1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thân thế và sự nghiệp danh nhân đào duy từ

73 878 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu thân thế và sự nghiệp danh nhân Đào Duy Từ
Người hướng dẫn Thạc sĩ Hồ Sĩ Huỳ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù cònnhiều hạn chế xong tôi hy vọng với đề tài này sẽ góp một phần nhỏ của mìnhtrong việc dựng lại một tiểu sử đầy đủ về Đào Duy Từ – nhân vật lịch sử thế kỷ XVII, đánh giá một cách khá

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự

nỗ lực cố gắng của bản thân Xin cho phép tôi đ ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, Thạc sĩ Hồ Sĩ Huỳ Ng ời thầy đã gợi ý đề tài và đã tận tình, chỉ bảo h ớng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.

Đồng thời, qua đây tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa lịch sử, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn chuyên ngành lịch sử Việt Nam cùng toàn thể bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài của mình.

Vinh, tháng 5 năm 2004 Sinh viên

Hà Thị Mai Hơng

Trang 2

1.3 Một số tồn nghi về Đào Duy Từ qua việc tìm hiểu thân

thế của ông

24

Chơng 2 Đào Duy Từ : con ngời - sự nghiệp - thời đại. 33

2.1 Chính trờng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVII và vị trí của

2.2 Đào Duy Từ - Con ngời chí bền, tâm sáng, tài cao 392.3 Đào Duy Từ - Nhà hoạt động văn hoá toàn diện 442.3.1 Đào Duy Từ và những sáng tác văn chơng đích thực 442.3.2 Đào Duy Từ và nghệ thuật sân khấu tuồng 492.4 Đào Duy Từ - Nhà chính trị, quân sự tài năng 53

Phụ lục.

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Món quà vô giá mà cuộc sống ban tặng cho chúng ta đó là những tri thứclịch sử Cùng với vòng quay của trái đất, của sự luân chuyển bốn mùa, lịch sửbớc ra từ chính cuộc sống của con ngời, từ công cuộc chinh phục và cải tạo tựnhiên của con ngời Mỗi quốc gia đều có quyền tự hào về lịch sử của mình vànhững trang sử của mỗi quốc gia ấy đều mang những bản sắc riêng Cónhững quốc gia, lịch sử của họ là những cuộc chống xâm lăng oanh liệt, hoặc

có những quốc gia đơn thuần là những bớc phát triển vững mạnh về kinh tế,chính trị, văn hoá Lịch sử là bộ mặt một đất nớc, nó có thể mang lại niềmkiêu hãnh hay ngợc lại là sự xấu hổ cho mỗi ngời dân của dân tộc đó Bởi vậy

nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi dân tộc

Bề dày lịch sử của mỗi một quốc gia là do chính ngời dân của quốc gia

đó tạo dựng nên Và những ngời làm nên lịch sử ấy trở thành những nhân vậtlịch sử Chắc chúng ta đều không quan niệm rằng bất cứ ai đã có mặt, có têntrong quá khứ của dân tộc, của quê hơng, đều là nhân vật lịch sử Lịch sử cóchép đến họ là do nhiệm vụ biên niên, chứ không thiếu gì những ông vua,

ông quan kể cả những ông quan to, những ngời từng cáng đáng nhiều vai tròquan trọng trong một thời gian nào đó, vẫn cha xứng đáng đợc gọi là nhânvật lịch sử Gọi là nhân vật lịch sử, phải là một con ngời nếu không phải là đãlàm nên lịch sử, thì cũng phải có những thành tựu “ lập đức”, “lập công”,

“lập ngôn” (theo cách nói ngời xa) có tác động, có ảnh hởng nhất định đếnquá trình lịch sử

Trong suốt chiều dài lịch sử, ở tất cả mọi thời đại, mọi miền đất nớc, đãxuất hiện những gơng anh hùng Cùng với anh hùng trận mạc còn có cảnhững anh hùng văn hoá Gơng xa và gơng nay là một dòng chảy khôngngừng mà mỗi chúng ta, nhất là thế hệ trẻ cần biết để tự hào về quê hơng, đểsoi sáng lòng mình qua các nhân vật lịch sử

Trang 4

Cùng góp mặt vào dòng chảy không ngừng ấy, từ thời các vua Hùngdựng nớc đến những công cuộc chống giặc ngoại xâm, phục hng Tổ quốc,quê hơng tỉnh Thanh đã có nhiều anh hùng tuấn kiệt còn lu danh sử sách,truyền tụng trong dân Khi nhắc tới những gơng mặt anh tài ấy chúng takhông thể không nhớ tới Đào Duy Từ - nhà hoạt động văn hoá toàn diện củathế kỷ XVII Một con ngời có tài năng trên nhiều mặt: chính trị, mu lợc kinhbang tế thế, một ngời có đầu óc cải cách thực sự ở thế kỷ XVII, không đitheo vết xe của những nho sĩ cũ chỉ biết an phận cam chịu, vinh thân phì gia,không bắt chớc chính sách của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, nhng cũng khôngbằng lòng với chính sách của Nguyễn Hoàng – thời kỳ Nguyễn sơ Đào Duy

Từ là ngời chủ yếu đề ra chính sách hợp lòng dân, yên dân trị nớc của chúaNguyễn, vừa là ngời văn võ song toàn, vừa là nhà chiến lợc quân sự, nhà côngtrình quân sự, nhà thơ, nhà nghệ thuật và giúp dân phát triển kinh tế, làm chochính sách của chúa Nguyễn tiến bộ hơn nhà Trịnh và đợc thực thi ở mộtphần đất nớc ta, góp phần mở mang bờ cõi phía Nam Thế nhng trên thực tếthân thế và hành trạng của Đào Duy Từ vẫn còn nhiều điều cha đợc làm sáng

tỏ Ông sinh ra trên miền đất Tĩnh Gia của tỉnh Thanh thế nhng lại để lại sựnghiệp trên một miền quê khác, chỉ riêng điều đó cũng gây nhiều thắc mắc,cuộc đời của ông đã trải qua những bớc thăng trầm nh thế nào? Điều đócòn nhiều bí ẩn Thậm chí nhay cả những đóng góp của ông đối với sự pháttriển của xứ Đàng Trong và Đại Việt thế kỷ XVII cũng cha đợc nhìn nhậnmột cách xứng đáng Hơn nữa, khi nhìn nhận đánh giá về Đào Duy Từ, cómột điều mà lâu đến nay chúng ta còn phân vân: Đào Duy Từ phục vụ chochúa Nguyễn, mà chúa Nguyễn sơ khai thì lại chia cắt đất nớc, nhà Nguyễnsau này thì diệt Tây Sơn, cõng rắn cắn gà nhà, và có một số triều vua đầuhàng giặc để mất nớc Vì lẽ đó có lúc chúng ta đánh giá không công bằng,cha đúng đắn, hoặc không dám nhắc đến nhiều, thậm chí lãng quên Đào Duy

Từ Và cũng từ đó đặt ra một yêu cầu cho chúng ta cần tìm hiểu một cách

đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp Đào Duy Từ để có cách nhìn nhận và đánh giá

Trang 5

chính xác về những cống hiến của Đào Duy Từ đối với sự phát triển đất nớcthế kỷ XVII.

Xuất phát từ yêu cầu trên: Từ những đóng góp to lớn của Đào Duy Từ

đối với lịch sử dân tộc, từ những hiểu biết còn hạn chế của chúng ta về ĐàoDuy Từ, từ đòi hỏi của thực tế học tập và nghiên cứu lịch sử dân tộc, với sựgiúp đỡ tận tình của thầy giáo Th.s Hồ Sĩ Huỳ tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:

“Tìm hiểu thân thế và sự nghiệp danh nhân Đào Duy Từ ““, làm khoá

luận tốt nghiệp, với khát vọng đáp ứng đợc phần nào yêu cầu trên Dù cònnhiều hạn chế xong tôi hy vọng với đề tài này sẽ góp một phần nhỏ của mìnhtrong việc dựng lại một tiểu sử đầy đủ về Đào Duy Từ – nhân vật lịch sử thế

kỷ XVII, đánh giá một cách khách quan những đóng góp của ông đối với sựnghiệp của các chúa Nguyễn Đàng Trong và sự phát triển của Đại Việt thế kỷXVII

2 Lịch sử vấn đề.

Tác phẩm đầu tiên ghi chép về Đào Duy Từ có lẽ là bộ “Nam triềucông nghiệp diễn chí” do Nguyễn Khoa Chiêm soạn vào năm thứ 22 đời chúaMinh Vơng ở Đàng Trong Tiếp đến đợc ghi chép rải rác trong các bộ sử nh

“Đại Nam thực lục tiền biên”, rồi “Khâm định Việt sử Thông giám Cơngmục” hoặc tập hợp thành tiểu truyện trong “Đại Nam Nhất thống chí” nhng

đầy đủ nhất phải kể đến “Duy Từ truyện” trong “Đại Nam Liệt truyện Tiềnbiên” Và ngoài ra đợc đề cập ở một số sách báo và tạp chí trong nớc Đặcbiệt là cuộc hội thảo khoa học về danh nhân Đào Duy Từ tổ chức tại ThanhHoá năm 1992 Trong cuộc hội thảo này vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi khácnhau, còn nhiều vấn đề phải “để ngỏ” để cho các nhà nghiên cứu tiếp tụccộng tác với nhau, đối chiếu thêm t liệu tìm lời giải đáp có căn cứ để đi đếnkết luận rõ ràng hơn Và gần đây nhất có cuốn “Đào Duy Từ khảo biện” củaLộc Xuyên Đặng Qúi Địch, xuất bản 1998 đã có nhiều kiến giải khá sâu sắc

về thân thế và sự nghiệp của Đào Duy Từ

Tuy nhiên, nghiên cứu Đào Duy Từ là một việc khó khăn, trớc nhất vẫn làvấn đề về t liệu Ngay ở trên quê hơng ông, dù đã cố sức tìm tòi, nhiều nhà su

Trang 6

tầm vẫn chỉ thu đợc những kết quả rất hạn chế Đã vậy, không gian khảo sátlại rất rộng (cả miền Nam, miền Bắc), thời gian lại lùi về quá khứ khá xa, quákhứ rất mờ sau màn sơng lịch sử Bởi vậy để nghiên cứu vấn đề tôi đã dựavào những nguồn tài liệu chính sau:

- Đào Duy Từ khảo biện (Lộc Xuyên Đặng Qúi Địch), NXB ThanhHoá 1998

Trong tập sách này tác giả đã đa ra những kiến giải về thân thế và sựnghiệp của Đào Duy Từ qua Liệt truyện hiệu khảo ở phần một và Chí truyệnlợc chú ở phần hai, về tác phẩm của Đào Duy Từ qua hiệu chú ở phần ba

- Đào Duy Từ (1572-1634) thân thế và sự nghiệp Ban nghiên cứu vàbiên soạn lịch sử Thanh Hoá 1993

Đây là cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học về danh nhân Đào Duy Từ nhân

kỷ niệm 420 năm, năm sinh của ông Sách gồm nhiều bài viết của các giáo sdanh tiếng trong ngành và đã trình bày nhiều khía cạnh về Đào Duy Từ trong

đó có những phát hiện mới nhất về thân thế của ông

- Đào Duy Từ con ngời và tác phẩm (Trần Thị Liên), NXB Văn Hoá,

Hà Nội 1992

Ngoài ra còn có một số tài liệu tham khảo khác

Nhng nhìn chung các tài liệu này mới chỉ dừng lại ở khía cạnh này haykhía cạnh khác về Đào Duy Từ mà cha đi sâu vào tìm hiểu một cách đầy đủ

và toàn diện

Vì vậy, trên cơ sở những tài liệu đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tàicủa mình, mong rằng sẽ dựng lại một cách toàn diện hơn, có hệ thống hơn vềcuộc đời cũng nh sự nghiệp của ông

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

3.1.Đối tợng nghiên cứu.

Thân thế và sự nghiệp của Đào Duy Từ

3.2.Phạm vi nghiên cứu.

Trang 7

Nh tên đề tài chỉ rõ phạm vi của khoá luận là: Tìm hiểu một cách có hệthống thân thế và sự nghiệp của Đào Duy Từ Từ đó có cách nhìn nhận, đánhgiá một cách xác đáng về vị trí của ông đối với đất nớc nửa đầu thế kỷ XVII.

4 Phơng pháp nghiên cứu.

Khoá luận dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử, t tởng Hồ Chí Minh vàquan điểm đờng lối của Đảng ta làm cơ sở phơng pháp luận cho biệc nghiêncứu Trình bày sự kiện trung thực, xem xét sự vận động của lịch sử trong mốiliên quan chặt chẽ với nhau, từ đó đu ra những nhận xét đánh giá Đây là đềtài lịch sử nên nội dung đợc thể hiện bằng các phơng pháp: hệ thống, so sánh,

đối chiếu, kết hợp, tham khảo ý kiến rồi phân tích, tổng hợp

5.Kết cấu của khoá luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoáluận gồm hai chơng:

Chơng 1: Một vài nét về quê hơng và dòng họ của danh nhân Đào

đợc hoàn chỉnh hơn

Nội dung

Trang 8

Chơng 1: Một vài nét về quề hơng và dòng họ

của danh nhân Đào Duy Từ.

1.1.Quê hơng đối với sự trởng thành và lập nghiệp của Đào Duy Từ.

1.1.1.Quê hơng nơi ông sinh ra và lớn lên.

Trải qua các thế kỷ phát triển hng thịnh, bớc sang thế kỷ XVI, xã hội

Đại Việt có dấu hiệu của sự khủng hoảng, rối ren Chúng ta đã biết từ nhữngnăm 1527, Mạc Đăng Dung làm đảo chính, cớp ngôi nhà Lê dựng nên một v-

ơng triều mới Tuy các sử gia phong kiến trớc đây xem ông là kẻ thoánnghịch, nhà Mạc là một nguỵ triều, song thực ra việc thay thế nhà Lê lúc này

để chấn chỉnh quốc gia là một nhu cầu hợp với nguyện vọng quốc dân Các

ông vua Tơng Dực, Uy Mục nhà Lê đã quá bê tha, làm cho kỷ cơng đổ nát,

đất nớc đói nghèo, quan lại triều đình mọt ruỗng Nhân dân muốn đợc sốngyên lành, muốn có một nhà nớc quy củ Có lẽ vì thế mà nhà Mạc lên thay, cảnớc bớc vào một thời kỳ thịnh trị Sử đã phải chép những năm đầu thời kỳMạc Đăng Doanh ngồi trên ngai vàng là thời kỳ hoà bình an lạc, nhà dân ban

đêm không đóng cửa, ngời đi đờng thấy của rơi không nhặt v.v

Nhng t tởng trung quân, t tởng phù rập vơng triều chính thống đã ănsâu từ bao lâu, khiến nhiều ngời không thể chấp nhận cuộc đảo chính mà họxem là thoán đoạt Mặt khác, nhà Lê mà khởi đầu là Lê Lợi với công lao bìnhNgô to lớn, vẫn còn nguyên cảm tình sâu sắc trong lòng dân Vì vậy một sốcựu thần đã tìm cách trốn tránh, lánh vào rừng núi hoặc về các địa phơng xaThăng Long để tìm cách phục Lê Về Thanh Hoá, nơi phát tích Lam Sơn, lànơi có nhiều điều kiện thuận lợi, có thể cố kết nhân tâm hơn cả Nguyên Kimcũng quê ở Thanh Hoá, đã tìm đợc con cháu nhà Lê, tôn làm vua- tức là LêTrang Tông (1533) lập riêng một cơ nghiệp Nguyễn Kim có nhiều tả hữu cótài, trong đó nổi lên ngời con rể của ông là Trịnh Kiểm Nguyễn Kim mất,Trịnh Kiểm đã thay ông nắm giữ binh quyền, lấy danh nghĩa phù Lê mà tổ

Trang 9

chức đợc lực lợng, xây dựng căn cứ địa vững vàng, xây dựng một vơng triềumới để đối đầu với nhà Mạc.

Thế là ngay đầu thế kỷ XVI, nớc ta đã bớc vào tình trạng Lê - Mạcphân tranh Nhà Mạc đóng đô ở Thăng Long quản lĩnh cõi Bắc triều Nhà Lêtrung hng đóng đô ở An Trờng (nay là vùng xã Thọ Minh, Thọ Lập, huyệnThọ Xuân, Thanh Hoá) quản lý từ Thanh Hoá trở vào Cả hai phái Lê - Mạcluôn luôn xung đột nhau Hoặc quân Mạc đánh vào, hoặc quân Lê - Trịnh

đánh ra, chiến tranh triền miên không lúc nào chấm dứt

Nhà Mạc giành chính quyền đã cố gắng chấn chỉnh triều đình, điềuhành đất nớc, tìm cách mua chuộc, lễ lạt nhà Minh để tránh mũi nhọn ở ph-

ơng Bắc (có cả việc dâng đất 6 động ở Vĩnh An) Việc văn hoá có đợc quantâm, tổ chức nhiều kỳ thi hội lấy đậu gần 500 tiến sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã

đợc thu dụng vào lúc này ở phía Nam nhà Lê trung hng dời cơ quan hànhchính về An Trờng (1533), củng cố sắp đặt cho thành một vơng triều bề thế.Thi hơng do nhà Lê chủ trì đợc mở năm 1558, tại xã Đa Lộc, huyện Yên

Định (gần với An Trờng) Cùng năm này, Nguyễn Hoàng con trai NguyễnKim đợc phong Đoan quận công, xin vào trấn đất Thuận Hoá và lập bảndoanh ở ái Tử (Quảng Trị) Nh vậy là bắt đầu mở ra cục diện mới : ba pheMạc, Lê - Trịnh, Nguyễn sẽ tranh chấp nhau, gây nên chiến tranh nội loạnsuốt một thời gian dài

Đó là xét trên đại thể tình hình cả nớc ở từng vơng triều cũng luônluôn diễn ra những sự mâu thuẫn đối địch và sự bê tha trác táng Những nămcuối thế kỷ XVI, ở Đàng Trong cha xảy ra sự kiện gì nổi bật, nhng phía ĐàngNgoài thì có nhiều chuyện rối ren Trịnh Kiệm mất (1570), anh em TrịnhCối, Trịnh Tùng bất hoà Trịnh Cối bỏ sang đầu hàng nhà Mạc Trịnh Tùnglên thống lĩnh binh quyền, giết Lê Anh Tông đa Thế Tông lên ngôi (1573).Năm 1599, Trịnh Tùng mở phủ chúa, đợc phong tớc vơng, sau đó lập LêKính Tông Con cái của Trịnh Tùng cũng xung đột nhau, Trịnh Xuân bị tội,Trịnh Tráng lên kế vị thay Tùng (1623) Về phía họ Mạc, thì sau những năm

Trang 10

khởi sắc dới triều Mạc Đăng Doanh, đã thấy có nhiều suy thoái Những ôngvua nh Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên đều kém tài Đến Mạc Mậu Hợp(lên ngôi 1562) thì lại càng kém cỏi Quân Lê - Trịnh đánh phá liên tục,nhiều lần vua Mạc phải bỏ chạy khỏi Thằng Long, nhng lại nhanh chóngquay về củng cố thế lực Thời đại lúc này đúng là thời loạn, đúng nh NguyễnBỉnh Khiêm đã viết:

Non sông nào phải buổi bình thời Thù đánh nhau chi khéo nực cời.

Tuy nhiên, vẫn phải để ý rằng trong giai đoạn lịch sử này có khá nhiềunhân tài xuất hiên, cả phía võ lẫn phía văn Các ông Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng

là những chỉ huy kiệt xuất Con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng cũng cónăng lực, nghị lực phi thờng Phía nhà Mạc, Mạc Kính Điển giỏi quân cơthao lợc và cả chính sự Nguyễn Quyện là một viên tớng vô địch, tiếng tămlẫy lừng Về mặt văn chơng, chính sự, các ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, GiápHải (bên nhà Mạc), Phùng Khắc Khoan (bên Lê Trịnh) đều là những nhân tài

để tên tuổi trong lịch sử

Đào Duy Từ đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nh vậy, ở làng Hoa Trai,huyện Ngọc Sơn, nay là xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.Cũng nh mọi làng quê khác ở miền Bắc Việt Nam, Hoa Trai là một làng nhỏ

bé hiền lành sát đờng quốc lộ I cách bờ biển chừng năm cây số Phía Đông làlàng ven biển chạy dài ra đến Ba Làng, Do Xuyên và cửa Lạch Bạng ĐảoBiện Sơn ngoài biển trông vào Phía Tây giáp các huyện Nông Cống, NhXuân Phía Nam giáp huyện Quỳnh Lu của Nghệ An Phía Bắc là một sốhuyện giáp giới với huyện Quảng Xơng Hoa Trai sau này có tên là Văn Trai(một ga xe lửa đặt từ đầu thế kỉ XX) Thị trấn Còng (huyện Tĩnh Gia ngàynay) cũng ở đầu địa phận làng Từ huyện lỵ về tỉnh lỵ Thanh Hoá là 40 km

Đi từ Văn Trai đến An Trờng (giữa Thọ Xuân –Yên Định –Thiệu Hoá)theo tỉnh lộ và quốc lộ phải đến 70km, nhng đi đờng sắt liên hơng thì không

đầy 50 km.Dân c ở đây, từ xa sống bằng nghề nông, một số làm nghề chài

Trang 11

l-ới, thủ công, buôn bán nhỏ Đây là vùng đất cổ, mang đầy đủ đặc trng về địa

lí, địa hình của Thanh Hoá, lại có sắc thái riêng của một vùng nam ThanhHoá- bắc Nghệ

Tuy thế, thiên nhiên cũng không mấy u ái cho vùng đất này.Tĩnh Gia

có diện tích tự nhiên là 432km Tuy đợc gọi là huỵên vùng biển, song đồi núi

và rừng tái sinh chiếm gần 60 % diện Núi đồi tập trung ở phía Tây và Nam,nhiều nơi lấn sát ra biển tạo nên những mảnh đồng bằng nhỏ hẹp ven sôngsát biển Đồng ruộng phần nhiều là đất cát, đất bạc màu và chua mặn

Tĩnh Gia có 41km bờ biển và 3 cửa biển tạo nên từ sông Yên, SôngBạng và sông Hà Nậm; trong nội địa có sông đào nhà Lê chảy suốt chiều dàicủa huyện; ngoài khơi có các đảo: Hòn Mê, Hòn Đót và Biện Sơn ( Biện Sơnnay thuộc đất liền là những vị trí quân sự quan trọng trong bảo vệ tổ quốc)

Về mặt khí hậu thì Tĩnh Gia tuy thuộc vùng khí hậu gió mùa, song do

địa hình phức tạp nên thời tiết rất thất thờng Mùa hè có gió Lào, nhiều khinóng tới 400C Mùa Đông trong miền núi cao, có lúc hạ xuống 60C Tĩnh Giahàng năm thờng bị hạn, khi ma nhiều nơi bị ngập úng nặng Đây là vùng hay

bị bão, đã nhiều năm có bão lớn và sóng thần tràn vào gây nên những thiệthại nặng nề

Sống trong môi trờng địa lý không thuận lợi và thiên nhiên nhiều khikhắc nghiệt, ngời dân Tĩnh Gia từ xa đến nay thật thà chấc phác, khôngnhững cần cù lao động mà còn biết đoàn kết, dũng cảm đấu tranh chống lạithiên nhiên, vơn lên với ý chí và nghĩ lực lớn lao để xây dựng quê hơng và

đất nớc.Theo thời gian của lịch sử, phẩm chất đó đã trở thành bản chất thànhtruyền thống tốt đẹp của ngời dân Tĩnh Gia.Truyền thống ấy không thểkhông trở thành nhân tố đầu tiên giúp cho Đào Duy Từ có ý chí, nghị lực vàhoài bão lớn lao trong cuộc đời,vơn lên trở thành một nhân tài toàn diện của

đất nớc ở thế kỷ XVII

Tĩnh Gia gần cửa ngõ của Châu ái - xứ Thanh trong lịch sử, tại đây đãdiễn ra một quá trình tiếp xúc thờng xuyên, mạnh mẽ về dân c và văn hoá vớibên ngoài

Trang 12

Dựa vào các tài liệu lịch sử, chúng ta có thể hình dung đợc rằng: Vàothuở các vua Hùng dựng nớc, đất Tĩnh Gia nằm trong địa bàn sinh tụ củanhững ngời Việt cổ, mặc dù không đông đúc nh vùng ngã ba sông Mã, sôngChu Đầu công nguyên, Tĩnh Gia là đất c phong- căn cứ kháng chiến cuốicùng của nghĩa quân Hai Bà Trng Sau cuộc đàn áp dã man của Mã Viện,cùng với chính sách di dân đồng hoá của kẻ thù, có thể vùng phá voi sôngYên (thuộc các xã Thanh Sơn, Thanh Thuỷ ) đã có một bộ phận ngời Mã lu

từ phía Bắc vào Suốt ngàn năm chống phong kiến phơng Bắc, c dân Tĩnh Gia

đông dần lên Quãng vài thế kỷ sau thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến

độc lập, bên cạnh bộ phận dân c bản địa là chính, Tĩnh Gia thực sự đã thu hútngời từ các nơi khác về đây sinh cơ lập nghiệp Vì vậy các làng xã ở đây th-ờng đợc tập hợp từ nhiều dòng họ khác nhau

Lấy làng Du Xuyên (Hải Thanh) làm một ví dụ điển hình Làng nàybao gồm tới sáu dòng họ có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau; hoặc xã NghiSơn, vốn là một hòn đảo gần đất liền, đầu mối quan trọng bậc nhất giaothông đờng biển phía Nam Thanh Hoá đã có mặt cả những ngời có gốc từTrung Quốc và Chiêm Thành…, thậm chí có những làng nh Lê Vinh (xã HảiHoà) sát kề làng Hoa Trai của Đào Duy Từ, Thành hoàng làng lại là một viênphó sứ Sơn phòng từ Nghệ An ra năm 1871

Sự đan xen, hoà nhập dân c nh trên cũng chính là sự xâm nhập và hoà

đồng nhiều dòng văn hoá khác nhau trên quê hơng Tĩnh Gia Điều đó đã gópphần bổ sung và hoàn thiện những tính cách do thiên nhiên tạo nên cho ngờiTĩnh Gia Ngời Tĩnh Gia không những lao động giỏi, tinh thần đoàn kết cao,thật thà, dũng cảm, có nghị lực trong cuộc sống mà còn khoáng đạt, thôngminh và trọng nghĩa khí

Những đặc điểm trong tính cách của ngời dân Tĩnh Gia có thể nhậnthấy qua một số danh nhân huyện nhà Đó là lý lẽ thâm thuý, cao đạo củaKhuông Việt đại s Ngô Chân Lu trong giao tiếp với sứ Tống thời Tiền Lê Làbản tính bộc trực, ngay thẳng của Thuận Nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến từng

Trang 13

chém lính để giữ nghiêm việc binh thời chúa Nguyễn Là tiết tháo cao cả của

tú tài Nguyễn Phơng, tuẫn tiết chứ không chịu hàng giặc thời Cần Vơng

Đáng lu ý nhất là những dòng ghi chép ở “Đại Nam thực lục tiền biên”,

ở “Nam triều công nghiệp diễn chí” và nhiều sách khác nói về cuộc đời và sựnghiệp của Đào Duy Từ, đặc biệt là buổi đầu ra mắt Sãi Vơng của ông đã thểhiện ông là một điển hình cho nhân cách cao cả của ngời Tĩnh Gia trong lịchsử

Tĩnh Gia bên cạnh cái thật thà chất phác ấy còn là vùng đất giàutruyền thống về học hành, khoa bảng Từ thế kỷ thứ X, Tĩnh Gia đã cóKhuông Việt đại s Ngô Chân Lu từng nổi tiếng tinh thông thần học, đợc ĐinhTiên Hoàng phong chức Tăng thống và trọng vọng nh một vị Quốc s Bài thơ

“Vơng lang quy” nổi tiếng của ông đã đa ông lên vị trí một trong ít ngời mở

đầu cho nền văn học yêu nớc ĐạI Việt

Đến thời Đào Duy Từ, đặc biệt từ năm 1585 trở đi, Tĩnh Gia rộ lênkhông khí học

Các tài liệu về Khoa mục chí và Đăng Khoa lục cho biết trong khoảnghai thế kỷ rỡi, Tĩnh Gia có tới 7 tiến sĩ và có 52 hơng cống ở thời đó trênmảnh đất này đã hình thành hai trung tâm học đờng chính: trung tâm Tào Sơn

ở phía Bắc và trung tâm Vân Trai ở phía Nam

Trung tâm Tào Sơn nổi tiếng với dòng họ Lơng, mở đầu là Lơng Chí.Sách “Đại Nam nhất thống chí” cho biết ông từng làm Thợng th bộ hộ “ởtrong triều thì bàn luận chính trị, ngoài trấn thì tham tán việc binh” và concháu Lơng Trí có tới 7 ngời là hơng cống, tiến sĩ nh Lơng Nghi, Lơng Mậtv.v

Trung tâm Vân Trai - quê Đào Duy Từ, cũng không ít những ngời đỗ

đạt Điển hình nhất là dòng họ Lê với các bậc đại khoa nh Lê Thế Hạo, LêThế Hiển, Lê Thế Lai v.v

Sinh trởng ở vùng đất có học hành nh vậy, Đào Duy Từ không thếkhông bị cuốn hút vào không khí học thuật sôi động ấy Dẫu trong tay không

có một văn bằng, chứng chỉ do những luật lệ khắt khe của thời đại mà ông

Trang 14

từng sống, Đào Duy Từ vẫn biểu hiện là ngời có một vốn trí thức uyên báctrên nhiều lĩnh vực Những gì mà ông có đợc, chắc chắn là đất học quê nhà

đã ảnh hởng rất lớn tới việc bồi bổ kiến thức cho ông

Cùng với những truyền thống ấy thì Tĩnh Gia còn là mảnh đất ơm mầmcho một nền nghệ thuật sân khấu cổ truyền, một nền ca múa dân gian Đồngthời cũng là một miền quê phong cảnh hữu tình, góp phần tạo những tứ thơhay cho các văn nhân

Chắc chắn những rừng bạt ngàn ở khu Ngoạ Long Cơng cùng độngTrúc Lâm phù hợp với thú vui lâm tuyền, cảnh đẹp đồng nội, làng xóm, vớimột hệ thống đền chùa trải suốt chiều dài của huyện cũng nh cửa biển LạchBạng và các đảo đẹp ngoài khơi chẳng khác gì cửa biển T Dung đã tạo nên ở

Đào Duy Từ lòng yêu thiên nhiên, quê hơng sâu sắc và tâm hồn thơ đẹp đẽ.Cũng có thể đây là cơ sở để chúng ta nghĩ rằng: “T Dung Vãn” của ông đã cócảnh sắc của quê hơng

Và cũng trên mảnh đất này nghề ca hát dân gian đã nảy nở và pháttriển mạnh mẽ Ngạn ngữ ở đây có câu “Hát bội làng Phèo, hát chèo làngNỗ” Hát chèo từng đợc coi là “đặc sản” tinh thần của cả làng Vân Trai Đặcbiệt hát bội (hát tuồng) có từ bao đời rồi, đến tận những năm sau hoà bình lậplại nó vẫn còn là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phổ biến của nhân dântrong huyện Nổi tiếng nhất phải kể tới các gánh hát của làng Sa Thôn (xãXuân Lâm), làng Tuế Tân (xã Thanh Thuỷ), làng Phong Thái (xã Hải An) vàlàng Cộng Phú (thị trấn Tĩnh Gia) Không có nơi nào hát bội lại là thứ đam

mê, cuốn hút con ngời hơn ở đây:

Hát bội làm tội đàn bà.

Bỏ cửa bỏ nhà đi theo hát bội ”Chúng ta biết rằng, Đào Duy Từ xuất thân trong một gia đình làm nghềhát xớng Cha ông từng là đội trởng đội nữ nhạc dới triều Lê Anh Tông Cácbậc cao niên ở thôn Nỗ Giáp cho biết mẹ ông vốn là một ả đào ngời làng Se.Quê hơng và gia đình nh thế, từ thuở lọt lòng đến tuổi trởng thành chắc chắn

Trang 15

đã thấm đợm trong ông những điệu ca, tích trò Và hơn ai hết, ông đã maymắn đợc tiếp nhận gia tài tinh thần quí báu đó.

Có thể vì vậy mà các nhà nghiên cứu tuồng hiện nay đã có lý khi chorằng: Đào Duy Từ đã đem vốn hiểu biết về nghệ thuật tuồng từ Thanh Hoávào truyền cho dân Tùng Châu (Bình Định) với t cách một nghệ nhân truyềnnghề Và tơng truyền ông là tác giả đích thực của kịch bản tuồng Sơn Hậunổi tiếng là có cơ sở, mặc dù đây hiện là vấn đề còn đang bỏ ngỏ

Cũng trên lĩnh vực văn hoá truyền thống của Tĩnh Gia, không thểkhông kể đến sự có mặt của các trò diễn dân gian cổ truyền Làng Tào Sơnsôi nổi với các trò, “Tú huần”, trò “Ngô” Làng Pheo và Nỗ Giáp có các trò

“Chạy chữ”, “Chèo chải”, làng Du Xuyên, Hiếu Hiên có tục bơi trải

Đào Duy Từ đã tiếp thu những tinh hoa quý báu từ các trò diễn dângian cổ truyền của quê hơng để rồi trở thành một biên đạo múa xuất sắc trong

vũ nhạc cung đình.Chín điệu múa còn lại của ông nh: Tam quốc, Tây du, Lân

mẹ đẻ lân con , có điệu còn nguyên bản, có điệu đợc cải biên ít nhiều, thực

sự là những nét đặc sắc trong chơng trình biểu diễn của đoàn ca múa cung

đình Huế hiện nay

Ngoài ra, có một điều chúng ta cần phải nói thêm rằng những dấu ấnsâu đậm của quê hơng đối với việc hình thành ý chí và tài năng của Đào Duy

Từ còn là những di tích văn hoá nh là những kỷ vật của ông với nơi sinhthành Đó là núi Long Cơng, tục gọi là núi Năng, còn gọi là núi Nga Mỹ lànơi ông đã “làm khúc Long Cơng, thấy chỗ nào tĩnh mịch, lấy làm thích bèndời đến ở đỉnh núi” [15,231-232] Sử sách ghi chép nh thế và các thế hệ nơi

đây đời đời truyền nhau nh thế

Quê hơng quả là mảnh đất màu mỡ, ơm mầm tài năng cho Đào Duy

Từ Ông đã trải qua tuổi sơ sinh cho đến lúc thành niên trên mảnh đất này.Chính ông đã thể hiện đầy đủ những phẩm chất về đạo đức, tinh thần, nghịlực và truyền thống tốt đẹp của quê hơng và ông cũng đã góp phần làm rạngdanh vùng đất Hoa Trai - Ngọc Sơn này

Trang 16

Miền quê êm ả ấy, không chỉ ơm mầm tài năng mà còn ơm mầm chomột ý chí lớn, một nhân cách lớn Và chính ý chí ấy đã tiếp sức cho ông vữngbớc trên đờng đời đầy rẫy những khó khăn sau này trên một miền quê khác -nơi ông đã gây dựng nên một sự nghiệp lớn Đó chính là quê hơng Bình

Định

1.1.2 Đào Duy Từ - nhìn từ Bình Định.

Nếu nh miền đất Tĩnh Gia của tỉnh Thanh Hoá là nơi sinh ra và lớn lêncủa ngời con họ Đào; thì Bình Định có thể xem là mảnh đất trởng thành vàcống hiến trong cuộc đời của Đào Duy Từ : một con ngời có thể xem nh văn

võ song toàn, mà cho mãi tới hôm nay đã hơn 400 năm, chúng ta mới có dịpnhìn lại để đánh giá một cách toàn diện về ông

Chính vì lẽ đó mà Bình Định – vùng đất nơi Đào Duy Từ chọn đặtchân để sinh cơ lập nghiệp, và cũng từ mảnh đất này, chí ít cũng trên hai mơinăm ông đã nung nấu, nuôi chí lập thân, cũng bắt đầu nghiên cứu về ông Cóthế khẳng định rằng từ lâu ngời Bình Định đã xem ông nh một danh nhân vănhoá, danh nhân lịch sử của tỉnh mình và có lẽ cũng là nơi đầu tiên nghiên cứu

về Đào Duy Từ

Tỉnh Thanh, vẫn từng đợc coi là quê hơng của những nền văn hoá nổitiếng từ thời tiền sử và sơ sử đã sinh ra Đào Duy Từ, nhng do ở vào tình thếbắt buộc, ông phải rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn để tiến về phía Nam, đến vùng

đất mới, dấu hết tung tích, nuôi chí lập thân

Rời Thanh Hoá, tuy đã đi khắp dải đất miền Trung, song ông khôngchọn nơi đâu mà chỉ chọn Bình Định; vùng đất có gì đó hơi giống với miềnTĩnh Gia, Thanh Hoá của ông; bởi Hoài Nhơn cũng có biển, núi, hơn nữa đây

là vùng đất trù phú của vùng này Và thế là “đất lành chim đậu”, ôngđã chọnnơi đây lập kế sinh nhai Là ngời có học, lại chịu sự giáo dục trong môi trờngnho giáo, cho nên từ nhỏ ông là ngời có hiếu với cha mẹ, nặng nghĩa với quêhơng mình Bởi vậy trong cái thế phải rời bỏ quê hơng để nuôi chí lập thân,

âu cũng là cái chí của kẻ sĩ trong thời kỳ đó; nên ở con ngời ông, dù bất cứ

Trang 17

trong hoàn cảnh nào, hai tiếng quê hơng vẫn canh cánh bên lòng Bởi nơi ấy

có dòng họ, tổ tiên, quê cha đất tổ, hình ảnh không làm sao ông quên đợc

Thể hiện rõ nhất hai chữ quê hơng trong con ngời ông là cái tên ông

đặt cho chính nơi ông sinh cơ lập nghiệp Khi ông đặt chân đến khai phá, ông

đã đặt tên đất là Ngọc Sơn, tên của chính quê hơng ông ở Thanh Hoá, vàngay cả những cánh đồng ông khai hoang ông cũng đặt là cánh đồng VânTrai Ngày nay những địa danh đó vẫn còn ở Hoài Nhơn Đến khai phá mộtvùng đất hoàn toàn mới, thuộc miền Tây Bắc huyện Hoài Nhơn với địa thếgần sông, gần núi, nên muốn canh tác có hiệu quả, việc đầu tiên là phải đàomơng lấy nớc vào ruộng, biến vùng đất hoang hoá này thành những thửaruộng có thể trồng lúa nớc và hoa màu Theo truyền ngôn của nhân dân ởvùng này, thì con sông đào chạy từ Hoài Xuân đến Tam Quan hiện nay, xakia nhân dân thờng gọi là con sông “cụ Đào” Sau này do thay đổi nhiều về

địa lý, về mùa khô lợng nớc ít, cho nên nhân dân quen gọi là “sông cạn”.Sông này do Đào Duy Từ khởi xớng tạo nên

Một thực tế đợc ghi nhận nữa qua điền dã ở Hoài Nhơn và một sốhuyện ở phía Bắc Bình Định nh Phú Mỹ, Hoài Ân là nhân dân ở vùng này

đều có tập quán dùng phân bắc để bón ruộng Cho đến nay tập quán này ởHoài Nhơn vẫn còn phổ biến Chúng ta biết rằng, việc dùng phân bắc là mộttập quán ở phía Bắc du nhập vào, và chỉ tập trung chủ yếu ở Hoài Nhơn và ởmột số huyện có họ Đào đến sinh sống Trong nông nghiệp, ngoài thuỷ lợi ra,phải chăng việc vận động mọi ngời dùng phân bắc bón ruộng cũng là một kỹthuật chăm bón do Đào Duy Từ du nhập vào quê hơng mới?

Cùng với việc khai phá vùng đất hoang hoá thành trù phú, thì công việctrao đổi hàng hoá giữa các vùng với nhau cũng hết sức cần thiết Ông đã đặt

ra một số đơn vị đo lờng mà cho đến nay nhân dân ở vùng này vẫn còn dùng

nh : gia-ang, tơng truyền cũng là sáng kiến của ông

Từ tất cả những điều đó cho chúng ta thấy ông là ngời trọn nghĩa vẹntình Sống ở một nơi xa lắc mà không một giây phút nào ông nguôi ngoai nỗinhớ quê hơng Những tên đất tên làng đợc ông khai phá đều mang tên miền

Trang 18

quê nơi sinh ra ông Thế nhng trong sâu thẳm trái tim mình, bên cạnh nỗikhắc khoải nhớ quê hơng ông không khỏi băn khoăn, trăn trở về vùng đất mà

ông từng trú ngụ khi còn “chân ớt chân ráo” - đó chính là Tùng Châu, HoàiHảo

Hoài Hảo xa gần với trại Tùng Châu, khi đó dân c còn tha thớt, tuy đất

đai phì nhiêu, ma thuận gió hoà, nhng mùa màng mới chỉ cấy một vụ, dânlàng cha thực sự ấm no Những ngày Duy Từ còn “mai danh ẩn tích” ở TùngChâu, ông rất thấu hiểu cảnh sống của ngời dân ở vùng này, và con ngời ởnơi đây cũng đã biết đến tiếng tăm lẫy lừng của ngời ở đợ chăn trâu đã đối

đáp thông minh, hóm hỉnh lạ thờng với các nho sĩ ở địa phơng, đến nay vẫncòn truyền tụng

Chính bởi sự suy t trăn trở ấy mà khi Duy Từ ra làm quan giúp chúaNguyễn, vạch ra chủ trơng, quốc sách dinh điền, dựng làng lập ấp, khai thănglập hộc, nhằm an c lạc nghiệp cho toàn xứ Đàng Trong tất yếu ông đã đặcbiệt lu tâm nâng đỡ nhân dân ở Tùng Châu, Hoài Hảo

Tấm lòng ấy của ông cho đến ngày nay vẫn đợc nhân dân Hoài Hảocũng nh nhiều nơi trong huyện Hoài Nhơn, nhất là ngời dân ở Cự Tài, vẫncòn truyền tụng nhiều giai thoại về công đức của Đào Duy Từ

Chẳng hạn ngời dân Hoài Hảo kể rằng: ở “đất ngọc ngời tiên” này, mỗi

xứ đồng, cánh bãi, dòng mơng, chòm ấp, đến phép đạc điền, chế độ thănghộc, ngay cả tục tát nớc tới ruộng, cách làm phân bắc và làm con xỏ xâu mũicho trâu đỡ đau; cũng đều có công đức của ông Lớn (ý chỉ Đào Duy Từ) gópvào Ông Lớn mới làm quan trong vài năm đã cho dân sở tại (Hoài Hảo và

xứ Bồ Đề) lập hàng trăm trại ấp, hàng nghìn mẫu điền thổ (ruộng đất ) trênnhiều xứ đồng Vào những năm thiên tai mất mùa, ngời dân ở đây khôngnhững đợc miễn thuế mà còn đợc ông Lớn cho cứu trợ tận tình Có lẽ ôngLớn đã xem kỹ địa thế vùng này nên mới mách bảo con cháu đến vỡ hoangnhững chỗ đất tốt trớc, chọn thế đất đẹp mà ở, rồi khi có điều kiện mở rộngmãi ra… Nơi đây, ở những chân ruộng đợc vỡ hoang, trong ba năm dân đợchởng cả, sau ba năm họ mới phải nạp thuế cho chúa Nguyễn

Trang 19

Ngời dân ở Cự Tài, Phụng Du, Tấn Thạnh còn kể chuyện nh sau: ÔngLớn cho ngời ở xứ Bắc vào đây cùng với ngời dân sở tại khai phá nên nhiềuvùng đất đai phì nhiêu, tạo lập nhiều thôn ấp trù phú, đất ở các thôn này đều

là đất của Ông Lớn cả…

Dấu tích đờng giao thông, con sông đào tới tiêu và hệ thống “hốc”chứa nớc tới ruộng ở Hoài Hoả cũng nh ở nhiều xã khác thuộc huyện HoàiNhơn đều đợc Ông Lớn khai mào, khởi sự

Các cụ ở Cự Tài tâm niệm rằng: ông Lớn thờng khuyên răn, khích lệcon cháu họ Đào và nhân dân trong xứ chuyên cần khai điền, lập hộc, musinh, chăm lo học hành, vui hoà giúp nhau, tránh điều lỗi đạo Ông còntruyền dạy cách múa hát cho con cháu, nhất là hát bội và đánh bài chòi; việctập võ, luyện côn để hộ thân, trừ tặc cũng đợc ông Lớn khuyên dạy hết lòng

Còn có rất nhiều giai thoại với các tình tiết khá ly kỳ về ông Chẳnghạn nh: Đào Duy T từng khuyên con cháu họ Đào cùng nhân dân sở tại nêntránh với đạo nghĩa là

Giao bất giao Tam Quan chi hữu, Tửu bất tửu Bồ Đề chi xứ,

Thú bất thú An Dũ chi thệ Tụng bất tụng Binh Đê chi xứ ”

Nghĩa là:

- Không nên giao thiệp với những ngời bê tha, kiêu bạc, xảo trá, nhất làngời Hoa Kiều ở Tam Quan

- Không nên nhiễm phải hủ tục nát rợu ở xứ Bồ Đề

- Chớ có giao ớc kết đôi với những ngời phụ nữ bất chính ở An Dũ

- Đừng bắt chớc thói kiện tụng vô cớ của những ngời xấu bụng ở xứBình Đê

Còn rất nhiều giai thoại về Đào Duy Từ gắn liền với công cuộc khaihoang vỡ đất ở Đàng Trong nói chung và ở vùng Hoài Nhơn ( Bình Định) nóiriêng Chính bởi công lao ấy của ông mà ngày nay nhân dân ở nơi đây đã lậpnhiều đền thờ ông cùng với cả gia tộc của Đào Duy Từ

Trang 20

Đối với mỗi ngời chúng ta, quê hơng có một ý nghĩa rất lớn bởi vì quêhơng không chỉ tạo ra ý chí, nghị lực, ớc mơ mà nó còn nuôi dỡng và chắpchánh ớc mơ cho mỗi con ngời Đối với Đào Duy Từ điều này càng đúng vàcàng có ý nghĩa to lớn Bởi vì điều đó mà Duy Từ rất có trách nhiệm đối vớicả nơi sinh ra mình cũng nh nơi ông đã từng trú ngụ trớc khi trở thành mộtkiệt xuất anh tài.

Là một nhân vật tiếng tăm lẫy lừng và cũng là một con ngời bình dị,trong ông cũng có lòng chắc ẩn, cũng có những tâm sự, cũng có một gia

đình, một dòng tộc với những mối quan hệ đan xen

1.2 Đào Duy Từ và quan hệ gia tộc.

Trớc hết, chúng ta tìm hiểu Đào Duy Từ qua hai bản gia phả dòng họ

Đào Hai bản gia phả này đang đợc lu giữ, bảo quản tại nhà bảo tàng của tỉnhBình Định

Vì Bình Định là vùng diễn ra chiến tranh ác liệt, cho nên đền thờ của

Đào Duy Từ hầu nh bị h hại hoàn toàn Theo ngời trong dòng họ cho biết,

tr-ớc đây còn lại khá nhiều sách vở của ông, nhng do chiến tranh sách vở bịcháy hầu hết, duy còn lại hai cuốn gia phả của dòng họ hầu nh nguyên vẹn

- Cuốn thứ nhất chép gia phả họ Đào từ trên xuống, niên hiệu Tự Đứcnăm Đinh Sửu

- Cuốn thứ hai, cách chép cũng tơng tự, có bổ sung thêm niên hiệuThành Thái năm Tân Dậu

Nhìn chung, hai cuốn gia phả này đợc chép khá tỉ mỉ về xuất xứ củadòng họ Đào cùng các chi phái Dới đây là nội dung sơ lợc của hai bản giaphả này

Về mặt hình thức

Bản Tự Đức: Bìa ngoài bằng giấy bồi màu hồng, ruột bằng giấy bảncòn tốt Gia phả ghi bằng chữ Hán Nhiều chữ sửa chữa, có lẽ là do ngời viếtkhông chính xác Một số chữ lại đánh dấu móc, ngoặc lên ngoặc xuống, chuasang bên cạnh Cũng có thế những chữ đợc chữa hoặc chua thêm là do nhữngngời sau này khi trùng tu gia phả viết thêm vào Bản gia phả này bị mất một

Trang 21

số trang (không rõ bao nhiêu trang) ở phần giữa Phần còn lại dày 26 trang(không kể bìa), khổ 19cm x 29cm Trang đầu ghi: “Triều vua Tự Đức muônnăm soan tu gia phả Năm thứ 30 Đinh Sửu”[13] (tức là năm 1877).

Bản Thành Thái: Bìa ngoài bằng giấy bồi màu đen, ruột bằng giấy bản,còn tốt, chữ Hán có một vài tên riêng viết chữ Nôm ghi chép sạch sẽ Bản nàydày 41 trang (không kể bìa) khổ rộng 19cm x 29cm Trang đầu ghi “Triềuvua Thành Thái năm thứ ba tức là năm Tân Mão tháng hai ngày tốt làm việctrùng tu gia phả này”[13] (tức là năm 1891)

Cả hai bản gia phả đều chép giống nhau về các đời của họ Đào, trongcùng một khung niên đại:từ đời viễn tổ Đào Duy Trung đến mốc phụng tu giaphả Bản Tự Đức bị mất một số trang ở phần giữa- phần liệt kê những chiphái Bản Thành Thái do trùng tu trên cơ sở của bản Tự Đức nên văn cảnhsáng sủa, ghi chép cẩn thận đầy đủ sạch sẽ hơn Các chức tớc của Đào TáHán và Đào Duy Từ cũng đợc ghi đầy đủ hơn

Về phơng pháp soạn tu

Điều rất tiếc là cả hai bản đều thiên về liệt kê tên họ các chi phái theothế thứ (đời thứ mấy) mà không nói rõ vào năm nào, đời vua nào không nêuchi tiết những hành trạng, công danh của từng ngời, nhất là từ đời hiển bátthế tổ Đào Duy Phần trở về sau này Gia phả chủ yếu lấy Đào Duy Từ làm vịcao tổ và cũng chép kỹ các chi phái ở trong Nam, còn ở Tĩnh Gia lại không

cụ thể

Về nội dung của hai bản gia phả

Cả hai bản đều chia làm 4 phần Phần đầu đều ghi lý do của việc soạn

tu gia phả Sơ lợc lịch sử dòng họ: công danh, chức sắc của các ông từ viễn tổ

Đào Duy Trung đến hiển thuỷ tổ Đào Duy Từ

Theo các gia phả ấy ta đợc biết:

- Viễn tổ họ Đào là cụ Đào Duy Trung (làm con nuôi của ông Lê ĐạiLang) sinh ra ông Đào Tá Hán

- Đào Tá Hán và vợ là Nguyễn Thị Mạch sinh ra con trai là Đào Duy

Từ (không nói có anh chị em)

Trang 22

- Đào Duy Từ và vợ là Trinh Liệt phu nhân Cao Thị Nguyên sinh ra

Đào Duy Huệ và Đào Thị Hng

- Đào Duy Huệ đợc xem là ông tổ chín đời, lấy vợ là Nguyễn Thị Ânsinh ra Đào Duy Phần Ông Phần có 6 con sau thành các vị mở ra các chiphái họ Đào trong Nam Đào Thị Hng con gái Đào Duy Từ, sau này là vợ củaNguyễn Hữu Tiến, một võ tớng của chúa Nguyễn (do Đào Duy Từ tiến cử)

Gia phả có nói Đào Duy Huệ giữ chức ký lục ở Đàng Trong, đợc tớc

Du lĩnh hầu, nhng không nói hành trạng ra sao Tất cả về Đào Duy Từ theohai bản gia phả kể trên, chỉ đợc biết nh vậy

Riêng về tông phái ở Tĩnh Gia, gia phả có nói đến:

- Những ngời ngang vai với Đào Duy Huệ là các ông Đào Duy Chu,

Đào Duy Mỹ v.v

- Những ngời ngang vai (đều là tiên tổ cô) với ĐàoThị Hng là Đào Thị

Đỗ, Đào Thị Trâm v.v nhng không cho biết là quan hệ thúc bá nh thế nào

Về ông Đào Tá Hán, gia phả cũng không ghi rõ hành trạng Nhng có một chitiết đáng để ý Gia phả có ghi một vị tiên tổ bá làm chức Ty chánh ty giáo ph-ờng đợc tớc Mỹ Sơn bá nhng không rõ tên (?) Gia phả ghi: Nghi là ngời conkhác của hiển thuỷ tổ ở tỉnh Thanh, chỉ là ức đoán chứ không chắc chắn.Hiển thuỷ tổ chính là Đào Duy Từ Phải chăng ông Từ có con trai nữa làmviệc ở ty giáo phờng?

Phần kết thúc của hai bản gia phả khác nhau:

- Bản Tự Đức chỉ ghi:

+ Lý trởng Đào Duy Cảm nhận thực ký, áp triện

+ Phụng tu gia phả Đào Duy Vinh tự ký

+ Phụng tu gia phả: Giám phụng đội trởng Đào DuyThanh ký

- Bản Thành Thái ghi rất cụ thể những quy định của dòng họ nh: “Vềsau, ngời nào trong họ thuộc hệ nào không lo việc sản nghiệp, không hoàthuận trong họ hàng; hoặc dâm dục; hoặc nghiện thuốc phiện, say sa che rợu

cờ bạc, những hạng ngời nh thế nên xem là bất tiếu, sau khi chết không đợc

Trang 23

ghi tên thờ tự, khiến cho biết để răn bảo, thì đối với gia giáo không thế không

bổ ích vậy”[13]

Tiếp đó là ngày, tháng năm phụng tu gia phả; các trởng chi phái ký xácnhận, lý trởng xác nhận, đóng dấu; các đại diện của dòng họ nhận thực bằng

ký tên hoặc điểm chỉ; và cuối cùng là ngời chép gia phả ký tên

Những nội dung mà chúng ta biết đợc từ hai bản gia phả cho chúng tathấy rằng nó có những điều khác với một số tài liệu về Đào Duy Từ hiện

đang đợc lu hành Tất nhiên sẽ còn có nhiều ý kiến tranh cãi Thế nhng, thiếtnghĩ rằng: muốn tìm hiểu về Đào Duy Từ thì nên dựa vào gia phả của dòng

họ Đào, bởi vì gia phả sẽ phản ánh đúng nhất, sẽ giúp cho chúng ta tìm ramột phần nào đó sự thật về cuộc đời và con ngời của Đào Duy Từ

Trên đây là những nội dung cơ bản của dòng họ Đào, giúp cho chúng

ta biết đợc quan hệ dòng tộc của ông Thế còn nhà thờ chính của dòng họ

Đào thì nh thế nào?

Theo sử cũ, sau khi bị bệnh nặng Đào Duy Từ đột ngột qua đời ở tuổi

63 Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) thơng tiếc ông khôn nguôi, truy tặng

ông là “Hiệp niên đồng đức công thần đặc tôn Kim tứ Vinh Lộc Đại Phu” đa

về táng tại thôn Tùng Châu huyện Bồng Sơn, phủ Hoài Nhơn Nh vậy ngôi

đền thờ ông ở Tùng Châu (Ngọc Sơn) là khởi nguyên lịch sử Đến bây giờ nótrở thành nơi lu niệm tởng nhớ Đào Duy Từ cùng tổ tiên của ông

Đến viếng đền thờ Đào Duy Từ ở Tùng Châu xa (nay là Ngọc Sơn )chúng ta chỉ còn đợc chiêm ngỡng dấu tích cũ gồm cổng tam quan, bờ thànhcổng (cũng bị đổ) Do chiến tranh, từ đờng đã bị tàn phá ngiêm trọng, khuônviên hầu nh bị xoá sạch Bớc qua cổng tam quan là một tấm bình phong cótrạm hình hổ, kèm theo cây tùng, phía ngoài cổng có đề hai câu:

Quốc công môn tự ( cổng đền thờ Quốc công )”và: “Khai quốc công Nguyên huân

(Quốc công là ngời mở nớc đầu tiên.)

Tiếp đến là hai câu đối nhng rất tiếc vì quá mờ nên không đọc đợc Tạibức bình phong có đề câu:

Trang 24

Bách thế bất di ”

(Trăm đời không di dịch)

Hai bên là đôi câu đối ca ngợi công tích của Quốc công:

Ngọc Sơn chung tứ Bắc Bồng lãnh hiển danh Nam ”Tạm dịch: (Tiếng chuông Ngọc Sơn vang đất Bắc

Danh hiển vinh Bồng Sơn rạng đất Nam).

Bớc vào trong cùng ta sẽ đợc chứng kiến dấu vết cũ của đền là hai câu

đối nữa, nhng đáng tiếc chữ đã mờ Ngày nay đền đã đợc dựng mới lại Song,chứng kiến những dấu tích cũ còn lại tại đền đã giúp ta liên tởng tới một thời

xa xa hơn 400 năm trớc, Đào Duy Từ một danh nhân toàn tàivới nhiều cốnghiến làm rạng danh non nớc đã đợc dân nơi đây hết lòng ngỡng vọng Mộtpho truyện kể truyền ngôn về tài đức Đào Duy Từ đợc lu giữ trong tâm thứcdân gian nơi đây vẫn rọi sáng mãi nét đẹp truyền thống dân tộc

Rời đền Đào Duy Từ tại Tùng Châu, du khách sẽ tiếp tục về với Cự Tài

để vãn cảnh đến Lớn- ngôi đền thứ hai thờ Đào Duy Từ trên đất Hoài Nhơn

Cự Tài- một miền quê trù phú, có suối lớn nớc chảy trong veo, dừa xanh ngảbóng đung đa Đền Lớn đợc khởi dựng vào năm 1880, đến năm 1916 lại đợctrùng tu Tiếc thay thời Mỹ- Nguỵ đền bị huỷ diệt và sau năm 1975 mới đợcphục dựng trở lại và đồng thời nơi đây trở thành nơi thờ chính Đào Duy Từ vàdòng họ của ông

Nghi thức cúng tế ở nhà thờ Cự Tài rất tôn nghiêm, trang trọng Vàodịp giỗ Đào Duy Từ (ngày 17/10) hàng năm, con cháu nội, ngoại họ Đào đềunghỉ việc đồng áng trong ba ngày để chuẩn bị chu đáo cho ngày giỗ và đếnthăm viếng đông đủ đầm ấm

Nét đặc thù trong ngày giỗ này là khi cúng giỗ xong, con cháu họngoại (nhất là họ Trần và họ Nguyễn) bao giờ cũng đợc u tiên ăn cỗ trớc, thứ

đến là các cháu nhỏ tuổi rồi đến các cụ già, phụ nữ, sau cùng là các tráng

đinh nội tộc Bởi lẽ hai họ Trần, Nguyễn là những dòng họ đã bao đời nay kết

Trang 25

nghĩa cùng họ Đào, lại ở xa đến, nên đợc lu tâm quí mến đặc biệt Các cụthuộc họ Đào ở Cự Tài vẫn thờng nói: “tam tộc giao tâm ngãi cửu dật”, nghĩalà: Tình nghĩa ba họ Đào- Trần- Nguyễn vĩnh viễn kết giao.

Mỗi khi tế tự nh vậy, con cháu họ Đào luôn cúng phối hợp Đào Duy

Từ với cha mẹ và vợ ông, cả bố vợ, con rể

Tất cả các di tích thờ Đào Duy Từ có liên quan đều phải đến nhà thờlớn của họ Đào ở Cự Tài để làm lễ bái vong tạ ơn Đào Duy Từ, rồi mới đợcnghênh rớc ông về từ đờng khác, sau đó lại rớc trả ông về nhà thờ trung tâmnói trên

Tại nhà thờ trung tâm ở Cự Tài, hàng năm có sáu lệ cúng: cúng giỗ vàongày 17 tháng 10; cúng vào ngày Đông chí; chạp mả (tảo mộ đầu xuân) vàongày 17 tháng giêng (tiết Xuân Thu); cúng vào tiết Thanh Minh; cúng vào tếtTrung nguyên (rằm tháng Tám) và cúng vào dịp tết Nguyên đán

Về vật cúng ở nhà thờ lớn của họ Đào ở Cự Tài, ngoài tam sinh (trâu,lợn, dê) đem thui, làm sạch, đặt cúng cả con, họ Đào còn qui định chặt chẽthủ tục làm các loại bánh dâng cúng Ông Lớn (chính là Đào Duy Từ), nhất làbánh ít và nhất thiết phải có bình hoa, nhãn quả (cúc đại đoá và chuối)

Còn ở quê hơng, nơi sinh ra ông: Tĩnh Gia- nay chỉ còn lại vẻn vẹn một

đám đất to cao, cây cối rậm rạp Đám đất này đợc truyền lại từ đời này sang

đời khác là mộ tổ họ Đào Mộ tổ ở khu vờn Vải, vờn rộng mang tên Bà Vải(Trịnh phu nhân?) Mộ ở phía trớc và giữa hai cái đình có hai cây gạo Vềdòng họ, ở làng Nỗ Giáp con cháu họ Đào nay không còn ai Đây cũng là

điều dễ hiểu trong hoàn cảnh Đào Duy Từ theo phò giúp chúa Nguyễn thì họhàng phải trốn đi khỏi quê hơng, hoặc đổi họ mới có thế tồn tại đợc

Vì vậy mà chúng ta thấy rằng, ở Tùng Châu chỉ là nơi lu niệm tởng nhớ

Đào Duy Từ cùng với cha mẹ, tổ tiên ông Việc thờ phụng dòng họ Đào là ở

Cự Tài Năm 1916, họ Đào đã bàn bạc, đồng tâm thuận ý trùng tu đền chínhtại thôn Cự Tài, thuộc xã Hoài Hảo tổng An Sơn huyện Bồng Sơn phủ HoàiNhơn và chuyển giao vĩnh viễn việc giám phụng, tế tự nói trên cho con cháu

họ Đào ở Cự Tài

Trang 26

Từ những điều phân tích ở trên chúng ta có thể khẳng định rằng, giaphả bao giờ cũng là tài liệu đáng tin cậy nhất khi tìm hiểu về cuộc đời của

Đào Duy Từ Thế nhng cho tới ngày nay thì cuộc đời của Đào Duy Từ cũng

nh con ngời ông vẫn còn đang tồn tại những dấu hỏi lớn mà chúng ta cầnphải tháo gỡ

1.3 Một số tồn nghi về Đào Duy Từ qua việc tìm hiểu thân thế của

ông.

Đào Duy Từ là một nhân vật có tiếng tăm trong lịch sử, sống cách ngàynay trên 400 năm, cho nên việc tìm hiểu về thân thế và hành trạng của ônggặp nhiều hạn chế về mặt sử liệu

Có lẽ tác phẩm th tịch đầu tiên ghi chép về Đào Duy Từ là bộ Namtriều công nghiệp diễn chi hay còn có tên là Trịnh- Nguyễn diễn chí doNguyễn Khoa Chiêm soạn vào năm thứ 22 đời chúa Minh Vơng (1719) ở

Đàng Trong Tác phẩm này là bộ tiểu thuyết lịch sử, phản ánh giai đoạn lịch

sử trong khoảng 130 năm từ 1558 – 1689 (tức là từ Nguyễn Hoàng đếnNguyễn Phúc Trân) Đây là tác phẩm đầu tiên ghi chép khá kỹ về tiểu sử,hành trạng của Đào Duy Từ và cũng chính từ nguồn t liệu này, nhiều cuốnsách đợc viết vào cuối Lê trung hng (1593- 1786) và đầu Nguyễn đã có thếphác hoạ một chân dung khá đa dạng về nhân vật lịch sử này

Đến cuối thế kỷ XVIII, trong Phủ biên tạp lục, bằng lối ghi chép cụ thể

và sử bút nghiêm cẩn của mình, Lê Quý Đôn đã làm hiện rõ sự nghiệp nhiềumặt của Đào Duy Từ, thông qua những trang chép trực tiếp về ông hoặc giántiếp qua các chính sách mà chúa Nguyễn thực hiện ở Đàng Trong

Vào thế kỷ XIX, việc ghi chép và nghiên cứu về Đào Duy Từ có bớctiến đáng kể Các sử thần triều Nguyễn ở thế kỷ XIX đánh giá rất cao cônglao của ông trong việc giúp các chúa Nguyễn mở mang, củng cố bờ cõi Từ

bộ Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam thực lục tiền biên đến Đại Namnhất thống chí đều ghi chép tơng đối kỹ hành trạng của Đào Duy Từ

Và gần đây nhất, trong cuộc hội thảo khoa học (1993) về danh nhânvăn hoá Đào Duy Từ, kỷ niệm 420 năm năm sinh của ông tổ chức tại Thanh

Trang 27

Hoá Đã có rất nhiều ý kiến tham luận về cuộc đời cũng nh sự nghiệp của

Đào Duy Từ Có những thời điểm về cuộc đời ông đã đợc thống nhất thế

nh-ng có nhữnh-ng thời điểm thì vẫn cha thế thốnh-ng nhất đợc, phải tồn nh-nghi

Bởi vì vậy mà trong tầm hiểu biết còn hạn chế của khoá luận tốt nghiệpnày, tôi không có tham vọng nêu lên nhiều vấn đề, chỉ xin trình bày một sốsuy nghĩ trên các mặt sau:

Trớc hết là về hoàn cảnh xuất thân của Đào Duy Từ Đào Duy Từ tự làLộc Khê, sinh năm 1572, tại làng Hoa Trai, xã Vân Trai, huyện Ngọc Sơn,phủ Tĩnh Gia, nay là làng Nỗ Giáp, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia

Thân phụ của ông là Đào Tá Hán, vốn là một kép hát trong triều đìnhvua Lê Anh Tông (1557-1573) Thân mẫu ông, có nhiều giả thuyết cho là bà

Vũ Thị Kim Chi, song gia phả họ Đào ở xã Hoài Phú, huyện Hoài Nhơn, tỉnhBình Định, lập vào năm Thành Thái thứ ba (1891) thì lại ghi mẹ của ông làNguyễn Thị Mạch (gia phả không ghi quê quán của bà) Tơng truyền bà làngời làng Mỹ Du Sa, xã Mỹ Dự, tổng Duyên La, huyện Ngọc Sơn Nay làlàng Se, xã Xuân Lâm, huyện Tĩnh Gia, cách làng Hoa Trai khoảng 3km vềphía Tây Nam Làng Mỹ Du Sa thời trớc là nơi rất thịnh về nghề hát ả đào

Có lẽ vì bố là kép hát, mẹ lại giỏi nghề ca hát nên đã góp phần hình thành tàinăng văn chơng, nghệ thuật hát bội và ca múa của ông sau này

Còn về năm sinh, năm mất của Đào Duy Từ thì tác giả “Nam triều khaiquốc công nghiệp diễn chí” đã viết nh sau: Năm Giáp Tuất (1634) Đào Duy

Từ mất thọ 63 tuổi Chính nhờ nhóm chữ “thọ 63 tuổi” đợc dịch từ câu “niênlục thập hữu tam” [1], mà từ đó chúng ta có thể suy ra năm sinh của ông là

1572, vì tất cả sử sách không thấy ghi năm sinh của Đào Duy Từ Nh vậy là

về năm sinh, năm mất của Đào Duy Từ không có thắc mắc gì mà hầu nh tấtcả các ý kiến đều thống nhất ông sinh 1572 và mất 1634

Theo những lời truyền văn thì từ nhỏ Đào Duy Từ có khiếu thôngminh, học giỏi Cha mất sớm, mẹ ông tần tảo nuôi con Bà đã phải ép lòng,nhận lời sẽ lấy viên xã trởng để đợc yên thân chăm sóc con mình Bà hứa làsau khi Đào Duy Từ công thành doanh toại thì bà mới chính thức cải giá Nh-

Trang 28

ng triều đình nhà Lê lúc này tra xét, biết Đào Duy Từ con nhà phờng chèonên không cho Từ đi thi Cũng có thuyết nói rằng: Từ đi thi đã đỗ á nguyên

kỳ thi hơng, nhng rồi bị phát hiện lý lịch nên kết quả thi bị xoá bỏ Vấn đềnày cho đến nay vẫn còn tranh cãi nếu đúng Đào Duy Từ có đi thi, thì thi ở

đâu? Vào năm nào? Tính từ khoảng 1588 là lúc Đào Duy Từ 16 tuổi đến

1593 lúc ông 21 tuổi nhà Lê mở bao nhiêu khoa thi hơng không rõ Về thihội, mãi đến 1593 vua Lê Thế Tông mới chính thức về Thăng Long yên ổn,chấm dứt giai đoạn phân tranh Nam- Bắc triều, còn thì đều thi ở Thanh Hoá.Năm 1580, bắt đầu thi hội, Phùng Khắc Hoan đỗ, rồi từ đó cứ ba năm mộtlần thi hội Trờng thi cha biết chính xác là ở đâu vào những năm nào Song

dù có biết chắc, cũng không thể biết Đào Duy Từ có đi thi hay không? Việchọc hành thi cử không xác địng đợc, và cả bình sinh của Đào Duy Từ trongthời gian này cũng không rõ, chỉ có thể đoán chắc là, ông có thời gian đọcsách và thu hoạch nhiều Các ông Dơng Tụ Quán, Bùi Văn Lăng trong cuốn

“Đào Duy Từ lịch sử và thơ văn” và “ Lịch sử Đào Duy Từ ” đều nói ông cóhọc ở Chiêu Văn Quán, nhng không rõ căn cứ vào đâu Con nhà phờng chèo

đã không đợc đi thi, làm sao mà vào Chiêu Văn Quán đợc? Vì nếu chiếu theotiêu chuẩn vào Chiêu Văn Quán ghi thong Trị binh bảo phạm thì Đào Duy từkhông thể có đủ tiêu chuẩn Chỉ có thể đoán rằng, ông có ra Thăng Long vàtrớc khi vào Nam, đã có thời gian trú ngụ lâu ở kinh đô Vậy bắt đầu từ khi

đến tuổi trởng thành ( là khoảng năm 1592) cho đến trớc khi gặp đợc chúaNguyễn Phúc Nguyên thì Đào Duy Từ đã làm gì? ở đâu? Và bạn bè của ông

là ai?

Trong thời gian này, bạn bè của Đào Duy Từ là ai, cũng không rõ Chỉ

có cuốn “Tang thơng ngẫu lục” của hai tác giả Phạm Đình Hổ và Nguyễn ánnói ông thân vói Lê Thời Hiến và đã kể một giai thoại rất ý vị giữa hai ngời:

“Chàng Năm (chỉ Đào Duy Từ) có ra kinh đô (Hà Nội ngày nay) học ở ChiêuVăn Quán ở đó Lê Thời Hiến đã làm quen với chàng Năm Vì chàng Năm đã

mồ côi cả cha lẫn mẹ và rất nghèo nên Lê Thời Hiến thờng phải đi ăn trộmcủa ngơì khác đế chu cấp cho chàng Năm Khi chàng Năm đem ý địng trốnvào Đàng Trong theo chúa Nguyễn bàn với Lê Thời Hiến và rủ Hiến cùng đi

Trang 29

thì Hiến không theo nhng cũng không ngăn cản Thế rồi họ chia tay nhau ởtrạm Hoàng Mai Lê Thời Hiến còn kịp lấy trộm hai lạng bạc cho chàng Nămlàm lộ phí Chàng Năm rất cảm động và ghi nhớ ơn của Lê Thời Hiến Vềsau, để đáp lại ơn xa, khi biết tin Lê Thời Hiến đợc thăng làm Đốc trấn, Từbèn thu binh lui về, đa th xin trả những đất đã lấn, tự xng là Nam phiên Ông

Lê Thời Hiến dâng th về triều xin ng cho, từ đó Nam Bắc nghi binh,nhân dân Châu Hoan, Châu Diễn đợc yên ổn mà sống ông Lê ở trấnhơn mời năm, trong địa hạt đợc vô sự, tiến phong Thái uý Hào quậncông, khi mất đợc tặng tớc vơng ”[9]

Nghe câu chuyện trên, chúng ta thấy thật cảm động thế nhngchúng ta cũng cần phải xem xét lại mức độ chính xác của câu chuyện.Bởi vì giữa Lê Thời Hiến và Đào Duy Từ có sự chênh lệch tuổi tác quálớn Lê Thời Hiến sinh khoảng năm 1610, trong khi Đào Duy Từ sinhnăm 1572, hơn Lê Thời Hiến tới vài chục tuổi, thì liệu có một tình bạn

“tôi với bác” vong niên quá chênh lệch nh thế đợc không?

Còn việc Đào Duy Từ trả ơn cho Lê Thời Hiến thì chúng ta càngthấy vô lý Theo dõi tiểu sử của Lê Thời Hiến, ta biết bắt đầu từ năm

1657 là thời kỳ của ông nổi bật trong các trận đánh giải phóng 7 huyệncuả Nghệ An Trong khi đó Đào Duy Từ đã mất hàng 30 năm Vậy làmsao có chuyện Đào Duy Từ trả ơn cho Lê Thời Hiến đợc?

Và hơn nữa Đào Duy Từ vì là “con nhà hát xớng” nên không đợc

đi thi làm gì có chuyện vào Chiêu Văn Quán Vậy thì làm sao Đào Duy

Từ có thể gặp đợc Lê Thời Hiến? Trong thời gian này Đào Duy Từ làmgì ở đâu?

Có thuyết nói rằng Đào Duy Từ không chỉ bị trục xuất khỏi trờngthi mà còn bị kết tội là man khai lý lịch nên bị sung quân đi đánh giặcMạc Và trong trận mạc Đào Duy Từ đã gặp đợc Nguyễn Hoàng, bởi vìtrong thời gian này Nguyễn Hoàng đang giúp vua Lê dẹp quân nhà Mạc.Thế nhng việc này chúng ta cũng rất khó khẳng định? Bởi vì nếu đúng

nh Đào Duy Từ có gặp đợc Nguyễn Hoàng thì chắc chắn với tiếng tăm,nhân cách của Nguyễn Hoàng sẽ tác động lớn đến Đào Duy Từ, ông sẽ

Trang 30

tìm mọi cách để đi theo Nguyễn Hoàng.Và nếu sau đó Đào Duy Từ vàoNam luôn thì rõ ràng tình bạn giữa ông và Lê Thời Hiến là không tồntại Còn nếu nh quả thực giữa Đào Duy Từ và Lê Thời Hiến có một tìnhbạn thì rõ ràng việc Đào Duy Từ gặp Nguyễn Hoàng cần xem xét lại.Nói chung tất cả mời chỉ ở trong giả thuyết chúng ta cha có chứng cứ cụthể để xem giả thuyết nào là đúngvà giả thuyết nào là sai?

Cũng trong thời gian đó (cuối thế kỷ XVI- đầu thế kỷ XVII) trong

địa hạt văn chơng, cũng ít ngời có khả năng đã giao tiếp với Đào DuyTừ.Nguyễn Bỉnh Khiêm là bậc thầy mất năm 1585, khi Đào Duy Từ mới

13 tuổi Ngay cả Phùng Khắc Khoan, ông Trạng Bùng sinh năm 1528,mất năm 1613, mãi đến 1627 thì Đào Duy Từ mới thành quan Nội tán

Nh vậy, giai thoại kể rằng Phùng Khắc Khoan đã giải thích mấy chữ “dbất thụ sắc” trong chiếc mâm đồng hoàn toàn h cấu (vì ông mất đợc 17năm thì sự kiện trả sắc mới xảy ra (1630))

Quay trở lại với thời điểm và kế hoạch vào Nam của Đào Duy Từ

là vấn đề còn phải nghiên cứu Nếu nh khi đang ở ngoài Bắc, Dào Duy

Từ đã gặp đợc Nguyễn Hoàng và sau đó ông vào Nam luôn Và cứ chorằng khi ông vào đến Thuận Quảng thì Nguyễn Hoàng đã mất (1613)

Ông lại phải ẩn dật để tìm hiểu thêm thời thế Thế nhng dù ở ẩn thì mộtcon ngời vốn dĩ thông minh chắc chắn sẽ sớm bộc lộ mình, cho nên ĐàoDuy Từ không thể chờ tới 14 năm sau, đến năm 1627 thì mới bộc lộmình Và giả sử Đào Duy Từ đã tìm đến Trần Đức Hoà để nhờ cậy thìKhám lý Trần Đức Hoà cũng không thể “cất giấu ” Đào Duy Từ lâu nhvậy?

Và cũng có ý kiến cho rằng mãi tới năm 1625, khi đã bớc sangtuổi ngũ tuần thì ông mới vào Nam? Có thể Duy Từ không vào Nam liềnsau năm 1592 vì nhiều lý do, trong đó có chuyện vớng bận thê hoa, màphải dằng lòng đợi đến 33 năm sau - năm Vĩnh Tộ thứ 7, ất Sửu (1625),mới vào Nam nh Đại Nam thực lục tiền biên và Công nghiệp diễn chí đãchép Bấy giờ ông đã 53 tuổi con cái đã trởng thành, ngời con trai trởng

đã có thể nối nghiệp cầm ca thế chân ông nội mà làm việc ở ty Giáo

Trang 31

ph-ờng (cơ quan tổ chức và quản lý các đội nữ nhạc của triều đình nhàLê),ngời con gái Đào Thị Hng thì cũng chẳng nhỏ nhít gì nên bốn nămsau (1631) kết duyên cùng võ tớng đồng hơng là Nguyễn Hữu Tiến

Khi nói về việc Đào Duy Từ vào Nam các sách thờng cho rằng do ông

“ phẫn chí”, bất mãn về việc đi thi với nhà Trịnh nên đi theo chúa Nguyễn.Nói nh vậy cha phản ánh hết đợc bản chất của Đào Duy Từ – một con ngời

đầy ý chí và tài năng Nếu nói là “bất mãn” về việc đi thi thì sao ông không

ra đi ngay mà mãi 33 năm sau mới ra đi? Về vấn đề này chúng ta sẽ bàn tiếp

ở phần sau: Khi tìm hiểu nhân cách của Đào Duy Từ

Vậy khi vào Nam, Đào Duy Từ đã có vợ cha? Câu hỏi tởng nh khôngnên đặt ra, nhng lại là một sự cần thiết Vì ta biết, sau này ông có con gái gảcho Nguyễn Hữu Tiến thì sớm nhất cũng là năm 1611 hoặc 1612 ngời congái này đã phải ra đời thì mới đủ tuổi để lấy chồng Nếu dự đoán nh vậy thì

Đào DuyTừ phải làm rể Trần Đức Hoà vào thời gian đó Nếu mà ngời con gáikhác thì phải từ Bắc theo vào hoặc là con một bà vợ khác ở trong Nam

Theo sự ghi chép của sử sách xa cũng nh gia phả thì chúng ta thấyrằng:

Theo gia phả họ Đào thì ghi rõ bà Cao Thi Nguyên là vợ của Đào Duy

Từ - đây là một tài liệu đáng tin cậy

Theo sử sách ( kể cả chính sử và dã sử) đều ghi chép rằng bà Trần Thị(con gái của khám lý Trần Đức Hoà) là vợ của Lộc Khê hầu

Vậy sự thật ai là vợ của Lộc Khê hầu? Hay ông lấy hai vợ? Nếu thế ai

là vợ cả? ai là vợ hai? Ông có con với bà nào?

Có lẽ ông lấy cả hai bà, bởi vì nếu dựa vào gia phả thì chắc bà Cao ThịNguyên là vợ của ông Mặt khác, theo các tài liệu khảo sát, điền dã đã xác

định:tại xã Hoài Thắng, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, hiện còn “chùa bàTrần Thị ” (theo cách gọi của dân địa phơng ) thờ bà Trần thị, là vợ của ĐàoDuy Từ ở cổng đền còn có biển đề “Quốc công phu nhận tự ” Đền nằmcách từ đờng họ Đào thờ Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khoảng 300 m về phía

Đông Và theo con cháu nhà họ Đào hiện đang coi sóc việc tế tự ở từ đờng

Trang 32

này thì bà Trần Thị vì không có con nên phải đi tu Khi bà mất, dòng họ thờ

bà ngay tại nơi bà đã tu Gia phả không ghi tên bà cũng vì lẽ đó

Ngoài ra, con cháu họ Đào hiện tại ở Hoài Thắng cũng cho biết khônghiểu từ bao giờ tại vùng này trai gái của hai họ Trần - Đào không đợc lấynhau, phải coi nhau nh anh em ruột thịt Tục lệ này đến nay vẫn còn tồn tại.Phải chăng cuộc nhân duyên của thuỷ tổ Lộc Khê hầu với bà Trần Thị không

“đơm hoa kết trái” đã trở thành một cái “dớp”, một tiền lệ nên sau này dòng

họ Đào quy thành điều cấm kỵ?

Từ việc xác định rằng Đào Duy Từ lấy hai vợ thì chúng ta thử xem ai là

vợ cả, ai là vợ hai?

Theo các nguồn t liệu thì có nhiều khả năng bà Cao Thị Nguyên là vợcả, bởi vì: Trong gia phả họ Đào cả hai bản đều ghi rõ: “ đều là ở tỉnhThanh, phủ Tĩnh Gia, huyện Ngọc Sơn, thôn Nỗ Giáp, Thổ Sơn thợng ”[13]

Nh vậy, Đào Duy Từ và vợ- bà Cao Thị Nguyên- đều là ngời ở Tĩnh Gia,Thanh Hoá Ông đã lấy bà Cao Thị Nguyên trớc khi vào Đàng Trong

Và theo các tài liệu chính sử và dã sử, đa số đều cho rằng Đào Duy Từvào Đàng Trong năm 1625 Năm 1627 gặp Trần Đức Hoà, đợc ông gả congái cho và tiến cử lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên Các tài liệu này cũngnói Đào Duy Từ cũng đã gả con gái cho Nguyễn Hữu Tiến nhng không nói rõ

là con của bà vợ nào

Chúng ta có thế tin rằng năm ông đợc tiến cử là 1627 có khả năng tincậy cao, vì các tài liệu viết về sự kiện này đều thống nhất Giả sử năm 1627

ông mới lấy vợ (hoặc sớm nhất là 1625 ông lấy bà Trần Thị) thì đến 1631liệu ông đã kịp có con gái với bà họ Trần ở tuổi trởng thành để gả choNguyễn Hữu Tiến cha? Điều đó chứng tỏ, gia phả họ Đào đã ghi đúng: ĐàoThị Hng là con của Đào Duy Từ và bà Cao Thị Nguyên- vợ cả

Từ việc xác định bà Cao Thị Nguyên là vợ cả, sinh con với Lộc Khêhầu Vậy khi vào Nam ông có đa vợ và con vào không? Có khả năng là lúc

đầu Đào Duy Từ đã vào Nam một mình, vợ và con của ông chỉ vào khi ông

đã ổn định cuộc sống ở Đàng Trong, khi ông đã làm quan Bởi việc ông ra đi

là đi trốn, ẩn dật phiêu dạt đế tìm hiểu phong thổ, tình hình xã hội, tìm “minh

Trang 33

chủ” đế phò tá, nên ông khó có thế kéo cả “bầu đoàn thê tử” đi theo Mặtkhác, các tài liệu chính sử, dã sử, dân gian cho đế nay đều nhắc tới sự kiện

ông giả làm ngời câm điếc, đi ở chăn trâu v.v đó là những việc làm khôngphải là của ngời khi có cả một tổ ấm ở bên cạnh

Từ những điều trình bày và phân tích ở trên thì chúng ta thấy rằng hầuhết các giai thoại đã kể, sử sách đều đã ghi nhận Đào Duy Từ sinh năm 1572,

đi thi năm 1592và sau đó làm bạn với Lê Thời Hiến, vào Nam năm 1625, ralàm quan với chúa Sãi năm 1627, xây luỹ Trờng Dục năm 1630, xây luỹ Nhật

Lệ năm1631, lấy vợ rồi gả con gái và mất năm 1634

Trong các niên đại ấy, có một số niên đại dờng nh đã đợc khẳng định,chẳng hạn nh năm sinh, năm mất, rồi việc ông đợc chúa Sãi trọng dụng vàonăm 1627, hai thời điểm xây luỹ ở Quảng Bình (1630, 1631) thì có lẽ đó là

sự thật, vì trong những năm thuộc thập kỷ 20 ấy, có một loạt sự kiện lịch sửmang tính chất đối kháng khi âm thầm, khi công khai giữa hai thế lực Trịnh-Nguyễn đã lần lợt diễn ra rất ăn khớp với nhau và với cuộc hội ngộ rất tơng

đắc giữa chúa Sãi và Đào Duy Từ năm1627 Còn các niên đại nh ông đi thi(1592?), bạn của Lê Thời Hiến, vào Nam (1625?), lấy vợ (1626?), gả con(1631?) thì các t liệu nói khác nhau và chính các niên đại ấy cũng có vẻ mấuthuẫn lẫn nhau, hiện nay chúng ta thiếu những cứ liệu chíng xác để lý giảimột cách lôgíc, nên phải để “dĩ nghi tồn nghi”

Dẫu rằng cuộc đời có lắm tai ơng nh vậy nhng Đào Duy Từ với mộtnghị lực phi thờng đã vơn lên để khẳng định chỗ đứng của mình Và dẫu rằng

có những mốc thời gian trong cuộc đời của ông cha đợc làm sáng tỏ thế nhngnhững gì ông để lại cho đời, đặc biệt những cống hiến của ông đối với xứ

Đàng Trong ngày ấy- đó là điều chúng ta không thể phủ nhận Và tất cảnhững điều này đợc khẳng định qua sự nghiệp của Đào Duy Từ

Trang 34

Chơng 2.

2.1 Chính trờng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVII và vị trí của Đào Duy Từ.

Từ cuối thế kỷ XVI đến nửa thế đầu thế kỷ XVII, lịch sử Đại Việt rốiren phức tạp.Đào Duy Từ sinh vào nửa cuối thế kỷ XVI nhng hoạt động chủyếu của ông trong khoảng thời gian gần giữa thế kỷ XVII, lúc cuộc chiếntranh Trịnh- Nguyễn đang bùng nổ Cả cuộc đời 63 năm, sinh ra, lớn lên, tunghiệp, chỉ có một thời gian ngắn đợc hành đạo vào lúc cuối đời Tuy thôngminh, học rộng, hiểu biết nhiều nhng không đợc thi thố với đời nên ở ôngkhông có những nỗi trăn trở nh những kẻ sĩ khác Những sĩ phu đơng thời kẻ

đi theo nhà Mạc, ngời đến phò vua Lê, còn Đào Duy Từ phải ngậm đắng nuốtcay trong nỗi thất vọng vì là con nhà đào kép

Nhng ngay trong nỗi thất vọng ấy lại loé lên tia hy vọng khi nghe tincác chúa Nguyễn biết “chiêu hiền đãi sĩ” và ông đã tìm đờng vào Nam Đó làmột quyết định, nói lên sự hợp lẽ của ngời kẻ sĩ hành động Vì lúc đó khôngcòn con đờng nào khác, muốn ra giúp đời lại bị luật lệ Bắc Hà chặn đờng,con đờng duy nhất của ông là tìm vào phơng Nam

Bối cảnh ĐạI Việt lúc này đặt ra bao nỗi trăn trở cho nhiều kẻ sĩ hành

động nh kiểu Đào Duy Từ Ông đã tự mình quyết định đi vào phơng Namtrong hoàn cảnh lịch sử cực kỳ phức tạp Nhà Mạc bị thua chạy lên chiếm cứvùng Cao Bằng vẫn còn gây chiến, nhà Trịnh đã đón vua Lê trở về kinh thànhThăng Long (4/1593), chúa Nguyễn vẫn đang trấn trị ở vùng đất phía Nam

Từ khi vua Lê trở về Thăng Long, uy thế của họ Trịnh ngày một lớn Năm

1599 họ Trịnh bắy đầu đợc vua Lê cho phong tớc vơng, lập phủ chúa và đặtquan chức Trên thực tế, chính sự quyền bính Nhà nớc đều do chúa Trịnhquyết đoán, triều đình vua Lê chỉ là bù nhìn và phải đặt dới quyền điều khiểncủa họ Trịnh Trung tâm của chính quyền Nhà nớc không phải ở cung vua mà

Trang 35

ở phủ chúa Từ đây lịch sử Việt Nam bớc vào thời kỳ rối ren về thể chế chínhtrị- đó là thời kỳ vua Lê- chúa Trịnh.

Còn về dòng họ Nguyễn Sau 8 năm ra giúp vua Lê, Nguyễn Hoàngthấy nguy cơ bị Trịnh Tùng kiềm chế đã tìm đờng trốn về Nam nhân một vụxin đi đánh dẹp Nguyễn Hoàng ra Bắc từ khi vua Lê trở về Thăng Long đếnnăm 1600 mới đợc quay trở lại Thuận Quảng tiếp tục công việc của mình Đểcho yên chuyện và tránh sự nghi ngờ, Nguyễn Hoàng đã phải gả con gáiNgọc Tú của mình cho con trai Trịnh Tùng là Trịnh Tráng làm con tin.Từ đấy

bề ngoài tuy cha ra mặt chống chúa Trịnh nhng bên trong Nguyễn Hoàng hếtsức lo phòng bị Từ năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ vùng ThuậnHoá vì lúc ấy Nguyễn Hoàng đã nhìn thấy trớc nguy cơ đe doạ từ phía họTrịnh nên đã xin Trịnh Kiểm thông qua ngời chị gái Ngọc Bảo để đợc yênthân vào cai quản vùng đất này Sau bao năm yên ổn làm hậu thuẫn cho họTrịnh rảnh tay đối phó với quân nhà Mạc, Nguyễn Hoàng luôn gìn giữ đợcthái độ mềm dẻo thân thuộc với họ Trịnh, thì đến đây chiến sự tạm yên, nhàTrịnh đã thắng đợc nhà Mạc, vấn đề mâu thuẫn giữa họ Trịnh và họ Nguyễnlại nổi lên Hơn bốn mơi năm về trớc Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm (ngời đ-

ợc chính cha mình nâng đỡ) “thanh toán” sau khi giết anh trai mình, đã phảitìm nhanh lối thoát thì đến đây chính ngời cháu ruột Trịnh Tùng (gọi NguyễnHoàng bằng cậu) lại có ý ghen ghét không cho trở về Thuận Quảng, nênNguyễn Hoàng đã phải tìm cách để trốn về Nam

Từ khi Nguyễn Hoàng trở về Nam (1600) đến lúc Đào Duy Từ gặp đợcchúa Nguyễn mất khoảng 27 năm Hai bẩy năm tơng đối dài so với một đờingời nhng sử sách chỉ cho biết một cách đại thể về việc Đào Duy Từ tìm kếlập thân, từ ở ẩn, đến đi ở, cuối cùng ngời ta mới phát hiện ra tài năng của

ông và ông mới đợc gặp chúa Gặp đợc chúa để “hành đạo” cuộc đời ông đãbớc sang tuổi ngũ tuần, khi ấy Nguyễn Hoàng đã qua đời Quyền hànhchuyển sang tay con trai là Nguyễn Phúc Nguyên Tình hình Nam Hà lúc này

đã khác trớc Nếu nh trớc kia Nguyễn Hoàng còn dè dặt, che dấu ý định cát

cứ của mình thì đến đây sau bao năm khi cơ đồ đã xây dựng vững chắc, họ

Trang 36

Nguyễn mới tỏ rõ thái độ đối lập với họ Trịnh ở Bắc Hà Điều đó chứng minhmột sự thực là ngay giờ phút ban đầu của buổi trung hng con cháu NguyễnKim đã nhận ra chân tớng và không chấp nhận sự liên hiệp mong manh đầybất trắc của họ Trịnh nên đã tìm cách tạo dựng thế lực của mình ở phía Nam.Cho đến đây mâu thuẫn vốn có giữa hai dòng họ Trịnh và Nguyễn đã đạt tớicao diểm đi đến bùng nổ chiến tranh.

Đào Duy Từ xuất hiện vào đúng thời điểm này Ông đã chứng kiếntoàn bộ cuộc nội chiến ở giai đoạn đầu vào những năm 1627- 1633 Tất cả sựnghiệp của nhà Nguyễn thi hành từ đây trở đi đều bị sự chi phối của cuộc nộichiến tơng tàn này Trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến mà nguyên nhânsâu xa bắt nguồn từ mâu thuẫn nội tại giữa hai dòng họ Trịnh và Nguyễn,phần thắng thuộc về họ Nguyễn, trong đó đóng góp to lớn cho sự nghiệpquân sự của nhà Nguyễn ở Đàng Trong phải kể đến đầu tiên là công lao của

Đào Duy Từ

Ngay từ ngày đầu tiên gặp chúa, kể từ khi đợc Trần Đức Hoà dâng bài

“Ngoạ Long Cơng” Đào Duy Từ đợc chúa tiếp đón và trao ngay cho chứcNha uý Nội tán, tớc Lộc Khê hầu trông coi việc quân cơ trong ngoài và tham

lý quốc chính Từ đây chúa thờng với Đào Duy Từ vào cung bàn bạc việcchính sự Đợc gần chúa, Đào Duy Từ bày tỏ mọi điều, bàn bạc và giúp chúarất nhiều trong việc củng cố vơng triều mới

Kể từ sau trận tấn công lần đầu (1627) Trịnh Tráng rút quân về, vẫnbàn định tiếp tục tấn công chúa Nguyễn nhng do tình hình chiến sự ở ngoàiBắc cha thực hiện đợc ý định, năm 1629 Trịnh Tráng lấy danh vua Lê phái lại

bộ thợng th Nguyễn Khắc Minh đem sắc tiến phong chúa Nguyễn và yêu cầu

đem quân đến Đông Đô để đi đánh nhà Mạc ở Cao Bằng, nếu không sẽ đemquân đến đánh Trớc tình hình này, Duy Từ khuyên chúa nên nhận sắc để họTrịnh khỏi nghi ngờ, đợi khi chuẩn bị đợc lực lợng thì trả lại sắc vẫn chamuộn Thấy lời khuyên của Đào Duy Từ hợp tình hợp lý, chúa Nguyễn bèncho hậu đãi sứ Trịnh rồi sau đó cùng với Đào Duy Từ bàn việc đắp luỹ TrờngDục để phòng bị

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w