Hoà chung với dòng chảy của lịch sử dân tộc, những cuộc đấu tranh trongthời kỳ đầu dựng nớc và giữ nớc trên đất Thanh Hoá đã góp phần làm đẹp thêmvào lịch sử vẻ vang của dân tộc.. Đã có
Trang 1Trong bớc tiến chung của dân tộc, ngay từ thời Văn Lang này, phụ nữ nớc
ta đã xây đắp nền móng vững chắc cho truyền thống hết sức vẻ vang của mình;anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang
Hồ Chủ Tịch rất trân trọng những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, Ngờinói: “chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang của thời đại Bà Tr-
ng, Bà Triệu, Trần Hng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ cônglao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anhhùng”
[11,171]Dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển cho đến ngày nay đã hơn 4000 năm,trong thời gian đó, ông cha chúng ta đã đổ bao xơng máu và mồ hôi để giữ gìn vàxây dựng nên non sông đất Việt Nam này Trong hơn 4000 năm đó, mặc dù luôn
bị các thế lực phong kiến phơng Bắc và chủ nghĩa đế quốc xâm lợc, nhân
dân ta vẫn không chịu khuất phục Ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc ta đã tỏ rõ ý chí quật khởi, không chịu mất nớc, không chịu làm nô lệ
Trong lịch sử dân tộc ta, sự nghiệp đấu tranh dựng nớc và sự nghiệp đấutranh giữ nớc luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Thực tế đã chứng minh: không giữ
đợc nớc thì không có điều kiện để dựng nớc, không dựng đợc nớc thì làm gì cócơ sở để mà giữ nớc
Suốt quá trình hình thành và phát triển, sự nghiệp đấu tranh dựng nớc vàgiữ nớc luôn luôn quyện vào nhau, cái nọ là điều kiện của cái kia Giữ nớc và
Trang 2dựng nớc, xét cho cùng chỉ là hai mặt khác nhau của một sự nghiệp đấu tranh :
đấu tranh với thiên nhiên để cải tạo thiên nhiên, đấu tranh chống áp bức xã hội và
đấu tranh chống ngoại xâm Ba cuộc đấu tranh diễn ra ở ba lĩnh vực khác nhaunhng cùng nằm trong một mục đích: làm cho dân tộc có thể tồn tại và phát triển,
đất nớc thêm giàu, thêm đẹp
Sự nghiệp đấu tranh đó đã làm nảy sinh ra hàng nghìn những nhân vật lỗilạc, kiệt xuất trong các lĩnh vực: quân sự, chính trị, ngoại giao, văn hoá, xã hội
Chúng ta tự hào vì lịch sử dân tộc chúng ta đã sản sinh ra các nhân vật nhvậy Các nhân vật đó khác nào các vì sao trên bầu trời Việt Nam, đã làm cho lịch
sử Việt nam sáng ngời và vô cùng đẹp đẽ
Các nhân vật lịch sử kiệt xuất của chúng ta có tầm vóc khác nhau, có đàn
ông và có cả đàn bà, họ sống trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, họ có nhữnghoài bão và cảnh ngộ khác nhau Trong đấu tranh, có ngời giành thắng lợi vẻvang, có ngời lại thất bại, nhng tất cả họ có một điểm giống nhau: họ đều khảngkhái, bất khuất, họ đều yêu nhân dân , yêu lẽ phải, đều ghét sự áp bức, sự bấtcông và căm thù bọn xâm lợc Việc làm của họ hoặc nhiều hoặc ít đã góp phầnlàm cho dân tộc ta lớn lên, đất nớc ta giàu đẹp Từ thời đại này qua thời đạikhác, họ – bằng các hoạt động của mình, bằng những cuộc đấu tranh củamình đã góp phần làm hình thành nhiều truyền thống tốt đẹp mà chúng tavẫn thờng gọi là truyền thống của dân tộc Việt Nam, đó là truyền thống
đấu tranh kiên cờng, bất khuất để giữ nớc và truyền thống đấu tranh đểdựng nớc Đây là những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc ta, là tinhhoa của dân tộc suốt mấy nghìn năm lịch sử Nhân dân ta từ đời này sang
đời khác, thời này sang thời khác vẫn thừa kế, phát huy những truyềnthống đó Trong quá khứ, các truyền thống đó đẫ nhiều lần động viên, cổ
vũ nhân dân ta trong đấu tranh dựng nớc và giữ nớc
Hoà chung với dòng chảy của lịch sử dân tộc, những cuộc đấu tranh trongthời kỳ đầu dựng nớc và giữ nớc trên đất Thanh Hoá đã góp phần làm đẹp thêmvào lịch sử vẻ vang của dân tộc
Thanh Hoá từ ngàn xa vốn đã là “một vùng đất, một vùng ngời ”, vừa rộnglớn vừa lâu đời, với điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên rất phong phú và
Trang 3đa dạng, và nổi tiếng là vùng “địa linh nhân kiệt” của đất nớc, không phải hàngchục mà hàng trăm con ngời tài năng đã đợc sinh ra và lớn lên ở đây Câu nói:
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
cùng cuộc khởi nghĩa vang dội của Bà
Đợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nớc, tôi rất đỗi
tự hào về quê hơng xứ Thanh của mình, và tôi có quyền tự hào về những gì đãdiễn ra trong quá khứ, về những con ngời đã ngã xuống vì quê hơng, đất nớc Khinghĩ về quê hơng, tôi muốn nói đến những gì là truyền thống tốt đẹp, là những gìhôm qua cha ông ta đã gây dựng, để ngày hôm nay thế hệ trẻ chúng ta tiếp tụcgiữ gìn và phát huy
Với đề tài “Tìm hiểu thêm về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu và tình cảm của nhân dân quê hơng đối với ngời nữ anh hùng ,” tôi muốn góp một phần nhỏcông sức của mình để giúp mọi ngời hiểu thêm về ngời phụ nữ khí tiết anh hùng
họ Triệu và cuộc khởi nghĩa của Bà Bên cạnh đó, có thể tìm hiểu thêm về nhữngmặt hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu từ cuộc khởi nghĩa này,cũng đồng thời tôi muốn tập hợp t liệu về lòng yêu thơng, ghi nhớ của nhân dânquê hơng đối với ngời nữ anh hùng
Hoàn thành đề tài này, chắc chắn sẽ giúp cho bản thân tôi hiểu hơn vềnhững vị anh hùng trong lịch sử dân tộc, về hình ảnh Bà Triệu tớng của chúng ta,
từ đó hiểu hơn về quá khứ hào hùng của dân tộc, của quê hơng, để biết quý trọng,gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp đã đợc gây dựng từ ngàn xa
2 Lịch sử vấn đề.
Trang 4Chúng ta đều biết rằng, nói đến lịch sử dân tộc ta là nói đến lịch sử củamột dân tộc không ngừng đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lợc để sinh tồn và pháttriển Đã có rất nhiều nhà sử học với những trang viết oai hùng về lịch sử của dântộc , những cuộc đấu tranh chống lại thiên nhiên, đấu tranh giành độc lập chodân tộc.Trong những trang viết đó, hình ảnh những vị anh hùng hiện lên nhnhững vị cứu tinh của dân tộc Nhng trong sự nghiên cứu riêng biệt từng cuộc
đấu tranh gắn với từng nhân vật lịch sử cụ thể còn rất hạn chế, đặc biệt là nhânvật ngời nữ anh hùng Triệu Thị Trinh với cuộc khởi nghĩa ở thế kỷ 3 trớc Công
nguyên Do đó đề tài: “Tìm hiểu thêm về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu và tình cảm của nhân dân quê hơng đối với ngời nữ anh hùng” cũng là một trong những
vấn đề có phạm trù hẹp Tuy nhiên ở nhiều góc độ khác nhau cũng đã không ítngời đề cập đến vấn đề này nh:
- Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái(1999), Đại Nam quốc sử diễn ca NXB văn
hoá thông tin Hà Nội, đã dành một số trang tả về hình dáng của Bà Triệu
- Nguyễn Thị Lâm (khảo cứu, su tầm và biên soạn Trung tâm văn hoá
ngôn ngữ Đông Tây 2001), Thiên Nam ngữ lục NXB văn học 2001: Có một số
dòng viết về uy vũ của Bà Triệu
- Hoàng Tuấn Phổ (1980), Ngàn Na NXB Thanh Hoá: Kể về cuộc đấu
tranh của nhân dân Cửu Chân buổi đầu Công nguyên, hình ảnh Bà Triệu khi cònnhỏ và một số chi tiết về cuộc khởi nghĩa của Bà
- Hồ Chí Minh (1999), Lịch sử nớc ta NXB trẻ Dành sáu câu thơ ca ngợi
tài năng Bà Triệu nói riêng và phụ nữ nớc ta nói chung
- Văn Lang – Nguyễn Anh – Quỳnh C (1984), Những vì sao đất nớc NXB Thanh niên Hà Nội tập 1 Danh nhân đất Việt (“ ” cùng tác giả) NXB thanhniên Hà Nội 1993, tập 1 Có đoạn viết về câu nói bất hủ của Bà Triệu: “Tôimuốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổiquân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lng làm tìthiếp cho ngời ”
- Nguyễn Đức Hiền (1996), Bà Triệu: truyện lịch sử NXB Giáo dục 1996:
Có đoạn viết về việc nhân dân tìm đến tụ nghĩa dới lá cờ của Bà và một sốkhúc đồng giao của trẻ em hát về tiếng cồng, tiếng lệnh của Bà
-“ Kỉ yếu hội nghị nghiên cứu lần thứ nhất từ ngày 7 đến ngày 19 tháng 11
Trang 5năm 1971” Ty văn hoá Thanh Hoá : Nghiên cứu cuộc khởi nghĩa của nhân dân tadới sự lãnh đạo của Bà Triệu chống ách đô hộ của nhà Ngô vào giữa thế kỷ 3 trớcCông nguyên.
-Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá(1994), Lịch sử Thanh Hoá NXB KHXH Hà Nội, tập 2 Chơng 3 viết về cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu.
– Lê Huy Trâm, Hoàng Anh Nhân (2001), “Lễ tục – Lễ hội truyền thống
xứ Thanh” NXB văn hoá dân tộc Hà Nội Dành một phần viết về lăng, đền và lễhội đền Bà Triệu
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm;
Trình bày khái quát về vị trí địa lý, truyền thống lịch sử Thanh Hoá để thấy
đợc tình hình xã hội Việt Nam buổi đầu Công nguyên nói chung và vùng đất CửuChân xa nói riêng Qua đó làm nổi bật lên đợc phong trào đấu tranh của nhân dân
ta dới sự lãnh đạo của ngời nữ anh hùng họ Triệu hồi giữa thế kỷ thứ ba trớcCông nguyên
Đề tài đi sâu nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, do đó làm nổi bậtlên một số vấn đề nh: thời gian, địa bàn hoạt động, quá trình diễn biến của cuộckhởi nghĩa, qua đó cũng thấy đợc sức mạnh và tinh thần đoàn kết đấu tranh củanhân dân ta để chống giặc ngoại xâm Hơn nữa, đề tài góp phần vào việc giáodục lòng yêu quê hơng, đất nớc, tởng nhớ đến những vị anh hùng đã ngã xuống vì
sự nghiệp giải phóng dân tộc
Cuối cùng là nói lên những tình cảm của nhân dân quê hơng đối với ngờinữ anh hùng Triệu Thị Trinh – Bà là tiêu biểu cho ngời phụ nữ Việt Nam nóiriêng và nhân dân Việt Nam nói chung
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi phải sử dụng những phơng pháp
chuyên nghành nh: Su tầm tài liệu, đọc, thống kê, trích dẫn, xử lý tài liệu, từ đóphân tích đánh giá vấn đề Đồng thời sử dụng hai phơng pháp cổ điển đó là: ph-
ơng pháp lịch sử và phơng pháp logic để mở rộng nhiều sự kiện lịch sử,những tàiliệu lịch sử để khôi phục bức tranh quá khứ của lịch sử đúng nh nó tồn tại.Từ đótổng hợp, khái quát để nêu lên đợc những nhận xét, đánh giá chung nhất của vấn
đề
Trang 65 Bố cục của đề tài.
Đề tài bao gồm những phần sau:
A Phần mở đầu:
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
B Phần nội dung.
Chơng 1: Khái quát về vị trí địa lý tự nhiên – truyền thống lịch sử Thanh
Hoá và hình ảnh Bà Triệu
1.1 Vị trí địa lý tự nhiên Thanh Hoá
1.2.Truyền thống xa – niềm tự hào của quê hơng Thanh Hoá
1.3 Hình ảnh Bà Triệu
Chơng 2: Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu.
2.1 Tình hình xã hội Việt Nam buổi đầu Công nguyên
2.2 Thanh Hoá trớc cuộc khởi nghĩa
2.3 Thời gian, địa bàn hoạt động và quá trình diễn biến của cuộc khởinghĩa
2.4 Nguyên nhân thất bại, tính chất, ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa
Chơng 3: Tình cảm của nhân dân quê hơng đối với Bà Triệu.
3.1 Di tích: lăng và đền thờ Bà Triệu ở Thanh Hoá
3.2 Lễ hội đền Bà Triệu
3.3 Những tác phẩm văn học viết về Bà Triệu
C Phần kết luận.
Trang 7b phần nội dung
Chơng 1:
Khái quát vị trí địa lí tự nhiên , truyền thống lịch
sử Thanh Hoá và hình ảnh Bà Triệu
1.1 Vị trí địa lý tự nhiên Thanh Hoá
Ngay trong lời nói đầu của cuốn “Thanh Hoá thiên nhiên, xã hội , con ngời
” (Tỉnh uỷ – UBND tỉnh Thanh Hoá), các tác giả viết:
“Việt Nam một xứ: Thanh Hoa trấn
Mỗi tấc non sông một tấc vàng”
[Tỉnh uỷ – UBND tỉnh Thanh Hoá - Thanh Hoá thiên nhiên, xã hội, con“
ngời -” NXB Thanh Hoá 1996 – Trang 7]
Là một trong những tỉnh lớn và hình thành lâu đời trên dải đất Việt Nam,Thanh Hoá nằm từ 19023’ đến 20030’ vĩ độ Bắc , và 104025’ đến 106030’ kinh độ
Đông, chiều dài là 95km , chiều ngang chỗ rộng nhất từ Mờng Xia đến Sầm Sơn
là 189km Thanh Hoá - một tỉnh “đất rộng ngời đông”, với diện tích tự nhiên là11.168km2và 18.000km thềm lục địa , với dân số trên 3 triệu ngời Phía Bắc giápcác tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, với chiều dài 175km , phía Nam và TâyNam giáp tỉnh Nghệ An với chiều dài 160km , phía Tây thì nối liền sông núi vớitỉnh Sầm Na của nớc bạn Lào láng giềng với chiều dài 195km, và cuối cùng là
Trang 8phía Đông mở rộng ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ với đờng bờ biển dài hơn102km.
Là hình ảnh thu nhỏ của nớc Việt Nam, Thanh Hoá với diện tích rộng lớn,
địa hình phức tạp, đa dạng , có đủ các vùng rừng núi, trung du, đồng bằng vàvùng thềm lục địa Có thể nói “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, đó là ba yếu tố lí t-ởng cho bất kỳ một vùng lãnh thổ nào Bên cạnh những đặc điểm tự nhiên của
đồng ruộng, sông ngòi, biển cả và núi rừng nhiệt đới gió mùa Đông Nam á,những đặc điểm sinh thái và tiềm năng đa dạng về nông- lâm – ng - thổ sản lẫnkhoáng sản trong lòng đất, Thanh Hoá còn có những thắng cảnh nổi tiếng đẹp
nh : động Bích Đào, biển Sầm Sơn Những di tích, địa danh lịch sử văn hoá vàcách mạng nh: thành Tây Đô, Lam Kinh, Ba Đình, Ngọc Trạo , đó chính lànhững lợi thế cơ bản cho xu thế phát triển kinh tế – xã hội xứ Thanh, đồng thời
nó còn bảo lu tinh hoa văn hoá cho tỉnh nhà
Song bên cạnh những thuận lợi nói trên, thiên nhiên cũng đã gây ra không
ít những khó khăn cho nhân dân trong tỉnh Nằm trong khu vực chuyển tiếp củahai hệ thống gió mùa nhiệt đới và ở vị trí tiếp giáp giữa hai miền Bắc và Trung n-
ớc ta, Thanh Hoá phải chịu đựng chế độ khí hậu phức tạp : thời tiết khắc nghiệt,hạn hán kéo dài, bão lụt xảy ra liên tục, cản trở không ít đến đời sống của nhândân Dới chế độ cũ , nạn đói kém thờng xảy ra trong phạm vi rộng lớn và kéo dài.Nhân dân phải kiên trì , dũng cảm phấn đấu để hạn chế bớt những trở ngại củathiên nhiên Cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ ấy đã tạo nên truyền thống đoànkết , tơng trợ giữa nhân dân miền ngợc và miền xuôi trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ quê hơng
Có thể nói , là vùng đất địa đầu của miền Trung, kề nối với miền Bắc khởinguồn, xứ Thanh nh cửa ngõ rộng mở để đón nhận du khách Dẫu ngời miềnNam hay ngời miền Bắc đã từng đến và sống ở đây thì đều có một sự gắn bó vàmến yêu tha thiết đối với xứ sở này Rồi nếu phải đi xa thì đất – nớc – con ngời– cuộc sống ở đây sẽ trở thành những kỷ niệm đẹp đẽ, thân thuộc đến mứckhông
thể quên đợc – xứ Thanh của văn hoá núi Đọ, của văn hoá Đông Sơn, của BàTriệu cỡi voi phá giặc, của Lam Sơn tụ nghĩa bình Ngô, của hùng khí Ba Đình,
Trang 9Mã Cao, Hùng Lĩnh, cũng là xứ sở, quê hơng của nhiều danh nhân tiêu biểu của
đất nớc với hàng ngàn năm văn hiến
1.2 Truyền thống xa – niềm tự hào của quê h niềm tự hào của quê h ơng Thanh Hoá.
Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển , là một trong những cái nôi đầutiên của loài ngời, Thanh Hoá có một ruyền thống phát triển lâu dài và liên tụctheo tiến trình của nền văn minh nhân loại
Chúng ta đều biết , từ xa đến nay, nhân dân Thanh Hoá có một tinh thầnyêu nớc nồng nàn, có truyền thống chống giặc ngoại xâm oanh liệt, góp phầnxứng đáng vào công cuộc dựng nớc và giữ nớc Chính trên mảnh đất này đã sảnsinh ra những ngời con u tú, những anh hùng dân tộc
Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) hồi giữa thế kỷ thứ bachống giặc Ngô xâm lợclà một trong những cuộc khởi nghĩa oanh liệt trong lịch
sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta Triệu Thị Trinh trở thành một trongnhững nữ anh hùng dân tộc, nh có sách đã viết:
“Cũng toan gánh vác sơn hàCho Ngô biết mặt đàn bà nớc nam”
[4,54]
Bảy thế kỷ sau, vào năm 981, thập đạo tớng quân Lê Hoàn – ngời conquang vinh của nhân dân Thanh Hoá, thông minh, quả cảm đã tổ chức và lãnh
đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lợc, giữ vững bờ cõi nớc
Đại Cồ Việt, lập nên nhà Tiền Lê
Trong lúc nhân dân cả nớc đang ra sức khắc phục những hậu quả về kinh
tế, chính trị , xã hội cuối đời Lý, đẩy mạnh công cuộc phục hng đất nớc đầu thờiTrần, thì những đoàn quân viễn chinh khét tiếng tàn bạo Nguyên – Mông trànsang xâm lợc nớc ta.Tổ quốc lâm nguy, vận mệnh dân tộc đang nh ngàn cân treotrên sợi tóc, nhân dân Thanh Hoá đã cùng nhân dân cả nớc bừng bừng khí thế
“quyết chiến quyết thắng” của tinh thần Hội nghị Diên Hồng Ngay từ đầu cuộckháng chiến chống quân Nguyên – Mông, vua tôi nhà Trần đã chọn Thanh –Nghệ làm căn cứ địa Nơi đây vốn là chỗ dựa, là niềm tin tởng trông cậy của vuatôi các triều đại phong kiến trong công cuộc chống ngoại xâm, vì đó là những nơi
đóng góp nhiều sức ngời sức của cho cuộc kháng chiến, bảo vệ tổ quốc
Trang 10Qua đầu thế kỷ 15, lợi dụng lúc nhà Trần suy yếu, lấy cớ “diệt Hồ phùTrần”, quân Minh kéo sang xâm lợc nớc ta Dới ách đô hộ cực kỳ tàn bạo của kẻthù, mùa xuân năm 1418, tại căn cứ địa Lam Sơn(thuộc huyện Thọ Xuân, ThanhHoá ), vị anh hùng dân tộc Lê Lợi đã cùng với nhà yêu nớc vĩ đại Nguyễn Trãiphất cờ khởi nghĩa, tổ chức và lãnh đao nhân dân cả nớc đứng dậy chống quânxâm lợc Trải qua mời năm kháng chiến cực kỳ gian khổ và anh dũng, nhân dân
ta đã giành đợc thắng lợi vẻ vang, viết nên một trong những trang sử huy hoàngnhất của dân tộc Tên tuổi và sự nghiệp của Lê Lợi, Nguyễn Trãi cùng với địadanh Lam Sơn mãi mãi ăn sâu vào ký ức nhiều thế hệ ngời Việt Nam
Vào thế kỷ 18, đất nớc rung chuyển bởi bão táp của những cuộc khởi nghĩanông dân Lấy cớ “phù Lê”, 20 vạn quân Thanh ồ ạt xâm lợc nớc ta Nguyễn Huệ– ngời anh hùng áo vải Tây Sơn đã mang quân ra Bắc diệt giặc ngoại xâm, bảo
vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Ông đã chọn Thanh Hoá làm một trongnhững nơi tập kết lực lợng vũ trang trớc khi mở cuộc tấn công thần tốc vào thànhThăng Long, tiêu diệt 20 vạn quân Thanh giữ vững bờ cõi Nhân dân Thanh Hoá
đã nhiệt liệt đón chào đội quân bách chiến bách thắng của Nguyễn Huệ, tựnguyện mang trâu,rợu, lơng thảo để khao quân, ra sức động viên con em xungvào đội quân cứu nớc lừng lẫy ấy.Với truyền thống anh hùng, với sức ngời , sứccủa của đất nớc ta, nếu nh triều đình nhà Nguyễn thức thời nhanh chóng canh tân
đất nớc, tin chắc rằng dân tộc ta sẽ có bớc phát triển mới Tiếc rằng sau khi nắmchính quyền, vua tôi nhà Nguyễn ngày càng đi sâu vào con đờng bảo thủ, thựchiện chính sách “bế quan toả cảng”, kìm hãm sự phát triển của dân tộc
Lợi dụng vào sự yếu hèn của vua chúa Việt Nam, năm 1858, thực dânPháp nổ súng xâm lợc nớc ta Triều đình nhà Nguyễn đã nhanh chóng đầu hànggiặc Từ khi thực dân Pháp xâm lợc và đặt ách thống trị trên đất nớc ta, cũng nhnhân dân cả nớc, nhân dân Thanh Hoá phải đơng đầu với kẻ thù xâm lợc mới, cótiềm lực kinh tế mạnh hơn, vũ khí tối tân và kinh nghiệm tác chiến Không chịukhuất phục trớc kẻ thù, nhiều nơi nhân dân đã nổi dậy chống bọn cớp nớc và bè
lũ bán nớc
Dới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nớc, nhân dân Thanh Hoá từ miền xuôi
đến miền ngợc đã hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa nh: khởi nghĩa Ba Đình
do Phạm Bành và Đinh Công Tráng chỉ huy; cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh (Vĩnh
Trang 11Lộc) do Tống Duy Tân và Cao Điển lãnh đạo Các cuộc khởi nghĩa trên đây, tuy
bị kẻ thù dìm trong máu lửa, song tinh thần bất khuất, ý chí kiên cờng và tên tuổicủa các sĩ phu yêu nớc nh Phạm Bành, Tống Duy Tân, Hoàng Bật Đạt, TrầnXuân Soạn, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc, Cao Điển là những tấm gơng sángtrong sự nghiệp kháng chiến cứu nớc của nhân dân ta vào cuối thế kỷ 19
Trải qua nhiều thế kỷ đấu tranh và phát triển, với truyền thống đoàn kết
t-ơng trợ, tự lực tự cờng, dũng cảm, bất khuất trớc mọi thử thách của thiên nhiên và
sự tàn bạo của kẻ thù, nhân dân Thanh Hoá đã viết nên những trang sử vẻ vang.Truyền thống đó là di sản quý báu của nhân dân ta và đợc phát huy cao hơn vàonhững thế hệ mai sau, góp phần tích cực và xứng đáng vào công cuộc dựng nớc
và giữ nớc Truyền thống đó vừa là cơ sở, vừa là yếu tố tinh thần để nhân dân taphát triển trong thời đại mới
1.3 Hình ảnh Bà Triệu
Trong lịch sử Việt Nam nói chung và trong lịch sử Thanh Hoá nói riêng,hình ảnh Bà Triệu đã trở thành một bức tranh đậm nét Hàng ngàn năm qua, Bàluôn là một nữ anh hùng , một nhân vật lịch sử sống trong lòng các thế hệ Hơnbao nhiêu nhân vật lịch sử khác, Bà đã trở thành một hình tợng đẹp, tiêu biểu chovăn hoá Việt Nam Bà đi vào chính sử, vào truyền thuyết, vào ca dao, Bà là tiêubiểu cho phẩm chất ngời Việt Nam nói chung, cho phụ nữ Việt Nam nói riêng,một phần nào cũng ghi đợc dấu ấn riêng của quê hơng Thanh Hoá, đúng nh lờiChủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết về Bà:
“Tỉnh Thanh Hoá có một bàTên là Triệu ấu tuổi đà đôi mơiTài năng dũng cảm hơn ngờiKhởi binh cứu nớc muôn đời lu phơngPhụ nữ ta chẳng tầm thờng
Trang 12ngời và làm hùng trởng một phơng Bà Triệu dáng ngời xinh đẹp mà khoẻ mạnhkhác thờng; đầu beo, hàm én, mũi hùm, má rồng, mình cao tám thớc, lng rộng,
vú dài ba thớc, tay dài quá gối, ngày đi bộ hai trăm dặm, giỏi võ nghệ, nh có bàidiễn ca đã viết:
“Cửu Chân có một nữ nhiLận đận qua kì tuổi ngoại hai mơiChồng con cha có đợc nơiCao chừng tám thớc rộng ngoài mời gang
Uy nghi diện mạo đoan trang
Đi đờng chớp thét, động đờng sấm vangMặt nh vầng nguyệt mới lênMắt sáng nh đèn, má tựa lan ,gioi
Vú dài ba thớc lôi thôiNgồi chấm đến đùi, cúi rủ đến chânSức quảy nổi vạc nghìn cânChẳng sờn Mã Viện, hơn phân Nguỵ thù”
[8,12]
Cha mẹ mất sớm , Bà ở với anh trai và chị dâu Chị dâu chẳng hiền, thờnglăng mạ tộc đảng, bà tức giận bắt chị dâu giết đi Vì thế, Quốc Đạt và Bà sinh rakhông hoà thuận, Bà mới dời ra vùng núi Bồ Điền, tự sức mình sinh sống, tronghai , ba năm mà nhà cửa đất đai rộng rãi, của cải d dật, kẻ ăn ngời ở ngày càng
đông Ngời trong quận có kẻ mối lái , Bà đều không bằng lòng Bà tính ngờichính trực, cơng quyết, táo tợn, hễ khi có điều gì trái ý mà sinh ra việc đánh nhauthì chả ai địch nổi sức khoẻ của bà cho nên tuổi mới hai mơi , cha lấy chồng mànhững kẻ cờng bạo không dám xâm phạm
Khi đó là thời Tam quốc, cuối Hán, nớc ta nội thuộc chúa Ngô Tôn Quyền.Giữa năm Hoàng long Xích ô, quan lại trong quận hà khắc, bạo ngợc, dân khôngchịa nổi, nhiều ngời bỏ trốn đi nơi khác, đến ở trang ấp Bồ Điền, Bà đều thu nạp,thành thực nhờng nhịn, giao phó công việc, không ai là không vui vẻ phục tùng.Lập đảng đến mấy nghìn ngời, chiêu nạp những trai tráng khoẻ mạnh, nhiều lầnluyện tập võ nghệ trong rừng, khách khứa đầy nhà Quốc Đạt khuyên Bà khôngnên hào hùng ngỗ ngợc vì luật pháp nớc Ngô rất nghiêm khắc Tuy nhiên Bà lại
Trang 13cho rằng;thấy ngời trong nớc rơi xuống giếng mà không ra tay cứu vớt thì thậtkhông phải Có lẽ sau hai Bà Trng lại nảy ra một Bà Trng nữa sao?
Trớc kia thấy bọn quan lại phơng Bắc sang đều tham lam ngang ngợc, lòngngời Nam đều xôn xao, Quốc Đạt ngầm nuôi giáp sĩ, có chí tự lập , chiêu mộ vâycánh đợi dịp là hành động Quốc Đạt cho rằng, ngời Ngô cha có chỗ hở để có thểnắm lấy mà hành động, do dự cha quyết, song Bà Triệu nhận thấy rằng, tớng nhàNgô không để ý gì đến thành trì mà chỉ chuyên dùng của cải châu báu, chúng coi
dân nh cỏ rác, không ra gì Điều đặc biệt là Bà thấy cần xuất quân ở nơi giặc
không để ý, đánh ở nơi chúng không chuẩn bị, và Bà xin nhận một đội quân làmtiên phong, không để lỡ cơ hội Quốc Đạt bèn kéo cờ nghĩa lấy danh là cứu dân,chiếm giữ nơi hiểm yếu, chống cự với giặc Ngô mấy ngày liền Trong trận nàyQuốc Đạt bị tử trận Binh lính nghĩa quân thấy Bà có tài làm tớng, bèn lập bà làmchủ soái Bà đã thay ngời anh trai mình, lãnh đạo nghĩa quân chống lại giặc Ngô
Từ đó mỗi khi ra thao diễn , “ Bà vắt vú ra sau lng, lấy lụa thắt lại , mình mặc áovàng, chân đi guốc, cỡi voi trắng, tả hữu nắm hai lỡi búa lớn, đằng trớc có câycung nặng, tay dơng lên một cách nhẹ nhàng, có vẻ dũng mãnh, uy phong, quânlính tôn Bà là Nhuỵ Kiều tớng quân, có ý khen Bà vừa đẹp ngời , vừa hùng trángvậy ”
[5,127] Hình ảnh Bà “cỡi voi vắt vú trong rừng bớc ra ” là có thực hay hoang đ-ờng? điều này cha có thể khẳng định đợc Về mặt sinh lí, ngời này hay ngời khác,trong cái biển ngời mênh mang bao nhiêu thế kỷ – có thể có trờng hợp dị hình
dị dạng, không phải là không có khả năng Chúng ta lại không có ảnh
của Bà Triệu nên không thể xác minh đợc vấn đề Song tại sao chúng ta lại không nhìn nhận hiện tợng này theo một góc độ văn hoá, ví nh có một nhà giáo ởThanh Hoá đã viết:
“Xích tử vạn gia đề nhũ bộ”
nghĩa là :
“Con đỏ muôn nhà đều ngậm vú”
Bà Triệu có vú dài, vú lớn, phải dài, phải lớn nh vậy mới dồi dào nguồnsữa cho hàng vạn con cháu bú Con cháu sẽ bú , sẽ nhận lấy dòng sữa quật c ờng
Trang 14vô tận trong ngời mẹ anh hùng Nét văn hoá ở đây đã đợc tôn vinh một cách hùnghồn mà thuyết phục.
Sẽ là thiếu sót nếu nói đến Bà Triệu mà chúng ta không đề cập đến thànhphần xuất thân cũng nh về quê hơng của Bà
Thực ra, Bà Triệu xuất thân từ nông dân, quý tộc cũ hay địa chủ? Chúng ta
đều biết, sau cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trng, tầng lớp quý tộc cũ đã bị đàn áp,
bị bắt đày ở Trung Nguyên, nhng cũng còn một số mà bọn quan lại phong kiếnphơng Bắc buộc phải sử dụng bằng cách để họ cầm đầu khu vực cũ mà khoác chochức huyện lệnh Việc nói Triệu Quốc Đạt làm huyện lệnh có thể chấp nhận đợc,cũng nh sau này ta còn gặp những nhân vật lịch sử có nguồn gốc quý tộc cũ nhPhùng Hng chẳng hạn
Nh vậy, anh em Bà Triệu có thể là tàn d của tầng lớp quý tộc cũ, nhận chứctớc của bọn ngoại xâm, nhng vẫn còn nuôi lòng cứu nớc Và nh vậy, cuộc khởinghĩa Bà Triệu là màn cuối cùng của cuộc đấu tranh vũ trang của tầng lớp quýtộc cũ (lạc hầu, lạc tớng ) Về cơ bản, vai trò của tầng lớp này đã chấm dứt vớicuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng Nhng ở đây, là hơi thở hào hùng cuối cùng của cáitàn d của giai tầng đó Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng, cũng có nhiều cuộc nổidậy nh: binh biến của Giao Châu, cuộc nổi dậy Lý Trờng Nhân Nhng trong lòngnhân dân Việt Nam, các vụ ấy không có tiếng vang lịch sử Rõ ràng hơn, các cuộc nổidậy ấy, họ không đại diện cho quyền lợi nhân dân chúng ta, mà họ đại diện choquyền lợi giai cấp địa chủ Trung Nguyên hay một bộ phận giai cấp đó, sự nghiệp của
họ không liên quan gì, không thay đổi gì số phận đau khổ của dân tộc ta Chỉ khi nào,những địa chủ nguồn gốc phơng Bắc đó vì lí do này hay lí do khác trở thành ngờiViệt, đại diện đến mức độ nào đó cho quyền lợi nhân dân ta thì hành động của họ mới
Về quê hơng Bà Triệu:Từ trớc tới nay chúng ta vẫn chỉ biết có hai vùng làhuyện Triệu Sơn và huyện Hậu Lộc, đợc xem là nơi có nhiều truyền thuyết, dấu
Trang 15vết về Bà Triệu Xa nay vẫn cho Bà ngời vùng núi Na Đền thờ có thể mai một, sựtích cũng có thể bị che dấu, nhng chắc chắn không thể mất hết dấu vết nh việctìm thấy chiếc cồng dùng làm hiệu lệnh của Bà trong một hốc cây ở vùng núi Na,núi Na lại cũng chính là nơi ngày nhỏ Bà cùng dân làng chạy giặc vào đây, đồngthời cũng là nơi Bà đã tụ binh phất cờ khởi nghĩa Song song đó, vùng đất Bồ
Điền – quê ngoại của Bà, lại là nơi Bà đã dời ra đây lập trang ấp Nh vậy, việc lígiải quê hơng Bà ở Triệu Sơn hay Hậu Lộc đều có cơ sở Thông thờng, một nhânvật lịch sử, nhất là các bậc anh hùng hào kiệt, sống và hoạt động ở nơi nào, nhấtthiết phải lu lại nơi đó những dấu tích, những sự việc mà thời gian sẽ biến thànhtruyền thuyết, phủ lên tấm màn thần linh quái dị, hoặc in dấu ấn rõ nét trong t t-ởng, tình cảm của quần chúng, đợc thể hiện qua phong tục tập quán, điệu hát, lờica
ở Bà Triệu, hình ảnh Bà nổi lên còn ở lí tởng phấn đấu Lịch sử mãi mãighi chép câu nói của Bà: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô
lệ, chứ tôi không chịu khom lng làm tì thiếp ngời”
[1,33 ]
Điều tâm niệm độc đáo đó không ngờ lại ở trong lòng một cô gái vào tuổihai mơi, ở một vùng xa xôi nh quận Cửu Chân, câu nói đó vừa nhằm mục đíchtôn vinh Bà, và cũng chứa đựng một cái lõi lịch sử nhất định Cái lõi ấy là: dùtrong hoàn cảnh thời gian và không gian thế nào thì ý chí bất khuất của phụ nữ
xứ Thanh vẫn là thờng trực T tởng ấy chứng minh tinh thần độc lập tiềm tàngcủa nhân dân ta trong thời đại bấy giờ, và sẽ bộc lộ đậm đà rõ nét hơn trongnhững thế kỷ sau
Chúng ta đều biết, sở dĩ Bà Triệu phải thua vì giặc Ngô đã bày ra một thếtrận vô liêm sỉ: cho một đội quân trần truồng loã lồ, luôn miệng nói bẩn thỉu, ào
ào nh gió chạy đến, khiêu chién trớc một ngời con gái trẻ trung, tinh khiết BàTriệu vốn là ngời “ái khiết uý ô” nên không thể nào chịu đựng đợc cái trò bỉ ổi
ấy, nên Bà phải quay voi chạy, để cho giặc thừa thế lộng hành Điều này chochúng ta thấy rõ ràng Bà thất trận vì một lí do văn hoá chứ không phải vì lí doquân sự Ta có thể không tin, nhng ta càng quý mến và thơng yêu Bà Triệu hơnnhiều Con ngời đã có lí tởng đẹp đẽ, lại có phẩm chất, bản tính thanh cao Bảo
Trang 16vệ sự thanh cao ấy, Bà Triệu đã chịu thất bại Cái xấu, cái hèn của kẻ nhất thờithắng lợi, nhng ghi mãi vết nhơ ngàn đời.
Bà Triệu với cuộc khởi nghĩa của Bà là một hình tợng, một sự kiện lịch sử
độc đáo Những ngày thành công của Bà cũng ngắn ngủi nh cuộc đời Bà vậy,
nh-ng hình ảnh của Bà mãi mãi tồn tại với thời gian So với nhiều hiện tợnh-ng lịch sử,hiện tợng văn hoá khác của Việt Nam, thì hình tợng Bà Triệu sống động và đậmnét hơn cả, kể cả những nhân vật ở giai đoạn sau cũng vậy Rất nhiều nét ở Bà đã
đợc nâng lên thành hình ảnh nghệ thuật có sức gợi cảm lớn: “Một nàng nữ chúa
đội khăn vàng, mặc áo vàng, đi guốc ngà, đầu cài trâm, tay cầm kiếm, ngồi trên đầu voihùng dũng tiến ra từ chốn rừng sâu, tung hoành suốt một dải núi rừng từ Ngàn Na đếnPhú Điền:
“Kiều kiều nữ Tớng quânAnh danh động phong trầnNăng hàn Ngô tử đảmPhiêu dục động nhân tâm”
Nghĩa là:
“Ôi Bà Nữ Tớng đẹp tuyệt trần
Uy danh vang động khắp xa gần Ngô tớng bay hồn quân mất vía Muôn ngời khắp chốn thảy đồng tâm”
[12,277-278]
Tiếng hát gợi lại những tháng năm oanh liệt của nghĩa binh Ngàn Na, tiến
đến đâu xác giặc đổ rạp xuống đến đó nh ngả rạ Tiếng hát vẽ ra trận chiến sắptới, nghĩa binh Ngàn Na do Bà Triệu tớng thúc voi thần dẫn đầu ào ạt xông lên vàlớt bay trên đầu lũ quân, tớng Lục Dận.Tiếng hát cất lên từ miệng hàng vạn ngờinghe nh bão nổi, sóng cồn giục giã muôn lòng rung rung theo những âm thanhhùng tráng, nhịp điệu khẩn cấp của hiệu cồng gọi quân quen thuộc “Voi đã lắpbành, ngựa đã thắng yên cơng, tên độc đã lắp sẵn, giáo nhọn đãcầm chắc trongtay là tất cả đại binh Ngàn Na trùng điệp lấp bằng dòng sôngCái, đạp đổ thànhLong Biên, quyết đánh đuổi lũ giặc Ngô xâm lăng đến tận cùng hang ổ của chúng, diệttận gốc rễ tranh bá đồ vơng cho cả thiên hạ Kìa trông Bà Triệu tớng đã lên bành voi vànghĩa binh Ngàn Na đang múa giáo hò reo nh sấm dậy, rung chuyển cả đất trời Cả sức
Trang 17mạnh vô địch của một dân tộc quật cờng, một đất nớc hào hùng đang nhằm về phơngBắc” [12, 278]
Chơng 2:
Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu.
2.1 Tình hình xã hội Việt Nam buổi đầu công nguyên.
Lần theo dấu vết những phát hiện của khảo cổ học, chúng ta có thể xemxét một số những điểm nổi bật của tình hình xã hội Việt Nam trong buổi đầucông nguyên, để soi rọi vào cuộc khởi nghĩa núi Na oanh liệt của anh em nhà họTriệu và nhân dân Cửu Chân vào năm 248 sau công nguyên, thời điểm mà “toànthể Châu Giao đều chấn động”, đỉnh chấn động lịch sử đó là cuộc khởi nghĩa BàTriệu Truyền thuyết dân gian cũng chỉ đờng cho những ngời muốn coi Bà Triệucỡi voi đánh cồng thì lên núi mà coi Ngọn núi lịch sử đó là núi Na
Khảo cổ học đã ghi nhận một phát hiện quan trọng: trên một ngọn đồi ởthôn Định Kim, xã Tân Phúc, xuất lộ di tích của một nơi c trú cổ rất lớn Đó là
địa điểm khảo cổ học núi Sỏi – nằm cách núi Na không xa( khoảng dới 4 km)
Bộ di vật tìm đợc ở núi Sỏi cho thấy trớc mắt chúng ta là dấu vết của một ngôilàng lớn, chứng tích của một đơn vị xã hội cụ thể, trải qua các đời Hùng Vơng,
An Dơng Vơng, hai Bà Trng của lịch sử đất nớc trong thời đại dựng nớc và giữ
n-ớc đầu tiên Nhờ có những tài liệu viết về văn hoá Phùng Nguyên và văn hoá
Đông Sơn, chúng ta đã có thể hình dung ra đợc diện mạo những di tích c trúthuộc thời đại dựng nớc và giữ nớc( thiên niên kỷ 1 và 2 trớc công nguyên)
Chỉ có thời đại chống Bắc thuộc, đặc biệt là giai đoạn đầu của nó, tiếp theongay sau thời đại dựng nớc và giữ nớc, đến bây giờ vẫn cha cho chúng ta thấychứng tích của một nơi c trú điển hình nào, tuy vẫn thấy bóng dáng những làng
đó sống động
Trên một đoạn sông Mã từ làng Ràng đến Hàm Rồng nay đã có những nơi
c trú phân bố sát sao theo đúng quy luật dựng làng truyền thống của những bộ lạcthời xa ở đối diện nhau trên hai bờ một con sông cổ, có thể nói đây là một trungtâm tụ c của một cộng đồng c dân cổ đại, và có thể khẳng định chủ nhân của nó
là những ngờ đã theo vua Hùng dựng nớcvà giữ nớc Văn Lang cho đến thời hai
Bà Trng Đồng thời đây cũng là một trung tâm quan trọng và điển hình của một
Trang 18bộ phận phía nam nớc Văn Lang, trong thời đại dựng nớc và giữ nớc đầu tiên.Tuynhiên những làng này có thể đã bị quân xâm lợc nhà Hán – do Mã Viện cầm
đầu (năm 43 sau Công nguyên) trên đờng truy kích d đảng của hai Bà Trng triệthạ Đúng là tên tớng giặc nhà Đông Hán đã phạm những tội ác tày trời đối vớinhân dân ở đây, nhng hiển nhiên, y không thể giết sạch ngời dân vùng này, chonên quận trị của cả quận Cửu Chân đời Đông Hán ( hai thế kỷ đầu Công nguyên)vẫn đặt ở đây, và những ngời nơi đây, đời nối đời dới ách giặc vẫn nuôi chí quậtcờng, và không chỉ nuôi chí mà họ còn hoạt động tích cực nữa, để đến thế kỷ 10thì ồ ạt đi theo Dơng Đình Nghệ và Ngô Quyền, góp phần mở ra thời đại tự chủ,thời đại chế độ phong kiến dân tộc( thế kỷ 2 sau Công nguyên ) mà trong đó trảinhiều năm, trung tâm của cả một miền rộng lớn vẫn đợc xây dựng ở nơi đây
Nh vậy ngoài những di tích của những làng chạ đã bị vùi, thì không còntìm thấy bất kỳ một nơi c trú nào khác nữa Nh thế có nghĩa là, với tính chất pháttriển liên tục, không hề gián đoạn của lịch sử ở vùng này, chúng ta hiểu rằngchính từ những ngôi làng bị vùi lấp đó lại mọc lên những thôn xã ngày nay, cáchkhông xa những làng chạ bị vùi đó
Quay trở lại với địa điểm núi Sỏi.Vào đầu Công nguyên, địa điểm c trú núi Sỏi
là đất huyện C Phong của quận Cửu Chân đời Ngô Nh đã nói trên, từ núi Sỏi đếnnúi Na không xa, quanh vùng nàycha tìm thấy một di chỉ khảo cổ học nàovề mặtvật chất và niên đại, nh vậy có nghĩa là, từ đầu Công nguyên, ở vùng núi Na chỉ
có một nơi tụ c là núi Sỏi Ngôi làng cổ để lại dấu vết trên núi Sỏi về mặt diệntích hoàn toàn có thể so sánh đợc cùng những xã thôn , thị trấn với hàng nghìn cdân hiện đại Nh vậy rất có thể là những c dân đông đảo của di tích núi Sỏi, saukhi đã theo các vua Hùng dựng nớc trớc Công nguyên, tránh đợc cuộc tàn sát củaMã Viện đầu Công nguyên, đến giữa thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên đã là nhữngngời đầu tiên đi theo và làm nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa Bà Triệu ở núi Na
Có thể nói rằng anh em Bà Triệu chính là những ngời đã kế tục tổ tiênmình mà cầm đầu ngôi làng lớn còn địa điểm để lại dấu vết trên ngọn đồi làng
Định Kim vào thế kỷ thứ 3, ngôi làng lớn núi Sỏi, núi Na có thể coi là khu đấtthiêng truyền thống
Trang 19Bên cạnh việc tìm hiểu địa điểm c trú của c dân thời bấy giờ, thì một điểmcần xem xét trong tình hình chung xã hội Việt Nam đầu Công nguyên là vai tròcủa ngơì phụ nữ và trong quan hệ hôn nhân
Ngời ta đã tìm thấy những tợng phụ nữ bằng đồng thau, niên đại là nhữngthế kỷ cuối cùng trớc Công nguyên, cùng với hình ngời phụ nữ khắc trên nhữngthanh đoản kiếm tìm đợc ở vùng núi Na, bên cạnh đó là những chiếc vòng tay lớn
và những chuỗi vòng ken kín, cho phép chúng ta đoán định rằng đây chính làhình ảnh của một phụ nữ thuộc tầng lớp trên của xã hội cổ đại Từ chỗ này, cùngvới những phân tích trớc có thể tiến thêm một bớc, nghĩ rằng đây chính là hình
ảnh truyền thống của những nữ thủ lĩnh bản địa khoảng trớc, sau Công nguyên,nếu không phải là hình ảnh của chính ngay Bà Triệu Bên cạnh đó vẫn có một sốtợng đàn ông, đây có thể là hình ảnh của những thủ lĩnh nam giới, tuy nhiên cho
đến đầu Công nguyên vẫn tỏ ra khá mờ nhạt Trong khi đó thì, nh vừa thấy,chúng ta đã có hình ảnh nổi bật, cụ thể của ngời nữ thủ lĩnh gắn liền với thanh g-
ơm báu
Nh mọi ngời đều biết, hai trăm năm trớc cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, mộtcuộc nổi dậy cực kì oanh liệt chống đô hộ và áp bức bóc lột đã bùng nổ đồng loạtkhắp đất nớc, lãnh đạo cuộc nổi dậy này không phải ai khác mà chính là một tập
đoàn phụ nữ ở buổi đầu Công nguyên, do hai Bà Trng đứng đầu
Hiện tợng hàng loạt phụ nữ kiệt xuất đứng ra gánh vác việc nớc ở vào thờigian đầu Công nguyên có rất nhiều ý nghĩa, đó là đảm nhận đợc những công việc
mà yêu cầu xã hội về khả năng và về uy tín rất cao, hiện thực này tất phải xâydựng trên một cơ sở thực tế rộng rãi, vào thời gian ấy, đang có nhiều phụ nữ giữnhững chức vụ xã hội quan trọng, đợc rèn luyện trong những chức vụ xã hội ấy,
và gây đợc những uy tín xã hội nhất định, chẳng hạn nh Lê Chân, trớc khi theohai Bà Trng khởi nghĩa đã đứng ra chiêu dân lập ấp, dựng lên và đứng đầu AnBiên trang( Hải Phòng ngày nay) Hiện tợng xã hội này cũng phù hợp với nhữnghiện tợng “hôn nhân và gia đình”, khá đặc sắc vào thời gian đầu Công nguyênphản ánh vai trò quan trọng của ngời phụ nữ Đó là những tàn d của những hìnhthức hôn nhân “c trú riêng lẻ”( ngời phụ nữ lấy chồng nhng vẫn ở lại đơn vị c trúcủa mình), “ hôn nhân anh em chồng” ( ngời đàn bà goá chồng đợc phép lấy tiếpanh hoặc em trai chồng), con cái đẻ ra cha theo họ cha, trong khi vai trò ngời mẹ
Trang 20là rất lớn, quyền hạn của dòng họ mẹ thể hiện ở những phong tục về “quyền ôngcậu”.
Cả một hệ thống những hiện tợng hôn nhân gia đình nh thế lại cũng phùhợp với một số hiện tợng tôn giáo tín ngỡng ở đầu Công nguyên, trong đó sựsùng bái nữ thần là một đặc điểm quan trọng, phản ánh vai trò và địa vị thực tếcủa ngời phụ nữ ở thời đó
Chúng ta biết rằng, vào những thế kỷ cuối cùng trớc Công nguyên, sự sùngkính, sự tôn thờ những anh hùng văn hoá và anh hùng trận mạc là một hiện tợngtín ngỡng đặc sắc ở thời Hùng Vơng Một điều đặc sắc cũng không kém là thànhphần phụ nữ chiếm một số đông trong những ngời đợc tôn thờ đó, hiện tợng nàycho đến đầu Công nguyên vẫn còn tồn tại, dới một hình thức “đổi mới”cho thíchhợp với tình hình Bởi vì lúc này Phật giáo đang bắt đầu đợc du nhập vào ViệtNam Những ngôi chùa cổ mọc lên ở khắp nơi, trong đó có những ngôi chùathuộc loại tứ pháp Chính ở những ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất này, xâydựng từ đầu Công nguyên ngời đợc tôn thờ lại là những “ phật mẫu”, hoá thân từnhững phụ nữ đã đợc tôn thờ từ trớc ở những địa phơng: những Bà Dâu, Bà
Đậu Phật giáo khi mới vào Việt Nam cũng buộc phải công nhận sự sùng báinhững ngời phụ nữ có công tích trong xã hội truyền thống và đơng thời, buộcphải nhập vào thân diện của những thần phụ nữ này Chúng ta cũng biết rằng hai
Bà Trng cùng những nữ tớng của hai Bà đã trở thành phúc thần ở khắp nơi
Những hiện tợng nh thế ở đầu Công nguyên lại cũng phù hợp, và thực ra là
sự phản ánh của những hiện tợng về tâm lí và thái độ xã hội đơng thời Đó là sựtôn trọng phụ nữ của xã hội đầu Công nguyên, đợc biểu hiện rõ nét bằng nhữnghình tợng khắc trên trống đồng.Từ tất cả những hiện tợng xã hội , hôn nhân gia
đình, tín ngỡng và tâm lí nh vừa trình bày, chúng ta thấy hiện lên một
đặc điểm của tình hình lịch sử ở thời gian đầu Công nguyên rất có liên quan vàgiúp chúng ta hiểu thêm về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu
Chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù chế độ phụ quyền đã đợc xác lập từ thờiHùng Vơng, nhng cho đến đầu Công nguyên, những tàn d của chế độ mẫu quyềnvẫn còn đáng kể, vai trò và địa vị của ngời phụ nữ vẫn còn quan trọng
Trang 21Chính là một đặc điểm của tình hình lịch sử nh thế đã khiến cho chúng tahiểu đợc tại sao Bà Triệu chỉ cần “ hô một tiếng” mà có thể làm “toàn thể ChâuGiao đều chấn động”
2.2 Thanh Hoá trớc cuộc khởi nghĩa.
Sau khi cuộc khởi nghĩa hai Bà Trng bị Mã Viện đàn áp, đến vài thế kỷ
đầu Công nguyên, phong trào đấu tranh của nhân dân Âu Lạc ở vùng Giao Chỉtạm thời lắng xuống, nhng ở xứ Thanh – Cửu Chân thuở đó, đã trở thành một
điểm sáng, trung tâm của cuộc nổi dậy chống Đông Hán, chống Ngô của đất nớc.Một lần nữa dân tộc ta phải gồng lên với sức mạnh tiềm tàng của tinh thần bấtkhuất để khẳng định ý chí và quyết tâm giành độc lập dân tộc Chính vì vậy, dù
có ráo riết thực hiện nhiều mu mô đồng hoá thâm độc, kẻ thù vẫn không sao áp
đặt lên xã hội Việt Nam một thể chế Hán theo cuồng vọng của chúng Các Lạc ớng tuy đã mất đi vai trò quyền lực của mình, nhng ảnh hởng của họ vẫn đậm néttrong tâm thức của những ngời Việt Các huyện lệnh ngời Việt tuy tỏ ra: “thầnphục giả vờ” với chính quyền đô hộ, song ý thức dân tộc luôn trỗi dậy trong họ
t-Đó là lí do vì sao, trên thực tế nhà Hán không sao với tay đợc xuống cấp huyện.Một thực tế nữa buộc kẻ thù phải thừa nhận: “luật Việt khác luật Hán đến hơn m-
ời việc” Nhiều nơi trên đất nớc ta, “huyện lại tuy đặt, có cũng nh không” và
“huyện quan ràng buộc để cho sợ uy mà phục, còn thì phần nhều buông lỏng”
Từ cuối thời Đông Hán, ở Trung Quốc đã diễn ra cục diện Tam quốc(Nguỵ – Thục – Ngô).Chính quyền thống nhất Trung Hoa bị rơi vào tình trạngkhủng hoảng, quan lại nhà Hán ở nớc ta nắm mọi quyền hành nh một chínhquyền cát cứ và tha hồ vơ vét của cải của nhân dân ta bằng cống nạp và tô thuế.Chính vì vậy, nhiều cuộc nổi dậy liên tiếp diễn ra, thứ sử nhà Hán từ Chu Phủ
đếnTrơng Tân lần lợt bị giết Nhà Hán đã phong cho Sĩ Nhiếp làm thái thú GiaoChỉ, làm Tuy Nam trung lang tớng, tổng đốc bảy quận Khi Sĩ Nhiếp chết con là
Sĩ Huy đợc nhà Ngô ( 222 – 280) cho làm thái thú Cửu Chân, nhng Sĩ Huykhông nhận mệnh và nổi binh giữ quận Giao Chỉ, Sĩ Huy đã bị Lữ Đại (thứ sửQuảng Châu) và Đào Lơng ( thứ sử Giao Châu) hợp binh đánh bại Nhà Ngô đãtách đất Giao Chỉ đặt thêm hai quận Vĩnh Bình và Tân Xơng Năm 271, thứ sử
Đào Hoàng đã tách đất Cửu Chân thành hai quận : Cửu Chân và Cửu Đức, quận
Trang 22Cửu Đức tức huyện Hàm Hoan thời Hán( nay thuộc hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh).
đến đây địa giới của tỉnh Thanh Hoá gần giống nh bây giờ
Th tịch cổ cho chúng ta biết, dới thời thuộc Ngô, dân số Cửu Chân cókhoảng 3000 hộ, bao gồm bảy huyện: T Phố, Duy Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ,Phù Lạc, Thờng Lạc, và cuối Ngô lập thêm huyện Tùng Nguyên Quận trị vẫn
đóng ở thành T Phố nh thời thuộc Hán
Khi cuộc khởi nghĩa hai Bà Trng đi vào thất bại cũng là thời điểm báo hiệu
sự lụi tàn của nền văn hoá Đông Sơn ở vùng sông Hồng – Giao chỉ Nhng ở Cửu Chân – sông Mã nền văn hoá ấy vẫn bừng lên với sức sống mới để bảo luvững chắc truyền thống văn hoá dân tộc suốt mấy thế kỷ tiếp theo “Làng xóm”vẫn là những “bầu trời riêng” của những ngời Lạc Việt xứ Thanh, trải dài từ miềnnúi đến ven biển, vẫn luôn sống động, sẵn sàng tung lực lợng ra chống kẻ thùxâm lợc.Từ nhà Đông Hán đến nhà Ngô, nh chúng ta đã nói, cống nạp và tô thuếvẫn là những thủ đoạn bòn rút của cải vô hạn định của chúng, giặc Ngô chínhhình bạo ngợc không biết thế nào là cùng Cùng với việc đàn áp dân ta,
hàng ngàn trai tráng đất Việt bị xích trói đa về Trung Quốc làm bia cho những cuộchỗn chiến kéo dài Hàng ngàn thợ thủ công tài năng, trong đó không ít ngời ThanhHoá bị ép buộc đa sang xây kinh đô Kiến Nghiệp cho nhà Ngô ở Nam Kinh
Để đẩy nhanh âm mu đồng hoá ngời Lạc Việt Thanh Hoá thêm một bớcmới, cùng với việc mở trờng dạy học bằng chữ Hán, truyền bá đạo Nho, quan lạinhà Hán đã du nhập vào xã hội ngời Việt đạo Lão và cho xây dựng chùa ThanhHoá thờ Phật, chúng đã buộc nhân dân ta nói tiếng Hán, thi hành luật pháp Hán
và sống theo phong tục ngời Hán Trong điều kiện bị o ép nhiều mặt nh vậy, nhândân ta vừa phải kiên quyết giữ vững bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu sáng tạo nhữngtinh hoa văn hoá nớc ngoài để xây dựng cho mình một đời sống tinh thần phongphú
Đời sống kinh tế của ngời Thanh Hoá lúc này vẫn từng bớc ổn định và cóchiều hớng phát triển đi lên Vùng đất cày cấy đã đợc mở rộng hầu khắp ở châuthổ sông Mã, sông Chu và ở cả vùng giáp miền núi Song song đó là những làngxóm cổ truyền đợc định hình từ thời Văn Lang, qua thời hai Bà Trng, vẫn khôngngừng đợc mở rộng Các tụ điểm dân c từ vùng ven biển đến vùng rừng núi ngày
Trang 23càng thêm đông đúc Nghề thủ công truyền thống cũng đợc phát triển, cùng đócòn có thêm những nghề mới, nhiều thợ giỏi, đa ra những sản phẩm nổi
tiếng không chỉ đáp ứng yêu cầu tiêu dùng mà còn đợc dùng trao đổi, mậu dịchvới các quận, châu khác, với Trung Hoa thông qua hệ thông giao thông thuận lợi
Đơng nhiên dới ách đô hộ của kẻ thù xâm lợc, nhân dân ta luôn phải sốngtrong một bầu không khí ngột ngạt, đời sống cơ cực, nhất là vào những lúc màchính quyền Trung Hoa thối nát tan rã.Sự áp bức ấy tất yếu dẫn đến mâu thuẫnkhông thể điều hoà đợc giữa dân tộc ta với chính quyền đô hộ
Có thể khẳng định rằng, vào đầu thế kỷ 3, ở Giao Châu nói chung và ở CửuChân nói riêng đã xuất hiện nhiều những tầng lớp xã hội :
Trớc hết là tầng lớp địa chủ quan lại Trung Hoa, chủ các trại ấp, dinh điền
đã Việt hoá đợc chính quyền đô hộ nâng đỡ.Tiếp sau đó là tầng lớp quý tộc bộlạc cũ chiếm hữu ruộng đất của các công xã và đi vào con đờng bóc lột phongkiến.Tầng lớp này từ sau Mã Viện đã bị bọn đô hộ tớc mất quyền trị dân, do đómâu thuẫn với bọn đô hộ
Tầng lớp thứ ba là tầng lớp nông dân tự do, vốn trớc là thành viên công xã
bị cớp mất ruộng đất, thoát li công xã, đi mở mang những khu vực mới, có ng ờitrỗi lên để dần dần đi vào con đờng bóc lột phong kiến và sau này trở thànhnhững hào trởng địa phơng
Cuối cùng là nông nô, nô tì, nông dân lệ thuộc, sách xa gọi họ là bộ khúc,thực khách hay gia binh
Nh trên đã nói, xã hội Châu Giao vào thế kỷ 3 đã phân hoá khá phức tạp,nhng quan hệ chi phối, bao trùm toàn bộ xã hội Châu Giao lúc bấy giờ là quan hệgiữa nhân dân ta với bọn đô hộ ngoại tộc Đó là quan hệ nô dịch, áp bức nặng nề,tàn khốc Quan hệ đó đẻ ra mâu thuẫn không thể điều hoà đợc giữa một bên lànhân dân ta và một bên là bọn đô hộ ngoại tộc
Dân tộc ta tuy lúc đó còn đang ở trên đờng đi tới hình thành hoàn chỉnhnhng đã có ý thức và tự hào của một dân tộc đã xây dựng nên một trong nhữngnền văn hoá cổ nhất của loài ngời, thực hiện một bớc nhảy vọt trong thời đại lịch
sử, từ thời đại mông muội sang thời đại văn minh Và từ đó, dân ta có tinh thầnlàm chủ đất nớc mình và có quyết tâm bảo vệ đất nớc ấy, giữ gìn quyền làm chủ
ấy, không dung thứ một sự vi phạm nào Với ý thức ấy, với tinh thần ấy, dân ta
Trang 24d-ới thời Đông Hán và Đông Ngô, đã kế tục sự nghiệp đấu tranh của cuộc khởinghĩa hai Bà Trng, trên đất Cửu Chân đã luôn luôn diễn ra những cuộc khởi nghĩa
lẻ tẻ, lớn, nhỏ Những cuộc khởi nghĩa ấy nh những đốm lửa góp lại, để rồi khônglâu nữa sẽ bùng lên thành một biển lửa bằng cuộc nổi dậy đồng loạt vào năm
248 Chúng ta có thể hình dung ra đợc phần nào về sự đấu tranh bền bỉ, liên tục
và ngày càng lớn mạnh của nhân dân ta Mở đầu cho phong trào là cuộc nổi dậycủa binh lính Giao Chỉ , không chịu để cho chính quyền đô hộ bắt đi xâm lợc nớcLâm ấp ngay sau khi cuộc khởi nghĩa hai Bà Trng thất bại
Từ những cuộc phản kháng nhỏ, lẻ tẻ lúc đầu, khi mà chính quyền nhà
Đông Hán còn vững mạnh, đến năm 100 thì “cừ soái Man Di” ở quận Nhật Nam,cùng hơn hai nghìn dân đã nổi dậy đốt phá thành ấp của chính quyền đô hộ Sau
đó vào năm 137, Khu Liên ở quận Nhật Nam đã lãnh đạo man di ngoài cõi NhậtNam , nổi dậy đánh phá các huyện thành, giết chết trởng lại Thứ sử Giao Châuvội huy động binh lính ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân vào đàn áp khởi nghĩa.Nhng binh lính ở hai quận này đã nổi dậy làm binh biến, phá các quận thành ởGiao Chỉ , Cửu Chân Trong suốt hai năm 137 – 138, chính quyền đô hộ ở đâygần nh tan rã hoàn toàn Năm144, ở Nhật Nam và Cửu Chân lại có cuộc nổi dậycủa hơn một nghìn ngời đánh giết bọn quan lại đô hộ
Năm 178, nhân dân ở các quận Hợp Phố, Ô Hử (thuộc miền đông Bắc nớc ta) lạinổi dậy chống nhà Hán dới sự lãnh đạo của Lơng Long Hàng ngàn vạn dân ởNhật Nam , Cửu Chân đã hởng ứng Suốt 3 năm liền, liên tiếp có các cuộc nổidậy của nhân dân ta, đánh chiếm các quận huyện Một lần nữa, nhà Hán đã phải
cử thứ sử cùng 5000 binh sang đàn áp Năm 220, nhà Ngô đã thay nhà Đông Hánlên cầm quyền, cuộc đấu tranh lại càng mãnh liệt hơn, vì chính sách quân phiệt
“lấy binh uy mà ức hiếp” của chúng, nhân dân ta bị đẩy vào thảm cảnh tang
th-ơng cha từng thấy
Vào năm 230, thứ sử nhà Ngô là Lữ Đại đã đàn áp cuộc nổi dậy của nhândân Cửu Chân và tàn sát hàng vạn ngời Mặc dù vậy, miền biên giới bốn quận:Nam Hải, Thợng Ngô, Uất Lâm, Châu Nhai vẫn cha yên Hẳn đây là cuộc khởinghĩa rất mạnh, lực lợng tham gia hết sức đông đảo mà sử sách nhà Ngô đã cốtình lờ đi
Trang 25Về sự kiện này, Đại Việt sử kí toàn th đã ghi: “Tân Hợi ( 234), Hán KiếnHng năm thứ 9, Ngô Hoàng Long năm thứ 3, Ngô Vơng cho là miền Nam đã yêntĩnh, gọi thứ sử Lữ Đại về, thái thú Hợp Phố nói; nay Giao Châu tuy rằng tạmyên, nhng còn giặc dữ lâu năm ở huyện Cao Lơng, bốn quận Nam Hải, ThợngNgô, Uất Lâm, Châu Nhai vẫn cha yên, thờng họp nhau trộm cớp Nếu Đạikhông sang phơng Nam nữa thì thứ sử mới nên chọn ngời nào tinh thông, kín
đáo, có phơng lợc, trí mu mới có thể trị yên đợc, nếu là hạng ngời thờng, chỉ giữphép thờng, không có mu kì chớc lạ thì trộm cớp mỗi ngày một nhiều”
[9, 137]
Từ những sự kiện tiêu biểu kể trên, chúng ta thấy rằng, suốt trong khoảng
200 năm , phong trào khởi nghĩa của nhân dân Cửu Chân liên tục diễn ra và pháttriển theo chiều hớng mạnh dần Có thể Cửu Chân xa là vùng đất xa trung tâm đô
hộ, bọn thống trị ngoại tộc ở đây mặc sức thao túng nên nhân dân bị lao dịch, bóclột nặng nề Mặt khác tinh thần đấu tranh quyết liệt ấy xuất phát từ ý chí tuyệtvời của tổ tiên ta, kiên quyết chống đồng hoá đến cùng để bảo vệ nền văn hoádân tộc
Nhìn chung phong trào đấu tranh của nhân dân ta ở giai đoạn này phấttriển từ phạm vi nhỏ hẹp của những cuộc phản kháng đến những cuộc khởi nghĩa
có tiếng vang rộng rãi Về phạm vi, từ một cuộc nổi dậy của một vùng, mộthuyện đến cả quận và thu hút đợc sự ủng hộ của bên ngoài đến mức địch đã sáthại đến hàng vạn ngời
Đơng nhiên những cuộc khởi nghĩa ấy cha khi nào mang tính chất của mộtphong trào giải phóng dân tộc Dù vậy, tất cả những bớc tập dợt đó đã làm đà chocuộc khởi nghĩa Bà Triệu - đỉnh cao của phong trào nhân dân trong suốt nửathiên niên kỷ kể từ sau cuộc khởi nghĩa hai Bà Trng (44) đến trớc cuộc khởinghĩa Lý Bí (542)
2.3 Thời gian, địa bàn hoạt động và quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa
Sau khi Lữ Đại đã tàn sát hàng vạn ngời nổi loạn ở Cửu Chân , “năm MậuThìn (248), ngời Cửu Chân lại nổi lên đánh hãm thành ấp, châu, quận Ngô V-
ơng cho hành dơng đốc quân đô uý là Lục Dận làm thứ sử kiêm hiệu uý Lục Dận
Trang 26đến nơi lấy ân tình ra hiển dụ hàng phục đến 3 vạn nhà, trong châu lại yên Đếnsau, ngời con gái ở quận Cửu Chân là Triệu ấu họp quân đánh cớp quận huyện”.
[9,158]
Rõ ràng nhân dân ta đã liên tục nổi dậy chống bọn đô hộ ngoại tộc ĐôngHán và Đông Ngô Nơi này bị dìm xuống thì nơi kia trỗi dậy càng rộng rãi vàmạnh mẽ Trong phong trào ấy, ngời con gái họ Triệu của chúng ta đã xuất hiện
nh một ngôi sao sáng
Có thể nói, chính vì quan lại nhà Ngô tàn ác, làm cho dân gian khổ sở khắpnơi, cho nên ngời anh của Triệu Thị Trinh là Triệu Quốc Đạt mới khởi binh đánhquận Cửu Chân Bà Triệu đã đem quân ra đánh giúp anh Khi Triệu Quốc Đạt tửtrận, quân sĩ thấy bà can đảm bèn tôn lên làm chủ tớng Khi ra trận, Bà cỡi voimặc áo giáp và xng là Nhuỵ Kiều tớng quân Từ đây, Bà thay anh trai mình cầmquân khởi nghĩa
2.3.1 Thời gian và địa bàn hoạt động.
Nh chúng ta đã biết, cuộc khởi nghĩa Bà Triệu đã đợc nhóm lên từ nhữngcuộc khởi binh lẻ tẻ từ trớc đó rất lâu do binh lính vùng Cửu Chân nổi dậy
Nh vậy chúng ta có thể khẳng định rằng cuộc khởi nghĩa đó đã đợc chuẩn
bị từ trớc và cũng đồng nghĩa với việc cuộc khởi nghĩa đã tồn tại nhiều năm, ítnhất là từ 3 đến 4 năm Hầu hết chúng ta đều biết Bà Triệu khởi nghĩa vào năm
248 và hy sinh ngay trong năm đó( khi đó Bà tròn 23 tuổi) Tuy nhiên, khi Bàmới 20 tuổi cha có chồng đã kết bạn với hàng ngàn tráng sĩ Bên cạnh đó, căn cứvào phong trào đấu tranh liên tục của nhân dân ta lúc đó chống nhà Ngô, chúng
ta có thể cho rằng, ngay từ những năm chỉ mới 19 hoặc 20 tuổi, Bà Triệu đã nổidậy trong phong trào chung của cả vùng Cửu Chân , nhng còn mới là một cuộckhởi nghĩa nhỏ ở địa phơng Cuộc khởi nghĩa lớn mạnh dần cho đến năm 248 thì
nó đã bao trùm đợc toàn bộ phong trào trong toàn Châu Giao, buộc địch phải cử
đại binh đến đàn áp
Chúng ta cũng đã biết là năm 231, sau khi Lữ Đại tàn sát hàng vạn ngờiCửu Chân nổi lên chống lại nhà Ngô, thì tình hình ở đây vẫn không thể nào yên.Ngợc lại, phong trào đấu tranh của quần chúng lại dần đợc khôi phục, khôngnhững thế còn tập trung lực lợng ngày càng đông đảo, và đến năm 248 thì xảy ra
sự kiện “toàn Châu Giao náo động”
Trang 27Không thể trong một lúc, một thời gian ngắn ngủi lại có thể có đợc mộtcuộc nổi dậy hết sức mạnh mẽ và đột xuất, lớn mạnh ngay để làm “náo động”
nh vậy đợc Phải có một quá trình xây dựng, tập hợp lực lợng, chiến đấu và chiếnthắng nh thế nào, trong một phạm vi nào mới có thể làm náo động đợc cả ChâuGiao Có nghĩa là ngay khi Bà Triệu mới chỉ 19 hoặc 20 tuổi bà đã cùng anh làTriệu Quốc Đạt kết bạn và tập trung hàng nghìn tráng sĩ luyện tập ở vùng núi Nalịch sử
Nh vậy thì, trong khoảng thời gian 3, 4 năm đó địa bàn hoạt động củanghĩa quân Bà Triệu là ở đâu? rộng hẹp thế nào?
Dựa vào truyền thuyết dân gian và di tích về nghĩa quân và Bà Triệu,chúng ta có thể thấy rằng phạm vi hoạt động trực tiếp của Bà Triệu , hay chịu sựchỉ huy của Bà khá rộng; từ miền Bắc sông Mã ở trung lu cho đến miền Namquận Cửu Chân , đến miền Phú Điền và miền huyện Yên Mô ( tỉnh Ninh Bìnhngày nay)
ở Sơn Trung xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, ở Yên Mô và ở Phú Điền
đều có đền thờ Bà Dọc sông Mã ở vùng các xã Cẩm Thạch có truyền thuyết và ditích về một bà nữ tớng cỡi voi đánh giặc Ngô; ở xã Định Công huyện Yên Định
có truyền thuyết về núi Quan Yên biết nói, báo cho dân biết là có Bà Triệu xuốngcứu dân ở Khang Nghệ ( Yên Định) có truyền thuyết về trận chiến đấu củanghĩa quân Bà Triệu nhận chìm giặc Ngô xuống sông Mã, lăn đá và cây cốixuống chặn mất dòng sông làm sông cạn dần Có nơi có truyền thuyết về đền câyThị, thờ một ngời phụ nữ có chồng theo Bà Triệu đánh giặc ở vùng núi Na, cótruyền thuyết Bà Triệu bắt và thuần phục đợc voi trắng một ngà ở cánh đồng BắtVoi Có Bãi Đa, Bãi Bò, Eo én là những nơi nghĩa quân đã luyện tập binh mã và
tổ chức những cuộc khao quân
Đối với vùng đất từ Nông Cống nay trở vào không có nhiều dấu tích để lại
về việc tổ chức luyện tập binh sĩ hay khởi nghĩa của Bà, tuy nhiên địa bàn nàyvẫn có nhiều khả năng là không thể thiếu đợc sự hoạt động của nghĩa quân do BàTriệu trực tiếp chỉ huy
Nh vậy có thể thấy rằng, dựa vào việc tập trung chuẩn bị lực lợng cũng nhnhững vùng còn để lại dấu tích về cuộc khởi nghĩa do Bà Triệu đứng đầu ta cóthể khẳng định rằng cuộc khởi nghĩa của Bà đã đợc chuẩn bị từ trớc đó khá lâu,
Trang 28và cũng đã diễn ra bằng một số những phong trào đấu tranh lẻ tẻ ở địa phơng CửuChân , nhng những phong trào đó đã nhanh chóng lan ra toàn Châu Giao và đỉnhcao của nó diễn ra vào năm 248 dới sự chỉ đạo của ngời con gái họ Triệu và cũngkết thúc ngay trong năm ấy Trong khoảng thời gian đó, cuộc khởi nghĩa của Bà
đã diễn ra trên một phạm vi rộng lớn với đông đảo nhân dân tham gia hởng ứngtrên toàn Châu Giao, vậy cuộc khởi nghĩa đó đã diễn ra nh thế nào?
2.3.2 Quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa.
Dựa vào địa bàn hoạt động và tình hình đấu tranh của nhân dân ta lúc đó,chúng ta có thể thấy đợc phần nào diễn biến của cuộc khởi nghĩa diễn ra vào năm248
Nh chúng ta đã biết, năm 231, khi ấy Bà Triệu mới lên 6 tuổi, phong trào
đấu tranh của nhân dân Cửu Chân hết sức mạnh mẽ và ác liệt, đến mức nhà Ngôphải cử Lữ Đại sang đánh dẹp và tàn sát hàng vạn ngời trong khi dân số khôngquá 12 vạn ngời Mặc dù thế “miền Nam vẫn cha yên” Cuộc đàn áp này đã để lạimột ấn tợng sâu sắc trong đầu óc và tâm hồn em bé gái họ Triệu còn măng sữa
Đến khi bắt đầu khôn lớn thì cuộc sống lao động và chiến đấu hàng ngày tronghàng ngũ nhân dân đã làm cho cô gái ấy thấy rõ cái nhục của kẻ mất nớc và nungnấu chí căm thù giặc của Bà, hun đúc nơi Bà khí phách anh hùng
Trớc Bà, ở ngay thế kỷ đầu Công nguyên đã có hai vị nữ anh hùng kiệtxuất ( Trng Trắc và Trng Nhị) và hàng chục nữ tớng tài ba nh vậy đã cùng nhaunghe theo lời kêu gọi của hai Bà, đứng lên khởi nghĩa vũ trang để giải phóng dântộc, giải phóng đất nớc Kỳ tích của các nữ tớng anh hùng đó đã đợc tạc trên bia,ghi vào thần phả và đợc nhân dân ta đời đời truyền tụng Hay ngay trong cuộc
đấu tranh quyết liệt chống đế quốc Mỹ của chúng ta gần đây, không hiếm nhữngthiếu niên, những thanh niên, gái cũng nh trai đã đợc giác ngộ rất sớm, có lòngcăm thù giặc cao độ, có chí khí anh hùng rất lớn và đã lập nên những kỳ tích vẻvang nh Lê thị Hồng Gấm, Lê Mã Lơng là những bằng chứng nóng hổi
Trong cuộc vật lộn ấy, từ đầu cô con gái họ Triệu đã tỏ ra tài trí, mu lợc vàkhí phách hơn ngời Uy tín của cô trong nhân dân ngày càng tăng, tiếng tăm củacô ngày càng lan rộng Đức độ, tài trí , khí phách của cô đã nhanh chóng đa côlên vị trí lãnh đạo, không phải là chỉ một cuộc khởi nghĩa đơn độc trong một
Trang 29vùng nhỏ hẹp mà là cả một phong trào đấu tranh rộng khắp sôi sục ở miền NhậtNam và Cửu Chân
Lúc này, vào những năm 244, nhà Đông Ngô còn bận tập trung lực lợngvào sự tranh chấp với nhà Thục và nhà Nguỵ Chính quyền đô hộ ở Châu Giaohết sức thối nát và lỏng lẻo, nhất là ở các quận phía Nam, là những nơi ở xa châu
lị, và phong trào đấu tranh của nhân dân đã có cơ sở từ trớc Bà Triệu đã nhâncơ
hội ấy giơng cao cờ khởi nghĩa, kêu gọi mọi nơi nổi dậy giết giặc
Chúng ta có thể thấy, Bà Triệu đã lấy vùng núi Na là nơi chôn rau cắt rốncủa mình để xây dựng căn cứ, tập trung nghĩa quân luyện tập Từ đây, Bà liên hệvới các cuộc khởi nghĩa nổi dậy ở Nhật Nam, Cửu Đức và miền Nam Cửu Chân
Bà đợc các nơi hởng ứng nên đã nhanh chóng giành thắng lợi và làm tan rã quân
Lúc này, lực lợng nghĩa quân đã lớn mạnh, đã có nhiều kinh nghiệm chiến
đấu ở miền đồng bằng trong tỉnh là miền mà quân đô hộ kiểm soát rất chặt chẽ
và có nhiều cơ sở trong các ấp trại doanh điền của bọn địa chủ quan lại TrungHoa, phong trào đấu tranh của nhân dân cũng ngày càng mạnh mẽ và rộng rãi.Nổi hơn cả là cuộc nổi dậy của ba anh em nhà họ Lý ở Bồ Điền ( nay là thôn Phú
Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc) ở chân núi Tùng Sơn vẫn còn ba ngôi mộcủa ba anh em họ Ba anh em nhà họ Lý là thủ lĩnh của một cuộc nổi dậy tơng
đối lớn và đông đảo ngời tham gia ở địa phơng Lực lợng đã lớn mạnh, đợc yêntâm về phía Nam, phía Tây và phía Bắc Cuối năm 247 đầu năm 248, nghĩa quân
đã nhanh chóng mở rộng địa bàn, quy mô hoạt động về mạn Đông Bắc của đồngbằng, chuẩn bị mở đờng thẳng tiến ra giải phóng toàn Châu Giao
Căn cứ vào vị trí và địa thế của Bồ Điền, có thể thấy đợc hớng chính củanghĩa quân là tụ hội đợc ở đây để làm bàn đạp tiến ra Giao Chỉ
Trang 30Muốn tụ hội đợc với nghĩa quân Bồ Điền, trớc hết nghĩa quân Bà Triệuphải chọn một trong hai đờng sau đây để giải phóng T Phố:
1 Từ núi Na, tiến xuống đánh thẳng vào thành T Phố là quận trị của quận,
đầu não của quân đô hộ, có thành trì phòng thủ vững chắc
2 Từ Cẩm Thuỷ, theo dòng sông Mã tiến thẳng xuống đánh T Phố
Thành T Phố ở trong khoảng làng Dàng, xã Thiệu Dơng nay, trên bờnam sông Mã
Trong trận đánh hạ thành T Phố, Triệu ấu đã họp đảng đánh phá và nhanhchóng hạ đợc quận, huyện Một điều tất yếu khi nghĩa quân Bà Triệu phải hạthành T Phố trớc bởi có hạ đợc thành này thì mới có thể làm cho “toàn Giao Châunáo động đợc”
Trận tiến đánh thành T Phố diễn ra; nghĩa quân núi Na rầm rộ tiến binh,chặn giặc đang tiến quân về tiễu phạt vùng núi Na Tên Đô uý Cửu Chân khôngngờ rằng sức mạnh của nghĩa quân lại ghê gớm đến thế “Những năm trớc, theoLữ Đại vào tiễu phạt vùng này, hắn luôn chỉ thấy một cảnh tợng: hoặc là dânchúng cắm đầu chạy vào rừng sâu ẩn tránh, hoặc nếu bị bất ngờ thì đành bó taychịu nạn chém giết, đốt phá Lần này, nhận lệnh của một thái uý Cửu Chân phải
đi tiễu phạt một đám giặc cỏ do một ngời con gái ngỗ ngợc cầm đầu, lại đợc báotrớc là sẽ có nội ứng ( do chị dâu của Bà Triệu ), tên Đô uý Cửu Chân tiến quânrất ung dung Đoàn quân Ngô triều vừa đổ vào cửa thung lũng núi Na, thì bỗngnghe dậy lên những tiếng cồng, tiếng lệnh dồn dập; từ phía trớc mặt xộc ra mộtcon voi khổng lồ, hệt nh một trái núi biết chuyển động Chót vót trên đầu voi làmột nữ tớng xếch ngợc cặp mắt, chỉ thẳng thanh đoản kiếm vàng chói trong tay
về phía trớc Một nam tớng nữa cũng vùn vụt xông lên Rồi từ ba bề bốn bên,tiếng reo hò nh sấm động, dân binh các ngả ùn ùn đổ ra, giáo mác, gơm đao, rìubúa vung lên sáng loá,Triệu Thị Trinh cùng đoàn quân hùng dũng tiến thẳng, convoi trắng huỳnh huỵch xông tới Vừa nhìn thấy con vật khổng lồ, chiến mã của
Đô uý Cửu Chân đã sợ hãi chồm dựng, hí lên những tiếng kinh hoàng rồi quay
đầu bỏ chạy Viên tớng nhà Ngô bị hất tung từ trên mình ngựa xuống đất, cha kịpnhổm dậy đã bị dẫm nát dới một bàn chân voi nặng nề nện xuống Đám quânNgô triều tan vỡ khắp mọi ngã Triệu Thị Trinh chỉ thu quân khi thấy cánh quântiểu phạt của Ngô triều chỉ còn là đống xác nằm ngổn ngang trên chiến địa Cũng
Trang 31trong trận này, Triệu Quốc Đạt đã tử trận do bị một mũi tên bắn lén Triệu ThịTrinh cùng đòan nghĩa quân, thay anh trai mình nhằm thẳng thành T Phố, phá tanquận trị giặc Ngô”.
[2,45].Chỉ trong một thời gian ngắn, thành T Phố đã bị hạ Trận hạ thành T Phốdiễn ra trớc khi Lục Dận đợc phái sang đàn áp cuộc khởi nghĩa vào năm MậuThìn (248), có nghĩa là trận tập kích này đã diễn ra vào khoảng mùa thu năm
247 Có thể gọi đây là trận giành thắng lợi to lớn nhất, trực tiếp dẫn đến đỉnh caocủa các phong trào đấu tranh của nhân dân vào năm 248
Nh vậy, ngay sau khi đập tan quân đồn trú ở T Phố quận trị Cửu Chân,nghĩa quân đã thừa thắng đánh rộng ra các nơi Bắc, Nam, Đông, Tây, nhân đà ấy
ầm ầm nổi lên chống giặc Quân khởi nghĩa đã vợt sông Mã dời đại doanh về Bồ
Điền
Bồ Điền chẳng phải đâu xa lạ, chốn quê mẹ mà một lần cô gái họ Triệu đã
đợc về thăm vẫn còn ghi nhớ mãi Tại Bồ Điền, Bà Triệu đã cùng ba anh em nhà
họ Lý (Lý Hoằng, Lý Mỹ, Lý Thành), bàn tính kế hoạch, công việc đón đánhcánh quân mới từ bên Ngô triều kéo sang Họ quyết định xây dựng một căn cứvững chắc trớc khi cho quân tiến ra Giao Chỉ.Bà Triệu cùng nghĩa quân cho xây
đắp trên các điểm cao xung quanh Bồ Điền bảy đồn và một đồn chỉ huy tại núiTùng Sơn (nơi hiện nay vẫn còn tháp lăng của Bà Triệu và mộ của ba anh em nhà
họ Lý) Trớc tình hình chuẩn bị nghĩa quân rầm rộ và những cuộc nổi dậy nổ ra,cũng nh việc Bà Triệu dẫn đầu đoàn quân hùng dũng tiến ra Bồ Điền, chuẩn bị
đánh ra Giao Chỉ Bọn đô hộ ở Châu Giao và triều đình nhà Ngô hết sức hoảnghốt trớc thanh thế và sức mạnh của nghĩa quân và phong trào đấu tranh ở miềnNam Chúng nhận ra rằng cuộc khởi nghĩa lần này là cuộc nổi dậy lớn nhất củatoàn Châu Giao và đang uy hiếp nền đô hộ của chúng, chúng vội vã tập trung sứclực để đàn áp
Nhà Ngô cử Lục Dận làm thứ sử Giao Châu hiệu uý, có toàn quyền về dân
sự và quân sự Lục Dận sang Giao Châu nhận chức mang theo 8000 quân tiếpviện để đàn áp cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu
Lục Dận là một tên tớng có mu lợc, nhiều kinh nghiệm trong chiến trận vàrất quỷ quyệt, nên mặc dù đến nhiệm sở giữa lúc “toàn Giao Châu náo động”,