1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của nhật bản đối với đông nam á thời kì sau chiến tranh lạnh

62 1,5K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam Á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh
Tác giả Phan Thị Thanh Hiếu
Người hướng dẫn PGS- Ts. Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 205 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhật Bản và Đông Nam á trong suốtthời kỳ Chiến tranh lạnh, có thể thấy chính sách đối ngoại của Nhật với các n-ớc Đông Nam á thời kỳ này đã và đang đạt đợc

Trang 1

Trờng Đại học vinh

Khoa lịch sử -*** -

Phan Thị Thanh Hiếu

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại

của nhật bản đối với đông nam á

thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Trang 2

Phần A : Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại và phát triển cũng nh đểkhẳng định mình trên trờng quốc tế mà không thể không có những đối sáchngoại giao với các nớc bên ngoài Bởi thế, việc nhận thức đợc sự thay đổi củatình hình thế giới để có những điều chỉnh phù hợp là rất cần thiết

Từ cuối thập kỷ 80 đến những năm đầu thập kỷ 90, tình hình thế giới đã

có những chuyển biến lớn, tác động mạnh đến chính sách đối ngoại cũng nh

đối nội của nhiều nớc trên thế giới Đó là sự tan rã của Liên Xô và các nớc xãhội chủ nghĩa Đông Âu đã đa lại sự kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ củacuộc Chiến tranh lạnh Thế giới từ chỗ đối đầu về quân sự chuyển sang cạnhtranh kinh tế là chính, quyền lực kinh tế dờng nh trở nên quan trọng hơnquyền lực quân sự

Đặc biệt đáng chú ý nhất là khu vực châu á - Thái Bình Dơng thời kỳhậu Chiến tranh lạnh đang nổi lên nh một trung tâm phát triển kinh tế năng

động nhất trên thế giới Nhiều ngời đã gọi thế kỷ XXI là thế kỷ của châu á Thái Bình Dơng Trong khu vực này, phải kể đến Đông Nam á là một trungtâm đang ngày càng có vị trí quan trọng, cả về chính trị lẫn kinh tế Có thểthấy, trong hơn nửa thế kỷ qua khu vực Đông Nam á là nơi tập trung cao độcác mâu thuẫn của thời đại, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa thực dân, giữatiến bộ xã hội và phản động, giữa phát triển và lạc hậu, giữa chiến tranh vàhoà bình Đông Nam á luôn chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách

-đối ngoại của nhiều nớc, kể cả các cờng quốc nh Mỹ, Trung Quốc, Nga và đặcbiệt là Nhật Bản

Là một cờng quốc kinh tế trong khu vực, lại có những mối quan hệ sâurộng về lịch sử, kinh tế, văn hoá lâu đời với Đông Nam á, Nhật vẫn luôn coi

đây là một "sân sau", là khu vực thiết yếu gắn với sự sống còn và phát triểncủa mình Tuy nhiên, mức độ u tiên của yếu tố này trong chính sách đối ngoạicủa Nhật còn đợc điều chỉnh theo từng thời kỳ dựa trên lợi ích thực tế mà Nhậttheo đuổi

2

Trang 3

Xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhật Bản và Đông Nam á trong suốtthời kỳ Chiến tranh lạnh, có thể thấy chính sách đối ngoại của Nhật với các n-

ớc Đông Nam á thời kỳ này đã và đang đạt đợc những kết quả đáng kể, đápứng đợc phần nào lợi ích của cả hai bên Những thành công này đã góp phầncho hai bên ngày càng hiểu biết lẫn nhau hơn Mặt khác, trong bối cảnh quốc

tế mới, khi sự có mặt của các cờng quốc lớn tại khu vực Đông Nam á nh Mỹ,Nga đã và đang bắt đầu giảm đi thì nhân tố liên kết khu vực ASEAN tại đây

đang nổi lên, đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN, và ngày càngchiếm một vai trò quan trọng cả về chính trị lẫn kinh tế Trong khi đó NhậtBản đang trong quá trình lựa chọn chiến lợc hậu Chiến tranh lạnh để vơn lêntrở thành một cờng quốc toàn diện với sức mạnh chính trị tơng xứng với sứcmạnh kinh tế đã có, thì nhân tố Đông Nam á lại càng trở nên có ý nghĩa hơn

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á, lại là một thành viên của tổchức ASEAN, từ lâu cũng đã xây dựng đợc một mối quan hệ tốt đẹp với NhậtBản và đang phát triển thuận lợi

Vì vậy việc nghiên cứu chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam áthời kỳ sau Chiến tranh lạnh trong lúc hợp tác khu vực gia tăng là một yêu cầucấp thiết đối với Việt Nam Hơn nữa, việc nghiên cứu này cũng giúp Việt Nam

định ra một chính sách đối ngoại đúng đắn trong quan hệ ba bên giữa ViệtNam - Nhật - ASEAN trong bối cảnh mới

Chính vì thế, đi sâu vào tìm hiểu chính sách Đông Nam á của NhậtBản thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh là một vấn đề quan trọng trong quá trình họctập nhằm để củng cố thêm kiến thức cơ bản đồng thời đi sâu tìm hiểu thêm vềchính sách ngoại giao của Nhật Bản Xuất phát từ những lý do trên, tôi đi đến

chọn đề tài "Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông

Nam á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh" làm đề tài nghiên cứu của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm gần đây, do sự phát triển trong quan hệ hợp tác giữaNhật Bản và ASEAN ngày một tốt đẹp hơn cho nên nghiên cứu về đờng lối

đối ngoại giữa hai bên đã đợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc chú ýnhiều, một số công trình đã công bố nh:

3

Trang 4

Cuốn"Chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh”, NXB

KHXH, HN, 1999 Tác phẩm gồm 7 chơng chủ yếu trình bày về chính sách

đối ngoại chung của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh và quan hệ giữaNhật Bản với bên ngoài trong đó chính sách đối với Đông Nam á cũng đợctrình bày trên nhiều khía cạnh Đây là một tác phẩm rất có giá trị, nhất là vềphơng pháp đề cập vấn đề đợc chúng tôi tham khảo trên nhiều góc độ

Trong cuốn "Nhật Bản trên đờng cải cách", NXB KHXH, HN, 2004

của tác giả Dơng Phú Hiệp nhấn mạnh đến những diễn biến về kinh tế cũng

nh chính trị, an ninh của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh, trong đó có đề cập

đến những điều chỉnh của chính sách đối ngoại nói chung và Đông Nam á nóiriêng nhng chỉ phản ánh những nét chấm phá chứ cha đi sâu vào vấn đề mà đềtài quan tâm

Tác phẩm "Đông á và Đông Nam á những vấn đề lịch sử và hiện đại",

NXB Thế giới, HN, 2004 trong đó những vấn đề khoa học đợc trình bày tơng

đối rộng: một vùng không gian từ Đông Bắc á đến Đông Nam á đồng thờitrải dài trong suốt một khoảng thời gian từ quá khứ đến hiện tại Vấn đề chínhsách Nhật Bản đối với Đông Nam á từ thập niên 50 của thế kỷ XX đến nay đ-

ợc trình bày trên nhiều góc độ Đây thực sự là tác phẩm hấp dẫn và bổ íchtrong quá trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong và sauChiến tranh lạnh

Bài viết: "Chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam á thời kỳ hậu

Chiến tranh lạnh" in trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 4 ( 61 ), 2003

của tác giả Nguyễn Thu Mỹ, trong đó chủ yếu tập trung trình bày về chínhsách kinh tế

"Học thuyết Hashimoto và chính sách Đông Nam á của Nhật Bản"

của tác giả Lê Linh Lan in trên tạp chí nghiên cứu Quốc tế, số 6 ( 21 ), 1997trong đó đi sâu trình bày chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với ĐôngNam á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh trên nhiều khía cạnh mà đề tài quan tâm

4

Trang 5

Hay trong một số bài viết: "Sự điều chỉnh chiến lợc của một số nớc lớn

sau Chiến tranh lạnh" của tác giả Phan Doãn Nam đăng trên các tạp chí

nghiên cứu Quốc tế, số 5 ( 20 ), 1997; "Tìm hiểu chính sách đối ngoại của

Nhật Bản từ sau thế chiến thứ hai đến nay" của tác giả Trần Anh Phơng in

trên tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 1 ( 55 ), 2005; "Một số vấn đề liên quan

đến lĩnh vực đối ngoại của Nhật Bản" của tác giả Vũ Hoài in trên tạp chí

nghiên cứu Nhật Bản, số 3 ( 21 ), năm 1999 Và một số cuốn sách, bài viếtkhác cũng quan tâm đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu với nhiều quan điểm,góc độ và cấp độ tiếp cận khác nhau

Tuy nhiên, số lợng tài liệu và đề tài nghiên cứu đề cập trực tiếp

đến"Những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với

khu vực Đông Nam á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh" lại rất hạn chế Bởi thế

qua đề tài này tác giả nhằm trình bày cụ thể hơn về những điều chỉnh trongchính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á một cách tổng hợp

có hệ thống

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng nghiên cứu: nghiên cứu đề tài "Tìm hiểu sự chính sách đối ngoạicủa Nhật Bản đối với Đông Nam á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh" nhằm tìmhiểu cụ thể những nội dung điều chỉnh trong chính sách Đông Nam á của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh

- Phạm vi nghiên cứu: Dựa vào khả năng của mình, chúng tôi chỉ tiếnhành nghiên cứu trong phạm vi giới hạn sau:

Về nội dung: trọng tâm nghiên cứu là những điều chỉnh trong chínhsách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á Ngoài ra, để có những

đánh giá khách quan đề tài có đề cập đến một số vấn đề liên quan nh: chínhsách Đông Nam á thời kỳ Chiến tranh lạnh; chính sách đối với Việt Nam sauChiến tranh lạnh; những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh

Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách đối ngoại của NhậtBản đối với Đông Nam á từ sau Chiến tranh lạnh kết thúc đến năm 2000

Những vấn đề nằm ngoài khung nội dung, thời gian trên không thuộcphạm vị nghiên cứu chủ yếu của đề tài

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở những nguồn tài liệu thu thập đợc tôi sử dụng các phơngpháp nghiên cứu nh phơng pháp lịch sử, phơng pháp lịch sử kết hợp với phơngpháp logic Ngoài ra, còn sử dụng các phơng pháp: tổng hợp, so sánh, thống

kê, phân tích giải quyết các vấn đề mà luận văn đặt ra

5

Trang 6

Chơng 2: Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với

Đông Nam á thời kỳ sau Chiến tranh lạnh

Chơng 3: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Việt Nam sau

Chiến tranh lạnh và một số nhận xét về chính sách đối ngoại của Nhật Bản nói chung

Phần B: Nội dung

Chơng 1

Chính sách đông Nam á của Nhật Bản

thời kỳ chiến tranh lạnh

1.1 Khái quát về tình hình thế giới sau chiến tranh

thế giới thứ hai

Cục diện thế giới đã bắt đầu có những thay đổi cơ bản từ sau thế chiếnthứ hai Hầu hết các nớc thắng cũng nh bại trận đều rơi vào tình trạng khủnghoảng và kiệt quệ Giữa bối cảnh đó Mỹ và Liên Xô nổi lên nh hai ngời khổng

lồ chi phối thế giới cả về kinh tế, chính trị cũng nh quân sự Một nớc Mỹtham gia chiến tranh trong điều kiện tơng đối an toàn có lợi cho mình nênkhông hề bị chiến tranh tàn phá mà đã vợt trội lên dẫn đầu kinh tế các nớc tbản khác Bên cạnh đó, Liên Xô vừa giành chiến thắng oanh liệt trớc phát xít

Đức cũng lớn mạnh không kém, nắm vai trò chủ đạo trong khối các nớc đitheo định hớng xã hội chủ nghĩa Một trật tự thế giới mới đã hình thành - Trật

tự hai cực Ianta

Sự phân tuyến hai cực trong trật thế giới là một trong những nguyênnhân chính dẫn đến Chiến tranh lạnh Đông - Tây bùng nổ trong đó Mỹ vàLiên Xô đóng vai trò chính trên vũ đài của cuộc chiến Song, hai nớc lớn siêucờng này lại không chạm trán binh đao với nhau trên chiến trờng mà đã kéotheo cả một cuộc đối đầu gay gắt trên mọi phơng diện giữa hai khối nớc trongsuốt hơn 40 năm Sự đối đầu giữa hai khối thể hiện rõ trong quá trình chạy đua

vũ trang, chạy đua kinh tế cũng nh tập hợp lực lợng hai phe Một không khí

6

Trang 7

thù địch bao trùm lên toàn bộ quan hệ quốc tế thế giới Các khối liên minhquân sự đối đầu trực tiếp nh Liên minh phòng thủ Bắc Đại TâyDơng (NATO),với Hiệp ớc Vacxava, khối quân sự Đông Nam á (SEATO), Hiệp ớc an ninh

Mỹ - Nhật ra đời, các cuộc chiến tranh cục bộ, khu vực nh nội chiến TrungQuốc (1945 - 1949), cuộc chiến tranh Việt Nam (1946 - 1975), các cuộc chiếntranh Trung Đông (1948 - 1949, 1956, 1967 ), các cuộc nội chiến ở châu Phi,Trung Mỹ

Tuy nhiên đây cũng là thời kỳ phát triển vợt bậc của kinh tế thế giới,cùng với quá trình phục hồi và phát triển của các nớc t bản châu Âu, NhậtBản, nhiều nớc công nghiệp mới đã xuất hiện đặc biệt là khu vực châu á -Thái Bình Dơng Dới tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật thông tin đợc gọi

là cuộc cách mạng công nghiệp thứ t đã đa sự phát triển của nền kinh tế thếgiới với tốc độ và quy mô cha từng có trong lịch sử

Trong quan hệ quốc tế, hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngàycàng trở thành đòi hỏi bức thiết của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới.Các tổ chức mới liên kết toàn cầu đã xuất hiện dới nhiều hình thức, điển hìnhnhất là tổ chức Liên Hợp quốc Liên Hợp quốc chính thức đợc thành lập ngày24/10/1945, là tổ chức tập hợp đông đảo các quốc gia nhất nhằm giải quyếtcác vấn đề mang tính toàn cầu Và cùng với sự hoàn thiện của Liên Hợp quốctrong vài thập kỷ gần đây đã lần lợt xuất hiện các tổ chức liên kết khu vựctrong bối cảnh vai trò các quốc gia và các khu vực ngày càng đợc nâng cao: đó

là các tổ chức nh EU, ASEAN, khối Trung Mỹ hoặc hình thức liên kết cácquốc gia có trình độ ngang nhau nh OECD, đặc biệt là Phong trào các nớckhông liên kết

Cũng trong thời gian nửa thế kỷ qua, Đông Nam á là nơi diễn ra nhiềuthay đổi có tính chất lịch sử Từ thuộc địa, các quốc gia ở đây đã dần dầngiành đợc độc lập và tiến hành xây dựng nền kinh tế dân tộc Song, do vị trí

địa lý chính trị quan trọng của khu vực, Đông Nam á luôn luôn là mục tiêutranh giành ảnh hởng của các thế lực quốc tế và Chiến tranh lạnh càng làmcho cuộc đấu tranh ở Đông Nam á gay gắt thêm Chính tại đây là nơi tậptrung các mâu thuẫn dân tộc, ý thức hệ gay gắt Việc các nớc Đông Dơngquyết định lựa chọn con đờng đi lên CNXH đã biến các nớc này thành mụctiêu của các lực lợng phản cách mạng do Mỹ, Pháp đứng đầu Cuộc chiếntranh Việt Nam kéo dài hàng chục năm, sự phản bội của bè lũ diệt chủng PolPot với sự cổ vũ, nuôi dỡng của chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, các cuộctranh chấp biên giới, vùng biển ở khu vực này cũng xẩy ra liên miên Điều đó

7

Trang 8

chứng tỏ rằng những mu đồ của các cờng quốc, các thế lực phản cách mạng

đối với khu vực này không hề ngừng

Tuy nhiên, trong bối cảnh bấp bênh của Chiến tranh lạnh, tranh thủnhững hệ quả phát triển về kinh tế và khoa học kỹ thuật thế giới, nhiều nớctrong khu vực đã thành công trong việc phát triển kinh tế Chính sự thành côngnày, kết hợp với việc sụp đổ của Chiến tranh lạnh làm cho nhu cầu xây dựnghoà bình tại khu vực trở thành nhu cầu chung của Đông Nam á Và cũngchính sự thành công đó mà Đông Nam á đã trở thành "tầm ngắm", điểm hấpdẫn của nhiều nớc lớn trên thế giới trong đó không ngoại trừ Nhật Bản

1.2 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với đông nam á

thời kỳ chiến tranh lạnh.

1.2.1 Tình hình nớc Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Quần đảo Nhật Bản nằm cách bờ phía Đông lục địa châu á, trải ra theo

một vòng cung hẹp dài 3.800 km, từ Vĩ độ Bắc 20 025' đến 45o333' Tổng diệntích của Nhật Bản là 377.815 km2 Quần đảo này gồm bốn đảo chính Honshu,Hokkaido, Kyushu, Shikoku và nhiều dãy đảo gồm khoảng 3.900 đảo nhỏtrong đó đảo Honshu là lớn nhất chiếm 60% tổng diện tích [ 10, 279 ] Khíhậu nói chung ôn hoà nhiệt đới Là quốc gia mùa hạ nóng - mùa đông lạnh cótuyết Đất nớc Nhật Bản không có tài nguyên nhiều nhng con ngời Nhật Bản

đã biết tự vơn lên để đạt đợc những thành quả lớn Trong quá trình phát triểnlịch sử, thời kỳ Minh Trị (1868 - 1912) là một trong thời kỳ nổi bật nhất củalịch sử dân tộc Đây là kỷ nguyên Nhật Bản bớc sang trang mới trên con đờngphát triển của đất nớc mình

Nhật cũng nh Đức, Italia là những kẻ tội phạm gây ra cuộc Chiến tranhthế giới thứ hai đều chịu chung một số phận thảm hại nh nhau

Nhật thất bại, Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, một trang sử mới mở

ra cho đất nớc này

Về kinh tế: Nếu chiến tranh thế giới thứ nhất là một cuộc chiến "tốtnhất" đối với sự phát triển của kinh tế Nhật Bản bởi lẽ Nhật chỉ phải chịu mộtphần chi phí hết sức nhỏ trong cuộc chiến, nhng bù lại những lợi lộc mà Nhậtthu đợc sau chiến tranh rất lớn thì bớc ra khỏi cuộc đại chiến thế giới thứ hai,Nhật Bản lại là một kẻ thất bại thảm hại với một nền kinh tế đổ nát, bị tàn phánặng nề về mọi mặt

Theo điều tra của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh thì 80% tàu

bè, 34% máy móc, 25% công trình xây dựng bị phá huỷ, 21% nhà cửa và tàisản riêng của gia đình bị thiệt hại, tài sản của Nhà nớc bị tổn thất 25% so với

8

Trang 9

thời kỳ trớc chiến tranh (1934 - 1936) Tổng thiệt hại vật chất lên tới 64,3 tỷYên, chiếm 1/3 tổng giá trị các tài sản còn lại của đất nớc sau chiến tranh(188,9 tỷ Yên), [19, 226], thêm vào đó là những thiệt hại về ngời cũng vôcùng to lớn, nếu tính cả ngời chết, bị thơng và mất tích ở nớc ngoài lên tới gần

3 triệu ngời [29, 292]

Mặt khác, sau khi chiến tranh chấm dứt Nhật Bản mất hết các thuộc địavới diện tích chiếm tới 44% đất nớc Điều này đồng nghĩa Nhật đã mất đinhững nguồn cung cấp nguyên liệu cũng nh thị trờng truyền thống trên lục địachâu á mà nó đã có trớc chiến tranh Hơn thế nữa Nhật Bản lại bị quân đội

Mỹ chiếm đóng và từng bớc lệ thuộc vào Mỹ

Những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội Nhật Bản lúc này trở nên hếtsức nhức nhối, đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết Tình trạng thất nghiệp,thiếu nguyên liệu, lơng thực, nạn lạm phát đang cào xé nớc Nhật Song ngờiNhật đã không chùn bớc trớc những mất mát đau thơng đó mà họ đã biết tự v-

ơn lên để đạt đợc những thành quả to lớn Mặt khác, sự lệ thuộc vào Mỹ cũng

đã tạo ra " cơ hội vàng cho Nhật" hồi sinh sau chiến tranh, trở thành hiện ợng"thần kỳ" những năm (50 - 60) gây kinh ngạc cho cả thế giới, với tốc độtăng trởng hơn 10% [ 35, 40 ], nhng nớc Nhật vẫn là "chú lùn" về chính trị Cuộc khủng hoảng năng lợng thế giới 1973 là một cú sốc đối với nềnkinh tế Nhật Bản bởi Nhật vốn là nớc chủ yếu dựa vào dầu mỏ nhập khẩu, ởthời điểm đó Nhật phải nhập khẩu 90% nhu cầu năng lợng Và cuộc khủnghoảng 1974 - 1975 không đơn giản là cuộc suy thoái kéo dài suốt thập kỷ 70,

t-80 mà còn là cuộc khủng hoảng về cơ cấu của chủ nghĩa t bản - Nhật [29,431] Song, với phơng pháp quản lý linh hoạt, cơ cấu kinh tế theo kiểu kim tựtháp, nớc Nhật đã khôn khéo tránh đợc những hậu quả của cuộc khủng hoảngtheo chu kỳ bằng việc vận dụng tối đa năng suất lao động, cơ chế xuất khẩu

đặc biệt là lỗ hổng kinh tế của thị trờng Âu - Mỹ, Nhật đã có tốc độ tăng trởngkinh tế cao, ổn định, là siêu cờng thứ hai sau Mỹ Đến năm 1987 lần đầu tiêntổng sản phẩm thu nhập quốc dân của Nhật vợt Mỹ (Nhật Bản là 27.000 USD,

Mỹ 22.000 USD) [29,433]

Tuy nhiên, sự xâm nhập kinh tế này, cộng với những quy chế ngặtnghèo của thị trờng Nhật Bản đã gây ra những cuộc chiến tranh mậu dịch gaygắt giữa Nhật và Mỹ, Nhật và châu Âu Đây cũng là thời kỳ t bản Nhật đầu tmạnh mẽ vào khu vực châu á trở lại đã góp phần đa tốc độ tăng trởng của cáccon rồng châu á mới nh Hàn quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo, Malaixia,Thái Lan, Indônexia

9

Trang 10

1.2.2 Chính sách đối ngoại chung của Nhật sau

Chiến tranh thế giới thứ hai .

1.2.2.1 Những phơng châm chính của ngoại giao Nhật Bản trong thời kỳ

Chiến tranh lạnh.

Sách Xanh ngoại giao đầu tiên của Nhật xuất bản năm 1957 đã chỉ rõnhững phơng châm chính hay những trụ cột của ngoại giao Nhật Bản nh sau: Lấy Liên Hợp quốc làm trung tâm: Đây là phơng châm ghép nền ngoại

giao của Nhật trong khuôn khổ hoạt động của Liên Hợp quốc Tuy nhiên,trong thời kỳ này Liên Hợp quốc chủ yếu nằm trong sự khống chế của Mỹ Vìvậy, cũng có thể hiểu là những hoạt động ngoại giao của Nhật Bản thời kỳ này

đi theo sự điều chỉnh của Mỹ dới danh nghĩa Liên Hợp quốc

Hợp tác với các nớc theo chủ nghĩa tự do: Nguyên tắc hợp tác với các

nớc theo chủ nghĩa tự do chính là sự liên minh chặt chẽ với Mỹ và các nớc tbản phát triển để nâng cao địa vị quốc tế của kinh tế Nhật Bản

Kiên trì lập trờng của một thành viên châu á: Mặc dù quan hệ giữa

Nhật Bản với các nớc châu á trong Chiến tranh thế giới thứ hai vừa qua khôngmấy tốt đẹp nhng với tầm quan trọng của thị trờng châu á thì việc cải thiệnquan hệ với các nớc châu á láng giềng là điều không thể không làm của NhậtBản Thời kỳ Minh Trị Duy Tân, Nhật đã lấy khẩu hiệu "thoát á nhập Âu" để

đạt đợc công nghiệp hoá theo kiểu châu âu, Mỹ Ngày nay với vị trí càng tăngcủa châu á cả về chính trị và kinh tế, trong bối cảnh cạnh tranh thế giới gaygắt thì Nhật Bản lại đa ra khẩu hiệu "trở lại châu á" Tất cả những khẩu hiệuhoặc những biện pháp này chứng tỏ những mục tiêu rất cụ thể của Nhật trongtừng thời kỳ

1.2.2.2 Các giai đoạn ngoại giao của Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh lạnh:

Sách Xanh ngoại giao năm 1991 của Nhật chia ngoại giao Nhật Bảnthành ba giai đoạn nh sau:

Giai đoạn thứ nhất từ sau chiến tranh cho đến đầu những năm 70: Thời

kỳ xử lý hậu chiến và phục hồi: trong giai đoạn này có thể thấy đợc những nội

dung chính trong hoạt động ngoại giao của Nhật Bản là giải quyết những tồntại của chiến tranh với các nớc xung quanh mà nội dung chính là bồi thờngchiến tranh, bình thờng hoá quan hệ, xử lý vấn đề an ninh quốc gia trong đó

có việc lựa chọn bạn, thù

Có thể nói, bồi thờng chiến tranh là bớc đi đầu tiên trong chính sách đốingoại của Nhật Bản thời kỳ hậu chiến Tuy nhiên việc này chỉ thực hiện đợcbằng hàng hoá sau khi kinh tế Nhật Bản đã đợc phục hồi nhất định, nhờ sự

10

Trang 11

thay đổi chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản, đặc biệt là nhờ cuộc chiến tranhTriều Tiên (1950 - 1953), chính cuộc chiến này đã đem lại một cơ hội to lớncho nền kinh tế Nhật Bản vốn đang thoi thóp

Cũng trong hoàn cảnh này, nớc Nhật đứng trớc một sự lựa chọn hoặc làtìm kiếm sự bảo đảm an ninh dựa vào cơ chế Liên Hợp quốc hoặc dựa vào Mỹ.Tuy nhiên Nhật Bản khó có thể dựa vào Liên Hợp quốc vì Nhật cha phải làthành viên, hơn nữa trong hoàn cảnh Chiến tranh lạnh, Liên Hợp quốc không

có đầy đủ cơ chế để đảm bảo an ninh hữu hiệu

Trong khi đó, giới cầm quyền Mỹ do Tổng thống Truman đứng đầu lại

lo ngại về "khoảng trống ở châu á" sau khi Nhật bại trận, lo ngại một nớcNhật bị cộng sản hoá đặc biệt là khi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa nhảy vàotham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên tháng 11/1950 nên đã thay đổi hẳn chínhsách đối với Nhật Bản, kéo Nhật vào quỹ đạo của Mỹ, ký Hoà ớc với Nhật tạiSan Fransico 1951 [23]

Sự kiện này bớc đầu đa Nhật Bản trở lại chính trờng ngoại giao bình ờng, tuy việc phục hồi hoàn toàn còn trong một khoảng thời gian sau đó, chotới khi Liên Xô ngng phủ quyết việc Nhật Bản tham gia Liên Hợp quốc năm

th-1956 sau khi ký với Nhật Tuyên bố chung Nhật - Xô 1955 Khoảng trốngngoại giao của Nhật chấm dứt, đồng thời cũng tạo cơ sở nền móng cho chínhsách ngoại giao của Nhật Bản trong những thập kỷ tiếp theo Đó là việc pháttriển một nền ngoại giao mu cầu nền an ninh dựa trên sự đảm bảo an ninh củaMỹ

Nh phần trớc đã đề cập, sự lệ thuộc vào Mỹ của Nhật Bản cũng là "cơhội vàng"cho nớc này phát triển kinh tế Ngay sau chiến tranh dân số lao độngNhật Bản vẫn còn quá nửa là nông nghiệp Việc chú trọng đầu t vào nhữngngành dùng nhiều lao động nh ngành dệt với thị trờng vô tận ở Mỹ, châu âuvới giá sản phẩm, lao động rẻ, cùng với các đơn đặt hàng từ các cuộc chiếntranh: Triều Tiên, Việt Nam đã đa nớc Nhật nhanh chóng phục hồi và pháttriển về kinh tế, chiếm lĩnh thị trờng Âu - Mỹ, trở thành nền kinh tế có bớcphát triển " thần kỳ "

Ngoài ra thời kỳ này Nhật còn dùng viện trợ, hợp tác kinh tế làm mộtphơng tiện ngoại giao quan trọng, nhất là đối với các nớc thuộc thế giới thứ

ba Chính sách "ngoại giao kinh tế" này làm cho Nhật Bản ý thức thêm vị trí

và vai trò của mình trong các vấn đề quốc tế

11

Trang 12

Giai đoạn thứ hai từ đầu những năm 70 đến đầu những năm 80: Thời

kỳ nổ lực mở rộng vai trò và trách nhiệm Nhật nh một thành viên của các nớc phơng Tây phát triển.

Việc Mỹ ngày càng dấn sâu, sa lầy vào chiến tranh Việt Nam, kết hợpvới thành tựu "sự thần kỳ Nhật Bản" đã góp phần đa nớc Nhật trở thành cờngquốc kinh tế lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ Hạn chế của Mỹ trong việc giảiquyết các vấn đề quốc tế, sự vơn lên của các quốc gia và khu vực đặc biệt là sựphát triển ở Đông Nam á với việc thu hẹp dần sự ảnh hởng tại đây đã khuyếnkhích Nhật, tạo cơ hội cho một nớc Nhật vốn dĩ chỉ dựa vào "ngoại giao kinhtế" thử tìm một vai trò riêng cho mình trong khu vực Đông Nam á

Đồng thời, Nhật cũng đẩy mạnh việc tham khảo, hợp tác về chính sáchvới các tổ chức cũng nh các cờng quốc Biểu hiện rõ nhất của thời kỳ này làviệc lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Việt Nam và học thuyết Fukuđa

Nh vậy, có thể nhận thấy thời kỳ này ngoại giao của Nhật Bản mangtính tự chủ cao hơn, đặc biệt trong chính sách đối với Đông Nam á (điều này

sẽ trình bày kỹ hơn ở phần sau)

Thời kỳ coi trọng châu á - Thái Bình Dơng, cơ cấu quan hệ hợp tác chính sách với các nớc châu á - Thái Bình Dơng để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Thời kỳ này châu á - Thái Bình Dơng đang có những bớc tiến triển rõrệt, Nhật Bản đã quan tâm nhiều đến chính sách của mình đối với khu vực

Đặc biệt đáng chú ý ở đây là Nhật đã bắt đầu dùng từ "thành viên của khu vựcchâu á - Thái Bình Dơng" thay cho từ "một thành viên của châu á" Tiếp nốigiai đoạn trớc, sự nỗ lực để biểu hiện một nền ngoại giao tự chủ đợc thể hiện

rõ trên nhiều hoạt động cũng nh trong các lĩnh vực an ninh, kinh tế Các diễn

đàn APEC, ARF, Liên Hợp quốc, các vấn đề nh Cămpuchia, phát triển vàphục hồi Đông Dơng đợc Nhật chủ động đề xớng Cuộc vận động cho chiếcghế thờng trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc bắt đầu đợc triển khai

Nh vậy, để đa đất nớc ra khỏi thảm hoạ của chiến tranh, Nhật Bản đãthực thi một chính sách ngoại giao "mềm dẻo", đặc biệt là " ngoại giao kinhtế"từng bớc thể hiện tính tự chủ của mình, song Nhật Bản phải chấp nhận sự lệthuộc vào Mỹ về mọi mặt Điều này gần nh đợc giữ vững trong một thời kỳdài, từ sau đại chiến thế giới thứ hai cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc

1.2.3 Chính sách Đông Nam á của Nhật Bản sau

Chiến thế tranh thế giới thứ hai

12

Trang 13

Nh phần trên đã đề cập, khu vực Đông Nam á đã trở thành tâm điểmtrong chính sách đối ngoại mới của Nhật Bản đặc biệt là sự tiến triển của khuvực trong mấy thập kỷ qua đã tạo cho Nhật Bản nhiều cơ hội để bày tỏ cũng

nh triển khai chính sách khu vực riêng của mình Trong các giai đoạn này,tình hình quan hệ giữa các nớc Đông Dơng và các nớc ASEAN cũ chungquanh cuộc chiến tranh Việt Nam và Cămpuchia trở thành những nội dung,diễn đàn cho chính sách khu vực của Nhật Bản

Trong phần này xin đợc trình bày những diễn biến ngoại giao của NhậtBản đối với khu vực qua những nội dung cơ bản sau:

1.2.3.1 Ngoại giao kinh tế; bồi thờng chiến tranh và viện trợ - công cụ

hữu hiệu mở đầu quan hệ hai bên.

Tàn d chiến tranh đã để lại ấn tợng xấu về Nhật Bản trong t tởng củacác nớc Đông Nam á Hầu hết các nớc này đều trì hoãn về việc phê chuẩnHiệp ớc hoà bình San Francisco nhằm gây áp lực yêu cầu Nhật Bản giải quyếtthoả đáng vấn đề bồi thờng chiến tranh Với mục tiêu chính của Nhật Bảntrong thời kỳ này là xây dựng mối quan hệ thân thiện hơn, kết hợp với việckhôi phục lại các quan hệ hữu nghị với các nớc Đông Nam á thì bồi thờngchiến tranh lại càng trở thành công cụ hữu hiệu để phục vụ cho mục tiêu này Ngay từ đầu những năm 50, Nhật Bản đã đa ra chơng trình bồi thờngchiến tranh cho các nớc Đông Nam á, cụ thể năm 1951, Nhật thành lập Uỷban phối hợp chịu trách nhiệm về bồi thờng chiến tranh [1,249] Đây có thểcoi là khâu đột phá đầu tiên để khai thông chính sách ngoại giao với ĐôngNam á sau chiến tranh

Bồi thờng chiến tranh đợc sử dụng nh một công cụ kinh tế có hiệu quả

để Nhật Bản trở lại Đông Nam á Sau chiến tranh, các nớc trong khu vực đều

bị kiệt quệ về kinh tế, phải cần nhiều nguồn lực để khôi phục và phát triển, do

đó đòi hỏi đầu tiên của các nớc bị chiếm đóng và bị tàn phá trong chiến tranh

là đợc nhận những khoản bồi thờng từ Nhật Bản

Trong khi các nớc Đông Nam á đòi hỏi Nhật Bản phải bồi thờng mộtcách nhanh chóng với giá rất cao thì Nhật Bản lại chần chừ tính toán Sau gầnmột năm chờ đợi, cân nhắc, tháng 12/1952, lần đầu tiên Chính phủ Nhật Bản

đã chính thức tuyên bố chính sách của họ đối với Đông Nam á " Nhằm thúc

đẩy mậu dịch, chính phủ sẽ thực hiện chính sách ngoại giao kinh tế tiến hành

ký kết các hiệp ớc thơng mại, mở rộng và phát triển các hội buôn bán, củng cốcác ngành công nghiệp xuất khẩu để làm đợc điều đó chúng ta đặc biệt pháttriển các mối liên kết kinh tế với các nớc Đông Nam á" [3; 26]

13

Trang 14

Một chính sách ngoại giao mang đậm màu sắc kinh tế Với đờng lốinày Nhật Bản muốn hớng vào thị trờng nguyên liệu và thị trờng tiêu thụ củacác nớc Đông Nam á, bởi lẽ bồi thờng chiến tranh thông qua hình thức trảbằng hiện vật chiếm một phần rất quan trọng trong toàn bộ các khoản bồi th-ờng Thông qua viện trợ sẽ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng hoá ở các nớc trongkhu vực Nhìn xa hơn, bồi thờng chiến tranh thông qua hình thức này mangtính chất hai mặt: một là làm cho ngời tiêu dùng Đông Nam á quen dần vớicác mặt hàng của Nhật, mặt khác cùng với thời gian hàng hoá Nhật Bản sẽchiếm lĩnh thị trờng Đông Nam á.

Xuất phát từ những chính sách đó, Nhật Bản từng bớc thơng lợng, thựchiện bồi thờng cho các nớc Đông Nam á:

- Với Myanmar, Hiệp định về bồi thờng chiến tranh đợc chính thức kýkết giữa hai nớc vào ngày 05/12/1954 Nhật Bản cam kết chi trả 200 triệu đô

la (hàng hoá và dịch vụ), trả trong 20 năm cộng với 50 triệu đô la đầu t thôngqua hình thức liên doanh đợc thực thi trong vòng 10 năm

- Với Philippin, tháng 4/1956, Nhật Bản và Philippin đã đạt đợc mộtthoả thuận bồi thờng chiến tranh là 500 triệu đô la, chi trả trong vòng 20 năm

- Với Inđônexia, tháng 11/1957, hai bên đã ký kết hiệp định bồi thờng

Đối với các nớc khác bị Nhật chiếm đóng, bên cạnh việc bồi thờng,Nhật Bản còn thiết lập "Quỹ phát triển châu á" với tổng số tiền là 700 triệu đô

la trong đó phần lớn quỹ dành cho vay dài hạn lãi suất u đãi, có lợi cho các

n-ớc Đông Nam á [9, 415]

Cùng với chính sách ngoại giao trên, do nhu cầu thị trờng, vốn, lao

động, tài nguyên đã thúc đẩy t bản Nhật nhanh chóng thâm nhập vào các nớctrong khu vực Sau sự mở đờng của ODA, cùng với sự nâng cao cơ sở hạ tầng,làn sóng đầu t hàng loạt trên nhiều lĩnh vực đã góp phần không nhỏ trong việchình thành những nớc công nghiệp mới tại đây và đồng thời tăng nhanh gánh

nợ nần của các nớc đối với Nhật Bản Năm 1966, Hội nghị cấp Bộ trởng lần

đầu tiên bàn về phát triển kinh tế của khu vực Đông Nam á đã đợc triệu tập

14

Trang 15

tại Tôkyô với sự tham gia của tất cả các nớc trong khu vực trừ Việt Nam dânchủ cộng hoà.

Có thể nói, đây cũng là bớc phát triển mới trong quá trình triển khaichính sách "ngoại giao kinh tế" của Nhật Bản và tăng cờng quan tâm tới vùng

Đông Nam á một cách tích cực hơn nữa

Với việc thực hiện đờng lối ngoại giao trên, chính sách mà sau này giớinghiên cứu đánh giá là ngời Nhật đã biết sử dụng một chính sách ngoại giaorất " thông minh", biết tận dụng những lợi thế có sẵn từ bên ngoài Hay nóicách khác họ đã biết biến những bất lợi thành có lợi Cho nên, đến cuối nhữngnăm 60, Nhật Bản đã thay thế hầu hết các nớc Tây Âu và Mỹ trong việc chạy

đua giành thị trờng Đông Nam á và trở thành bạn hàng lớn nhất của hầu hếtcác nớc trong khu vực

1.2.3.2.Cố gắng vơn lên về đối ngoại - những lựa chọn mới trong bối cảnh mới

Năm 1969 với học thuyết Nichxơn, Mỹ- Trung đã có sự tiếp cận làm

đảo lộn cơ chế Chiến tranh lạnh tại châu á Ván bài ngoại giao tại khu vựcchâu á trở nên sôi nổi và Mỹ đã thực hiện ván bài này vợt qua đầu Nhật Bản:thực hiện ngoại giao bóng bàn và bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc màkhông phối hợp với Nhật Bản Song với sự sa lầy và đi đến thất bại trong chiếntranh Việt Nam, ảnh hởng của Mỹ tại Đông Nam á đã bắt đầu sa sút Nắm rõ

điều này, từ 1971, Nhật Bản đã bắt đầu tiếp xúc không chính thức với ViệtNam dân chủ cộng hoà và ngay sau khi Hiệp định Pari đợc ký kết đã bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam Đến năm 1975, ngay sau khi miền Nam ViệtNam và Cămpuchia đợc giải phóng, Nhật Bản đã lập tức công nhậnCămpuchia mới và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam ViệtNam

Tuy nhiên, thời kỳ này một làn sóng phản đối mạnh mẽ của các nớctrong khu vực đối với Nhật Bản ngày càng dâng cao: Nhật bị coi là kẻ bóc lộttài nguyên thiên nhiên của các nớc Đông Nam á vì lợi ích kinh tế của mình

Do đó năm 1974 khi Thủ tớng Tanaka thăm một số nớc Đông Nam á đã gặpphải một loạt cuộc biểu tình chống Nhật ở Jakarta và Băngkok [17]

Mặt khác, thời kỳ này Nhật chủ yếu quan hệ với từng nớc ASEAN chứkhông coi trọng tổ chức ASEAN Nhật Bản chú trọng Hội nghị hiệp thơngchâu á - Thái Bình Dơng, còn các nớc Đông Nam á lại chú ý tăng cờng đoànkết trong ASEAN Đây chính là khoảng cách giữa Nhật và các nớc ASEAN.Phải thông qua một loạt các hoạt động nh diễn văn ngoại giao của Ngoại trởngOhira tháng 1/1973, họp báo của Thủ tớng Miki tại Câu lạc bộ báo chí

15

Trang 16

Washington tháng 8/1975, cho đến tận tháng 2/1976, Nhật mới thừa nhậnASEAN nh một tổ chức, khi gửi điện mừng đến Hội nghị cấp cao ASEAN lầnthứ nhất ( 1976 tại Bali - Inđônêxia) [23]

Nhng lúc đó, giữa Nhật Bản - ASEAN chỉ có một diễn đàn duy nhất làDiễn đàn cao su tổng hợp Nhật - ASEAN bắt đầu từ 1973 nhng phía Nhật cha

hề có cấp cao tham dự Đến tháng 3/1977, Diễn đàn Nhật - ASEAN mới đợcthành lập nhng đáp lại những yêu cầu hợp tác nhiều mặt của ASEAN, trả lờicủa phía Nhật là hết sức thận trọng đã gây ra sự bất mãn to lớn trong d luận

1.2.3.3 Học thuyết Fukuđa và chủ động ngoại giao của Nhật Bản

Trớc tình hình trên, ngày 18/8/1977, Thủ tớng Fukuđa đã trình bàychính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam á

Đây có thể coi là một cố gắng của Nhật Bản để làm rõ vai trò của mình

ở Đông Nam á

Học thuyết Fukuđa có 3 nội dung chính:

- Nhật từ bỏ việc đảm nhận một vai trò quân sự, chủ trơng đóng góp sứclực vì hoà bình và thịnh vợng của Đông Nam á cũng nh cộng đồng thế giới

- Tăng cờng quan hệ với ASEAN trên nhiều phơng diện kể cả kinh tế,xã hội, chính trị và văn hoá

- Nhật sẽ theo đuổi mối quan hệ có tính chất xây dựng với các nớc

Đông Dơng đặc biệt là Việt Nam, đồng thời Nhật chủ trơng thúc đẩy chungsống hoà bình giữa ASEAN và các nớc Đông Dơng thay vì xung đột và sẵnsàng đóng vai trò hoà giải giữa ASEAN và Đông Dơng [17]

Học huyết Fukuđa đã thể hiện nhận thức mới của Nhật Bản, đó là từchỗ trớc đây chỉ coi trong quan hệ với từng nớc ASEAN, thì từ thời điểm đótrở đi, Nhật đã coi ASEAN là một hệ thống tổ chức mới có tác dụng bảo đảm

an ninh khu vực Đông Nam á, ngăn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản LiênXô, Trung Quốc thông qua Việt Nam đe doạ đến lợi ích kinh tế và an ninhchính trị đối với Nhật Bản

Nhiều nhà phân tích cho rằng ý nghĩa lớn nhất của học huyết này là vaitrò "cầu nối" giữa ASEAN với 3 nớc Đông Dơng vốn có thể chế chính trịkhác nhau, nhằm xúc tiến việc giảm căng thẳng tại Đông Nam á Theo ôngHosino Junya, giáo s chính trị trờng Đại học Tôkyô: "đó là sự cố gắng củaNhật Bản để tìm kiếm một vai trò chính trị của mình" Nhng điều này cũng

đồng thời phản ánh sự xấu đi của quan hệ Trung - Việt sau khi có sự tiếp cậnMỹ-Trung cũng nh ý đồ ngăn chặn việc ngả vào Liên Xô của Việt Nam Điều

16

Trang 17

này cũng sẽ trở thành những nội dung chủ yếu của chính sách ngoại giao đaphơng mà Thủ tớng Fukuđa kêu gọi vào tháng 01/1978

Cũng có thể nói, học thuyết Fukuđa là việc mở rộng bình diện ngoạigiao của Nhật nhân cơ hội Mỹ giảm bớt hứa hẹn đối với Đông Nam á Songsong với mặt tự chủ, học thuyết này cũng phần nào mang tính chất thích ứngvới tình hình Trở lại quá khứ lịch sử, bối cảnh chính trị Đông Nam á cũng

nh vị thế Nhật Bản ở thời điểm này (1977) đã có những thay đổi mới, đó là sựkiện chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, nớc Việt Nam thống nhất cùngvới Liên Xô, Trung Quốc khi đó vẫn đang là đối thủ cộng sản đáng gờm trongchiến lợc toàn cầu đối với khu vực châu á - Thái Bình Dơng của Mỹ Bởi thếNhật Bản cũng là nớc hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ trong vấn đề này Tuynhiên, lúc này Nhật Bản đã vơn tới vị trí siêu cờng kinh tế thứ hai thế giới, vìthế trong ý thức chính trị của Nhật Bản cũng đã mong muốn thể hiện đợc vaitrò là nớc lớn trong khu vực với t cách độc lập, không bị quá lệ thuộc vào Mỹ,

và đấy cũng chính là lý do Nhật đa ra những ý tởng về một chính sách hợp tácmới với ASEAN, đồng thời cũng mong muốn tìm cách đa ASEAN và ĐôngDơng xích lại gần nhau hơn

Về phần các nớc Đông Nam á, trớc tình hình Mỹ giảm nhẹ sự có mặttại khu vực, họ cũng tính toán việc tiếp cận với các nớc Đông Dơng xã hội chủnghĩa Tại Hội nghị cấp cao ASEAN I năm 1976, đã ký kết hiệp ớc hợp táchữu nghị Đông Nam á, kêu gọi cùng tồn tại hoà bình và hữu nghị với các nớc

Đông Dơng

Trong những năm 1975, 1978 khi sự can thiệp của bên ngoài vào khuvực giảm đi, trong nội bộ ASEAN đã nổi lên ý tởng về một chủ nghĩa khu vực.Tuy nhiên, do sự nhận thức khác nhau đối với mối đe doạ từ Trung Quốc vàViệt Nam nên nội bộ ASEAN không nhất trí Năm 1979 xẩy ra sự kiện "ViệtNam - Cămpuchia" khiến cho quan hệ ASEAN - Đông Dơng trở thành đối

đầu, học thuyết Fukuđa bị phá vỡ, Nhật Bản phải điều chỉnh lại chính sách đốivới khu vực Đông Nam á

Riêng Việt Nam, trong những năm đầu của thập niên 80, Nhật Bản đãthực hiện một chính sách đối ngoại "lạnh nhạt" mà hành động đầu tiên là đơnphơng tuyên bố ngừng cấp viện trợ ODA cho Việt Nam Ngợc lại, vớiASEAN, khi đó Nhật Bản đã thực hiện một chính sách đối ngoại rất "thiệnchí" không chỉ tăng cờng thêm viện trợ mà còn ủng hộ mạnh mẽ về chính trịcho các nớc này [1, 257] Phải nói rằng, suốt thập kỷ 80, Nhật Bản đã có sựbảo trợ toàn diện cho các nớc ASEAN trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, hợp tác

17

Trang 18

giao lu văn hoá và đào tạo cán bộ trong đó mạnh mẽ nhất và sôi động nhất vẫn

là kinh tế Thời gian đó ODA của Nhật Bản giành cho các nớc ASEAN tăngmột cách đáng kể từ 703 triệu USD (1980) lên đến 2.132 triệu USD (1989)[17]

Nh vậy, có thể nói tính tự chủ trong chính sách và tính thụ động thíchứng đã cùng trộn lẫn trong vai trò bắc cầu của Nhật Bản Tuy nhiên trongnhững năm tiếp sau đó, Nhật chủ trơng vẫn duy trì một phần viện trợ nhân đạo

để giữ cầu quan hệ với Việt Nam

Về mặt khác, học thuyết Fukuđa có đề cập đến một khía cạnh mới làNhật Bản trong quan hệ với ASEAN không phải với t cách của một nớc ph-

ơng Tây mà là thành viên của châu á Điều này có nghĩa là Nhật Bản chủ

tr-ơng quan hệ bình đẳng hơn với ASEAN Tuy nhiên thực tế đã không diễn ra

nh vậy, phía ASEAN thì lo ngại về sự thâm nhập một chiều của Nhật Bản,yêu cầu Nhật có đối xử đặc biệt nhng đáp lại là thái độ thận trọng của Nhậtvới lý do là phải cân bằng với các khu vực khác Thái độ này của Nhật Bảnxuất phát từ quan điểm coi trọng sự phát triển ổn định của kinh tế thế giới với

t cách là một thành viên phơng Tây và việc đa ra vai trò "cầu nối"- nội dungthứ ba, chính là một biện pháp né tránh những yêu cầu của ASEAN

Mặc dù thế nhng học thuyết Fukuđa cũng cho thấy Nhật Bản đã chútrọng hơn đối với quan hệ ASEAN Bởi ngoài yêu cầu từ Mỹ ra thì TrungQuốc đang có những bớc chuyển mình sau thời kỳ bất ổn định (1959 - 1978)

và bắt đầu khởi động quá trình bình thờng hoá quan hệ với hợp tác trong đócũng đã chú trọng đến các nớc trong khu vực ASEAN [ 26 ]

Tóm lại, có thể nói rằng thời kỳ chiến tranh lạnh tuy tiến trình phát triểnquan hệ đối ngoại giữa Nhật Bản với các nớc Đông Nam á có những diễn biếnkhác nhau trong từng thời điểm cụ thể nhng nét chung dễ nhận thấy xuyênsuốt cả quá trình đó là sự cố gắng giữ vững một nguyên tắc cơ bản là mềmdẻo, chấp nhận phải phụ thuộc vào Mỹ về nhiều phơng diện để có điều kiệntập trung phát triển kinh tế Hay nói cách khác, chính sách của Nhật Bản đốivới các nớc Đông Nam á thời kỳ Chiến tranh lạnh là chính sách "ngoại giaokinh tế" Mặc dù đến học thuyết Fukuđa đã điều chỉnh một bớc, trong đó Nhậtchủ trơng mở rộng ra các lĩnh vực khác nh văn hoá, khoa học kỹ thuật Song

sự hợp tác trong các lĩnh vực này cũng chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho mục tiêukinh tế

Thực tế cho thấy rằng, có thể còn những mặt này, mặt khác hạn chế, bấtcập, nhng không thể phủ nhận vai trò to lớn của Nhật Bản đối với sự phát triển

18

Trang 19

của các nớc ASEAN Ngợc lại việc Nhật Bản trở thành một siêu cờng kinh tếthứ hai thế giới cũng không thể không nói đến thị trờng Đông Nam á trongquan hệ hợp tác về kinh tế Bởi thế đến cuối những năm 80 đầu năm 90, Nhật

đã có đợc sự hiện diện kinh tế áp đảo ở Đông Nam á trong khi vai trò chínhtrị của Nhật Bản ở khu vực vẫn còn hạn chế và thờng phụ thuộc vào Mỹ Vìvậy Nhật vẫn thờng đợc miêu tả nh một ngời khổng lồ về kinh tế nhng lại là

2.1.1 Tình hình quốc tế sau Chiến tranh lạnh

Sự tan rã của Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã đem lại

sự kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ của cuộc Chiến tranh lạnh vào cuối thậpniên 80, cục diện thế giới đã bắt đầu có những biến đổi căn bản

Bức tranh chính trị thế giới vẫn đang trong thời kỳ chuyển tiếp, trật tựmới vẫn cha hình thành trong khi trật tự hai cực Ianta đã tan rã, đánh dấu bởi

sự sụp đổ của Liên Xô Thực tế Mỹ trở thành cực duy nhất, tuy nhiên điều nàycũng không đơn giản là Mỹ sẽ nắm vai trò lãnh đạo thế giới trong trật tự một

19

Trang 20

cực Bởi lúc này, sự phát triển của Tây Âu, Nhật Bản, sự vơn lên của TrungQuốc cũng đã tạo ra những thách thức không nhỏ đối với Mỹ.

Trong quan hệ quốc tế cũng có nhiều thay đổi to lớn: sự đối đầu gaygắt giữa hai ý thức hệ đợc thay bằng xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác cùngphát triển đang ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và cácquốc gia trên thế giới Sự xung đột cũng nh những bất đồng đều đợc giải quyếtbằng giải pháp chính trị Mặt khác, ý thức độc lập, tự cờng, dân chủ hoá ở cácnớc cũng đang ngày một tăng lên, không chấp nhận việc các nớc lớn áp đặt ýchí của họ Những biểu hiện trên cho thấy, thế giới đang từng bớc hình thànhtrật tự đa cực

Chiến tranh lạnh kết thúc làm cho tính đối kháng và đối đầu trên thếgiới nhờng chỗ cho sự cạnh tranh và hợp tác kinh tế Các nớc đều giành u tiêncho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việctăng cờng sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia Bởi thế, lúc này kinh tế thếgiới đang bớc vào một thời kỳ mới, với chất xúc tác là công nghệ khoa học kỹthuật đặc biệt là sau sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nền kinh tế thế giới

đang bớc vào thời kỳ hậu công nghiệp phát triển mạnh mẽ Toàn thế giới trởthành một thị trờng chung gồm các quốc gia có trình độ phát triển cũng nhchế độ chính trị khác nhau

Xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá cũng nh u tiên cho phát triển kinh tếtrong chính sách của các nớc lớn cũng đang ngày một rộng khắp Thế giớicũng trở nên phụ thuộc lẫn nhau, mối quan hệ giữa các quốc gia đã trở nên đadạng và phức tạp hơn bao giờ hết Quyền lực kinh tế dờng nh trở nên quantrọng hơn quyền lực quân sự

Những thay đổi của môi trờng quốc tế sau Chiến tranh lạnh, đặc biệt là

sự chuyển đổi quan trọng về quyền lực quân sự sang quyền lực "mềm" đã tạocơ hội cho Nhật Bản vốn là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tiếp tục thực hiệnchính sách theo đuổi các mục tiêu kinh tế và những mục tiêu có tính chấtchính trị Đó là những yếu tố quyết định cho sự điều chỉnh chính sách đốingoại nói chung và đối với khu vực Đông Nam á nói riêng của Nhật Bản

Sau Chiến tranh lạnh, châu á - Thái Bình Dơng là một trong những khu

vực có sự chuyển biến mạnh mẽ nhất Chính những chuyển biến đó cũng có

ảnh hởng quan trọng tới quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật

Về kinh tế, châu á đang trở thành một trung tâm của kinh tế thế giới.

Một trong những đặc điểm chủ đạo trong thời kỳ này là kinh tế thị trờng đangbao trùm toàn khu vực Hơn thế nữa đợc giải phóng khỏi những nhân tố cản

20

Trang 21

trở về ý thức hệ thời kỳ chiến tranh lạnh, kinh tế thị trờng đã bắt đầu phát huy

đợc thế mạnh của mình Hầu hết các nền kinh tế trong khu vực nh ASEAN,NIEs, Trung Quốc đều đang có tốc độ tăng trởng và phát triển rất nhanh Bứctranh toàn cảnh khu vực trong thời kỳ này là đầy sức sống và nhiều triển vọng Bớc sang đầu thập kỷ 90, trong khi tình hình kinh tế thế giới "đang bớctrên những bớc thăng trầm " thì châu á - Thái Bình Dơng đã chứng tỏ sự vợttrội của mình, dẫn đầu thế giới về tỷ lệ tăng trởng, thậm chí vợt xa tốc độ tăngtrởng kinh tế của phơng Tây Tỷ lệ tăng trởng toàn khu vực châu á - TháiBình Dơng năm 1991 là 7%, năm 1992 là 12,8% và năm 1993 là 13,7% Tạpchí Happy của Mỹ tháng 11/1993 nhận xét:"Nếu chỉ ba thập kỷ trớc, kinh tếchâu á - Thái Bình Dơng mới chiếm 4% thì đến thời kỳ này, kinh tế toàn khuvực đã lên tới 25% và trở thành một trung tâm quan trọng của kinh tế thế giới[ 6 ]

Trong đó, đặc bịêt là sự trổi dậy của Trung Quốc hơn hai thập kỷ trôiqua kể từ khi Trung Quốc mở cửa và tiến hành bốn hiện đại hoá vào năm 1978

và liên tục trong hai thập kỷ này Trung Quốc đã đạt đợc những thành tựu làmcả thế giới kinh ngạc Với tốc độ tăng trởng kinh tế trên 10% liên tục tronghơn 20 năm, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới Đặc biệtvới sự trở về của Hồng Kông tháng 7/1997, sức mạnh kinh tế của đất nớc hơn1,2 tỷ dân này càng hùng mạnh hơn Trung Quốc đã trở thành nớc có nguồn

dự trữ ngoại tệ lớn thứ hai thế giới [ 18 ]

Nhân tố Trung Quốc giờ đây đã là một trong những nhân tố quan trọngnhất trong tính toán chiến lợc của các nớc lớn ở khu vực châu á - Thái BìnhDơng Và nh không ít nhà quan sát nhận xét, nhân tố Trung Quốc là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến sự điều chỉnh chính sách của Nhật đối với ĐôngNam á

Một nét mới trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh là sự phát triển xu thếtoàn cầu hoá và khu vực hoá với sự thể hiện rõ nét nhất là việc thành lập các tổchức quốc tế mang tính khu vực cũng nh toàn cầu tại đây nh APEC, ASEAN châu á - Thái Bình Dơng đã trở thành điểm hấp dẫn thu hút sự quan tâm chú ýcủa các nớc lớn trong quá trình tính toán điều chỉnh chính sách của mình Một đặc điểm khác của thời kỳ sau Chiến tranh lạnh ở khu vực châu á -Thái Bình Dơng là các cờng quốc trớc đây đã từng có mặt tại đây, tuy vẫn còn

đóng vai trò có ý nghĩa nhng đã bị giảm sút đáng kể sự hiện diện của mình,Liên Xô là một ví dụ hay ngay cả Mỹ cũng giảm cam kết của mình đối với

21

Trang 22

khu vực Đông Nam á và chủ trơng ngăn chặn bất cứ nớc nào nổi lên tháchthức địa vị và lợi ích của nớc này

Song, cũng xuất phát từ những chuyển biến, mang tính chất bớc ngoặtcủa châu á - Thái Bình Dơng mà ngời ta lo ngại đến những bất ổn mới sẽ xẩyra; các nhân tố gây nên sự bất ổn định đó nh vấn đề bán đảo Triều Tiên, xu h-ớng tăng cờng vũ trang và mua sắm vũ khí hiện đại của các nớc trong khu vực,với các tranh chấp lãnh thổ trong đó vấn đề Trờng Sa, Hoàng Sa, quan hệ giữaTrung quốc và Đài Loan hay những vấn đề xuyên quốc gia nh buôn bán matuý, AIDS nếu không đợc xử lý tốt thì dễ nổ ra khủng hoảng

Mặc dù thế, châu á - Thái Bình Dơng đợc xem là một trong những khuvực sôi động nhất thế giới thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh Theo nhiều dự báocho rằng, thế kỷ XXI sẽ trở thành "kỷ nguyên của châu á - Thái Bình Dơng ".Bởi thế mà các cờng quốc lớn trên thế giới nh Đức, Mỹ, Nhật đang đua nhauchuyển hớng sang khu vực này, gửi gắm hy vọng vào thị trờng châu á trong

đó đặc biệt là Mỹ đã có quan điểm mới về châu á - Thái Bình Dơng

* Chiến lợc mới của Mỹ đối với khu vực châu á - Thái Bình Dơng

Sau khi Liên Xô sụp đổ, trật tự hai cực Ianta cũng nh mối lo từphía các nớc cộng sản đến nay đã không còn nhng nớc Mỹ lại phải đối đầu vớihàng loạt những khó khăn mới Về nội bộ đang gặp nhiều khó khăn chínhngay trong lòng nớc Mỹ, phải quay về giải quyết những vấn đề trong nớc.Trên bình diện quốc tế, ngọn cờ chống cộng cũng không còn đủ sức thuyếtphục các nớc đồng minh cũng nh các quốc gia trên thế giới tập hợp dới sự chiphối của Mỹ Dù vậy, Mỹ vẫn là siêu cờng quốc duy nhất và hùng mạnh nhấttrên thế giới, và thực sự muốn tiếp tục theo đuổi tham vọng lãnh đạo thế giớimới Quan hệ giữa Mỹ với các nớc đồng minh nói chung và Nhật Bản trongkhu vực nói riêng cũng có nhiều thay đổi

ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc,

Mỹ đã đa ra ý tởng xây dựng "cộng đồng Thái Bình Dơng" theo cấu trúc "hìnhnan quạt", trong đó lấy quan hệ Mỹ - Nhật làm hạt nhân, các quan hệ songphơng giữa Mỹ và Hàn Quốc, Đài Loan, ASEAN, Ôxtrâylia làm nan quạt [1,23] Mục đích chủ yếu là vẫn duy trì đợc vai trò lãnh đạo của mình trong mốiliên kết chặt chẽ với các nớc đồng minh trong khu vực

Trong chiến lợc này, việc tăng cờng hợp tác với Nhật có tầm quan trọng

đối với lợi ích của cả hai nớc Về phía Nhật Bản vẫn cần Mỹ để đảm bảo anninh của mình và an ninh khu vực, về phần mình Mỹ cũng xem Nhật Bản là

22

Trang 23

đối tác phối hợp quan trọng, liên minh hai nớc là cơ chế căn bản đảm bảo chovai trò của Mỹ trong khu vực

Vì thế, trong bối cảnh mới, mối quan hệ giữa hai nớc thông qua Hiệp ớc

an ninh đã có những thay đổi về tính chất, có những điều chỉnh mới nh đánhgiá lại vai trò của Nhật, mở rộng phạm vi ảnh hởng của Hiệp ớc "từ hiệp địnhsong phơng giữa hai nớc ra toàn khu vực châu á", coi đây là hòn đá tảng trongquan hệ giữa hai nớc, để thực hiện những mục tiêu an ninh chung, duy trì môitrờng thịnh vợng và hoà bình ổn định cho khu vực bớc sang thế kỷ XXI" [ 6 ]

Có thể nói quan điểm "Cộng đồng Thái Bình Dơng mới" là tiêu chíquan trọng để Mỹ điều chỉnh chiến lợc toàn cầu của mình trong bối cảnh mới,

đặc biệt đối với khu vực châu á - Thái Bình Dơng Nhng chiến lợc này xâydựng chủ yếu dựa trên cơ sở lợi ích của bản thân Mỹ là chính nên không tránhkhỏi mâu thuẫn và xung đột với các nớc khác

Nếu trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ coi Nhật Bản là đồng minh ởchâu á của Mỹ, đợc hởng nhiều u đãi về kinh tế, thì sau Chiến tranh lạnh, khi

mà lợi ích kinh tế ngày càng nổi bật và trở nên quan trọng hơn thì quan hệ Mỹ

- Nhật trở thành quan hệ cạnh tranh về kinh tế, khiến Mỹ phải mở rộng nhữngquan hệ bạn hàng mới ở châu á để kiềm chế Nhật

Trong tình hình hiện nay, với sự phát triển năng động của khu vực châu

á - Thái Bình Dơng, đặc biệt là sự lớn mạnh của Trung Quốc cũng làm Mỹ engại Mặc dù Trung Quốc cha phải là mối đe doạ đối với Mỹ, nhng Mỹ vẫncoi Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh tiềm tàng Cho nên, đồng thời với việcphát triển quan hệ song phơng Mỹ luôn coi Nhật Bản, Trung Quốc là nhữnglực lợng kiềm chế lẫn nhau

Đó cũng là một trong những cơ sở để Nhật Bản hoạch định lại chínhsách đối ngoại của họ

t-ợc đánh dấu bằng sự kiện năm 1991 thoả thuận Pari về vấn đề Cămpuchia đt-ợc

ký kết, góp phần cải thiện quan hệ giữa hai nhóm nớc, mở ra một thời ỳ pháttriển hoà bình, ổn định và hợp tác

23

Trang 24

Đầu những năn 90, các nớc ASEAN, có thêm Việt Nam là những quốcgia đang phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN Tiếp tục duy trìtốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất thế giới Năm 1996, tổng sản phẩm nội địacủa các nớc NIE (gồm Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore) là 1049

tỷ USD bằng 37,7% của Nhật Bản, bằng 13,8% của Mỹ

Còn các nớc ASEAN 5 (Thái Lan, Malaixia, Inđônexia, Philippin vàBruney) là 1574 tỷ USD bằng 56% của Nhật Bản, bằng 20,8% của Mỹ

Điều này cho thấy nhóm các nớc ASEAN là một trong những trungtâm kinh tế sôi động của thế giới

Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, dự trữ ngoại tệ và vàng của các nớcnày cũng tăng Tính đến giữa năm 1997, dự trữ ngoại tệ,(không kể vàng) củaSingapo là 77,2 tỷ USD ( thứ 5 thế giới), Thái Lan là 33,3 tỷ USD (thứ 12),Bruney là 30 tỷ USD (thứ 14), Malaixia là 26,8 tỷ USD (thứ 16), Inđônêxia là18,3 tỷ USD (thứ 20), Philippin là 10,3 tỷ USD (thứ 25) Điều đặc biệt nhấtcho đến hiện nay Singapore vẫn là một trong hai trung tâm giao dịch tài chínhlớn của khu vực và thế giới [ 1, 264]

Rõ ràng, là tơng lai các nền kinh tế Đông á nói chung, các NIE vàASEAN nói riêng chắc chắn sẽ có ảnh hởng ngày càng lớn hơn đến sự pháttriển chung của khu vực châu á - Thái Bình Dơng và của cả thế giới

Thời kỳ này các nớc khu vực Đông Nam á dù phải vợt qua không ítkhó khăn, thách thức đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã làm nềnkinh tế các nớc lâm vào tình trạng suy thoái dẫn tới khủng hoảng và kéo theokhủng hoảng về chính trị trầm trọng Nhng bằng sự nỗ lực của bản thân các n-

ớc trong khu vực cùng với sự giúp đỡ từ bên ngoài trong đó có vai trò quantrọng của Nhật Bản, các nớc này tiếp tục duy trì đợc mức độ tăng trởng kinh tếcủa mình, Singapore là tiêu biểu

Chính sự lớn mạnh không ngừng về tiềm lực kinh tế của các nớcASEAN trong hơn hai thập kỷ qua là một trong những nhân tố cơ bản thúc

đẩy Nhật điều chỉnh chính sách của mình đối với Đông Nam á

Tuy nhiên, thành tích của ASEAN không chỉ dừng lại ở mức tăng trởngkinh tế, điều quan trong hơn là chỉ trong vòng cha đầy nửa thập kỷ từ sau khiChiến tranh lạnh kết thúc và thoả thuận Pari cho cuộc xung đột Cămpuchia -chất keo tạo nên sự cố kết ASEAN từ cuối những năm 70 và trong suốt nhữngnăm 80 - ASEAN đã kịp thời điều chỉnh và đã thành công trong việc nâng cao

vị trí và vai trò của mình ở khu vực và trên thế giới

24

Trang 25

Với việc mở rộng ASEAN bắt đầu bằng việc Việt Nam gia nhập tổ chứcnày ( 7/ 1995 ) và liên tục kết nạp thêm Myanmar, Lào, Cămpuchia đã khiếncho tổ chức tiểu khu vực này ngày càng trở thành một lên minh lớn mạnhkhông chỉ về kinh tế mà còn là một tổ chức có tiếng nói thuyết phục cao rất đ-

ợc coi trọng trên các diễn đàn chính trị quốc tế và khu vực châu á - Thái BìnhDơng

Thực tiễn phát triển của ASEAN 10 cho thấy quy mô của tổ chức nàyngày càng mở rộng, tổng diện tích lãnh thổ lên tới 4.067 triệu km2, với tổng sốdân 485 triệu ngời và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 1784 tỷ USD [1, 265]

Và với vai trò chủ chốt trong Diễn đàn an ninh ASEAN - diễn đàn đa phơngduy nhất có sự tham gia của tất cả các nớc lớn và các trung tâm để thảo luậncác vấn đề an ninh khu vực cũng nh vai trò của ASEAN ở Diễn đàn hợp táckinh tế khu vực châu á - Thái Bình Dơng (APEC) và ASEM, ASEAN đangdần dần chiếm một vị trí trung tâm trong các vấn đề ở khu vực

Rõ ràng, là hiện tại cũng nh tơng lai dự báo cho thấy đây sẽ là mộttrong những trung tâm kinh tế, chính trị sôi động nhất đầu thế kỷ tới

Tất cả những điều đó khiến cho Nhật Bản đặc biệt chú trọng đến việc

điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình đối với Đông Nam á

2.1.2.2 Nhật Bản

* Tình hình chính trị, kinh tế Nhật Bản

Sự kết thúc của chiến tranh lạnh là cơ hội lớn cho nhiều quốc gia đểphát triển nhng lại một thách thức lớn đối với nớc Nhật Nh chúng ta đã biết,trong gần 50 năm kể từ sau đại chiến tranh thế giới hai, cơ cấu chính trị vàkinh tế của Nhật Bản đợc xây dựng và phát triển dựa trên bối cảnh chiến tranhlạnh và cơ cấu này đã gặt hái đợc nhiều thành công rực rỡ Chiến tranh lạnhsụp đổ làm cho cơ chế này cả về chính trị lẫn kinh tế đều rơi vào khủng hoảng

Về chính trị: Sau Chiến tranh lạnh, chính trị Nhật Bản cũng có nhữngxáo động lớn Sau gần 40 năm cai trị của Đảng Dân chủ tự do (LDP) bị trởthành đảng đối lập: mâu thuẫn nội bộ ngày càng sâu sắc, uy tín của Đảnggiảm sút trong nhân dân Chính trờng Nhật Bản đã bớc vào thời kỳ phân hoá

và tập hợp lại

Cuộc đấu tranh nội bộ này của Nhật Bản cũng nằm trong xu hớngchung đang diễn ra trên toàn thế giới, đó là quá trình tự đổi mới để thích ứngvới thời kỳ mới Mặt khác, cuộc đấu tranh này cũng mang ý nghĩa định hìnhlại nớc Nhật từ một nền ngoại giao của một nớc trung tiểu thành một cờngquốc lớn Chủ trơng của Nhật Bản trong thời kỳ này là chủ động đảm bảo an

25

Trang 26

ninh và phồn vinh của mình thông qua việc tham gia vào những hoạt độngquốc tế trong quá trình hình thành trật tự mới, nâng cao vai trò của mình trêntrờng quốc tế.

Theo dõi chính sách của các chính quyền Miyazawa, Hosikawa,Murayama, Hashimoto dù không công khai tuyên bố đi theo xu hớng " kinh tếchủ nghĩa" hay biến Nhật Bản thành một " quốc gia bình thờng" nhng có thểthấy chủ nghĩa dân tộc đang có xu hớng mạnh lên ở Nhật Điều này đợc phản

ánh rõ trong sự kiện tranh chấp đảo Điếu Ng với Trung Quốc trong thời giangần đây Trong khi đề cao chủ trơng tiếp tục dựa vào Hiệp ớc an ninh Mỹ -Nhật, Nhật cũng muốn bày tỏ sự chủ động hơn của mình trong các hoạt động

đối ngoại ở khu vực và trên thế giới

Trong bài phát biểu tại Singapore, Thủ tớng Nhật Hashimoto đã tuyên

bố rằng " Liên minh Mỹ - Nhật vẫn đang còn nhng từ nay trở đi không thểchấp nhận việc Nhật nằm dới cánh của vua đại bàng Mỹ và nay đã tới thời

điểm phải mở rộng giá trị và triết học của Nhật ra khắp thế giới" [19 ]

Mặt khác tình hình " lão hoá" nhanh của dân số Nhật khiến cho đất nớcnày gặp rất không ít khó khăn

Có thể nói rằng, chính những thay đổi của tình hình quốc tế sau Chiếntranh lạnh và những khó khăn, bất ổn định trong nớc đã tạo nên cơ sở để Nhật

điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình

Về kinh tế: Bớc sang những năm 90, kinh tế Nhật Bản đang đứng trớcthời kỳ có những thay đổi lớn về cơ cấu, sau một thời gian dài thành công rực

rỡ từ 1950 cho đến thập kỷ 80, nhng từ năm 90 cùng với những phát triển mớitrong nền kinh tế thế giới mà Nhật Bản không lờng trớc đợc đã tạo nên mộtcuộc khủng hoảng, trì trệ sâu rộng nhất trong lịch sử kinh tế của Nhật Bản đó

là sự đổ vỡ "nền kinh tế bong bóng" khiến cho nền kinh tế Nhật Bản đột ngộtchuyển hớng, tốc độ tăng trởng liên tục rơi vào tình trạng số âm (1997 là âm0,5%) [ 1 ; 26 ] Điều này cho thấy rõ ràng "sự thần kỳ Nhật Bản " không còn

đợc các nền kinh tế ở châu á - Thái Bình Dơng nói chung và Đông Nam á nóiriêng ngỡng mộ nh trớc nữa Bởi mô hình kinh tế Nhật đang đứng trớc tháchthức nghiêm trọng và điều này đã làm giảm sức hấp dẫn vốn có của nó đối vớicác nớc Đông Nam á nhất là khi các nớc này đang chìm đắm trong cuộckhủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ năm 1997 Và cũng chính cuộc khủng hoảng ởcác nớc Đông Nam á hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực đến nềnkinh tế Nhật Bản vốn đang "thoi thóp" lại càng trầm trọng hơn

26

Trang 27

Theo tính toán của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì ảnhhởng của khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam á đã khiến cho GDP của Nhật Bảngiảm 0,4% (1997) Nhng theo tính toán của Viện nghiên cứu Nikkô (NhậtBản) thì cuộc khủng hoảng này sẽ làm cho GDP của Nhật giảm tới 0,75% [ 1 ,36].

Mặc dù Chính phủ Nhật Bản dồn mọi nỗ lực để kéo nền kinh tế ra khỏicuộc suy thoái kéo dài đã 7 năm nhng triển vọng cha mấy sáng sủa Hơn nữa,giờ đây chính các nớc Đông Nam á lại là những nền kinh tế phát triển năng

động nhất Điều này yêu cầu Nhật Bản phải có những điều chỉnh linh hoạttrong chính sách đối ngoại của mình bên cạnh những cải cách kinh tế trong n-ớc

Có thể nói, cho đến giữa những năm 80, Nhật vẫn đóng một vai trò thứyếu trong các vấn đề quốc tế, không dính líu hoặc tham gia bất kỳ kế hoạch có

ý nghĩa nào làm thay đổi bản đồ chính trị thế giới Song, về hoạt động đốingoại kể từ cuối thập kỷ 80 trở lại đây cho thấy vai trò và vị trí của Nhật tănglên đáng kể đối với khu vực và thế giới Chính sức mạnh kinh tế đã đặt Nhậtvào một vị trí thuận lợi hơn trong việc hợp tác quốc tế nhằm nâng cao hình

ảnh và uy tín của Nhật trên trờng quốc tế

Tuy gặp nhiều khó khăn, song đến năm 1989, Nhật đã trở thành nớccung cấp viện trợ ODA lớn nhất thế giới trong suốt thập kỷ 90, với 9,5 tỷ USD(1997) ; 10,68 tỷ USD (1998); 10,5 tỷ USD (1999) vợt cả Mỹ[ 5 ] Tính đếnnăm 1992 lợng ODA của Nhật đã tăng gấp 3 lần so với 1985, lên tới 11,3 tỷUSD trong đó 80% là viện trợ song phơng Viện trợ ODA của Nhật tăng caocòn mang một ý nghĩa quan trọng hơn, trong giai đoạn hầu hết các nớc pháttriển khác đều đang trong thời kỳ " mệt mỏi về viện trợ"

Hơn nữa, trong bối cảnh quốc tế đầu thập niên 90 các quốc gia đangnâng cao tính tự cờng của nền kinh tế nớc mình thì Nhật với t cách là nớccung cấp ODA lớn nhất lại vẫn tiếp tục cung cấp những nguồn vốn cho các n-

ớc đang phát triển Trong quá trình triển khai chính sách của mình, Nhật vẫntiếp tục coi trọng châu á, tập trung nhiều cho các nớc tại khu vực này Tính từ

1990 trở lại đây các nớc ASEAN đã tiếp nhận trên 50% ODA hàng năm củaNhật Bản, [ 9; 420], đặc biệt từ năm 1992 Nhật đã nối lại tài trợ ODA choViệt Nam với tổng số 281,24 triệu USD [ 3 , 291] Việc thay đổi này có ýnghĩa vô cùng quan trọng đối với Việt Nam nói riêng và đối với Đông Nam ánói chung

27

Trang 28

Về đầu t trực tiếp nớc ngoài, song song với ODA, FDI cũng là mộttrong những "con bài" kinh tế để Nhật Bản bảo vệ lợi ích và tăng cờng ảnh h-ởng của mình trên trờng quốc tế Bởi thế, FDI của Nhật không ngừng tăng lên

kể từ năm 1985, từ 12,2 tỷ USD năm 1985 đến 67,5 tỷ USD năm 1989, thậmchí sau tình trạng suy thoái kinh tế trong nớc và đầu t bên ngoài không thuậnlợi, lợng FDI của Nhật vẫn tiếp tục ở xu thế tăng lên Châu á vẫn đợc coi làmột trong những trọng điểm của Nhật, chiếm khoảng 30% tổng giá trị FDIcủa cả thế giới vào khu vực này trong đó tốc độ tăng trởng của FDI Nhật Bảnvào ASEAN tăng rất nhanh năm 1990 tăng 7,8 lần so với năm 1989, năm 1991tăng 8,8%, năm 1992 tăng 11,3% [1,289]

Về xuất nhập khẩu, kể từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, xuất khẩu hàngnăm từ Nhật Bản sang châu á tăng 14 %, chiếm 39% xuất khẩu của Nhật,trong khi đó xuất khẩu từ Nhật sang Mỹ chỉ tăng 7% và chiếm 29% xuất khẩucủa Nhật

Còn nhập khẩu từ châu á sang Nhật tăng 6% chiếm 45% nhập khẩu củaNhật so với tỷ lệ giảm 3% nhập khẩu từ Mỹ chiếm 22% nhập khẩu của Nhật [14] châu á đã thực sự vợt Mỹ để trở thành bạn hàng lớn nhất của Nhật

Thực tế cho thấy, quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và khu vực châu á Thái Bình Dơng đã trở nên gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ kể

-từ sau Chiến tranh lạnh Và với ảnh hởng kinh tế của Nhật tại hầu hết cácquốc gia trong khu vực này, vị thế quốc tế của Nhật tại khu vực nói riêng cũng

nh trên thế giới nói chung đã tăng lên đáng kể

* Tổng quan chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh

lạnh

Nh phần trớc đã xem xét, có thể thấy chỉ trong vòng 3 thập kỷ, một nớcNhật kiệt quệ và thất bại sau chiến tranh đã vụt lớn dậy, trở thành một "ngờikhổng lồ" về kinh tế, là siêu cờng tài chính số một và là siêu cờng kinh tế thứhai thế giới Nhng Nhật vẫn bị coi là một "ngời lùn" về chính trị Với một vịthế kinh tế mới sau Chiến tranh lạnh, chính giới Nhật Bản đang tìm cách xáclập vị thế quốc tế của mình tơng ứng với tiềm lực kinh tế của nó

Mặt khác, trong ngoại giao, nhu cầu bảo vệ an ninh, chính trị cũng lànội dung quan trọng Trong ngoại giao của Nhật Bản cho đến nay việc bảo

đảm an ninh cũng nh đối tác ngoại giao chính là Mỹ sau đó mới đến Liên hợpquốc Nhng khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tuy Mỹ vẫn nắm đợc quyền chủ

đạo, vai trò Liên hợp quốc đợc nâng cao và phát huy rất nhiều

28

Trang 29

Khác với thời kỳ Chiến tranh lạnh, Liên Hợp quốc đã đứng ra trực tiếpgiải quyết và quản lý các cuộc xung đột tại khắp các châu lục.

Nhật Bản cho rằng thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh là thời kỳ hoạt độngcủa Liên Hợp quốc nên một mặt vừa gắn với Mỹ để làm lá chắn cho an ninhcủa mình nh trong tinh thần Hiệp ớc an ninh Nhật - Mỹ, mặt khác mạnh dạntham gia các hoạt động của Liên Hợp quốc nh PKO Nhật Bản đang cố vận

động việc mở rộng uỷ viên thờng trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc và hyvọng đại diện khu vực giành một vị trí trong đó

Thực tế cho thấy, Nhật đang từng bớc chuyển hớng chính sách đốingoại, từ chính sách tập trung vào Mỹ, lấy trụ cột chính là an ninh Mỹ - Nhậtsang chính sách "ngọai giao toàn phơng vị", tức là tham gia tích cực vào cáchoạt động của Liên Hợp quốc, thúc đẩy quan hệ với các nớc châu á và duy trìquan hệ đồng minh với Mỹ

Chung quy lại chính sách ngoại giao của Nhật thời kỳ sau Chiến tranhlạnh đợc thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:

Tăng cờng hợp tác an ninh với Hoa Kỳ trong bối cảnh mới

Mặc dù Nhật đánh giá cao vai trò của Liên Hợp quốc nhng nhu cầubảo vệ an ninh và do tuyền thống quan hệ với Mỹ, Nhật Bản vẫn coi trọng việcliên minh với Mỹ là cơ sở căn bản cho chính sách đối ngoại của mình trongthời kỳ này Tháng 4/1997, Nhật và Mỹ đã công bố về nội dung Hiệp ớc anninh mới đồng thời tiến hành trao đổi rộng rãi với các nớc liên quan về anninh nh Trung Quốc, với ASEAN, với Nga

Nhật rất coi trọng Hiệp ớc Nhật - Mỹ, coi đó là hòn đá tảng trong chínhsách ngoại giao của mình Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới cũng

nh khu vực có nhiều thay đổi, tính chất liên minh cũng đã có những thay đổimạnh mẽ, chuyển từ ngăn chặn sự lớn mạnh của Liên Xô và chủ nghĩa cộngsản sang chia sẻ vai trò lãnh đạo toàn cầu trên cơ sở ngày một bình đẳng hơn,

từ việc chú trọng bó hẹp trong khuôn khổ lợi ích của hai nớc sang phạm vi hợptác mở rộng ra "những khu vực xung quanh Nhật Bản" [10 , 290]

Những thay đổi về chất, đã dẫn tới mối quan hệ "bè bạn toàn cầu"trong "cuộc gặp thợng đỉnh quan trọng nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranhlạnh" giữa Thủ tớng Hashimoto và Tổng thống Mỹ Bin Clintơn tháng 4/1996tại Tôkyô Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì khi Mỹ không còn ở vị trí thựchiện bá chủ thế giới một mình đợc nữa thì Mỹ phải chia sẻ vai trò này vớiNhật Việc phối hợp với Mỹ, chắc chắn ảnh hởng chính trị của Nhật sẽ tănglên

29

Trang 30

Tăng cờng hoạt động trong khuôn khổ Liên Hợp quốc

Việc Nhật Bản tham gia vào Liên Hợp quốc cũng đợc thể hiện thôngqua hoạt động giữ gìn hoà bình (PKO) dới sự bảo trợ của Liên Hợp quốc tạiCămpu chia, Môdămbich Tháng 6/1992, Quốc hội Nhật đã thông qua một

đạo luật cho phép lực lợng phòng vệ Nhật tham gia vào các hoạt động củaPKO Điều này đã tạo cơ sở pháp lý và chính trị ở ngoài nớc để binh lính Nhật

có thể phục vụ ở nớc ngoài dới sự bảo trợ của Liên Hợp quốc

Đó cũng là sự rút lui của học thuyết Yoshida (1951) chủ trơng coi vị thếquốc tế của Nhật là thứ yếu so với những nhu cầu phát triển kinh tế của đất n -

ớc, "theo đuôi" Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế [ 26 ]

Thúc đẩy quan hệ với các nớc châu á

Trớc sự tiến triển của thế giới cũng nh khu vực sau Chiến tranh lạnh,Nhật đang có chủ trơng chuyển từ "thoát á nhập Âu" sang " phục quy châu

á" Trên bình diện quốc tế, mục tiêu của Nhật là nỗ lực xác định vai trò chínhtrị, vị trí quốc tế, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa sức mạnh kinh tế vàchính trị của mình, tạo cân bằng sức mạnh với Mỹ và châu Âu, nắm vai tròlãnh đạo thế giới

Còn tại châu á - Thái Bình Dơng, đến cuối những năm 80 đầu 90, Nhật

đã có đợc sự hiện diện kinh tế áp đảo, trong khi vai trò trí chính trị của NhậtBản ở khu vực còn hạn chế và thờng phụ thuộc vào Mỹ, Nhật vẫn bị coi là

"chú lùn" chính trị Vì thế mục tiêu chiến lợc của Nhật là nâng cao vị thếchính trị trong khu vực, giành vai trò chủ đạo của mình ở châu á trên cơ sởliên minh và hợp tác với Mỹ, vừa phát triển quan hệ ổn định vừa cạnh tranhchiến lợc khôn khéo vừa kín đáo tập hợp lực lợng kiềm chế Trung Quốc, vừathúc đẩy quan hệ bình thờng hoá với Nga

* Nhận thức mới của Nhật Bản về Đông Nam á

Nh phần trớc đã đề cập, sau Chiến tranh lạnh khu vực Đông Nam á đã

có những bớc chuyển mình mới, các nớc lớn từng bớc tìm cách gây ảnh hởngcủa mình đối với khu vực Bản thân Nhật cũng bắt đầu phải tính đến việc đánhgiá lại tầm quan trọng của khu vực Đông Nam á trong chính sách của mình

Bên cạnh những mục tiêu và lợi ích trong thời kỳ Chiến tranh lạnh,những lợi ích khu vực mới nảy sinh cũng đợc đề cập và xem xét, có vai trò rấtquan trọng việc xây dựng chính sách mới của Nhật Dới đây sẽ đi sâu hơn vàotừng lĩnh vực cụ thể:

+ Lợi ích kinh tế

30

Trang 31

Trong chiến lợc phát triển Nhật luôn coi Đông Nam á là nơicung cấp nguồn nguyên nhiên liệu then chốt Đông Nam á đã từng cung cấpcho Nhật Bản 99% cao su thiên nhiên, 99% thiếc, 99% Niken, 42% gỗ, 32%

đồng, 31% khí đốt và 18% dầu thô mà Nhật nhập từ bên ngoài Mặc dù ngàynay khoa học kỹ thuật phát triển, nhng nhân tố này vẫn rất quan trọng vớiNhật vì Nhật là nớc nghèo về tài nguyên thiên nhiên Hơn nữa, trong bối cảnhhiện nay, Đông Nam á lại càng trở nên quan trọng hơn khi trở thành khu vựctiếp nhận phần lớn đầu t, buôn bán và viện trợ của Nhật

Về mậu dịch, nhập khẩu từ ASEAN vào Nhật Bản chiếm 7% toàn bộnhập khẩu của Nhật năm 1993, tăng lên 10,3% năm 1994 và 24,2% năm

1995

Về lĩnh vực đầu t, Nhật Bản đã vợt Mỹ trở thành nớc đầu t lớn nhất vào

Đông Nam á, lợi ích kinh tế của Nhật cũng gắn chặt với số lợng đầu t vàODA này vì hầu hết ODA là những khoản cho vay, là tài sản lớn của Nhật [18] Hơn thế nữa, nguồn nhân lực trẻ và dồi dào của các nớc Đông Nam á cũnghấp dẫn Nhật Bản, đặc biệt nếu tính đến thực tế xã hội Nhật Bản "lão hoá"nhanh hơn bất kỳ nớc nào trên thế giới do mức tăng dân số rất thấp, tuổi thọngày càng cao và nhập c vào Nhật Bản cũng gần nh không có

Theo dự báo, đến năm 2020, một phần t dân số Nhật Bản sẽ trên tuổi 65[18 ] Từ thực tế cho thấy, lợi ích kinh tế của Nhật Bản ở Đông Nam á là rấtlớn, nếu nh khu vực này trở nên thù địch với Nhật thì những thiệt hại với Nhật

là khôn lờng

+ Lợi ích chính trị

Mặc dù Nhật Bản đã rất thành công với chính sách "tách các vấn đềchính trị ra khỏi các vấn đề kinh tế" hay " đặt kinh tế lên trên chính trị" màNhật theo đuổi trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh đã trở nên lỗi thời Vì vậy,trong thời kỳ mới, với tham vọng tìm kiếm một vai trò lớn hơn trong nềnchính trị quốc tế thì việc đẩy mạnh quan hệ với các nớc Đông Nam á cũnggóp phần nâng cao vị trí của Nhật trên trờng quốc tế và trong quan hệ với cáccờng quốc nh Mỹ, Trung Quốc, EU, Nga

Mặt khác, để có đợc vai trò chủ đạo trong khu vực châu á - Thái BìnhDơng hay chiếc ghế thờng trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc - một trong batrụ cột của chính sách đối ngoại mà Nhật đề ra thì Nhật rất cần sự ủng hộ của

Đông Nam á Nhật coi Đông Nam á là bàn đạp để nâng cao vai trò chính trị,

an ninh trong khu vực

31

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w