thống của ngời sĩ quân tử Đây chính là nét chung

của những tác phẩm viết về ngời trí thức phong kiến trong Truyền kỳ mạn lục.

Điều thú vị là thái độ đó đợc thể hiện dới nhiều hình thức khác nhau: hoặc tìm

kiếm khôn nguôi về lẽ sống, hạnh phúc, lý tởng trong Chuyện Từ Thức lấy vợ

tiên; hoặc quay lng lại thực tế, để thể hiện cái "chí" của kẻ sĩ trong buổi rối

ren, suy đốn, mà sức mình không làm gì đợc, giữ lấy cái thiện cho riêng mình

nh trong Chuyện ngời tiều phu ở núi Na, Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, …)

Nhân vật ngời trí thức của Truyền kỳ mạn lục còn đợc Nguyễn Dữ miêu tả ở

những khía cạnh khác trong con ngời của họ: Nguyễn Dữ ngợi ca tình thuỷchung trong quan hệ vợ chồng của một ông quan - nhân vật Trịnh Thái thú

Trang 10

trong Chuyện đối tụng ở Long cung - bằng chi tiết treo ấn từ quan, "chôn một

cái mả hờ dới chân núi Đốn", hàng ngày chăm sóc nó và sống một mình Sau

đó, Trịnh Thái thú tìm đợc vợ là Dơng thị ở Long cung, hai ngời sống hạnh

phúc bên nhau ở trần thế Phạm Tử H (Chuyện Phạm Tử H lên chơi Thiên

Tào) đợc khen ngợi là ngời học trò có đức tính tốt "trung hậu thành thực"

-đặc biệt thể hiện trong quan hệ với thầy, sống đúng lẽ luân thờng Ngoài ra,Nguyễn Dữ cũng bày tỏ quan niệm sống nhân ái, hợp đạo qua nhân vật đạo

nhân, đạo sĩ trong Chuyện cây gạo, Chuyện gã trà đồng giáng sinh Tóm lại,

với nhân vật ngời trí thức, Nguyễn Dữ khẳng định: trong thời kỳ đau thơngcủa dân tộc, họ không chỉ gìn giữ những phẩm chất cao đẹp cho riêng mình,

mà còn không ngừng vơn lên, kiếm tìm những giá trị làm ngời cao quý hơn,nhân đạo hơn Hình tợng ngời trí thức của Nguyễn Dữ đợc miêu tả trong cáctác phẩm rất phong phú, phức tạp - nó phản ánh đúng tính phức tạp tất yếu củacuộc đời ngời trí thức trong sự biến động dữ dội của xã hội Việt Nam thế kỉXVI

Hình tợng ngời phụ nữ cũng là loại nhân vật chính diện xuất hiện nhiều

trong Truyền kỳ mạn lục, trở thành một đối tợng thẩm mỹ quan trọng Xây

dựng hình tợng ngời phụ nữ, Nguyễn Dữ bộc lộ trực tiếp quan niệm về tìnhyêu và hạnh phúc của mình Những ngời phụ nữ hiện lên trong tác phẩm vớicả diện mạo tâm hồn, tình cảm, nhu cầu và khát vọng với số phận của mình

Đó là những con ngời vốn xuất thân rất bình thờng, có khi tầm thờng, nh ca

kỹ, tỳ thiếp… trứ tác nhng lại mang những phẩm chất rất đáng trân trọng, ngợi ca vàcòn là những ngời có tài văn thơ Hình tợng ngời phụ nữ trở thành nhân vật

chính, nhân vật trung tâm trong rất nhiều truyện của Truyền kỳ mạn lục Khi

xây dựng nhân vật chính diện là ngời phụ nữ, "Nguyễn Dữ đã gửi lại cho độcgiả thời sau bức thông điệp: ở thời đại ông, không một ngời phụ nữ nào cóhạnh phúc cả cho dù họ sống theo kiểu nào Ngoan ngoãn, thuỷ chung, làm

tròn phận sự của ngời con, ngời vợ, ngời mẹ nh Nhị Khanh (Chuyện ngời

nghĩa phụ ở Khoái Châu), Vũ Thị Thiết (Chuyện ngời con gái Nam Xơng),… trứ tác

hoặc "phá phách" nh Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Đào Hàn Than (Chuyện

nghiệp oan của Đào thị),… trứ tác thì cái chết theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng làchung cục cho mọi kiếp đàn bà!"[12,21]

Hình tợng ngời phụ nữ đợc miêu tả trong Truyền kỳ mạn lục là những con

ngời bé nhỏ, khổ đau, nhng phẩm chất vô vàn cao quý Nguyễn Dữ thể hiệnquan điểm về phẩm chất dân tộc qua nhân vật ngời phụ nữ Những cái cao

Trang 11

đẹp, tích cực, tiến bộ thể hiện rực rỡ ở những con ngời đau khổ, nhỏ bé nh NhịKhanh, Vũ Thị Thiết, Lệ Nơng, Thuý Tiêu,… trứ tác trong đau đớn vùi đập vẫn bừngcháy niềm khao khát khôn nguôi về hạnh phúc tình yêu, công bằng, về quyền

đợc sống, đợc hởng thụ và hiến dâng Đào Hàn Than tập trung cao nhất nhữngnỗi đau khổ của một kiếp ngời bé nhỏ, không phơng tự vệ, trong cái xã hội

đầy rẫy những oan trái, bất công mà Nguyễn Dữ thấy đợc Nàng bị mọi thế lựcxã hội vùi dập, đày đọa Số phận đã bắt nàng chịu "hết nạn nọ, đến nạn kia",

và càng cố vơn lên đến bao nhiêu, nàng càng bị vùi dập sâu xuống bấy nhiêu

Từ cõi chết, Đào thị trở về trả thù kẻ đã đày đọa mình, thì lại bị trừng trị tàn ác

hơn Đào thị là nhân vật duy nhất trong Truyền kỳ mạn lục phải chết oan ức

hai lần, cái chết sau thảm khốc hơn cái chết trớc Đó chính là sự trả lời tànnhẫn của cuộc sống hiện tại đen bạc cho những khao khát vùng lên tuyệt vọng

của nàng Đấy chính là đỉnh cao bi kịch của số phận con ngời trong Truyền kỳ

mạn lục.

ở những hình tợng nhân vật chính diện, Nguyễn Dữ bộc lộ quan niệm vềcái đẹp Và ông bộc lộ thái độ đối với cái xấu ở nhân vật phản diện Đối tợngNguyễn Dữ chọn miêu tả là thơng nhân (Trình Trung Ngộ), học trò (Hà

Nhân), yêu quái (nàng Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo), hồn hoa Đào, Liễu

(Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây), hồn thị Nghi(Chuyện yêu quái ở Xơng Giang),… trứ tác ,

các vị thần Phật (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều), quan tớng

(Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà giang, Chuyện đối đáp của ngời tiều phu ở núi

Na, Chuyện Lý tớng quân, Chuyện Phạm Tử H lên chơi Thiên Tào, …) ).

Nguyễn Dữ bày tỏ thái độ phê phán chế độ phong kiến đơng thời bằng phơngpháp mợn chuyện xa để nói về thời hiện tại, mợn chuyện cõi trời, cõi âm đểnói chuyện cõi trần, mợn chuyện thần linh ma quái để nói chuyện ngời Bằngphơng pháp gián tiếp và u thế của văn xuôi, Nguyễn Dữ đợc tự do tung hoànhngòi bút trên trang giấy và trở thành ngời tấn công vào hôn quân bạo chúabằng thái độ công phẫn và sự sắc sảo, thông minh của một nhà văn có tài, amhiểu con ngời và cuộc sống Nhà nghiên cứu Xô Viết Marian Tkatsov nhận xét

về Truyền kỳ mạn lục: Nguyễn Dữ "đã suy nghĩ có tính cách phạm trù về thời

đại mình" qua hàng loạt những "hình tợng điển hình" của tầng lớp phong kiếnthống trị đơng thời, với "một cách đánh giá không thiên vị và nghiêm khắc"

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng nhận xét về Truyền kỳ mạn lục:

"Cha bao giờ trong văn học viết, cho tới lúc đó, vua chúa, quan lại đợc thểhiện một cách hèn kém, bất tài đến thế Hồ Hán Thơng, chịu bất lực trớc ý chí

Trang 12

và lý lẽ của một ẩn sĩ (Chuyện ngời tiều phu ở núi Na); Hồ Quý Ly là ngời

"từng tranh luận với ngời Trung Hoa, ngời Chiêm, cha hề chịu khuất lý bao

giờ", lại đuối lý trớc ẩn sĩ họ Hồ và tú tài họ Viên (Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà

Giang)… trứ tác Quan lại thì độc ác, dâm bạo, bất nhân, hoặc cụ thể nh trụ quốc họThân, tớng quân họ Lý, hoặc cách điệu nh thần Thuồng Luồng,… trứ tác "[17,115].Ngay cả lực lợng thần quyền, dới thế giới quan của Nguyễn Dữ, cũng đợcnhìn nhận khác: nếu trong văn học Lý - Trần, thế giới thần quyền cơ bản đợcxem nh một lực lợng có thực theo quan niệm của ngời đơng thời, là lực lợngphù trợ cho con ngời và đợc con ngời tiếp nhận một cách thiêng liêng, trangtrọng thì nay đã khác Trong nhiều truyện, niềm tin vào thần linh, tôn giáo vẫn

tỏ ra chi phối thế giới quan của Nguyễn Dữ, nhng cũng trong nhiều truyệnkhác, ta thấy ông có thái độ phê phán rất quyết liệt những "ác thần": "… trứ tác chúng vào bếp để khuắng hũ rợu của ngời ta, vào buồng ghẹo vợ con ngời ta,khi mọi ngời đổ đến vây bắt, thì kẻ gian biến đi đằng nào"[25,172], và ông cólời bình "Than ôi! Cái thuyết nhà Phật thật vô ích mà còn hại quá lắm Nghelời nói năng thì từ bi, quảng đại, tìm sự ứng báo thì bắt gió mơ hồ Nhân dânkính tín đến nỗi có ngời phá sản để cúng cho nhà hoặc chùa Nay xem cái dnghiệt ở trong một ngôi chùa nát mà còn gớm ghê nh thế, huống ngày thờngcúng vái sầm uất phỏng còn tai hại đến đâu"[25,177]

Qua những nhân vật phản diện mà Nguyễn Dữ xây dựng, chúng ta thấy

rõ Nguyễn Dữ đã nghi ngờ và có thái độ phủ nhận vai trò của cả thần quyền vàpháp quyền phong kiến hiện tại Tác phẩm của ông thể hiện sâu sắc nhữngmâu thuẫn dữ dội giữa cái thiện và cái ác mà chủ yếu nằm trong lực lợngthống trị Mọi cái ác, theo ông, phải bị trừng trị Mọi cái thiện phải đợc bảo vệ

và đề cao

Không chỉ tỏ thái độ với thần quyền và pháp quyền, khi xây dựng loạinhân vật phản diện, Nguyễn Dữ còn nghiêm khắc với một số loại ngời mà đạolàm ngời xuống cấp nghiêm trọng Chẳng hạn, ngời học trò Hà Nhân trong

Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây "gánh cặp đến học ở Trờng An, tởng nên chăm chỉ

về học nghiệp" ai ngờ lại mê đắm sắc dục với hồn hoa Đào, Liễu Nguyễn Dữnhận xét: "Chàng họ Hà lòng trẻ có nhiều vật dục, cho nên loài hoa kia đòithừa cơ quyến rũ Nếu không thì những giống nguyệt quái hoa yêu, mê hoặcsao đợc mà chẳng phải thu hình nép bóng ở trớc Lơng công là một bậc chính

nhân"[25,75] Xây dựng nhân vật Trọng Quỳ (Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái

Châu) Nguyễn Dữ đã lớn tiếng phê phán: "Có ngời vợ nh thế mà để cho phải

Trang 13

hàm oan, Trọng Quỳ thật là tuồng chó lợn Muốn tề đợc nhà, phải trớc tự sửa

lấy mình chính, khiến cho không thẹn với vợ con, ấy là không thẹn với trời

đất"[25,34] Nguyễn Dữ phê phán Trọng Quỳ bởi hắn là kẻ đánh bạc gán vợ nàng Nhị Khanh nết na, chung thuỷ - đến nỗi vợ phải tự tử Hay nh nhân vật

-Trình Trung Ngộ (Chuyện cây gạo) mê đắm yêu quái Nhị Khanh và đi đến

chỗ chết Nguyễn Dữ gọi Trung Ngộ là "kẻ thất phu đa dục" Nh vậy, khi bày

tỏ quan niệm, thái độ của mình về vấn đề đạo đức trong xã hội hiện thời, dễthấy Nguyễn Dữ đặt vấn đề đạo đức trong quan hệ vợ chồng, quan hệ tình yêu,

… trứ tác

Tóm lại, dù là xây dựng nhân vật chính diện hay nhân vật phản diệnNguyễn Dữ cũng đều bày tỏ thái độ, quan niệm của mình một cách thẳngthắn, mạnh mẽ về cái thiện, cái ác; cái xấu, cái tốt xung quanh các vấn đề đạo

đức xã hội, vấn đề thần quyền, pháp quyền liên quan đến số phận con ngờitrong xã hội phong kiến nớc ta ở thế kỷ XVI và phù hợp với cả những xã hội

có áp bức, bóc lột Với hai kiểu nhân vật này Nguyễn Dữ đã đạt đợc nhữngthành công lớn về nghệ thuật xây dựng nhân vật Vấn đề này chúng tôi sẽtrình bày rõ hơn ở phần sau Chúng ta bắt gặp cái xấu cũng nh cái tốt trongcùng một nhân vật Chẳng hạn, nhân vật Đào Hàn Than là nhân vật tiêu biểucho mọi đau khổ của ngời phụ nữ trong xã hội đầy rẫy oan trái, bất công HànThan có lòng khao khát mãnh liệt vơn tới cuộc sống mà nàng mong muốn Có

lẽ vậy nên nàng phải trả giá bằng hai lần chết, cái chết sau thảm khốc hơn cáichết trớc Ngời đọc thấy xót thơng cho nàng, nhng cũng khó chấp nhận đợcnhững biểu hiện gọi là xấu ở Hàn Than: tính tình lẳng lơ, quyến rũ và t thôngvới s bác Vô Kỷ, chết rồi còn biến thành yêu quái trả thù cá nhân đối với gia

đình quan Hành khiển là Nguỵ Nhợc Chân Phải chăng, khi để cái thiện và cái

ác; cái tốt và cái xấu tồn tại trong một nhân vật, nhân vật ấy gần với bản chấtcon ngời hơn Xây dựng nhân vật là con ngời đời thờng, Nguyễn Dữ đặt nềnmóng cho sự phát triển theo khuynh hớng này của văn học giai đoạn tiếp theo.Ngoài tiêu chí phân loại nhân vật theo đặc điểm của tính cách, việctruyền đạt lý tởng của nhà văn nh đã trình bày ở trên, chúng tôi còn dựa vào

đặc trng của tác phẩm truyền kỳ, chia nhân vật thành hai loại: nhân vật là ngời

Trang 14

cạnh rất ngời Hai kiểu nhân vật là ngời và không phải là ngời đợc Nguyễn Dữcho xuất hiện trong cùng một tác phẩm, tạo ra không gian rộng lớn cho truyện

- không gian cõi trần, không gian cõi tiên, không gian cõi âm - nhân vật dễ bềhoạt động

Tiếp xúc với kiểu nhân vật là ngời, ta bắt gặp những con ngời rất dỗi bìnhthờng, một ngời con quan gia đình sa sút đâm ra chơi bời, gán vợ nh TrọngQuỳ, một gã đi buôn háo sắc - mê đắm với hồn ma - nh Trình Trung Ngộ, mộtthanh niên khảng khái đốt đền nh Ngô Tử Văn, một tiều phu ẩn dật, một kẻhay thơ đa tình, một ả ca kỹ lẳng lơ, một ngời vợ thuỷ chung sống đúng đạotòng phu nh Nhị Khanh, Vũ Thị Thiết,… trứ tác Sự xuất hiện của nhân vật con ngời

trong Truyền kỳ mạn lục có những biểu hiện khác với văn học giai đoạn trớc.

Con ngời trong văn học của giai đoạn trớc thế kỷ XVI thờng là cứng nhắctrong các khuôn mẫu "tam cơng, ngũ thờng", "tam tòng, tứ đức", con ngời củatinh thần và ý chí, t tởng và giáo điều,… trứ tác Đến Truyền kỳ mạn lục, một quan

niệm mới về việc phản ánh con ngời đã xuất hiện: ngợi ca vẻ đẹp con ngời cảvật chất và tinh thần; con ngời tồn tại gần nh nó vốn có "Những hình ảnh dathịt hồng hào, tơi tốt, … trứ tác rất dễ gặp trong tác phẩm này Những dục vọng, ớcmuốn thoát ra ngoài sự toả chiết của t tởng Nho gia về "tu, tề, trị, bình" vớingời quân tử; "công, dung,ngôn, hạnh" đối với ngời phụ nữ phong kiến cũngrất dễ gặp ở đây Con ngời, đó không phải là những tấm gơng chói loà về cácanh hùng, liệt nữ lu danh sử sách, mà là những con ngời của đời sống thực tếsôi động, cay nghiệt" [7,120] Quan niệm mới trong việc phản ánh con ngờixuất hiện thì đồng thời, một quan niệm mới về hạnh phúc và lẽ sống đã ra đờitrong văn học

Nhân vật thần linh, ma quái trong Truyền kỳ mạn lục cũng đợc xây dựng

khác trớc Những nhân vật thần linh trớc đây đợc xem là lực lợng huyền bí

phù trợ cho con ngời, đợc con ngời sùng kính, trân trọng thì trong Truyền kỳ

mạn lục, trở thành lực lợng phản diện Tợng phật trong Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều đội lốt Phật mà ăn trộm của cải của dân lành, vào

buồng ghẹo vợ ngời, chửi bới lẫn nhau, trách móc dân lành,… trứ tác Nhân vật maquái có những biểu hiện rất ngời - khát khao yêu đơng - nhng hoang dâm quá

độ, gieo rắc tai hoạ cho dân lành Tuy nhiên, khi xây dựng thế giới nhân vậtthần linh, ma quái Nguyễn Dữ nhằm mục đích hớng tới cuộc sống con ngời.Lấy chuyện ma để nói chuyện ngời

Trang 15

Trên đây, chúng tôi đã khái quát các loại nhân vật chủ yếu của Truyền kỳ

mạn lục Phần tiếp theo, chúng tôi trình bày những đặc điểm chung và riêng

trong nghệ thuật xây dựng các loại nhân vật đó

1.3 Đặc điểm nghệ thuật xây dựng các loại nhân vật của Truyền kỳ mạn

lục.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na trong công trình Đặc điểm văn học

Việt Nam trung đại - những vấn đề văn xuôi tự sự đã khẳng định: "Bằng Thánh Tông di thảo, đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục, Lê Thánh Tông và

Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệthuật: văn học lấy con ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh"[12,19] Một

nhận xét khác của GS.Trần Đình Sử: Truyền kỳ mạn lục là một cái mốc mới trong quan niệm về tự do cá nhân"[22,211] Đến Truyền kỳ mạn lục "một quan niệm mới về việc phản ánh con ngời đã xuất hiện"[7,120] Truyền kỳ mạn lục

quả đã đánh dấu bớc phát triển trong nghệ thuật xây dựng nhân vật

Truyện truyền kỳ là một thể loại văn xuôi độc đáo Truyện truyền kỳdùng hình thức kỳ ảo làm phơng thức chuyển tải nội dung Bởi vậy, nó có sứchút kỳ lạ đối với độc giả Yếu tố "kỳ lạ" đầy rẫy trong huyền thoại tôn giáo,trong sử ký và là một đặc điểm của t duy dân gian đợc phản ánh trong thầnthoại, truyền thuyết, truyện cổ tích Trong truyện truyền kỳ, các tác giả sửdụng yếu tố "kỳ" không phải chỉ với chức năng là vỏ bọc che dấu dụng ý sâu

xa của nhà văn mà còn với t cách một bút pháp nghệ thuật mang tính đặc trngcủa thể loại Các tác giả phản ánh hiện thực qua cái "kỳ lạ"

Bởi vậy, trong tác phẩm truyền kỳ, yếu tố "kỳ" (kỳ lạ, ma quái, siêu thực)

có khi là một loại chất liệu để xây dựng nhân vật, có khi là bản thân nhân vật(ma, quỷ, tiên,… trứ tác ) Sự tham gia của yếu tố thần kỳ vào câu chuyện không phải

là do những nhân vật có phép lạ kiểu Trời - Bụt - Tiên … trứ tác mà ngay ở hình thức

"phi nhân tính" của nhân vật (ma, quỷ, vật hoá ngời… trứ tác ) Xét cho cùng, nhânvật mang hình thức "phi nhân" cũng chỉ là sự cách điệu, phóng đại của tâm lý,tính cách một loại ngời nào đó Từ đặc trng này của tác phẩm truyền kỳ, khi

tiếp cận Truyền kỳ mạn lục chúng tôi thấy Nguyễn Dữ đã sử dụng yếu tố "kỳ"

một cách linh hoạt, nó trở thành dụng ý nghệ thuật của nhà văn Và qua đó,hiện thực đợc bộc lộ - hiện thực xã hội Việt Nam thế kỷ XVI Nh vậy, hiệnthực đời sống đợc miêu tả phần lớn bằng hình thức sử dụng yếu tố "kỳ", quathế giới thần linh và thế giới trần tục

Trang 16

Trong Truyền kỳ mạn lục, yếu tố "kỳ" là một loại chất liệu để xây dựng

nhân vật - xuất hiện ở loại nhân vật là ngời; loại nhân vật chính diện và cảnhân vật phản diện

Vũ Thị Thiết trong Chuyện ngời con gái Nam Xơng là nhân vật ngời phụ

nữ khá thành công của Nguyễn Dữ Ngời con gái Nam Xơng này đợc miêu tả

là ngời "thuỳ mị nết na, lại thêm t dung tốt đẹp"[1], nàng mong muốn có cuộcsống gia đình yên ổn, hạnh phúc Lại thêm cái nết thuỷ chung với chồng, hiếuthảo với mẹ chồng, yêu thơng con Chừng ấy, những tởng nàng đợc hởng cuộcsống xứng đáng, ngờ đâu cuộc đời bất hạnh với số phận bi kịch ập xuống VũNơng tự tử để giữ tấm lòng trinh bạch, để chứng minh sự thuỷ chung vớichồng Tình tiết này có ý nghĩa khắc hoạ vẻ đẹp nhân phẩm của nhân vật VũNơng - vì lòng tự trọng, thà chết oan uổng chứ không chịu đợc sự nhục mạ,không chịu đợc sự ruồng rẫy của ngời chồng ghen tuông Vũ Nơng đợc xâydựng là nhân vật có số phận riêng, vận mệnh riêng với t cách là một con ngờichịu trách nhiệm trớc việc mình làm Nguyễn Dữ sử dụng yếu tố "kỳ" làmchất liệu xây dựng nhân vật Vũ Nơng: cuộc đời nàng không kết thúc ở sự kiện

tự tử, nàng chết nhng đợc sống ở Thuỷ Tinh cung và hiện lên gặp chồng Mặc

dù không sống tiếp cuộc đời ở cõi trần gian, nhng tình tiết Vũ Nơng hiện lêngặp chồng từ cõi tiên chứng minh đợc tấm lòng trinh bạch của nàng Phảichăng, Nguyễn Dữ sử dụng yếu tố "kỳ" này còn nhằm ý đồ khác: thầm kín gửivào tác phẩm "giấc chiêm bao" của bản thân (cũng là của dân gian): tích thiệnphùng thiện… trứ tác (không "phùng" nơi trần thế, thì ở cõi siêu phàm): Vũ Nơng khổnhục, bất hạnh cùng cực, nhng rồi nàng sẽ trở thành nữ thần cỡi kiệu hoa giữa

cờ quạt tán lọng rực rỡ bay về miền bất tử Nàng tồn tại vĩnh hằng ở chốnThuỷ Tinh cung bởi cái tâm trong sáng của mình - "thác là thể phách, còn làtinh anh" Số phận bi thảm của ngời con gái Nam Xơng tựu trung cũng là sốphận chung của mọi kiếp đàn bà trong thời đại Nguyễn Dữ sống - dù họ sốngtheo kiểu nào thì cũng không bao giờ có hạnh phúc

Sử dụng yếu tố "kỳ" làm chất liệu xây dựng nhân vật, nhà văn có cơ hộikhám phá thêm những nét mới trong tâm hồn nhân vật Nhờ sự linh ứng thầnkỳ: từ lời nguyền của Vũ Nơng ứng nghiệm, Linh Phi phu nhân của Nam HảiLong Vơng biến hoá thành "con rùa mai xanh", Phan Lang trôi dạt vào Quy

động, và nữ thần Vũ Nơng hiển linh, mà vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nơng ngờisáng: trong động Thuỷ Tinh cung, Phan Lang nhắc đến chồng nàng, nàng "ứanớc mắt khóc" và nói "cảm về nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày"; nàng hiện

Trang 17

lên giữa dòng sông nói với vào với chồng: nàng quyết định sống ở Thuỷ Tinhcung để đáp ơn của Linh Phi Vũ Nơng dù sống ở cõi siêu phàm nhng vẫn nhớtình xa nghĩa cũ và đặc biệt nàng không quên đáp ơn ngời đã cứu mạng, ngời

đã biết nỗi oan ức của nàng Tấm lòng trong sáng của Vũ Nơng nh viên ngọckhông tỳ vết chỉ có thể toả sáng ở một nơi không tồn tại bất công, oan nghiệt

nh xã hội nàng sống - đó là cõi siêu phàm

Trong Truyền kỳ mạn lục, nhiều nhân vật đợc xây dựng dựa trên yếu tố

"kỳ" Nhân vật Nhị Khanh (Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu) chịu cuộc

đời cay nghiệt hơn cả Vũ Thị Thiết Cũng nh bao ngời phụ nữ trong Truyền kỳ

mạn lục, Nhị Khanh khao khát sống hạnh phúc, yên ấm, hoà thuận Nhng ngời

chồng Trọng Quỳ là kẻ bất nhân, coi vợ nh cỏ rác nên đã gán vợ đánh bạc

Đúng là "tuồng chó lợn" nh lời bình nhận xét Sững sờ trớc sự thật phũ phàng,Nhị Khanh tự vẫn Hành động tự vẫn ấy cho thấy nàng không chịu sống nhơ

nhớp, giữ mình trong sạch Ngời phụ nữ là nhân vật chính trong Truyền kỳ

mạn lục thờng đợc tác giả ca ngợi ở vẻ đẹp nhân phẩm là vậy Cuộc đời Nhị

Khanh không kết thúc ở đây Là tác phẩm truyền kỳ, bởi vậy, nhà văn sử dụngyếu tố thần kỳ để Nhị Khanh đợc sống tiếp ở cõi tiên Nàng trở về gặp TrọngQuỳ nhng không có lời nào trách móc ngời chồng bạc tình Nguyễn Dữ làmnổi bật một nét đẹp trong tính cách ngời phụ nữ đoan trang, chung thuỷ này,

đó là sự bao dung, rộng lợng Dùng yếu tố "kỳ" để nhân vật tiếp tục "sống" ở

cõi âm, Truyền kỳ mạn lục thể hiện sự ảnh hởng của tín ngỡng dân gian: ngời

dân có niềm tin về chuyện linh hồn con ngời tiếp tục tồn tại sau khi chết và cóthể trở về giúp những ngời còn sống Sử dụng yếu tố "kỳ" trong việc xây dựngnhân vật, tính cách nhân vật có cơ hội bộc lên rõ nét

Đào Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị là nhân vật phản diện, là nhân vật ngời phụ nữ "phá phách" trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục.

ả danh kỹ Hàn Than "thông hiểu âm luật và chữ nghĩa", có nhan sắc nhng

"nết không cẩn nguyệt, tình bén lẳng lơ" Hàn Than "phá phách" trong chốncửa Phật bằng việc t thông với s bác Vô Kỷ: "Hai ngời đã yêu nhau mê đắmsay sa, chẳng khác nào con bớm gặp xuân, trận ma cửa hạn, chẳng còn để ý

đến kinh kệ nữa" Đắm chìm trong bể dục tại chốn thanh cao, tôn nghiêm,Hàn Than phải trả giá bằng cái chết Nàng không chịu đầu hàng số phận.Nguyễn Dữ để nhân vật của mình "tái sinh" ở kiếp khác Hồn ma Hàn Than và

s bác Vô Kỷ đầu thai thành hai đứa trẻ con của quan Hành khiển Nguỵ NhợcChân Hàn Than không quên mối thù xa với gia đình Nhợc Chân Khi là ngời,

Trang 18

Hàn Than dám cả gan thuê thích khách để trả thù vợ Nhợc Chân Lúc đã thành

ma, thành yêu quái, mối thù cha trả đợc đó khiến nàng lại đầu thai để pháphách gia đình Nguỵ Nhợc Chân Những chi tiết đó cho thấy: Hàn Than lànhân vật có tính cách đậm nét Trong những hành động của nhân vật lộ rõniềm ham sống, khao khát đợc sống, khao khát đợc yêu một cách mãnh liệt -

đôi lúc gây nỗi kinh sợ đối với ngời đọc Nàng có sức kháng cự mãnh liệtchống lại số mệnh Văn học Việt Nam, đến giai đoạn này cha thấy một nhânvật ngời phụ nữ nào kiểu Đào Hàn Than Nàng có những hành động táo bạo vàdũng cảm hiếm thấy ở những ngời phụ nữ mà lại là ngời phụ nữ có địa vị thấphèn trong xã hội cũ (thuê thích khách để trả thù vợ Nguỵ Nhợc Chân)

Miêu tả Hàn Than là ngời con gái có nhan sắc hơn ngời (còn biết dùngnhan sắc để mê hoặc ngời khác), có trí tuệ khác thờng, có tài thơ khiến mọingời phải khâm phục, Nguyễn Dữ đã phát hiện và ca ngợi vẻ đẹp của tài sắctrọn vẹn trong một ngời phụ nữ Sự ngợi ca đó trong xã hội lúc bấy giờ là điềuhiếm thấy và đáng quý, đáng khâm phục biết bao Hai thế kỷ sau ta mới gặp

lại cái nhìn mang tính nhân văn nh thế ở tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào

Nguyễn Du Phát hiện và ngợi ca nhan sắc, đặc biệt là trí tuệ của ngời phụ nữtrong xã hội thế kỷ XVI - lại ở một nhà nho - cho thấy sự tiến bộ trong t tởngcủa Nguyễn Dữ

Thuyết "tài mệnh tơng đố" ứng vào cuộc đời Hàn Than quả là hợp lý Tàisắc hơn ngời nhng cuộc đời bị vùi dập, ruồng rẫy Quyết liệt chống lại sốmệnh bằng sức sống mãnh liệt nhng kết cục vẫn là chết thảm khốc Đau đớnthay, lại là hai lần chết Sự thấu hiểu, cảm thông của nhà văn đối với nhân vậtcủa mình đã rõ Lời thơ của hai thế kỷ sau phần nào đồng cảm với tâm hồncủa Nguyễn Dữ - hai trái tim lớn gặp nhau:

"Đau đớn thay, phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"

Truyện Kiều - Nguyễn Du.

Sử dụng yếu tố "kỳ" - nhân vật Hàn Than tái sinh ở kiếp khác, tiếp tụcsống đúng cá tính của mình, tiếp tục bộc lộ tính cách của mình - Nguyễn Dữ

đã thành công Tuy vậy, nhân vật Đào Hàn Than vẫn là nhân vật đợc xây dựngtheo phơng thức của truyện ngắn trung đại - yếu tố đời sống nội tâm, diễn biếntâm lý cha đợc coi trọng Nhờ vào hành động của nhân vật, tính cách lộ ra,hấp dẫn ngời đọc Qua từng hành động, tính cách nhân vật đợc khắc hoạ Sựkháng cự quyết liệt chống lại số mệnh của một ngời phụ nữ ở tầng lớp thấp

Trang 19

kém trong xã hội thế kỷ XVI mãi ám ảnh ngời đọc Phải chăng, đó cũng làthành công lớn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Nguyễn Dữ.Dùng yếu tố "kỳ" làm chất liệu xây dựng nhân vật, Nguyễn Dữ không chỉthành công ở hình tợng ngời phụ nữ Qua hình tợng ngời trí thức tác giả cũng

có cơ hội bộc lộ quan điểm thẩm mỹ của mình bằng phơng thức nghệ thuậtnày

Hình tợng ngời trí thức trong Truyền kỳ mạn lục một phần nào đó chính

là hình ảnh ngời trí thức Nguyễn Dữ Làm quan mới đợc một năm thì ông xin

từ quan với lý do nuôi dỡng mẹ già Không tìm đợc lối thoát trên con đờnghành đạo, Nguyễn Dữ quay trở về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc mơ màng thả hồncõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời Có thể tìm thấy bóng dáng

ẩn sĩ Nguyễn Dữ qua nhân vật Từ Thức, nhân vật ngời tiều phu ở núi Na,… trứ tác Bút pháp truyền kỳ cho phép nhà văn khám phá tâm hồn nhân vật ở mộtthế giới mới lạ, với một hoàn cảnh và những thử thách mới Cũng ở thế giới

đó, nhà văn đã thể hiện đợc lý tởng của mình thông qua nhân vật Nhân vật Từ

Thức trong Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên đợc xây dựng bởi yếu tố "kỳ" - sống ở

cõi tiên, lấy vợ tiên và trở về hạ giới Nhân vật Từ Thức mang tính triết lý vềcon đờng sống của một bộ phận trí thức trớc hiện trạng thối nát của xã hội.Trả ấn từ quan, thoát ly hiện thực, trở về thiên nhiên, thể hiện tâm trạng bấtmãn với kẻ cầm quyền Xây dựng nhân vật ngời tiều phu ở núi Na sống lánh

đời, làm ẩn sĩ đi về trong núi, tránh xa bụi trần, chết biến thành con hạc đen,Nguyễn Dữ muốn bày tỏ sự phẫn nộ, bất bình của mình đối với nền chính trị

đơng thời Nhân vật tú tài họ Viên, ẩn sĩ họ Hồ trong Chuyện bữa tiệc đêm ở

Đà Giang là thoát thân, hoá cốt từ lốt cáo, vợn để bày tỏ quan điểm của mình

với Hồ Quý Ly

Sử dụng yếu tố thần kỳ khi xây dựng nhân vật ngời trí thức, Nguyễn Dữ

đã bày tỏ đợc quan niệm, t tởng, thái độ của chính ông đối với xã hội hiện thời

- một vấn đề khó trình bày khi sử dụng yếu tố "thực", đặc biệt với xã hội đó

Tóm lại, nếu yếu tố hoang đờng kỳ ảo trong tác phẩm nh Việt điện u linh,

Lĩnh Nam chích quái, Thiền uyển tập anh của văn học Lý - Trần chủ yếu là

phục vụ cho nhu cầu nhận thức cuộc sống có tính chất tôn giáo, cho tín ngỡng,

lễ tiết, thì trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, chúng chủ yếu phục vụ

cho nhu cầu nhận thức cuộc sống trần thế của con ngời Nó chủ yếu là phơngtiện nghệ thuật chứ không còn là mục đích miêu tả

Trang 20

Nhân vật không phải là ngời (nhân vật siêu hình) cũng đợc xây dựngbằng yếu tố "kỳ" (kỳ lạ, ma quái, siêu thực) Yếu tố "kỳ" ở đây chính là bảnthân nhân vật (ma, quỷ, tiên) Xây dựng tác phẩm bằng nghệ thuật truyền kỳ,

cho nên hai mơi truyện của Truyền kỳ mạn lục đều xuất hiện không gian cõi

trần - cõi tiên, cõi âm - cõi dơng Trên không gian đó số lợng nhân vật khôngphải là ngời hoạt động khá nhiều

Đó là hồn ma, yêu quái Nhị Khanh (Chuyện cây gạo); yêu quái ở Xơng Giang; tinh loài vật: tú tài họ Viên, ẩn sĩ họ Hồ (Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà

Giang); tinh thực vật: hai hồn hoa Đào, Liễu (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây); tợng

Phật (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều); nàng tiên Giáng Hơng (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên);… trứ tác Những nhân vật thần linh, ma quái đợc xâydựng trong thế giới siêu phàm mà mục đích là để nói việc, nói chuyện của thếgiới trần tục Miêu tả nhân vật thần linh, ma quái, Nguyễn Dữ chịu ảnh hởng

bút pháp truyền kỳ của Cù Hựu (Tiễn đăng tân thoại), và ảnh hởng từ văn học dân gian của nớc Nam Nhân vật thần linh, ma quái trong Truyền kỳ mạn lục

còn đợc xây dựng từ tín ngỡng dân gian Đặc điểm này cho thấy sức sáng tạo

của ngòi bút Nguyễn Dữ Và mục đích sáng tác Truyền kỳ mạn lục qua yếu tố

này cũng bộc lộ rõ: tác phẩm chủ yếu viết về ngời, về việc của nớc Nam để từ

đó bày tỏ chính kiến của nhà văn về những vấn đề cấp bách của xã hội đầybiến động khôn lờng lúc bấy giờ

Trong truyện truyền thuyết, truyện cổ tích thần kỳ, tín ngỡng dân gian,yêu quái đợc xem là lực lợng siêu nhiên đa lại cái mất mát, khổ đau cho con

ngời Nó chỉ gây hại, làm điều ác cho con ngời Yêu quái của Truyền kỳ mạn

lục cũng vậy Tuy nhiên, nhân vật yêu quái ở đây đợc Nguyễn Dữ xây dựng

thêm những đặc điểm mới - có hành động, suy nghĩ của con ngời Yêu quáiNhị Khanh là nhân vật phá phách: Nhị Khanh quyến rũ thơng nhân TrìnhTrung Ngộ, đắm chìm trong hoan lạc dục tình, tình yêu giữa ngời và ma này

đi đến kết cục cả hai đều biến thành yêu quái sống trên cây gạo, tác yêu tácquái dân làng Yêu quái Nhị Khanh dâm đãng, làm hại dân làng bị trừng phạtbởi bàn tay của đạo nhân ý nghĩa câu chuyện không dừng lại ở chỗ cái ác tất

bị trừng phạt, "gieo gió gặp bão" Xây dựng nhân vật Nhị Khanh Nguyễn Dữmuốn đề cao tình yêu tự do - thứ tình yêu tự do giữa ngời và ma, tức muốndùng thần linh ma quái để thể hiện tình yêu con ngời Tình yêu tự do là khátvọng của con ngời Thế nhng, nh đã nói, bản chất tình yêu tự do giữa TrìnhTrung Ngộ và Nhị Khanh lại không đáng ca ngợi - đắm đuối trong hoan lạc

Trang 21

dục tình mà quên hết mọi việc, thậm chí dẫn tới mất mạng Nhị Khanh thỏ thẻvới Trung Ngộ: "Đời ngời ta, thật chẳng khác gì giấc chiêm bao Chi bằng trời

để sống ngày nào, nên tìm lấy những thú vui Kẻo một sớm chết đi, sẽ thànhngời của suối vàng, dù có muốn tìm cuộc sống hoan lạc ái ân, cũng không thể

đợc nữa."[25,28] Cách suy nghĩ kia chẳng thể phát ra từ miệng nhân vật làngời phụ nữ chính chuyên, nó chỉ có thể tuột ra từ miệng của ma quái Thiếtnghĩ, khát vọng tình yêu tự do cho con ngời trong xã hội của thế kỷ XVI làvấn đề mang tính nhân văn sâu sắc Miêu tả tình yêu đắm đuối trong ái ân,trong hoan lạc từ ngòi bút một nhà Nho lại càng táo bạo Nhng bản chất tìnhyêu đó cha phải là khát vọng của con ngời Viết về tình yêu tự do trong

Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã vợt ra khỏi lời dạy của sách thánh hiền.

Kiểu đắm đuối trong hoan lạc tình dục nh Nhị Khanh yêu quái còn thấy ở hồn

ma Đào, Liễu trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây Đào và Liễu chỉ là tinh của hai

loài hoa, đêm xuống biến thành ngời, quyến rũ học trò Hà Nhân Hà Nhân mê

đắm trong ân ái với hai hồn hoa, quên hết việc đèn sách, không đếm xỉa đếnhôn nhân do cha mẹ sắp đặt

Miêu tả nhân vật ma quái với những hành động, mong ớc nh con ngời đểnhằm bộc lộ khát vọng tình yêu tự do của con ngời tức là Nguyễn Dữ đã sángtác theo khuynh hớng: lấy con ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh nghệ

thuật Bởi vậy, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm văn học nghệ thuật đích thực Nhân vật thần linh, ma quái của Truyền kỳ mạn lục còn hiện lên những biểu hiện rất ngời Chẳng hạn nhân vật nàng tiên Giáng Hơng (Chuyện Từ

Thức lấy vợ tiên) rất gần gũi với một con ngời trần tục Nàng là tiên nữ nhng

vớng bụi trần: "không nh thiếp bảy tình cha sạch, trăm cảm dễ sinh, hình ởphủ tía những luỵ vớng duyên trần, thân ở đền quỳnh mà lòng theo cõidục"[25,124] Hai vợ chồng Từ Thức và Giáng Hơng tự vỗ tay tán thởng nhau

về cõi trần còn vấn vơng trong tâm hồn Nàng tiên Giáng Hơng đợc ngòi bútNguyễn Dữ u ái miêu tả sự đổi thay sắc thái tinh thần khi có tình yêu - mà làvới ngời hạ giới: "Nơng tử hôm nay màu da hồng hào, chứ không khô gầy nhtrớc nữa" Tình yêu đa lại phép nhiệm màu Tình yêu của Từ Thức và GiángHơng là thứ tình yêu tự do mà con ngời khao khát Nói chuyện tiên là để nóichuyện ngời

Một điểm thú vị khi xây dựng nhân vật không phải là ngời của Truyền kỳ

mạn lục, đó là Nguyễn Dữ phát hiện ra sức mạnh của con ngời Chẳng phải

thần linh, ma quái là làm chủ vũ trụ này mà vị trí đó là của con ngời Yêu quái

Trang 22

tác oai tác quái hại ngời thì bị ngời trừng trị, tiêu diệt Con ngời có mặt ở khắpmọi nơi trên thế gian này, dù thợng giới hay địa phủ, dù cõi tiên hay thuỷcung… trứ tác con ngời đều có thể đặt chân lên đợc Nhng điều quan trọng hơn là,con ngời đặt chân đến đâu thì ở đó hoàn cảnh đợc trong sạch, công lý đợc vãnhồi, kỷ cơng đợc lập lại Con ngời đã làm cho thần thánh mất thiêng Dới cáinhìn của Nguyễn Dữ hai viên Hộ pháp chùa Đông triều là nh thế này: "vàobếp để khoắng hũ rợu của ngời ta … trứ tác , ghẹo vợ con ngời ta" hoặc "thò taykhoắng xuống một cái ao, bất cứ vớ đợc cá lớn, cá nhỏ đều bỏ vào mồm nhai

hết" (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều) Phát hiện ra sức mạnh làm

chúa tể muôn loài của con ngời trong khi xây dựng nhân vật thần linh, maquái tức là Nguyễn Dữ đã lấy con ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh.Tóm lại, Nguyễn Dữ sử dụng yếu tố thần kỳ để miêu tả nhân vật làm chocái thần kỳ, tởng tợng gắn liền với cuộc sống đời thờng Vì vậy, thế giới con

ngời và thế giới thần linh có sự thâm nhập rõ nét Yếu tố "kỳ" trong Truyền kỳ

mạn lục (trớc đó xuất hiện ở Thánh Tông di thảo) đợc nhà văn sử dụng một

cách có ý thức nh một thủ pháp nghệ thuật, nh một hạt nhân tự sự quan trọngtrong kết cấu tác phẩm (khác với cái "kỳ" trong các tác phẩm thời kỳ đầumang nặng ảnh hởng trực tiếp của văn học dân gian, sử ký và tôn giáo) Vìyếu tố "kỳ" đợc sử dụng nh một thủ pháp nghệ thuật cho nên cuộc sống hiệntại dần chiếm chỗ và trở thành yếu tố chủ đạo chi phối vai trò của yếu tố thần

kỳ Nh vậy, việc sử dụng yếu tố "kỳ" để miêu tả nhân vật (nhân vật là con ng

-ời và nhân vật không phải là con ng-ời) trong Truyền kỳ mạn lục (và ở Thánh

Tông di thảo) đã có bớc phát triển so với Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh,

hay Lĩnh Nam chích quái.

Nhân vật là ngời của Truyền kỳ mạn lục đều đợc chú trọng thể hiện khía

cạnh con ngời đời thờng Nhân vật ở đây đều là những ngời rất đỗi bình thờng.Một ngời con quan gia đình sa sút đâm ra chơi bời (Trọng Quỳ), một gã đibuôn háo sắc mà chết (Trình Trung Ngộ), một học trò trọ học đa tình (HàNhân), một thanh niên khảng khái đốt đền (Ngô Tử Văn), một ông quan bỏquan chu du sơn thuỷ (Từ Thức), một tiều phu ẩn dật (ngời tiều phu ở núi Na),một ả ca kỹ có tài nhng đa tình, lẳng lơ (Đào Hàn Than),… trứ tác Đến những nhânvật quan, tớng cũng đợc miêu tả là những con ngời đời thờng Đặc điểm này

chỉ thực sự xuất hiện từ Thánh Tông di thảo và đặc biệt rõ ở Truyền kỳ mạn

lục Nó đánh dấu bớc phát triển của văn xuôi tự sự trung đại - lấy con ngời

làm đối tợng và trung tâm phản ánh Mỗi nhân vật đợc miêu tả đều có đặc

điểm riêng, số phận riêng Trọng Quỳ là kẻ ăn chơi ngay từ khi còn trẻ Gia

Trang 23

đình gặp hoạ, sa sút, Trọng Quỳ đâm ra chơi bời hơn trớc Say mê cờ bạc tốingày đến lú lẫn: gán vợ đánh bạc Trọng Quỳ đợc xây dựng với số phận riêng,cuộc đời riêng; phải chịu sự trừng phạt của số phận bởi sự ngu dốt, bất nhâncủa mình Nhân vật học trò Hà Nhân đợc miêu tả dới góc độ đời t rõ nét: cắpsách đến Trờng An học chữ, cha học đợc chữ gì chỉ thạo chữ "tình" Kẻ sĩ đatình dễ dàng sa vào lới bể dục, đắm chìm trong những cuộc hoan lạc với haihồn hoa Đào và Liễu Hãy nghe lời dụ dỗ hai nàng của kẻ sĩ Hà Nhân: "HàNhân liền rủ rê hai nàng đến chơi chỗ trọ của mình, chuyện trò đằm thắm.Chàng lả lơi cợt ghẹo… trứ tác Hà Nhân nói:

- Thì hãy thử thôi, tôi chẳng dám đem chuyện mây ma làm "khó dễ" hainàng."[25,60]

Miêu tả nhân vật Hà Nhân nh thế để thấy nhân vật kẻ sĩ không phải baogiờ cũng đợc nhìn nhận chỉ ở phơng diện tốt đẹp - say mê sách thánh hiền, học

để đỗ đạt, thực hiện chí kẻ sĩ Kẻ sĩ, dới cái nhìn của nhà văn Nguyễn Dữ cólúc mê đắm trong dục tình mà quên hẳn việc đèn sách Đây chính là khía cạnhcon ngời đời thờng cho thấy cách nhìn con ngời từ nhiều góc độ - con ngờihiện lên trang sách sinh động gần với cuộc sống thực, cuộc đời thật Có thểtìm thấy đặc điểm trong nghệ thuật miêu tả con ngời này ở nhân vật Từ Thức

(Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên) - một ông quan bỏ quan đi chu du sơn thuỷ Vì

bất bình vơng triều, Từ Thức bỏ ấn từ quan, sống theo sở thích của mình - ở ẩn

để chu du sơn thuỷ Chàng nói: "không thể vì số lơng năm đấu gạo mà buộcmình trong đám lợi danh", lựa chọn cuộc sống "phóng lãng giang hồ", "một láthuyền nan", "một mái chèo về", trong cái cảnh non xanh nớc biếc

Xây dựng nhân vật ở khía cạnh con ngời đời thờng, Nguyễn Dữ thànhcông ở nhân vật ngời phụ nữ Ông dành khá nhiều tâm huyết viết về nhữngcon ngời bị áp bức này Họ không phải là những tấm gơng chói loà trong việcthể hiện "công, dung, ngôn, hạnh", "tam tòng", hay "tam cơng, ngũ thờng" nhtrớc đây, mà họ là những con ngời của đời sống thực tế sôi động, cay nghiệt

"Bằng tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã thổi vào nhân vật một sức sống lạ kỳ;mỗi nhân vật là một số phận, một vận mệnh riêng với t cách là một "con ngờicá nhân" chịu trách nhiệm trớc việc mình làm Thông qua những số phận cụthể đó, Nguyễn Dữ đã khái quát hoá cuộc sống ở trình độ bậc thầy về nghệthuật mà khó có tác giả truyện ngắn Việt Nam nào thời trung đại vơn tới đ-

ợc."[12,21] Nhân vật ngời phụ nữ của Truyền kỳ mạn lục hấp dẫn ngời đọc

bởi số phận của họ Thờng, đó là những số phận éo le, trắc trở Nhân vật chỉnchu nh Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh dù ngoan hiền, chung thuỷ, yêu thơng chămsóc chồng con hết lòng vẫn bị phụ bạc, bị nghi oan và phải tự tử để giữ trinhtiết Nhân vật phá phách nh Đào Hàn Than luôn hấp dẫn ngời đọc bởi khátvọng sống mãnh liệt của nàng Ngời con gái nhan sắc, tài năng này tỏ ra

Trang 24

không yếu đuối chút nào Nàng không cam chịu số phận, luôn hành động để

đợc sống, đợc yêu theo ý mình Nàng muốn cỡng lại số phận nhng không thể

đợc Hai lần chết với hai cách khác nhau chứng minh điều này Một ngời phụnữ, lại là ca kỹ, với những hành động, những khát vọng, những ham muốn nh

Đào Hàn Than quả là hiếm thấy trong văn học trung đại từ trớc đến nay

Tóm lại, xây dựng nhân vật ở khía cạnh con ngời đời thờng là thể hiệnmột quan niệm mới về việc phản ánh con ngời Vấn đề này xuất hiện trongvăn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XVI Con ngời trong văn học từ

đây ít bị ràng buộc hơn vào những t tởng, giáo lý có sẵn Con ngời trong vănhọc của giai đoạn trớc thờng là cứng nhắc trong các khuôn mẫu "tam cơng,ngũ thờng", "tam tòng, tứ đức", con ngời của tinh thần và ý chí, t tởng và giáo

điều, thì nay bớc vào văn học là những con ngời trần thế, với da thịt và nhu

cầu, hành động và ớc muốn chủ quan của nó Tất cả bắt đầu rõ rệt từ Truyền

kỳ mạn lục Đặc điểm này góp phần chứng minh khuynh hớng nghệ thuật của

Nguyễn Dữ: lấy con ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh

Khi xây dựng nhân vật là ngời, Nguyễn Dữ đã chú ý làm nổi bật nội tâmnhân vật Đã có lúc nội tâm nhân vật tạo đợc bớc ngoặt tâm lý, làm nổi bật sốphận nhân vật nh trờng hợp nhân vật Vũ Thị Thiết Bị chồng nghi oan, mắngnhiếc, Vũ Thị Thiết chỉ biết khóc và có lời tỏ bày, mong đợc cởi mối nghingờ Không đợc chồng tin tởng, nàng đã tự tử để giữ tiết hạnh, chứng minhtấm lòng trinh bạch Đau khổ vì bị nghi oan, xúc phạm đến lòng tự trọng củangời phụ nữ chính chuyên, cho nên hành động tự tử xảy ra là tất yếu Nó tạobớc ngoặt cuộc đời Vũ Nơng - số phận oan nghiệt Tuy nhiên, nội tâm nhân

vật trong Truyền kỳ mạn lục cha trở thành yếu tố quan trọng trong việc xây

dựng cốt truyện, vì vậy cha có cốt truyện tâm lý Nội tâm nhân vật thờng đợcmiêu tả bằng hình thức vận văn Đây là đoạn văn tế nói lên sự xót thơng và hốihận của Trọng Quỳ trớc oan hồn Nhị Khanh:

"Hỡi ơi nơng tử!

Khuê nghi đáng bậc, Hiếu đức vẹn mời, Tinh thần nhã đạm, Dáng điệu xinh tơi…) Nàng đáng thơng thay!

Nói năng gì nữa,

Đã đến nỗi này, Hoa bay trớc viện, Quế rụng giữa trời, Phù dung ủ rũ, Dơng liễu tả tơi,

Trang 25

Phong cảnh còn đây, Ngời đã xa chơi, Lấy gì độ em?

Một lễ lên chùa.

Lấy gì khuây em?

Duyên sau đền bù, Non mòn bể cạn, Mối hận khôn khuây, Hỡi ôi nơng tử,

Hâm hởng lễ này."

Cuộc chia tay giữa học trò Hà Nhân và hai hồn hoa Đào, Liễu đầy quyếnluyến, bịn rịn Tâm trạng ấy đợc diễn tả bằng hai bài ca do Đào và Liễu ca.Nỗi buồn biệt ly có lúc đợc miêu tả đầy xúc động:

"Bến nam cỏ áy bóng tà Vờn tây một rặng mai già khóc ma.

Cỏ cây rầu rĩ tiêu sơ, Chàng về thiếp luống ngẩn ngơ tâm hồn.

Vì chàng hát khúc nỉ non Biệt ly để nặng đau buồn cho ai".

Và cũng hiếm có những đoạn văn miêu tả nội tâm nh thế này trong

Truyền kỳ mạn lục:

"Từ khi bỏ nhà ra đi, thấm thoắt đã đợc một năm, áo sen đã đổi thay màubiếc Những đêm sơng sa gió thổi, bóng trăng sáng dòm qua của sổ, tiếng thuỷtriều nghe vẳng đầu giờng, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng,quấy nhiễu không sao ngủ đợc (… trứ tác ớc khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa) bthánh thót, lòng cỏ héo hon… trứ tác "[25,128]

Đó là nỗi nhớ gia hơng của Từ Thức khi chàng đang sống ở cõi tiên.Vậy là, dù đời sống nội tâm cha trở thành yếu tố quan trọng trong việcxây dựng cốt truyện nhng Nguyễn Dữ cũng vợt ra ngoài khuôn khổ của truyện

cổ dân gian vốn ít đi sâu vào miêu tả nội tâm nhân vật Những đoạn vận vănphần nào đã miêu tả khá hay tâm trạng của một số nhân vật trong tác phẩm

Nó góp phần làm cho nhân vật đợc miêu tả trở nên phong phú, sinh độngtrong cách thể hiện

Không chỉ chú ý miêu tả nội tâm nhân vật, Nguyễn Dữ còn làm nổi bậttính cách của nhân vật Từ những nhân vật lịch sử, nhân vật truyện dân gian,Nguyễn Dữ đã xây dựng lại thành những nhân vật truyện ngắn có diện mạo,tính cách riêng bằng những tình tiết có chọn lọc

Nhân vật Nhị Khanh (Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu) nổi bật lên

hình ảnh của một con ngời chung thuỷ Qua nhiều cảnh ngộ tính cách ấy ngày

Trang 26

càng rõ nét Nhị Khanh kết nghĩa vợ chồng với Trọng Quỳ không lâu thìchàng phải theo cha đi trấn thủ nơi xa Trọng Quỳ có ý bịn rịn, quyến luyến tr-

ớc lúc ra đi, nàng khuyên chồng: "Nay nghiêm đờng vì tính nói thẳng mà bịngời ta ghen ghét, không để lại nơi khu yếu… trứ tác Chả lẽ đành để cha lao đaomuôn dặm, lam chớng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trởtrong vùng rừng núi, sớm hôm săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịukhó đi theo Thiếp dám đâu đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo… trứ tác "[25,23].Chồng ra đi, nàng ở lại thấm thoắt đợc sáu năm, ngời chồng ở xa, "tin tứckhông thông, mất còn chẳng rõ" Nhiều kẻ mang vàng bạc đến cầu thân,khuyên nàng nên"bạn lành kén lựa, duyên mới vơng xe" để " lấp những lờigiăng gió cợt trêu, tránh phải khi ong cuồng bớm dại" Nghe những lời ấynàng "sợ hãi, quên ăn mất ngủ" không nỡ "mặc áo xiêm của chồng để đi làm

đẹp cho ngời khác", không thể ngồi chờ một cuộc hôn phối ép buộc, nàng chủ

động nhờ ngời lặn lội đờng xa, dò hỏi tin chồng Ngời chồng trở về, gia đình

đoàn tụ Nhng quen tính chơi bời lêu lổng, ngời chồng thờng cờ bạc với ĐỗTam, một tên lái buôn hiếu sắc Nhị Khanh thờng răn chồng: "những ngời láibuôn phần nhiều là giảo quyệt, đừng nên chơi thân với họ" Ngời chồng khôngnghe, sau vì thua bạc, y đã bán nàng cho Đỗ Tam Liệu cơ không thoát khỏi,nàng giả vờ nói với chồng những lời từ biệt, rồi ôm con khóc rằng: "Cha conbạc tình, mẹ đau buồn lắm Biệt ly là việc thờng thiên hạ, một cái chết với mẹ

có khó khăn gì Nhng mẹ chỉ nghĩ thơng các con thôi"[25,29] Sau đó, nàng tựvẫn Về sau, vì thơng bầy con nhỏ và ngời chồng biết hối hận, nàng hiện vềkhuyên chồng ăn ở nhân đức, bền chí nuôi con để sau này hớng theo cờ nghĩacủa vị chân nhân họ Lê Chi tiết này góp phần tô đậm màu sắc dân tộc củahình tợng nghệ thuật Tính cách của nhân vật Nhị Khanh nhất quán từ đầu cho

đến kết thúc truyện: một ngời con gái có nhan sắc, sống nhờ ở nhà ngời, chờchồng trên sáu năm trời mà vẫn giá trong tiết sạch, thật không dễ Nhị Khanh

có thể chờ chồng trong cảnh "bơ vơ trơ trọi", giữa "những lời giăng gió cợttrêu", chứ nàng không chịu nổi sự phụ bạc của chồng Nàng tự vẫn vì theoquan niệm của nàng thì không có con đờng nào khác Cái chết trở thành tấtyếu trong sự phát triển tính cách của nàng, trong hoàn cảnh của nàng NhịKhanh tiêu biểu cho nết đảm đang, tiết nghĩa, đầy tình thơng đối với chồngcon của ngời phụ nữ ngày xa

Trong Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên, Nguyễn Dữ xây dựng đợc

hình tợng một con ngời "xả thân thủ nghĩa" với tính cách ngay thẳng, cứngcỏi, đó là Ngô Tử Văn Đây là đoạn văn miêu tả tính cách Tử Văn: "Ngô TửVăn vốn khảng khái nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu đợc, vùngBắc ngời ta vẫn khen là một ngời cơng phơng Trong làng nớc có một toà đềnlinh ứng lắm Cuối đời họ Hồ, quân Ngô sang lấn cớp, vùng ấy thành một nơi

Trang 27

chiến trờng Bộ tớng của Mộc Thanh có viên Bạch hộ họ Thôi, tử trận ở gần

đền, từ đấy làm yêu quái trong dân gian Tử Văn rất là tức giận, một hôm tắmgội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa đốt đền Mọi ngời đều lắc đầu, lè lỡi, họ

lo sợ thay cho Tử Văn, nhng Tử Văn vung tay không cần gì cả"[25,109] Một

đoạn văn ngắn nh vậy ở đầu một thiên truyện mà vừa miêu tả tính cách nhânvật, vừa gợi ra đầu mối câu chuyện, thật tài tình Sau này t thái "ngồi ngất ng-ởng tự nhiên" trớc sự tức giận của tớng giặc và dũng khí "quật cờng… trứ tác khôngchịu chùn nhụt" trớc sự phán xét hồ đồ của Diêm Vơng, đều làm nổi bật sự "b-ớng bỉnh gân guốc" của "kẻ sĩ ngay thẳng", đã "làm một việc hơn đợc cả thần

và ngời" ấy

Tính cách nhân vật đợc miêu tả trong Truyền kỳ mạn lục nhất quán suốt

tác phẩm Cốt truyện không có những diễn biến phức tạp bởi vậy tình tiết bộc

lộ tính cách cũng đơn giản Đặc điểm này cho thấy tính chất của truyện ngắnthời trung đại, nó làm tiền đồ cho sự phát triển truyện ngắn Việt Nam thờihiện đại

Có thể khái quát tính cách một số nhân vật: Lý tớng quân hung dữ, gian

ác, trắng trợn Trụ quốc họ Thân thâm độc, nham hiểm Lệ Nơng và ThuýTiêu đều chung tình, nhng Lệ Nơng khí khái, tiết liệt mà Thuý Tiêu thì dịudàng, đức hạnh Từ Thức phong lu rất mực, hứng thú với cảnh tiên mà vẫnnặng tình đời Trình Trung Ngộ dâm đãng, mê si đến liều lĩnh Hà Nhân đắm

đuối mà cả tin,… trứ tác Tất cả đều đợc miêu tả với bút pháp tinh tế, sinh động

Nh vậy, Nguyễn Dữ đã vợt xa truyện ký lịch sử vốn ít chú ý đến tínhcách, số phận riêng của nhân vật Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng: tính cách

nhân vật của Truyền kỳ mạn lục cha có sự diễn biến phức tạp, nó cha trở thành mục đích chính trong miêu tả nhân vật Truyền kỳ mạn lục cha xuất hiện kiểu

nhân vật tính cách

Ngoài kiểu xây dựng nhân vật theo đặc trng của tác phẩm truyền kỳ,nhân vật của "thiên cổ kỳ bút" này cần đợc nhìn nhận dới góc độ văn tự sựtrung đại Có những quan niệm mới về việc phản ánh con ngời Những phạmtrù cao cả về "chí" và "đạo" không còn là niềm khao khát hớng tới của con ng-

ời thời này Xây dựng hình tợng ngời ẩn sĩ, Nguyễn Dữ đã thể hiện lý tởng củamình Ngời tiều phu ở núi Na là hình ảnh bản thân Nguyễn Dữ Ngời tiều phusống ở một ngọn núi cao chót vót trong cái động "dài mà hẹp, hiểm trở màquạnh hiu, bụi trần không bén tới, chân ngời không bớc tới" Hàng ngày, ngờitiều phu kiếm củi đổi lấy cái ăn, sống thanh bạch, không vơng vấn sự đời Ng-

ời tiều phu hát:

"Trên Na sơn đá mọc ngổn ngang Cây xanh xanh,

Khói mờ mịt,

Trang 28

Nớc tuôn tràn.

Sáng chừ ta ra đi, Chiều chừ ta về ngàn.

áo ta mặc chừ sẵn đây cây lá,

Cổ ta đeo chừ nào chuỗi cỏ lau.

Núi phơi xanh chừ bình phong sơng sớm.

Ruộng trãi biếc nh gối thác chon von.

Mặc ai xe ngựa, Mặc ai phố phờng, Nớc non riêng chiếm, bụi đời không vơng.

Cung kiếm Tống triều, vùi cỏ rậm,

Mũ đai Tấn đại, lấp gò hoang.

Sự nghiệp Triệu, Tào Phong lu Vơng, Tạ Ngẫm lại cổ kim bao đời khanh tớng Rêu phủ bia tàn.

Sao bằng ta: mặt trời đã cao ba thớc, Giấc điệp hãy mơ màng."

Khi Hồ Hán Thơng sai viên quan họ Trơng đến dụ ngời tiều phu ra làmquan, ngời tiều phu đã từ chối: "Ta là kẻ lận đận trốn đời, ông lão già lánh bụi,gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinh nhai trong búa gió rìu trăng; ngày

có lối vào làng say, cửa vắng vết chân khách tục; bạn cùng ta là hơu nai tômcá, quẩn bên ta là tuyết gió trăng hoa; chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây

mà ngủ khói; múc khe mà uống, bới núi mà ăn; chứ có biết gì đâu ở ngoài làtriều đại nào, vua quan nào?"[25,161-162] "Xin ông vui lòng trở về, làm ơn từchối hộ kẻ c sĩ này" Không chịu ra làm quan, ngời tiều phu còn tố cáo triều

đình trọc loạn, vua quan tham bạo: "Ta tuy chân không bớc đến thị thành,mình không vào đến cung đình, nhng vẫn thờng đợc nghe tiếng ông vua bấygiờ là ngời thế nào Ông ấy thờng dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sứcdân để dựng cung Kim Âu, dối cạn của kho để mở phố Hoa Nhai, phao phígấm là, vung vãi châu ngọc, dùng vàng nh cỏ rác, tiêu tiền nh đất bùn, hìnhngục có đút là xong, quan chức có tiền mua là đợc, kẻ dâng lời ngay thì giết,

kẻ nói điều nịnh thì thởng; lòng dân động lay, nên đã xảy ra việc quân sông

Đáy, bờ cõi chếch mếch nên đã mất dải đất Cổ Lâu"[25,164] Không chỉ

Chuyện ngời tiều phu ở núi Na, có thể tìm thấy ở Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên ít nhiều lý tởng thoát tục của Nguyễn Dữ.

Theo quan niệm của Nguyễn Dữ, ở ẩn có nghĩa là không còn can dự vàonhững hành vi tham bạo, đầy tội ác của kẻ đơng quyền Là "không thể vì số l-

ơng năm đấu gạo mà buộc mình trong đám lợi danh" nh Từ Thức Là không

Trang 29

muốn "đắm mình trong cái triều đình trọc loạn", "len lỏi vào đờng sĩ tiến",

"tham cầu những cái ngoài phận mình", để "xấu hổ với các bậc tiên hiền".Giữa cõi đời "trọc loạn", "ngổn ngang lố nhố những đống lợi gò danh",Nguyễn Dữ muốn cao đạo nh Hứa Do, Sào Phủ, giữ tròn thanh giá nh ThầnMôn, Tiếp D; "náu vết chốn núi rừng", "một chiếc gờng mây", "một túp lềutranh", "giữa nơi đất thẳm rừng sâu, chim núi kêu ran, muông rừng chạy vẫn"

nh ngời tiều phu núi Na; "phóng lãng giang hồ', "một lá thuyền nan", "mộtmái chèo về", "trong cảnh non xanh nớc biếc" nh Từ Thức Nếu nh ẩn dật làbiểu hiện của sự bất lực, là trốn đời để vui thú lâm tuyền, ngao du sơn thuỷ, thì

sự phủ nhận kẻ đơng quyền và khẳng định phẩm tiết của kẻ sĩ không ham lợidanh, không chịu luồn cúi, lại ít hoặc nhiều có mặt tích cực Cho nên nếu nhchấp nhận con đờng ẩn dật là chấp nhận sự thất bại đối với lý tởng hành đạocủa nhà nho thì dẫu sao Nguyễn Dữ vẫn không vì vậy mà quên đời Phải làcon ngời có lơng tri, quan tâm đến nhân tâm, thế sự, đến vận mệnh của đất n-

ớc và đời sống của dân tộc, của nhân dân, thì mới dựng lên đợc một tác phẩmgắn bó với cuộc đời và con ngời trong những ớc mơ, hy vọng, xót xa, cămgiận,… trứ tác thế.nh

Xây dựng nhân vật chính diện, Nguyễn Dữ bộc lộ rõ lý tởng chính trị, xãhội của mình Ông phủ định triều đại mục nát đơng thời để khẳng định một v-

ơng triều lý tởng trong tơng lai, lên án bọn "bá giả" để ca ngợi "đạo thuần

v-ơng" Cho rằng sự hng vong của một triều đại không phải do mệnh trời mà dongời, Nguyễn Dữ vạch rõ rằng "bỏ việc ngời mà đi bàn lẽ trời", thì "đến tánghại cũng không tỉnh ngộ", và ông nêu ra nguyên tắc đối với kẻ cầm quyền:

"phàm xoay cái thế thiên hạ ở trí chứ không phải ở sức; thu tấm lòng thiên hạ

ở nhân chứ không phải ở bạo" Rằng kẻ trị dân nếu "chỉ lấy quát thét làm oai,lấy cơng thờng làm đức", "đắp nền cho cao bằng những hờn oán của dân, chứakho đầy bằng những máu mỡ của dân' thì sẽ "bỏ mình', "mất nớc", "mất lòngngời" Ông yêu cầu kẻ làm vua phải "gơng cái cung thánh nhân, tuốt lỡi gơmthiên tử, lấy nhân làm yên khấu, lấy nghĩa làm chèo lái, lấy hào kiệt làm nanhvuốt, lấy trung tín làm giáp trụ", "mở lới vơ hiền, giăng chài vét sĩ… trứ tác ", "khiếntrong triều nhiều bậc lơng tả… trứ tác " Nguyễn Dữ cũng đòi hỏi kẻ làm quan phải có

"tiết cứng nh tùng, lòng bền tựa đá", "đem cái tài vuốt nanh, giữ cái trách phêngiậu", "sa cơ không chịu sống nhục, liều mình để đợc thác vinh" Lý tởngchính trị, xã hội của Nguyễn Dữ chỉ là một chế độ phong kiến có "vua sáng tôilành" để "ban ân trạch cho dân sinh, đa tất cả cuộc đời vào cõi nhân thọ" Có

điều là, tiếp thu đợc truyền thống của những nhà chính trị, nhà văn yêu nớcthời trớc, lại là ngời quan tâm đến vận mệnh đất nớc, đến đời sống của nhândân, cho nên trong lý tởng chính trị của mình Nguyễn Dữ thờng nhấn mạnh

đến cơ sở nhân nghĩa và nêu cao tác dụng của lòng dân Lý tởng chính trị, xã

Trang 30

hội của Nguyễn Dữ cha thoát ly ý thức hệ phong kiến, cha thể vợt ra ngoài

c-ơng thờng của Nho giáo: "làm chính trị không ngoài cc-ơng thờng để dựng nớc",

"giữ thiên hạ không ở quy mô rộng lớn mà ở đến tế ở Khúc Phụ, mở nền n ơngtựa cho đời sau" Những t tởng trên đây rõ ràng là của Nho giáo Nhng hiệnthực cụ thể mà Nguyễn Dữ đồng tình hoặc phê phán trong tác phẩm thì lại cóphần thích hợp với đời sống dân tộc, với nguyện vọng của nhân dân

Quan niệm về đạo đức xã hội của nhà văn cũng đợc thể hiện qua nhiềunhân vật chính diện Nàng Nhị Khanh đảm đang, tiết hạnh, thơng yêu chồngcon; Vũ Thị Thiết, Lệ Nơng, Dơng Thị, Thuý Tiêu thì chung thuỷ với ngờiyêu, với chồng; Phạm Tử H thì ăn ở phải đạo với thầy; ngời tiều phu ở núi Nathì có phẩm tiết thanh cao; Dơng Đức Công thì công bằng và nhân hậu; Ngô

Tử Văn thì "vốn khảng khái", cứng cỏi, không chịu đợc sự gian tà;… trứ tác Nhữngnhân vật này thờng biểu hiện phẩm chất cao quý qua cái khuôn "trung, hiếu,tiết, nghĩa", nhng thực chất thì lại phản ánh những truyền thống đạo đức tốt

đẹp của dân tộc, và phần nào thể hiện yêu cầu của nhân dân về đạo lý làm ng

-ời và về những mối quan hệ cần xây dựng trong gia đình và xã hội Nhiều chỗ,qua cái hình thức t tởng Khổng - Mạnh, Nguyễn Dữ thể hiện t tởng nhân dân

Đó chính là phần tích cực nhất trong t tởng phi Nho giáo của Truyền kỳ mạn

lục.

Truyền kỳ mạn lục viết nhiều về tình yêu Tình yêu nam nữ và hạnh phúc

gia đình chủ yếu đợc xây dựng trong hoàn cảnh khó khăn và đầy biến độngcủa xã hội phong kiến Nhà văn ngợi ca tình chung thuỷ, son sắt của NhịKhanh, của Vũ Thị Thiết với chồng Nhng hạnh phúc trần gian họ đợc hởngchẳng đợc là bao, họ phải tìm đến cái chết vì sự bạc tình của chồng NguyễnDữ cũng dành những lời văn u ái ngợi ca một mối tình thơ mộng giữa mộtnàng tiên mang nặng tình ngời với một kẻ sĩ đã treo ấn từ quan, ở nơi Bồng

Lai tiên cảnh(Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên).

Trái với nhân vật chính diện, tích cực; nhân vật phản diện trong "Truyền

kỳ mạn lục" dới ngòi bút của Nguyễn Dữ hiện ra với những cái xấu bị phêphán, bị phủ nhận Có thể tìm thấy những mối tình trái với đạo lý Nho gia ở

nhân vật phản diện: mối tình của Đào Hàn Than với s bác Vô Kỷ (Chuyện

nghiệp oan của Đào thị), mối tình của học trò Hà Nhân với hai hồn hoa Đào,

Liễu (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây), mối tình của Trình Trung Ngộ và Nhị Khanh yêu quái (Chuyện cây gạo) Những mối tình ấy không đi tới hôn nhân Nó

phản ánh quan niệm sống đồi bại của nho sĩ truỵ lạc, lái buôn hãnh tiến Quảthực, Nguyễn Dữ đã rất táo bạo và phóng túng khi thể hiện tình yêu khônglành mạnh ấy Hãy nghe Nhị Khanh nói với Trình Trung Ngộ: "Nghĩ đời ngời

ta, thật chẳng khác gì giấc chiêm bao Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìmlấy những thú vui Kẻo một sớm chết đi, sẽ trở thành ngời của suối vàng, dù

Trang 31

có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân, cũng không thể đợc nữa."[25,38] Còn HàNhân, mới làm quen với hai nàng Đào, Liễu mà đã "rủ rê hai ả đến chỗ trọ củamình, chuyện trò đằm thắm Chàng lả lơi cợt ghẹo, hai ả thẹn thò nói rằng:

"Chúng em việc xuân cha trải, nhuỵ thắm còn phong, chỉ e tình hoa run rẩy, tơliễu điên cuồng, oán lục thẹn hồng, làm giảm thú phong lu đi mất."[25,59].Sinh khuyên lơn dịu ngọt rồi cùng tắt đèn đi nằm Kiểu tình yêu đó thật xa lạvới quan niệm của nhân dân Nguyễn Dữ đã có lời bình để phê phán nhữngquan niệm đồi truỵ và khẳng định lại những giáo điều về đức hạnh, tiết nghĩa:

"Chàng họ Hà lòng trẻ có nhiều vật dục, cho nên loài kia đời thừa cơ quyến

rũ… trứ tác Kẻ sĩ gánh cặp đến học Trờng An, tởng nên chăm chỉ về học nghiệp, tuykhông danh mong đến chỗ vô dục nhng giá gắng tiến đợc đến chỗ quả dục thìcũng tốt lắm!"[25,75] Nguyễn Dữ phê phán mạnh mẽ đối với s bác Vô Kỷ:

"Gã Vô Kỷ kia, là một kẻ gian dâm, buông thói tà dục, chẳng những dối ngời,lại còn dối vị Phật của hắn thờ nữa Giá đem xử vào cái tội nh vua Nguỵ giếtbọn Sa Môn ngày xa thì hắn không oan chút nào"[25,106] Tuy vậy, NguyễnDữ cũng thông cảm với khao khát yêu đơng của con ngời - dù đó là tình yêukhông lành mạnh Không cảm thông, làm sao ông có đợc những vần thơ nhthế này:

"Măng ngọc vuốt ve nghiêng xuyến trạm Dải là cởi tháo trút hài thêu.

Mộng tàn gối bớm bâng khuâng lạc, Xuân hết cành quyên khắc khoải kêu."

Hoặc là:

"Đầu cài én ngọc hình nghiêng chếch, Lng thắt ve vàng dáng oẻ oai.

Đờng lúc nở rồi hồng đợm ớt, Mãi khi rã hết trắng cha phai."

Thật là táo bạo! Nguyễn Dữ có mê mải miêu tả những cuộc tình mangmàu sắc nhục cảm nh vậy, nhng không nhiều Bởi thế mà có ngời đã nhận xét:

"Nguyễn Dữ đa ngời đọc vào một thế giới diệu huyền của tình yêu với nhiềuhơng vị, ngọt ngào và cay đắng, thoang thoảng và nồng nàn; có cuộc tìnhtrong mộng, cuộc tình ngoài đời; có cuộc tình từ mộng thành thực, có cuộctình từ thực thành mộng; có cuộc tình nh giấc Nam Kha và cũng có cuộc tình

để lại những ngấn lệ khổ đau không bao giờ phai nhạt… trứ tác "[12,22]

Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục đã thể hiện một

quan niệm mới về con ngời Một phơng diện quan trọng của quan niệm này,

đó là: "Truyền kỳ mạn lục là một cái mốc mới trong quan niệm về tự do cá

nhân"[22,211] Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, "nhiều nhân vật trong tậptruyện này hầu nh đợc tự do trong bể dục, tình dục "Dục", nhất là tình dục đ-

Trang 32

ợc xuất hiện nh là phạm trù thuộc về cá nhân, đợc hiểu thành một phẩm chấtphản diện và là đối tợng của sự cấm dục."[22,212] Con ngời cá nhân xuấthiện dới những phẩm chất phản diện, dới hình thức của cái ác, cái xấu "TrọngQuỳ đánh bạc gán vợ (Nhị Khanh); Trung Ngộ tham dục với hồn ma cây gạo(Nhị Khanh); Dơng Thiên Tích dựa thế trả thù báo oán lặt vặt; chàng Hà Nhân

mê đắm hai hồn hoa Đào, Liễu; thần Thuồng Luồng bắt nàng Dơng thị; danh

kỹ Hàn Than với s Vô Kỷ tham dục thác sinh thành thuồng luồng; mối tìnhbất chính của hồn oan Thị Nghi với viên quan họ Hoàng; các hạng vua quan

tham ác trong truyện Ngời tiều phu núi Na; các tợng thần ăn trộm ở chùa

hoang Đông Triều; Lý tớng quân làm ác bị Diêm Vơng trị tội; cô Thuý Tiêu bịbắt, D Nhuận Chi tìm cứu; ngời con gái Nam Xơng chết oan vì chồng ghenbóng ghen gió… trứ tác Khuynh hớng tác giả là khuyến thiện, trừng ác, đề cao công

đức, lên án vật dục, tình dục, theo t tởng Nho giáo đời Tống "Diệt nhân dục,tồn thiên lý"[20,126]

Cũng theo lời nhận xét của GS.Trần Đình Sử, cái "dục" của cá nhân tự dotrong tình yêu nam nữ, tuy không đợc thừa nhận trong lời bình, nhng lại đợcmiêu tả nh những cuộc tình kỳ ngộ lãng mạn đáng nhớ Cuộc gặp của TrungNgộ với hồn ma Nhị Khanh cô quạnh đầy ân ái, xớng họa với lý tởng hànhlạc Cuộc kỳ ngộ ái ân xớng họa của Hà Nhân ở trại Tây, rồi kỳ ngộ Hàn Than

và Vô Kỷ, Nhuận Chi và Thuý Tiêu, Phật Linh với Lệ Nơng, Thị Nghi vớiviên quan họ Hoàng… trứ tác đều là những cuộc gặp ngoài lễ giáo, hôn thú, thuầntuý cá nhân, những mối t tình lấy hởng thụ làm mục đích, dĩ nhiên không đợcnhà nho chấp nhận về mặt đạo lý, song về mặt tình cảm, lại đợc ngòi bút tácgiả u ái miêu tả khá đẹp với những vần thơ tình tứ đặc sắc Điều đặc biệt làtình yêu cá nhân tự do không gắn với giá thú, nghĩa vụ, đợc khẳng định trongvăn học dới hình thức tội lỗi, cấm kỵ, một thứ tội lỗi chỉ có ở loài yêu quái nh-

ng lại đáng yêu Với con ngời cá nhân lúc này, ngời ta có thể lấy tình mà

th-ơng, mà tha chứ cha có lý để khẳng định, bảo vệ Nhân vật Hà Ô Lôi trớc khichết ngâm bài thơ:

"Sinh tử là trời sá quản bao, Nam nhi miễn đợc tiếng anh hào.

Thác về thanh sắc nên là thác, Chết đằng nào nên cơm cháo nào!"

Có thể coi là một lời tuyên bố về khát vọng cá nhân cha có chứng giải

Nh vậy, tự do cá nhân trong Truyền kỳ mạn lục có những điều mới mẻ.

Nó cho thấy cách nhìn con ngời của Nguyễn Dữ đồng thời bộc lộ cá tính,quan niệm của nhà văn - nhà nho này

Một đặc điểm nữa khi xây dựng nhân vật Truyền kỳ mạn lục là Nguyễn

Dữ kết hợp ba loại lời văn: tản văn (văn xuôi), biền văn (văn biền ngẫu), vận

Trang 33

văn (văn vần) Nhà văn đã khai thác những sở trờng của mỗi loại lời văn này:văn xuôi có u điểm khi miêu tả, kể chuyện; văn biền ngẫu và văn vần (baogồm thơ và từ) có u thế khi biểu hiện thế giới nội tâm của nhân vật Ví dụ:''Thiếp sở dĩ nơng tựa vào chàng, vì có cái thú vui nghi gia nghi thất Đâu ngờ

ân tình tựa lá, gièm báng nên non Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh ma tàn,sen rũ trong ao, liễu tàn trớc gió, khóc tuyết bông hoa gãy cuống, kêu xuân cái

én lìa đàn, nớc thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại dãy núi Vọng Phu kianữa''[25,207] Miêu tả cảnh bớc chân vào động tiên của Từ Thức, Nguyễn Dữviết: "Chợt thấy ở trên vách đá bỗng nứt toác ra một cái hang, hình tròn màrộng độ một trợng Vén áo đi vào, vừa đợc mấy bớc thì của hang đã đóng sậplại tối tăm mù mịt nh sa vào cái vực đen tối Bụng nghĩ không còn thể nàosống đợc nữa, lấy tay sờ soạng lối rêu, nhận thấy có một cái khe nhỏ, quằnquèo nh cái ruột dê vậy Đi mò độ hơn một dặm thì thấy có đờng đi ngoi lên.Bám bíu trèo lên thì mỗi bớc mỗi thấy rộng rãi Lên đến ngọn núi thì bầu trờisáng sủa Chung quanh toàn là những lâu đài nguy nga, mây xanh ráng đỏ,bám ở lan can, cỏ lạ hoa kỳ, nở đầy trớc cửa."[25,119]

Chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn vấn đề này ở chơng 3 khi nghiên cứu lờivăn nghệ thuật của tác phẩm

Tóm lại, nghệ thuật xây dựng nhân vật của Truyền kỳ mạn lục đánh dấu

bớc phát triển trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Trang 34

Chơng 2: Cốt truyện của các truyện trong

"Truyền kỳ mạn lục".

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ gồm 4 quyển, mỗi quyển có 5 truyện,

gồm 20 truyện ngắn Là những tác phẩm xuất hiện vào thế kỷ XVI ở ViệtNam nên các truyện ngắn này vẫn mang đặc điểm của truyện thời trung đại làchú trọng cốt truyện

2.1 Khái niệm cốt truyện:

Cốt truyện là một yếu tố cơ bản thuộc phạm vi kết cấu của tác phẩm vănhọc (câu, đoạn, ẩn dụ, tổ chức trần thuật, hệ thống hình tợng, thể loại, cốttruyện,… trứ tác ) Cốt truyện là hình thức tổ chức sơ đẳng nhất của truyện Nó là hệthống sự kiện cụ thể - vừa phản ánh sự vận động của đời sống, vừa tạo nên sựvận động trong tác phẩm Hệ thống sự kiện ấy xảy ra liên tiếp trong khônggian và thời gian cho nhân vật và có ý nghĩa đối với tác giả, thể hiện nhữngquan hệ, mâu thuẫn và quá trình nhất định của cuộc sống

Cốt truyện nói chung bao gồm các thành phần chính: trình bày (chỉ ratrạng thái, quan hệ chuẩn bị vào truyện), thắt nút (chỉ ra sự gặp gỡ, xung độttạo thành một quan hệ có khả năng phát triển tiếp), phát triển (chỉ ra mọi b ớcthăng trầm của nhân vật và quan hệ của chúng theo nguyên tắc nhân quả, liêntục), phần cao trào (chỉ ra bớc phát triển cao nhất, tạo ra bớc ngoặt, hoặc sự

đột phá), phần mở nút (xung đột đợc giải quyết, bớc ngoặt đợc thực hiện, câuchuyện không còn gì để phát triển nữa và tự chấm dứt), phần vĩ thanh (có thể

có để trình bày viễn cảnh hoặc ý nghĩa câu chuyện ở một tơng quan nào đó)

Nh vậy, cốt truyện thực chất là cái lõi diễn biến của truyện từ xảy ra cho đếnkết thúc Nhng cần lu ý, cốt truyện không nhất thiết khi nào cũng bao hàm đầy

đủ, tách bạch các thành phần nói trên Cấu trúc cốt truyện phụ thuộc vào quan

hệ thẩm mỹ của tác giả đối với hiện thực

Cốt truyện - dù là cốt truyện đơn giản nhất - thực hiện hai chức năng cơbản: phơi bày các xung đột xã hội và thể hiện các số phận, tính cách con ngời.Việc xây dựng cốt truyện dựa trên hai loại xung đột Xung đột cục bộ gắn liềnvới một biến động, một nguyên nhân cụ thể nào đó Khi biến động và nguyênnhân của nó đợc giải quyết thì xung đột cũng hết Đó là xung đột trong truyện

cổ tích, trong nhiều tác phẩm thời trung đại Cốt truyện xây dựng trên cơ sởxung đột phổ biến thì chức năng của nó là bộc lộ xung đột, phạm vi của cốttruyện nhỏ hơn xung đột nên kết thúc câu chuyện thờng mang tính chất đểngỏ, sau kết thúc, hiện trạng mâu thuẫn không bị triệt tiêu Phần lớn cốttruyện văn học thế kỷ XIX - XX đều mang tính chất đó

Trang 35

Khái niệm cốt truyện đôi khi còn dùng để chỉ sự lặp lại thờng gặp ở một

số mô típ hoặc tình huống cốt truyện Các tác giả vay mợn chúng để làm sờncho những cốt truyện mới Kiểu vay mợn này xuất hiện trong văn học dângian, văn học trung đại và cả văn học hiện đại Dĩ nhiên các mô típ hay tìnhhuống này không có vai trò quyết định đối với sự hình thành một cốt truyện cụthể Nhng cũng cần thấy rằng, sự vận dụng các mô típ, tình huống lặp lại chophép tác giả có thể bộc lộ những suy nghĩ mới trên những tình huống truyềnthống Nét độc đáo của cốt truyện cùng nội dung mới sẽ xuất hiện

Tóm lại, cốt truyện là "hệ thống sự kiện cụ thể đợc tổ chức theo yêu cầu

t tởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất tronghình thức vận động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch"[16,70]

2.2 Các kiểu cốt truyện của Truyền kỳ mạn lục:

Truyền kỳ là một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển của văn học TrungQuốc, vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian và sau đợc các nhà văn nâng cao,

sử dụng những mô típ kỳ quái, hoang đờng lồng trong một cốt truyện có ýnghĩa trần thế Sự tham gia của yếu tố thần kỳ vào câu chuyện không phải là

do những nhân vật có phép lạ kiểu nh Trời - Bụt - Tiên… trứ tác mà ngay ở hình thức

"phi nhân tính" của nhân vật (ma quỷ, vật hoá ngời) Tuy trong truyện bao giờcũng có nhân vật mang hình thức "phi nhân" nhng xét cho cùng cũng là sựcách điệu, phóng đại của tâm lý, tính cách một loại ngời nào đó

Truyền kỳ đợc xem là hình thức truyện ngắn ban sơ của phơng Đông Cónghĩa, truyền kỳ mang những đặc điểm cơ bản của thể loại truyện ngắn, đặcbiệt là truyện ngắn thời trung đại Một đặc điểm nổi bật của truyện thời trung

đại là chú trọng cốt truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm

mang chức năng thuần tuý văn học, là sản phẩm sáng tạo độc đáo Biểu hiện

rõ nét của sự sáng tạo đó là ở yếu tố cốt truyện Cốt truyện của Truyền kỳ mạn

lục chịu ảnh hởng của cốt truyện truyện cổ tích và cốt truyện của Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu) Tuy nhiên, xét kỹ sẽ phát hiện ra rằng Nguyễn Dữ chỉ tiếp

nhận gợi ý về khung cốt truyện hoặc một số mô típ, còn thì đều do ông vậndụng vốn sống và hiểu biết của mình để sáng tạo ra truyện mới

Vậy, với sự h cấu đó, Nguyễn Dữ đã xây dựng các kiểu cốt truyện gì và

đặc điểm của chúng nh thế nào?

2.2.1 Mô hình các kiểu cốt truyện của Truyền kỳ mạn lục:

Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện ngắn Trong đó, có loại truyện vạch

trần chế độ chính trị đen tối hủ bại của giai cấp phong kiến trên đà suy thoái,

đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan nhũng lại, đồi phong bại tục; đồng tìnhvới cảnh ngộ đau khổ của ngời dân lơng thiện bị chà đạp, hà hiếp; gián tiếp

Trang 36

phản ánh sự phẫn nộ của quần chúng trớc những tệ lậu của xã hội phong kiến.

Có loại truyện nói đến tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợchồng Có loại truyện nói về đời sống và lý tởng của kẻ sĩ, trong đó, nổi bậthơn cả là những truyện miêu tả cuộc sống của nho sĩ ẩn dật Cốt truyện của 20truyện ngắn này đợc xây dựng theo ba mô hình khác nhau:

1 Mô hình cốt truyện kiểu "kết thúc có hậu"(1)

2 Mô hình cốt truyện kiểu "kết thúc bi kịch"(2)

3 Mô hình cốt truyện mang tính chất luận thuyết(3)

Mỗi mô hình cốt truyện đợc tác giả xây dựng theo các chặng khác nhau.Chúng tôi khái quát nó nh sau:

1 Mô hình cốt truyện kiểu "kết thúc có hậu":

3 Mô hình cốt truyện mang tính chất luận thuyết:

Khảo sát 20 truyện ngắn của Truyền kỳ mạn lục chúng tôi thấy: hai mô

hình cốt truyện (1), (2) xuất hiện trong những truyện có đề tài tình yêu lứa đôi

- đây là một đề tài chính của Truyền kỳ mạn lục Mô hình cốt truyện (3) xuất

hiện ở những truyện có nội dung là sự tranh biện về các vấn đề chính trị xãhội, đạo đức

Cốt truyện kiểu "kết thúc có hậu" xuất hiện ở các truyện: Chuyện đối

tụng ở Long cung, Chuyện nàng Thuý Tiêu Kể tóm tắt truyện Chuyện nàng Thuý Tiêu sẽ thấy rõ mô hình cốt truyện này:

Quan soái trấn Lạng Giang thời nhà Trần là Nguyễn Trung Ngạn có nuôitrong phủ một con hát xinh đẹp tên là Thuý Tiêu Bấy giờ có D Nhuận Chi,một nho sinh quê ở Kiến Hng, nổi tiếng hay thơ và có tài làm bài hát, đợcquan soái họ Nguyễn quý mến mời đến chơi và đem Thuý Tiêu tặng chochàng Nhuận Chi mừng rỡ, đa nàng về Kiến Hng, dạy nàng âm luật thơ từ,chỉ một năm sau, thơ từ nàng làm ra chẳng kém gì chàng Đến khoa thi,Nhuận Chi đa cả Thuý Tiêu đi theo lên kinh, thuê nhà trọ trong phố, chờ ngày

Trang 37

vào trờng thi Vào một ngày đầu năm Thuý Tiêu cùng vài ngời bạn đến chùadâng hơng lễ Phật, giữa đờng bị quan Trụ quốc họ Thân bắt cóc đem về,chiếm làm của mình Vì thế lực họ Thân quá lớn, không toà nào dám đứng ra

xử kiện cho Nhuận Chi nên chàng đau buồn, bỏ cả thi cử

Một hôm đang thơ thẩn đi ngoài phố, Nhuận Chi nhác thấy kiệu củaThuý Tiêu đi qua dới rặng liễu Chàng muốn chạy đến, nhng ngời theo hầu giữquá ngặt nên chàng đành ứa lệ, ngậm ngùi nhìn theo Về đến nhà, Nhuận Chiviết ngay một phong th tỏ nỗi nhớ thơng, rồi buộc vào chân con chim yểng màngày trớc Thuý Tiêu nuôi dạy để nó mang đến cho nàng Thuý Tiêu liền phúc

đáp, kể lại kỷ niệm buổi đầu gặp gỡ giữa hai ngời, tỏ lòng thơng nhớ khônnguôi Từ đó Thuý Tiêu đâm ra buồn bã đau ốm luôn Quan Trụ quốc gặnghỏi, nàng nhận là vì thơng nhớ Nhuận Chi mà thành bệnh, rồi toan lấy khănlụa thắt cổ tự tử Quan Trụ quốc khuyên nàng hãy cứ bình tâm bảo dỡng thânthể, rồi quan sẽ cho gọi chàng Nhuận Chi đến, để hai ngời nối lại duyên xa.Sau hôm đó, quan Trụ quốc buộc lòng cho mời Nhuận Chi đến, cũng hứa

là sẽ trả Thuý Tiêu cho chàng, và mời chàng lu lại nhà mình để học hành cho

đỡ tốn kém Nhuận Chi đợc tiếp đãi tử tế, có cả tiểu hoàn hầu hạ, nhng việc trảlại Thuý Tiêu thì quan Trụ quốc tịnh không nhắc đến nữa Có lần Nhuận Chi -

ớm hỏi, thì quan nói thác là nàng vẫn còn ốm yếu, nên hãy khoan nói chuyệntái hợp Còn nàng Thuý Tiêu nghe tin có Nhuận Chi đến, liền nóng lòng muốngặp Nhân lúc vắng vẻ, nàng lẻn đến nơi Nhuận Chi ở, song chàng đi vắng, chỉ

đọc đợc trên vách hai bài thơ của chàng Thơng cho cảnh chàng trơ trọi, ngayhôm sau Thuý Tiêu sai một cô hầu tâm phúc tên là Kiều Oanh đến hầu hạchăn gối cho Nhuận Chi thay mình Từ đó, qua Kiều Oanh, hai ngời mới th-ờng đợc biết tin tức của nhau

Cho đến một ngày giáp tết, Nhuận Chi sốt ruột xin quan Trụ quốc chogặp Thuý Tiêu một lần, để rồi chia tay và không nhắc đến chuyện tái hợp nữa.Quan Trụ quốc ra vẻ bằng lòng, nhng vào đêm đã hẹn, Nhuận Chi chờ mãi màvẫn không thấy nàng Quá thất vọng, chàng nhắn (qua Kiều Oanh) với ThuýTiêu rằng không thể tin đợc quan Trụ quốc, lại e rằng vì ghen tức mà hắn cóthể tìm kế hại chàng, nên chàng không thể ở lại đây đợc nữa Thuý Tiêu nhận

đợc tin, nhắn lại là sỡ dĩ nàng còn nấn ná ở cõi đời này chỉ vì còn có NhuậnChi Nhng nếu nh chàng vẫn còn nghĩ đến, thì quyết sẽ bỏ trốn cùng chàngvào đêm mồng một tết, nhân khi mọi ngời xem hội cây lửa ngoài bờ sông

Đêm hôm ấy, theo hẹn, ngời bõ già của Nhuận Chi cầm chuỳ sắt (giấutrong tay áo) nện tới tấp vào những kẻ vây quanh Thuý Tiêu, chúng chạy toánloạn, bèn thừa cơ cớp đợc nàng đem đi, trả về cho chàng Nhuận Chi Hai ngời

bí mật đa nhau đến phủ Thiên Trờng, sống nhờ một ngời bạn Mấy năm sau,quan Trụ quốc họ Thân bị Triều đình xử tội tham ô xa xỉ Bấy giờ Nhuận Chi

Trang 38

về lại kinh đô thi đỗ tiến sĩ Vợ chồng đợc sống hạnh phúc bên nhau cho đếngià.

Kiểu "kết thúc có hậu" của cốt truyện này cho thấy Nguyễn Dữ chịu ảnhhởng của cốt truyện cổ tích: ngoài đời khó có kết thúc nh thế này nên trongnghệ thuật lại càng cần một kết thúc có ý nghĩa nâng đỡ đời sống tinh thầncho con ngời Nhng cũng cần thấy rằng, kiểu cốt truyện "kết thúc có hậu" xuất

hiện ít trong Truyền kỳ mạn lục Một xã hội đầy biến động khôn lờng nh xã

hội thế kỷ XVI thì cốt truyện kiểu "kết thúc bi kịch" đợc sử dụng nhiều hơn để

nhằm phản ánh hiện thực Mà Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đi sát với hiện

thực đơng thời, ngay cả khi yếu tố "kỳ" xuất hiện thì cũng nhằm phản ánh đờisống con ngời đơng thời

Kiểu cốt truyện "kết thúc bi kịch" xuất hiện trong Truyền kỳ mạn lục bao gồm: Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện ngời con gái Nam Xơng,

Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện cây gạo, Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện Lệ Nơng Kể tóm tắt truyện Chuyện ngời con gái Nam Xơng làm ví dụ:

Huyện Nam Xơng có nàng họ Vũ, tên là Thị Thiết, dung nhan xinh đẹp,tính tình lại thuỳ mị nết na Nàng sớm kết duyên cùng chàng họ Trơng, mộtchàng trai con nhà khá giả trong làng Trơng rất yêu quý vợ, chỉ có điều làtính hay ghen tuông Tuy vậy, do nàng rất mực giữ gìn khuôn phép, nên vợchồng cha bao giờ phải cãi vã bất hoà với nhau Vợ chồng ở với nhau cha đợcbao lâu thì Trơng phải sung vào đội quân đi đánh giặc Chiêm Thành, khiếnnàng và mẹ chàng vô cùng thơng nhớ

Mời ngày sau buổi chồng ra trận, Thị Thiết chuyển dạ sinh con trai, đặttên là Đản Mẹ chồng do quá thơng nhớ con trai nên chỉ nữa năm sau đã sinhbệnh nặng Nàng họ Vũ hết lòng chăm sóc, an ủi, cầu khấn, nhng bệnh vẫnngày một nặng thêm Bà dặn con dâu gắng nuôi con khôn lớn, tin rằng trời sẽchẳng phụ tấm lòng hiền thảo của nàng, rồi mất Nàng đau xót, lo liệu việc machay chu đáo cho mẹ chồng, chẳng khác gì đối với mẹ đẻ

Qua năm sau thì quân giặc chịu hàng, chàng Trơng đợc giải ngũ trở về.Bấy giờ con trai chàng cũng vừa học nói Trơng đa con đi thăm mộ mẹ, bé

Đản quấy khóc, chàng dỗ dành và xng cha với nó Bé Đản thắc mắc, tại saochàng cũng là cha nó, lại biết nói, chứ không im thin thít nh trớc đây Nghecon nhỏ nói vậy, Trơng lấy làm lạ, cố gạn hỏi thì Đản kể là khi chàng cha về,

đêm đêm thờng có một ngời đến nhà, cùng đi, cùng ngồi với mẹ nó, nhngkhông bao giờ bế nó cả Vốn tính hay ghen, Trơng đinh ninh rằng vợ mình đã

h hỏng Chàng về nhà mắng vợ tới tấp, không chịu nghe nàng phân trần,không để vào tai lời khuyên can của họ hàng láng giềng, cũng không chịu nói

là đã nghe chuyện gì từ đâu, cứ để mặc cho nàng đau đớn khóc than

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân, Các thể tài trớc thuật và sáng tác nghệ thuật ở văn học trung đại Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 4, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể tài trớc thuật và sáng tác nghệ thuật ở văn họctrung đại Việt Nam
[2] M.Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn, dịch, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn
[3] Lê Huy Bắc, Truyện ngắn: lý luận, tác giả và tác phẩm, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: lý luận, tác giả và tác phẩm
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
[4] Phạm Tú Châu, Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Nhà xuất bản Văn học giới thiệu, Hà nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn đăng tân thoại" và "Truyền kỳ mạn lục
Nhà XB: Nhà xuất bảnVăn học giới thiệu
[5] Phạm Tú Châu, Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Tạp chí Văn học, số 2, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳmạn lục
[6] Nguyễn Văn Dân, Văn học so sánh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Néi, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[7] Nguyễn Phạm Hùng, Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Tạp chí Văn học, số 2,1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác trong Truyền kỳ mạnlục của Nguyễn Dữ
[8] Kawamôtô Kurive, Những vấn đề khác nhau liên quan đến Truyền kỳ mạn lục, Tạp chí Văn học, số 6, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề khác nhau liên quan đến Truyền kỳ mạnlục
[9] Phơng Lựu, Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học
Nhà XB: Nhà xuất bảnVăn hoá thông tin
[10] Phơng Lựu, Trần Đình Sử, ... Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[11] Phơng Lựu, Nguyễn Nghĩa Trọng, ... Lý luận văn học tập 1, Nhà xuất bảnĐại học s phạm, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học s phạm
[12] Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại - những bớc đi lịch sử, Tạp chí Văn học, số 7, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại - những bớc đilịch sử
[13] Nguyễn Đăng Na, Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại - những vấn đề văn xuôi tự sự, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại - những vấn đềvăn xuôi tự sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[14] Trần ích Nguyên, Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, dịch, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳmạn lục
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
[15] Niculin, Vai trò mới của cốt truyện cổ, Tạp chí Văn học, số 1, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò mới của cốt truyện cổ
[16] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[17] Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nhà xuất bản Văn học, Hà Néi, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lĩnh Nam chích quái
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
[18] G.N.Pôxpêlôp, Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Néi, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[19] Nguyễn Hữu Sơn, Đặc điểm văn học Việt Nam thế kỷ XVI, các bớc tiếp nối và phát triển, Tạp chí Văn học, số1, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm văn học Việt Nam thế kỷ XVI, các bớc tiếpnối và phát triển
[20] Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử,... Về con ngời cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về con ngời cá nhân trong văn học cổViệt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w