Angiêri và Việt Nam đã có mỗi quan hệthân thiết trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân Pháp.Nguyễn Ái Quốc là người đặt nền móng cho mối quan hệ của hai nước ViệtN
Trang 1Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS.GVC Phan Hoàng Minh
đã đề xuất ý tưởng và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đồng thời tôi cũng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ động viên từ phía gia đình, bạn bè, quý cơ quan nơi tôi sưu tầm tài liệu Tôi xin chân thành cảm ơn! Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành với sự nỗ lực học tập và nghiên cứu nghiêm túc, trung thực của tôi trên cơ sở kế thừa thành tựu của những người đi trước Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp chắc chắn sẽ còn nhiều khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2009
Lê Thị Thương Huyền
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
AAPSA Tổ chức đoàn kết nhân dân Á - Phi
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - TBD
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
OAU Tổ chức thống nhất châu Phi
IAEA Cơ quan năng lượng nguyên tử
ICAO Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế
ILO Tổ chức lao động quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
IMO Olympic toán quốc tế
LHQ Liên Hiệp Quốc
UNCTAD Hội nghị của LHQ về thương mại và phát triển
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của LHQFAO Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới
WHO Tổ chức y tế thế giới
TTXVN Thông tấn xã Việt Nam
Tcn Trước công nguyên
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CNTB Chủ nghĩa tư bản
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục đề tài 6
B NỘI DUNG Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Angiêri 1.1 Nhân tố tự nhiên, con người 7
1.1.1 Angiêri 7
1.1.2 Việt Nam 10
1.2 Nhân tố xã hội 15
1.2.1 Angiêri 15
1.2.2 Việt Nam 17
1.3 Nhân tố lịch sử 20
Chương 2: Quan hệ Việt Nam – Angiêri trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc 2.1 Việt Nam với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Angiêri 25
2.1.1 Sự ủng hộ về mặt tinh thân 25
2.1.2 Sự ủng hộ về mặt vật chất 30
2.2 Nhân dân Angiêri đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam 34
2.2.1 Sự ủng hộ về mặt tinh thân 34
2.2.2 Sự ủng hộ về mặt vật chất 38
Chương 3: Quan hệ Việt Nam – Angiêri trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước 1991 – 2008 3.1 Quan hệ hợp tác về chính trị, ngoại giao 41
3.2 Hợp tác trên lĩnh vực kinh tế – thương mại 47
3.3 Hợp tác trên một số lĩnh vực khác 54
3.4 Triển vọng quan hệ Việt Nam – Angiêri 57
3.4.1 Thuận lợi 57
3.4.2 Khó khăn 60
3.4.3 Giải pháp 62
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Trang 4Cũng như các quốc gia khác ở châu Phi, Angiêri là nước đang phát triển.Angiêri là một nước nằm ở miền bắc châu Phi với diện tích 220.000Km2 nơi đây
có nhiều tài nguyên phong phú như các loại quặng sắt, chì, kẽm, dầu mỏ và cácloại động thực vật phong phú
Angiêri có vị trí quan trọng, là đầu mối giao thông giữa ba châu lục Á,
Âu, Phi nên thường xuyên bị người ngoại tộc nhòm ngó, xâm nhập như ngườiPhênixe, người La Mã, người Van đan, người Ảrập, người Thổ Nhĩ Kỳ cuốicùng là thực dân Pháp
Ngày 8.10.1962 Việt Nam – Angiêri thiết lập quan hệ ngoại giao Kể từnăm 1962 đến nay trải qua hơn 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao tình hữunghị hợp tác giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng nhưtrong xây dựng phát triển đất nước của nhân dân hai nước không ngừng đượccủng cố gắn bó thiết chặt
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân Angiêri cũng cónhững nét tương đồng với Việt Nam Angiêri và Việt Nam đã có mỗi quan hệthân thiết trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân Pháp.Nguyễn Ái Quốc là người đặt nền móng cho mối quan hệ của hai nước ViệtNam – Angiêri từ những năm tháng hoạt động tìm đường cứu nước của Người
Trang 5Trong thời kỳ nhân dân Việt Nam đang đấu tranh chống chủ nghĩa thựcdân Pháp, nhân dân Angiêri đã dành một tình cảm chân thành và sự đồng tìnhủng hộ chân tình Khi nhân dân Việt Nam giành được chiến thắng Điện BiênPhủ, nhân dân Angiêri đã mở hội ăn mừng coi đó là thắng lợi của chính mình.
Nhân dân Việt Nam cũng hết lòng ủng hộ Angiêri trong sự nghiệp đấutranh giành độc lập Hàng loạt hoạt động của nhân dân Việt Nam ủng hộ Angiêri
đã diễn ra sôi nổi
Do cùng hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam luôn có mỗi quan hệ chính trị,ngoại giao tốt đẹp với các nước châu Phi nói chung, Angiêri nói riêng Ngày nayViệt Nam – Angiêri cũng như các nước châu Phi khác đang tiếp tục xây dựngmỗi quan hệ hợp tác hữu nghị trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, khoa học – kỷ thuật,văn hoá, giáo dục, nghệ thuật…
Mỗi quan hệ càng được tăng cừơng qua các chuyến thăm của lãnh đạo caocấp hai bên, cũng như sự hợp tác trên các diễn đàn quốc tế Tuy quan hệ thươngmại giữa Việt Nam và Angiêri đã có những bước phát triển quan trọng song còn
có mức độ thấp và chưa thật sự tương xứng với mỗi quan hệ chính trị ngoại giaotốt đẹp cũng như tiềm năng của hai nước
Để tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện bình đẳng cũng có lợi giữa hainước Việt Nam – Angiêri, sự hiểu biết lẫn nhau trên mọi phương diện là vẫn đềrất quan trọng và cần thiết, để phát triển quan hệ hợp tác giữu hai nước Do vậy
tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu quan hệ Việt Nam – Angiêri trong đấu
tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước” làm khoá luận tốt nghiệp đại
học
Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn tái hiện lại bức tranh quan hệ ViệtNam – Angiêri trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xâydựng đất nước Đồng thời hy vọng từ việc tiến hành đề tài trình độ kiến thức củabản thân sẽ được nâng lên, tích luỹ thêm vốn hiểu biết làm phong phú cho hànhtrang trí tuệ góp phần hoàn thành nghiệp vụ chuyên môn sau khi tốt nghiệp ratrường và thêm chút tài liệu tham khảo cho những người quan tâm lịch sửAngiêri, và lịch sử quan hệ Việt Nam – Angiêri
Trang 62 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Các vấn đề về lịch sử Angiêri nói chung và quan hệ Việt Nam – Angiêrinói riêng từ lâu đã được các học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu và cho rađời nhiều công trình và nhiều nhất là bằng tiếng Anh và tiếng Pháp Điều đángtiếc là trình độ ngoại ngữ của chúng tôi còn hạn chế nên chưa đủ sức tiếp cậnnguồn tài liêu phong phú đó Tài lệu lịch sử châu Phi, Angiêri, đặc biệt là quan
hệ Việt Nam – Angiêri bằng tiếng việt của các tác giả Việt Nam nhìn chungchưa nhiều, luận văn tốt nghiệp đại học của các thế hệ sinh viên lớp trước vềlịch sử và quan hệ Việt Nam – Angiêri còn ít ỏi Tuy nhiên một số học giả ViệtNam đã quan tâm nghiên cứu và cho ra những công trình có giá trị về lịch sử vềcác nước châu Phi nhất là những nước đã từng là thuộc địa của Pháp trong đó cóAngiêri Ngoài ra còn có một số bài báo, các bài nghiên cứu của một số tác giảđược đăng trên các tạp chí chuyên ngàng các thông tin trên các website củaTTXVN, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại…
Về quan hệ Việt Nam – Châu Phi và Angiêri trong sự nghiệp đấu tranhdành độc lập trước đây và quan hệ hợp tác trong cuộc đấu tranh vì hoà bình hữunghị, ổn định và phát triển hiện nay Trong số công trình đó xin kể đến các ấnphẩm sau:
- Angiêri kháng chiến của Nguyễn Thục, xuất bản năm 1960, đã nêu lên
cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Angiêri chống chủ nghĩa đế quốc thựcdân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Angiêri
- Những mẫu chuyện về Angiêri đau thương và anh dũng của Nguyễn
Xuân Trâm, xuất bản năm 1957 trong đó tác giả mô tả đời sống khổ cực dướiách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến và những cuộc đấu tranh dũngcủa nhân dân Angiêri
- Việt Nam – Châu Phi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của
Võ Kim Cương xuất bản 2004 trong đó đề cập đến một số vấn đề về cuộc đấutranh dành độc lập của các nước châu Phi và mỗi quan hệ giữa Việt Nam và cácnước châu Phi qua các thời kỳ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân vì hoà bìnhđộc lập và dân chủ
Trang 7- Bình minh đang xua tan bóng tối ở châu Phi của Phan Hoàng xuất bản
năm 1962 trong đó tác giả giới thiệu vị trí chiến lược quan trọng của châu Phi,những âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc đối với châu Phi, sự thức tỉnhcủa nhân dân châu Phi và tình đoàn kết của loại người yêu chuộng hoà bình tiến
bộ trên thế giới dành cho nhân dân châu Phi trong đấu tranh giành độc lập
- Luận văn tốt nghiệp đại học của Phan Thị Cẩm Vân: Tìm hiểu phong
trào giải phóng dân tộc ở Angiêri (1954 – 1962) Tác giả đã tái hiện lại bức
tranh phong trào đấu tranh chống thực dân pháp giành dành độc lập của nhândân Angiêri và tình đoàn kết hữu nghĩ giúp đỡ lẫn nhau nhân dân hai nước ViệtNam – Angiêri trong kháng chiên chống thực dân Pháp giµnh độc lập dân tộc
- Luận văn tốt nghiệp đại học của Phạm Văn Toàn : Tìm hiểu phong trào
giải phóng dân tộc ở châu Phi (1945 – 1994) và những đặc điểm của nó” tác giả
đã tái hiện lại phong trào chống xâm lược và phong trào giải phóng dân tộc châuPhi từ 1945 – 1994) từ đó khái quát lên đặc điểm phong trào giải phóng dân tộcchâu Phi (1945 – 1994)
- Các nước châu Phi của nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1957 trong đó giới
thiệu về địa lý, kinh tế, chính trị của một số nước châu Phi như Angiêri, Marốc,Tuynidi, Ai Cập
- Châu Phi vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, của tập thể tác giả
Nguyễn Phương Bá, Võ Kim Cương, Lê Trung Dũng, xuất bản năm 1986 vàcuốn “ Lịch sử châu Phi” của Đỗ Đức Định, xuất bản năm 2006 đã đề cập đếnnhững vấn đề lịh sử đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân để dành độc lập cảunhân dân các nước châu Phi
Ngoài ra chúng tôi còn có nhiều bài báo khoa học có nội dung liên quanđến các vấn đề về Angêri và quan hệ Việt Nam – Angêri của nhiều tác giả khácđược công bố trên các tạp chí, các trang web như: http://www google.com.vn;
Trên cơ sở tiếp cận xử lý các nguồn tài liệu có được chúng tôi kế thừa kếtquả nghiên cứu của những người đi trước để thực hiện đề tài khoá luận này
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nhiệm vụ:
Trang 8Đề tài tuy không mới nhưng những vấn đề liên quan đến mảng này chưađược nhiều học giả trong nước, sinh viên các thế hệ trước cũng đang ít quan tâmnên tôi khó khăn về tư liệu Tuy nhiên trên cơ sở tiếp cận xử lý nguồn tài liệu cóđược chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài và chỉ giám đặt ra nhiệm vụ bước đầu táihiện lại bức tranh về mỗi quan hệ giữa Việt Nam – Angiêri trong sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc và trong xây dựng đất nước.
- Phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở nhiệm vụ cần xác định, phạm vi của đề tài chủ yếu là từ khithực dân Pháp xâm lược, đặt ách thống trị ở Việt Nam, Angêri, đến khi cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và mỗi quan hệ tình đoàn kết hữu nghị giúp
đỡ của nhân dân hai nước Việt Nam – Angiêri trong công cuộc chống thực dânPháp giải phóng dân tộc và cả trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước(1991 – 2008)
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tài liệu:
Để tiến hành đề tài này , tôi đã tiến hành sưu tầm tư liệu ở thư viện trườngĐại học Vinh, Thư viện quốc gia Việt Nam, Thư viện tỉnh Nghệ An, Trung tâmnghiên cứu châu Phi, thư viện trường đại học khoa học xã hội và nhân văn… từ
đó chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Các sách giáo trình giảng dạy dành cho các trường đại học và cao đẳng
- Các tài liệu chuyên khảo về phong trào dân tộc ở châu phi Và quan hệViệt Nam – Angêri.- Các bài báo, các bài nghiên cứu về phong trào giải phóngdân tộc ở Angiêri và mỗi quan hệ Việt Nam – Angiêri được đăng tải trên các tạpchí.- Các thông tin trên các trang website đáng tin cậy như TTXVN, Bộ Ngoạigiao, Bộ Thương mại
- Các hiệp định, Tuyên bố chung được ký kết giữa Việt Nam – Angiêri
- Phương pháp nghiên cứu:
Đây là đề tài lịch sử, nên chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử,phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, dựa trên cơ
sở phương pháp luận sử học Macxít để giải quyết nhiệm vụ do đề tài đặt ra
Trang 95 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung củakhoá luận gồm ba chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam – Angiêri
Chương 2: Quan hệ Việt Nam – Angiêri trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
Trang 10NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM – ANGIÊRI
1.1 Nhân tố tự nhiên , con người
1.1.1 Angiêri
Cộng hoà Angiêri nằm ở khu vực Bắc Phi, có biên giới chung với Marốc,Tuyduyni, Libi, Mali và Nigiê Với diện tích rộng 2.381.740 km2. Là nước lớnthứ hai ở châu Phi (sau Xu đăng) và thứ mười trên thế giới Dân số Angiêri vàonăm 1962 là 11triệu người thì đến nay khoảng 32,5 triệu người (theo số liệu năm2005) trong đó người ẢRập chiếm 80%; 20% người BecBe Ngôn ngữ chínhthức là tiếng ẢRập, tôn giáo đạo Hồi là quốc đạo, chiếm 90% dân số, ngoài ra
có đạo Thiên Chúa
Thành phố thủ đô của Angiêri là Angiê Các thành phố lớn chủ yếu tậptrung ở nửa phía bắc của đất nước đó là thành phố Ôran, Cônxtanti, Bon,Philippovin, Meliana…
Đất nước Angiêri chia làm ba miền:
+ Ven bờ §ịa Trung Hải là miền đồng bằng Ten phì nhiêu màu mỡ, đó làvựa lúa mì, những vườn cam, quýt những dãy đồi trồng cây ô lưu lấy quả ép dầu
và những cánh đồng nho trĩu quả
+ Ở miền trung là vùng cao nguyên màu mỡ, với những đồng cỏ chănnuôi cừu, lừa, ngựa và những cánh đồng trồng ô lưu để lấy dầu
+ Miền Nam là vùng tiếp giáp sa mạc Xahara, nơi có nhiều gỗ quý nhưsến, thông và là nơi có loại cây anpha rất quý được dùng để lấy bột chế tạo giấyảnh và thuốc súng Loại cây này mọc tự nhiên trên những bãi cát rộng, khôngmất công chăm bón, nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao
Angiêri có 1.500 km bờ biển nhìn ra Địa Trung Hải, với nhiều cửa biểnrất thuận lợi cho sự giao thông trong nước và với nước ngoài, đồng thời cũngthuận lợi cho việc đánh cá
Angiêri rất giàu khoáng sản, có những quặng qúy như sắt, đồng, vàng,urani , như vùng Uanda sản lượng quặng sắt hàng năm lên đến 3 triệu tấn.Vùng Xahara mênh mông chiếm 86% diện tích toàn Angiêri là nơi dự trữ khổng
Trang 11lồ dầu lửa và hơi đốt Chỉ tính riêng dầu mỏ, ở 4 trung tâm khai thác lớn nhất,người ta dự tính với nhịp độ khai thác trung bình, thì đến cuối năm 1960, sản l-ượng có thể là 13 triệu tấn và đến năm 1970 thì lên đến 25 triệu tấn, tức bằngsức tiêu thụ lúc đó của cả nước Pháp
Có thể nói đất nước Angiêri đẹp như một bức tranh với đủ non xanh, nướcbiếc, đồng ruộng bao la và rừng núi bạt ngàn, mênh mông biển cát Người tathường ví Angiêri như chiếc cửa sổ của lục địa Bắc Phi nhìn ra Địa Trung Hải.Thành phố Angiê là một bến tàu ăn than quan trọng nhất trên đường ra vào quakênh đào Xuyê, đồng thời cũng là điểm tạm hạ cánh trên đường hàng không từchâu Âu sang Trung Phi và Nam Phi Angiêri không chỉ giàu đẹp mà còn có vịtrí quan trọng trên bản đồ châu Phi và thế giới
Angiêri có nền văn hóa lâu đời rực rỡ Từ thời trung cổ, khi châu Âu nóichung và nước Pháp nói riêng còn chìm đắm trong bóng tối, thì Angiêri cũngnhư nhiều nước Arập khác đã có một nền văn minh rực rỡ trong khu vực từTrung Cận Đông sang tận Tây Ban Nha Thế nhưng, nền đô hộ của thực dânPháp trên 130 năm đã bóp nghẹt nền văn minh đó Ngày nay người ta chỉ cònnhìn thấy dấu vết của nền văn hoá rực rỡ ấy của Angiêri qua các công trình kiếntrúc như lăng tẩm, đền đài còn sót lại hoặc qua kho tàng thơ ca, nhạc, hoạ củanhân dân Angiêri
Là một trong những đầu mối giao thông quan trọng giữa ba châu lục Á, Âu, Phinên Angiêri thường xuyên bị người ngoại tộc dòm ngó, xâm nhập và thống trị, nhưngười Phênixi, La Mã, người Vanđan, người Arập, người Thổ Nhĩ kỳ, cuối cùng làthực dân Pháp Cũng vì thế mà tình hình cư dân ở Angiêri trở nên phức tạp
Tổ tiên của dân tộc Angiêri là người Becbe, vốn sống định cư trên dải đất
Bắc Phi mà người xưa gọi là dải đất Becbe từ thiên niên kỷ III tr.CN “Becbe”vốn là một từ La tinh, dùng để chỉ sự mọi rợ, điều không có trong văn minh La
Mã Người Becbe tự gọi mình là Amadighen có nghĩa là “những người tự do”.
Vào thiên niên kỷ thứ III tr.CN, xứ Becbe kéo dài từ Biển Đỏ đến Đại Tây ơng, cho đến gần đảo Canaric (ở Tây- Bắc Phi) và từ Địa Trung Hải đến vùngtiếp giáp Camerun Vào thiên niên kỷ III tr.CN, nơi đây đã diễn ra quá trình
Trang 12Dư-chuyển biến từ người vượn thành người hiện đại Một thứ ngôn ngữ, coi như cổnhất ở Bắc Phi, đã được cư dân vùng này từ Ai Cập đến bờ Đại Tây Dương sửdụng và mất đi từ thế kỷ thứ XV sau cuộc chinh phục của người Tây Ban Nha
Do có nhiều tài nguyên và vị trí thuận lợi như là trung tâm giao lưu của châu Âu,châu Phi, và châu Á, nên Becbe trở thành nơi tranh chấp dữ dội của người Phênixi(Cactagiơ) từ thế kỷ XII đến giữa thế kỷ II tr.CN, của người La Mã từ giữa thế kỷ II tr-.CN đến đầu thế kỷ V sau CN, của người Vandan từ giữa thế kỷ V đến nửa đầu thế kỷ
VI, của người Bidantin từ giữa thế kỷ VI đến giữa thế kỷ VII, của người Arập từ giữathế kỷ VIII đến đầu thế kỷ XVI, của người Thổ Nhĩ Kỳ từ đầu thế kỷ XVI đến nửađầu thế kỷ XIX và từ 1830 bị người Pháp xâm chiếm
Lịch sử lâu dài của Angiêri, ngoài sự đụng độ của các bộ lạc là hoạt động
có tính chất quyết định của đạo Hồi Quá trình Arập hoá dần dần xứ Becbe docác giáo hội và thế lực quý tộc tôn giáo tiến hành đã đem đến cho Angiêri mộttính cách đậm nét phương Đông [2, 19]
Như vậy, do quá trình lịch sử lâu dài, người Bécbe ở Angiêri đã sáp nhậpvào các bộ lạc Arập, học tiếng Arập, nói tiếng Arập, sống hoà mình với thế giớiArập Chính thời kì này người Arập và văn minh Arập đã gây ảnh hưởng mạnh
mẽ đối với lịch sử Angiêri, nhất là tín ngưỡng Hồi giáo và các môn khoa họcnhư địa lí, lịch sử, y học, thiên văn học, toán học, âm nhạc, kiến trúc
Tới thế kỉ XVI, Angiêri bị người Thổ Nhĩ Kì xâm lược và chiếm đóngnhưng chủ yếu ở các đô thị lớn, còn các bộ lạc Arập và Bécbe đã đoàn kết chặtchẽ với nhau giữ vững những vùng nông thôn rộng lớn Cho nên bề ngoàiAngiêri là một đất nước thuộc triều đình Thổ Nhĩ Kì, nhưng trên thực tế Angiêrivẫn là một quốc gia riêng biệt có bộ máy hành chính, tổ chức kinh tế, quân đội vàchính sách ngoại giao riêng Angiêri lúc đó đã được nhiều nước phương Tâychính thức đặt quan hệ ngoại giao, trong đó có nước Pháp Chính quyền Pháp đặtlãnh sự ở Angiêri với mưu đồ trước mắt là vay mượn lúa mì, đay, gai, lừa, ngựacủa Angiêri và dần dần người Pháp đã kiếm cớ để đưa quân xâm chiếm Angiêri
từ 1830
Trang 13Thực trạng lịch sử nêu trên đã làm cho thành phần cư dân ở Angiêri trởnên phức tạp Trong số 11 triệu dân của Angiêri lúc bấy giờ có 90% là ngườiBécbe nói tiếng Arập, theo đạo Hồi và người Arập được coi là dân gốc củaAngiêri, còn 10% là gốc châu Phi trong đó có trên 80 vạn người gốc Pháp.
1.1.2 Việt Nam
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cã diện tích lãnh thổ 330.992
km2 Dân số: 80.902.400 người (2003); Thành phần dân tộc: gồm 54 dân tộc,chiếm đa số là người Việt (Kinh) 86,2%; Tiếng nói chính thức: Tiếng Việt Tôngiáo chính: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, đạo HoàHảo Thể chế: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sảnViệt Nam; Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất: Quốc hội, đứng đầu là chủtịch Quốc hội; Nhà nước, đứng đầu là chủ tịch nước; Chính phủ, đứng đầu là thủtướng Chính phủ Thủ đô: Hà Nội Là thành viên Liên hợp quốc từ 1978, thiếtlập quan hệ ngoại giao với 167 nước
Việt Nam là một quốc gia ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, phần lãnh thổgắn vào Đông Nam Á lục địa, còn phần lãnh hải gắn vào Đông Nam Á hải đảo,
ở phía đông bán đảo Trung - Ấn, với đường bờ biển dài tới 3.260 km từ Móng Cáiđến Hà Tiên; thềm lục địa cùng với vùng đặc quyền kinh tế trên Biển Đông rộngkhoảng 1 triệu km2, trong đó có rất nhiều đảo và quần đảo lớn: Cái Bầu, Cái Bàn,Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc; xa bờ là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Trênđất liền có tới 3/4 diện tích là đồi núi, với đỉnh cao nhất Đông Nam Á là Phansipan3.143 m Phía Đông Bắc thung lũng Sông Hồng là những cánh cung ôm lấy khốiNúi Vòm Sông Chảy, mở về phía Hoa Nam và quy tụ tại dãy Tam Đảo Phía tâynam thung lũng Sông Hồng cho tới thung lũng Sông Cả là những dãy núi và caonguyên đá vôi chạy theo hướng tây bắc - đông nam Từ thung lũng Sông Cả tới vùngĐông Nam Bộ là dải Trường Sơn, có nơi chạy ra sát biển và ôm lấy vùng TâyNguyên rộng lớn với nhiều cao nguyên đất đỏ bazan Đồng bằng chỉ chiếm 1/4 diệntích lãnh thổ nhưng lại là những châu thổ cửa sông phì nhiêu Rộng nhất là đồngbằng Nam Bộ, thứ hai là đồng bằng Bắc Bộ, các đồng bằng duyên hải Trung Bộ nhỏ
Trang 14hẹp hơn Khí hậu Việt Nam mang tính chất nội chí tuyến gió mùa ẩm, thiên vềtính chất chí tuyến ở phía bắc và tính chất á xích đạo ở phía nam
Việt Nam là một nước có tài nguyên đa dạng và phong cảnh đẹp Khoángsản đáng kể có dầu khí, than đá, than nâu, sắt, bauxit, thiếc, crom, apatit, vật liệuxây dựng, song trữ lượng không lớn so với thế giới Phong phú nhất là tài nguyênsinh vật bao gồm rất nhiều loại lâm sản, nông sản, hải sản, đủ cho nhu cầu trongnước và còn dư thừa để xuất khẩu, như gỗ, gạo, rau quả, chè, hồ tiêu, cao su, tôm,
cá, mực Tài nguyên biển còn lớn nhưng chưa được thăm dò và khai thác hiệuquả Trong các phong cảnh đẹp có hai nơi đã được công nhận là di sản thiên nhiênthế giới: vịnh Hạ Long và vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng
Trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, khảo cổ học đã phát hiện được những di tích
đá cũ và hoá thạch người Homo erectus cách ngày nay trên dưới 50 vạn năm vàtiếp theo là các di tích hậu kì đá cũ rồi các giai đoạn phát triển của đồ đá mới.Cách ngày nay khoảng 4 - 5 nghìn năm, văn hoá hậu kì đá mới phân bố rộng khắp
từ bắc chí nam, từ miền núi rừng đến đồng bằng châu thổ, từ đất liền đến hải đảo.Đây là lúc biển lùi và bắt đầu quá trình bồi tụ hình thành đồng bằng Sông Hồng,sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển Các lớp cư dân nguyên thuỷ từ miềnđồi núi và chân núi tiến xuống khai phá vùng đồng bằng, phát triển nền nôngnghiệp lúa nước
Từ đầu thiên niên kỉ II tCn., Việt Nam bước vào thời đại kim khí, từ thờiđại đồ đồng tiến lên sơ kì thời đại đồ sắt Cuộc cách mạng luyện kim tạo nênnhững chuyển biến sâu sắc trong toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của con người.Chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã và trong thiên niên kỉ I tCn cho đến những thế
kỉ đầu Công nguyên, trên lãnh thổ Việt Nam hình thành những trung tâm vănminh và nhà nước đầu tiên Đó là Văn hoá Đông Sơn với Nhà nước Văn Lang -
Âu Lạc ở Miền Bắc, Văn hoá Sa Huỳnh với Nhà nước Chămpa ở Miền Trung vàVăn hoá Óc Eo với Nhà nước Phù Nam ở Miền Nam Trải qua tiến trình lịch sửlâu dài, ba dòng lịch sử - văn hoá thời cổ đại đó đã dần dần giao lưu và hội nhậptạo thành lịch sử - văn hoá Việt Nam mà tuyến Đông Sơn - Văn Lang, Âu Lạcgiữ vai trò chủ lưu
Trang 15Cuối thế kỉ II tCn., nước Văn Lang - Âu Lạc của người Việt bước vào mộtthời kì thử thách vô cùng ác liệt Đó là thời Bắc thuộc kéo dài hơn nghìn năm kể
từ khi nước Âu Lạc bị Nam Việt xâm chiếm năm 179 tCn rồi nhà Hán đô hộ từnăm 111 tCn Vương quốc Chămpa cũng bị nhà Hán xâm chiếm Người Việtliên kết lại trong các cộng đồng làng xã vốn mang tính tự trị cao để đấu tranhbảo tồn cuộc sống, chống lại các thủ đoạn đồng hoá của nước ngoài, đồng thờitiếp nhận những ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc để tăng thêm tiềm lực của đấtnước và từ đấy dẫy lên các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc Đó là cuộc khởinghĩa Hai Bà Trưng năm 40, khởi nghĩa Bà Triệu năm 248, khởi nghĩa Lý Bí năm
542, khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 720, khởi nghĩa Phùng Hưng cuối thế kỉVIII, vv Cuối thế kỉ II, nhân dân Chămpa cũng khởi nghĩa thành công, lập nênVương quốc Chămpa độc lập Đầu thế kỉ X, cuộc đấu tranh của người Việt dẫnđến sự thành lập chính quyền tự chủ họ Khúc (905 - 930), họ Dương (931 - 937)
và kết thúc bằng chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng cuối năm 938
do Ngô Quyền tổ chức và lãnh đạo, chấm dứt hoàn toàn thời Bắc thuộc, mở ramột thời kì độc lập và phục hưng dân tộc từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Thời kì nàybao gồm các vương triều Ngô (939 - 967), Đinh (968 - 979), Tiền Lê (980 -1009), Lý (1009 - 1225), Trần (1226 - 1400), Hồ (1400 - 1407) và Lê Sơ (1428 -1527) Triều Ngô đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội) Triều Đinh và Tiền Lê đóng đô ởHoa Lư (Ninh Bình), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt Triều Lý dời đô về thành Đại
La (Hà Nội) và đổi tên là Thăng Long, đặt quốc hiệu là Đại Việt Từ thời Lý trongđiều kiện độc lập và thống nhất, công cuộc xây dựng đất nước được đẩy mạnhtrên mọi lĩnh vực và đạt nhiều thành tựu to lớn Nước Đại Việt với kinh đô ThăngLong trở thành một quốc gia độc lập và cường thịnh Hai lần xâm lược của quânTống (980 - 981, 1076 - 1077), ba lần xâm lược của quân Mông - Nguyên (1258,
1285, 1287 - 1288) đều bị đập tan Từ 1397, triều Trần dời đô về Tây Đô (ThanhHóa) và Thăng Long gọi là Đông Đô Triều Hồ đặt quốc hiệu là Đại Ngu Cuộckháng chiến chống Minh (1406 - 1407) do triều Hồ lãnh đạo bị thất bại, nhưng
20 năm sau, sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi với khởi nghĩa LamSơn (1418 - 1427) Từ thế kỉ X đến XV, công cuộc phục hưng dân tộc đã mở ra
Trang 16một kỉ nguyên mới: kỉ nguyên văn minh Đại Việt mà trung tâm là Văn hoá ThăngLong.
Từ đầu thế kỉ XVI, chế độ quân chủ tập quyền và quốc gia thống nhất bịkhủng hoảng, đất nước lâm vào cảnh phân liệt Nam - Bắc triều, Đàng Ngoài -Đàng Trong và nội chiến Lê - Mạc (1533 - 1592), Trịnh - Nguyễn (1627 - 1672).Tuy nhiên trong từng vùng, nền kinh tế và văn hoá vẫn tiếp tục phát triển Côngcuộc khai phá được mở rộng về phía nam cho đến tận đồng bằng Cửu Long Thế kỉXVI – XVII, kinh tế hàng hoá và quan hệ giao thương với nước ngoài phát triểnmạnh dẫn đến sự phồn vinh của nhiều đô thị và cảng thị Văn hoá dân tộc tiếp tụcphát triển và mở rộng giao lưu với nhiều nước trong khu vực và một số nướcphương Tây
Từ giữa thế kỉ XVIII, khởi nghĩa nông dân bùng nổ mạnh ở Đàng Ngoàirồi Đàng Trong dẫn đến đỉnh cao là phong trào Tây Sơn cuối thế kỉ XVIII.Phong trào phát triển thành một cuộc đấu tranh rộng lớn của dân tộc, đánh bạicuộc xâm lược của quân Xiêm (1784 - 1788) ở phía nam và quân Thanh (1788 -1789) ở phía bắc, xoá bỏ tình trạng chia cắt kéo dài trên hai thế kỉ
Trong nửa đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn (1802 - 1945) đã phục hồi chế độquân chủ tập quyền, củng cố quốc gia thống nhất, phát triển kinh tế, mở mangvăn hoá Triều Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân (Huế), Thăng Long trở thành trị sởcủa Bắc Thành (Bắc Bộ) và từ năm 1831 là trị sở của tỉnh Hà Nội Quốc hiệu từnăm 1804 là Việt Nam, năm 1838 đổi là Đại Nam Trong bối cảnh mới của thếgiới thế kỉ XIX khi mà ở phương Tây, chủ nghĩa tư bản đang phát triển trên nềntảng văn minh công nghiệp và đang bành trướng dữ dội sang phương Đông,triều Nguyễn không đưa ra được những cải cách cần thiết để khắc phục tìnhtrạng lạc hậu của đất nước, làm cho thế nước bị giảm sút, xã hội thiếu ổn định vàcuối cùng thất bại trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp (1858 - 1884)
Thời Pháp thuộc (1884 - 1945), dưới sự thống trị của chủ nghĩa thực dân vàtác động của các chính sách khai thác thuộc địa, ảnh hưởng của văn minh phươngTây, nền kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến theo hướng cậnđại hoá, nhưng phát triển chậm chạp Phong trào yêu nước tiếp diễn liên tục, từ
Trang 17phong trào Cần Vương trong hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỉ XIX chuyển sangnhững phong trào mang ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX và
từ năm 1930 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Cách mạng tháng Tám 1945thành công đã chấm dứt sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, khai sinh nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà và mở ra kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập, thống nhất
và xây dựng lại đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thắng lợi của Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và chống Mĩ(1954 - 1975) đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất tổ quốc.Những năm 1975 - 1985, đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cải tạo
xã hội chủ nghĩa; từ năm 1986, bắt đầu công cuộc đổi mới nhằm đẩy mạnh sựnghiệp phục hưng dân tộc, đưa đất nước vào tiến trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập kinh tế thế giới
Qua tiến trình lịch sử lâu dài đó, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã sángtạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, biểu thị sự thống nhất trong tính đadạng Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, hiện nay gồm 54 tộc người (thườnggọi là dân tộc) thuộc 4 ngữ hệ chính: Nam Á, Thái ( Thái - Kadai), Mã Lai - ĐaĐảo (Malayo - polynésien hay Nam Đảo) và Hán - Tạng, trong đó dân tộc Việt(Kinh) là dân tộc đa số chiếm 86,2% dân số Mỗi dân tộc có vốn văn hóa riêngcủa mình, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Việt Nam Cũngnhư Angiêri, Việt Nam có vị trí địa lý hết sức quan trọng, nằm trên vị trí đôngnam của lục địa Châu Á, vừa nối liền với đại lục bằng những hệ thống giao thông
tự nhiên, vừa nhìn ra đại dương với bờ biển dài, Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiềuluồng thiên di cư dân, nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa Trong lịch sử, trênnền tảng văn hóa bản địa gắn liền với cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, Việt Namsớm giao lưu và tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa nước ngoài từ văn hóa TrungQuốc ở phía bắc, văn hóa Ấn Độ ở phía nam trong thời cổ đại, trung đại cho đếnvăn hóa phương Tây từ thế kỉ XVI - XVII Địa hình đa dạng của đất nước cũngtạo nên nhiều vùng địa - văn hóa phong phú từ bắc vào nam, từ vùng đồng bằngven biển đến vùng trung du và núi rừng, cao nguyên phía tây Tất cả những đặcđiểm về cấu trúc tộc người, vị trí địa lí, giao thoa và hỗn dung văn hóa đó, qua
Trang 18quá trình lịch sử đã quy định tính đa dạng của văn hóa Việt Nam Nhưng mặtkhác, cộng đồng các dân tộc Việt Nam lại sớm chung sống trong một đất nước mà
do yêu cầu khai phá đất đai và làm thủy lợi của nền nông nghiệp lúa nước kết hợpvới yêu cầu đoàn kết chống ngoại xâm nên phải cố kết lại trong một quốc gia -dân tộc thống nhất Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất quốc gia là một đặcđiểm mang tính chi phối của lịch sử Việt Nam Chính đặc điểm này đã tạo nên ýthức dân tộc, truyền thống yêu nước sâu sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và quy định tính thống nhất trong sự đa dạng của văn hóa Việt Nam
Văn hóa truyền thống Việt Nam dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp lúanước và kết cấu xã hội của cộng đồng xóm làng (quan hệ láng giềng) kết hợp với
họ hàng (quan hệ huyết thống) Đó là nền văn hóa - văn minh lúa nước và xómlàng Trong thời Pháp thuộc, quá trình cận đại hóa đã bắt đầu với sự xuất hiệnmột số cơ sở công nghiệp khai thác và chế biến cùng sự đô thị hóa theo mô hìnhphương Tây của một số thành thị lớn nhưng diễn biến chậm chạp, yếu ớt vàchưa làm thay đổi nền tảng văn minh nông nghiệp mang tính chất thủ công vàsản xuất nhỏ Cùng với những thành công của công cuộc đổi mới, ngày nay ViệtNam đang bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tếquốc tế, trên cơ sở đó nền văn hóa - văn minh truyền thống Việt Nam cũng đangchuyển mình sang nền văn hóa - văn minh hiện đại, vừa bảo tồn và phát huy disản văn hóa truyền thống, giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp nhận những giá trị vàthành tựu hiện đại của văn minh nhân loại
1.2 Nhân tố kinh tế – xã hội
1.2.1 Angiêri
Vào thế kỷ XVI, Angiêri bị Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng Năm 1893, Phápxâm lược Angiêri và thiết lập chế độ thuộc địa Nhờ tinh thần chiến đấu kiêncường của nhân dân Angiêri cùng bối cảnh quốc tế thuận lợi như Pháp đại bại ởViệt Nam tháng 5/1954, hệ thống thuộc địa của Pháp bắt đầu tan rã Tháng3/1962, Pháp buộc phải ký Hiệp định Evian trao trả độc lập cho Angiêri.Tháng7/1962, Angiêri được độc lập Ngày 20/9/1962, Angiêri tiến hành cuộc bầu cửlập hiến đầu tiên và quyết định lấy ngày 1/11 làm ngày quốc khánh
Trang 19Đảng mặt trận giải phóng dân tộc (FLN) là đảng duy nhất cầm quyền ởAngiêri cho đến tháng 10/1988 Cương lĩnh của FLN là xây dựng một nướcAngiêri xã hội chủ nghĩa Hồi giáo FLN đã thiết lập quan hệ với một số đảngcộng sản khác trên thế giới trong đó có Đảng cộng sản Việt Nam
Từ khi độc lập, Angiêri đã trải qua nhiều thời Tổng thống Cuối năm
1988, Angiêri ban hành Đạo luật về dân chủ đa đảng Đến cuối năm 1997,Angiêri đã hoàn thành chế độ dân chủ đa nguyên
Ngày 15/4/1999, Angiêri đã tổ chức bầu cử Tổng thống mới Đây là cuộc bầu cử Tổng thống lần thứ 7 của Angiêri kể từ ngày độc lập cho đến nay Ông Abdelaziz Bouteflika đã thắng cử và trở thành Tổng thống dân sự đầu tiên của Angiêri trong 34 năm qua Từ khi Tổng thống Bouteflika lên cầm quyền, thực hiện chính sách hoà giải dân tộc, tình hình Angiêri đã có những chuyển biến tíchcực, tình hình chính trị, an ninh từng bước đi vào ổn định
Về tôn giáo, đạo Hồi là quốc đạo, chiếm 95% dân số, ngoài ra có đạo Thiên chúa Ngôn ngữ chính thức: Tiếng A-rập, ngoài ra còn có tiếng Pháp, tiếng địa phương Béc-be
Angiêri có trữ lượng khí tự nhiên đứng thứ năm trên thế giới, đứng thứ hai về xuất khẩu khí tự nhiên và đứng thứ 14 về trữ lượng dầu mỏ Trong những năm gần đây, Chính phủ đã quan tâm hơn tới nông nghiệp nhưng vẫn chưa đảm bảo tự túc lương thực Các sản phẩm nông nghiệp chính của Angiêri là lúa mì, lúa mạch, yến mạch, nho, ôliu, cam, quýt, gia súc
Chính phủ đã có nhiều cố gắng để đa dạng hoá nền kinh tế bằng việc thu hút các nguồn đầu tư trong nước và ngoài nước vào lĩnh vực năng lượng, giảm
tỷ lệ người thất nghiệp và nâng cao mức sống của người dân
Trong “12 năm hoàng kim” từ 1973 đến 1985, thời kỳ vàng của dầu mỏ, Angiêri đã có một sự tăng trưởng kinh tế đáng kể nhờ vào nguồn lợi dầu mỏ tương đối dồi dào và được bán với giá cao Trong thời kỳ này, GDP của Angiêri tăng trung bình 8%/năm Angiêri tập trung đến 60% thu nhập quốc dân vào ngành công nghiệp hoá dầu, ít chú ý đến các ngành công nghiệp và nông nghiệp khác Nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào bao cấp của Nhà nước
Trang 20Do giá dầu khí giảm mạnh trên thị trường thế giới, tỷ lệ tăng dân số quá cao cộng với mất cân đối trong cơ cấu phát triển kinh tế, nền kinh tế Angiêri đã dần đi vào thế đình trệ và suy thoái, đặc biệt trong giai đoạn từ 1986 đến 1992 Mặt khác, do nguồn thu ngoại tệ từ các nguồn khác ngoài dầu mỏ không đáng
kể, Angiêri đã phải vay nợ nước ngoài rất nhiều
Cùng với các nỗ lực nhằm cân bằng nền kinh tế, giảm bớt thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại, năm 1988, Chính phủ Angiêri đã quyết định
chuyển đổi nền kinh tế từ hệ thống tập trung, bao cấp do Nhà nước quản lý sang nền kinh tế thị trường, từ bỏ độc quyền ngoại thương
Những năm qua, mặc dù gặp khủng hoảng chính trị-xã hội, tình hình kinh
tế nước này đã có nhiều tiến bộ Năm 2003, GDP đạt 66,6 tỷ USD Thu nhập bình quân đầu người khoảng 2000 USD/năm Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệpchiếm 10,2%, công nghiệp 55,1% và dịch vụ 34,7%
1.2.2 Việt Nam
Sau khi thống nhất đất nước, để khôi phục nền kinh tế bị chiến tranh tànphá, Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (12.1976) đề ra nhiệm vụ đưa cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện tập thể hoá nông nghiệp, cải tạo xã hộichủ nghĩa đối với kinh tế tư bản tư nhân, hợp tác hoá thợ thủ công, hạn chế kinh
tế tư nhân trong sản xuất và thương mại Mô hình đó vận hành theo cơ chế kếhoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp đã tỏ ra kém hiệu quả, nền kinh tế tăngtrưởng chậm, trong những năm 1979 - 1985 đã lâm vào khủng hoảng Lạm phátcao, đời sống nhân dân rất khó khăn Hội nghị Trung ương 6 (khoá IV) (9.1979)
đã bắt đầu những cải cách kinh tế có giới hạn ở tầm vi mô (xí nghiệp, hợp tác xã)chỉ đem lại kết quả hạn chế, nhất thời Tình hình kinh tế đòi hỏi những cải cách
cơ bản hơn mới thoát khỏi khủng hoảng
Giai đoạn đổi mới (1986 đến nay): Đại hội VI (12.1986) của Đảng đưa ra
chủ trương đổi mới cơ bản, trước hết là đổi mới tư duy và cơ chế quản lí kinh tế,xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần Qua Đại hội VII (6.1991), Đại hội VIII(6.1996), đến Đại hội IX (4.2001), nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa được khẳng định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kì quá độ lên chủ
Trang 21nghĩa xã hội, với nội dung cơ bản của đổi mới kinh tế là: phát triển nền kinh tếnhiều thành phần thông qua đổi mới doanh nghiệp nhà nước, đổi mới kinh tếhợp tác, phát triển kinh tế cá thể, tư nhân và các loại hình sở hữu hỗn hợp thuhút đầu tư nước ngoài; điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với trình độ pháttriển kinh tế; đổi mới cơ chế quản lí kinh tế theo hướng "xóa bỏ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa"; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế Sau gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã cónhững chuyển biến quan trọng
Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao: từ 1987 đến 2003, tăng trưởngbình quân 7%/năm; năm 2003 đạt 7,24%/năm Lạm phát được kiềm chế và đẩylùi, từ 3 con số (1986) giảm xuống còn một con số Sản xuất nông nghiệp đã cóbước phát triển, sản xuất lương thực chuyển đổi cơ cấu sản lượng phù hợp vớiyêu cầu thị trường, từ 21,5 triệu tấn (1990) lên 37,5 triệu tấn (2003) Từ mộtnước thiếu lương thực trước 1989, trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ haitrên thế giới Sản xuất công nghiệp tăng trưởng liên tục, nhiều sản phẩm côngnghiệp như điện, than, vải, thép, xi măng tăng nhanh, đáp ứng tốt hơn nhu cầusản xuất, đời sống và xuất khẩu; chất lượng nhiều sản phẩm được nâng cao,bước đầu đã đứng vững trong cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuấtkhẩu Năm 2003, điện 41.117 triệu kW/giờ, than sạch 18.962,7 nghìn tấn, dầuthô 17.690 nghìn tấn, xi măng 23.282,4 nghìn tấn, thép cán 2.682,2 nghìn tấn,phân hoá học 1.275,8 nghìn tấn, vải lụa 475,9 triệu mét, vv
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từng bước theo hướng tiến bộ:
- Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng khu vực I giảm, khu vực
II và III tăng Cơ cấu GDP theo các khu vực I, II, III (%) năm 1987 là 40,56;28,36; 31,08 thì năm 2003 là 21,8; 39,97; 38,23 Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơcấu sản xuất trong nội bộ các ngành không đều Trong nông nghiệp, sự chuyểnđổi có tiến bộ: tỉ trọng trồng trọt giảm, tỉ trọng chăn nuôi tăng (từ 17% năm
2000 lên 20% năm 2003) Thuỷ sản phát triển mạnh, đạt 1,15 triệu tấn nuôitrồng và 1,9 triệu tấn đánh bắt, khai thác (2004) Trong công nghiệp: công
Trang 22nghiệp tăng trưởng chủ yếu là dựa vào các ngành gia công nguyên liệu cho nướcngoài và ngành khai thác tài nguyên, khoáng sản như than đá, dầu mỏ, khí đốt.Năm 2003, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp là trên 16% nhưng chỉ đóng góp3,86% trong tốc độ tăng GDP 7,24%.
- Cơ cấu các thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch từ chủ yếu là quốcdoanh, hợp tác xã sang nhiều thành phần, nhưng tỉ trọng kinh tế quốc doanh vẫncòn cao GDP do các doanh nghiệp tư nhân tạo ra ngày càng lớn, chiếm 35,9%(2003); đầu tư nước ngoài đóng góp 13,5% GDP Vốn đầu tư phát triển tăng nhanh:năm 2003 so với 1996 tăng xấp xỉ 2,5 lần
- Cơ cấu vùng kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng hình thành ba vùngkinh tế trọng điểm Bắc, Trung, Nam và các vùng kinh tế có vai trò đầu tàu cho sựphát triển chung của cả nước với 68 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung thuhút được vốn đầu tư của nước ngoài và tư nhân trong nước Đây là những môhình mới trong nền kinh tế thời kì đổi mới ở nước ta
Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng về quy mô, đa dạng hoá hìnhthức và đa phương hoá thị trường Năm 2003, có quan hệ buôn bán với 221 nước
và vùng lãnh thổ ở cả năm châu lục, trong đó xuất khẩu tới 214 nền kinh tế, nhậpkhẩu từ 151 nền kinh tế Quy mô xuất khẩu liên tục tăng và năm 2003 đạt mứccao nhất từ trước tới nay (19.880 triệu USD, gấp hơn 9,5 lần năm 1991) Kimngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt 264,4 USD Mặt hàng xuất khẩu đãgia tăng về số loại, số lượng và cơ cấu; đến năm 2003 đã có 17 mặt hàng chủ lựcđạt trên 100 triệu USD, tỉ trọng hàng công nghiệp và tiểu - thủ công nghiệp tăng,hàng nông, lâm, thuỷ sản giảm Song nhập siêu còn lớn và gia tăng
Cơ chế quản lí kinh tế mới đã bước đầu được hình thành Trước đây Nhànước quản lí kinh tế - xã hội chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính và kế hoạch hoátập trung bằng hiện vật thì từ khi đổi mới đến nay, pháp luật quản lí đã sử dụngnhiều hơn các công cụ gián tiếp Thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đã từng bước thay thế thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung baocấp trước đây, đồng thời tạo cơ sở pháp lí cho việc đổi mới toàn diện đất nước.Tuy vậy cải cách còn chậm, các thể chế kinh tế thị trường chậm được hình thành,
Trang 23cải cách hành chính chưa đem lại hiệu quả Tham nhũng lãng phí còn nghiêmtrọng Năng lực cạnh tranh còn thấp.
Sau những năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã khởi sắc, đang đứngtrước cơ hội lớn và nhiều thử thách GDP tăng nhanh nhưng chưa đạt được 40 tỉUSD, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 482 USD mới chỉ bằng 65% mứcnghèo theo chuẩn mới (2 USD/ngày), theo sức mua tương đương chỉ đạt khoảng2.200 USD đứng dưới thứ 130 thế giới, bằng trên 60% mức bình quân của khuvực, nghĩa là Việt Nam còn là một nước nghèo chậm phát triển, quy mô kinh tếnhỏ
1.3 Nhân tố lịch sử
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với quá trình xâm chiếmthuộc địa dã man và tàn khốc.Trong tác phẩm “chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tộtcùng của chủ nghĩa tư bản”, V.I.Lê Nin đã viết: “chủ nghĩa tư bản phát triểncàng cao, nguyên liệu càng thiếu thốn, sự cạnh tranh càng gay gắt và việc tìmkiếm các nguồn nguyên liệu trên toàn thế giới càng thêm ráo riết, thì cuộc tranhgiành để chiếm thuộc địa càng trở nên quyết liệt hơn” Đặc biệt là khi chủ nghĩa
tư bản chuyển sang giai đoạn tột cùng thì cạnh tranh và giành giật thị trường thếgiới giữa các nước tư bản càng trở nên gay gắt hơn và do đó đã thúc đẩy cácnuớc tư bản ráo riết lao vào công cuộc xâm chiếm và phân chia thuộc địa.Không còn nghi ngờ gi nữa, bước chuyển biến của CNTB sang giai đoạn CNTBđộc quyền, sang tư bản tài chính là gắn liền với cuộc đấu tranh ngày càng gaygắt nhằm phân chia thế giới Do vậy, cho đến cuối thế kỉ XIX, hầu hết các nướcchâu Á, châu Phi và Mĩ La Tinh lần lượt rơi vào nanh vuốt của chủ nghĩa thựcdân
Nếu nói về thời điểm xuất hiện người da trắng ở châu Phi, nhất là châuPhi nhiệt đới, thì ngay từ thời thượng cổ, do việc buôn bán giữa châu Phi vớingười nước ngoài đã hình thành, cho nên đã có không ít chuyến thâm nhập châuPhi của người châu Âu Trong suốt chiều dài lịch sử, người châu Âu đã thựchiện nhiều chuyến vượt Địa Trung Hải, qua Đại Tây Dương, tiến sâu xuống phíanam dọc theo các vùng duyên hải bờ tây châu Phi Song sự thâm nhập đó trong
Trang 24một khoảng thời gian đã diễn ra chậm chạp và gặp phải không ít khó khăn, trắctrở do sự độc quyền của người ARập hòng ngăn chặn mọi sự giao lưu kinh tế,thương mại của thế giới bên ngoài vào châu Phi Mãi cho đến thế kỉ XIV, ngườichâu Âu mới tìm cách khắc phục được sự ngăn trở của ngưới ẲRập, bằng cách
đi vòng qua Đại Tây Dương, người châu Âu đẵ tiến sâu xuống phía nam châuPhi, tới các mỏ vàng, các vùng cung cấp hương liệu và ngà voi Và từ đó, cáccuộc vượt biển sang châu Phi để tìm đất mới, cũng như để dọn đường đi sangPhương Đông mới thực sự rầm rộ Từ thế kỉ XV,đẵ xuất hiện những cuộc vượtbiển ồ ạt của người Bồ Đào Nha đến châu Phi Vào thế kỉ XVI, tiếp theo Bồ ĐaoNha là các quốc gia châu Âu khác như Tây Ban Nha rồi đến Hà Lan, Anh,Pháp, Italia….bắt đầu xâm nhập vào châu Phi xúc tiến công cuộc tìm kiếm thuộcđịa
Đầu tiên, Tây Ban Nha tiến hành xâm chiếm vùng ven biển phía bắc châuPhi , nhưng sau đó lại để cho đế quốc Ôt Tômangiành lấy quyền thống trị vùngnày Tuy các nước châu Âu tranh nhau thâm nhập vào châu Phi, nhưng tronggiai đoạn này diện tích thuộc địa con rất nhỏ hẹp Cho đến giữa thế kỉ XIX,những cuộc xâm chiếm thuộc địa mới thực sự bắt đầu tăng lên” rất mạnh”
Mặc dù có mặt ở Bắc Phi từ sớm, nhưng đến năm 1830, nước Pháp mớibắt đầu đánh chiếm Angiêri Ngày 14.6.1830 quân đội viễn chinh Pháp huyđộng ba vạn người đổ bộ lên đất Angiêri và đã gặp phải sự chống trả quyết liệtcủa quân đội triều đình sở tại Song trước sức mạnh của vũ khí hiện đại trong taynhững kẻ xâm lược, thành phố Angiê đã nhanh chóng rơi vào tay quân Pháp.Kết quả, ngày 5-7-1830 một hiệp ước đầu hàng của Angiêri được kí kết với quânxâm lược Tuy vậy, để bình định được đất nước này, trấn áp các cuộc nổi dậykhắp nơi của nhân dân Angiêri, thực dân Pháp phải mất một khoảng thời giandài mấy chục năm với một số lượng lớn xương máu của đội quân viễn chinh
Trong những hoàn cảnh tương tự như châu Phi mảnh đất đông nam châu
Á cũng sớm bị chủ nghĩa tư bản phương tây nhòm ngó Từ nửa thế khỉ XVI cáctàu buôn và giáo sĩ Bồ Đào Nha đã đến Malăcca, Trung Quốc, Philippin, ViêtNam Sang thế kỉ XVII, vượt qua Bồ Đào Nha, Hà Lan đã lập ra các thương
Trang 25điếm ở Hội An và Phố Hiến Nhưng sức lực của hai tên thực dân già cỗi này đãngày càng bị tụt hậu so với các nước tư bản mới nổi lên là Anh, Pháp Vì vậy,
Bồ Đào Nha phải chấp nhận “nhường” nhiều vị trí quan trong ở phương Đôngcho Anh, Pháp
Riêng đối với nước Pháp, tình hình bên trong cũng như bên ngoài giaiđoạn này chưa cho phép triển khai những hành động xâm lược tại Việt Nam nóiriêng, ở Đông Dương nói chung Phải đến đầu thế kỉ XIX, sau khi tiến hành cuộccách mạng công nghiệp, nước Pháp mới chính thức đặt ra mục tiêu xâm lược ViệtNam, và công việc đó đặc biệt xúc tiến mạnh mẽ từ sau cuộc cách mạng tư sảnPháp (1848), và sau khi đế chế thứ hai được thành lập (1858) Kết quả, cũng nhưviệc đánh chiếm Angiêri, sáng 1-9-1858 quân đội Pháp gồm 3000 binh lính, 13chiếc thuyền chiến được trang bị vũ khí hiện đại, trong đó có tàu chở 50 đại báccùng với sự phối hợp của một đội quân Tây Ban Nha đã nổ súng rồi đổ bộ lênchiếm bán đảo Sơn Trà( Đà Nẵng) Sau năm tháng tấn công, quân Pháp hầu nhưdẫm chân tại chỗ, cuộc xâm lược của giặc Pháp đã vấp phải sự kháng cự quyếtliệt của nhân dân Việt Nam Đến tháng 2-1859, quân Pháp phải quay vào đánhchiếm Vũng Tàu, sau đó là Gia Định Và mãi cho đến năm 1885, về cơ bản đếquốc Pháp mới có thể tạm gọi là hoàn thành việc thôn tính bán đảo ĐôngDương, và lập ra cái gọi là Liên Bang Đông Dương
Đều chung hoàn cảnh bị chủ nghĩa đế quốc thống trị, người dân thuộc địabất kì ở đâu cũng phải chịu đựng ách áp bức vô cùng nặng nề Trước hết, nhândân các nước thuộc địa đều bị trói buộc vào bộ máy cai trị thực dân hà khắc vớinhững đội quân đàn áp khổng lồ, với những thiết chế pháp luật bất công, vớinhững hệ thống cảnh sát, nhà tù, trại giam dày đặc, để trấn áp sự phản kháng củanhân dân bản xứ, củng cố vị trí thống trị, phục vụ cho việc bóc lột thuộc địa mộtcách có hiệu quả Kể cả ở Angiêri hay Việt Nam đều thi hành chính sách cai trị
“trực tiếp”, và đó là hình thức cai trị chủ yếu của chủ nghĩa thực dân Pháp Phápcòn duy trì cả kiểu cai trị “gián tiếp” ở những nơi được gọi là xứ “bảo hộ” Nhưng
kể cả xứ bảo hộ này, bọn thực dân pháp vẫn hoàn toàn nắm trong tay việc tổ chức
Trang 26và điều khiển bộ máy cai trị, hệ thống quan lại bản xứ chỉ là hư danh, là bù nhìnkhông hơn không kém.
Tóm lại, đều mang thân phận người dân thuộc địa, thì dù là người Angiêrihay Việt Nam ở đâu họ cũng đều là người dân mất nước,đều có chung thân phận
nô lệ ngựa trâu, họ không được hưởng quyền lợi, họ còn bị giam hãm triền miêntrong bất công đói nghèo
Sự nô dịch về mọi mặt đối với người dân bản xứ, đã đóng một vai tròquan trọng trong việc củng cố ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, tạo điềukiên thuận lợi để bóc lột và cưỡng bức các nước thuộc địa một cách có hiệu quảnhất, đó chính là mục đích và nội dung của công cuộc” khai hoá văn minh caocả” của chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Các nước thuộcđia cũng đều bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và nô dịch vô cùng nặng nề và hàkhắc, bất kì ở đâu, người dân mất nước cũng đều bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và
nô dịch một cách vô cùng nặng nề và hà khắc Bất kì ở đâu, người dân mất nướccũng đều bị đẩy đến cảnh khốn cùng, bị tước đoạt tất cả mọi phương tiện sinhsống
Như vậy, chính sự nô dịch của chủ nghĩa đế quốc là tiền đề của cuộc đấutranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Nó thúc đẩy nhân dân các nước
đó quyết đứng lên chiến đấu với kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc cho tổquốc và cũng chính là giành cơm áo cho bản thân Và cũng chính vì vậy nhândân các nước thuộc địa dù có khác nhau về màu da, phong tục tập quán, lịch sử,song đều giống nhau về sự bần cùng hoá về thân phận nô lệ tôi đòi Chính sựcùng khổ đó đã làm cho các nước thuộc địa Việt Nam – Angiêri nói riêng và cácnước thuộc địa nói chung có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Gắn các nước thuộcđịa vào mối quan hệ hữu cơ với thế giới “chủ nghĩa đế quốc chỉ có thể làm chocác dân tộc gần gũi nhau bằng con đường thôn tính và chiếm đoạt thuộc địa”
Do vậy cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhất là của các dân tộc cung
bị chung một kẻ thù áp bức bóc lột, không thể không ảnh hưởng tới nhau, tácđộng qua lại lẫn nhau, liên hệ khăng khít và mật thiết với nhau
Trang 27Xuất phát từ luận điểm như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, tiền đềcủa sự ảnh hưởng và mối liên hệ của cách mạng Việt Nam đối với phong tràogiải phóng dân tộc ở châu Phi nói chung và Angiêri nói riêng đều nằm trong sựbóc lột và áp bức thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, ở đâu có áp bức ở đó có đấutranh thắng lợi của cuộc đấu tranh này tất yếu sẽ thúc đẩy, phát sinh, phát triểncuộc đấu tranh khác, theo quy luật tất yếu khách quan của lịch sử Sợi dây liên
hệ đó giữa các dân tộc thuộc địa là mối liên hệ hữu cơ giữa những yếu tố kháchquan trong sự phát triển chung của lịch sử xã hội loài người
Tóm lại, giữa nhân dân các nước thuộc địa, dù là người Việt Nam hayngười Angiêri, dù da đen hay da vàng cùng đều chung cảnh ngộ bị thực dânPháp bóc lột đến tận xương tuỷ, cung chịu thân phận tôi đòi, cùng bị chung một
kẻ thù thống trị đè nén, áp bức bóc lột Chính vì vậy mà nhân dân hai nước cóchung nguyện vọng lớn lao là lật đổ ách áp bức và nô dich của chủ nghĩa đếquốc thực dân, giành lại độc lập tự do cho tổ quốc mình và cơm áo cho bản thân.Cũng xuất phát từ lẽ đó mà các nước thuộc địa như Việt Nam - Angiêri đã sớmthông cảm với nhau, hiểu biết lẫn nhau, xích lại gần nhau Biểu hiện cụ thể sinhđộng đó là tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóngdân tộc và cả trong xây dựng đất nước sau này giữa nhân dân hai nước ViệtNam – Angiêri
Trang 29CHƯƠNG 2 QUAN HỆ VIỆT NAM – ANGIÊRI TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH
ra đời trong tiến trình của cách mạng việt Nam đã chứng minh vị trí và tầm quantrọng của vấn đề đoàn kết quốc tế, trong đó có mối quan hệ hữu cơ với phongtrào giải phóng dân tộc của các nước bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và bóc lột.Nhờ có sự gắn kết đó cách mạng Việt Nam đã phát huy đươc vai trò quốc tế củamình, đã có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào giải phóng dân tộccủa các nướcÁ- Phi- Mĩ La Tinh nói chung và đất nước Angiêri nói riêng, và ngược lại ViệtNam cũng luôn nhận được sự ủng hộ to lớn từ phía các nước đó
Để tìm hiểu bản chất, nguồn gốc của mối liên hệ lịch sử giữa cách mạngViệt Nam và phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Angiêri,chúng takhông thể không nhìn lại một cách tổng quát những bước đi đầu tiên, những cơ
sở nền tảng dẫn đến tình đoàn kết chiến đấu quốc tế vô sản giữa nhân dân ta vànhân dân Angiêri Nguồn gốc sâu xa của vấn đề đó có cả yếu tố chủ quan vàkhách quan bắt nguồn từ bối cảnh quốc tế nói chung và những điều kiện lịch sửđặc thù của mỗi một dân tộc Từ những cơ sở trình bày ở trên, cột mốc đầu tiênđánh dấu sự liên minh chiến đấu đó, mà người đặt viên gạch đầu tiên làm nềnmõng vững chắc để kiến tạo và xây đựng tình đoàn kết là chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại của chúng ta Phải nói rằng , mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam vớiphong trào giải phóng dân tộc châu Phi nói chung với cuộc đấu tranh giải phóng
Trang 30dân tộc của nhân dân Angiêri nói riêng được bắt nguồn từ những hoạt động cáchmạng đầu tiêncủa đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài từ những năm đầu thế
kỉ XX Những hoạt động đó của người không những đã trở thành cơ sở nền tảngcủa tình đoàn kết chiến đấu giữa cach mạng Việt Nam và cách mạng Angiêri màcòn là một trong những biểu hiện của xu thế thời đại: Khi các dân tộc có cùngchung kẻ thù xâm lược, áp bức và nô dịch là chủ nghĩa đế quốc thì chắc chẵnnhững người nô lệ sẽ sát cánh cùng nhau để chiến đấu cho muc tiêu cuối cùng làđộc lập dân tộc và tự do
Trong bối cảnh chung đó của thế giới vào đầu thế kỉ XX Nguyễn Ái Quốcvới tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dântộc Người đã sang châu Âu, qua châu Phi va đến châu Mĩ làm một cuộc “khảosát thuộc địa” Tới đâu người cũng chú ý, quan sát và đều nhận thấy sự khốncùng của nhân dân các nước thuộc địa và sự bóc lột tàn bạo tột cùng của bè lũthực dân Người đã khóc khi thấy những người Phi phải chết oan uổng theo lệnh đikhai hoá ở cửa biển Đác Ca Người đă tận mắt chứng kiến sự bần cùng của ngườidân Bắc Phi…Thực tế của cuộc “khảo sát thuộc địa” đó đã giúp người nhìn rõnguồn gốc của mọi áp bức bóc lột ở các thuộc địa, nhìn ra bản chất của chủ nghĩathực dân
Mối liên hệ giữa Cách mạng Việt Nam với phong trào giải phóng dân tộcthế giới nói chung, với châu Phi và Angiêri nói riêng được bắt nguồn từ nhữnghoạt động cách mạng đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc Trong thời gian hoạt động
ở Pari, Nguyễn Ái Quốc đã làm quen với nhiều nhà hoạt động cách mạng củacác xứ thuộc địa như Angiêri, Tuynidi, Mađagaxca, Đahômây (Bênanh), Ghinê,Xênêgan Từ sự đồng cảm của người dân mất nước, những thanh niên từ nhiềunước thuộc địa khác nhau đã liên hệ với nhau, trao đổi về mục tiêu hoạt độngcách mạng Ngày 26-6-1921, họ đã họp với nhau bàn về việc thành lập Hội liên
hiệp thuộc địa, soạn thảo Tuyên ngôn, điều lệ Ngay từ khi mới thành lập Hội
liên hiệp thuộc địa đã tập hợp 120 thành viên vốn là hội viên của Hội những người Việt Nam yêu nước, Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagaxca và những người đến từ Angiêri [5, 84] Ban chấp hành Hội liên hiệp
Trang 31thuộc địa gồm 6 ủy viên đại diện cho các nước thuộc địa, trong đó Nguyễn Ái
Quốc đại diện cho Đông Dương và số còn lại đại diện cho nhiều nước châuPhi.Tại Đại hội I của Đảng Cộng sản Pháp tại Macxây (từ 25 đến 30-12-1921),Nguyễn Ái Quốc đã đề nghị thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa và đầu năm
1922, được sự đồng ý của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tham giathành lập Ban nghiên cứu thuộc địa và là ủy viên của tổ chức này đồng thời làmtrưởng tiểu ban nghiên cứu về Đông Dương Một trong những hoạt động nổi
bật của Hội liên hiệp thuộc điạ vào thời gian này là việc xuất bản tờ báo Người
cùng khổ để đoàn kết nhân dân thuộc địa Pháp đẩy mạnh đấu tranh chống kẻ thù
chung và tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá lý luận cách mạng vào các
nước thuộc địa Sự ra đời tờ báo Người cùng khổ là biểu hiện sự đồng cảm sâu
sắc của những người yêu nước từ các nước châu Phi và Đông Dương thuộc
Pháp Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc đã công bố trên báo Người cùng khổ
và nhiều tờ báo, tạp chí có uy tín lúc bấy giờ đều đề cập đến hầu hết các nước
châu Phi thuộc Pháp như Angiêri, Tuynidi, Marốc Trong tác phẩm Bản án
chế độ thực dân Pháp Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất tàn bạo của chủ
nghĩa đế quốc thực dân Pháp ở châu Phi cũng như ở Đông Dương và kêu gọi cácdân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga để tranh đấu.Những ngày tháng hoạt động không mệt mỏi của Nguyễn Ái Quốc thời gian này
đã đặt nền móng cho mối liên hệ gắn bó giữa các dân tộc thuộc địa nói chung vàgiữa Việt Nam với nhân dân Angiêri nói riêng trong cuộc đấu tranh giải phóngcũng như trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và pháttriển ngày nay
Là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, Cách mạng Việt Namluôn chú trọng và nêu cao tinh thần quốc tế cao cả, đồng thời kết hợp một cáchhài hòa với truyền thống nhân nghĩa cao cả của dân tộc Việt Nam Với nhữngnhân tố đó, Cách mạng việt nam luôn dành cho cuộc đấu tranh giải phóng củacác dân tộc bị áp bức nói chung và Angiêri nói riêng sự đồng cảm sâu sắc và sựquan tâm, ủng hộ chí tình Vốn có những tình cảm cách mạng gắn bó qua thửthách lâu dài giữa hai dân tộc, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam nhiều
Trang 32lần bày tỏ lập trường nhất quán về vấn đề Angiêri là kiên quyết ủng hộ sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Angiêri, cực lực lên án cuộcchiến tranh xâm lược của thực dân Pháp chống lại nhân dân Angiêri Kỳ họp thứ
6 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra kiến nghị đòi chính phủ Phápphải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Angiêri và nhanh chóng đi đến đàm phánvới Mặt trận Dân tộc giải phóng Angiêri trên cơ sở công nhận các quyền dân tộc
cơ bản của nhân dân Angiêri
Bản kiến nghị viết: Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa bày tỏ sựcảm thông sâu sắc và hết sức ủng hộ nhân dân Angiêri đang anh dũng đấu tranhgiành quyền dân tộc chính đáng của mình Quốc hội Việt Nam dân chủ cộnghòa kịch liệt phản đối chính sách đàn áp dã man của thực dân Pháp ởAngiêri Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa đòi Chính phủ pháp phải chấmdứt ngay cuộc chiến tranh đó và phải mở ngay cuộc đàm phán với những đạidiện chân chính của nhân dân Angiêri Nhân dân Việt Nam tin tưởng rằng nhândân Angiêri sẽ giành được thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh chính nghĩa
để giành quyền dân tộc [5, 163] Bên cạnh sự ủng hộ về mặt Nhà nước, mộtphong trào quần chúng đoàn kết với nhân dân Angiêri được dấy lên rộng khắptrên miền Bắc vừa mới được giải phóng Cùng với tiến trình phát triển của cuộckháng chiến ở Angiêri, phong trào đó đã phát triển thành phong trào có quy môlớn thu hút đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân Việt Nam với nhiều loạihình và nội dung phong phú, sinh động
Cách mạng Việt Nam là tấm gương mở đầu và có ý nghĩa to lớn, đóng vaitrò là bài học quý báu đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Angiêri Cuộc đấutranh của toàn dân tộc với hình thức chủ yếu là đấu tranh vũ trang Ngày1.11.1954, cuộc chiến đấu của nhân dân Angiêri bùng nổ “người Angiêri bướctrên con đường mà những người Việt Nam anh em dã vạch ra”.Đồng chí LácbiBuhali, Bí thư Đảng cộng sản Angiêri đã nói: “nhân dân Angiêri được khuyếnkhích bởi thất bại quân sự của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Điện Biên Phủ và đươckinh nghiện của cuộc đấu tranh vũ trang thắng lợi của các đồng chí soi sáng đã
Trang 33mau chóng cầm vũ khí đấu tranh để chấm dứt chế độ thuộc địa mà họ phải chịu
từ 125 năm nay…”
Trong tiến trình đấu tranh oanh liệt chống thực dân Pháp của nhân dânAngiêri , những trận thắng lớn được quân giải phóng Angiêri đặt tên là nhữngtrận “Điện Biên Phủ” của Angiêri và kiểu đánh tập trung tiêu diệt một bộ phậnlớn sinh lực địch mang tên” kiểu đánh Điện Biên Phủ” Trong các trận tấn công,các chiến sĩ giải phóng thường hô vang: “Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ –Angiêri !” Đó là khẩu hiệu động viên, đồng thời cũng là khẩu hiệu xung phongcủa quân giải phóng Angiêri
Từ đầu năm 1956, nhiều tổ chức quần chúng, đoàn thể ở Việt Nam đãthường xuyên lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Angiêri, đòi thựcdân Pháp chấm dứt chiến tranh và tôn trọng chủ quyền dân tộc của nhân dânAngiêri, yêu cầu giải quyết vấn đề Angiêri bằng con đường thương lượng hòabình Trong số tổ chức đoàn thể nói trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TổngLiên đoàn lao động Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Hội thanh niênViệt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động ủng hộ Angiêri Vào cuối năm 1956, Mặttrận Tổ quốc Việt Nam ra tuyên bố phản đối việc Pháp bắt giam 5 vị lãnh đạoMặt trận giải phóng Angiêri Tổng liên đoàn lao động Việt Nam gửi thư cho ĐạiHội đồng liên hợp quốc lên án chủ nghĩa thực dân Pháp và bày tỏ tình đoàn kết ,ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng ở Angiêri.Vào thời gian này, hàng trăm cuộcmít tinh, nói chuyện về Mặt trận dân tộc giải phóng, về cuộc kháng chiến củanhân dân Angiêri được tổ chức nhiều nơi Chỉ tính riêng trong hai tháng (từngày 16-1 đến đầu tháng 3-1957) trên miền Bắc có tới 700 cuộc mít tinh, cuộcnói chuyện về Angiêri với 220 nghìn ngươì tham gia Hưởng ứng sáng kiến củaLiên hiệp Công đoàn thế giới, ngày 14-3-1957, Ban tổ chức “Tuần lễ đấu tranhủng hộ nhân dân Angiêri” của Việt Nam được thành lập Thay mặt nhân dân laođộng Việt Nam, Ban tổ chức đã mời đồng chí Uagina Iđớit, Thư ký Tổng cônghội Angiêri sang thăm Việt Nam và dự tuần lễ này
Ngày 10-04-1957, tại Hà Nội, 70 ngàn cán bộ, công nhân, nhân dân laođộng đã tham dự cuộc mít tinh khai mạc “Tuần lễ đấu tranh ủng hộ nhân dân
Trang 34Angiêri” Để phục vụ kịp thời và có kết quả, Ban tổ chức đã nhanh chóng ra Lờikêu gọi, đồng thời cho in 1200 tài liệu giới thiệu về đất nước Angiêri, 20 nghìn
áp phíc cổ động và 10 nghìn bản Lời kêu gọi nhân dân Việt Nam hưởng ứng
Tuần lễ ủng hộ Angiêri.
Các báo chí Trung ương và địa phương đăng tải nhiều bài và tin vềAngiêri Ví dụ, báo Tiền phong đã cho ra số đặc biệt về Angiêri với số lượngphát hành tăng gấp 13 lần so với mức bình thường
Từ phong trào này, nhiều hình thức đoàn kết với nhân dân Angiêri đã xuấthiện như lấy chữ ký vào kiến nghị đòi Pháp chấm dứt chiến tranh, chích máuviết khẩu hiệu “Angiêri phải hòa bình” để gửi tặng nhân dân Angiêri, chạy việt
dã tượng trưng “Việt Nam - Angiêri”, tổ chức đi cổ động về Angiêri bằng xeđạp, bán sách báo có nội dung nói về Angiêri, tổ chức biểu diễn văn nghệ lấytiền gây quỹ ủng hộ Angiêri Có cả hình ảnh cảm động như nhân ngày quốc tếđoàn kết nhân dân Angiêri (15-11-1957), chị Mai Thị Sinh, nữ du kích xã PhùVân, huyện Kim Bảng, Hà Nam, người bị cụt hai chân trong một trận chiến đấuchống thực dân Pháp vào năm 1953, đã gửi thư kèm theo ảnh của mình cho cácbạn du kích và Quân giải phóng Angiêri
Như vậy, có thể thấy sự ủng hộ về mặt tinh thần của nhân dân Việt Namdành cho nhân dân Angêri là vô cùng to lớn Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng,
là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao cho cuộc kháng chiến chống thực dân Phápcủa nhân dân Angêri
2.1.2 Sự ủng hộ về mặt vật chất
Tình cảm đoàn kết của nhân dân Việt Nam – Angiêri đã được gắn bó thửthách lâu dài qua qúa trình phát triển, nhân dân Việt Nam luôn dành cho đấtnước Angiêri sự ủng hộ toàn diện và thiết thực Phong trào ủng hộ nhân dânAngiêri không chỉ đóng khung trong phạm vi của sự ủng hộ về mặt nhà nước,hay sự ủng hộ về mặt tinh thần mà sự ủng hộ về mặt vật chất của nhân dân ViệtNam danh cho nhân dân Angiêri cũng rất mạnh mẽ
Trang 35Đầu tháng 12 năm 1957, Ban chấp hành Tổng liên đoàn lao động ViệtNam đã gửi Tổng công hội Angiêri một số tiền là 6.288.440 đồng Việt Nam đểủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Angiêri.
Cùng với tiến trình phát triển của cuộc đấu tranh nhân dân Angiêri, phongtrào đoàn kết và ủng hộ Angiêri ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh Ngày 15-03-1958, Uỷ ban đoàn kết nhân dân Á - Phi của Việt Nam triệu tập một hội nghịcủa các tổ chức đoàn thể để thông qua kế hoạch hưởng ứng ngày toàn Á - Phiđoàn kết với nhân dân Angiêri (30-03-1958) Tại hội nghị này, Uỷ ban đấu tranhcho nền độc lập ở Angiêri của Việt Nam được thành lập Từ đó, nhiều cuộc vậnđộng quyên góp ủng hộ nhân dân Angiêri đã được tổ chức thường xuyên Trongtháng 3 và tháng 4 năm 1960, Uỷ ban đoàn kết nhân dân Á - Phi của Việt Nam
và Uỷ ban đấu tranh cho nền độc lập ở Angiêri của Việt Nam đứng ra tổ chứcmột đợt vận động quyên góp ủng hộ Angiêri Sáng kiến này được đông đảo cáctầng lớp nhân dân lao động hưởng ứng nhiệt liệt Và kết quả là Ban tổ chức đãnhận được một số tiền là 223.234 đồng để gửi sang Angiêri
Đầu năm 1961, nhân dân ta còn gửi giúp những người Angiêri lánh nạn ởTuynidi 200 tấn bột mì Ngày 04/05/1961, tại thủ đô Tuynit, Hội đồng thập tựAngiêri long trọng làm lễ tiếp nhận số hàng giúp đỡ này của Việt Nam
Sự đoàn kết và ủng hộ Angiêri còn được biểu hiện rõ nét ở chỗ Việt Namluôn quan tâm chặt chẽ đến tình hình phát triển của cách mạng Angiêri Tháng 3năm 1958, Hội đồng dân tộc cách mạng Angiêri tuyên bố thành lập nước cộnghòa Angiêri độc lập và cử ra Chính phủ cách mạng lâm thời Nhân dân ViệtNam vui mừng trước bước phát triển mới này của Cách mạng Angiêri Đến khiAngiêri giành được độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam chào đón nồng nhiệtthắng lợi của những người anh em Thay mặt nhân dân Việt Nam, Chủ tịch HồChí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi điện chúc mừng tới nhân dânAngiêri Hàng trăm bức thư, điện mừng của các tổ chức đoàn thể ở Việt Nam đãtới tấp được gửi đến Angiêri nhằm chia sẻ niềm vui chiến thắng
Trong bối cảnh đó, nhân dân ta lại càng đẩy mạnh hơn nữa phong tràođoàn kết ủng hộ Angiêri Vào tháng 9 năm 1962, Uỷ ban đoàn kết nhân dân Á-
Trang 36Phi của Việt Nam và Uỷ ban đấu tranh cho nền độc lập ở Angiêri của Việt Nam
mở hội nghị liên tịch nhằm tổ chức “Tháng ủng hộ nhân dân Angiêri và nhândân các nước đang gian khổ đấu tranh cho nền độc lập dân tộc” Đông đảo nhândân lao động Việt Nam nhiệt liệt hưởng ứng đợt vận động này Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng tham gia phong trào Vì Angiêri với hai bài viết đăng trên báo Nhân
dân Đồng thời, Người còn đóng góp một tháng lương của mình vào quỹ ủng hộnhân dân Angiêri
Trong thời gian này, báo Nhân dân hàng ngày thông báo cụ thể về kết quảquyên góp của nhân dân ta, và sự tổng kết đó lại làm cho phong trào tăng thêm
tính quan trọng, cấp thiết Chính vì vậy mà phong trào Vì Angiêri ở nước ta lúc
này đã đạt tới đỉnh cao chưa từng có, nó phát triển rầm rộ khắp nơi, lôi cuốnđông đảo các tầng lớp dân cư trong xã hội nước ta: nông dân, công nhân, bộ đội,trí thức, học sinh, thương binh và đến cả những người đang là bệnh nhân tại cácbệnh viện
Phong trào này còn mang theo những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.Nếu như trong kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, chúng ta đã từng đượcchứng kiến phong trào “những hũ gạo nuôi quân” thì lúc này trong phong tràoủng hộ Angiêri cũng lại xuất hiện những “ống gạo Angiêri”, “rặng cây Angiêri”,những đợt thu gom sắt, giấy vụn, thủy tinh vỡ để bán lấy tiền ủng hộ Angiêri.Công nhân ở các nhà máy, xí nghiệp tổ chức lao động ngoài giờ để ủng hộAngiêri Ở nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo (Hà Nội), xuất hiện khẩu hiệu
“Chúng ta ủng hộ nhân dân Angiêri như công nhân Angiêri đã ủng hộ chúng ta”
Có đơn vị bộ đội lại đề ra sáng kiến tự túc bữa ăn trong một thời gian để lấy tiềnủng hộ Angiêri Cũng có những kiểu quyên góp rất sáng tạo như 14 nghìn khángiả xem bóng đá tại sân vận Thành phố Nam Định vào ngày 07/10/1962 đã góp
3000 đồng vào quỹ ủng hộ Angiêri
Kết quả, trong “Tháng ủng hộ nhân dân Angiêri và nhân dân các nướcđang gian khổ đấu tranh cho nền độc lập dân tộc”, nhân dân Việt Nam đã quyêngóp được một số tiền là 1.105.206,34 đồng Việt Nam
Trang 37Trong thời kỳ đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền,nhân dân Việt Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quan
hệ ngoại giao giữa Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam ViệtNam cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước châu Phi Chỉ mấyngày sau khi thành lập, ngày 11-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời vàChính phủ Angiêri quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao ở hàng đại sứ
Trong khi nhân dân Angiêri tiến hành cuộc chiến tranh giành độc lậpChính phủ cách mạng lâm thời Angiêri đã hai lần cử các đoàn đại biểu đến thămViệt Nam vào tháng12-1958 và tháng 5-1960 Trước khi đế quốc Mĩ ném bomphá hoại miền Bắc, đoàn đại biểu Tổng liên đoàn lao động Angiêri đã sang thămViệt Nam vào tháng 5-1964 để bày tỏ tình đoàn kết với nhân dân và giai cấpcông nhân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mĩ cứu nước Sau khi hiệpđịnh Pari về Việt Nam được ký kết, nhận lời mời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng,vào đầu tháng 3-1974, Chủ tịch Hội đồng Cách mạng, Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng Angiêri Huria Bumêdiêng đã chính thức sang thăm hữu nghị Việt Nam.Nhân dân Việt Nam đã nồng nhiệt chào đón vị khách quý này, người đã cónhiều đóng góp cho tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với Angiêri
Trong những năm chiến tranh ác liệt, Việt Nam vẫn thường xuyên cử cácđoàn đại biểu sang thăm và Angiêri để thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa hainước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Angiêri đối với cuộc đấutranh giành độc lập của nhân Việt Nam Vào tháng 5-1965, Đoàn đại biểu Mặttrận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do Nguyễn Thị Bình dẫn đầu đãsang thăm nhiều nước châu Phi và Angiêri Trong năm 1965 đoàn đại biểu củaViệt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đại biểu của Mặt trận dân tộc giải phòngmiền Nam Việt Nam đã đến thăm nhiều nước châu Phi và dự Đại hội đoàn kếtnhân dân Á-Phi lần thứ IV Trong năm 1968, các tổ chức, đoàn thể Việt Namnhư Ủy ban đoàn kết Á-Phi của Việt Nam dân chủ cộng hòa, Ủy ban đoàn kếtÁ-Phi của Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cửnhiều đoàn đại biểu thăm hữu nghị Angiêri và các nước châu Phi
Trang 38Sau khi tham dự Hội nghị không liên kết lần thứ IV, vào tháng 9-1973,Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trậndân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủCách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã chính thức thăm hữunghị Angiêri Nhận lời mời của Chủ tịch Angiêri Huria Bumêđiêng, Thủ tướngPhạm Văn Đồng, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đãsang thăm hữu nghị chính thức Angiêri vào thág 5-1974 Chuyến thăm này củaThủ tướng Phạm Văn Đồng đã góp phần thắt chặt tình hữu nghị đoàn kết giữanhân dân hai nước Việt Nam và Angiêri Trong chuyến thăm này, chính phủ hainước đã ký kết Hiệp định về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật Tháng 9 năm
đó, khóa họp lần thứ nhất của Ủy ban hỗn hợp hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuậtViệt Nam-Angiêri đã được tổ chức tại thành phố thủ đô Angiê Vào tháng 6-
1975, Hiệp định về viện trợ và hợp tác kinh tế giữa Chính phủ Cách mạng lâmthời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Angiêri cũng được ký kết tạithủ đô Angiê [5, 188]
Như vậy, mặc dù đất nước còn phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, đấtnước còn nhiều gian truân thử thách, nhưng nhân dân Việt Nam đã bằng nhiềucon đường khác nhau vẫn tích cực ủng hộ về mọi mặt cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc của nhân dân Angêri Cách mạng Việt Nam đã đóng góp một phần đáng
kể vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Angêri
2.2 nhân dân Angêri đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của
nhân dân Việt Nam
2.2.1 Sự ủng hộ về mặt tinh thần
Cùng hoàn cảnh bị chủ nghĩa đế quốc thực dân đô hộ, áp bức bóc lột,người dân thuộc địa dù ở Việt Nam hay ở châu Phi, đã sớm nảy sinh sự đồngcảm sâu sắc cùng cảnh ngộ của người nô lệ Sự đồng cảm đó biểu hiện đầu tiên
ở việc cộng tác chặt chẽ giữa nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc với các nhà yêunước châu Phi nói chung và Angiêri nói riêng trong những năm 20 thế kỷ XX
Từ mối quan hệ đó, Việt Nam đã trở nên gần gũi đối với nhân dân các nước