Trong quá trình phát triển kinh tế, cả hai nớc đều cần đếnnhau với t cách là đối tác không thể thiếu.Cả Việt Nam và Trung Quốc đều có một vị trí chiến lợc vô cùng quan trọng về địa lý, c
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình tìm hiểu và thực hiện luận văn này, bản thân tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn, giúp đỡ tận tình chu đáo và khoa học về mọi mặt nh phơng pháp, kiến thức, tài liệu của thầy giáo hớng dẫn – TS Phạm Ngọc Tân cùng các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử; các cô, các bác, các chú ở th viện trờng Đại học Vinh, th viện khoa Lịch sử, th viện Quân khu 4 và các bạn bè
đồng nghiệp đã góp ý kiến cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu và hiệu quả của thầy giáo hớng dẫn – TS Phạm Ngọc Tân và các quý cô, thầy cùng các cô chú và bạn bè đã giúp tôi hoàn thành luận văn của mình.
Tháng 5/ 2002
Sinh viên: Mai Thị Hơng
Trang 2ViÖt – trung h÷u nghÞ V¹n cæ trêng thµnh
(Hå ChÝ Minh – Xu©n 1968)
Trang 3Mục lục
Trang
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 8
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 9
2.1.1 Tác động của tình hình thế giới và khu vực đến quan hệ Việt – Trung cuối những
năm 80 đầu những năm 90 29 2.1.2 Tác động của tình hình Việt Nam và Trung Quốc tới quan hệ Việt – Trung 31 2.1.2.1 Tình hình Việt Nam 31 2.1.2.2 Tình hình Trung Quốc 33
2.2.1 Quá trình bình thờng hoá quan hệ Việt – Trung (1986 – 1991) 36 2.2.2 Quan hệ Việt – Trung từ 1991 – 2001: Sự phát triển của tầm cao mới 41 2.2.3 ý nghĩa của việc việc bình thờng hoá và phát triển quan hệ Việt - Trung 51
2.2.3.3 Đối với khu vực và thế giới 57
3.1.1 Những tác động thuận chiều của tình hình quốc tế và khu vực đối với quan hệ Việt
3.1.2 Tác động của tình hình bên trong đến quan hệ Việt – Trung 61
3.2.1 Những vấn đề tồn tại trong quan hệ Việt – Trung 63 3.2.2 Những tác động ngợc chiều của tình hình quốc tế và trong nớc đối với quan hệ Việt
Trang 4A- Dẫn luận
I – Lý do chọn đề tài:
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX quan hệ Xô - Mỹ, hai cờng quốc lớnnhất thế giới chuyển từ “đối đầu” sang “đối thoại” Đặc biệt, đến năm 1989 hai bêntuyên bố xoá bỏ cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn 40 năm Điều này có tác dụnglớn đến sự biến chuyển của tình hình thế giới Quan hệ của nhiều nớc trên thế giới
từ chỗ thờng xuyên căng thẳng đã bắt đầu trở lại bình thờng Xu thế “đối đầu”không còn nữa, xu thế “đối thoại”, hoà bình, hợp tác đang trở thành xu thế chủ yếu,
đóng vai trò chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế
kỷ XX trở lại đây Mặt khác, trong bối cảnh mới của thế giới, “xu thế toàn cầu hoá,khu vực hoá” đang trở thành xu thế vận động chính của nền kinh tế tất cả các nớc.Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang nỗ lực phấn đấu để xây dựng nên một
“trật tự thế giới” mới – một “trật tự thế giới”, không có sự phân biệt chế độ chínhtrị, hình thái kinh tế hay tôn giáo, sắc tộc, cùng nhau hợp tác chung sống hoà bìnhtrên mọi phơng diện, lĩnh vực với phơng châm cùng có lợi, cùng chung sống hoàbình, giải quyết mọi vấn đề bằng thơng lợng và đối thoại Đó cũng chính là xu thế
“Đa phơng hoá - đa dạng hoá” toàn cầu, góp phần cho sự thúc đẩy mối quan hệ hợptác và liên kết giữa các quốc gia, lãnh thổ trong một “mái nhà chung”
Chính trong bối cảnh thế giới đó, mọi quốc gia đều có ý tởng xích lại gầnnhau hơn, nhằm phát triển và nâng cao vị trí quốc tế của mình Muốn vậy, các nớccần phải mở rộng giao lu và hội nhập, phát triển mối quan hệ hợp tác chính trị, kinh
tế, văn hoá Trên cơ sở nhận thức vấn đề đó, ngày nay nhiều quốc gia, dân tộc,
đã gạt bỏ mọi mâu thuẫn, hiềm khích, xung đột, thù địch để cùng nhau hợp tác,giao lu phát triển cùng có lợi, chung sống hoà bình và hữu nghị Trên tinh thần đó,Trung Quốc đã tiến hành bình thờng hoá quan hệ với Liên Xô, ấn Độ, Inđônêxia,Mông Cổ và chủ trơng xúc tiến bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam ở khu vực
Đông Nam á, với việc Việt Nam tuyên bố rút quân đội của mình ra khỏi lãnh thổCampuchia năm 1985 và rút hết hoàn toàn vào năm 1989, quan hệ Việt Nam vớicác nớc ASEAN bắt đầu đợc cải thiện và có xu hớng xích lại gần nhau hơn
Trong một thế giới mà mức độ tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn, nhu cầuphát triển, giao lu, kinh tế, văn hoá nhằm tăng cờng sự hiểu biết lẫn nhau để hợptác vì lợi ích chung của dân tộc đang trở nên cấp thiết Cũng nh mọi quốc gia khácquan hệ giữa hai nớc Việt Nam - Trung Quốc không nằm ngoài xu thế trên của thếgiới Trong một môi trờng quốc tế thuận lợi nh hiện nay, quan hệ Việt Nam - TrungQuốc có điều kiện chuyển sang giai đoạn phát triển mới
Trung Quốc là một cờng quốc, có diện tích bằng 1/4 châu á, chiếm gần 1/5dân số thế giới, lại có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, là cái nôi của nền văn minhnhân loại thời cổ Ngày nay, Trung Quốc lại là nớc đang phát triển theo con đờngxã hội chủ nghĩa, đang tiến hành công cuộc cải cách và mở cửa, đã và đang thu đợcnhững thành tựu hết sức to lớn trên mọi lĩnh vực, vị thế của Trung Quốc trên thế
Trang 5giới ngày càng đợc nâng cao Việt Nam là nớc nằm ở khu vực Đông Nam á, vớinguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú và có vị trí địa lý thuậnlợi cho giao lu kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế, cả hai nớc đều cần đếnnhau với t cách là đối tác không thể thiếu.
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều có một vị trí chiến lợc vô cùng quan trọng
về địa lý, chính trị, an ninh, quốc phòng lẫn kinh tế, là cửa ngõ của các nút giaothông yết hầu trên cả ba tuyến đờng bộ, đờng thuỷ, đờng hàng không của khu vựcchâu á - Thái Bình Dơng và cả thế giới; Lại là hai nớc láng giềng “núi liền núi,sông liền sông”, cùng tồn tại bên nhau qua hàng ngàn năm lịch sử và có quan hệhữu nghị truyền thống lâu đời
Do vậy, xuất phát từ nhận thức về vị trí và vai trò của nhau trong khu vực vàtrên trờng quốc tế, cũng nh lợi ích của hai dân tộc, việc bình thờng hoá quan hệ hainớc Việt - Trung, cùng nhau hợp tác và phát triển đi lên trở thành điều rất cần thiết.Dới sự tác động của tình hình khu vực và thế giới, với phơng châm “khép lại quákhứ, mở ra tơng lai”, “hớng về đại cục” dựa trên cơ sở năm nguyên tắc chung sốnghoà bình, đáp ứng nguyện vọng, lòng mong mỏi của nhân dân hai nớc cũng nh lợiích chính đáng của hai nớc, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, ổn định, hợp tác vàphát triển ở khu vực và trên thế giới, Đảng và Chính phủ Việt Nam - Trung Quốc
đã cùng nhau bình thờng hoá và phát triển quan hệ giữa hai nớc lên một tầm caomới
Tuy nhiên mọi sự hợp tác đều phải dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau Do vậynghiên cứu một cách có hệ thống quan hệ hai nớc trong bối cảnh quốc tế sau chiếntranh sẽ góp phần tìm hiểu chính sách đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốctrong thời gian qua, về chính sách của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam á, đặcbiệt với Việt Nam, đồng thời hiểu rõ hơn vị trí của Việt Nam trong chiến lợc củaTrung Quốc Nghiên cứu “quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ 1986 đến nay (tháng11- 2001)” sẽ góp phần khẳng định sự đúng đắn của đờng lối đối ngoại của nớc tatrong thời gian qua, cũng nh hiểu thêm những thăng trầm trong quan hệ hai nớc,vạch ra nguyên nhân cùng các nhân tố chi phối, tác động đến quan hệ, ảnh hởngcủa quan hệ đến lợi ích của từng nớc và khu vực; Đồng thời rút ra một số nhận xét
về mối quan hệ Việt - Trung, từ đó góp phần nhỏ vào việc dự đoán triển vọng củamối quan hệ hai nớc Việt Nam - Trung Quốc trong thiên niên kỷ này
Nh chúng ta đã biết, trong chơng trình học tập ở Đại học, phần lịch sử TrungQuốc có vị trí đáng kể, nhng cha đáp ứng đợc yêu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về lịch
sử nớc này cũng nh quan hệ giữa Trung Quốc và các nớc láng giềng (trong đó cóViệt Nam), bởi vậy đã lôi cuốn chúng tôi đi sâu tìm hiểu nhằm bổ sung những chitiết mới Đồng thời cũng là nguyên nhân khiến chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểuquan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ 1986 đến nay” cho luận văn tốt nghiệp củamình
II- Lịch sử nghiên cứu vấn đề :
Trang 6Trong bối cảnh mới của thế giới từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây đặc biệt là do
sự phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực,nên đã lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Việt Nam Trên cơ sở đó, để
đáp ứng yêu cầu nghiên cứu về Trung Quốc, Trung tâm khoa học xã hội và nhânvăn quốc gia đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc Từ Trung tâm này đã
ra đời nhiều công trình nghiên cứu về đất nớc Trung Quốc cũng nh mối quan hệViệt - Trung Bên cạnh đó, còn có nhiều tạp chí chuyên ngành khác nh tạp chínghiên cứu Quốc tế, nghiên cứu Đông Nam á, nghiên cứu kinh tế thế giới, tạp chícộng sản, báo nhân dân, báo quân đội thờng xuyên có những bài nghiên cứu vềTrung Quốc và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trên tất cả các mặt Những bài viếtnh: “Nhìn lại quan hệ Trung Quốc - Đông Nam á từ sau chiến tranh lạnh đến nay”(Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á số 1/1999); “Mốc mới trong quan hệ Việt -Trung” của Vũ Khoan (Tạp chí cộng sản số 6, 3/1999); “Quan hệ hữu nghị Việt –Trung tiến tới tầm cao mới” của Trờng Lu (Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 2(24) - 1999); “50 năm quan hệ Việt - Trung” của Bùi Thanh Sơn (Tạp chí nghiêncứu Quốc tế số 01, 2/2000); “Mùa xuân mới của quan hệ Việt - Trung” của NguyễnHuy Quý (Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 1 (29) - 2000); “Củng cố lòng tin vàhợp tác lâu dài” của Xuân Thông (Tuần báo Quốc tế từ 6 - 12/12/1990) đã đềcập tới quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, đánh giá khách quan, khoa học mốiquan hệ hai nớc
Bên cạnh đó, có một số cuốn sách đã đợc xuất bản nghiên cứu về mối quan
hệ Việt - Trung Nh cuốn: “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30năm qua” (NXB Sự thật Hà Nội 1981); “Sự thật về những lần xuất quân của TrungQuốc và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc” (NXB Đà Nẵng 1996) Trong cáccuốn sách này đã trình bày khá rõ nét quan hệ chính trị Việt – Trung từ năm 1945
đến trớc khi hai nớc bình thờng hoá quan hệ Song do hoàn cảnh lịch sử, các tácphẩm này nhìn chung có cách đánh giá và nhìn nhận có phần khắt khe, không cònphù hợp với xu thế hiện nay trong quan hệ giữa hai nớc Trong luận văn này, chúngtôi tự đặt cho mình nhiệm vụ hệ thống hoá, sắp xếp lại những vấn đề đã đợc công
bố trên các sách, tạp chí, báo nhằm có một cái nhìn tổng thể về mối quan hệ Việt– Trung trong 16 năm qua
III- Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Để tìm hiểu thêm về Trung Quốc cũng nh chính sách đối ngoại của TrungQuốc và Việt Nam trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt mối quan hệ Việt - Trung, nênchúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu quan hệ Trung Quốc – Việt Nam từ 1986 đếnnay” (tháng 11 - 2001)
Trong đề tài này chúng tôi đặt ra những mục đích sau:
Trang 7- Tìm hiểu một cách khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trớcnăm 1986 (giới hạn thời gian từ 1950 - 1986).
- Tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ 1986 đến 2001, trong đónhằm giải quyết những vấn đề cơ bản:
+ Quá trình bình thờng hoá quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ 1986 – 1991.+ Tiến trình khôi phục và phát triển của quan hệ Việt - Trung từ 1991 –2001
- Dự đoán triển vọng của quan hệ Việt - Trung trong những năm đầu thế kỷXXI, trong đó vạch ra những nhân tố chi phối thuận chiều và ngợc chiềutới sự phát triển quan hệ Việt – Trung trong tơng lai
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu sâu, kỹ vềmối quan hệ Việt - Trung trên tất cả các lĩnh vực, mà mục đích của đề tài chỉ nhằmtìm hiểu mối quan hệ Việt - Trung trên lĩnh vực chính trị từ năm 1986 đến tháng 11
- 2001 Nếu đề tài hoàn thành tốt sẽ góp phần nhỏ bé vào việc hiểu hơn mối quan
hệ của hai nớc Việt Nam - Trung Quốc Với những tài liệu có đợc cha phải là nhiều
và việc thu thập t liệu còn gặp nhiều khó khăn và do trình độ còn hạn chế nên trongmột thời gian ngắn cha thể nắm đợc các nguồn t liệu cần thiết nhất là những t liệu
từ phía Trung Quốc Nghiên cứu mối quan hệ chính trị là một lĩnh vực có phần tếnhị, phức tạp và khó, trong khi nội dung đợc trình bày còn đang trong quá trìnhphát triển, do đó là một sinh viên, lại là lần đầu tiên nghiên cứu một đề tài lớn nhvậy, nên cách viết, cách đánh giá vấn đề còn nhiều hạn chế Chắc chắn rằng nhữngkết quả đạt đợc ở đây mới chỉ là bớc đầu và không thể tránh khỏi những thiếu sót.Chúng tôi rất mong muốn nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô, các bạnquan tâm tới vấn đề này, nhằm mục đích cuối cùng làm cho luận văn có chất lợng
và hoàn thiện hơn
IV- Phơng pháp nghiên cứu:
Trớc hết, đây là một đề tài nghiên cứu về khoa học xã hội, là một trongnhững mảng của công tác nghiên cứu khoa học Tuy nhiên mỗi loại đề tài bao giờcũng đặt ra những vấn đề cụ thể của nó, do vậy phơng pháp chúng ta sẽ dùng đểnghiên cứu cũng phải tùy thuộc vào vấn đề đã đợc đặt ra Với t cách là một ngờinghiên cứu lịch sử, xét về mặt quan điểm phải đứng trên lập trờng chủ nghĩa duyvật lịch sử; phải lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm phơng pháp luận cho vấn đề nghiêncứu Vì lẽ đó, với đề tài đã chọn, phơng pháp nghiên cứu tối u nhất mà chúng tôi sửdụng trong luận văn là phơng pháp bộ môn, phơng pháp lịch sử và phơng pháplôgíc
Lịch sử cần phải tái hiện một cách chân thực nhất, những sự kiện diễn ra baogiờ cũng phải rút ra đợc quy luật lịch sử của nó Đồng thời cần phải đặt sự kiện đó
Trang 8trong bối cảnh thế giới cũng nh trong nớc lúc đó Qua phân tích cần sử dụng phơngpháp so sánh, thống kê xã hội học để đi đến những kết luận cụ thể Vì vậy, để hoànthành tốt, cần phải tập hợp đợc nhiều t liệu, qua đó để so sánh, đối chiếu rồi tổnghợp những nét cơ bản của quan hệ Việt - Trung, của sự thăng trầm và phát triểnmối quan hệ hai nớc.
V – Bố cục luận văn:
A - Dẫn luận
I- Lý do chọn đề tài
II- Lịch sử nghiên cứu đề tài
III- Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài
IV- Phơng pháp nghiên cứu
V- Bố cục đề tài
B- Nội dung:
Chơng 1: Khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
từ năm 1950 đến 1986Chơng 2: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Mời lăm năm khôi phục và phát triển (1986 - 2001)
Chơng 3: Triển vọng của quan hệ Việt –Trung
C- Kết Luận:
Phụ lục Tài liệu tham khảo
Trang 9
B- Nội dung
Chơng 1: Khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
từ năm 1950 đến năm 1986
1.1 Bối cảnh quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ năm 1950 đến năm 1986
Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng “Núi liền núi, sông liềnsông” đều có lịch sử lâu đời và đã tồn tại bên nhau qua hàng ngàn năm lịch sử Haidân tộc đã có nhiều nét tơng đồng về văn hoá và từ xa xa đã có mối quan hệ banggiao Trải qua các thời kỳ lịch sử, Việt Nam và Trung Quốc đã từng có mối quan hệchặt chẽ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá v.v Mối quan hệ truyềnthống này càng đợc củng cố và phát triển hơn trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt làtrong thập kỷ gần đây
Sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945), hoàn cảnh lịch sử thế giới có nhiềuthay đổi có lợi cho nhiều quốc gia, lãnh thổ đang bị ách áp bức bóc lột của chế độthực dân Trớc thời cơ thuận lợi đó, nhiều quốc gia và lãnh thổ đã giải phóng đất n-
ớc và giành đợc chính quyền, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hớng đó Mùathu năm 1945, với tinh thần quật khởi, nhân dân Việt Nam đã làm nên cuộc cáchmạng tháng Tám thành công, giành chính quyền về tay nhân dân Ngày 2 – 9-
1945, tại quảng trờng Ba Đình lịch sử, với cờ đỏ ngợp trời, Chủ tịch Hồ Chí Minhthay mặt cho toàn thể đồng bào cả nớc, đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nớcViệt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nớc công nông đầu tiên ở Đông Nam á kể từ
đây, nớc Việt Nam bớc vào một kỷ nguyên mới: Độc lập, Tự do Song trên thực tếnhân dân Việt Nam đã không đợc hởng trọn vẹn nền độc lập, tự do ấy Với âm mubiến Việt Nam thành thuộc địa, Pháp trở lại xâm lợc Việt Nam lần thứ hai, nhândân Việt Nam đã phải bớc vào một cuộc kháng chiến chín năm trờng kỳ gian khổchống thực dân Pháp (1946 - 1954) Bắt đầu từ năm 1950, cuộc kháng chiến củanhân dân Việt Nam đã có những chuyển biến đáng kể, chuyển dần từ thế phòngngự sang thế phản công chiến lợc liên tục trên các chiến trờng Đỉnh cao của sựchuyển biến này là chiến dịch Điện Biên Phủ, diễn ra từ ngày 13 – 3 đến ngày 7 -
5 – 1954 và giành đợc thắng lợi to lớn, có tính chất quyết định toàn bộ tiến trìnhcủa cuộc kháng chiến Thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơnevơ (21 - 7 - 1954),rút quân về nớc, lập lại hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của ba nớc
Đông Dơng Nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chốngthực dân Pháp xâm lợc
Do so sánh lực lợng và tình hình chính trị thế giới phức tạp lúc đó, Việt Namtạm thời bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng và đi lên chủnghĩa xã hội, còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và lực lợng tay sai thống trị
Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nớc còn cha hoàn thành.Nhân dân miền Bắc Việt Nam vừa phải lo hàn gắn vết thơng chiến tranh, khôi phụckinh tế, đa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, vừa phải tiếp tục ủng hộ cuộc cách
Trang 10mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất
đất nớc Cuối cùng, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam kéo dàihơn 20 năm ròng (1954 - 1975) đã kết thúc và giành thắng lợi với Đại thắng mùaxuân năm 1975 đa non sông thu về một mối và từ đây dân tộc Việt Nam, nhân dânViệt Nam bớc vào thời kỳ hoà bình, độc lập thực sự, xây dựng đất nớc, tiến lên chủnghĩa xã hội
Do những điều kiện khách quan và chủ quan, nên công cuộc giành lại chínhquyền của nhân dân Trung Quốc diễn ra có muộn hơn so với Việt Nam Ngày 1 –
10 –1949 là sự kiện lịch sử trọng đại của nhân dân Trung Quốc, tại Quảng trờngThiên An Môn, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã tuyên bố trớc toàn thế giới, sự ra đờicủa nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa – Nhà nớc dân chủ nhân dân lớn nhất châu
á kể từ đây nhân dân Trung Quốc bớc vào công cuộc xây dựng đất nớc trong điềukiện lịch sử mới
Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, Trung Quốc bớc vào thời kỳ
đầu xây dựng cơ sở vật chất chủ nghĩa xã hội trong vòng 10 năm (1949 - 1959) và
đã gặt hái đợc những thành tựu quan trọng Lần đầu tiên ở Trung Quốc đã xuất hiệnmột chế độ xã hội mới tốt đẹp với sự phát triển tơng đối nhanh chóng trên mọi lĩnhvực
Tuy nhiên, từ năm 1959, Trung Quốc bớc vào thời kỳ dài không ổn định vềkinh tế, chính trị – xã hội (1959 - 1978) Đầu năm 1958, Mao Trạch Đông triệutập Hội nghị trung ơng Đảng cộng sản Trung Quốc đề ra đờng lối “Đại nhảy vọt”với phơng châm xây dựng chủ nghĩa xã hội nhanh, nhiều, tốt, rẻ, tiếp đó đề ra đờnglối “Ba ngọn cờ hồng”: Đờng lối chung, Đại nhạy vọt và Công xã nhân dân Nhữngnhiệm vụ đợc đề ra trong thời điểm này đều là quá sức và do vậy, Trung Quốc rơivào khủng hoảng kinh tế trầm trọng Năm 1958 có 30 triệu ngời chết đói, đồngruộng bị bỏ hoang, sản xuất bị đình đốn, nền kinh tế giảm sút nghiêm trọng Nhậnthấy tình hình đất nớc hết sức nguy ngập, Đảng cộng sản Trung Quốc đã khẩn cấpthay thế một số nhân vật đứng đầu và lập ra tổ sữa chữa sai lầm của đờng lối đạinhảy vọt và ba ngọn cờ hồng (Mao Trạch Đông không còn giữ chủ tịch nớc, LuThiếu Kỳ thay thế) Từ đây, Trung Quốc từ sự khủng hoảng về kinh tế dẫn đến sựkhủng hoảng về chính trị hết sức trầm trọng Nội bộ Đảng cộng sản Trung Quốcdiễn ra sự bất đồng tranh chấp quyền lực giữa các cá nhân, đảng phái hết sức quyếtliệt mà đỉnh cao là cuộc “Đại cách mạng văn hoá vô sản” Trớc tình hình đất nớclâm vào tình trạng bi đát về mọi mặt đó, Trung Quốc thấy cần phải có một cuộccách mạng để đổi mới đất nớc phát triển kịp các nớc tiên tiến Trong bối cảnh đó,Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Trung Quốc họp (tháng 12 –1978), quyết định đa ra đờng lối cải cách kinh tế – xã hội của Trung Quốc Đất n-
ớc Trung Quốc bớc vào thời kỳ mới: ổn định xây dựng đất nớc Cải cách mở cửa,xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc
Nh vậy, với việc hai nớc Việt - Trung giành lại độc lập, thì việc khôi phụcmối quan hệ bang giao lâu đời trở thành một yếu tố khách quan tất yếu
Trang 11Tuy nhiên, mối quan hệ Việt - Trung bên cạnh chịu sự tác động của tình hìnhtrong nớc, thì còn chịu sự ảnh hởng của tình hình khu vực và quốc tế Đến năm
1957, hầu hết các nớc ở Đông Nam á thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thựcdân kiểu cũ Các nớc này bớc vào thời kỳ mới – thời kỳ xây dựng và phát triển đấtnớc, với những bớc đi khác nhau phù hợp với điều kiện lịch sử của mình Tuynhiên, hầu hết các nớc Đông Nam á đều có nền kinh tế phát triển yếu ớt, lạc hậu
Do vậy, trong quá trình xây dựng đất nớc, nhiều nớc trong khu vực đã chịu sự chiphối của các cờng quốc bên ngoài nh Anh, Pháp, đặc biệt là Mỹ
Bên cạnh đó từ năm 1950, với việc các nớc Đông Âu hoàn thành căn bảncuộc cách mạng dân chủ nhân dân và cùng với thắng lợi của cách mạng dân tộc,dân chủ ở Trung Quốc, hệ thống xã hội chủ nghĩa đợc hình thành trên phạm vi toànthế giới Trong tình hình đó, với âm mu bá chủ toàn cầu đồng thời chống lại LiênXô và các nớc xã hội chủ nghĩa Mỹ chính thức phát động cuộc chiến tranh lạnh(tháng 3 – 1947), làm cho tình hình thế giới trở nên thờng xuyên căng thẳng Mốiquan hệ quốc tế lúc này là quan hệ đối đầu giữa hai cực Xô - Mỹ, hai khối Đông –Tây Cuộc chiến tranh lạnh do Mỹ phát động đã lôi kéo hầu hết các quốc gia, cáckhu vực trên thế giới vào vòng xoáy của nó và lẽ đơng nhiên Việt Nam, TrungQuốc đặc biệt là Trung Quốc cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó
Chính trong bối cảnh quốc tế và khu vực, cùng với tình hình nội tại của hainớc Việt Nam - Trung Quốc, mối quan hệ giữa hai nớc Việt Nam - Trung Quốc đã
đợc thiết lập Ngày 18 –1 – 1950, hai nớc Việt Nam - Trung Quốc đã chính thứcthiết lập quan hệ ngoại giao song phơng Sự kiện này đợc ghi nhận nh là một mốcson trong lịch sử quan hệ hai nớc Kể từ đây, mối quan hệ hữu nghị Việt – Trungbớc sang giai đoạn mới, tầm cao mới, khác hẳn về “chất lẫn lợng” so với nhữngthời kỳ trớc đó Tuy rằng mối quan hệ này trong giai đoạn mới không phải lúc nàocùng suôn sẻ
1 2 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ năm 1950 đến năm 1986
Sau ngày cách mạng Trung Quốc thành công (tháng 10 - 1949) trong bốicảnh tình hình quốc tế có những chuyển biến thuận lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng
Đảng và Chính phủ Việt Nam chủ trơng đẩy mạnh hơn nữa công tác ngoại giao vàtuyên truyền quốc tế, nhằm làm cho nhân dân thế giới trớc hết là nhân dân các nớcxã hội chủ nghĩa hiểu rõ, ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam toàn diện hơn trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp Với lý do đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã
đề nghị Trung Quốc, Liên Xô và Đông Âu giúp đỡ sự nghiệp kháng chiến của nhândân Việt Nam
Nớc cộng hoà nhân dân Trung Hoa trong thời kỳ đầu sau khi giành độc lập,những ngời lãnh đạo Trung Quốc với mong muốn tranh thủ điều kiện hoà bình đểnhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, tăng cờng tiềm lực quốc phòng cũng
nh nâng cao vị thế của Trung Quốc trên trờng quốc tế, nên đã tích cực ủng hộ, vàgiúp đỡ nhân dân Việt Nam giành độc lập Vì nớc Việt Nam độc lập có nghĩa làTrung Quốc không bị sự uy hiếp của chủ nghĩa đế quốc ở phía Nam và ngợc lại
Trang 12Trung Quốc đợc giải phóng có nghĩa là Việt Nam không bị sự uy hiếp của chủnghĩa đế quốc từ phơng Bắc Với tinh thần đó, đầu năm 1950, những ngời lãnh đạohai nớc Việt - Trung đã xúc tiến việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nớc.
Nh đã nói ở trên, đề nghị của Đảng, Chính phủ Việt Nam đợc Đảng, Chínhphủ và nhân dân Trung Quốc nhanh chóng đáp ứng Ngay cuối năm 1949, đồng chí
La Quý Ba đợc cử làm đại diện Trung ơng Đảng cộng sản Trung Quốc bên cạnhTrung ơng Đảng cộng sản Đông Dơng với nhiệm vụ: chuyển cho Trung ơng Đảngcộng sản Trung Quốc các đề nghị viện trợ của Việt Nam Ngày 5 – 1 – 1950, khi
làm việc với đại diện Việt Nam tại Bắc Kinh, đồng chí Lu Thiếu Kỳ nói: Cuộc“
kháng chiến ở Việt Nam do Đảng Việt Nam lãnh đạo rất đúng và rất hay Đảng Trung Quốc hết sức giúp Đảng Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ đó Các Đảng bạn khác nhất là Đảng cộng sản Liên Xô cũng cùng một quan điểm nh Đảng Trung Quốc và Việt Nam, trong cuộc kháng chiến phải tự lực cánh sinh là chính Sự giúp
đỡ bên ngoài chỉ là sự giúp đỡ chung” [61; 29 - 30] Theo thoả thuận giữa Chủ tịch
Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô, trớc mắt Liên Xô trang
bị cho Việt Nam một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, một số xe vận tải Môlôtôva vàthuốc quân y; Trung Quốc còn trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh và một
đơn vị pháo binh, đồng thời đảm nhận vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô choViệt Nam Trung Quốc sẽ cử một đoàn cố vấn quân sự, sang giới thiệu những kinhnghiệm chiến đấu của giải phóng quân và đồng ý cho Việt Nam đa Trờng Lục quânsang Vân Nam để đào tạo và bổ túc cán bộ [61; 31] Từ đây, Trung Quốc trở thànhcầu nối giữa Việt Nam với các nớc xã hội chủ nghĩa và các lực lợng tiến bộ trên thếgiới, đảm nhiệm vai trò chủ yếu viện trợ cho Việt Nam kháng chiến
Theo thoả thuận giữa lãnh đạo hai nớc, Trung Quốc cử một đoàn cố vấn quân
sự gồm 79 cán bộ u tú do đồng chí Vi Quốc Thanh phụ trách sang giúp cơ quan BộTổng t lệnh và một số đại đoàn chủ lực Việt Nam trên chiến trờng chính Bắc Bộ.Tại buổi gặp mặt các thành viên trong đoàn đợc tổ chức vào cuối tháng 6 – 1950 ở
Bắc Kinh trớc khi lên đờng sang Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói: Hồ“
Chí Minh và nhiều ngời Việt Nam đã từng tham gia và giúp đỡ cho cuộc đấu tranh cách mạng của Trung Quốc, có ngời còn đổ máu hy sinh Bây giờ các đồng chí sang giúp đỡ cuộc đấu tranh chống Pháp của họ là hoàn toàn nên” [61; 30] Và
trên thực tế, đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam đã không chỉ làmnhiệm vụ cố vấn, mà còn tham gia vào các chiến dịch của Việt Nam Trong tổng số
50 chiến dịch lớn nhỏ, đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tham gia bảy chiến dịch(Biên giới, Trung du, Đờng 18, Hà - Nam – Ninh, Tây Bắc, Thợng Lào, Điện BiênPhủ) Các đồng chí cố vấn đã đề xuất nhiều ý kiến hay và trực tiếp chỉ đạo một số
đơn vị chủ lực Việt Nam trên chiến trờng chính Bắc Bộ
Bên cạnh sự ủng hộ lớn lao về mặt chính trị và tinh thần kể cả sức ngời,Chính phủ và nhân dân Trung Quốc còn hết lòng chi viện về vật chất cho cuộckháng chiến của nhân dân Việt Nam Chỉ riêng trong năm 1950, Việt Nam đã nhận
đợc 3.983 tấn hàng viện trợ của Trung Quốc, trong đó có 1.020 tấn súng đạn, 161
Trang 13tấn quân trang, 30 xe vận tải Môlôtôva, 2.634 tấn gạo [40; 21] Số hàng viện trợ đótuy chỉ chiếm 18,5% tổng số vật chất mà bộ đội Việt Nam sử dụng năm 1950, song
có giá trị cực kỳ quý báu và quan trọng Trang bị và sức mạnh chiến đấu của một
số đơn vị chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam trên chiến trờng chính Bắc Bộ đợcnâng cao rõ rệt Đặc biệt là trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Việt Nam gặprất nhiều khó khăn về khâu hậu cần Chính phủ Việt Nam, bên cạnh sự huy độngsức đóng góp của toàn dân, đặc biệt là nhân dân các tỉnh Sơn La, Lai Châu, ViệtNam còn nhận đợc sự chi viện của Trung Quốc Số gạo viện trợ của Trung Quốccho Việt Nam là 1.700 tấn bằng 6,8% tổng số huy động Sau gạo là đạn, TrungQuốc chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ 3.600 viên đạn pháo, đó là cơ số đạn
đi theo 24 khẩu pháo viện trợ đa về Việt Nam từ cuối năm 1953, chiếm 18% tổng
số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch Ngoài số lợng đạn và pháo nói trên, TrungQuốc còn giúp trang bị cho Việt Nam một tiểu đoàn DKZ 75 ly và một tiểu đoànhoả tiễn sáu nòng (Ca-chiu-sa) Hai tiểu đoàn này đã kịp thời tham gia đợt tổngcông kích cuối cùng diễn ra chiều ngày 6 – 5 – 1954 và đã sử dụng 1.136 viên
đạn [40; ] Những viện trợ đó, góp phần tăng cờng cho sức mạnh của Việt Namtrong chiến dịch lịch sử này
Nh vậy, từ năm 1950, Việt Nam đã nhận đợc sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡcủa bạn bè quốc tế đặc biệt là của nhân dân Trung Quốc Số vũ khí, đạn, pháo,quân trang và lơng thực mà Chính phủ Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam chiếmkhoảng 20% tổng số vật chất bộ đội chủ lực Việt Nam sử dụng trên chiến trờngchính Bắc Bộ trong những năm 1950 – 1954 Điều này có ý nghĩa rất quan trọng,trong hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam lúc đó
Trong những năm kháng chiến gian khổ và về sau, nhân dân Việt Nam biết
rõ Trung Quốc vừa mới giành chính quyền, đất nớc còn nhiều khó khăn lại phảidốc sức Viện Triều chống Mỹ Song Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đãluôn đứng về phía Việt Nam Ngoài sự ủng hộ lớn nhất, có ý nghĩa nhất là ủng hộ
về chính trị và tinh thần, Trung Quốc còn hết lòng chi viện cho Việt Nam về vậtchất trong kháng chiến Viện trợ của Trung Quốc đã giúp Việt Nam giải quyết đợcnhiều khó khăn, nhất là về vũ khí và phơng tiện vận chuyển để mở các chiến dịchlớn đồng thời nhiều kinh nghiệm quý báu về tác chiến và xây dựng của Quângiải phóng Trung Quốc đã đợc bộ đội Việt Nam tiếp thu và vận dụng có hiệu quảtrên chiến trờng Việt Nam Tất cả đã góp phần quan trọng cho cuộc kháng chiếncủa nhân dân Việt Nam giành thắng lợi
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, đáng lẽ ranhân dân Việt Nam đợc hởng một nền hoà bình, độc lập Song thực tế đã không nhvậy, với âm mu mới của kẻ thù mới - đế quốc Mỹ, Việt Nam lại bớc vào cuộckháng chiến hơn 20 năm ròng (1954 - 1975) để giành lấy độc lập, toàn vẹn lãnh thổ
và bảo vệ thành qủa mà cách mạng tháng Tám đã gây dựng nên Sau 21 năm chiến
đấu vô cùng anh dũng và hy sinh, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc của nhândân Việt Nam đã giành đợc thắng lợi Sự giúp đỡ nhiệt tình quý báu của nhân dân
Trang 14và Chính phủ các nớc trên thế giới – trong đó có sự giúp đỡ to lớn của Đảng,Chính phủ, nhân dân Trung Quốc anh em đã góp phần làm nên thắng lợi đó.
Sự giúp đỡ của Trung Quốc trong những năm tháng nhân dân Việt Namchống Mỹ thực sự rất to lớn và có hiệu quả, những cũng phải trải qua “bớc pháttriển có thử thách”
Khi đế quốc Mỹ xâm lợc Việt Nam, Trung Quốc là một trong những nớc đãlên tiếng phản đối mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lợc phi nghĩa này Đến khi Mỹ
mở rộng chiến tranh sang miền Bắc – mở đầu bằng sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 5
-8 - 1964 thì ngày 6 - -8 - 1964, Chính phủ nớc cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã ratuyên bố lên án hành động xâm lợc của Mỹ và khẳng định tình đoàn kết và tráchnhiệm cao đối với Việt Nam, Trung Quốc cho rằng: Đế quốc Mỹ tấn công nớc ViệtNam dân chủ cộng hoà tức là tấn công nớc cộng hoà nhân dân Trung Hoa, do vậyTrung Quốc phải có trách nhiệm cùng với Việt Nam đánh Mỹ Trong tiến trình củacuộc chiến tranh, với bất kỳ hành động leo thang nào của đế quốc Mỹ, Chính phủ,nhân dân Trung Quốc đều lên tiếng phản đối Điều đó đợc thể hiện qua các sự kiệnnh: ngày 9 - 2 - 1965, khi Mỹ dùng không quân và tàu chiến đánh phá dữ dội thịxã Đồng Hới và một số mục tiêu thuộc tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh và đảo Cồn Cỏ,thì một ngày sau đó, ngày 10 - 2 – 1965, nhân dân thủ đô Bắc Kinh đã tổ chứccuộc mít tinh tại Quảng trờng Thiên An Môn với hơn một triệu ngời tham dự và sựtham gia của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa:Mao Trạch Đông, Lu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình Tại cuộc mít tinh,Trung Quốc đã lên tiếng phản đối tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ và tỏ rõ quyếttâm ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Tiếp đó, khi Chủtịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ, cứu nớc (17 – 7 - 1966), thìngày 22 – 7 – 1966 Trung Quốc đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Thiên AnMôn để tỏ lòng ủng hộ Việt Nam Trong dịp này, Chủ tịch nớc cộng hoà nhân dânTrung Hoa Lu Thiếu Kỳ đọc bản tuyên bố nhấn mạnh: “Chính phủ Trung Quốc nhắc lại rằng, đế quốc Mỹ xâm lợc Việt Nam tức là xâm lợc Trung Quốc 700 triệu nhân dân Trung Quốc là hậu phơng vững chắc của nhân dân Việt Nam Đất đai rộng lớn của Trung Quốc là hậu phơng đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam Nhân dân Trung Quốc hạ quyết tâm, đã chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, sẽ có
là cần thiết để cùng nhau đánh bọn xâm lợc Mỹ v.v…” [40; 60] Những lời tuyên
bố đó thể hiện tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong những lúc khó khăn của haidân tộc Việt – Trung, thể hiện đậm nét tinh thần vừa là đồng chí vừa là anh em
nh lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói Từ ngày 24 - 25/4/1970 nhân dịp Hội nghị cấpcao ba nớc Đông Dơng ra tuyên bố chung cùng nhau đoàn kết, gắn bó chống kẻ thùchung là đế quốc Mỹ, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã ra tuyên bố bày tỏ sựủng hộ kiên quyết nhất đối với bản tuyên bố chung của Hội nghị Đối với cuộc
kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, tuyên bố nêu rõ: Chính phủ và“
nhân dân Trung Quốc kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam tiến hành đến cùng
Trang 15cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nớc, để thực hiện mục tiêu thiêng liêng là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất đất nớc Quân xâm lợc Mỹ
và quân ch hầu phải lập tức rút khỏi miền Nam hoàn toàn và không điều kiện để nhân dân Việt Nam có thể tự giải quyết vấn đề của mình, không có bất cứ sự can thiệp nào của nớc ngoài” [40; 61] Để nhấn mạnh hơn nữa sự ủng hộ tuyệt đối về
mặt chính trị của nhân dân Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ba
nớc Đông Dơng – trong đó có Việt Nam, Thủ tớng Chu Ân Lai nói rằng: Nhân“
dân ba nớc Đông Dơng anh em có thể tin chắc rằng, trong cuộc đấu tranh chống
đế quốc Mỹ, nhân dân Trung Quốc mãi mãi đoàn kết sát cánh cùng chiến đấu để cùng nhau giành lấy thắng lợi” [40; 61] Rõ ràng, đối với nhân dân Việt Nam sự
ủng hộ về chính trị, tinh thần của Đảng, Chính phủ và 700 triệu nhân dân TrungQuốc là rất quý báu và cần thiết
Bên cạnh sự ủng hộ tuyệt đối về mặt chính trị, Trung Quốc còn giúp đỡ, việntrợ về vật chất cho nhân dân Việt Nam Trung Quốc là một trong những nớc đã việntrợ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nớc của nhân dân Việt Nam một khối l-ợng hàng hoá, vũ khí, kỹ thuật, phơng tiện chiến tranh, quân trang, quân dụng khálớn, kéo dài trong nhiều năm (mặc dù trong khoảng thời gian trên, Trung Quốc còngặp nhiều khó khăn về kinh tế, mức thu nhập bình quân tính theo đầu ngời còn rấtthấp) Lấy đồng rúp của Liên Xô làm đơn vị để tính toán thì giá trị hàng hoá củacác nớc viện trợ cả về quân sự và kinh tế cho nhân dân Việt Nam từ năm 1954 –
1975 là 7.067 triệu rúp (riêng 10 năm từ 1965 – 1975 là 6.561 triệu rúp) [45; 317]
Số lợng trên chủ yếu là của nhân dân hai nớc Liên Xô và Trung Quốc Chính phủ
và nhân dân Trung Quốc chủ yếu viện trợ cho Việt Nam vũ khí bộ binh, quântrang, quân dụng, lơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, ph-
ơng tiện vận tải và một số xe quân sự, pháo và đạn pháo Chỉ tính trong vòng 11năm (1965 - 1975), Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 4,847 triệu tấn lơngthực, 262 triệu mét vải, 89,1 nghìn tấn bông, 81,05 nghìn tấn sợi, 625,67 nghìn tấnsắt thép các loại, 1,573 triệu tấn than mỡ, 760 nghìn tấn xi măng, 1,774 triệu tấnxăng, dầu, mỡ nhờn các loại, 500 nghìn tấn phân urê, 2.510 toa xe lửa, 32.496chiếc ô tô, 1.400 chiêc máy ủi, 1.000 chiếc máy kéo lớn và 3.300 chiếc máy kéonhỏ [38] Sự viện trợ đó của Trung Quốc đã có ý nghĩa thiết thực đối với cuộckháng chiến gian khổ của nhân dân Việt Nam
Ngoài việc giúp đỡ vật chất, vũ khí, phơng tiện chiến tranh cho nhân dânViệt Nam đánh Mỹ, Trung Quốc còn đảm nhiệm một công việc rất quan trọng làvận chuyển quá cảnh số lợng hàng hoá, vũ khí, đạn dợc mà các nớc khác giành choViệt Nam Thực tế, một số cảng biển của Trung Quốc đã trở thành nơi tiếp nhận vũkhí đa xuống tàu biển vận chuyển sang Việt Nam Đồng thời, trong thời kỳ chiến
đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả lần thứ hai của đế quốc Mỹ,Trung Quốc đã giúp Việt Nam xây dựng các kho chứa xăng dầu ở Đồng Đăng(Lạng Sơn), Quảng Ninh và chi viện cho Việt Nam hàng trăm kilômét đờng ống dãchiến, cùng một số máy móc thiết bị Hoặc nh khi Mỹ tiến hành thả thuỷ lôi phong
Trang 16toả các cảng sông, biển, ngăn không cho tàu thuyền các nớc chuyên chở hàng hoá,
vũ khí vào giúp Việt Nam (1972), các thuỷ thủ Trung Quốc đã dùng tàu vận tảiHồng Kỳ neo đậu ở phao số 0 hoặc trong các cảng của Việt Nam, lợi dụng nớcthuỷ triều thả hàng hoá (chủ yếu là lơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bênh) giảiquyết nhu cầu cấp thiết cho Việt Nam
Tất cả những khối lợng vật chất phục vụ chiến tranh mà Trung Quốc đãgiành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam , thực sự là biểu t-ợng tốt đẹp của tình đoàn kết và tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa Nguồn sứcmạnh vật chất này đã đợc nhân dân Việt Nam sử dụng có hiệu quả trên chiến trờng,từng bớc đa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng
Trung Quốc không những giúp đỡ Việt Nam về vật chất, kỹ thuật mà đợc sựthoả thuận giữa Đảng và Chính phủ hai nớc, một số đơn vị công binh và bộ độiphòng không Trung Quốc đã sang giúp Việt Nam nâng cấp, sữa chữa và mở rộngthêm các tuyến đờng giao thông trên bộ thuộc các tỉnh biên giới giáp với TrungQuốc Một số trận địa phòng không của Trung Quốc đã triển khai để bảo vệ cho lựclợng làm đờng, bảo vệ cho việc vận chuyển bằng đờng sắt và đờng ô tô từ vùngbiên giới Trung Quốc xuống Lạng Sơn – Kép (Hà Bắc), Lào Cai - Yên Bái Ngay
từ cuối tháng 5 – 1965, bộ đội công binh Trung Quốc đợc cử sang giúp đỡ ViệtNam, đã ổn định nơi ăn chốn ở và bắt đầu triển khai công việc đợc giao, đến cuốinăm 1969 công việc sữa chữa, nâng cấp quốc lộ 3 đã cơ bản hoàn thành và đa vào
sử dụng Những việc làm trên đã góp phần thúc đẩy tốc độ vận chuyển khối lợnghàng hoá cho chiến trờng nhiều hơn những năm trớc đó Mồ hôi, công sức và cảmáu của bộ đội công binh Trung Quốc trong thời gian giúp Việt Nam sửa đờng, mở
đờng thực sự là những đóng góp quan trọng có hiệu quả đối với sự nghiệp chống
Mỹ cứu nớc của nhân dân Việt Nam
Chính phủ và nhân dân Trung Quốc không những giúp đỡ cuộc kháng chiếncủa nhân dân Việt Nam về vật chất, tinh thần mà lớn lao hơn, Trung Quốc cùngtham gia chiến đấu chống Mỹ với Việt Nam Cụ thể khi Mỹ mở rộng chiến tranhphá hoại miền Bắc, việc bảo vệ lực lợng công binh đang mở đờng và bảo vệ hànhlang biên giới vào các cửa khẩu, nơi tập kết, chuyên chở hàng hoá trở nên rất cầnthiết Trớc yêu cầu đó, đợc sự thỏa thuận của hai Đảng, hai Nhà nớc bắt đầu từ cuốinăm 1966, một số chi đội phòng không Trung Quốc đã luân phiên nhau sang thamgia chiến đấu chống máy bay Mỹ một số khu vực thuộc biên giới Việt – Trung
Đã có những chiến sỹ Trung Quốc chiến đấu anh dũng và hy sinh tại chiến trờngViệt Nam Trân trọng và ghi nhớ công ơn của các chiến sỹ quân đội Trung Quốc đãchiến đấu, hy sinh trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ trên miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã tuyên dơng công trạng, tặngthởng nhiều huân chơng, huy chơng cao quý cho các cán bộ, chiến sỹ của bạn,
đồng thời xây dựng nghĩa trang và khắc bia ghi nhận công lao của các chiến sỹTrung Quốc đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nớc của nhân dân Việt Nam
Trang 17Tất cả sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn mà Chính phủ và nhân dân Trung Quốcgiành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thật sự có ý nghĩalớn lao, góp phần tạo nên chiến thắng trong cuộc kháng chiến của nhân dân ViệtNam Điều đó nói lên rằng: Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi nhân dân Việt Namgặp khó khăn thì đều có sự ủng hộ, giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Trung Quốcanh em Điều đó đợc minh chứng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và chống Mỹ cứu nớc của dân tộc Việt Nam Chứng tỏ rằng mối quan hệ hữu nghịViệt - Trung đã luôn luôn đợc vun đắp và ngày một tốt đẹp, bền vững cùng vớichiều dài của thời gian Mối bang giao đó thắm đợm tinh thần anh em, đồng chí vàtinh thần quốc tế vô sản Sự giúp đỡ nhiệt thành của Trung Quốc với Việt Nam vôcùng quý giá và nhân dân Việt Nam mãi mãi không bao giờ quên
Tuy nhiên, bên cạnh sự giúp đỡ nhiệt tình, có hiệu quả về mặt vật chất vàtinh thần kể trên, ở một số thời điểm trớc những thử thách nghiêm trọng, TrungQuốc cũng đã gây nên những trở ngại cho tiến trình kháng chiến của quân và dânViệt Nam Điều đó, trên thực tế đã làm cho mối quan hệ Việt - Trung từ những năm
1954 đến 1975 không phải không có sự thăng trầm, rạn nứt
Với chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam (7 – 5 - 1954) đãbuộc thực dân Pháp vào ngồi vào bàn đàm phán, để tìm giải pháp thơng lợng chovấn đề Đông Dơng Tại Hội nghị Giơnevơ, lập trờng của những ngời lãnh đạoTrung Quốc và Việt Nam đã có sự khác nhau trong việc giải quyết vấn đề Đông D-
ơng Trung Quốc muốn chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dơng bằng một giải pháptheo kiểu Triều Tiên, nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị.Trung Quốc chủ trơng giải quyết riêng rẽ ba vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia,trong đó nớc Việt Nam sẽ bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17, Trung Quốc nhiều lần ép ViệtNam nhân nhợng để ký Hiệp định Giơnevơ Sở dĩ nh vậy bởi vì, lúc này TrungQuốc trên cơ sở tính toán lợi ích của mình không muốn Việt Nam đợc thống nhấtcả hai miền Nam Bắc, vì sợ Việt Nam mạnh lên sẽ là mối nguy hại cho TrungQuốc Hơn nữa, Trung Quốc chỉ cần Bắc Việt Nam đợc giải phóng và là khu đệm
an toàn, còn miền Nam Việt Nam có thể lệ thuộc vào Pháp hay Mỹ đều có lợi choTrung Quốc Sự thay đổi trong thái độ của những ngời lãnh đạo Trung Quốc đối vớiViệt Nam - là một điều đáng phê phán Bởi lẽ ra, qua thăng trầm của lịch sử, giờ
đây hai nớc đã đi theo một hớng, một lý tởng cao đẹp là: cùng xây dựng đất nớctheo con đờng xã hội chủ nghĩa, thì quan hệ phải là sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhautrên tinh thần quốc tế vô sản Cũng từ đây quan hệ hai nớc Trung – Việt chứa
đựng những mâu thuẫn song cha trở thành gay gắt, bởi vì Việt Nam có nhiệm vụnặng nề hơn phải hoàn thành là thống nhất đất nớc và Trung Quốc cũng nhận thấytrong bối cảnh đó Việt Nam cha phải là mối đe doạ chính của họ
Khi nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiên chống Mỹ, một mặtTrung Quốc vẫn giúp đỡ nhiệt tình cho Việt Nam, mặt khác, có những thay đổitrong đờng lối, hành động với Việt Nam Đặc biệt là việc Trung Quốc từng bớc tiếnhành thiết lập quan hệ với Mỹ đã gây nên những ảnh hởng không nhỏ đến sự
Trang 18nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam Trớc tiên, Trung Quốc cố thuyết phụcViệt Nam chấp nhận chủ trơng: “Trờng kỳ mai phục”, không dùng lực lợng vũtrang đánh Mỹ Tháng 11 – 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những ngời
lãnh đạo Việt Nam rằng: Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một
[40; 32] Khi Mỹ thăm dò thái độ của Trung Quốc với việc Mỹ mở rộng chiến tranh
ở Việt Nam, Trung Quốc tuyên bố: “Ngời (Mỹ) không đụng đến ta (Trung Quốc)thì ta không đụng đến ngời” mà trên thực tế là bật đèn xanh cho Mỹ Đến năm
1968, khi ta giành thắng lợi trong cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1968, buộc
Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và chấp nhận ngồi đàm phán với
Việt Nam tại Pari (Pháp) Trung Quốc cho rằng: Lúc này Việt Nam chấp nhận “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một
đàm phán cha phải là thời cơ và trên t thế cao, ta (Việt Nam ) đã nhân nhợng một cách vội vã ” [40; 73] và rằng: Việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam là “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một một sự thoả hiệp của Việt Nam với Mỹ” [40; 74] Khi biết nhân dân Việt Nam vẫn
kiên định thực hiện đờng lối của mình, Trung Quốc đã giảm viện trợ quân sự: năm
1969 xuống còn 40%, năm 1970 xuống hơn 50% so với 1968, đồng thời đẩy nhanhmối quan hệ với Mỹ và tiến hành đàm phán với Mỹ về các vấn đề liên quan đếncuộc chiến tranh ở Việt Nam Cũng kể từ năm 1973, những ngời lãnh đạo TrungQuốc đã thực hiện những hành động khiêu khích công khai, bằng việc lấn chiếm
đất đai ở những tỉnh biên giới phía Bắc nhằm làm suy yếu những cố gắng của nhândân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam Trung Quốcbắt đầu quay lại, tỏ rõ thái độ nớc lớn, khi Việt Nam yêu cầu mở đàm phán đểphân định ranh giới Vịnh Bắc Bộ, ngăn cản Việt Nam thăm dò, khai thác tàinguyên thiên nhiên trên vùng biển của Việt Nam Chính vì lẽ đó, cuộc đàm phán về
đờng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ (tháng 11 - 1974)
đã không đi tới kết quả tích cực nào Cũng từ năm 1974, khi hai bên còn đàm phán
về ranh giới biển thì Trung Quốc đã đa lực lợng hải quân và không quân chiếm đảoHoàng Sa của Việt Nam, nhằm tạo ra cái gọi là “sự đã rồi” cho dù rằng sau đó mộtnăm (1975) Đặng Tiểu Bình, trong cuộc hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam
đã nói rằng Hoàng Sa và Trờng Sa cần đợc bàn bạc để giải quyết Tất cả nhữnghành động đó của Trung Quốc cũng không ngăn cản đợc chiến thắng hoàn toàntrọn vẹn của nhân dân Việt Nam giải phóng miền Nam và thống nhất đất nớc
Sau khi Việt Nam thắng Mỹ, các nớc anh em, bè bạn trong đó có TrungQuốc đã gửi điện chúc mừng Ngày 1 – 5 – 1975, các nhà lãnh Trung Quốc đãgửi điện chúc mừng với nội dung: “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một… Thắng lợi của các đồng chí đã mở ra thời
đại mới của nớc Việt Nam đã đợc giải phóng, có ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa quốc tế trọng đại Thắng lợi của các đồng chí đã cổ vũ hết sức mạnh mẽ tất cả các dân tộc
và nhân dân bị áp bức đang đấu tranh, nêu tấm gơng sáng chói cho sự nghiệp cách mạng chống đế quốc của nhân dân toàn thế giới Thắng lợi của nhân dân Việt Nam một lần nữa chứng minh hùng hồn rằng nhân dân một nớc, dù là nhân dân một nớc nhỏ miễn là dám vùng dậy đấu tranh, dám cầm vũ khí, lấy chiến tranh chính nghĩa
Trang 19chống lại chiến tranh phi nghĩa không sợ khó khăn, không sợ hy sinh, không sợ vấp váp, kiên trì bền bỉ thì có thể đánh bại đợc bất kỳ kẻ thù nào tởng chừng nh hùng mạnh và giành đợc thắng lợi cuối cùng trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, giải phóng cho dân tộc” [43; 35].
Và khẳng định Trung Quốc: “… Sẽ tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình, kiên quyết ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa nhằm cũng cố thành qủa thắng lợi, thống nhất và xây dựng Tổ quốc của nhân dân Việt Nam” [43; 35].
Nhng trên thực tế, Trung Quốc đã không thực hiện những lời hứa hẹn vớinhân dân Việt Nam Trong lúc nhân dân Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh,kinh tế, xã hội đang gặp rất nhiều khó khăn, đang rất cần sự giúp đỡ của các nớc,thì cũng là lúc Trung Quốc tuyên bố cắt hoàn toàn viện trợ, rút hết chuyên gia kỹthuật về nớc, làm cho một số hạng mục công trình công nghiệp, giao thông , củaViệt Nam buộc phải ngừng lại, trong đó có không ít công trình buộc phải huỷ bỏ vìkhông có vật t, máy móc, kỹ thuật Hơn thế nữa, Trung Quốc còn yêu cầu ViệtNam nhanh chóng thu xếp hoàn trả số lợng “ngoại tệ mạnh” đợc quy đổi từ nhữnghàng hoá quân sự mà Trung Quốc đã cho Việt Nam vay theo quy chế “viện trợhoàn lại”, thanh toán sau chiến tranh Nh vậy, những ngời lãnh đạo Trung Quốc đãkhông giữ đúng nh lời hứa vào năm 1975
Nhìn lại, quan hệ hai nớc Việt - Trung từ năm 1950 – 1978, thì chúng tathấy rằng: Mối quan hệ đó diễn ra không thật sự suôn sẻ và có phần phức tạp Thựcchất Trung Quốc cha bao giờ có thái độ công bằng vô t trong quan hệ với ViệtNam Song nhân dân Việt Nam sẵn sàng bỏ qua quá khứ, hy vọng vào mối quan hệhữu nghị tốt đẹp giữa hai nớc đã đợc vun đắp qua nhiều thế hệ sẽ phát triển tốt đẹp
Tháng 12 – 1978, Đảng cộng sản Trung Quốc tiến hành Hội nghị Trung
-ơng III, khoá XI, mở ra thời kỳ mới cho đất nớc Trung Quốc: Thời kỳ cải cách mởcửa Cùng với những cải cách về kinh tế, đờng lối đối ngoại của Trung Quốc cónhững điều chỉnh mới nh là làm bạn với nhiều nớc, thêm bạn bớt thù, phục vụ chophát triển đất nớc, nâng cao vị trí của Trung Quốc trên trờng quốc tế Còn ViệtNam sau khi chiến tranh kết thúc, công cuộc thống nhất đất nớc đợc hoàn thành, thì
điều hết sức cần thiết lúc này, là có hoà bình để khôi phục, củng cố và phát triển
đất nớc sau hàng chục năm chiến tranh Vì vậy, Việt Nam sẵn sàng đặt quan hệ vớicác nớc, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, viện trợ về kinh tế Đó chính là điều kiệnthuận lợi cho việc cải thiện mối quan hệ hai nớc Việt – Trung Song trên thực tếquan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ sau 1975 đến 1986 đã diễn ra ngày càng xấu đi
Trong sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Trung Quốc, thì quan hệ củaTrung Quốc với Việt Nam cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh đó Tuy nhiên, sự
điều chỉnh trên không phải theo chiều hớng tích cực mà ngợc lại, Trung Quốc vẫndùng chính sách thù địch với Việt Nam bằng nhiều cách Nh liên tục trong nhữngnăm 70, Trung Quốc tiến hành nhiều lần những vụ khiêu khích ở biên giới Việt –Trung; Đầu năm 1978 dựng lên cái gọi là “Vấn đề nạn Kiều”, trong đó đa ra luận
điệu “Vu cáo Việt Nam” là xua đuổi, bài xích, khủng bố ngời Hoa Đồng thời dụ
Trang 20dỗ, tổ chức cho Hoa kiều tiến hành di c gây nên tình trạng hỗn loạn, lộn xộn ở ViệtNam Chỉ trong vòng mấy tháng đầu năm 1978 đã có tới 17 vạn ngời Hoa di c sangTrung Quốc Bên cạnh đó, để cô lập Việt Nam và ngăn cản công cuộc khôi phục,xây dựng đất nớc ở Việt Nam, Trung Quốc đã vận động các nớc, các tổ chức quốc
tế ngừng viện trợ cho Việt Nam, kêu gọi các nớc ASEAN lập “mặt trận chung vớiTrung Quốc” chống Việt Nam Những hành động của Trung Quốc trái với phơngchâm ngoại giao mà Trung Quốc đã thực hiện với các nớc khác, trái với nămnguyên tắc chung sống hoà bình mà Trung Quốc là tác giả, đồng thời vi phạm luậtpháp quốc tế Tất cả những điều đó làm cho quan hệ hai nớc Việt – Trung đã bịtổn thơng và đi vào một khúc quanh nghiêm trọng Đặc biệt, ngày 17 – 2 –1979,Trung Quốc sử dụng 60 vạn quân có pháo binh, xe tăng yểm trợ tiến công vào ViệtNam trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1.000km Đây thực sự là đỉnh cao của hành
động Trung Quốc chống Việt Nam Cuộc chiến tranh biên giới đã làm cho mốiquan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nớc bị tổn thơng nghiêm trọng Cuộc chiếntranh mà Trung Quốc chủ động tổ chức, đợc tiến hành theo hai hớng nhng cuốicùng đã thất bại, bị nhân dân thế giới và một bộ phận nhân dân Trung Quốc lên án.Ngày 5 – 3- 1979 họ buộc phải tuyên bố rút quân và đàm phán với Việt Nam Sựkiện ngày 17 – 2 – 1979, đánh dấu một thời kỳ đen tối trong lịch sử quan hệ hainớc – mà báo chí phơng Tây gọi sự kiện này là “Anh em đỏ chiến tranh với nhau”
Thất bại trong cuộc chiến tranh với Việt Nam nhằm “Đánh sập huyền thoại
về tài bách chiến, bách thắng của quân đội Việt Nam”, Trung Quốc đã buộc phảingồi vào bàn đàm phán với Việt Nam Tuy nhiên, trải qua các vòng đàm phán tại
Hà Nội cũng nh Bắc Kinh, Trung Quốc vẫn giữ thái độ nớc lớn với Việt Nam, lẩntránh những đề nghị của phía Việt Nam về những biện pháp cấp bách nhằm chấmdứt các hoạt động khiêu khích ở biên giới hai nớc Đồng thời Trung Quốc còn đa rayêu sách vô lý đòi Việt Nam từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Tr-ờng Sa của Việt Nam
Trong suốt thập kỷ 80 những ngời lãnh đạo Trung Quốc, vẫn cha từ bỏ thái
độ thù địch với Việt Nam, nhiều lần lên tiếng dọa “dạy cho Việt Nam bài học thứhai” thậm chí “nhiều bài học nữa” Rõ ràng, trong quan hệ với Việt Nam, TrungQuốc đã tự phép cho mình là nớc lớn – thì mới có thể tuyên bố nh vậy Điều đángnói ở đây là sau thất bại trong cuộc chiến tranh năm 1979 cũng nh những mu đồkhác, lẽ ra nhà cầm quyền Trung Quốc phải rút kinh nghiệm và bài học cho mình.Song trên thực tế, Trung Quốc đã không thay đổi chính sách trong quan hệ với ViệtNam Đờng lối đối ngoại với Việt Nam đã đợc các nhà cầm quyền Trung Quốc táikhẳng định trong Đại hội lần thứ XII Đảng cộng sản Trung Quốc Năm 1982, trongbáo cáo của mình, Tổng bí th Đảng cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang vẫn táidiễn luận điệu vu cáo Việt Nam là “xâm lợc Campuchia”, có “Tham vọng báquyền”, “Bành trớng ở Đông Dơng và Đông Nam á”, “để nhằm thành lập Liênbang Đông Dơng, gây tình hình mất ổn định ở khu vực” Từ năm 1979 trở đi “Vấn
đề Campuchia” là một trong những vấn đề nan giải làm cho mối quan hệ hai nớc
Trang 21Trung –Việt trở nên phức tạp hơn Việc Việt Nam đa quân vào Campuchia trớchết cần khẳng định, đó là một nghĩa vụ quốc tế cao cả, là một việc làm chính nghĩa,giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng Tuy nhiên, những ngời lãnh
đạo Trung Quốc đã hiểu vấn đề đó khác đi, vì vậy mà suốt thập kỷ 80 quan hệ hainớc trở nên căng thẳng, đối đầu Trung Quốc đã tích cực ủng hộ lực lợng Pôn Pốt– Iêngxary và cái gọi là nớc “Campuchia dân chủ” cả về vật chất lẫn tinh thần
Điều đó đợc ghi nhận thông qua các cuộc trao đổi, viếng thăm giữa lãnh đạo hai
n-ớc Vấn đề đặt ra là vì sao Khơme đỏ ngoài việc thanh trừng tàn sát đẫm máunhững ngời yêu nớc và dân thờng Campuchia, lại đồng thời mở những cuộc tiếncông vũ trang có quy mô lớn vào nớc láng giềng Việt Nam, với những đòi hỏi vô lý
về lãnh thổ, đơn phơng yêu cầu thay đổi đờng biên giới, mặc cho phía Việt Namyêu cầu giải quyết bất đồng bằng thơng lợng hoà bình? Phải chăng là do sự hậuthuẫn, xúi dục của Trung Quốc Cho đến năm 1983, Trung Quốc tiến hành tuyêntruyền với các nớc trên thế giới về “Hành động bá quyền của Việt Nam” và lôi kéocác nớc tham gia vào liên minh chống Việt Nam Trung Quốc, một mặt tiến hànhphá hoại trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, quân sự, mặt khác tăng cờng khiêu khíchcác tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam Trung Quốc trong những năm 1983 – 1984tiến hành các hành động phá hoại kinh tế bằng hành động bao vây, cấm vận và gâysức ép với các nớc quan hệ kinh tế với Việt Nam, kích động t tởng thù hằn dân tộc
ở Việt Nam, dùng tay sai phá hoại kho tàng, máy móc, phá giá tiền tệ của ViệtNam [56; 53] Những hành động đó của Trung Quốc trong quan hệ với ViệtNam kéo dài suốt thập kỷ 80 đã làm cho quan hệ giữa hai nớc ngày càng xấu đi
Bên cạnh sự giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc đối với Việt Nam, nhân dânViệt Nam cũng đã hết lòng ủng hộ nhân dân Trung Quốc về vật chất lẫn tinh thần,
có lúc đã phối hợp chiến đấu cùng nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp giảiphóng dân tộc
Từ năm 1946, Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốctiến hành nội chiến cách mạng chống Tởng Giới Thạch Đầu năm 1948 quân Tởngcấu kết với Pháp tổ chức đánh phá khu căn cứ cách mạng Trung Quốc ở Tĩnh Tây
Do phong trào cách mạng ở đây còn yếu nên một bộ phận bộ đội và cơ quan củabạn phải dời sang Việt Nam Theo yêu cầu khẩn thiết của các bạn Trung Quốc và
với tinh thần Cứu Trung Quốc là tự cứu mình “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một ” [22; 28] nhân dân Việt Nam đã
giúp bạn về mọi phơng diện nhất là gạo, muối, vũ khí và tài chính Từ tháng 1 –
1948 đến cuối năm 1948, mỗi tháng Việt Nam gửi giúp riêng quân dân Biên khu
Điền Quế 50 tấn muối, hàng chục tấn gạo mà một số lợng đáng kể đạn cối 81 ly,máy ngắm của súng cối 81 ly, đạn AT là những thứ mà Quân giải phóng TrungQuốc lúc đó rất cần và rất a thích Sự ủng hộ và giúp đỡ trên đã góp phần giúp nhândân ở các Biên khu Điền Quế, Việt Quế đứng vững và đập tan các cuộc tiến côngcủa quân Tởng đợc Pháp hỗ trợ, bảo vệ và mở rộng vùng căn cứ Đến đầu năm
1949, trớc sự tấn công nh vũ bão của Quân giải phóng Trung Quốc, Tởng GiớiThạch cố dồn lực lợng giữ lấy miền Hoa Nam, các khu căn cứ của bạn ở sát biên
Trang 22giới Trung – Việt gặp nhiều khó khăn Tình hình đó, để giúp bạn, bộ đội tìnhnguyện Việt Nam đã sang chiến đấu cùng với Quân giải phóng Trung Quốc và đếncuối tháng 10 – 1949, khi vùng căn cứ Thập Vạn Đại Sơn đã đợc mở rộng và củng
cố vững chắc, bộ đội Việt Nam mới đợc lệnh rút về nớc
Suốt năm tháng trời chiến đấu trên đất bạn, trong điều kiện vô cùng giankhổ, thiếu thốn, bộ đội Việt Nam đã cùng Quân giải phóng và du kích căn cứ ThậpVạn Đại Sơn tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng căn cứ Bộ đội Việt Nam
đã loại khỏi vòng chiến đấu một trung đoàn địch, bức rút và giải phóng mời thịtrấn, phố, làng của huyện Phòng Thành, góp phần vào sự nghiệp giải phóng củanhân dân Trung Quốc Những “Nghĩa trang liệt sĩ cách mạng Việt Nam giải phóngTrung Quốc” mà nhân dân Trung Quốc xây dựng ở Trúc Sơn, Đông Hng, GiangBình trong thời kỳ lịch sử ấy mãi mãi là những tợng đài bất tử về tình đoàn kếtchiến đấu của nhân dân hai nớc Việt – Trung
Sau ngày cách mạng Trung Quốc thành công, hàng vạn quân Tởng dồn vềQuảng Tây, Vân Nam Chúng cấu kết với thực dân Pháp, âm mu thiết lập căn cứ ởvùng núi rừng hiểm trở để tiếp tục chống phá cách mạng hai nớc Với tinh thần:
Những việc làm nói trên của quân và dân Việt Nam đợc Đảng, Chính phủ vànhân dân Trung Quốc đánh giá cao Ngày 5 – 1 –1950, trong buổi tiếp đại diện
Đảng và Chính phủ Việt Nam, đồng chí Chu Ân Lai xúc động nói: Trong lúc Việt “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một Nam vừa nghèo, vừa phải gian khổ kháng chiến, lẽ ra phải đợc Trung Quốc giúp
đỡ, thế mà các đồng chí đã hết lòng giúp đỡ Trung Quốc” [61; 28].
Sự giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân, Chính phủ và quân đội hai nớc Việt Nam
- Trung Quốc trong thời kỳ diễn ra hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam làhết sức quý báu, dựa trên tình hữu nghị trong sáng “Vừa là đồng chí, vừa là anhem” Mặc dù có những khó khăn nhất là những năm đầu của nớc Cộng hoà nhândân Trung Hoa, nhân dân Trung Quốc đã giành cho Việt Nam sự giúp đỡ to lớn cả
về tinh thần lẫn vật chất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lợc Chính sự giúp đỡ to lớn của Trung Quốc đã góp phần đa cuộc khángchiến của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi Ân tình đó, nhân dân Việt Nam sẽmãi không bao giờ quên
Tất cả những điều đó đã chứng tỏ rằng, mối quan hệ Việt - Trung từ năm
1950 đến năm 1986 đã thiết lập và phát triển mạnh mẽ Nhân dân Việt Nam rất coitrọng và luôn luôn gìn giữ, vun đắp cho mối tình hữu nghị Việt - Trung Nhân dânViệt Nam không hề xâm phạm độc lập, chủ quyền lãnh thổ của nhân dân TrungQuốc, không can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc Đối với những bất
đồng về quan điểm hoặc những vấn đề sai trái do những nhà lãnh đạo Trung Quốc
Trang 23gây ra với Việt Nam, phía Việt Nam đã cố gắng và bền bỉ tìm cách giải quyếtbằng con đờng thơng lợng hoà bình giữa hai bên.
Tuy nhiên, trong đờng lối đối ngoại của Trung Quốc vẫn đặt lợi ích dân tộclên trên hết và vì việc đó mà họ sẵn sàng nhân nhợng, liên kết với kẻ thù, quay lnglại với những ngời đồng chí của mình Chính vì lẽ đó, ở một số thời điểm nhất địnhcủa lịch sử, những ngời lãnh đạo Trung Quốc đã đang tâm phá hoại tình hữu nghịgiữa hai dân tộc và nhân dân hai nớc Trên thực tế, từ năm 1975, đặc biệt năm 1979trở đi đờng lối đối ngoại của Trung Quốc đã dần dần chuyển từ thân thiện sang đối
đầu với Việt Nam Điều đó đã có hại không những cho phong trào cộng sản côngnhân quốc tế, làm cho uy tín của Trung Quốc trên trờng quốc tế bị suy giảm màcòn ảnh hởng nghiêm trọng đến mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc Trung –Việt Song nhân dân Việt Nam vẫn bỏ qua quá khứ, tin tởng vào sự lãnh đạo củathế hệ những ngời cộng sản kế tiếp, tin tởng vào tình hữu nghị của nhân dân TrungQuốc anh em Chính vì vậy, mong muốn thiết tha của nhân dân Việt Nam là làmsao cho tình hữu nghị giữa hai nớc sớm đợc khôi phục và trên cơ sở đó ngày mộtphát triển tốt đẹp hơn
Trang 24Chơng 2: Quan hệ Việt - trung: Mời lăm năm năm
khôi phục và phát triển (1986 - 2001)
2.1 Những yếu tố tác động đến quá trình bình thờng hoá quan hệ Việt - Trung
2.1.1 Tác động của tình hình thế giới và khu vực đến quan hệ Việt - Trung cuối những năm 80 đầu những năm 90.
Thời kỳ cuối những năm 80 đầu thập kỷ 90 đợc coi là thời kỳ có nhiều biến
động dữ dội và lớn lao trong lịch sử thế giới, kể từ sau thế chiến thứ hai đến nay.Việc phá bỏ bức tờng Beclin (tháng 11 - 1989) dẫn đến thống nhất nớc Đức năm1990; Xô - Mỹ tuyên bố chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn 40 năm; Đồngthời sau khi cải cách không thành công, các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu và LiênXô lần lợt sụp đổ, kéo theo sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội – trên thực tế hệthống xã hội chủ nghĩa trên thế giới không còn tồn tại Nh vậy, khác với các lần tr-
ớc, trật tự thế giới đều đợc hình thành sau các cuộc chiến tranh, lần này sự thay đổitrật tự thế giới đợc diễn ra trong hoà bình
Từ sự sụp đổ trật tự thế giới cũ, nhân loại đang trải qua thời kỳ quá độ dẫntới sự hình thành trật tự thế giới mới và nh nhiều ngời cho rằng thời kỳ quá độ này
có thể phải kéo dài Thời kỳ này, có ý nghĩa quyết định đối với tơng lai chung củathế giới cũng nh vận mệnh của mỗi quốc gia Những biến động đó đặt ra cho cảTrung Quốc và Việt Nam - hai trong số các nớc xã hội chủ nghĩa còn lại trên thếgiới những thách thức và thời cơ to lớn Trớc hết, hai nớc cần phải giữ vững ổn địnhchính trị dới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản, củng cố an ninh quốc phòng
và cần nhanh chóng đa nền kinh tế phát triển Nếu nh không thực hiện đợc nhiệm
vụ đó các nớc này, rất có thể sẽ có chung số phận nh các nớc Đông Âu và Liên Xô
Trong thời kỳ mới, quan hệ quốc tế cũng trở nên đa dạng Trớc đây trongquan hệ quốc tế, chuẩn mực cao nhất là vấn đề ý thức hệ Ngày nay, với sự kết thúccủa chiến tranh lạnh, trật tự thế giới hai cực mất đi, trong khi trật tự thế giới mới
đang trong quá trình hình thành, tập hợp lực lợng, bởi vậy quan hệ quốc tế diễn rarất đa dạng và linh hoạt, chủ yếu dựa trên sự trùng hợp về lợi ích dân tộc trên từngvấn đề, từng lúc, từng nơi Quan hệ quốc tế trong đó có sự tham gia của gần 200quốc gia độc lập có lợi ích đan chéo nhau trở nên rất phức tạp Các thực thể quyềnlực lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc) đều đang tập trung nỗ lực cao đểkhắc phục những mặt còn tơng đối yếu kém của mình vơn lên trở thành một cựctrong thế giới đa cực Còn với những nớc nhỏ và trung bình thì hoặc là phấn đấu để
có một vị trí mới trong nền kinh tế, chính trị thế giới, hoặc tìm cách sống sao cho
có lợi hay ít bất lợi nhất và không bị tổn thơng trong môi trờng thế giới đã hoàntoàn thay đổi đó Vì vậy, giờ đây mục tiêu của họ là tạo cho mình một thế đứng độclập, để có thể dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh khách quan và có thể giao tiếp, hợptác với mọi phía Đặc điểm của nền chính trị – ngoại giao này, là định hình xu thế
đa dạng hoá quan hệ đối ngoại ngày càng phổ biến trên thế giới Vì vậy, xu thế cácnớc vừa đấu tranh vừa hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình sẽ càng đợc củng cố và
Trang 25tăng cờng Cuộc chạy đua về kinh tế diễn ra quyết liệt Thêm vào đó, cuộc cáchmạng khoa học – công nghệ làm cho lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ Ngoài
ra, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng đã làm cho tính tuỳ thuộc lẫn nhaugiữa các quốc gia ngày càng sâu sắc và dẫn tới sự hợp tác liên kết khu vực và toàncầu ngày càng sôi động
Sau chiến tranh lạnh, quá trình giao lu và thâm nhập kinh tế lại càng có điềukiện tăng cờng Nớc nào cũng thực hiện chính sách mở cửa Vốn đầu t, thông tinhàng hoá, kỹ thuật hầu nh không bị cản trở bởi ranh giới quốc gia Xu thế đa dạnghoá các quan hệ đối ngoại diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoaigiao, văn hoá lại càng có điều kiện làm cho các luồng giao lu thêm sôi động
Tình hình trên vừa tạo ra thời cơ vừa đặt ra thách thức cho hai nớc Việt Nam
và Trung Quốc Trớc hết, Việt Nam và Trung Quốc đều có thể tranh thủ môi trờnghoà bình do xu thế vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các nớc mang lại Hai nớc đều
có thể tranh thủ vốn, công nghệ tiên tiến qua việc tham gia liên kết khu vực và toàncầu Song thách thức đặt ra không phải là ít Cuộc chạy đua khốc liệt về kinh tế đòihỏi hai nớc phải u tiên hơn nữa cho phát triển kinh tế thì mới có thể tránh đợc nguycơ tụt hậu
Song song với những biến đổi của tình hình thế giới nói chung, tình hình củakhu vực châu á - Thái Bình Dơng cũng có những chuyển biến hết sức tích cực vàquan trọng Châu á - Thái Bình Dơng trở thành khu vực có nền kinh tế phát triểnnăng động nhất thế giới (chiếm hơn 1/2 GDP của thế giới) Những cuộc xung độtkhu vực và mâu thuẫn dân tộc trong chiến tranh lạnh đều dịu đi Đặc biệt, sau khiViệt Nam bắt đầu rút quân khỏi Campuchia (1985), hoàn tất việc rút toàn bộ quân
đội ra khỏi Campuchia vào năm 1989 và tham gia tích cực vào việc giải quyết hoàbình vấn đề Campuchia, quan hệ Việt Nam với các nớc ASEAN chính thức đợcbình thờng hoá Xu thế đối đầu giữa hai nhóm nớc ASEAN và Đông Dơng kéo dàihơn 10 năm nay đã đợc thay thế bằng xu hớng hợp tác cùng phát triển Việc chấmdứt chiến tranh lạnh đã mở ra triển vọng mới cho sự hợp tác khu vực, trong đó sự
ổn định chính trị của khu vực cùng với sự giải toả những căng thẳng do tình trạngkhác nhau về quan điểm trong khu vực thời kỳ chiến tranh lạnh, đang trở thành mộtyếu tố hết sức quan trọng có ảnh hởng lớn đến sự phát triển và hợp tác giữa các nớctrong vùng Các nớc trong khu vực đều có những điều chỉnh chính sách để tìmkiếm một chỗ đứng vững chắc trong khu vực Nằm trong khu vực có tình hìnhchính trị tơng đối ổn định và có nền kinh tế năng động này, Trung Quốc và ViệtNam đều có cơ hội để phát triển kinh tế Tuy nhiên, sự có mặt của các nớc lớn ởkhu vực này đã đặt ra cho hai nớc mà đặc biệt là Trung Quốc nhiều thách thức lớn
Trớc những thời cơ và sự thay đổi của tình hình thế giới và khu vực nói trên,
Đại hội lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam (1991) đã quyết định: Tiếp tục đổi “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một mới toàn diện và đồng bộ, đa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bớc đi vững chắc” [63; 61] Tại Đại hội XIV của Đảng cộng sản Trung Quốc cũng nhấn mạnh:
Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách mở cửa nhằm đạt mục tiêu đa
Trang 26Trung Quốc trở thành một cờng quốc hùng mạnh Để đạt mục tiêu đó, thì cả TrungQuốc và Việt Nam đều phải giải quyết những vấn đề khó khăn, phức tạp – trong
đó yêu cầu quan trọng hàng đầu là đảm bảo môi trờng hoà bình ổn định cho pháttriển kinh tế
Trong bối cảnh đó, việc bình thờng hoá quan hệ Việt -Trung trở thành mộtyêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thiết thực, quan trọng và là sự tất yếu
2.1.2 Tác động của tình hình Việt Nam và Trung Quốc với quan hệ Việt - Trung.
2.1.2.1 Tình hình Việt Nam:
Sau ngày đất nớc thống nhất (1975) đến năm 1986, trải qua hơn một thập kỷ,
Đảng và nhân dân Việt Nam vừa làm, vừa tìm tòi thử nghiệm con đờng đi lên chủnghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa, đó là con đờng mới mẻ,
đầy khó khăn, thử thách Trong quá trình đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam đã đạt đợc những thành tựu và bớc đầu trong các lĩnh vực của đời sống kinh tếxã hội, nhng cũng gặp không ít khó khăn Việt Nam từ cuối những năm 70 đầunhững năm 80 nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng Nhất là từ giữa nhữngnăm 80, tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam ngày càng khó khăn, đất nớc rơivào khủng hoảng gay gắt Ngoài ra, những thay đổi to lớn, toàn diện của tình hìnhthế giới, sự thay đổi trong quan hệ giữa các nớc do tác động mạnh mẽ của cáchmạng khoa học - kỹ thuật, nhất là cuộc khủng hoảng toàn diện, ngày càng trầmtrọng ở Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đã tác động sâu sắc đếnViệt Nam, đòi hỏi Đảng và Nhà nớc Việt Nam phải đổi mới Tháng 12 – 1986,
Đảng cộng sản Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, với tinhthần “Nhìn thẳng vào sự thật”, đã nghiêm túc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình,phân tích những sai lầm khuyết điểm và đề ra đờng lối đổi mới toàn diện, mở ra b-
ớc ngoặt trong công cuộc xây dựng đất nớc Công cuộc đổi mới về kinh tế, pháttriển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dới sự quản lý của Nhà nớc theo định hớngxã hội chủ nghĩa đã đợc triển khai trên cả nớc
Nghị quyết Đại hội VI đợc đa vào cuộc sống, đã phát huy tác dụng tích cực
và tính đúng đắn của nó Đến đầu thập kỷ 90, tuy công cuộc đổi mới chỉ mới diễn
ra đợc 5 năm nhng đã thu đợc những thành tựu to lớn, có ý nghĩa sâu sắc và nóchứng tỏ đợc đờng lối đổi mới là cần thiết và đúng đắn Cụ thể trong vòng 5 năm(1986 - 1990), tổng sản phẩm trong nớc tăng 21,2%, bình quân tăng 3,9% mỗinăm, lạm phát giảm dần đến năm 1990 còn 67,4% Từ 1989 trở đi vấn đề lơng thực
đợc giải quyết, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo với mỗi năm từ 1 – 1,5 triệu tấn
Thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế là Việt Nam đã đạt đ “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một ợc những tiến bộ
rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của ba chơng trình kinh tế” [63; 17] Nhịp
độ tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc (GDP) đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5 – 6,5%),sản xuất công nghiệp là 13,3%, sản xuất nông nghiệp là 4,5%, kim ngạch xuấtkhẩu là 20% (từ 1990 - 1995) Vốn đầu t cơ bản toàn xã hội năm 1990 chiếm15,8% GDP, năm 1995 là 27,4% GDP (trong đó đầu t trong nớc chiếm 15,8%GDP) Đến cuối năm 1995 tổng số vốn đăng ký của các dự án đầu t nớc ngoài đạt
Trang 2719 tỉ USD Tính đến hết ngày 31 –5 –1996 đã có 1.719 dự án đợc cấp giấy phép
đầu t 30.447 triệu USD [18; 107 + 117]
Cùng với sự tăng trởng kinh tế, ngoại thơng Việt Nam cũng đạt đợc nhữngkết quả to lớn, năm 1997 kim ngạch xuất khẩu vợt con số 9 tỉ USD Việt Nam đã cóquan hệ thơng mại với hơn 120 nớc và vùng lãnh thổ của tất cả các châu lục
Bên cạnh những thành công trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam cũng đạt đợcnhững thành tựu trong lĩnh vực chính trị – xã hội Đảng cộng sản Việt Nam vẫntiếp tục lãnh đạo đất nớc và duy trì đợc ổn định xã hội, (trong bối cảnh thế giới cónhiều biến động phức tạp) Chính vì vậy đã gây dựng và củng cố đợc lòng tin củanhân dân đối với Đảng, từng bớc nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trờngquốc tế
Về mặt đối ngoại, Việt Nam phá đợc thế bao vây, tham gia tích cực vào cáchoạt động của cộng đồng quốc tế Rút quân đội ra khỏi Campuchia, góp phần cùngLiên Hiệp Quốc tìm ra một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề Campuchia Với đờng lối
đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phơng hoá: Muốn làm bạn với tất cả các n “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một ớc trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” mà Đại hội
VII (tháng 6 - 1991) đã đề ra, Việt Nam đã chủ động khôi phục và mở rộng quan
hệ hữu nghị hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc; tăng cờng quan hệ hữu nghị, đoànkết với Lào; xây dựng quan hệ hợp tác với các nớc trong khu vực, trở thành thànhviên chính thức, đầy đủ của ASEAN (1995); Củng cố quan hệ hữu nghị truyềnthống với Liên bang Nga, các nớc trong cộng đồng các quốc gia độc lập và các nớc
Đông Âu; Mở rộng quan hệ với các nớc công nghiệp phát triển; Bình thờng hoáquan hệ với Mỹ (1995); Đồng thời mở rộng quan hệ với nhiều nớc Nam á; phongtrào không liên kết, các tổ chức quốc tế và khu vực
Tất cả những thành công trên lĩnh vực kinh tế, chính trị – xã hội, đối ngoạicủa Việt Nam sau hơn 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đã góp phần quantrọng trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế, tạo môi trờngthuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nớc
Tuy nhiên trong quá trình đổi mới, Việt Nam gặp không ít khó khăn tháchthức do tình hình thế giới cũng nh bản thân nội tình đất nớc đem lại Đó là ViệtNam vẫn còn là một trong những nớc nghèo nhất thế giới, trong nớc sự phân hoágiàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị với nông thôn, giữa các tầng lớp c dântăng nhanh Nạn tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, làm ăn phi pháp cha đợc ngănchặn và có nơi, có lúc tiếp tục gia tăng Trong khi đó, ngân sách Nhà nớc thờngxuyên căng thẳng, còn bội chi lớn Hệ thống thuế phức tạp, chồng chéo cha hợp
lý Đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nớc trong khu vực
và trên thế giới vẫn hết sức gay gắt
2.1.2.2 Tình hình Trung Quốc
Trong khoảng thời gian từ năm 1958 đến trớc năm 1978, đất nớc TrungQuốc lâm vào tình trạng khủng hoảng, trớc tiên là từ kinh tế sau đó dẫn đến khủnghoảng về chính trị diễn ra hết sức trầm trọng Nội bộ Đảng cộng sản Trung Quốc
Trang 28diễn ra sự bất đồng, tranh chấp quyền lực giữa các cá nhân, các phe phái hết sứcquyết liệt mà đỉnh cao là cuộc “Đại cách mạng văn hoá vô sản” Đất nớc TrungQuốc rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế, mất ổn định về chính trị – xã hội.Trong bối cảnh đó và để khắc phục tình trạng bi đát của đất nớc, Trung Quốc cầnphải có một cuộc cách mạng để đổi mới, phát triển kịp với các nớc tiên tiến trên thếgiới Bởi vậy, tháng 12 – 1978, Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sảnTrung Quốc đã vạch ra đờng lối đổi mới cho công cuộc cải cách kinh tế – xã hội ởTrung Quốc Công cuộc cải cách đổi mới của đất nớc Trung Quốc diễn ra toàndiện, sâu rộng trên mọi lĩnh vực nhng chú trọng vào cải cách kinh tế - đợc coi làkhâu trọng tâm.
Tính đến đầu thập kỷ 90, công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc dã đi
đợc hơn 10 năm và kế hoạch bớc một (1980 - 1990) căn bản đợc hoàn thành Côngcuộc cải cách đã đem lại cho Trung Quốc những thành tựu hết sức to lớn và quantrọng, làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt xã hội Trung Quốc Thành công trớc hết đợcbiểu hiện trên lĩnh vực kinh tế Nếu năm 1978, thu nhập bình quân của nông dân là
173 nhân dân tệ thì đến năm 1992, tăng 784 nhân dân tệ (tăng 2,3 lần), thu nhậpbình quân của dân thành phố từ 468 nhân dân tệ năm 1978 tăng lên 1.826 nhân dân
tệ (tăng 1,3 lần) Những mục tiêu đợc đề ra cho giai đoạn I đợc hoàn thành trớc thờihạn 3 năm Sản xuất nông nghiệp từ chỗ 160,7 tỉ nhân dân tệ năm 1978 tăng lên1.0128,8 tỉ nhân dân tệ (tăng 3,2 lần) năm 1987 Tổng giá trị sản lợng công nghiệp
đạt 1.510,4 tỉ nhân dân tệ, tăng 2 lần so với 1980 Sau 15 năm cải cách, giá trị sảnxuất công nghiệp của Trung Quốc tăng 108% mỗi năm, kim ngạch xuất nhập khẩutăng 16% mỗi năm và đạt 165,5 tỉ USD năm 1992 Trung Quốc giữ đợc tốc độ tăngtrởng 9% hàng năm trong 14 năm qua, trong khi về cơ bản vẫn giữ đợc ổn định xãhội Trung Quốc đã vay tín dụng đợc 60 tỉ USD, thu hút vốn đầu t nớc ngoài dớimọi hình thức trên 80 tỉ USD (1993) Nửa năm đầu 1994, vốn ấy tăng hơn gấp rỡi
so với năm trớc, ngoại thơng tăng 25% Hiện nay, Trung Quốc có thể tích luỹ nội
bộ khá cao: 30% GDP và tỉ lệ đầu t cũng chiếm 30%GDP Năm 2000, kinh tếTrung Quốc tăng trởng 11,6% so với dự kiến 9% cho cả năm [30; 24]
Sự chuyển biến đáng kể và tích cực nhất là việc xác định: nền kinh tế xã hộicủa Trung Quốc là kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, xây dựng kinh tế thị trờng để
đa kinh tế xã hội Trung Quốc hoà nhập vào kinh tế xã hội thế giới, bảo đảm côngnghiệp hoá và hiện đại hoá thành công Xây dựng Đảng vững mạnh để giữ vững
định hớng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm đờng lối cơ bản trong 100 năm không thay
đổi Ngoài kinh tế - xã hội, Trung Quốc còn đạt đợc những bớc tiến nổi bật về khoahọc kỹ thuật, văn hoá, du lịch, văn nghệ, điện ảnh, thể dục - thể thao
Bớc vào thập kỷ 90, với mục tiêu nhanh chóng trở thành một cực quan trọngtrong thế giới theo xu hớng đa cực hiện nay Trung Quốc đã tham gia nhiều diễn
đàn quốc tế, hoạt động trong nhiều tổ chức chính trị và kinh tế quốc tế nh: APEC,GATT, WTO mở rộng quan hệ với tất cả các nớc trên thế giới
Trang 29Về chính sách đối ngoai, Trung Quốc có nhiều đổi mới, bình thờng hoá quan
hệ với Liên Xô, Mông Cổ, Lào, Inđônêxia , mở rộng hợp tác với các nớc trên thếgiới, góp sức giải quyết các vụ tranh chấp quốc tế, tìm cách nâng cao địa vị củaTrung Quốc trên trờng quốc tế Các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc đềutuân theo t tởng chỉ đạo đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu Tuy đa dạng các mối quan
hệ nhng chính sách đối ngoại của Trung Quốc vẫn tập trung vào: Mỹ, Nhật Bản,Tây Âu và Đông Nam á Chính nhờ có chính sách đối ngoại đó, Trung Quốc đãthoát ra khỏi thế bị bao vây, vai trò và vị trí quốc tế của Trung Quốc tăng lên chatừng thấy Nếu có cái gọi là “Đại nhảy vọt” ở Trung Quốc, thì không phải là cái đãdiễn ra ở trớc kia mà là cái đang diễn ra và thế giới đang chứng kiến Đó là nhữngmảng sáng của bức tranh toàn cảnh
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đó, Trung Quốc cũng phải đối mặtvới những thách thức mới và vấp phải những vấn đề nổi cộm Việc chạy đua theotốc độ phát triển cao làm cho nền kinh tế Trung Quốc quá nóng, xây dựng trùng lắp
do chạy đua theo lợi nhuận Nh hiện nay Trung Quốc chỉ cần 10 triệu tủ lạnh nhngnăng lực sản xuất lên tới 26 triệu Nhiều ngành khác cũng có hiện tợng tơng tự,phải điều chỉnh vĩ mô để chấn chỉnh Thất nghiệp, lạm phát cao, sản xuất nôngnghiệp trì trệ, sự mất cân đối trong nền kinh tế và giữa các khu vực của đất nớcngày càng trầm trọng Sự chênh lệch giàu nghèo, cách biệt giữa nông thôn và thànhthị, giữa vùng ven biển và nội địa Đồng thời, do tác động mặt trái của cải cách mởcửa và nạn tham nhũng trong bộ máy chính quyền các cấp nên từ cuối thập kỷ 80,tình hình chính trị – xã hội Trung Quốc xuất hiện nhiều vấn đề bất ổn định Tháng
6 –1989, với việc xảy ra sự kiện Thiên An Môn, Trung Quốc bị cô lập về ngoạigiao, bị Mỹ và phơng Tây phong toả cấm vận về kinh tế, gây cho Trung Quốcnhững khó khăn không phải là nhỏ
Nh vậy, trong bối cảnh chung của tình hình thế giới và khu vực cũng nh của bảnthân hai nớc, Đảng và Nhà nớc Trung Quốc - Việt Nam đã thấy đợc sự cần thiếtphải có những điều chỉnh về chính sách đối ngoại Hai nớc cần phải cùng nhau bànbạc giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp còn tồn tại với tinh thần: “Khép lại quákhứ, mở ra tơng lai” Bởi vậy việc Trung Quốc và Việt Nam bình thờng hoá trongquan hệ là một xu hớng tất yếu trong quy luật khách quan của đời sống xã hội.2.2 Quá trình bình thờng hoá và phát triển quan hệ Việt - Trung (1986 - 2001)
2.2.1 Quá trình bình thờng hoá quan hệ Việt - Trung (1986 – 1991).
Quan hệ Việt - Trung đã trải qua một thời kỳ không bình thờng, kéo dài trên
10 năm, đã gây ảnh hởng không nhỏ đến giao lu chính trị, kinh tế – văn hoá giữa hai nớc Trớc sự thay đổi của tình hình thế giới, xu hớng “đối thoại” thay cho
xu hớng “đối đầu”, đồng thời do nhu cầu chủ quan của hai nớc Việt - Trung màviệc bình thờng hoá quan hệ hai nớc là tất yếu khách quan của sự phát triển Dovậy, từ những năm cuối của thập kỷ 80 các nhà lãnh đạo hai nớc Việt - Trung đãtích cực xúc tiến quá trình đi tới bình thờng hoá quan hệ hai nớc Cụ thể trongnhững năm cuối của thập kỷ 80 này, Việt Nam đã chủ động đề nghị những nhà
Trang 30lãnh đạo Trung Quốc xúc tiến hơn nữa việc đa ra một giải pháp tối u cho “vấn đềCampuchia” “Vấn đề Campuchia” là một nhân tố chi phối trực tiếp quan hệ hai n-
ớc Việt - Trung trong suốt thời kỳ “băng giá” Có thể nói đó là vấn đề làm cho quan
hệ hai nớc đi vào khúc quanh của lịch sử
Cùng với sự giúp đỡ của Liên Hiệp Quốc, của các nớc ASEAN, cũng nh sự
nỗ lực của hai nớc Việt Nam – Trung Quốc, “Vấn đề Campuchia” đã có giải pháp
đúng đắn nhất Cùng với việc Việt Nam đơn phơng tuyên bố rút dần quân đội củamình ra khỏi lãnh thổ Campuchia (1985) và rút hết hoàn toàn vào năm 1989, chủ
động đàm phán với Trung Quốc đợc coi là những nỗ lực cố gắng “cuối cùng” màViệt Nam có thể làm đợc nhằm bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc Bên cạnh
đó, cùng với Liên Hiệp Quốc tìm ra một giải pháp hữu hiệu nhất cho “vấn đềCampuchia” và đến tháng 10 – 1991, Hiệp định về Campuchia đã đợc ký kết ởPari (Pháp)
Về phía Trung Quốc, sau sự kiện Thiên An Môn xảy ra ngày 4 – 6 – 1989,các nớc lớn trên thế giới đồng loạt tiến hành bao vây, cấm vận đối với Trung Quốc,gây cho Trung Quốc nhiều khó khăn và có nguy cơ bị cô lập nh cách đây mấy thế
kỷ Trớc tình hình đó, Ban lãnh đạo Đảng và nhà nớc Trung Quốc đã có những điềuchỉnh về chiến lợc đối ngoại, trong đó có sự điều chỉnh về quan hệ với Việt Nam
Do bị cô lập từ nhiều phía, Trung Quốc cần phải giảm bớt tình trạng căng thẳng ởphía Nam, đồng thời để tạo thuận lợi cho việc mở cửa buôn bán ở biên giới Trung– Việt lâu nay cha đợc khai thác Ngoài ra sau, sau nhiều năm thi hành chính sáchthù địch với Việt Nam, Trung Quốc chẳng những không đạt đợc mục đích mà còntổn hại về kinh tế do không triển khai đợc quan hệ kinh tế với Việt Nam và còn bị
d luận quốc tế lên án Do vây, thời điểm mà hai nớc Trung Quốc và Việt Nam đi tớibình thờng hoá trong quan hệ đã thực sự chín muồi
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 12
-1996) nêu rõ: Trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng đàm “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một phám để giải quyết vấn đề quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, bình thờng quan hệ và khôi phục tình hữu nghị hai nớc, vì lợi ích của nhân dân hai nớc, vì hoà bình, ổn
định ở khu vực Đông Nam á và trên thế giới” [30; 15] (Nghị quyết Đại hội VI).
Ngày 26 – 6 – 1987, Thủ tớng Phạm Văn Đồng gửi thông điệp cho nhàlãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đề nghị có cuộc gặp riêng Việt Nam - TrungQuốc
Tiếp đó ngày 18 – 1 – 1989 Việt Nam và Trung Quốc chính thức mở cuộc
đàm phán
Đến ngày 5 – 4 –1989, Việt Nam tuyên bố rút hết quân đội của mình rakhỏi lãnh thổ Campuchia vào cuối tháng 9 – 1989 Và tới ngày 17 – 5 – 1989,Ngoại trởng Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đề nghị với Trung Quốc một loạt biệnpháp nhằm giảm căng thẳng trong quan hệ hai nớc Đồng thời để tỏ rõ quyết tâmcủa Việt Nam trong việc mong muốn bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc,Tổng Bí th Ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh
Trang 31tuyên bố: Chúng tôi luôn luôn chủ tr “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một ơng đàm phán để giải quyết bất đồng giữa hai nớc Những bất đồng này là tạm thời và không lớn so với lợi ích lâu dài và cơ bản của nhân dân hai nớc cũng nh nhân dân của các nớc châu á - Thái Bình Dơng
là hoà bình và phát triển” [52].
Dới sự tác động của tình hình trong nớc và quốc tế, Trung Quốc đã tiến hành
đàm phán với Việt Nam để giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ hai
n-ớc và điều chỉnh chính sách đối ngoại với Việt Nam Vào ngày 12 – 8 – 1990Thủ tớng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằng trong chuyến đi thăm một số n ớcASEAN đã tuyên bố: “Trung Quốc hy vọng cuối cùng sẽ bình thờng hoá quan hệvới Việt Nam” Ngày 13 – 8 – 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng Đỗ Mời tuyên
bố hoan nghênh thiện ý của Thủ tớng Lý Bằng
Trên cơ sở đó, từ ngày 3 – 4/9/1990, Hội nghị cấp cao giữa Trung Quốc vàViệt Nam đã diễn ra tại Thành Đô (Bắc Kinh - Trung Quốc) Phía Việt Nam cóTổng Bí th Nguyễn Văn Linh, nguyên Thủ tớng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Hội
đồng Bộ trởng Đỗ Mời, phía Trung Quốc có Tổng Bí th Trung ơng Đảng cộng sảnTrung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tớng Quốc vụ viện Lý Bằng Nội dung cuộchội đàm cấp cao Việt - Trung chủ yếu tập trung thảo luận vấn đề nhằm tháo gỡnhững vớng mắc và mở đờng cho quá trình bình thờng hoá quan hệ giữa hai nớc.Trung Quốc đã cam kết không viện trợ cho Khơme đỏ, “Vấn đề Campuchia” do tựnhân dân nớc này giải quyết Có thể coi đây là dấu hiệu tốt đẹp cho quan hệ Việt -
Trung Ngay sau đó Thông tấn xã Việt Nam đã nhận xét: “Việc đã có một cuộc họp
cấp cao giữa hai Đảng là một dáu hiệu rất rõ ràng đã có sự cải thiện quan hệ giữa hai Đảng” Có thể coi đây là cái “chốt cửa” đã đợc tháo ra và chỉ đợi cả hai bên
cùng nhất trí, cánh cửa của mối quan hệ hữu nghị Việt - Trung lại đợc mở và mởrộng hơn bao giờ hết
Sau Hội nghị cấp cao đó, vào trung tuần tháng 9 – 1990, Đại tớng VõNguyên Giáp sang thăm Trung Quốc, dự lễ khai mạc Olimpic châu á và các hoạt
động khác tại Trung Quốc Trong chuyến thăm của Đại tớng Võ Nguyên Giáp lầnnày đã trao đổi vấn đề liên quan đến vấn đề hai nớc và các vấn đề cùng quan tâm.Hai bên cùng bày tỏ mong muốn, sớm khôi phục và phát triển quan hệ hữu nghịtruyền thống giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam, sớm bình thờnghoá quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nớc Đại tớng còn đợc các nhà lãnh đạoTrung Quốc giới thiệu kinh nghiệm về cải cách kinh tế, khoa học kỹ thuật Đây
là chuyến thăm chính thức đầu tiên của nhà lãnh đạo Việt Nam sang Bắc Kinh sau
một thời gian quan hệ hai nớc không bình thờng Trong bầu trời hữu nghị trong “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một xanh, đám mây đen đang tiến Hữu nghị quan muôn đời là Hữu nghị quan” [46].
Sau Hội nghị Thành Đô và ngay sau khi Đại hội VII Đảng cộng sản ViệtNam thành công, đoàn đại biểu cấp cao của Đảng cộng sản Việt Nam gồm đồngchí Lê Đức Anh – Uỷ viên Bộ chính trị, Bí th Trung ơng Đảng và đồng chí Hồng
Hà - Bí th Trung ơng Đảng, Trởng ban đối ngoại Trung ơng sang thăm Trung Quốc
và hội đàm bí mật với các nhà lãnh đạo Trung Quốc ở Bắc Kinh từ ngày 28 - 7 đến
Trang 322 - 8 – 1991 Tổng Bí th Giang Trạch Dân phát biểu ý kiến với đoàn: Chúng ta “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một hai nớc láng giềng, hai Đảng cộng sản cầm quyền không có lý do gì không xây
9 – 1991, giữa hai nớc đã có cuộc hội đàm ở cấp Bộ trởng ngoại giao, giữa Bộ ởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và Bộ trởng ngoại giao Trung QuốcTiền Kỳ Tham Trong cuộc hội đàm này, Bộ trởng Nguyễn Mạnh Cầm nhấn mạnh:
tr-Quan hệ Việt Trung hoàn toàn bình th
“Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một – Trung hoàn toàn bình th ờng hoá không những vì lợi ích của nhân
đàm này đợc đánh giá là Có ý nghĩa quan trọng Nó là b “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một ớc đi quan trọng của tiến trình bình thờng hoá quan hệ hai nớc” [4].
Sau những sự kiện quan trọng và có ý nghĩa vô cùng thiết thực đối với việcbình thờng hoá quan hệ hai nớc, Ngời phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam cũng nhTrung Quốc đều tuyên bố rằng: Hiện nay quan hệ Việt - Trung đã đợc cải thiện rõrệt Điều này chẳng những phù hợp với lợi ích của hai nớc mà còn phù hợp với xuthế chung mong muốn hoà bình, hợp tác và phát triển ở khu vực châu á - TháiBình Dơng
Trớc diễn biến tích cực của quan hệ Việt - Trung, nhiều báo chí nớc ngoàicũng nh các nhà lãnh đạo cấp cao của nhiều nớc trên thế giới: Thái Lan, Mêhicô,Cuba đều lên tiếng hoan nghênh và đánh giá cao sự kiện này
Rõ ràng, việc bình thờng hoá quan hệ Việt - Trung là một đòi hỏi tất yếu, vì
nó đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân hai nớc cũng nh phù hợp với xu thếchung trên thế giới Tình trạng không bình thờng trong quan hệ hai nớc cũng phải
đến hồi kết thúc Ngày 5 – 11- 1991, nhận lời mời của nhà lãnh đạo cấp cao TrungQuốc, Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Tổng Bí th Ban chấp hành Trung ơng
Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mời và Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng nớc Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt đã chính thức sang thăm Trung Quốc Cuộchội đàm diễn ra ở phòng lớn phía Đông Đại lễ đờng nhân dân Trung Quốc (BắcKinh), có sự tham gia của các nhà lãnh đạo cấp cao hai bên Sự kiện này đã mở ratrang mới chính thức khôi phục và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác Việt -
Trung: Sau một thời gian khúc khuỷu cuộc gặp gỡ cấp cao Việt - Trung có một ý “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một nghĩa quan trọng kết thúc quá khứ mở ra tơng lai và sẽ có ảnh hởng sâu sắc tới
Và cùng tồn tại hoà bình Hai Đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc sẽ khôi phục quan hệ bình thờng trên các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hoàn toàn bình đẳng,
Trang 33không cn thiệp vào công việc nội bộ của nhau …” “Việc chia cắt Việt Nam không thể giải quyết trong một , Hai bên đồng ý thông qua th
-ớc” [60].
Các nhà lãnh đạo cấp cao khẳng định việc bình thờng hoá quan hệ hai nớcViệt - Trung phù hợp với lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nớc Nhằmphát huy các bớc phát triển thực tế trong việc cải thiện quan hệ hai nớc vừa qua,trong chuyến thăm lần này, hai bên đã ký kết Hiệp định thơng mại và Hiệp địnhtạm thời về giải quyết các công việc cùng biên giới giữa hai nớc Đồng thời thoảthuận sẽ tiếp tục thơng lợng và hoàn tất một số thủ tục để tiến tới có thể ký kết một
số hiệp định khác trong các lĩnh vực kinh tế, thơng mại, khoa học kỹ thuật và vănhoá theo nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi Hai bên đồng ý tiếp tục những biệnpháp cần thiết để xây dựng đờng biên giới thành biên giới hoà bình và hữu nghị.Thông qua thơng lợng hoà bình và giải quyết thoả đáng các vấn đề tồn tại trongquan hệ hai nớc nh các vấn đề lãnh thổ, biên giới, kiều dân của nớc này c trú ở nớckia vào thời gian thích hợp Đồng thời thông cáo chung cũng ghi rõ, phía ViệtNam khẳng định công nhận Chính phủ nớc cộng hoà nhân dân Trung Hoa là chínhphủ hợp pháp duy nhất đại diện cho toàn Trung Quốc Phía Trung Quốc bày tỏ sựhiểu biết rằng Việt Nam và Đài Loan chỉ duy trì mối quan hệ kinh tế, mậu dịchkhông mang tính chính phủ Hai bên tuyên bố việc bình thờng hoá quan hệ Việt -Trung không ảnh hởng đến các quan hệ đối với nớc thứ ba
Về các vấn đề quốc tế, hai bên ủng hộ và hoan nghênh việc ký kết tại Parivừa qua Hiệp định về giải pháp cho toàn bộ cuộc xung đột ở Campuchia, mongmuốn các bên thực hiện đầy đủ hiệp định, và nớc Campuchia tơng lai sẽ là một nớc
độc lập, hoà bình, trung lập, không liên kết, có quan hệ hữu nghị với các nớc lánggiềng Hai bên cũng thống nhất cho rằng, trật tự thế giới mới phải phù hợp với tônchỉ và các nguyên tắc của Hiến chơng Liên Hiệp Quốc và đợc xây dựng trên cơ sởnăm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình Nh vậy, thành công của chuyến thăm cấpcao đầu tiên này đã chính thức góp phần khôi phục quan hệ hữu nghị Trung –Việt Với điểm khởi đầu hết sức thuận lợi này, chúng ta tin rằng mối quan hệ hữunghị Việt Nam – Trung Quốc sẽ ngày một phát triển tốt đẹp hơn
2.2.2 Quan hệ Việt – Trung từ 1991 – 2001: Sự phát triển của tầm cao mới.
Trên cơ sở chuyến thăm đầu tiên của các nhà lãnh đạo Việt Nam, quan hệhai nớc Việt - Trung thực sự khởi sắc Trong 10 năm qua (1991 - 2001), quan hệhợp tác nhiều mặt giữa hai nớc đã không ngừng đợc củng cố và phát triển, trong đóquan hệ chính trị là lĩnh vực đợc coi trọng nhất Vì đó là cơ sở cho việc triển khaicác quan hệ khác
Sự thúc đẩy, tăng cờng hợp tác trong quan hệ chính trị giữa hai nớc đã đợcthể hiện rõ nét qua các chuyến thăm và làm việc của các vị đứng đầu Đảng, Nhà n -
ớc, các Bộ, các ngành, các địa phơng trong đó đáng lu ý nhất là các chuyếnthăm cấp cao đợc diễn ra hàng năm Trong nhiều thập kỷ trớc đây, đặc biệt trongsuốt một thập kỷ qua chỉ có quan hệ Việt - Trung mới có đặc điểm là hàng năm các