T tởng của Khổng Tử thể hiện rất rõ trong Luận ngữ mà đặc biệt lànhững quan điểm giáo dục của ông thì nó không chỉ khai sinh ở vùng Hoa Hạmột trào lu mới mà nó còn ảnh hởng rất lớn đến c
Trang 1Mục lục.
A Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tính cấp thiết của đề tài 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề mà đề tài quan tâm 3
4 Mục tiêu, nhiệm vụ, phơng pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài 4
B Nội dung 5
Chơng I: Sơ lợc về tác giả và tác phẩm 5
I Thời đại Xuân Thu và Khổng Tử 5
1 Tình hình kinh tế xã hội thời Xuân Thu 5
2 Tiểu sử Khổng Tử 7
II Tác phẩm Luận ngữ 9
1 Ghi chép và biên soạn Luận ngữ 9
2 Các bản Luận ngữ 10
Chơng II: Những quan điểm cơ bản về giáo dục của Khổng Tử trong Luận ngữ 14
I Một số phạm trù đạo đức trong Luận ngữ 14
1 Nhân – nghĩa 14
2 Lễ – nhạc 18
3 Hiếu - đễ 21
4 Tri – hành 22
5 Ngôn – hành 23
II Một số vấn đề về quan điểm giáo dục của Khổng Tử 25
1 Đối tợng giáo dục 25
2 Nhiệm vụ giáo dục 25
3 Mục đích giáo dục 26
4 Phơng pháp giáo dục .32
Trang 2C Kết luận 38
I Nhìn nhận lại giá trị về quan điểm giáo dục của Khổng Tử .38
II ý nghĩa của quan điểm giáo dục của Khổng Tử đối với công
tác giáo dục hiện nay 43III Đánh giá chung 48Tài liệu tham khảo 51
Trang 3Trớc tình cảnh đó, Khổng Tử muốn vợt qua những định kiến của conngời để thi hành lễ, một quốc gia thi hành đạo lý là điều mà Khổng Tử hằngmong đợi Hơn nữa, Khổng Tử nhận thức đợc sứ mệnh lịch sử nên trong ông
đau đáu một nỗi khổ tâm về nhân sinh Thời thế phồn thịnh thái bình, văn võquy củ là điều Khổng Tử hằng ôm ấp Khổng Tử biết công việc mình làmchẳng hợp thời thế mà vẫn làm Ông đã đi chu du khắp thiên hạ với hi vọng cóthể phát triển hoài bão của mình Những t tởng về nhân sinh của Khổng Tửtrong một chừng mực nhất định gắn liền với chiều sâu của lịch sử, góp phầntạo nên bản sắc cho văn hoá Trung Quốc và phần nào đó cho nhân loại Đặcbiệt những t tởng giáo dục có ý nghĩa rất sâu sắc trong Luận ngữ mà cho đếnngày nay vẫn tiếp tục có giá trị dẫn dắt các quá trình giáo dục ở phơng Đông
T tởng của Khổng Tử thể hiện rất rõ trong Luận ngữ mà đặc biệt lànhững quan điểm giáo dục của ông thì nó không chỉ khai sinh ở vùng Hoa Hạmột trào lu mới mà nó còn ảnh hởng rất lớn đến chiều sâu lịch sử của các triều
đại phong kiến phơng Đông và có những điều dờng nh đã bị dân tộc hoá và trởthành vốn văn hoá của chính bản thân dân tộc đó Chính vì vậy với đề tài nàytôi muốn ra sức tìm hiểu, nhìn nhận lại những giá trị tích cực, tiêu cực và ýnghĩa của nó đối với công tác giáo dục hiện nay
1 Luận ngữ : Nhan Uyên 11.
Trang 42 Tính cấp thiết của đề tài:
Luận ngữ là cả một hệ thống triết thuyết, một hệ t tởng rộng lớn màkhông phải ai cũng có thể thấu hiểu đợc trong một sớm một chiều Luận ngữgiúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về con ngời Khổng Tử , ông có vẻ ôn hoà màtrang nghiêm, oai vệ mà không bạo tợn Khổng Tử luôn khuyên ngời ta coitrọng “giáo” hơn “chính”, đặt giáo hoá lên trên công tác chính trị Khổng Tửkhuyên ngời làm chính trị phải sửa mình để xứng đáng với địa vị, dân tin cậythì quyền hành mới đợc vững và đất nớc mới không sụp đổ Ngời trên cầmquyền cai trị đất nớc, phải luôn giữ mình cho ngay chính, làm việc gì cũngphải giữ cái danh cho chính
Vấn đề giáo dục của Khổng Tử cũng phản ánh rõ kinh nghiệm thựctiễn dạy và học của ông, Khổng Tử không chỉ học cho mình mà ông còn đemkiến thức ra dạy để đào tạo nhân tài Phạm vi của “giáo” là mọi ngời, mọi nhàhữu đạo, thiên hạ hữu đạo Khổng Tử cũng chỉ rõ ông giáo dục con ngời khôngphải để bon chen danh lợi và mu cầu quyền thế, “giáo” truớc tiên là để “ chacho đúng là cha, con cho đúng là con, anh cho đúng là anh, em cho đúng là
em, chồng cho đúng là chồng, vợ cho đúng là vợ” Hơn nữa ông chủ trơng đàotạo ra những con ngời có đủ khả năng và đức độ để vực dậy cái xã hội đangtrên đà tuột dốc
Với tất cả những ý nghĩa nh trên, quan điểm giáo dục của Khổng Tử cógiá trị sất sâu sắc nh triết gia Trung Quốc cận đại Phùng Hữu Lan nhận xét:
“Khổng Tử là ngời đã hoàn thành “ đại giải phóng” trong lịch sử Trung Quốc
từ trớc đến nay cha hề có; là ngời đầu tiên mở trờng t dạy hơn 3000 đệ tử tronglúc khó khăn, dùng những điển tích nh Th, Thi, Lễ, Dịch,Nhạc, Xuân Thu dạycho những ngời bình thờng, làm cho “ lục nghệ mang tính quần chúng” ( Đàm
đạo với Khổng Tử – NXB VH )
Vì vậy việc tìm hiểu đề tài “Quan điểm giáo dục của Khổng Tử trongLuận ngữ - ý nghĩa của nó đối với công tác giáo dục hiện nay” tôi muốn gópphần nhỏ bé của mình đáp ứng đòi hỏi việc nâng cao chất lợng giảng dạy vàhọc tập hiện nay
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề mà đề tài quan tâm:
Trang 5Cho đến nay đã có nhiều công trình ngiên cứu về Khổng Tử cũng nhquan điểm của Khổng Tử dới góc độ của giáo dục Luận ngữ là một bộ sách cónội dung khá rộng, lại có nhiều học giả đã đánh giá dới nhiều góc độ khác.( Hồ Văn Phi - Đàm đạo với Khổng Tử, Nguyễn Hiến Lê - Luận ngữ ), vì vậytrong quá trình thực hiện đề tài luận văn bên cạnh những thuận lợi cơ bản còn
có những hạn chế về t liệu, t tởng chỉ đạo…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và nhng cũng không làm giảm nhiệttình của tôi trong quá trình ngiên cứu đề tài
Tôi đã cố gắng hết sức nhng chắc chắn luận văn này không tránh khỏinhững sai sót và hạn chế đáng tiếc Tôi mong muốn những suy nghĩ của mình
sẽ góp phần làm sáng tỏ đề tài “ Tìm hiểu quan điểm giáo dục của Khổng Tửtrong Luận ngữ ý nghĩa của nó đối với công tác giáo dục hiện nay” Tôi rấtmong nhận đợc ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn
4 Mục tiêu, nhiệm vụ, phơng pháp nghiên cứu và kết cấu của
Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:
4.2.1 Làm rõ một số phạm trù đạo đức trong Luận ngữ
4.2.2 Chỉ ra đợc quan điểm và phơng pháp dạy học cũng nh nguyêntắc và phơng châm học tập
4.2.3 Nhìn nhận lại giá trị của những quan điểm trên ý nghĩa của nó
đối với công tác giáo dục hiện nay
4.3 Phơng pháp nghiên cứu:
Trang 6*************************************************************** Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phơng phápphân tích, tổng hợp, thu thập để hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đã đặt ra.
Trang 8B Nội dung:
Chơng I: Sơ lợc về tác giả và tác phẩm:
I Thời đại Xuân Thu và Khổng Tử:
1 Tình hình kinh tế – xã hội thời Xuân Thu:
Nhà Chu trị vì vùng Hoa Hạ, đợc xem là trị vì cả thiên hạ và chia ra hàng 100 nớc để phong cho những công thần và con cháu làm ch hầu Những nớc ch hầu này đều đợc tự chủ nhng hàng năm phải triều cống thiên tử, mỗi khi có sự chinh phạt ở đâu thì phải tuân theo mệnh lệnh thiên tử xuất quân tòng chinh Trung Quốc thời đó nằm quây quần trong vùng sông Hoàng Hà, vào độ chừng 5 – 6 tỉnh ở phía Bắc Trung Quốc ngày nay Khi nhà Chu còn thịnh thì trật tự đợc phân minh, nhng từ khi nhà Chu suy thì mệnh lệnh thiên tửkhông ai theo Chiến tranh liên miên, nhân dân loạn lạc Những ch hầu có thế mạnh đều ngoi lên để tranh chấp quyền thế và đất đai Lúc này quyền thế và bổng lộc của ch hầu không phải do vua ban mà thờng do chiếm đoạt của nhân dân là chính Giới ch hầu ngày càng coi thờng mệnh lệnh vua Chu, gây sự
đánh nhau, thi nhau xuất quân chinh phạt Điều đó có thể kết luận xã hội vùng Hoa Hạ thời Ân - Chu vô cùng loạn lạc Thời điểm giao thời Ân – Chu và cuối Chu là một giai đoạn khốc liệt của lịch sử Nhà Ân khởi phát đợc không lâu thì bị nhà Chu diệt, dẫn đến chỗ loạn sứ quân Xét về hình thức thì xem chừng xã hội vùng Hoa Hạ thống nhất song tình trạng cát cứ kéo dài âm ỉ khiến xã hội hỗn loạn Và cuối đời Chu thì xã hội bắt đầu chuyển sang kết hợpgiữa mô hình CSNT và CHNL Vì thế ngời ta cho rằng xã hội Hoa Hạ lúc này
là một dạng phơng thức sản xuất Châu á mà ngời ta gọi là nền văn minh nông nghiệp lúa nớc
Đến cuối thời Xuân Thu ngời Trung Quốc đã biết dùng đồ sắt Họ đãbiết bỏ phân, làm hai mùa, đào kênh dẫn nớc, tháo nớc Phơng pháp canh táctiến bộ, một số địa chủ mới giàu lên và tầng lớp thơng nhân xuất hiện Tầnglớp này có tiền d dật rồi có nhu cầu học và Khổng Tử là ngời đầu tiên mở trờng
Trang 9***************************************************************học t Thời Xuân Thu có một số ít ngời chiếm đợc địa vị cao nh: Bách Lí Hề,Quản Trọng, Ninh Thích,…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và hoặc khá cao nh các môn sinh của Khổng Tử : TửCống, Tử Lộ, Nhiễm Cầu…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và
Ngoài những thể chế, lễ nghi, tế tự…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và thời Chu đã cải thiện chữ viết,dùng thẻ tre tiện hơn mai rùa và xơng thú vật để ghi những điều muốn nhớ,vừa dễ khắc, vừa dễ sắp đặt, sau đó họ biết dùng cây nhọn nhúng vào sơn đểviết lên thẻ tre hoặc lụa, mau hơn khắc nhiều Nhờ vậy, nhà Chu và ch hầu nàocũng có quan chép sử của triều đình
Trong gần 370 năm thời Xuân Thu, ch hầu trở thành những lãnh chúa,những “sứ quân” trong đó có những kẻ nổi lên thành bá Cuối thời chiến quốcchỉ còn lại bảy nớc: Tần, Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên, Sở và Tề Cuối cùng TầnDoanh Chính đánh bại cả sáu nớc kia, thống nhất đất nớc, lập thành nớc Tầnrộng lớn Triều đại nhà Chu đến đây là kết thúc
Trong thời Xuân Thu loạn lạc nh thế, đạo làm Vua thì mờ tối, con ngờiham mê danh lợi, ít ai còn nghĩ đến nhân nghĩa nữa Xã hội biến loạn, nhândân khổ sở, kỷ cơng mục nát Cho nên, Khổng Tử đã đem học thuyết của mình
ra để lập lại trật tự xã hội
2 Tiểu sử Khổng Tử:
Khổng Tử ( 551 – 479 TCN ), tự là Trọng Ni, ngời ấp Trâu, làng
X-ơng Bình, nớc Lỗ ( nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc ) Ông
tổ ba đời là Khổng Phòng Thúc, nguyên là ngời nớc Tống, dòng dõi quý tộc bị
sa sút, sau dời sang nớc Lỗ Cha Khổng Tử là Thúc Lơng Ngột làm chức quan
võ tại ấp Trâu, trớc lấy vợ họ Thi sinh đợc 9 ngời con gái, sau lấy vợ lẽ, sinh
đ-ợc môt ngời con trai tên là Mạnh Bì Ngoài 60 tuổi ông mới lấy Nhan thị( Nhan Trung Tại ) và sinh ra Khổng Tử Ônh chết năm Khổng Tử lên 3 tuổi
Năm 15 tuổi, Khổng Tử đã dốc lòng vào việc học Năm 17 tuổi, ông
đ-ợc đại phu nớc Lỗ là Mạnh Ly Tử rất quý trọng, khen là ngời hiếu lễ và thông
đạt Cho nên sau khi Mạnh Ly Tử mất thì con của Mạnh Ly Tử là ý Tử và concủa một ông quan đại phu nớc Lỗ Trọng Tôn Cồ là Nam Cung Quát đã theohọc lễ Khổng Tử Năm 19 tuổi Khổng Tử thành gia thất, sinh đợc ngời con trai
đặt tên là Lý ( Bá Ng ), Khi đó ông làm chức uỷ lại coi việc đong lờng thóc ở
Trang 10***************************************************************kho, rồi làm chức lại trông nom việc chăn nuôi dê Không bao lâu, Khổng Tửrời nớc Lỗ đi chu du 3 nớc Tề, Tống, Vệ Nhng không ở đâu đợc hoan nghênh,
ông lại trở về nớc Lỗ Vào năm 525 TCN, Khổng Tử sang Lạc ấp, kinh đô nhàChu, hỏi lễ Lão Tử và hỏi nhạc Tràng Hoành Năm 516 TCN, nớc Lỗ có loạn,Khổng Tử sang Tề Vua Tề Cảnh Công muốn trọng dụng ngài, định cấp choruộng đất tại Ni Khê nhng bị quan đại phu là án Anh ngăn trở Năm sau,Khổng Tử trở về nớc Lỗ Lúc này quan đại phu Quý Bình Tử đã chết Con làQuý Hoàn Tử nối nghiệp, chuyên quyền làm nhiều điều trái đạo, Khổng Tửkhông chịu ra làm quan mà ở nhà dạy học Học trò đến theo học ông ngày một
đông Năm 500 TCN, Vua Lỗ Định Công phong cho Khổng Tử làm quan tể tạiTrung Đô ( nay là huyện Vân Thợng, tỉnh Sơn Đông ) Năm đó ông đã 51 tuổi.Một năm sau, ông đợc thăng làm quan T không rồi lại thăng làm quan Đại tikhấu, coi việc hình pháp Với chức Đại ti khấu, quyền tể tớng, Khổng Tử hạlệnh giết đại phu Thiếu Chính Mão là ngời đi đầu của pháp gia vì tội nguỵ biệngây rối Sau 3 tháng cầm quyền, nớc Lỗ thịnh trị, hình pháp không phải dùng,trai gái không dâm loạn, ngời đi ngoài đờng thấy của rơi không nhặt Sợ nớc
Lỗ hùng cờng, vua Tề dùng kế ly gián, sai đem 80 gái đẹp, giỏi múa hát sangdâng cho vua Lỗ Vua Lỗ nghe lời đại phu Quý Tôn Tử, mê tửu sắc, ham đànhát, trễ nải việc triều đình Khổng Tử thấy vậy bèn từ chức, rời nớc Lỗ chu duthiên hạ ( năm 496 TCN )
Đầu tiên, ông qua nớc Vệ Không bao lâu ông qua nớc Trần Khi qua
đất Khuông thuộc nớc Vệ, ông bị ngời Khuông vây hãm vì tởng lầm ông là
D-ơng Hổ, một kẻ tàn bạo ngợc đãi ngời Khuông Từ Khuông, ông đi qua đất Bồ,sau đó trở về Vệ Sau nữa Khổng Tử lại sang nớc Tống, bị quan t mã HoànKhôi mu sát, ông bèn đi Trịnh Rồi đến Trần, ba năm sau về Vệ Vua Vệ LinhCông không dùng, ông lại về Trần, sang Sái, rồi lại trở về Vệ
Năm 484 TCN khi đã 68 tuổi, Khổng Tử trở về quê hơng mình là nớc
Lỗ Sau 13 năm trời chu du, truyền bá học thuyết của mình không đợc vua cácnớc ch hầu trọng dụng, Khổng Tử chuyển qua mở trờng dạy học, san định Thi,
Th, hiệu đính Lễ, Nhạc, giải thích Kinh Dịch, trớc tác Xuân Thu Ông mất vàotháng 4 năm thứ 16 đời Lỗ Ai Công, tức năm 479 TCN, thọ 72 tuổi
II Tác phẩm Luận ngữ :
Trang 111 Ghi chép và biên soạn Luận ngữ :
Luận ngữ là bộ sách ngôn hành, ghi chép lại những lời ứng đáp giữaKhổng Tử với các học trò hoặc ngời đơng thời Sau mỗi lần ứng đáp, học trò
đều ghi nhớ, đến khi Khổng Tử qua đời các học trò cùng với những ngời sutầm biên soạn lại
Việc ghi chép Luận ngữ ban đầu là xuất phát từ các học trò của Khổng
Tử Chúng ta nhớ rằng sự bất tiện của công cụ viết sách đơng thời, không biết
có bao nhiêu cuộc nói chuyện không có ngời đơng thời ghi chép? Điều này đãgây ra nhiều tranh cãi và rất khó xác định Trong sách “Kinh điển Thích Văn”dẫn ý cho rằng “Luận ngữ là do Trọng Ni , Tử Hạ…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và tuyển chọn” Hình BínhChú sơ đời Tống thì cho rằng: “Trọng Ni nói đến hai chữ Tử Du và Tử Hạ”2.Nhng e rằng lời nói của Trịnh Huyền và Hình Bính chỉ dựa vào sự phỏng đoán.Nếu Luận ngữ có 3 ngời biên soạn thì không sao đủ đợc Luận ngữ có thuậtlại: “ Ông Hiến hỏi thế nào là xấu hổ?” Khổng Tử đáp: “Bang hữu đạo, cốc,bang vô đạo, cốc, sĩ giã”3 – ( Lúc nớc nhà yên ổn thì làm quan ăn lơng, rồi
đến lúc nớc nhà loạn lạc cũng làm quan mà ăn lơng – nh vậy là xấu hổ )Hoàng Khảm trong “Luận ngữ nghĩa” cho rằng: “Luận ngữ là do 70 học tròsau khi Khổng Tử qua đời cùng ghi chép và biên soạn” Nhận định này dễchấp nhận hơn
Sách Luận ngữ mà ngày nay chúng ta dùng có 20 thiên Các đề mụccủa mỗi thiên đợc tóm gọn trong 2 hoặc 3 chữ Có hai cách hiểu về đề mục củamỗi thiên Thứ nhất là có thể do ngời dạy Luận ngữ và ngời học Luận ngữ đặttên gọi bằng cách dùng 2 hoặc 3 chữ đầu của mỗi thiên làm tiêu biểu Thứ hai
là có thể do ngời viết sách đặt tên gọi để làm đề mục cho mỗi thiên Cả 20thiên của Luận ngữ đều có ý nghĩa
Luận ngữ đợc ghi chép đơn giản, rõ ràng và có ảnh hởng rất lớn đến t ởng của Nho gia Luận ngữ là cuốn sách tốt nhất đầu tiên của Trung Quốcngôn ngữ trong các câu văn, đoạn văn ngắn gọn nhng lại tinh tế và hàm súc.Luận ngữ có thể không hấp dẫn chúng ta ở lần đọc đầu tiên, muốn đọc và hiểuLuận ngữ cần phải có thời gian suy nghĩ về những câu nói thâm thuý, sâu sắc
t-đó
2 Luận ngữ: Tiên Tấn 2.
3 Luận ngữ: Hiến Vấn 2
Trang 122 Các bản Luận ngữ :
Đời nhà Hán lúc bấy giờ có 3 bộ sách Luận ngữ đợc lu hành HoàngKhảm trong “ Luận ngữ nghĩa” sơ dẫn theo biệt lục của Lu Hớng đời nhà Hánnói rằng: ngời nớc Lỗ giỏi việc học, vì vậy có “ Lỗ luận” Ngời nớc Tề giỏi vệchọc, vì vậy có “ Tề luận” Bức tờng họ Khổng thu nhập đợc sách vở, vì vậy có
An xơng hầu Trơng Vũ” bản thì chịu ảnh hởng của “ Lỗ Luận”, lại giảng “ TềThuyết” nên đặt tên là “ Trơng Hầu luận” “Bao hàm”, “ Chu Thị”, có chơng,
có câu riêng “ Cổ Luận” có lời giảng của Khổng An Quốc, về sau lại có lờigiáo huấn của Mã Dung Cuối đời Hán, Trịnh Huyền lại lấy “ Lỗ Luận” làmthành chơng khảo cứu “ Tề Luận”, “ Cổ Luận” và chú thích kỹ Riêng “NgoạiVơng Túc”, “Chu Sinh Liệt” đều làm nghĩa thuyết Hà Anh đời Nguỵ tập hợpcác sách trên lại Nội dung của 3 bộ sách Luận ngữ này rất rộng, đề cập đếncác mặt đạo đức, chính trị, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật, mỹ học…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và đó lànhững bản Luận ngữ đợc lu hành đến ngày nay
Luận ngữ đã trải qua một thời gian dài với sự lu truyền của lịch sử
nh-ng có nhữnh-ng t tởnh-ng đến bây giờ vẫn còn giá trị Con nh-ngời thời nào cũnh-ng có thểlấy những điều giáo huấn trong Luận ngữ làm cơ sở trong việc khôi phục lạitrật tự xã hội, trong học vấn và việc rèn luyện kỹ năng làm ngời của mình Vìthể, mỗi khi đối diện với Luận ngữ chúng ta luôn có tình cảm tôn kính Khổng
Tử luôn cho rằng: sống vì nhân loại thì sẽ đợc tiếp xúc với con ngời, vì con
ng-ời mà cố gắng Đây là trách nhiệm cá nhân không thể trốn tránh đợc
Luận ngữ bao gồm 20 thiên, nhng ngoài thiên X ( Hơng Đảng ) chép
về lối sống, cách c xử hàng ngày của Khổng Tử ở triều đình, làng xóm và ởnhà là tơng đối nhất trí còn 19 thiên kia không thiên về một chủ đề nào cả( về con ngời, lễ, hiếu, về việc học, hành vi của Khổng Tử , tâm sự của ông, ýchí của môn sinh…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và.) Có nhiều thiên lại xen dăm ba bài về ngôn hành của
Trang 13***************************************************************môn sinh nữa Vì vậy mà ngời xa đã phải lấy vài chữ đầu ở mỗi thiên làmnhan đề cho thiên nh Học Nhi, Ung Dã, Tử Hãn…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và
Tuy không có sự đồng nhất về các thiên nhng về nội dung cơ bản của các bảnLuận ngữ đề cập đến những vấn đề sau:
*/ Quan điểm về thiên mệnh ( đạo đức )
*/ Quan điểm về luân lý đạo đức và nhận thức ( Nhân – Lễ – Hiếu– Dũng – Tín – Tu thân – Nhạc – Trí – Việc học )
*/ Quan điểm về chính trị xã hội, học thuyết chính danh ( Quân tử –Tiểu nhân )
Luận ngữ vói những câu nói đơn giản, đạo lý bình thờng, rất thích hợpvới mức độ hiểu biết và nhận thức của con ngời Trong đó, Luận ngữ đặc biệt
đề cao vấn đề giáo dục nhân cách con ngời, bởi vì những ngời có nhân cách tốt
sẽ góp phần đa đất nớc ngày càng đi lên vững vàng
Trang 14Chơng II: những quan điểm cơ bản về giáo dục của Khổng Tử trong Luận ngữ:
I Một số phạm trù đạo đức trong Luận ngữ :
Trung Quốc là quốc gia có nền triết học phát triển sớm nhất ở phơng
Đông Trải qua những thời kỳ đầy biến động của lịch sử có những quan điểmvẫn đợc các tập đoàn phong kiến kế thừa Nói đến vấn đề đạo đức thì khôngthể không nhắc đến Khổng Tử Ông đã đề ra các giáo lý, các giá trị tinh thầnbằng các phạm trù đạo đức : nhân nghĩa, lễ nhạc, hiếu đễ, ngôn hành, trihành…luôn diễn ra Mối quan hệ giữa Vua chúa và Những phạm trù này đợc Khổng Tử quy định chặt chẽ và cụ thể Đó làcốt lõi của t tởng triết học đạo đức Nho giáo, chúng chi phối mọi suy nghĩ vàhành động của con ngời
1 Nhân nghĩa:
*/ Nhân:
Khổng Tử xem nhân là gốc của đạo làm ngời, là nền tảng của lâu đài
đạo đức Đối với Khổng Tử, nhân với thánh gần nh một, đã thánh là nhân, đãnhân là thánh Trở nên thánh là khó bao nhiêu thì thực sự là nhân cũng khóbấy nhiêu
Nhân vừa là tu thân vừa là ái nhân, trong Luận ngữ ta thấy Khổng Tử
và các học trò của ông xem chữ nhân nh là một tiêu chuẩn cao nhất trong đaọ
lý làm ngời Con ngời làm điều gì cũng phải dựa vào nhân mà thi hành Nhân
đợc hiểu là yêu ngời, yêu mình, ngời đạt đến đạo Nhân là ngời có đạo đức tốt.Phơng pháp thực hành điều nhân đợc khái quát thành hai chữ: “ trung thứ”.Nhân là trung, thứ là tức, là đạo đối với ngời nhng cũng là đạo đối với mình,cái gì mình không muốn thì đừng bắt ngời khác phải làm Con ngời sống vớinhau phải giữ lấy đạo Nhân: “Kỹ sở bất dục, vật thi nhân”4 – (điều mìnhkhông muốn thì đừng đem đối xử với ngời khác) hoặc “xảo ngôn, lệnh sắc,tiễn hĩ nhân”5 – ( những kẻ lời nói khéo léo mặt mày trau chuốt rất ít điều
4 Luận ngũ: Vệ Linh Công 23.
5 Luận ngữ: Học Nhi 3.
Trang 15***************************************************************nhân) Theo Khổng Tử một ngời có đức nhân là ngời phải có 5 đức tính tốt
đẹp: khiêm cung, khoan hậu, chân thành, nhạy bén và ban ơn Khiêm nhờng,cung kính thì không bị lừa dối; khoan hậu thì đợc lòng trăm họ; chân thành thì
dễ đợc dùng; nhạy bén thì dễ thành công; ban ơn là chế ngự đợc ngời khác
Khổng Tử lại nói: “Quân tử dốc thân, tắc dân hng nhân”6, ( bậc quân
tử ở ngôi trên nếu giữ trọn bề đối với cha mẹ, bà con thì ở dới dân chúng sẽcảm động mà phát khởi lòng nhân ái ) Một mặt Khổng Tử nói “dân hng nhân” nhng mặt khác ông cảm thấy điều nhân mà ông đề xớng nhân dânkhông hứng thú và không làm đợc nên ông lại than thở “quân tử nhi bất nhândã, hữu hĩ phù”7 – ( quân tử mà bất nhân là đã có rồi chăng còn tiểu nhân màlại nhân thì cha từng có đâu ) - điều này rõ ràng phản ánh tính giai cấp củaKhổng Tử
Khổng Tử đề xuất khẩu hiệu “ái nhân“ – yêu ngời vì có nhân mới có
ái, có ái mới có lòng thơng yêu ngời , thơng yêu vạn vật Lòng nhân xuất phát
ở chỗ tự mình tự giác, không gợng ép, bởi có nhân nên con ngời sống hợp quầnvới nhau, coi nhau nh anh em một nhà, xem mọi vật trong vũ trụ là nhất thể
Nh vậy, đức nhân bao gồm tinh tuý của tất cả các đức khác Gắn với
đạo chung, đức nhân thể hiện trong mọi mối quan hệ giữa ngời với ngời Trongbất kỳ mối quan hệ nào, nếu có tình trạng sai hỏng về đức riêng thuộc mốiquan hệ ấy thì đồng thời cũng là một trạng thái với đức nhân Chẳng hạn, bạnhữu không có đức tín với nhau là trái đức nhân, không cung kính với bề trên,không trung thực với ngời khác, không cơng trực cũng là điều trái với đứcnhân Trong lâu đài đạo đức, quan hệ đầu tiên của con ngời là quan hệ với cha
mẹ, anh em ruột thịt Vì thế đức nhân biểu hiện đối với cha anh là đức hiếu,
đức đễ, là gốc của đức nhân Vì vậy, bất hiếu, bất đễ là những sự vi phạm đứcnhân nặng nề nhất Do những ý nghĩa nh trên, ngời ta thờng nói “ đức nhân tức
là đức ngời đấy”8
Trong khi chúng ta nhận thấy đức nhân là đỉnh cao của cái tháp đạo
đức Nho gia, thì mặt khác chúng ta cũng cần nhận thấy rằng đức nhân của Nhogia là gần với con ngời, gần với bản chất tự nhiên của con ngời Theo ý nghĩa
6 luận ngữ: Thái Bá 3.
7 luận ngữ: Hiến vấn 7
8 Trung Dung.
Trang 16nh vậy, Khổng Tử nói rằng: “Nhân có xa xôi gì đâu, ta muốn nhân thế là nhântới”9 – ( theo ông nhân tồn tại trong lòng mỗi con ngời, chỉ cần nghĩ đến nóthì nó sẽ xích lại ), còn trong lòng không nghĩ đến nhân, thì gần nhân phỏng cóích gì
*Nghĩa:
Theo Khổng Tử là thấy việc gì đúng thì làm không hề mu tính việc lợicho mình và cũng không cần biết hậu quả Nói và làm việc gì mà thấy thảnhthơi, thoải mái, hứng thú trong lơng tâm thì điều nói và việc làm đó là việcnghĩa, không nói điều ấy, không làm việc ấy thì bứt rứt trong lơng tâm, nh thế
có điều nghĩa không nói, có việc nghĩa không làm Nghĩa là sự thể hiện điềunên nói, việc nên làm, là sự tự vấn lơng tâm của chính bản thân mình “ kiếnnghĩa bất vi, vô dũng giã”10 – ( thấy nghĩa mà không làm, không phải là dũngcảm ) Khổng Tử nhấn mạnh vai trò của chữ nghĩa, ông đặt hết tâm ý của mình
để giáo huấn con ngời làm việc nghĩa Khi Tử Lộ hỏi “Ngời quân tử có trọngdũng không?” Khổng Tử đáp: “Ngời quân tử trọng nghĩa hơn hết Ngời quân
tử chỉ dũng cảm mà không hợp nghĩa lý thì làm loạn: kẻ tiểu nhân dũng cảm
mà không hợp nghĩa lý thì làm trộm cớp”11 Vì vậy muốn có điều nghĩa thì cánhân phải luôn trau dồi đức hạnh, phải học hỏi cho tinh thông đạo lý để đừnglàm việc gì trái với lơng tâm của mình Khổng Tử cho rằng: nếu nh tình chacon, Vua tôi, vợ chồng cha đủ mà cần sống có trách nhiệm và nghĩa vụ vớinhau nữa, đó là nghĩa Vua tôi, nghĩa cha con, nghĩa vợ chồng Con ngời sốngcần phải có quyết tâm để thực hiện điều nghĩa: “Quân tử chi thiên hạ giã, vôthích giã, vô mịch giã, nghĩa chi dữ tỷ”12 – ( bậc quân tử làm việc cho đời,không việc gì là không cố ý làm ) Khổng Tử muốn khuyên ngời quân tử làmviệc chính trị không nên thi hành những chính sách độc đoán, khi thích thìlàm, khi không thích thì bỏ Làm ngời biết nghĩa phải theo công lý mà thựchiện
Vậy mọi đức khác của con ngời đều do nhân nghĩa sinh ra, cũng nhmuôn vật trên trời dới đất đều do Âm dơng, Nhu cơng mà ra
9 Luận ngữ: Thuật Nhi 29
10 Luận ngữ: Vi Chính 24.
11 Luận ngữ: Dơng Hoá 22
12 Luận ngữ: Lý Nhân 10
Trang 172 Lễ-Nhạc:
*Lễ:
Để đạt đợc đức nhân, Khổng tử chủ trơng dùng Lễ nhà Chu để duy trì
đẳng cấp trên dới, tôn ti “Một ngày biết nén mình theo lễ thì thiên hạ quy vềnhân vậy”13 Khái quát quan điểm lễ của những ngời sáng lập Nho gia ta thấy
có hai mặt gắn bó với nhau: Một là, về tổ chức xã hội cuộc sống, Lễ thể hiện
ra ở nghi lễ, quy chế, kỷ cơng, trật tự tôn thì Về sau, mặt này ngời ta kết luận
đó là lễ giáo phong kiến Hai là đạo đức, khía cạnh đạo đức của Lễ đợc thểhiện ở thái độ, ở ý thức, ở nếp sống giữ dìn, tôn trọng lễ nghi, kỷ cơng và trật
tự ấy Ai làm trái với những điều quy định trên là không có đạo đức TheoKhổng Tử, Lễ quan hệ với nhân rất mật thiết Nhân là chất, là nội dung, Lễ làhình thức biểu hiện của Nhân “Nhân là cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên đó ng -
ời ta mới vẽ nên những bức tranh đẹp”14 Khổng Tử khuyên ngời ta “chớ xem
điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ”15
Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử lớn nhỏ mà Khổng Tử đòi hỏi conngời phải tuân theo Trên cơ sở tâm lý học, Khổng Tử đề ra những biện phápgiáo dục chữ Lễ có hiệu quả, ràng buộc con ngời lại với nhau Khổng Tử thờnglấy ngôn ngữ và hành động để biểu đạt ý nghĩa coi trọng lễ của mình Ôngdùng lễ để cốt tạo thành một thứ không khí lễ nghĩa, khiến ngời ta theo đó đểlàm điều phải , điều lành mà tự nhiên vẫn không biết Khổng Tử khuyên conngời nên dùng lễ để điều chỉnh hành vi của mình có chừng mực, để lúc nàocũng hợp với đạo trung Ông nói: “Cung nhi vô lễ, tắc lao, thận nhi vô lễ, tắc
tỹ, dũng nhi vô lễ, tắc loạn, trực nhi vô lễ, tắc giảo”16 – ( cung kính quá lễthành ra lao nhọc thân hình, cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan, dũng cảm quá
lễ thành ra loạn nghịch, ngay thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách)
Trong đới sống, lễ tiết là quy củ của con ngời, cho nên sống cần phảicẩn thận, đừng nên khiếm khuyết cũng nh thái quá, nếu không sẽ dẫn đếnnhững tật xấu, Khổng Tử nói, ngời có dũng trớc hết phải có lễ và ông nhấnmạnh: “ố dũng nhi vô lễ giả”17 – ( ghét kẻ có sức dũng cảm mà chẳng biết lễ
13 Luận ngữ: Nhan Uyên
Trang 18***************************************************************phép ) Khổng Tử cho rằng: Nghi thức lễ nếu xa xỉ quá không bằng tiết kiệmcòn hơn Tang lễ nếu nh chú trọng nghi thức không bằng nội tâm thật sự thơngxót Do đó, Khổng Tử rất ca thán lễ nhạc Theo ông ngời quân tử phải nhấtthiết phải từ chối mọi điều trái lễ: “phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vậtngôn, phi lễ vật động”18 – ( sắc chi chẳng hợp lẽ thì mình đừng ngó, tiếng chichẳng hợp lễ thì đừng nghe, lời chi chẳng hợp lễ thì đừng nói, việc chi chẳnghợp lễ thì đừng làm) Khổng Tử là ngời dung hoà nên không để cho trái lễ baogiờ.
Sự giáo dục của lễ tinh vi và có hiệu quả, nó ngăn cấm đợc điều bậy bạlúc cha xảy ra, tránh xa điều tội lỗi Ngời giàu sang biết lễ thì không dâm tàngời bần tiện biết lễ thì không làm bậy Luận ngữ đã huy động d luận của toànxã hội trong việc biết quý trọng con ngời có lễ và khinh gét ngời vô lễ Mức độsâu sắc của lễ còn ở chỗ lễ đi vào lơng tâm con ngời Vi phạm điều lễ trở thành
điều đau khổ, đáng sỉ nhục, thậm chí thà chết chứ không bỏ lễ
*/ Nhạc:
Khổng Tử cho rằng dùng nhạc cũng nh dùng lễ, phải biết giữ lấy đạotrung Nhạc để khiến ngời ta đồng vui, đồng thơng Nhng vui hay không vẫnlấy sự điều hoà làm chủ Khổng Tử khuyên con ngời : “lạc nhi bất dâm, ai nhibất thơng”19 – ( khoái lạc mà không dâm dật, ai cảm mà không bi thơng).Khổng Tử dùng nhạc để điều hoà tính tình, dù vui thế nào vẫn không đánhmất cái kính, buồn thế nào cũng không đánh mất cái hoà Phải luôn luôn giữmình cho thích hợp với đạo trung
Lễ và nhạc có cái chủ đích là sửa đổi tính tình cho ngay chính, bồi õng tình cảm cho thật hậu Song lễ và nhạc mỗi thứ có tác dụng riêng Lễ cốt ở
d-sự cung kính, giữ trật tự cho phân minh Nhạc cốt ở điều hoà, hoà hợp các giaicấp, ngời sang kẻ hèn, ngời lớn kẻ nhỏ chỉ dùng lễ thôi thì quá cách biệt màdân không đoàn kết, không vui Tuy nhiên, lễ và nhạc chủ yếu ở tinh thần củamình chứ không phải hình thức, mà ông nhận thấy ngời cầm quyền cai trịkhông hiểu điều đó nên ông phàn nàn “lễ vân, lễ vân, ngọc bạch vân hồ tai?Nhạc vân, nhạc vân, chung, cổ vân hồ tai”20 – ( ngời ta bàn về lễ, ngời ta luận
18 Luận ngữ: Nhan Uyên 1
19 Luận ngữ: Bát Dật 20
20 Luận ngữ: Dơng Hoá 11
Trang 19về lễ đó là họ kể số ngọc quý và lụa tốt chứ gì? Ngời ta khen nhạc, ngời ta gợinhạc đó là họ nói chuông trống rình rang chứ gì?) - Nghĩa là ngọc lụa là đồ lễ,nhng có lễ mà không có kính thì lễ ra gì Lời nói ấy thật là chứng tỏ cái tôngchỉ của Khổng Tử về lễ nhạc Từ đó, Khổng Tử cho ta thấy ý nghĩa rất cao của
lễ nhạc trong vấn đề tu dỡng đạo đức Bởi vì ngời đời thờng hay lấy ngọn làmgốc, kể phần phụ thuộc mà bỏ phần chính đáng, nh trong việc lễ họ quên phầnkính, trong việc nhạc họ bỏ phần hoà Vậy ta chứ nên chuộng hình thể mà bỏtinh thần
3 Hiếu - Đễ:
*/ Hiếu:
Hiếu là hiếu thảo với cha mẹ Đễ là tôn kính anh chị và ngời lớn tuổi.Hiếu đễ là cái gốc của đạo đức con ngời , cho nên có hiếu và để thì các đức tốtkhác cũng có đợc, không chỉ có trong gia đình mà còn cả ngoài xã hội Hiếuthảo là tinh thể văn minh tinh thần của ngời Trung Quốc, là gốc của mọi đứchạnh Ngời xa nói: “Lấy hiếu thảo để cai trị thiên hạ” Hiếu là đức tính caonhất mà vua, kẻ sĩ và ngời dân đều phải đề cao và thi hành
Cứ lẽ thờng thì cha mẹ và anh em là những ngời thân thiết, tất nhiên là
ta phải kính yêu rồi, rồi đối với ngời ngoài phải có lòng từ ái, nếu ở với cha mẹ
mà không hiếu thảo, ở với anh em mà không kính thuận có nghĩa là tình cảmcủa ta rất bạc, sẽ không thành ngời nhân đợc Ngời có hiếu trớc hết phải nuôicha mẹ, nuôi thì phải kính, không kính thì không thể gọi là hiếu Ta nuôi cha
mẹ thì cốt ở sự thành kính, dẫu phải ăn gạo xấu, uống nớc lã mà làm cho cha
mẹ vui vẻ, đó gọi là hiếu
Trong đạo hiếu có hai điều nên chú ý là vô vi và vô cải Vô vi là đề cập
đến cảnh thờng, thờ cha mẹ không trái lễ Vô cải là đề cập đến cảnh biến, thìkhông thay đổi đợc đạo của cha mẹ Hai điều ấy chủ ý là phục tùng, song phụctùng theo đạo chứ không phục tùng một cách thụ động mà không biết phânbiệt phải trái Khổng Tử chủ yếu lấy điều thuận làm chính trong khi thực hiện
đạo hiếu Vì vậy “chớ nên trái ngợc” (Vô vi) là đầu mối của hiếu thảo và đứchạnh Khổng Tử nói: “Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tùng, hựu kính, bất vi,
Trang 20***************************************************************lao nhi bất oán”21 – ( làm con thờ cha mẹ, nếu thấy cha mẹ lầm lỗi thì nên canngăn một cách dịu ngọt, nếu cha mẹ không thuận theo lời khuyên thì mình vẫnmột lòng cung kính mà chẳng trái nghịch, nếu cha mẹ giận mà làm cho côngviệc cực khổ thì chớ đem lòng oán hờn ) Việc giữ cái danh tiết cha mẹ đợctrong sạch là bổn phận của ngời con hiểu đợc đạo hiếu Hiếu thảo với cha mẹkhông phải là đặc quyền của nhà giàu mà trên thực tế từ cửa nhà nghèo ra đờinhững ngời con có hiếu.
Khổng Tử dạy: “Phụ tại, quan kỳ chí Phụ một, quan kỳ hạnh Tamniên vô cải phụ chi đạo, khả vị hiếu hỹ”22 – (Lúc cha còn thì phải xem cái chícủa cha, lúc cha mất nên xem việc làm của cha ) Việc cha đã làm mà có nênthay đổi thì đợi hết ba năm tang chế rồi hãy thay đổi, để tỏ lòng thành kính củangời con có hiếu Nghĩa hai chữ vô cải là thế và có theo nghĩa ấy mới hợp với
đạo trung Luận ngữ đặt vấn đề: có hiếu đễ thì có đợc các nết khác Hiếu đễ làcái gốc ngời quân tử phải nắm lấy, vì cái gốc đợc vững tốt thì đạo lý từ đó màsinh ra
4 Tri – Hành (Biết – làm):
Khổng Tử luôn khuyên con ngời phải giữ cái tâm cho trung chính vàviệc làm cho thành thực, để những hiểu biết và việc làm của mình hợp với một.Khổng Tử nói với Nhan Uyên23: “Dụng chi, tắc hành, xã chi tắc tàng, duy ngãdữ nhĩ hữu thị phù”24 – ( Nếu ngời ta dùng mình làm quan thì mình đem đạo
lý ra mà thi hành, không dùng thì mình ở ẩn với đạo lý, chỉ có ta và ng ời là ở
ẩn vậy ) – ở đây, Khổng Tử muốn khen Nhan Uyên là ngời có tri thức, nhânhậu và một lòng vì đạo Cho nên Khổng Tử nói ra mấy lời trên để chỉ ngờiquân tử làm việc gì cũng phải biết, nếu phải lúc thì ra làm quan hành đạo, nếuchẳng phải lúc thì ở vậy tu thân, làm đợc nh vậy thì đạo đức ngày càng hoànthiện
Tri và hành là cái mà ngời ta không học cũng biết, cứ tự nhiên khôngphải suy nghẫm, cân nhắc nhiều Con ngời làm việc gì cũng phải giữ cho cáitâm thành thực thì mới tiến đức, tu nghiệp đợc Biết chỗ đến của đạo mà thực
21 Luận ngữ: Lý Nhân 18
22 Luận ngữ: Học Nhi 1
23 Nhan Uyên là học trò đức hạnh của Khổng Tử.
24 Luận ngữ: Thuật Nhi 10
Trang 21***************************************************************hành để nghiệm sự hiểu biết của mình, phải hiểu rõ chỗ cùng cực của đạo đểthực hành cho đúng với quy tắc, nghĩa là chỗ trọn đời ở mãi đợc Đó chính làtri mà hành, hành mà tri Hai bên luôn bổ sung cho nhau để hành vi đạo đứccủa mình luôn trong sạch và sáng rõ.
5 Ngôn – Hành ( Nói – Làm):
Trong đời sống, vấn đề ngôn hành cũng không kém phần quan trọng,
đã nói đợc thì làm đợc , lời nói phải luôn đi đôi với việc làm Khổng Tử chorằng: “Cái hữu bất tri nhi tác chi giã, ngã vô thị giã Đa văn, trạch kỳ thiện giảnhi tùng chi, đa kiến nhi chí chi, tri chi thứ giã”25 – ( Có kẻ không biết màcũng làm càn, ta không phải nh vậy, sau khi nghe nhiều ta chọn những điềuphải mà nghe, sau khi thấy nhiều ta ghi nhớ lấy những điều mà ta chú ý Nhờvậy ta trở nên bậc thứ tri Bậc thứ tri là bậc thông hiểu đạo lý nên biết chọnnhững điều phải, điều đúng mà theo, lúc đó thi hành công việc sẽ nhanh chóng
và đúng với đạo lý, nhờ nghe nhiều, biết rộng dẫn đến thành công mĩ mãn
Khổng Tử là ngời rất tôn trọng lễ nghĩa nên ông tự khuyên mình cũng
nh khuyên con ngời phải cẩn thận trong lời ăn tiếng nói để thực hiện mọi viêccho khỏi thất lễ với ngời trên mình Khổng Tử nói: “Triều, dữ hạ đại phu ngôn,khản khản nh giã,dữ thợng đại phu ngôn, ngân ngân nh giã Quân tại, thúc tích
nh giã, d d nh giã”26 – ở triều đình, nói chuyện với quan đại phu bậc dới ônggiữ vẻ cơng nghị, nói chuyện với quan đại phu bậc trên ông giữ niềm hoà khí
Nh có Vua ngự ra thì ông có vẻ kính sợ, chăm chăm chẳng lo thất lễ Tuỳ theotừng bậc quan cấp mà Khổng Tử nói chuyện khác nhau Ông không bao giờ đểcho trái lễ với ngời khác đặc biệt là những ngời có địa vị cao hơn mình
Con ngời thời nào cũng phải coi trọng lời nói ( ngôn) và việc làm( hành ) Khổng Tử nói: “Cổ giả ngôn chi bất xuất, sỉ cung chi bất đải giã”27 –(Ngời xa chẳng dám khinh dễ lời nói, vì e rằng chẳng theo kịp lời nói mà hổngời ) Và đã là ngời thì không đợc hứa càn, nếu nh mình nói nhiều mà khônglàm đợc thì thiên hạ sẽ chê cời Cho nên, Khổng Tử khuyên con ngời nói ít màlàm nhiều, nghĩa là trong công việc phải cẩn thận, cần mẫn, siêng năng vàhành động cho thiết thực
25 Luận ngữ: Thuật Nhi 27
26 Luận ngữ: Hơng Đảng 2
27 Luận ngữ: Lý Nhân 21
Trang 22Tóm lại: các phạm trù đạo đức trong học thuyết của Khổng Tử mangnội dung phong phú, đa dạng và có ý nghĩa sâu sắc trong vấn đề giáo dục conngời ở mọi lĩnh vực của đời sống, Khổng Tử chủ yếu dạy con ngời sống vớinhau cho có tình có nghĩa , kính trên nhờng dới, hiếu thảo với cha mẹ và thơngyêu ngời thân, làm việc gì cũng phải cân nhắc kỹ càng Nếu con ngời chú tâmtrau dồi đức hạnh thì sẽ đạt đợc đỉnh cao trong việc ứng nhân xử thế
Trang 23II Một số vấn đề về quan điểm giáo dục của Khổng Tử:
1 Đối tợng giáo dục :
Khổng Tử chủ trơng “ Ai cũng dạy đợc”, không phân biệt bất luận là
ai, “chỉ cần đem cho thầy một bó nem” hoặc một chút lễ nhập môn thể hiệnlòng thành kính là ông đều thu nhận làm học trò Theo ông, mọi ngời đều cóquyền học tập nh nhau vì vậy ngời làm thầy phải nhận nhiều đệ tử trong thiênhạ, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, già trẻ
Trớc thời Xuân thu “ lục nghệ” đã có nhng nó chỉ dùng để dạy cho con
em vơng tôn, quý tộc còn những ngời bình thờng không đợc học các môn này,
đến thời Khổng Tử ông đã đem “ lục nghệ” ra giảng dạy
Nh vậy ta có thể thấy rằng đối tợng giáo dục của Khổng Tử đợc mởrộng cho mọi tầng lớp không phân biệt giai cấp địa vị và đây là bớc tiến lớncủa nền giáo dục cổ đại Trung Quốc trong bối cảnh xã hội đang ở trình độ pháttriển thấp kém lúc bấy giờ
2 Nhiệm vụ của giáo dục :
Khổng Tử là ngời có học thức uyên thâm, lại thiết tha truyền bá giáo lýcủa mình khắp thiên hạ, ông lập chí học ở tuổi 15, đến ngoài 30 tuổi đã là thầycủa hàng trăm ngời có trình độ làm thầy trong thiên hạ Mục đích của Khổng
Tử là dạy cho ngời trở thành nhân nghĩa, trung chính tức là ngời quân tử Song
có dạy mà không có học thì cái sự dạy có hay thế nào cũng không thành công.Vì vậy, Khổng Tử rất coi trọng việc học và hào hứng với vấn đề hiếu học Hơnnữa bối cảnh xã hội loạn lạc lúc bấy giờ khiến quan hệ giữa ngời với ngời ngàycàng trở nên mờ mịt, vô đạo Cho nên con đờng tốt nhất theo Khổng Tử là đemhết tài trí của mình để “giáo hoá” con ngời khiến nhà nhà hữu đạo, thiên hạhữu đạo Khổng Tử cho rằng ý nghĩa của giáo dục là cải tạo nhân tính, ông ítnói tới nhân tính thiện ác nhng rất coi trọng hiệu quả của giáo dục đối vớithiện ác Muốn dẫn nhân loại trở về chỗ tính gần nhau tức là thiện bản nhiên