1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu quần thể di tích đền thờ vua đinh tiên hoàng và đền thờ vua lê đại hành ở trường yên hoa lư ninh bình

76 1,7K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu quần thể di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành ở Trường Yên - Hoa L - Ninh Bình
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn Ths.GVC. Hoàng Quốc Tuấn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 240,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với truyền thống “uống nớc nhớ nguồn”, nhân dân ta đã xây dựngnhững ngôi đền để tởng nhớ các nhân vật lịch sử có công với nớc, với làng.Đồng thời để thế hệ con cháu tởng nhớ và biết đến

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu quần thể di tích đền thờ

vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành

ở Trờng Yên - Hoa L - Ninh Bình

Chuyên ngành: lịch sử văn hóa

Vinh- 2007

Trang 2

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu quần thể di tích đền thờ

vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành

ở Trờng Yên - Hoa L - Ninh Bình

Chuyên ngành: lịch sử văn hóa

Lớp 44B (Khóa 2003 - 2007)

Giáo viên hớng dẫn: Ths.GVC Hoàng Quốc Tuấn

Vinh- 2007

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ths-GVC Hoàng Quốc Tuấn - Ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi một cách tận tình, chu đáo từ khi tôi nhận đề tài cho đến lúc hoàn thành

Tôi trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Chuyên ngành Lịch

sử văn hóa - Trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện và thời gian giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ ở th viện:

Th viện Trờng Đại học Vinh, Th viện Tỉnh Nghệ An, Th viện Tỉnh Ninh Bình.

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban quản lý di tích Cố đô Hoa L đã giúp

đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện khóa luận này.

Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tài liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý xây dựng của quý Thầy cô, bạn bè để khóa luận này hoàn chỉnh hơn.

Vinh, tháng 5 năm 2007.

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 4

Mục lục

Trang

A Phần dẫn luận 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục đề tài 4

B Phần nội dung 6

Chơng 1: Hoa L trong lịch sử 6

1.1 Ví trí địa lý, điều kiện tự nhiên, con ngời và c dân 6

1.2 Truyền thống lịch sử và cách mạng 8

Chơng 2: Quần thể di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ vua Lê Đại Hành 17

2.1 Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng 17

2.1.1 Quá trình xây dựng, trùng tu, tôn tạo di tích 17

2.1.2 Các nhân vật đợc thờ phụng 18

2.1.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc 30

2.2 Đền thờ vua Lê Đại Hành 39

2.2.1 Quá trình xây dựng, trùng tu, tôn tạo di tích 39

2.2.2 Các nhân vật đợc thờ phụng 40

2.2.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc 48

2.3 Lễ hội Trờng Yên 56

Trang 5

Chơng 3: Giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của quần thể di tích đền

thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành

66

3.1 Giá trị lịch sử 66

3.2 Giá trị văn hoá 68

3.2.1 Giá trị kiến trúc, điêu khắc 68

3.2.2 Giá trị về tinh thần, về tâm linh 69

C Kết luận 72

Tài liệu tham khảo 73

Phụ lục 76

Trang 6

Với truyền thống “uống nớc nhớ nguồn”, nhân dân ta đã xây dựngnhững ngôi đền để tởng nhớ các nhân vật lịch sử có công với nớc, với làng.

Đồng thời để thế hệ con cháu tởng nhớ và biết đến lịch sử của cha ông Trải dài

từ Bắc vào Nam trên đất nớc ta có biết bao ngôi đền nh thế: đền thờ vua Hùng,

đền thờ Thánh Gióng, đền thờ bà Trng, đền thờ bà Triệu, đền thờ Trần Hng Đạo

và trong đó phải kể đến vùng đất Trờng Yên - Hoa L - Ninh Bình, nơi tọa lạccủa hai ngôi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành

Hoa L là vùng đất giàu truyền thống lịch sử và đấu tranh cách mạngkiên cờng, đã để lại dấu ấn đậm nét cho quê hơng, đất nớc, là vùng đất vănhiến, địa linh nhân kiệt thời nào cũng có những bậc hiền tài Cách đây, hơn

1000 năm, vào thế kỷ X Hoa L đã từng là Kinh đô của nớc Đại Cồ Việt vớicác triều đại Đinh - Tiền Lê, thời kỳ đầu nhà Lý, nối tiếp nhau đa giang sơn vềmột mối, lập nên Nhà nớc phong kiến tập quyền đầu tiên của nớc ta và “chốngTống, bình Chiêm” thắng lợi, là mốc son sáng chói trong tiến trình lịch sửdựng nớc và giữ nớc của dân tộc

Trên vùng đất Hoa L ấy có biết bao di tích chứa đựng cả giá trị lịch sử

và giá trị văn hoá Đến thăm Hoa L ta thấy nh quá khứ và hiện tại, lịch sử vàcảnh quan, tự nhiên và con ngời đan xen, hoà nhập đa ta về với cội nguồn củadân tộc Các di tích lịch sử văn hoá nơi đây là cả một bảo tàng sống về kiếntrúc, điêu khắc, trang trí và cả phong tục, tín ngỡng cổ truyền của dân tộc ta

Trang 7

Là một sinh viên theo học chuyên ngành lịch sử văn hoá, là một ngờicon đợc sinh ra và lớn lên trên một miền quê lịch sử và danh thắng, tôi rất đỗi

tự hào, hãnh diện về những trang sử hào hùng của cha ông, những giá trị vănhoá của quê hơng Nhận thức đợc điều này, cùng với sự gợi ý của thầy HoàngQuốc Tuấn tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tìm hiểu quần thể di tích đền thờ vua

Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành ở Trờng Yên - Hoa L - NinhBình” làm đối tợng nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình với mongmuốn đợc tìm về những trang sử hào hùng của dân tộc, dới hai triều Đinh -Tiền Lê, tìm hiểu những giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của quê hơng để hoànthiện con ngời, góp phần nhỏ bé công sức của bản thân vào công việc giữ gìn,bảo vệ tôn tạo, trùng tu di tích đền thờ vua Đinh, vua Lê Qua đó củng cố,nâng cao lòng tự hào dân tộc trong mỗi con ngời của đất Hoa L nói riêng vànhững ngời con đất Việt nói chung

ra, nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách viết về Cố đô Hoa L cũng

đ-ợc xuất bản nh: tác phẩm “Cố đô Hoa L” của tác giả Nguyễn Văn Trò, “Cố

đô Hoa L lịch sử và danh thắng” của tác giả Lã Đăng Bật, “Kinh đô cũ Hoa L”của Nguyễn Thế Giang, “Kinh đô Hoa L thời Đinh - Tiền Lê thế kỷ X” củatác giả Đặng Công Nga

Qua việc tìm hiểu các tác phẩm trên tôi thấy rằng các tác phẩm đó chalàm toát lên đợc một cách đầy đủ, chi tiết các những vấn đề liên quan đếnquần thể di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ vua Lê Đại Hành nh:lịch sử hình thành, quá trình trùng tu, tôn tạo; các nhân vật đợc thờ phụng; đặc

điểm kiến trúc, điêu khắc Mà trong các tác phẩm đó, có tác phẩm chỉ nghiêncứu sâu về một phơng diện cụ thể của Cố đô Hoa L nh các tác phẩm “Kinh đôHoa L thời Đinh - Tiền Lê thế kỷ X” của tác giả Đặng Công Nga chủ yếunghiên cứu và tái hiện lại diện mạo, quy mô, cấu trúc của Kinh đô Hoa L ở thế

kỷ X Còn các tác phẩm khác nh “Cố đô Hoa L” của tác giả Nguyễn Văn Trò,

“Cố đô Hoa L lịch sử và danh thắng” của tác giả Lã Đăng Bật lại nghiên cứu

Trang 8

một cách tổng hợp, khái quát về vùng đất Cố đô Hoa L lịch sử, phạm vi nghiêncứu rất rộng nên không có điều kiện để tập trung đi sâu vào các vấn đề liênquan đến quần thể di tích đền thờ vua Đinh, vua Lê nh đã nêu trên.

Khi đợc tiếp cận với các loại tài liệu trên, đợc đến khảo sát tại thực tế,tôi xin đợc đóng góp tiếng nói nhỏ bé và đôi điều suy nghĩa về quần thể di tích

đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành với đề tài “Tìm hiểu quầnthể đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành ở Trờng Yên -Hoa L - Ninh Bình” Với đề tài này tôi mong muốn đợc đóng góp một sốnghiên cứu về lịch sử hình thành, quá trình trùng tu, tôn tạo; các nhân vật đợcthờ phụng; đặc điểm kiến trúc, điêu khắc của hai đền vua Đinh và vua Lê

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tợng nghiên cứu:

Đối tợng nghiên cứu trong đề tài là tìm hiểu về hai ngôi đền thờ vua

Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành ở xã Trờng Yên - Hoa L - NinhBình, qua đó để làm rõ hơn công lao của hai vị vua thời Đinh, Tiền Lê Đồngthời làm toát lên giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của hai ngôi đền này

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

ở đề tài này tôi đi vào tìm hiểu hai ngôi đền thờ vua Đinh, vua Lê ở Tr ờng Yên - Hoa L - Ninh Bình Đồng thời tìm hiểu về cuộc đời sự nghiệp củavua Đinh, vua Lê, tìm hiểu giá trị kiến thức, điêu khắc của hai ngôi đền, tìmhiểu về lễ hội Trờng Yên diễn ra vào tháng 3 âm lịch hàng năm

-Đề tài này đợc xác định trong một phạm vi không gian rõ ràng là: haingôi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành ở xã Trờng Yên - Hoa L -Ninh Bình

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu:

Để hoàn thành đề tài này tôi có sử dụng nguồn tài liệu phong phú viết

về thời kỳ lịch sử Đinh, Tiền Lê, những công trình nghiên cứu về Cố đô Hoa

L nh: “Cố đô Hoa L” và “Ninh Bình theo dòng lịch sử” của tác giả NguyễnVăn Trò, “Cố đô Hoa L lịch sử và danh thắng” của tác giả Lã Đăng Bật, “Kinh

đô cũ Hoa L” của tác giả Nguyễn Thế Giang, “Kinh đô Hoa L thời Đinh Tiền Lê thế kỷ X” của tác giả Đặng Công Nga…

Trang 9

-Đồng thời chúng tôi cố gắng tìm hiểu thông qua Ban quản lý di tích,qua những ngời dân trong xã để su tầm thêm t liệu cho đề tài này.

4.2.Phơng pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành đề này, tôi đã sử dụng phối hợp các phơng pháp nghiêncứu chuyên ngành nh: phơng pháp nghiên cứu lịch sử và phơng pháp lôgich,phơng pháp so sánh sử học, phơng pháp xác minh phê phán t liệu lịch sử vàphơng pháp điền dã su tầm lịch sử địa phơng Nguồn t liệu mà tôi thu thập đợc

là cơ sở để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

2.1 Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng

2.1.1 Quá trình xây dựng, trùng tu, tôn tạo di tích

2.1.2 Các nhân vật đợc thờ phụng

2.1.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc

2.2 Đền thờ vua Lê Đại Hành

2.2.1 Quá trình xây dựng, trùng tu, tôn tạo di tích

2.2.2 Các nhân vật đợc thờ phụng

2.2.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc

2.3 Lễ hội Trờng Yên

Ch

ơng 3 : Giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của quần thể di tích đền

thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành.

Trang 10

B Phần nội dung

Chơng 1

Hoa L trong lịch sử

1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế con ngời và c dân

Huyện Hoa L cách thủ đô Hà Nội khoảng 90 km về phía Nam Hoa Lnằm ở vị trí chiến lợc của tỉnh Ninh Bình, là yết hầu giao thông giữa miền Bắc

và miền Trung, giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng với miền núi rừng TâyBắc Hoa L nằm trên hai đờng giao thông thuỷ, bộ quan trọng nhất của đất nớctheo cả bốn hớng Bắc - Nam - Đông - Tây

Về đờng bộ có quốc lộ 1A đi qua các xã Ninh Giang, Ninh An dài gần

20 km, đờng 10 từ thị xã Ninh Bình qua xã Ninh Mỹ, Ninh Phúc đi Kim Sơn,

đờng 12C qua các xã Ninh Mỹ, Ninh Hoà, Trờng Yên đi Rịa (Nho Quan Ninh Bình) Bên cạnh quốc lộ 1A là đờng xe lửa Bắc - Nam qua các xã NinhPhong, Ninh An dài gần 10 km Về đờng thuỷ, Hoa L có 6 con sông: sông

-Đáy, sông Hoàng Long, sông Xuyên Thuỷ Động, sông Chanh, sông Vạc, sôngVân

Huyện Hoa L bao gồm 13 xã: Ninh Giang, Trờng Yên, Ninh Hoà, Ninh

Mỹ, Ninh An, Ninh Phong, Ninh Xuân, Ninh Hải, Ninh Khánh, Ninh Sơn,Ninh Nhất, Ninh Vân, Ninh Khang

Hoa L có chung ranh giới với các huyện Gia Viễn, Nho Quan, Yên Mô,Yên Khánh, thị xã Tam Điệp (Ninh Bình) và huyện ý Yên (Nam Định) Phía

Đông giáp huyện Yên Khánh và huyện ý Yên, có sông Đáy là ranh giới PhíaBắc giáp huyện Gia Viễn, có sông Hoàng Long làm ranh giới Phía Tây giáphuyện Nho Quan, phía Nam giáp huyện Yên Mô và thị xã Tam Điệp

Huyện Hoa L có diện tích khoảng 139 km2, trong đó gần 7000 ha đấtnông nghiệp, 3735 núi đá Hoa L thuộc vùng chiêm trũng núi đá vôi, có nhiềunúi đá, hang động, nhiều sông ngòi Địa hình Hoa L chia thành 3 vùng tơng

đối rõ rệt Phía Tây là vùng có nhiều núi đá vôi, có thung lũng xen kẽ Bảy xãmiền núi phía Tây: Trờng Yên, Ninh Hoà, Ninh Nhất, Ninh Xuân, NinhThắng, Ninh Hải, Ninh Vân có thế mạnh phát triển du lịch và vật liệu xâydựng; phía Nam là vùng đất vàn cao, đất màu trồng hai vụ lúa và cây màuthuận lợi; phía Bắc và Đông Bắc là đồng bằng chiêm trũng

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nh trên tạo điều kiện cho Hoa Lphát triển về nhiều mặt nh kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân

Trang 11

Với số dân khoảng 66000 ngời, trong đó có khoảng 5000 đồng bào theo

đạo thiên chúa, sống hoà đồng cùng đồng bào bên lơng với tinh thần “Lơnggiáo đoàn kết, tốt đời, đẹp đạo”

Xuất phát từ một huyện nằm trong đồng bằng Bắc Bộ, nhân dân Hoa Lsống bằng nghề trồng lúa là chính Ngoài ra, phát huy tiềm năng, thế mạnhcủa địa phơng Hoa L còn phát triển một số ngành nghề khác nh: mộc, nề, khaithác đá, làm hàng mỹ nghệ, thêu ren, dệt chiếu, ơm tơ, dệt vải có nhiều làngnghề truyền thống nổi tiếng nh: Làng mộc Phúc Lộc (Ninh Phong), làng đá

mỹ nghệ Ninh Vân, làng thêu ren Văn Lâm (Ninh Hải), có nhiều sản phẩm

đã trở thành hàng xuất khẩu Bên cạnh đó phải kể đến tiềm năng du lịch Đó

là ngành kinh tế mũi nhọn không khói của huyện Hoa L Ngoài đền thờ vua

Đinh, vua Lê còn có khu Tam Cốc - Bích Động, khu du lịch Tràng An đợc ví

nh “Hạ Long cạn” là điểm đến lý tởng của du khách trong cả nớc Năm

2005, đã thu hút gần 300000 lợt khách đến tham quan, trong đó có gần

195000 lợt khách quốc tế và du lịch vẫn đang là ngành có tiềm năng lớn củahuyện

Hiện nay, Hoa L đang từng giờ đổi mới vơn lên, cuộc sống vật chấtngày càng đợc cải thiện: đa số nhân dân trong huyện có nhà ở khang trang,các xã đều thực hiện tốt chơng trình “điện - đờng - trờng - trạm”, chơng trình

“xoá đói, giảm nghèo”, “phổ cập giáo dục” của nhà nớc

Đi liền với việc phát triển kinh tế, ngời dân Hoa L còn quan tâm tới lĩnhvực văn hoá xã hội, xây dựng một đời sống văn hoá mới trong dân c với cácphong trào xây dựng “gia đình văn hoá”, “làng văn hoá”, “xã văn hoá” Giáodục phát triển, Hoa L là huyện đi đầu trong phong trào xây dựng trờng chuẩnquốc gia Hoa L cũng là đơn vị cờ đầu của tỉnh về khuyến học, chăm sóc sứckhoẻ nhân dân, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình Các hoạt động vănhoá, văn nghệ, thể dục, thể thao đợc phát triển Theo “Lịch sử Đảng bộ huyệnHoa L” năm 2005, có 82% hộ gia đình, 42,9% số làng đạt tiêu chuẩn văn hoá

Đời sống của nhân dân đợc cải thiện về nhiều mặt, chỉ còn 6,78% số hộ nghèo(năm 2000), số hộ khá giàu ngày càng tăng, toàn huyện đã xoá xong nhà tranhtre, vách đất

Nh vậy, với những u đãi của tự nhiên, với sự nỗ lực của con ngời, nhândân Hoa L đã đạt đợc một số thành tựu nhất định trên các lĩnh vực Ngày nay,

Đảng bộ và nhân dân Hoa L đang từng ngày, từng giờ nguyện đoàn kết, chungsức, chung lòng phát huy truyền thống vẻ vang của “vùng đất Cố đô lịch sử ”

Trang 12

tranh thủ mọi thời cơ thuận lợi, vợt qua những khó khăn, thử thách nỗ lựcphấn đấu xây dựng quê hơng ngày càng giàu đẹp, văn minh hớng tới thànhphố Hoa L du lịch trong tơng lai không xa Để rồi khi du khách đến với Hoa

L không thể quên đợc những ngời dân Hoa L cần cù, chịu khó và giàu lòngmến khách

1.2 Truyền thống lịch sử và cách mạng

Hoa L - vùng đất tơi đẹp, giàu tiềm năng, có bề dày về truyền thống lịch

sử và cách mạng, để lại nhiều dấu ấn cho quê hơng, đất nớc, là vùng đất vănhiến, địa linh nhân kiệt, thời nào cũng có những bậc hiền tài

Vết tích từ rất xa xa còn rải rác khắp huyện đã minh chứng Hoa L làmột vùng đất có lịch sử lâu đời Nơi đây đã lu giữ dấu tích của con ngời từthời nguyên thuỷ, từng là nơi tụ c của nhiều luồng dân c Dãy núi phía Tây củaHoa L còn lu giữ nhiều dấu tích của con ngời thời hậu kỳ đồ đá mới cáchchúng ta ngày nay khoảng 5000 năm Những chiếc rìu đá có mài lỡi đã đợctìm thấy ở núi Chùa, thôn Trung Trữ (xã Ninh Giang), núi Con (xã TrờngYên), núi Lơng Sơn, thôn Đa Giá (xã Ninh Mỹ) Nhiều chiếc rìu đá khác tìmthấy dọc chân núi vùng đồng bằng, chứng tỏ thời kỳ này ngời nguyên thuỷ đã

từ vùng núi tiến ra vùng đồng bằng, ven biển để lập làng mạc và thôn ấp

Theo sử sách xa chép lại, Kinh đô Hoa L thuộc vùng đất Trờng Yênngày nay, trải qua các thời đại với nhiều tên gọi khác nhau Tơng ứng với nhàTần ở phơng Bắc, đất này có tên là Tợng Quận; tơng ứng với nhà Ngô và nhàTấn có tên là Châu Giao; tơng ứng với nhà Lơng có tên là Châu Đại Hoàng;thời Đinh - Tiền Lê là Hoa L và sau khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long đổi tênthành Trờng Yên nay thuộc huyện Hoa L tỉnh Ninh Bình

Sau khi Ngô Quyền mất (944), các sứ quân lần lợt nổi lên cát cứ ở cácvùng, thôn tính lẫn nhau để giành quyền bá chủ, mà sử gọi là “loạn 12 sứquân” Lịch sử dân tộc đặt ra yêu cầu bức thiết, sống còn là thống nhất đất n-

ớc, thu giang sơn về một mối, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Ngời hoàn thành sứmệnh cao cả đó chính là Đinh Bộ Lĩnh Đinh Bộ Lĩnh tập hợp lực lợng ở độngHoa L, mở rộng căn cứ, phát triển lực lợng, chờ thời cơ tiến tới dẹp loạn 12 sứquân, thống nhất non sông thu về một mối Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôiHoàng đế, lập nớc Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa L Hai năm sau, năm 970 đặtniên hiệu riêng là Thái Bình Với công lao to lớn nh vậy, Đinh Bộ Lĩnh đợc

Trang 13

gọi là ngời mở “nền chính thống” của dân tộc, đã nâng lên một bớc tinh thần tựchủ, giành độc lập hoàn toàn của dân tộc ta.

Năm 979, vua Đinh cùng với con trai cả là Đinh Liễn bị Đỗ Thích ámhại, con trai thứ là Đinh Toàn đợc triều đình suy tôn lên làm vua Lợi dụngtình hình trên, quân Tống lăm le xâm lợc ngoài bờ cõi Đất nớc lâm nguy,Thái hậu Dơng Vân Nga đã đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của dòng

họ, nhờng ngôi báu của con trai mình cho Lê Hoàn Năm 980, Thập đạo tớngquân Lê Hoàn lên ngôi vua, khép lại triều Đinh, mở ra triều đại Tiền Lê LêHoàn đã đích thân chỉ huy, xuất quân “chống Tống, bình Chiêm” thắng lợi.Sau đó Lê Hoàn vẫn lấy Hoa L là kinh đô, đặt niên hiệu là Thiên Phúc

Nh vậy, kinh đô Hoa L gắn liền với tên tuổi hai vị tớng, hai vị vua lừngdanh của hai triều đại Đinh - Tiền Lê Đinh Tiên Hoàng mãi đi vào lịch sử với

t cách là ngời có công mở đầu, khai phá và đặt nền móng cho kinh đô Hoa L

-ông tổ phục hng thống nhất quốc gia Còn Lê Đại Hành là ngời chiến đấu vàbảo vệ kinh đô Hoa L, cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ nền độc lập của đất n-ớc

Vấn đề đặt ra là tại sao cả Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn đều chọn Hoa Llàm đất đóng đô?

Sau khi thống nhất đất nớc, Đinh Bộ Lĩnh định đóng đô ở Đàm Thôn(Điềm Giang - Điềm Xá) quê hơng của ông Nhng vì ở đây trống trải nên chọnHoa L làm kinh đô

Thế đất Hoa L tuyệt đẹp Núi cao bao quanh gần nh ba mặt Tây, Nam

và Đông, tạo nên những bức tờng cao vô cùng kiên cố Phía Bắc và phía TâyBắc ít núi, lại có con sông Hoàng Long án ngữ nh một hào ngoài… sôngHoàng Long là con sông lớn nhất bắt nguồn từ vùng rừng núi Hoà Bình, NhoQuan chảy ra sông Đáy, lại là con đờng giao thông thuận tiện từ kinh thành

ra Bắc vào Nam Từ Hoa L còn có nhiều con đờng len lỏi trong vùng quanhững ngách núi cheo leo để đi sâu vào vùng núi hoặc phía Nam Chọn Hoa

L làm kinh thành ngời xa chỉ cần xây nối một số đoạn ngắn các khoảngtrống giữa hai quả núi là có một công sự khép kín vô cùng kiên cố mà khôngphải tốn nhiều sức Mặt khác, đóng đô ở đây, Đinh Bộ Lĩnh cũng nh LêHoàn không chỉ có lợi về địa thế mà còn có lợi về lòng dân Đây là nơi gầnquê hơng của Đinh Bộ Lĩnh ở Gia Viễn, cũng gần quê hơng của Lê Hoàn ởThanh Hoá Đồng thời từ đây lại có thể nhanh chóng tiến ra vùng đồng bằng

Trang 14

ven biển hay rút theo đờng núi vào Thanh Hoá, xuống phía Nam Nh vậy,

đóng đô ở Hoa L là một sáng suốt, phù hợp bối cảnh của đất nớc trong buổi

đầu độc lập, dễ dàng cho việc rút lui hay tấn công khi có giặc ngoại xâm

Có thể nói, tiếp theo Cổ Loa, Hoa L là một tòa thành điển hình cho

ph-ơng pháp xây dựng lợi dụng địa thế tự nhiên Cũng bởi lẽ đó mà thành Hoa L

có dáng hình độc đáo, có đầy đủ tính chất kiên cố, hiểm trở của một côngtrình quân sự, lại thêm tính kỳ vĩ, hữu tình của một thắng cảnh

Kinh đô Hoa L tồn tại trong 42 năm (968 - 1010), đã từng là một trungtâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của cả nớc Năm 1009, khi Lê NgoạTriều mất, triều Lê đã suy yếu, triều đình đã suy tôn Điện tiền chỉ huy sứ LýCông Uẩn lên ngôi Hoàng đế lập ra triều Lý, đặt niên hiệu là Thuận Thiên,thấy kinh thành Hoa L chật hẹp, lại khổ vì ẩm thấp, lụt lội nhà vua quyết địnhdời đô ra thành Đại La (sau đổi thành Thăng Long, là Hà Nội ngày nay)

Đến cuối thế kỷ XIII (1285), triều Trần đã rời Thăng Long lui quân vềHoa L xây dựng căn cứ địa kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lợc.Rút lui về đây là vua Trần đã rút lui về một vùng núi hiểm trở và cơ động, ở xaThăng Long khoảng 110 km, quân Nguyên không dễ gì để tới đợc đại bảndoanh của vua Trần vì từ vùng núi Thiện Dỡng tới phủ Thiên Trờng là vùngkiểm soát của quân dân nhà Trần Tại căn cứ địa Trờng Yên, ngày 21/3/1285,quân dân nhà Trần đã đánh bại cuộc tập kích của quân Nguyên do Toa Đô chỉhuy Ngày 7/6/1285, vua Trần lãnh đạo quân và dân ta đánh tan bộ phận quânNguyên tại Trờng Yên, giải phóng toàn bộ vùng đất Ninh Bình Sau đó, cũng

từ Hoa L, nhà Trần tổ chức cuộc tổng tiến công, đánh tan quân xâm lợcNguyên - Mông ở Bạch Đằng, Vạn Kiếp, kết thúc toàn thắng cuộc khángchiến chống quân Nguyên - Mông, giải phóng hoàn toàn đất nớc Ngày nay,trên đất Hoa L còn nhiều địa danh đã từng là đại bản doanh của các vua Trầntrong cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên - Mông nh: Hang Cùng,Văn Lâm, Vũ Lâm, điện Thái Vi

Hơn 500 năm sau (1789), Quang Trung - Nguyễn Huệ ngời anh hùng

“áo vải cờ đào” cũng từ đây xuất quân thần tốc tiến về Thăng Long tiêu diệtquân Thanh giành lại độc lập cho đất nớc Do vị trí địa lý gần với phòng tuyếnTam Điệp - Biện Sơn nên nơi đây cũng là một điểm có vị trí chiến lợc trongquá trình thần tốc của quân Tây Sơn từ Nam ra Bắc đại phá quân Thanh.Nghĩa quân Tây Sơn đã đợc nhân dân phủ Trờng Yên và Thiên Quang ủng hộ.Trong đó phải kể đến cụ Đinh Huy Đạo ở thôn Ngọc Động, đô đốc Vũ Đình

Trang 15

Huấn ở thôn Bãi Trữ, cụ Phạm Văn Khang ở La Mai… đã lập đợc nhiều chiếncông, đợc Quang Trung phong sắc khen ngợi và gia phả dòng họ ghi côngtrạng.

Phát huy truyền thống yêu nớc, chống giặc ngoại xâm của cha ông,nhân dân Hoa L hăng hái dốc cả sức ngời và sức của vào hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc - đó là hai tên thực dân, đếquốc sừng sỏ và giàu tham vọng

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân huyện Hoa L đã cónhững đóng góp không nhỏ vào thắng lợi chung của cả dân tộc

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, chiếm đóng Ninh Bình,nhân dân Hoa L đã nhiều lần nổi dậy tham gia khởi nghĩa chống lại thực dânPháp nhng hầu nh bị thất bại Tuy không thành công nhng các cuộc khởinghĩa đó đã góp phần phát huy tinh thần dân tộc, khoét sâu thêm lòng lòngcăm thù giặc, nêu cao t tởng độc lập tự do trong đông đảo tầng lớp nhân dân

Từ cuối những năm 20 (thế kỷ XX), phong trào đấu tranh chống Pháp ởtrên phạm vi cả nớc nói chung và ở Hoa L nói riêng đã có những bớc chuyển

đáng kể Tháng 10/1927, cùng với phong trào “vô sản hoá” chi bộ của ViệtNam thanh niên cách mạng đồng chí hội đợc thành lập ở xã Trờng Yên Hainăm sau, tháng 10/1929 chi bộ này đã chuyển thành chi bộ Đông Dơng cộngsản Đảng Đây là một trong ba chi bộ đầu tiên của tỉnh Ninh Bình Đầu năm

1931, các chi bộ Đảng ở Trung Trữ (Ninh Giang), Thanh Khê (Ninh Hoà) tiếptục đợc thành lập Hoa L là huyện có những tổ chức Đảng sớm nhất của tỉnhNinh Bình Các chi bộ Đảng đã trở thành bộ tham mu lãnh đạo phong tràocách mạng Hoa L Nhờ vậy mà phong trào cách mạng Hoa L có những bớcphát triển liên tục và tiến tới tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám vĩ đại củalịch sử dân tộc

Sau cách mạng Tháng Tám, vận mệnh dân tộc “nghìn cân treo sợi tóc”với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nớc, nhất định không chịulàm nô lệ”, quân và dân Hoa L góp sức ngời, sức của cùng cả nớc bớc vàocuộc chiến đấu mới có phần gay go, quyết liệt hơn - cuộc xâm lợc của thựcdân Pháp và can thiệp Mỹ Trong “chín năm làm một Điện Biên, nên vànhhoa đỏ nên thiên sử vàng” ấy của dân tộc, vùng đất Hoa L vừa là hậu phơng,vừa là tiền tuyến và là căn cứ của các cơ quan lãnh đạo tỉnh, quân khu, các

đơn vị bộ đội chủ lực Khi là tiền tuyến với tinh thần “mỗi ngời dân là một

Trang 16

chiến sỹ, mỗi làng xã là một pháo đài”, nhân dân và các lực lợng vũ trang Hoa

L dũng cảm chiến đấu dới ma bom bão lửa để tiêu diệt sinh lực địch, đánh bạicác cuộc càn quét của thực dân Pháp, bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiếncủa cách mạng

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân còn nontrẻ, bảo vệ nền độc lập và thành quả của cách mạng Tháng Tám vừa giành đ -

ợc, nhân dân Hoa L đã có đóng góp không nhỏ vào cuộc chiến đấu ấy Theo

“Lịch sử Đảng bộ huyện Hoa L”, từ tháng 3/1948 đến tháng 2/1954 quân vàdân huyện Hoa L - Gia Khánh đã đánh 300 trận, loại khỏi vòng chiến đấu

1281 tên địch, bắt sống 264 tên, phá huỷ 74 xe cơ giới, xe lội nớc, bắn rơi 20máy bay, bắn cháy 64 tàu, thuyền, thu 261 khẩu súng Trong chín năm khángchiến có 4621 thanh niên Hoa L đã xung phong vào bộ đội, hơn 12000 thamgia dân quân, du kích, hơn 3200 hội viên phụ nữ và gần 3000 đoàn viên thanhniên tham gia kháng chiến, có hơn 3200 ngời tham gia “hội giúp đỡ binh sỹ”

Để ghi nhận thành tích đạt đợc của nhân dân và lực lợng vũ trang Hoa

L, Đảng và Nhà nớc tặng thởng 34 huân chơng chiến công, 4861 huân, huychơng kháng chiến, 376 bằng khen và 87 kỷ niệm chơng

Nh vậy, với những thành tích đạt đợc mãi mãi là niềm tự hào của nhândân và các lực lợng vũ trang huyện Hoa L trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp, góp phần cùng quân dân cả nớc làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ

“lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”

Với tinh thần “sẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc, mà lòng phơi phới dậy

t-ơng lai” quân và dân Hoa L lại tiếp tục bớc vào cuộc kháng chiến chống Mỹcủa dân tộc

Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cả dân tộc lại chịu sự xâm lợccủa đế quốc Mỹ - một tên đế quốc sừng sỏ nhất, tham vọng hiếu chiến nhấtlúc bấy giờ Cùng với cả nớc, Hoa L khẩn trơng khắc phục hậu quả chiếntranh, khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội tiếp tục chiviện sức ngời, sức của cho miền Nam với tinh thần “mỗi ngời làm việc bằnghai, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “tất cả cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất

Trang 17

để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam Phát huy tinh thần đấutranh anh dũng của cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân Hoa L hănghái, đoàn kết vừa sản xuất, vừa chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ

đợc giao và làm nên những chiến công vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nớc của dân tộc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, quân và dân Hoa L tíchcực lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa trựctiếp chiến đấu kiên cờng chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ Với phong trào “thanh niên ba sẵn sàng”, “phụ nữ ba đảm đang” với tinhthần “nớc còn giặc còn đi đánh giặc”, lớp lớp thanh niên Hoa L đã hăng háitham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ quê hơng

Quân và dân Hoa L chiến đấu anh dũng trên nhiều mặt trận: tại các trận

địa phòng không trên địa bàn huyện luôn có hàng trăm dân quân bám trụ trêncác trạm gác phòng không, hàng trăm dân quân trực tiếp chiến đấu ở 3 trận

địa pháo phòng không bảo vệ thị xã Ninh Bình Một trong những thành tựuphải kể đến trong cuộc chiến đấu này là quân và dân xã Ninh Mỹ bằng súngK44 đã bắn rơi một máy bay Mỹ ngay trên địa phận Hoa L Trên mặt trậngiao thông, hàng vạn lợt ngời đã tham gia bảo vệ, sửa chữa cầu đờng, giải toảvận chuyển hàng hoá, lơng thực, đạn dợc, vũ khí chi viện cho miền Nam vớikhối lợng 207816 tấn hàng hoá các loại Trên các bến phà Non Nớc, cầu Gián,cầu Yên dới bom đạn địch dân quân Hoa L sát cánh cùng các chiến sĩ côngbinh bảo đảm thông suốt cho các chuyến hàng Trong hai cuộc chiến tranhphá hoại của Mỹ, mỗi mét đờng, mỗi bến phà, mỗi dòng sông trên đất Hoa L

đều thấm đợm mồ hôi, xơng máu của các chiến sĩ dân quân tự vệ và đông đảonhân dân Hoa L để cho các tuyến đờng giao thông thuỷ, bộ, đờng sắt luônthông suốt, đảm bảo cho sự chi viện cho đồng bào miền Nam ruột thịt

Với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngời”

từ năm 1965 - 1975, nhân dân Hoa L đã tiễn 17614 ngời con thân yêu củaquê hơng lên đờng đánh Mỹ (bằng 23% dân số trong huyện) và đã lập nhiềuchiến công hiển hách Trang sử truyền thống của Hoa L sáng chói tên cácanh hùng nh: Lê Xuân Phôi, Bùi Thị Thiêm, Đinh Văn Biểng, Đỗ VănLanh…

Trang 18

Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc, Hoa L có:

2678 liệt sĩ, 1153 thơng binh, hơn 1000 bệnh binh, 36 bà mẹ Việt Nam anhhùng, 33 vị lão thành cách mạng

Với bề dày lịch sử nêu trên, với những thành tựu to lớn và xuất sắc đạt

đợc, đầu 1996, nhân dân và các lực lợng vũ trang huyện Hoa L đã đợc Nhà

n-ớc trao tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lợng vũ trang nhân dân”

Sau kháng chiến chống Mỹ, đất nớc hoà bình thống nhất, cả nớc đi lênchủ nghĩa xã hội Hoà mình vào bối cảnh chung của đất nớc, nhân dân Hoa Ltiếp tục phát huy truyền thống anh hùng trong đấu tranh cách mạng vào côngcuộc đổi mới, xây dựng đất nớc Hơn 20 năm qua, đặc biệt trong hơn 10 nămtiến hành công cuộc đổi mới, nhân dân Hoa L đã đoàn kết thống nhất, năng

động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, kiên quyết đổi mới cách nghĩ, cách làmlập nên những thành tích mới trong lao động sản xuất, trong xây dựng cuộcsống mới Những thành tích mà Hoa L đạt đợc đã góp phần đẩy nhanh sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ văn minh, xứng đáng với vùng đất Cố đô dới hai thời Đinh

- Tiền Lê Những ngời con của Hoa L ngày hôm nay và mai sau chắc chắnrằng sẽ tiếp tục phát huy truyền thống của quê hơng, học, làm việc và phấn

đấu cho Hoa L ngày mai tơi sáng

Trang 19

Chơng 2

Quần thể di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng,

đền thờ vua Lê Đại Hành

2.1 Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng

2.1.1 Lịch sử hình thành, quá trình trùng tu, tôn tạo:

Đến nay những tài liệu có liên quan đến thời điểm xây dựng đền thờvua Đinh không còn nữa Nhng tơng truyền rằng: đền đợc xây dựng vào thế kỷthứ XI khi Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long vào năm 1010, nhân dân xãTrờng Yên đã xây dựng hai ngôi đền vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê ĐạiHành để tởng nhớ công lao của những vị vua có công mở “nền chính thống”của đất nớc và có công “chống Tống, bình Chiêm” thắng lợi

Tơng truyền rằng, ngôi đền vua Đinh Tiên Hoàng đợc xây dựng trênnền cung điện cũ Ban đầu đền quay về phía Bắc trông ra núi Hồ, núi Chẽ Nh-

ng trải qua năm tháng, hai ngôi đền không còn nữa Về sau vào thế kỷ XVII(1606), Lễ quận công Bùi Thời Trung (là con ông Mỹ quận công Bùi VănKhuê), ngời làng Chi Phong, tổng Trờng Yên, nay là thôn Chi Phong, xã Tr-ờng Yên, sau khi bỏ nhà Mạc theo nhà Lê, đã xây dựng lại hai ngôi đền nh cũ,nhng đã chuyển hớng quay về phía Đông, vì cho rằng hớng Bắc là hớng củagió heo may, của sự triều cống Năm Hoằng Định thứ bảy (1606) đã dựng biaghi lại điều đó

Sang đời vua Lê Hi Tông (1676 - 1705) niên hiệu Vĩnh Trị thứ nhất(1676), nhân dân xã Trờng Yên đại tu lại hai ngôi đền; điều này đợc ghi lạitrên bia Chính Hoà

Theo tài liệu của bảo tàng Ninh Bình do Dơng Văn Vơng dịch trên tấmbia công đức có đoạn viết: “năm Minh Mạng thứ XVIII (1882) đền miếu bị lụthỏng, quan tỉnh Trần Văn Trung, Bùi Cung Tiện đem việc ấy ra và vâng thánhchỉ, trông lên ánh sáng khi trớc, cấp 500 quan tiền sức cho tu bổ, nay đã làmxong đem sự việc khắc vào bia để ghi lại”

Đến năm Thành Thái thứ X (1898) cụ Bá Kếnh tên thật là Dơng ĐứcVĩnh đã cùng nhân dân Trờng Yên tu sửa lại đền, làm ngỡng cửa bằng đá vànâng cao đền bằng tảng đá cổ bồng nh ngày nay Vì thế đền thờ vua ĐinhTiên Hoàng cao hơn đền thờ vua Lê Đại Hành, kiến trúc của đền Đinh khôngchỉ bằng gỗ mà còn có thêm các tảng đá lớn, chạm khắc rất tinh xảo

Đến năm 2002, đợc nhà nớc quan tâm cấp kinh phí đền vua Đinh đợctrùng tu, tôn tạo trên quy mô lớn Ban quản lý di tích tiến hành thay vành rui,

Trang 20

đảo ngói, sơn son thiếp vàng tất cả các công trình nằm trong khu di tích Nhờ

đó đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng trở nên khang trang, đẹp đẽ hơn, tăng cờngtuổi thọ và phát huy hơn nữa giá trị lịch sử, giá trị truyền thống của dân tộc

Có thể nói đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng từ khi khởi dựng cho đến nay

đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhng nó vẫn giữ đợc những vẻ đẹp cổkính của một di tích Đến với đền, ta đợc đắm chìm trong một không gian linhthiêng Chắc rằng, ngày nay và trong tơng lai đền thờ vua Đinh sẽ là một điểm

đến của du khách khắp mọi miền

Lu Cơ và Trịnh Tú

* Vua Đinh Tiên Hoàng:

Đinh Tiên Hoàng là vị vua đầu tiên đặt “nền chính thống” của n ớc tasau hơn 1000 năm Bắc thuộc Từ một chú bé chăn trâu trở thành anh hùnglập quốc, từ một đứa trẻ mồ côi nghèo khốn trở thành một vị Hoàng đế lẫylừng sử sách

Về nguồn gốc của Đinh Bộ Lĩnh, có rất nhiều nguồn tài liệu đa ranhững ý kiến khác nhau, thêm vào đó là những truyền thuyết đợc lu truyềntrong dân gian; cho nên việc xác định nguồn gốc của Đinh Bộ Lĩnh là rất khókhăn Vấn đề này đã tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu Trải quanhiều lần hội thảo nghiên cứu, quá trình khảo sát về Đinh Bộ Lĩnh cơ bản đãlàm sáng tỏ hơn cuộc đời và sự nghiệp của ông, nổi bật ở những điểm chính

nh sau:

Đinh Bộ Lĩnh sinh ngày Rằm, tháng Hai, năm Giáp Thân ở thôn Kim

Ng-u, làng Đại HữNg-u, châu Đại Hoàng nay là Gia Phơng - Gia Viễn - Ninh Bình

Đinh Bộ Lĩnh sinh trởng trong một dòng họ lớn ở động Hoa L, từng gắn

bó và phục vụ cho chính quyền độc lập tự chủ trong những ngày đầu sau hơn

1000 năm Bắc thuộc

Trang 21

Thân phụ Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Công Trứ, làm quan thứ sử Hoan Châu(Nghệ An) từ thời Dơng Đình Nghệ (930 - 937) đến thời Ngô Vơng Quyền(939 - 944) Cha mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh theo mẹ là Đàm Thị về quê, nơngthân với chú ruột là Đinh Dự.

Với t chất thông minh vốn có, cộng với truyền thống gia đình, trongnhững ngày đi chăn trâu cho chú, Đinh Bộ Lĩnh thờng cùng nhóm trẻ bẻ hoalau làm cờ, lập trận giả đánh nhau tỏ rõ cái tài chỉ huy Đinh Bộ Lĩnh dễ dàngchiếm đợc lòng mến phục và kính nể của lũ trẻ chăn trâu ở châu Đại Hoàng,chúng thờng khoanh tay làm kiệu rớc Đinh Bộ Lĩnh đi nh nghi vệ Thiên tử.Các cụ già trong thôn thấy thế bảo nhau rằng: "Đứa trẻ này có cái khí lợng, cáinghi dung phi thờng ắt có thể giúp đời, dem lại yên lành cho dân Bọn chúng

ta nếu không sớm theo về ngày khác ắt hội lại thì đã muộn” [8-89]

Đinh Bộ Lĩnh cùng với bốn ngời bạn cùng làng, cùng tuổi là Đinh Điền,Nguyễn Bặc, Lu Cơ và Trịnh Tú cùng kết nghĩa “đào viên”, coi nhau nh anh

em ruột thịt, sống chết có nhau Sau này đi đánh dẹp các nơi, cả bốn ngời bạnthủa thiếu thời này đều đi tiên phong, sau làm đến quan tứ trụ của triều đình

Sau khi Ngô Quyền mất (944), triều đình nhà Ngô trên đờng mục nát,suy sụp, vận nớc rối ren, các sứ quân lần lợt nổi lên cát cứ mỗi vùng, xâydựng lực lợng riêng rẽ, mu toan thôn tính lẫn nhau mà sử gọi là “loạn 12 sứquân” Yêu cầu cấp bách của lịch sử dân tộc là phải chấm dứt nạn cát cứ vàthống nhất quốc gia Ngời hoàn thành sứ mệnh lịch sử cao cả ấy là Đinh BộLĩnh

Trớc vận mệnh rối ren của dân tộc, Đinh Bộ Lĩnh ở Đại Hoàng cùng cácbạn thủa chăn trâu, tập hợp thêm lực lợng và cai quản cả một vùng tách rakhỏi chính quyền Cổ Loa của nhà Ngô đang mục rữa, thối nát Ông ra sứcluyện tập về mặt võ nghệ, tích trữ lơng thực, chờ thời cơ để thực hiện sựnghiệp lớn Ông đợc ví nh: “hùm thiêng đang náu nơi rừng sâu, rồng linh đang

ẩn mình nơi biển cả”

Đại Hoàng là quê hơng của Đinh Bộ Lĩnh, là vùng đất dụng võ lý tởng

mà ông đợc lòng dân hết sức ủng hộ Đây là một vùng đất chiêm trũng, địahình hiểm trở, có núi non và rừng rậm phía sau, có sông Hoàng Long và sông

Đáy ở phía trớc, vơn ra xa hơn là đồng bằng châu thổ sông Hồng Đây là một

đầu mối giao thông thuận lợi cả về đờng thuỷ và đờng bộ, dễ tiến, dễ lui khitình thế cấp thiết Tại đây ông tiếp tục chiêu mộ binh sỹ, luyện tập võ nghệ,

Trang 22

tích trữ lơng thảo Nhờ thế, lực lợng của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh,thanh thế của ông ngày càng lan rộng.

Hoảng sợ trớc sự lớn mạnh nhanh chóng cùng thanh thế của Đinh BộLĩnh và coi ông là hiểm hoạ ghê gớm nhất, năm Tân Hợi (951) vào đời HậuNgô, Ngô Xơng Văn, Ngô Xơng Ngập đã dốc hết binh mã của triều đình tấncông vào động Hoa L hòng tiêu diệt Đinh Bộ Lĩnh

Nhng với tài thao lợc của Đinh Bộ Lĩnh, lại đợc lòng nhân dân ủng hộ

và có các tớng tài giỏi nh: Nguyễn Bặc, Đinh Điền là bạn thiếu thời cùng chăntrâu, cắt cỏ, đánh trận giả giúp sức, đã đánh cho quân triều đình thất điên bát

đảo Quân triều đình đã phải rút về cố thủ ở Cổ Loa Sau chiến thắng vẻ vangnày, thanh thế tiếng tăm của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng lớn mạnh, hào kiệt bốnphơng về đầu quân cho Đinh Bộ Lĩnh ngày càng đông

Đinh Bộ Lĩnh mở rộng căn cứ của mình từ vùng rừng núi Hoa L ra vùng

đồng bằng ven biển và sông Hồng bằng cách cùng con là Đinh Liễn sang

n-ơng nhờ Trần Minh Công - một ngời có đức độ mà không có con trai nối dõi

Là ngời khôi ngô, tuấn tú, có chí lớn nên Đinh Bộ Lĩnh đợc Trần Minh Côngnhận làm con nuôi, giao cho quyền bính và đi đánh các sứ quân khác

Mở đầu cho sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nớc, Đinh BộLĩnh đã đánh đám loạn thần Lữ Xử Bình và Kiều Trí Hựu ở triều đình Cổ Loa,

Đinh Bộ Lĩnh hàng phục đợc Ngô Nhật Khánh, lấy mẹ của Ngô Nhật Khánh,sau đó lập làm Hoàng hậu, đa em gái của Ngô Nhật Khánh gả cho con trai là

Đinh Liễn, lại gả công chúa Phất Kim cho Ngô Nhật Khánh, tạo nên tình thânthích bằng hôn nhân Cảm phục tài đức của Đinh Bộ Lĩnh, Phạm Bạch Hổ ở

Đằng Châu cũng xin hàng Tiếp sau đó Đinh Bộ Lĩnh đã lần lợt đánh các sứquân Đỗ Cảnh Thạc ở Bảo Đà (Hà Tây), Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt (ThanhTrì - Hà Nội), Kiều Công Hãn ở Phong Châu (Phú Thọ)… đi tới dẹp loạn 12

sứ quân, thu giang sơn về một mối

Nh vậy, khoảng 20 năm xây dựng lực lợng, Đinh Bộ Lĩnh đã hoànthành đợc sứ mệnh mà lịch sử giao phó Do đánh đâu thắng đó nên nhân dângọi là “Vạn Thắng Vơng” Cuộc chiến đấu dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh BộLĩnh kéo dài ròng rã 24 năm trời và kết thúc thắng lợi vào năm 968 Từ đây

Đinh Bộ Lĩnh bắt tay vào việc khôi phục bộ máy quân chủ trung ơng tậpquyền, củng cố, bảo vệ và giữ gìn nền độc lập tự chủ của đất nớc Nh vậy,

Đinh Bộ Lĩnh là ngời có công lớn trong sự nghiệp thống nhất, lập nên một

Trang 23

triều đại chính thống, đi vào lịch sử dân tộc với những chiến công oai hùng vàsáng chói.

Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nớc, đợc lòng dân ủng hộ,năm 968 Đinh Bộ Lĩnh chính thức lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nớc là Đại CồViệt, chọn đất Hoa L để đóng đô và ra sức xây dựng kinh đô Hoa L thành mộttrung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của dân tộc ở thế kỷ X Đinh Tiên Hoànglợi dụng địa thế tự nhiên của Hoa L cho đắp thành, xây hào, làm cung điện, đặttriều nghi với bộ máy hành chính hoàn chỉnh quy củ

Đinh Tiên Hoàng phong cho Nguyễn Bặc là Định Quốc Công, Lê Hoànlàm Thập đạo tớng quân (tổng chỉ huy quân đội) và phong cho con Đinh Liễn

là Nam Việt Vơng

Năm 970, Đinh Bộ Lĩnh đặt niên hiệu cho nớc là “Thái Bình” và cho

đúc tiền “Thái Bình thông bảo” là đồng tiền bằng đồng chính thức đầu tiêncủa nớc ta

Để bảo vệ cho nhà nớc thống nhất, độc lập tự chủ, Đinh Bộ Lĩnh đã xâydựng quân đội khá vững mạnh với 10 đạo “mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ,mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 ngời”[14-113], tính ra đạo quân ấylên tới một triệu ngời trong lúc đó dân số nớc ta khoảng ba triệu ngời[18-20,21]

Bên cạnh đó Đinh Tiên Hoàng còn quan tâm phát triển kinh tế nôngnghiệp, thủ công nghiệp, văn hoá văn nghệ để chăm lo đời sống cho nhân dântrong nớc

Đến năm 979, một viên quan hầu cận là chi hậu nội nhân Đỗ Thích vìmộng làm đế vơng nên đã ám hại cả vua Đinh Tiên Hoàng và con trai cả làNam Việt vơng Đinh Liễn Sau đó Đỗ Thích bị xử tội cực hình Linh cữu củavua Đinh Tiên Hoàng đợc an táng trên đỉnh núi Mã Yên thuộc xã Trờng Yên -Hoa L

Sau gần 12 năm ở ngôi Hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng đã xây dựng kinh

đô Hoa L của nớc Đại Cồ Việt xứng với tầm vóc của một đất nớc thống nhất,

tự chủ Thông qua việc lên ngôi Hoàng đế đặt tên nớc riêng, đặt niên hiệuriêng, Đinh Tiên Hoàng đã nâng lên một bớc tinh thần tự chủ, giành độc lậphoàn toàn cho dân tộc Dới triều Đinh tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội đã đivào ổn định, phát triển là cơ sở vững chắc cho Lê Hoàn “kháng Tống, bìnhChiêm” thắng lợi ngay sau đó Đánh giá về Đinh Bộ Lĩnh sách Đại Việt sử ký

Trang 24

toàn th viết “Tiên Hoàng tài năng sáng suốt hơn ngời, dũng lợc nhất đời, đơnglúc nớc Việt ta không chủ, các hùng trởng cát cứ, đánh một cái mà 12 sứ quânthần phục hết, rồi mở nớc, đóng đô, đổi xng hoàng đế, đặt trăm quan, dựng 6quân, chế độ gần đủ, chắc vì ý trời nên nớc Việt ta lại sinh ra bậc thánh triết

để tiếp nối chính thống của Triệu Vơng chăng”

Sau khi Đinh Tiên Hoàng và con trai cả bị ám sát, triều đình đa con traithứ của vua Đinh là Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi Nhân cơ hội đó, quânTống đã lăm le xâm lợc nớc ta ở biên giới Vận mệnh dân tộc nguy cấp, dới áplực của quần thần, Thái hậu Dơng Vân Nga đã đặt quyền lợi của dân tộc lêntrên quyền lợi dòng họ, đã trao ngôi báu cho Lê Hoàn Triều nhà Đinh đã khéplại, bắt đầu triều Tiền Lê

Ngày nay ở chính giữa của gian Bái đờng đền vua Đinh có một bứchoành phi ghi ba chữ sơn son thiếp vàng lộng lẫy bằng chữ Hán “chính thốngthuỷ” (nền chính thống) Đinh Tiên Hoàng mãi đi vào lịch sử dân tộc với vai trò

là ngời mở “nền chính thống” đầu tiên ở nớc ta sau hơn 1000 năm Bắc thuộc

* Đinh Liễn, Đinh Hạng Lang, Đinh Toàn - 3 vị Hoàng tử con trai vua

Đinh Tiên Hoàng.

- Đinh Liễn:

Đinh Liễn tên thật là Đinh Khuông Liễn cha rõ năm sinh, là con trai ởng của vua Đinh Tiên Hoàng, sau đợc vua cha phong cho tớc hiệu Nam ViệtVơng

tr-Đinh Liễn là ngời có công rất lớn trong sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quâncủa Đinh Bộ Lĩnh Khi 14 - 15 tuổi, lực lợng của Đinh Bộ Lĩnh này còn yếu,

để khỏi phải chịu sự bức bách của triều đình, Đinh Bộ Lĩnh cho con trai cả củamình là Đinh Liễn về Cổ Loa làm con tin của nhà Ngô Đến năm 951, lực lợng

Đinh Bộ Lĩnh khá mạnh Ngô Xơng Văn, Ngô Xơng Ngập đánh hàng thángtrời mà không thắng nổi Chúng đã treo ngợc Đinh Liễn lên ngọn tre cao ởchân thành, với điều kiện Đinh Bộ Lĩnh không hàng thì họ sẽ giết Đinh Liễn,tạo sức ép buộc Đinh Bộ Lĩnh xót con mà hàng phục triều đình Nhng cậu béLiễn không hề run sợ, tỏ rõ chí nam nhi dõng dạc mà gọi cha không vì mình

mà đầu hàng, hãy vì nghiệp lớn giang sơn

Sau đó, Đinh Liễn tìm cách trở về đất Hoa L, góp sức cùng cha tiếnquân dẹp loạn khắp nơi, và ngày càng tỏ rõ là một trang dũng tớng tài ba, thaolợc

Trang 25

Sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân thành công, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôiHoàng đế, Đinh Liễn đợc vua cha ban tớc hiệu là Nam Việt Vơng.

Năm Nhâm Thân (972) vâng mệnh vua cha, Đinh Liễn đi sang nhàTống triều cống Cảm phục trớc tài trí mu lợc của cha con Đinh Bộ Lĩnh năm

973, vua Tống sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng là Giao Chỉ Quận

V-ơng, Đinh Liễn là Tĩnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ Tiếp đó năm ấtHợi (975) nhà Tống lại phong cho Đinh Liễn làm Khai phủ nghi đồng Tam tyKiểm hiệu Thái s Giao Chỉ quận vơng

Bấy giờ do Đinh Tiên Hoàng phế trởng lập thứ, đa Đinh Hạng Lang lênlàm Thái tử, gây ra sự lộn xộn trong triều đình Đinh Liễn có nhiều côngtrạng, không đợc vua cha lập làm Thái tử, đã cho ngời giết em để tranh ngôiThái tử Sau khi giết em Đinh Liễn rất ân hận, đau khổ lập 100 tòa kinh phậtbên cạnh kinh đô Hoa L, trên bờ sông Hoàng Long, để cầu cho linh hồn HạngLang đợc siêu thoát mà sau này ngời ta thờng gọi đó là những cột kinh ĐinhLiễn

Tháng 10 năm Kỷ Mậu (979), Đinh Liễn và vua cha Đinh Tiên Hoàng

đều bị Đỗ Thích sát hại vì mộng làm vua của mình

Trang 26

đợc phong làm Vệ vơng Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết hại, triều

đình đã đa Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua

Nhân nội tình trong nớc lục đục, quân Tống đem quân lăm le ngoài bờcõi thôn tính nớc ta Vận mệnh đất nớc nguy cấp, Dơng Vân Nga đã trao ngôicho Lê Hoàn Lê Hoàn lên ngôi vua (7/980), Đinh Toàn trở lại làm Vệ vơng

nh cũ Đinh Toàn vẫn một lòng phò tá Lê Hoàn đi đánh dẹp các nơi để bảo vệnền độc lập tự chủ của đất nớc Vệ vơng Đinh Toàn vẫn đợc Lê Hoàn cho làmtớng bên cạnh mình

Năm Tân Sửu (1001), Vệ vơng Đinh Toàn theo vua Lê Đại Hành đi dẹploạn ở Cử Long (Thanh Hoá), chẳng may trúng tên độc của giặc chết lúc 27tuổi

Sau này khi nhân dân lập đền thờ vua Đinh, cũng đã tạc tợng Đinh Liễn,

Đinh Toàn và Đinh Hạng Lang để thờ bên cạnh Đinh Tiên Hoàng

* Quan tứ trụ của triều đình: Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lu Cơ.

Thủa bé Đinh Bộ Lĩnh đi chăn trâu cho chú là Đinh Dự Ông thờngcùng nhóm trẻ chăn trâu bẻ hoa lau làm cờ, lập trận giả đánh nhau, tỏ rõ cáitài chỉ huy Bọn trẻ thờng khoanh tay làm kiệu để rớc Đinh Bộ Lĩnh nh nghi

vệ Thiên tử Đinh Bộ Lĩnh đã kết nghĩa “đào viên” với bốn ngời bạn cùnglàng, cùng tuổi (đồng lân, đồng giáp), là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú và

Lu Cơ Cả bốn ngời này sau đều đi tiên phong sát cánh cùng Đinh Bộ Lĩnhdẹp loạn 12 sứ quân, và làm đến quan tứ trụ của triều đình

- Nguyễn Bặc:

Nguyễn Bặc sinh năm Giáp Thân (924), cùng tuổi và cùng làng ĐạiHữu với vua Đinh Theo gia phả, Nguyễn Bặc là con trai Nguyễn Thớc mộtgia tớng của Dơng Đình Nghệ

Năm 951, Đinh Bộ Lĩnh chọn động Hoa L làm căn cứ dấy binh, thốngnhất giang sơn về một mối Nguyễn Bặc đã có mặt ngay từ đầu dới ngọn cờ

Trang 27

đại nghĩa Trong những năm tháng chinh chiến, Nguyễn Bặc luôn ở bên cạnhVạn Thắng Vơng và là vị tớng dũng lợc tiên phong.

Trong trận đánh sứ quân Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt, Nguyễn Bặc là

đại tớng tiên phong, đánh một trận phá tan sứ quân Nguyễn Siêu vào ngày15/7/967 (Đinh Mão) Tởng nhớ công ơn của ông, nhân dân bốn làng Tây PhùLiệt đã lập đền thờ và phong ông làm thành hoàng làng Chiến thắng này cómột vị trí quan trọng quyết định việc kết thúc thắng lợi công cuộc thống nhấtgiang sơn của nghĩa quân Hoa L do Đinh Bộ Lĩnh làm chủ tớng

Nguyễn Bặc trở thành một vị tớng thao lợc tài ba nhất, đợc xếp là đệnhất công thần, đứng đầu hàng quan võ của triều Đinh, tiếp tục phò vua, xâydựng đất nớc

Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nớc, nghe lời khuyên củaNguyễn Bặc, Đinh Bộ Lĩnh đã quyết định xng là Hoàng đế, hiệu là Đại ThắngMinh Hoàng đế và cũng chính Nguyễn Bặc là ngời khuyên vua Đinh chọnHoa L làm nơi định đô - một thế đất hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh đất n ớc

ta khi mới giành đợc thống nhất, tự chủ

Năm Tân Mùi (971), Nguyễn Bặc đợc vua Đinh gia phong là Khai quốccông thần, Phụ Quốc, Thừa tớng, Thái Tể Định Quốc Công tơng đơng vớichức Tể tớng trong triều Trong ngót 10 năm, với vị trí là ngời đứng đầu bộmáy hành chính triều Đinh, Nguyễn Bặc đã giúp vua Đinh xây dựng một Nhànớc Trung ơng tập quyền đầu tiên ở nớc ta

Năm Kỷ Mão (979), vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vơng ĐinhLiễn bị Đỗ Thích ám sát Đinh Toàn mới 6 tuổi đợc suy tôn lên làm vua, LêHoàn nhiếp chính tự xng là Phó vơng Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp ngờrằng Lê Hoàn sẽ lấn át vua Vốn nặng tình, nặng nghĩa với Đinh Tiên Hoàng,cùng là bạn thiếu thời thuở chăn trâu, cắt cỏ, lại cùng nhau chinh chiến khắpnơi nên Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã hội quân ở ái Châu kéo về Hoa L để đánh

Lê Hoàn Đinh Điền bị đánh tại trận, Nguyễn Bặc thì bị bắt đem về kinh đôHoa L để xử chém

Nguyễn Bặc đã chết vì lòng trung nghĩa với nhà Đinh Ông là một trongnhững nhân vật lịch sử xuất sắc của đất nớc ta cuối thế kỷ X, là vị anh hùngcủa dân tộc, có công lớn trong sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân, thu giang sơn

về một mối, xây dựng nớc Đại Cồ Việt trong buổi đầu độc lập tự chủ

Để tởng nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc, một danh tớng thời Đinhnhiều nơi đã thờ ông nh: từ đờng dòng họ Nguyễn ở thôn Vĩnh Ninh - Gia Ph-

Trang 28

ơng - Gia Viễn - Ninh Bình là quê hơng ông, hay đền thờ ông ở thôn Ngô Hạ(Ninh Hoà - Hoa L - Ninh Bình), hay đền thờ họ Nguyễn ở Gia Miêu (HàTrung - Thanh Hoá) cũng thờ ông.

- Đinh Điền:

Đinh Điền sinh năm 924, mất năm 980, quê ở làng Đại Hữu - Gia

Ph-ơng - Gia Viễn - Ninh Bình, là bạn “đồng lân, đồng giáp”, cùng chăn trâu, cắt

cỏ, cùng tập trận cờ lau với vua Đinh Lớn lên Đinh Điền phò giúp Đinh BộLĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, là đệ nhất công thần của triều Đinh, góp công to lớnvào sự nghiệp thống nhất giang sơn thu về một mối

Sau khi định đô ở Hoa L, Đinh Điền đã đợc vua Đinh cử giữ chức NhậpNội Kiểm Giáo Đại T Đồ, Bình Chơng trọng sự Thời nhà Đinh, việc triều

đình chia làm hai giáp: việc trong triều đình do vua Đinh trông coi gọi là Nộigiáp, việc ngoài triều đình do Đinh Điền đợc giao phó gọi là Ngoại giáp Vìthế sử cũ gọi là Ngoại giáp Đinh Điền

Vì mộng làm vua nên Đỗ Thích đã sát hại vua Đinh và Nam Việt Vơng

Đinh Liễn vào năm Kỷ Mão (979) Đinh Điền mang quân vào kinh ứng cứu,nhng không kịp Bắt đợc Đỗ Thích, ông sai quân hành hình cho thoả lòng cămhận của quân và dân chúng Khi đó, Đinh Toàn mới 6 tuổi con của vua ĐinhTiên Hoàng và Hoàng hậu Dơng Vân Nga đợc lập làm vua, Lê Hoàn tự xng làPhó vơng Sợ rằng Lê Hoàn sẽ cớp ngôi, Đinh Điền cùng hội với quânNguyễn Bặc, Phạm Hạp kéo về kinh thành Hoa L mu giết Lê Hoàn, một lòngtrung nghĩa với nhà Đinh Nhng trong trận chiến đó Đinh Điền đã bị chết ngaytại trận

Trớc sự hy sinh cao cả của Đinh Điền nhân dân trong nớc ai cũng tỏlòng thơng tiếc, hài cốt của ông đợc đa về chùa Trúc Lâm (Yên Tử - QuảngNinh) - nơi trớc đây ông đã từng tu hành để chôn cất Sau đó, ngày mồng 7tháng 5 năm Canh Thìn (980), vợ của ông cũng tự vẫn ở chùa Trúc Lâm Mọingời vô cùng thơng xót vợ chồng ông nên đã lập miếu tại đây để thờ hai ôngbà

Gia thần của Đinh Điền là Dơng Công quê ở Yên Liêu Hạ (Yên Mô Ninh Bình) về chùa Trúc Lâm thu nhặt hài cốt của ông, thiêu thành xá lỵ, đem

-về đặt trong một tháp mới xây ở Yên Liêu Hạ, lập chùa Vĩnh Báo Tự để thờ

ông, nhân dân địa phơng gọi là chùa Tháp Tháp cao 6m, chân tháp vuông,mỗi mặt dài 2m, chia khoảng năm tầng không đều nhau, đỉnh có một bầu rợu,

Trang 29

bốn chân tháp có bốn con hổ tạc bằng đá xanh Các mặt tầng tháp đều có câu

đối ở đây còn giữ đợc pho tợng đồng Đinh Điền, cao 1m 10, trong t thế ngồi,

mũ áo triều phục ở chùa Chơng Dơng (Thanh Liêm - Hà Nam) cũng có bialớn ghi chép công đức của Đinh Điền

Đinh Điền đã đi vào lịch sử dân tộc là một bậc trung thần, vì nghĩa lớn

hy sinh thân mình

- Lu Cơ:

Lu Cơ sinh năm 924, cha rõ năm mất Thân phụ của ông là Lu Hỷ, mẹ

là Lê Thị Lao Lu Cơ là ngời cùng làng, cùng tuổi và kết nghĩa đào viên với

Đinh Bộ Lĩnh thủa còn đi chăn trâu, cắt cỏ Khi cha mẹ qua đời ông đã vào

động Hoa L theo Đinh Bộ Lĩnh để dấy binh làm việc lớn và đợc Đinh Bộ Lĩnhtin dùng

Lu Cơ đợc Đinh Bộ Lĩnh giao cho 5000 binh mã tiến đánh sứ quân LýLãm Công hay Lý Khuê cát cứ ở Siêu Loại (Thuận Thành - Bắc Ninh) Ôngchọn Đại Từ (nay thuộc Văn Giang - Bắc Ninh) làm nơi đóng quân, tuyển mộthêm binh lính Vì thế lực lợng và thanh thế của ông ngày càng mạnh lên Ôngdùng mu kế và tổng lực tiến đánh sứ quân của Lý Lãm Công Trớc sức mạnhnghĩa quân của Lu Cơ, Lý Lãm Công chống đỡ không nổi, thành Siêu Loại bịhạ, sứ quân của Lý Lãm Công bị tan rã, góp phần thúc đẩy nhanh sự nghiệpdẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn

Năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đã phong cho Lu Cơ là

Đô hộ phủ sỹ s - là chức quan coi việc hình án của triều đình, đứng đầu việc tpháp trong nớc Ông là một trong quan tứ trụ của triều đình, đợc Đinh TiênHoàng rất trọng dụng Vì vậy nên khi thiết triều bao giờ cũng là “Bên tả Bặc,

Điền; bên hữu Tú, Cơ”

Ngày 22 tháng Chạp (cha xác định rõ năm), Lu Cơ mất Vua Đinh bansắc truy phong ông là Tuỳ Lộc Đại vơng Để tởng nhớ công ơn của ông tạilàng Đại Từ nơi ông đóng quân trớc kia để tiến đánh sứ quân của Lý LãmCông thì nhiều nơi đã lập đền thờ ông

- Trịnh Tú:

Trịnh Tú là một trong bốn vị quan đầu triều nhà Đinh mà ta không thểkhông nhắc tới Ông sinh năm 924, cha rõ năm mất, ông cũng sinh ra cùngquê với vua Đinh, là một trong những ngời bạn nối khố từ thuở thiếu thời tậptrận cờ lau với Đinh Bộ Lĩnh Lớn lên, vì chí lớn nên theo Đinh Bộ Lĩnh đi

Trang 30

đánh dẹp các sứ quân Khi Đinh Bộ Lĩnh xng đế, lập nớc Đại Cồ Việt, xâydựng bộ máy Nhà nớc trung ơng tập quyền, Trịnh Tú đợc tham gia vào côngviệc triều chính Năm ất Hợi (975), đợc vua Đinh giao cho việc mang vàng,lụa, sừng tê, ngà voi sang cống nhà Tống Sau đó nhà Tống sai ngời mang chếsách sang gia phong cho Nam Việt Vơng Đinh Liễn làm Khai phủ nghi đồngTam ty Kiểm hiệu Thái s Giao Chỉ quận vơng.

Sự nghiệp thống nhất giang sơn thu về một mối của vua Đinh luôn gắnliền với tên tuổi và công lao của bốn ngời bạn “đồng lân, đồng giáp thân”, coinhau nh anh em ruột thịt, cùng chung chí lớn, sống chết có nhau Vì vậy khilập đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng nhân dân Trờng Yên cũng thờ bốn vị quan

tứ trụ của triều đình trong gian Thiêu hơng của ngôi đền

2.1.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc:

Tơng truyền rằng đền vua Đinh Tiên Hoàng đợc xây dựng trên nền củacung điện xa thuộc Trờng Yên thợng Bố cục mặt bằng của đền cũng đợc xâydựng theo kiểu cung điện xa Trớc đền là một hồ bán nguyệt rộng khoảng 360

m2, tạo cho cảnh quan ngôi đền sự hài hoà, có tác dụng điều hoà không khí Đi

từ ngoài vào trong, phía Bắc là Ngọ môn quan, đi thẳng theo một sân gạch rẽtay phải là Nghi môn ngoại, tiếp đến là Nghi môn nội, sân rồng và đến tòa Bái

đờng, tòa Thiêu hơng và Chính cung Các công trình này đợc xây dựng đăng

đối theo trục đờng chính đạo, đợc liên kết với nhau bằng hệ thống tờng baokhép kín Đền đợc xây dựng theo kiểu “nội công, ngoại quốc”(bên trong làchữ “công”, đợc bao bọc bên ngoài là chữ “quốc”)

* Nghi môn quan:

Khi đến với đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ta bắt gặp ngay cổng đi vàogọi là Nghi môn quan, cổng đợc quay về phía Bắc

Du khách đến trớc Nghi môn quan sẽ bắt gặp bốn chữ Hán to đợc đắpnổi phía trớc là “Bắc môn toả thợc” ý nghĩa là đóng chặt cửa phía Bắc vớihàm ý sâu xa là nhắc nhở con cháu lúc nào cũng phải đề phòng giặc phơngBắc Đi vào phía trong của Nghi môn quan ở phía Nam cũng có bốn chữ Hán

“Tiên triều phợng khuyết” (cửa phợng triều trớc)

Bao trùm lên Nghi môn quan là một màu xám cổ kính Nghi môn quan

đợc xây bằng gạch, trát vữa theo kiểu uốn vòm, có bốn trụ chính Trụ cộtchính gồm ba phần đỉnh trụ, thân trụ và đế trụ Đế trụ đợc xây dựng theo kiểuquả găng, tròn, phình ra ở giữa, trên và dới uốn vào Thân trụ bằng hình

Trang 31

vuông, tạo gờ nổi ở bốn cạnh của thân trụ Phía trên thân trụ là phần lồng đèn

đợc khoét lõm ba mặt, một mặt bị che khuất bởi một cột phụ Bốn cột trụ đãtạo ra lực để nâng đỡ cho Nghi môn quan

Nghi môn quan đợc xây dựng cao vợt hẳn lên với hai mái tầng chồnglên nhau Tầng thứ nhất gồm bốn đầu đao mái uốn cong lên bốn phía và trên

đầu mái có trang trí những vần mây uốn lợn mềm mại, phần nối giữa hai tầngmái là những song cách đều nhau, tạo ra sự cân đối Tầng mái thứ hai về đạithể cũng nh tầng mái thứ nhất, nhng kích thớc nhỏ hơn Hai tầng mái đều đợclợp bằng ngói vảy rồng

Trang trí trên Nghi môn quan: phía trên hai cột phụ, sát phần lồng đèncủa cột trụ, ngay bên dới hàng chữ “Bắc môn toả thợc” đợc đắp hai con rồngnổi, uốn lợn, quay mặt vào nhau Đây là một kiến trúc khá quen thuộc của thờiNguyễn Hai con rồng uốn lợn mềm mại, đuôi rồng tạo thành hình xoáy,móng rồng sắc nhọn bám chặt vào mái vòm của cổng giống nh hai vị thầncanh cổng vậy

Cửa của Nghi môn quan khá đơn giản, đợc làm từ gỗ lim là một loại gỗtốt Cửa gồm hai cánh đợc đóng mở bởi hai bánh lăn tròn Phía bên trên củacửa là những chấn song đợc tiện tròn, phía dới của cánh cửa để trơn khôngtrang trí hoa văn, cửa đợc sơn bởi một màu đen

Ngọ môn quan đã tạo ra cho đền thờ Đinh Tiên Hoàng một vẻ uy nghi,

cổ kính, uyển chuyển, mềm mại trong trang trí

* Nghi môn ngoại:

Đi thẳng từ Nghi môn quan theo một con đờng nhỏ đợc lát gạch rẽ tayphải là đến Nghi môn ngoại Hai bên con đờng nhỏ lát gạch là hai hàng câytùng xanh đầy sức sống Nghi môn ngoại đợc dựng quay ra phía hồ bánnguyệt ở giữa là một sập long sàng bằng đá, hai bên có hai con nghê chầubằng đá xanh nguyên khối khá đẹp Nền của Nghi môn ngoại đợc nâng caohơn mặt sân 30 cm Nghi môn ngoại gồm ba gian, dựng bằng gỗ lim, lợp ngóivảy rồng Bờ nóc đợc xây bằng gạch có phủ áo vữa tạo những đờng gờ nổichạy song song Nghi môn ngoại có kiến trúc đợc liên kết bộ khung theo kiểuchồng rờng ba hàng chân cột Đây là loại hình kiến trúc khá đặc biệt và sớmnhất ở nớc ta vào cuối thế kỷ XVII, một cột cái ở giữa, hai cột quân hai bên,lực của Nghi môn ngoại chủ yếu dồn vào cột cái ở giữa Từ chân tảng đá củamặt nền, cột cái vơn thẳng lên đỡ lấy thợng lơng, các con rờng ăn mộng vớicột cái chạy ra hai bên và chiếc rờng cuối cùng của mỗi bên vơn dài và tì lực

Trang 32

lên hai đầu cột quân hai bên Trên ván bng của vì nóc và xà dọc đợc chạmhình rồng ngoảnh mặt ra ngoài, mồm rộng, mây tóc rồng tạo thành những đaomác bay về phía sau, hai bên có hai con rồng đang nô đùa, bẩy hiên cũng đợccách điệu thành đầu rồng.

Với những hoạ tiết trang trí nh vậy sẽ tạo cho ngời đến thăm đền mộtcảm giác uy nghiêm trớc khi vào Bái đờng và Chính cung

* Nghi môn nội:

Tiếp tục đi dọc theo con đờng chính đạo lát gạch từ Nghi môn ngoạivào đến Nghi môn nội Dọc hai bên đờng chính đạo là hai hồ sen mới đợc xâydựng vào năm 2000 tạo cho cảnh quan ngôi đền thêm đẹp, hài hoà, có mộtkhông khí dễ chịu bởi hơng thơm của sen mỗi độ hè về

Về đại thể, Nghi môn nội cũng có kết cấu giống Nghi môn ngoại, bờnóc của Nghi môn nội cũng là một đờng xây bằng gạch đợc trát vữa tạo thànhnhững đờng gờ nổi chạy song song, mái cũng đợc lợp bằng ngói vảy rồng, vìnóc của Nghi môn nội cũng có kết cấu theo kiểu chồng rờng vì ba hàng châncột, hai đầu đốc là ván bng lụa ở đây cũng có ba cửa đi vào, đợc dựng bằng

Nhà Vọng gồm năm gian theo kiểu vì chồng rờng, đợc xây dựng trên

bộ khung liên kết theo kết cấu bốn hàng chân cột Nhà Vọng có hệ thống cửa

để đóng và mở ở phía trớc, trang trí trên kiến trúc chủ yếu là bào trơn đóngbén

ở phía trớc nhà Vọng là “vờn hoa ngoại quốc” ở giữa vờn hoa có hònnon bộ “hình nhân bái tớng” (con ngời ngỡng vọng)

Trang 33

Toà ngoài gồm năm gian, kiến trúc bốn hàng chân cột Hậu cung củanhà Khải Thánh chỉ có ba gian, cũng có kết cấu theo kiểu vì bốn hàng châncột, nhng hàng cột quân ở đây đợc làm bằng đá chứ không phải bằng gỗ.

Toà hậu cung của nhà Khải Thánh có kết cấu kiến trúc bên trên là ợng trụ chung” và bên dới là “Hạ chồng rờng” Trên thợng lơng của hậu cung

“Th-có ghi “Hoàng triều Bảo Đại Quý Dậu niên, tam nguyệt cát nhật” Trong tòahậu cung còn có một kiệu bát cống và trên nhang án có bày bài vị thờ Thợnghoàng Đinh Công Trứ và Thái hậu Đàm Thị - phụ mẫu của vua Đinh

Phía trớc nhà Khải Thánh có một vờn hoa ở giữa vờn hoa là một hònnon bộ lớn “cửu long tranh châu” (chín con rồng tranh ngọc)

* Nhà bia:

Đi từ ngoài vào trong, phía trên của nhà Khải Thánh là nhà bia Nhàbia đợc xây dựng quay theo hớng Đông, nhà bia còn lu giữ đợc nhiều mảngkiến trúc ở thế kỷ XVII Mái của nhà bia đợc xây gờ giật cấp, đợc lợp bằngngói vảy rồng, nền nhà đợc lát bằng gạch Bát Tràng (30 x 30 cm) Kết cấu

bộ vì của nhà bia là bộ vì chồng rờng và bốn hàng chân cột Trong đợt trùng

tu gần đây nhất nhà bia cũng đợc sơn son thiếp vàng tất cả các cấu kiện bằng

gỗ

Bên trong nhà bia có đựng ba tấm bia đá Tấm bia có niên đại sớm nhất

là bia công đức có niên hiệu Hoằng Định thứ 7 (1606), bên cạnh là bia có niênhiệu Chính Hoà thứ 17 (1696) có ghi “Bài ký bia công đức ở miếu Đinh TiênHoàng triều trớc” Bia cuối cùng là tấm bia có niên đại muộn nhất- bia công

đức có niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843)

đợc trang trí hình những con tôm, con cá là những con vật dới nớc, chuột và

Trang 34

hình ảnh con trâu là con vật trên cạn Nh vậy những ngời nghệ sĩ đa cả nhữngnét dân gian vào trong Long Sàng.

Xung quanh Long Sàng có hai hàng chân cột để cắm cờ, bát bảo, vũ khítrong ngày hội, tợng trng cho các thứ bậc của các quan văn võ, trong đó có m-

ời thanh long đao tợng trng cho mời đạo quân

Hai bên sập Long Sàng có hai con rồng đá kiểu yên ngựa, tạc vào đầuthế kỷ XVII, khi mới xây dựng lại đền Đó là hai con rồng bằng đá xanhnguyên khối Trên mình và dới bụng đợc phủ những nét mây đao mác vun vúttoả về phía sau, làm cho rồng nh đang lao về phía trớc

Cạnh đó là hai con nghê đợc tạo hình chắc khoẻ, đầu ngẩng cao, mồmhá, mũi hếch, tóc xoăn, bụng thắt lại, từng thớ thịt ở hông nổi rõ, ở đùi haichân trớc và hai chân sau của nghê đợc điểm vài nét mây đao mác vút nhọnlàm cho hai con nghê thêm khoẻ mạnh

Với di vật tiêu biểu nh sập Long Sàng, rồng đá, nghê đá đã minh chứngcho tài năng của các nghệ nhân thời bấy giờ

* Tòa Bái đờng:

Đền có ba toà: Bái đờng gồm 5 gian, Thiêu hơng 3 gian và Chính cung

5 gian tạo ra hình chữ “công”

Toà Bái đờng là nơi thờ công đồng đợc đặt trên nền tam cấp cao 50 cm

so với sân rồng ở hàng hiên ta bắt gặp 6 cái cột to đợc sơn son thiếp vàng trên

đó có trang trí hình rồng uốn lợn trong mây núi Sức nặng của mái hiên trớcdồn vào 6 chiếc cột to này Đế của cột đợc đặt lên trên khối đá đợc đẽo gọttheo hình quả găng phồng to ở giữa, trên và dới uốn vào

Nhìn toàn thể đền có chiều cao thấp, bên trong thì tối đợc bao phủ bằngmột màu đỏ tạo cho đền sự uy nghiêm, cổ kính giống nh cung điện ngày xa

Mái của đền đợc lợp bằng ngói vảy rồng Đỉnh trên cùng của mái có haicon rồng bám chặt dọc theo đỉnh mái, uốn lợn nhiều vây móng, quay mặt vàonhau ở chính giữa của đỉnh mái là hình ảnh mặt trời, một hình ảnh khá quenthuộc và đợc tôn thờ của c dân nông nghiệp phơng Nam Mặt trời với nhữngtia sáng đâm thẳng lên bầu trời Đó chính là lúc mặt trời lúc chính ngọ Hình

ảnh “lỡng long chầu nhật” ở trên đỉnh mái là hình ảnh khá quen thuộc của đền

ở Việt Nam, mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn

Để vào trong Bái đờng phải bớc qua một ngỡng cửa cao 55 cm bằng gỗ.Vào trong ta thấy nền của Bái đờng đợc lát bằng gạch Bát Tràng màu đỏ có

Trang 35

kích thớc 30 x 30 (cm) Bộ khung đợc định vị khá vững chắc với bộ vì theokiểu chồng rờng trên cột, kết cấu kiến trúc bốn hàng chân cột tạo thành 5 gian,kích thớc các gian không đều nhau Cửa đền lui vào tận hàng cột cái tạo thànhcác mảng chồng rờng ở trớc cửa đền.

ở Bái đờng có một đôi xà cổ ngỗng khá đẹp, thực chất đây là một kẻgóc đợc tạo hình thành tác phẩm nghệ thuật, vừa có trách nhiệm đỡ mái, vừache các đầu hoành, tất cả con rờng đều đợc tạo hình đầu rồng, các cột cái vàcột quân đều đợc liên kết với nhau bằng kẻ suốt Qua đó thể hiện tài năng củanhững nghệ nhân xây dựng đền

ở giữa Bái đờng có một tấm biển đợc sơn son thiếp vàng rất đẹp đề nổi

ba chữ Hán to “chính thống thuỷ” (nền chính thống) Để nhắc nhở về công laodẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn về một mối của vua Đinh TiênHoàng Xung quanh tấm biển đợc trang trí bằng những hình rồng dài Tấmbiển nh đợc đặt trên một đoá sen với những cánh sen cách điệu Bên dới đoásen đó là hình ảnh hai con rồng quay mặt lại với nhau

Bên dới tấm biển có hai câu đối ca ngợi nớc Đại Cồ Việt và kinh đôHoa L của cụ Vũ Phạm Khải (1807 - 1872):

“Cồ Việt quốc đơng Tống Khai Bảo Hoa L đô thị Hán Trờng An”

(Tạm dịch:

Nớc Đại Việt sánh cùng nớc Tống

Đô Hoa L ngang đô Tràng An)

Trớc Bái đờng là một cửa võng đợc chạm nổi và sơn son thiếp vàng rất

đẹp Mặt ngoài là một tấm gỗ đợc chia làm ba phần, phía trên đợc trang trínhững cánh sen tợng trng cho mùa hạ, đồng thời là biểu tợng của nhà Phật,phần giữa là đề tài “lỡng long chầu nguyệt”

Các đề tài điêu khắc ở các bức cốn diềm cửa ngoài Bái đờng khá phongphú nh: “lỡng long chầu lá đề”, “lỡng long chầu nguyệt” mà mặt nguyệt cóchữ “vạn” của nhà Phật Bên cạnh rồng còn có đề tài “phợng chầu mặtnguyệt”, “lân chầu lá đề”

Nhìn chung ở tòa Bái đờng đã lu giữ những dấu ấn tu sửa của nhiều thời

đại, thể hiện tài hoa của ngời nghệ sỹ xa

* Tòa Thiêu hơng:

Trang 36

Toà Thiêu hơng ở giữa, thờ các vị công thần của nhà Đinh Tòa Thiêuhơng gồm 3 gian, đợc lợp bằng ngói vảy rồng, vuông góc với tòa Bái đờng vàChính cung tạo thành chữ “công” của ngôi đền.

ở Thiêu hơng vẫn còn giữ đợc các mảng ván bng đố lụa cổ Liên kết vì

đợc hình thành dựa trên bốn hàng cột, hai hàng cột cái ở giữa và hai hàng cộtquân ở hai bên, lực của tòa Thiêu hơng dồn vào hệ thống cột cái

Vì nách của tòa Thiêu hơng là những con rờng cánh chồng lên nhau để

đỡ hoành mái, các con rờng ở đây đợc tạo thành một tác phẩm nghệ thuật đặcsắc với đề tài rồng đàn, rồng ổ

Toà Thiêu hơng có một nhang án khá đẹp, có niên đại thế kỷ XVII.Trên nhang án có mũ “Bình Thiên” tợng trng cho vơng miện của vua Đinh,một biểu tợng của đế quyền

* Tòa Chính cung:

Qua tòa Thiêu hơng là đến Chính cung Nơi đây gồm 5 gian, đợc látbằng gạch Bát Tràng đỏ (30 x 30 cm) Chính cung thờ vua Đinh Tiên Hoàng

và các con của ông là Đinh Liễn, Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn

Chính cung cũng đợc xây theo kết cấu bộ khung là bốn hàng chân và vìkèo “thợng rờng hạ kẻ” ở đây các hoành mái cũng đợc đặt lên những hàngcột cái, cột quân bằng gỗ lim đợc sơn son thiếp vàng, đặt trên các tảng đá cổvuông, cổ bồng

ở Chính cung có đôi câu đối ca ngợi sự nghiệp thống nhất đất nớc của

Đinh Bộ Lĩnh

“Ngã Nam đế thống đệ nhất kỷTrờng An miếu mạo vạn thiên niên”

(Nghĩa là: Nớc Nam thống nhất kỷ thứ nhất

Trờng Yên miếu mạo muôn ngàn năm)

ở giữa Chính cung là tợng Đinh Tiên Hoàng: tợng ngồi trên ngai, nhìnthẳng về phía trớc nh đang chầu triều, t thế ngồi và để tay úp trên đầu gối nh-

ng dạng chân rộng nhìn rất oai vệ, đĩnh đạc, mặt tợng vua Đinh hơi ngửa nêncũng tạo thêm uy thế cho tợng Đầu của tợng đội mũ Bình Thiên có rủ tuaxung quanh, hai bên mũ chạm đôi rồng chầu quay mặt vào nhau, chính giữa làmột hình mặt trời đao lửa tua tủa toả ngợc lên phía trên Tợng vua Đinh TiênHoàng đợc tạo với khuôn mặt chữ điền, tai to, mặt lớn, cổ cao, mắt mở to,cánh mũi rộng lại đợc gắn râu dài xuống đến ngực nên càng tạo vẻ oai phong,thân mình đẫy đà, tất cả đợc tạo những khối căng tròn, nhiều đờng nét ở tay áo

Trang 37

và tà áo Tợng mặc áo long bào, cổ áo vắt chéo hình chữ V hẹp nhng nẹp rộng,trớc bụng có đeo đai ngọc, chân đi hia Tợng cao toàn thể từ chân đến đỉnh mũ

là 1,63 m, ngồi trên ngai có vành ngai rộng, ngai đợc đặt trên một sập rồng vàlại đợc kê trên bệ đá tam cấp để trơn không trang trí Hai bên bệ thờ có haicon rồng đá bán thân kiểu yên ngựa giống nh hai con rồng chầu bên cạnhLong Sàng ngoài sân rồng nhng đẹp hơn rất nhiều, râu rồng và bờm rồng còngiữ lại đợc nét mềm mại nh vẽ

ở phía bên trái tợng Đinh Tiên Hoàng là tợng Nam Việt vơng Đinh Liễn.Tợng đợc làm bằng gỗ mít và đợc đặt quay nhìn tập trung vào gian giữa của đền.Tợng đợc đặt ngồi trên bục, đội mũ cánh chuồn và hai cánh chuồn trên mũ của

Đinh Liễn vểnh lên, mặt cúi nhìn hơi thấp xuống, hai tay đa vào lòng cầm mộtchiếc khăn, kích thớc tợng nhỏ hơn tợng Đinh Tiên Hoàng, cổ áo hình tròn và cónẹp rộng, trớc bụng cũng đeo đai, râu hơi dài, hoa văn trên áo và quần tợng NamViệt vơng Đinh Liễn là những hoa lá tả thực, những con rồng uốn lợn mềmmại, các đờng nét trên khuôn mặt tợng giống nh tợng của vua cha Tợng caotoàn thân từ đỉnh mũ đến chân là 1,35 m

ở phía bên phải tợng vua Đinh Tiên Hoàng là tợng Vệ vơng Đinh Toàn vàThái tử Đinh Hạng Lang Hai tợng này cũng đợc làm bằng gỗ mít Hai pho tợngnày có kích thớc bằng nhau, toàn thể từ mũ đến chân cao 1,25 m Tợng đầu đội

mũ cánh chuồn, nhng hai cánh chuồn không vểnh lên nh tợng Đinh Liễn màchìa sang ngang Hai tợng đợc đặt ngồi trên bục, hai chân duỗi thẳng xuống

và có đi hài, hai tay cũng để vào lòng và cầm một chiếc khăn Mặt tợng và râucũng ngắn hơn so với tợng vua cha Đinh Tiên Hoàng và anh trai cả Đinh Liễn

Về đại thể những đờng nét trên khuôn mặt hai tợng này khá giống khuôn mặttợng vua cha và anh cả Tợng Vệ vơng Đinh Toàn và Thái tử Đinh Hạng Langcũng mặc áo long bào, cổ áo hình tròn, có đeo đai và phía trớc ngực áo là mặt

hổ phù khá đẹp và phần trang trí trớc bụng của thái tử Đinh Hạng Lang là mộtcon long mã đợc cách điệu

Cả 4 pho tợng đều đợc sơn son thiếp vàng rất đẹp và lộng lẫy Trang tríphía sau cả 4 bức tợng ở trên tờng gỗ là các đề tài “long mã” uốn lợn và hình

đuôi hoặc đầu của con rồng đợc cách điệu thành hình hoa lá

Đền vua Đinh là một công trình kiến trúc đẹp, tuy đã tu sửa nhiều lần,nhng còn giữ đợc một số mảng điêu khắc thời Hậu Lê với các đề tài tiên cỡirồng, lỡng long chầu lá đề, lỡng long chầu nguyệt, rồng ổ, rồng đàn, nhữngmảng điêu khắc này tô điểm cho đền thêm lộng lẫy Bên cạnh kiến trúc gỗ

Trang 38

ngôi đền còn đợc kết hợp với kiến trúc đá thể hiện ở những tảng đá cổ bồngmột kiểu kiến trúc phổ biến của đời Nguyễn Đây là điểm khác biệt của đền

Đinh so với đền Lê

* Lăng mộ vua Đinh:

Sau khị bị ám sát (979), linh cữu của vua đợc đa lên an táng trên đỉnh núiMã Yên, nằm trớc đền thờ vua Đinh Đó là một ngọn núi có hình yên ngựa, đềcao tinh thần thợng võ của nhà Đinh Để đến thăm mộ của vua Đinh ta phải trèoqua 265 bậc đá tính từ chân núi Mã Yên cho đến đỉnh Nơi mà linh cữu vua

Đinh an nghỉ đợc nhắc đến với tên gọi Yên Mã sơn thuỷ hữu tình

2.2 Đền thờ vua Lê Đại Hành

2.2.1 Lịch sử hình thành, quá trình trung tu, tôn tạo:

Theo đạo lý “uống nớc nhớ nguồn” tơng truyền rằng sau khi nhà Lý dời

đô ra Thăng Long vào năm 1010, nhân dân Trờng Yên xây dựng đền vua Lêthuộc địa phận của thôn Trờng Yên hạ để tởng nhớ công lao “kháng Tống,bình Chiêm” của vua Lê Đại Hành

Tơng truyền rằng đền vua Lê Đại Hành cũng đợc xây dựng trên nềncung điện cũ Ban đầu đền quay về phía Bắc Trải qua năm tháng, do lũ lụtthiên tai đền không còn nữa Vào thế kỷ XVII (1606), Lễ quận công Bùi ThờiTrung(là con ông Mỹ quận công Bùi Văn Khuê), ngời làng Chi Phong, tổngTrờng Yên, nay là thôn Chi Phong, xã Trờng Yên Sau khi bỏ nhà Mạc theonhà Lê, đã xây dựng lại ngôi đền nh cũ Nhng đã chuyển hớng quay về hớng

Đông vì cho rằng hớng Bắc là hớng của gió độc( gió heo may), của sự triềucống, hớng Đông là hớng đón ánh dơng, cao ráo và sáng sủa

Sang đời Lê Hi Tông (1676-1705) niên hiệu Vĩnh Trị thứ nhất (1676),nhân dân xã Trờng Yên đã đại tu lại ngôi đền

Đến thời Nguyễn, nhân dân Trờng Yên hạ đã xây dựng thêm ngôi nhà

Từ Vũ là nơi thờ Khổng Tử khi Nho giáo đợc suy tôn chi phối ý thức hệ phongkiến Nay đây là khu nhà làm việc của Ban quản lý di tích

Năm 1979, đền đợc đảo ngói, thay những cột rui bị hỏng do bị mối mọt

Đến năm 2002, đợc sự quan tâm cấp kinh phí của nhà nớc, cùng với đềnvua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành cũng đã đợc trùng tu Ban quản lý

di tích tiến hành thay vành rui, đảo ngói, sơn son thiếp vàng tất cả các côngtrình nằm trong khu di tích Điều này làm cho hệ thống kiến trúc gỗ ở đền Lê

Đại Hành thêm phần long trọng đẹp đẽ, khang trang

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Đất nớc Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nớc Việt Nam qua các đời
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
2. Lã Đăng Bật, Cố đô Hoa L lịch sử và danh thắng, Nxb Thanh niên, Hà Néi 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cố đô Hoa L lịch sử và danh thắng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
3. Nguyễn Xuân Thảo, Lã Đăng Bật, Xây dựng thành phố Hoa L du lịch. UBND tỉnh Ninh Bình, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thành phố Hoa L du lịch
4. Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn, Nxb Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn
Nhà XB: Nxb Hà Nội
5. Quỳnh C, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Néi 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
6. Danh nhân đất Ninh Bình, Trung tâm UNESCO thông tin t liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân đất Ninh Bình
7. Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký tiền biên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
8. Đại Việt sử lợc, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử lợc
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
9. Nguyễn Thế Giang, Kinh đô cũ Hoa L, Nxb Văn hóa, Hà Nội 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh đô cũ Hoa L
Nhà XB: Nxb Văn hóa
10. Nguyễn Văn Trò, Dơng Thanh Lam, Hoa L di tích và thắng cảnh, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa L di tích và thắng cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
11. Lịch sử Đảng bộ huyện Hoa L (1930 - 1996), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Néi 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Hoa L (1930 - 1996)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
12. Đặng Công Nga, Kinh đô Hoa L thời Đinh- Tiền Lê thế kỷ X, Sở văn hoá thông tin Ninh Bình, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh đô Hoa L thời Đinh- Tiền Lê thế kỷ X
13. Nguyễn Quang Ngọc, Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Trơng Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cơng lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam (tập 1)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Thân thế - sự nghiệp - tợng đài Đinh Tiên Hoàng, Sở Văn hóa Thông tin Ninh B×nh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân thế - sự nghiệp - tợng đài Đinh Tiên Hoàng
16. Hà Hùng Tiến, Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
17. Nguyễn Văn Trò, Bảo tàng Ninh Bình, Sở Văn hóa Thông tin Ninh Bình, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng Ninh Bình
18. Nguyễn Văn Trò, Cố đô Hoa L, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cố đô Hoa L
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
19. Nguyễn Văn Trò, Ninh Bình theo dòng lịch sử văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình theo dòng lịch sử văn hóa
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
22. Trơng Đình Tởng, Những nhân vật lịch sử thời Đinh - Lê, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân vật lịch sử thời Đinh - Lê
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ mặt bằng đền thờ vua đinh tiên hoàng - Tìm hiểu quần thể di tích đền thờ vua đinh tiên hoàng và đền thờ vua lê đại hành ở trường yên   hoa lư   ninh bình
Sơ đồ m ặt bằng đền thờ vua đinh tiên hoàng (Trang 89)
Sơ đồ mặt bằng đền thờ vua lê đại hành - Tìm hiểu quần thể di tích đền thờ vua đinh tiên hoàng và đền thờ vua lê đại hành ở trường yên   hoa lư   ninh bình
Sơ đồ m ặt bằng đền thờ vua lê đại hành (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w