Thế giới đã có nhiều quốc gia, dân tộc tự hào về truyền thống lịch sử củamình, đó là những quốc gia đã từng sản sinh ra những nền văn minh lớn để rồisau đó nền văn minh ấy bị tàn lụi the
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
===&===
nguyễn thị hoan
khoá luận tốt nghiệp đại học
tìm hiểu quá trình phong kiến hoá dới hai vơng triều gúpta và
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này tôi xin trân trọng cảm ơn thầy
giáo Hoàng Đăng Long ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi rất tận tình, chu đáo từ
lúc tôi nhận đề tài cho đến khi khoá luận hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, Tổ chuyên ngànhLịch sử thế giới và quý thầy cô cùng ngành đã tạo điều kiện và thời gian thuậnlợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn t liệu cũng nh khả năng tìm hiểu, nghiêncứu của bản thân nên khoá luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót.Kính mong sự chỉ dẫn, góp ý xây dựng của quý thầy cô, bạn bè để khoá luận đợchoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2006
Tác giả
Trang 3Mục lục
A Dẫn luận
b nội dung
Chơng 1: Tổng quan lịch sử cổ – Trung đại Trung đại ấn Độ 8
1 Vài nét về điều kiện tự nhân và dân c cổ đại ấn Độ 81.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 8
2 Lợc sử cổ – Trung đại trung đại ấn Độ 10
Chơng 2: Quá trình phong kiến hoá của vơng triều Gupta 23
1 Sự phong kiến hoá về kinh tế 25
2 Sự phong kiến hoá về văn hoá - t tởng, chính trị 29
3 Sự phong kiến hoá về xã hội 37
Chơng 3: Quá trình phong kiến hoá dới vơng triều Hácsa 42
1 Sự phong kiến hoá về kinh tế 42
2 Sự phong kiến hoá về văn hoá - t tởng, chính trị 47
3 Sự phong kiến hoá về xã hội 55
Trang 4a dẫn luận
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử các quốc gia trên thế giới, ấn Độ
đ-ợc xem là một trong những hiện tợng đặc biệt Là một quốc gia lớn thuộc khuvực châu á, ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, là thếgiới của những điều huyền bí, kỳ diệu, phong phú ngàn đời, là quê hơng của tôngiáo và triết học Nền văn minh ấn Độ có quan hệ chặt chẽ với nền văn hoá củanhiều quốc gia trên thế giới, có sức lan toả ra bên ngoài trong đó có Việt Namchúng ta
Thế giới đã có nhiều quốc gia, dân tộc tự hào về truyền thống lịch sử củamình, đó là những quốc gia đã từng sản sinh ra những nền văn minh lớn để rồisau đó nền văn minh ấy bị tàn lụi theo thời gian, hoặc ngợc lại có những quốcgia ít đợc chú ý bỗng trở nên phát triển thần kỳ trong một vài thập kỷ… tất cả d tất cả d-ờng nh là quy luật của sự “bù trừ” lẫn nhau giữa quá khứ và hiện tại, giữa hngthịnh và suy vong Thế nhng ấn Độ đã không thuộc vào cái chung ấy, không là
“cái tôi” của sự phát triển và suy vong, tàn lụi Là một quốc gia có nền văn hoá,văn minh cổ xa và lâu đời, cùng với thời gian của những biến động, thăng trầmcủa lịch sử, ấn Độ cha bao giờ đứng yên, ngừng trệ mà luôn diễn tiến, trờng tồn
Trang 5Trong gần hai thế kỷ dới ách thống trị của đế quốc thực dân, nhân dân ấn
Độ đã kiên trì, anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến với biết bao thăng trầm, thửthách và hy sinh để giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, những t tởng nhân
đạo và hoà bình của quốc gia, dân tộc mình Sức sống ấy, truyền thống ấy đã cótác động sâu sắc đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào cáchmạng của các quốc gia trên thế giới trong đó có đất Việt chúng ta
ở trong hoàn cảnh nào, dù quá khứ hay hiện tại, thuận lợi hay khó khăn,lịch sử ấn Độ luôn giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng tiến trình phát triểncủa lịch sử nhân loại Từ đấy, ấn Độ trở thành một kho tàng bí ẩn, một đề tàikhó nhng vô cùng hấp dẫn, lý thú thu hút tất cả các đối tợng tham gia nghiêncứu Việc nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử ấn Độ trở nên bức thiết và quan trọng
Trong sự kỳ bí và phong phú của lịch sử ấn Độ, lịch sử phong kiến ấn Độgóp phần quan trọng tạo nên sự đặc biệt và hết sức thu hút ở đó có rất nhiều đềtài và phạm vi cần tìm hiểu, nghiên cứu và phám phá Thời kỳ lịch sử phong kiếncủa ấn Độ đợc tính từ thế kỷ IV đến thế kỷ XVIII Chừng ấy thời gian khôngphải là dài so với sự hình thành và phát triển của một quốc gia, nhng đối với mộthình thái kinh tế – Trung đại xã hội, một thể chế chính trị cụ thể thì nó không phải làngắn Trong đó từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII là thời kỳ hình thành và bớc đầucủng cố chế độ phong kiến dới hai vơng triều Gúpta và Hácsa; từ thế kỷ VII đếnthế kỷ thứ XII thời kỳ phong kiến phân tán; từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV lịch sử
ấn Độ thuộc sự trị vì của vơng triều Hồi giáo Đêli và từ thế kỷ XVI đến thế kỷXVIII ấn Độ thuộc sự điều hành của vơng triều Môgôn Chừng đấy thôi đã pháchoạ một cách khá đầy đủ diện mạo đa dạng của lịch sử các triều đại phong kiến
ấn Độ Điều đặc biệt trong lịch sử phong kiến ấn Độ mà bất kỳ một quốc gianào trên thế giới cũng không có đợc là sự xuất hiện của các vơng triều ngoại tộc:vơng triều Môgôn Dù không phải là vơng triều chính thống của ấn Độ songkhông vì thế mà triều đại phong kiến Môgôn đánh mất vai trò, vị thế của mìnhtrong lịch sử ấn Độ nói chung và lịch sử phong kiến ấn Độ nói riêng Ngợc lại,vơng triều Môgôn đã có những đóng góp nhất định cho tiến trình phát triển củalịch sử ấn Độ
Đóng vai trò là vơng triều mở đầu và định hình những bớc đi cơ bản chochế độ phong kiến ở ấn Độ, vơng triều Gúpta và Hácsa (từ thế kỷ IV đến thế kỷVII) đã có những đóng góp và dấu ấn đậm nét cho sự phát triển của các vơngtriều phong kiến ở giai đoạn sau Là vơng triều tiên phong, đặt nền móng cholịch sử phong kiến ấn Độ, vơng triều Gúpta đã gặp phải không ít những khókhăn và thách thức Vợt qua tất cả những khó khăn và thách thức bớc đầu ấy, v-
ơng triều Gúp ta, dới sự trị vì của các vị vua kế tiếp đã đạt đợc những thành tựurực rỡ đa chế độ phong kiến ấn Độ bớc vào quá trình phong kiến hoá Trên cơ sở
Trang 6của những thành tựu bớc đầu ấy, vơng triều Hácsa đã tiếp những bớc đi vữngchắc, đa chế độ phong kiến ấn Độ bớc vào một thời kỳ phát triển mới, xác lập cómặt của nó trong lịch sử ấn Độ
Quá trình phong kiến hoá của lịch sử phong kiến ấn Độ đã diễn ra vớimột tốc độ hết sức nhanh nh các quốc gia khác trên thế giới nhng nó diễn ramạnh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị và xã hội… tất cả d và để lạinhững thành tựu hết sức to lớn Những thành tựu ấy không chỉ là tiền đề, là nềntảng để xác lập chế độ phong kiến ở ấn Độ, mà đó còn là những giá trị to lớn vềmặt vật chất và tinh thần trong lịch sử ấn Độ, thúc đẩy sự phát triển của mộtquốc gia thuộc vùng Nam á
Quá trình phong kiến hoá chính là sự chuyển tiếp từ thời kỳ cổ đại sangtrung đại và dờng nh tất cả các quốc gia trên thế giới đều tuân theo quy luật tồntại ấy của lịch sử Đó là sự chuyển tiếp tuần tự theo đúng bản chất nguyên lý củahọc thuyết hình thái kinh tế - xã hội Thế nhng ở ấn Độ quá trình chuyển tiếp đó
đã xuất hiện tính chất đặc trng Tính bền vững của công xã nông thôn và chế độ
đẳng cấp đã làm cho con đờng hình thành chế độ phong kiến ở ấn Độ mangnhững nét khác biệt Con đờng ấy không thuần nh lịch sử các quốc gia khác.Chính sự không thuần ấy là một trong những lý do gợi nên cho bản thân tôi sự tò
mò muốn khám phá
Là quê hơng của những nền văn minh cổ xa và rực rỡ của nhân loại ấn Độ
đã đạt đợc rất nhiều những thành tựu trong tiến trình phát triển của mình dới thời
cổ đại Vậy mà trong bớc chuyển mình của lịch sử, các quốc gia khác lần lợt đãxác lập cho mình một hình thái kinh tế - xã hội mới (chế độ phong kiến) và đa
nó vào quỹ đạo của sự phát triển thì ấn Độ mới bớc đầu định hình những bớc đicơ bản cho chế độ phong kiến Vậy vì sao một trung tâm văn minh lớn và cónhiều thành tựu nh ấn Độ lại có diễn trình phát triển đặc biệt nh vậy?
Ngày nay, việc nhìn nhận, tìm hiểu quá khứ là một phạm trù có ý nghĩa, dù
đấy không phải là việc mà ai cũng có thể làm đợc Tìm hiểu lịch sử, một mặt đánhthức quá khứ trong môi trờng cá nhân nhng mặt khác nhìn lại quá khứ, những gì
đã qua chúng ta còn mong muốn tìm thấy, trong đó có những bài học kinh nghiệmquý báu để hớng xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, thịnh vợng hơn
Với Việt Nam chúng ta, cùng với sự tồn tại và diễn tiến của vơng triềuGúpta – Trung đại Hácsa, lịch sử chúng ta rơi vào tay của triều đình phong kiến phơngBắc, chế độ phong kiến Việt Nam cha đợc xác lập Vì thế việc tìm hiểu về quátrình phong kiến hoá dới hai vơng triều Gúpta và Hácsa sẽ cho chúng ta một cáinhìn tổng thể, bao quát, khách quan về quá trình hình thành một quốc gia phongkiến thực thụ cũng nh những đặc trng của nó, để từ đó chúng ta có những bớc điphù hợp với điều kiện của chính mình Mặt khác, là một sinh viên thuộc chuyên
Trang 7ngành nghiên cứu lịch sử, thì việc tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu về quá trìnhphong kiến hoá dới hai vơng triều Gúpta – Trung đại Hácsa sẽ giúp cho cá nhân có mộtcái nhìn đúng, khách quan và khoa học về quá trình xác lập chế độ phong kiến
và diễn trình phát triển của nó, đó sẽ là hành trang bền vững, có ý nghĩa chocông việc nghiên cứu, tìm hiểu của tôi trong tơng lai
Đấy là tất cả những cơ sở, lý do để tôi chọn đề tài khoá luận “Tìm hiểuquá trình phong kiến hoá dới hai vơng triều Gúpta và Hácsa”
Bao trùm lên tất cả với một truyền thống hoà bình, hữu nghị, hợp tác nhândân ấn Độ đã tạo lập cho mình những mối quan hệ đa chiều, với tất cả các quốcgia trên thế giới Tìm hiểu về lịch sử ấn Độ qua một đề tài cụ thể, thuộc mộttriều đại cụ thể, tôi không hy vọng có thể khám phá ra những điều mới, nhữngnét riêng mang tính khoa học, và phát hiện mà tôi chỉ mong thông qua việc tìmhiểu một đề tài cụ thể, thấy đợc một điều gì đó khái quát hơn, bao trùm hơn và
hy vọng đề tài sẽ có tính thực tiễn, có giá trị sử dụng
2 Lịch sử đề tài
Để tìm hiểu quá trình phong kiến hoá dới hai vơng triều Gúpta và Hácsacòn có rất nhiều vấn đề cần chú trọng Vẫn biết vơng triều Gúpta và Hácsa đã đểlại dấu ấn rất đậm nét trong lịch sử ấn Độ nói chung và lịch sử các triều đạiphong kiến ấn Độ nói riêng, song tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử ấn Độ thời kỳnày còn rất hạn chế Có rất ít t liệu, cơ sở khoa học đề cập đến lịch sử ấn Độ giai
đoạn từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII Phần lớn các tài liệu có đề cập đến chủ yếu làcác giáo trình lịch sử thế giới, nhng cũng chỉ dừng lại ở cách tiếp cận khái quát,mang tính xuyên suốt vấn đề và trong đó có vơng triều Gúpta và Hácsa Tiêubiểu có cuốn “Lịch sử thế giới trung đại” do Nguyễn Gia Phu (Chủ biên) Đây làcuốn giáo trình đợc sử dụng phổ biến trong việc dạy và học môn lịch sử thế giới.Thông qua cuốn sách này, tác giả đã trình bày một cách khá trọn vẹn lịch sửphong kiến ấn Độ trong đó có vơng triều Gúpta và Hácsa với quá trình phongkiến hoá trên tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên những vấn đề đợc đề cập đến cònmang tính giản yếu, sơ lợc và tổng quát Với vị trí tiên phong trong lịch sử phongkiến ấn Độ, nên vơng triều Gúpta và Hácsa cũng đợc đề cập đến khá nhiều trongcác tác phẩm: “ấn Độ qua các thời đại” của Nguyễn Thừa Hỷ, “Phát hiện ấn
Độ” (tập 1) của J.Neru, “Tìm hiểu văn hoá ấn Độ”của Nguyễn Thừa Hỷ, “Lịch
sử ấn Độ” của Vũ Dơng Ninh (Chủ biên), “Lịch sử văn minh ấn Độ” của WillDurant… tất cả d tất cả đều có đề cập đến hai vơng triều này Song cũng chỉ mới dừnglại ở tính phác thảo, sơ lợc mà cha có tính toàn diện, cụ thể của tất cả các lĩnhvực
Với thời gian nghiên cứu, tìm hiểu không nhiều, bản thân lại là một sinhviên đang bớc những bớc đi đầu tiên trong việc tìm hiểu một đề tài mang tính
Trang 8khoa học nên khả năng tiếp cận, xử lý t liệu còn rất hạn chế và nhiều thiếu sót,cùng với những hạn chế về nguồn t liệu phục vụ cho đề tài nên tôi rất kính mong
sự đóng góp chân thành của quý thầy cô và bạn bè
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, tìm hiểu đề tài, cùng với sự cố gắngcủa bản thân tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn, giúp đỡ tận tình về mọi mặt: phơngpháp, kiến thức, t liệu của thầy hớng dẫn Hoàng Đăng Long và các thầy cô trongkhoa cũng nh các thầy cô thuộc các trờng phụ cận, sự đóng góp ý kiến của bạn
bè… tất cả d tất cả đã giúp tôi hoàn thành đề tài khoá luận này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý thầy cô và bạn
bè
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu “Quá trình phong kiến hoá dới hai vơng triềuGúpta và Hácsa”, tôi hy vọng sẽ có một cái nhìn tổng thể về quá trình xác lậpchế độ phong kiến ở một quốc gia cụ thể, có thể tìm hiểu sâu sắc hơn những tiền
đề cho sự ra đời của một hình thái kinh tế – Trung đại xã hội mới Sự làm quen bớc đầutrong việc tìm hiểu một đề tài khoa học sẽ là điều kiện giúp chúng tôi, nhữngsinh viên thuộc chuyên ngành nghiên cứu có tiền đề để phát triển trong tơng lai
Và đấy cũng là cơ sở giúp chúng tôi vững tin hơn trong chuyên môn, nghiệp vụsau này
4 Đối tợng nghiên cứu
Để tìm hiểu đề tài này, trớc hết tôi đi vào tìm hiểu một cách khái quáttổng thể về lịch sử ấn Độ thời kỳ cổ – Trung đại trung đại (vị trí địa lý, dân c và các thời
kỳ phát triển trong lịch sử ấn Độ) Trên cơ sở đó tôi đi vào tìm hiểu quá trìnhphong kiến hoá ở hai vơng triều Gúpta và Hácsa Để tìm hiểu phát triển phongkiến hoá ở hai vơng triều này tôi đi vào tìm hiểu tất cả các mặt từ kinh tế, chínhtrị, xã hội, văn hoá, t tởng … tất cả d của lịch sử ấn Độ thời kỳ từ thế kỷ IV đến thế kỷVII Quá trình tìm hiểu sự phong kiến hoá ở hai vơng triều Gúpta và Hácsa nhằmlàm rõ vai trò tiên phong, nền tảng của quá trình xác lập chế độ phong kiến ở ấn
Độ Từ đó thấy đợc vị trí của hai vơng triều này đối với lịch sử ấn Độ nói riêng
và lịch sử các quốc gia phong kiến nói chung
5 Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu “Quá trình phong kiến hoá dới hai vơng triềuGúpta và Hácsa”, tôi đã sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu mang tínhchuyên ngành, trong đó phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic là những phơngpháp sử dụng chủ yếu Ngoài ra còn có sự kết hợp phơng pháp so sánh, phân
Trang 9tích, tổng hợp… tất cả d tất cả đều nhằm mục đích làm rõ vấn đề và mục đích nghiêncứu
6 Các bớc tiến hành
Tìm hiểu đề tài này, tôi đã tiến hành su tầm, tiếp cận, chọn lọc và xử lýcác nguồn t liệu liên quan đến vơng triều Gúpta và Hácsa cũng nh các t liệu đềcập đến lịch sử ấn Độ thời kỳ cổ – Trung đại trung đại Từ đó để thấy và làm sáng tỏ quátrình hình thành, xác lập chế độ phong kiến ở ấn Độ
7 Bố cục đề tài
Với đề tài “Quá trình phong kiến hoá dới hai vơng triều Gúpta và Hácsa”ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo thì phần nội dung đềtài đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Tổng quan lịch sử cổ – Trung đại trung đại ấn Độ
Chơng 2: Quá trình phong kiến hoá của vơng triều Gúpta (320 – Trung đại 500)Chơng 3: Quá trình phong kiến hoá của vơng triều Hácsa (606 – Trung đại 648)
Trang 10b nội dung Chơng 1: Tổng quan lịch sử cổ – trung đại ấn Độ trung đại ấn Độ
1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và dân c cổ đại ấn Độ
1.1 Điều kiện tự nhiên
ấn Độ là một bán đảo hình tam giác lớn, một “tiểu lục địa” ở Nam á, bịngăn cách với thế giới bên ngoài bởi ấn Độ Dơng và dãy núi Hymalaya hùng vĩnhất thế giới ấn Độ đợc ví nh nàng tiên cá gối đầu lên dãy Hymalaya, đuôi vùngvẫy trong làn nớc xanh biếc của đại dơng dậy sóng Nhìn một cách bao quát, đấtnớc ấn Độ đợc cấu thành bởi ba phức hợp địa hình: phía Bắc là vùng núiHymalaya và phục cận; tiếp đến là lu vực sông ấn (Indus) và sông Hằng (Gange)
ở phía Đông Bắc và phía Nam còn lại là vùng cao nguyên Đê Can
Cảnh quan thiên nhiên và khí hậu trên tiểu lục rộng lớn này hết sức đadạng ở miền Bắc, các trận gió lớn rất lạnh từ dãy Hymalaya tràn xuống gặp hơinóng từ miền Nam tạo thành những đám sơng mù u ám Cao nguyên Đê Can vớinhững vùng rừng núi, thảo nguyên và thảm thực vật nhiệt đới tha thớt trên đấtcằn, khí hậu khô nóng là vùng ít thuận lợi cho đời sống con ngời Vùng bìnhnguyên sông ấn – Trung đại Hằng và các chi lu của khu vực này với những cánh đồng phìnhiêu, thuận lợi cho con ngời sinh tụ và phát triển văn minh sớm Với đặc trngcủa kết cấu địa hình chủ yếu là rừng núi, với nhiều muông loài thú cổ xa và quýhiếm khiến cho du khách đến ấn Độ có cảm giác nh đến một xứ sở đầy bí ẩn
Trong thời cổ đại, lãnh thổ của ấn Độ rộng lớn hơn ngày nay rất nhiều,bao gồm bán đảo Hinduxtan, nghĩa là bao gồm lãnh thổ của năm nớc hiện nay
đó là ấn Độ, Pakistan, Butan, Nêpan và Bănglađét Chính vị thế của ấn Độ đãtạo điều kiện cho xứ sở này có điều kiện tiếp xúc với thế giới bên ngoài
1.2 C dân
Tính chất cách biệt của các vùng địa lý và tác động của lịch sử làm chocấu trúc c dân ấn Độ khá đa dạng, có sự khác nhau giữa c dân các vùng có từthời cổ Ngay ở các vùng cận kề nhau về vị trí địa lý, thành phần c dân cũngkhông có sự tơng đồng Về sau, do các cuộc thiên di, xâm lợc, cộng c, giao lu
mà tạo nên sự hỗn hợp trong cộng đồng dân c ấn Độ
Cho đến nay, khi trình độ của con ngời đã phát triển cao, cộng thêm sựphát triển của khoa học kỹ thuật nhng vấn đề nguồn gốc và quan hệ thân tộc củacác dân tộc trên đất ấn Độ vẫn cha đợc tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ,thống nhất Học giả Biragia S.G (Biraja Sankar Guha) cho rằng, có 6 dòng nhânchủng lớn pha trộn ở các mức độ khác nhau tạo thành c dân ấn Độ hiện thời Đó
là dòng Địa Trung Hải, dòng đầu rộng, dòng đầu dài, dòng Môngôlôit
Trang 11(Mongoloid), dòng Nêgritoo (Nêgrito) và dòng tiền Ôxtralôit (Australoid) VớiBaraun N (Normar Brown) cho rằng ngời ấn Độ là một nhóm nhân chủng riêngbiệt có tính trung gian giữa c dân châu á và dân c châu Âu, nhng gần với châu
Âu hơn Ngời ta giả định những c dân đầu tiên ở ấn Độ từ khi các chủng tộc xuấthiện trên thế giới vào thời hậu kỳ đá cũ thuộc chủng Nêgrôit (Negroid) với đặc
điểm nhân chủng là đầu dài, da đen, mũi tẹt, môi dày mà di duệ còn thấy ở mộtvài nhóm c dân nguyên thuỷ trên đảo Anđaman và vùng đồi Kuala Yếu tố tócxoăn tìm thấy rải rác ở những nhóm c dân khác cho thấy tộc Nêgrôit có một thời
đợc phân bố rộng rãi ở tiểu lục địa Nhóm c dân ấn Độ bản địa khác là ngời
Đraviđa (Dravidian), tộc ngời đã sản sinh ra các nhóm pha tạp hiện nay ở Trung
và Nam ấn… tất cả d Ngoài ra, ấn Độ còn tiếp nhận không ít dân du mục từ nhiều nơi
đến Do tính chất đa dạng về tộc ngời, về vị trí địa lý, nên ấn Độ cũng rất đadạng về ngôn ngữ Theo tài liệu ấn Độ, có trên 1600 thổ ngữ, trong đó có 16ngôn ngữ đợc quốc hội chính thức công nhận Tiếng Hindi là ngôn ngữ quốc giachính thức, còn tiếng Anh là ngôn ngữ quốc gia bổ trợ Sự đa dạng về c dân,ngôn ngữ là điều kiện, tiền đề và là cơ sở để ấn Độ sớm tạo dựng cho mình mộtnền văn minh đặc trng
2 Lợc sử cổ – Trung đại trung đại ấn Độ
2.1 Lợc sử cổ đại ấn Độ
Cho đến đầu thế kỷ XIX, ngời ta hầu nh không biết gì về thời tiền và sơ sử
ấn Độ Việc tìm thấy các di tích thời tiền sử và sơ sử trên đất ấn Độ chủ yếu làcông lao của các nhà nghiên cứu đầu thế kỷ XX
Không ít các học giả hiện nay cho rằng ấn Độ có thể nằm trong khu vựchoàn thiện quá trình chuyển biến từ vợn thành ngời Nhng điều nan giải là cácnhà cổ nhân học cha tìm thấy xơng cốt hoá thạch của con ngời thời đại đó (nếu
nh không tính đến một phát hiện còn gây tranh cãi của R.Phutta (R.Futta) từnhững năm 60 của thế kỷ trớc) Điều này đã gây trở lại không ít cho việc tái tạodiện mạo con ngời thời cổ xa nhất trên đất ấn Độ Tuy nhiên, t liệu khảo cổ họcchỉ ra rằng ngay từ thời cổ xa nhất, ở ấn Độ đã có ngời c trú
Nếu nh những t liệu về sự hình thành các tộc ngời cổ xa ở ấn Độ quá ít ỏi,khoa học cha có câu trả lời thoả đáng, thì lịch sử xã hội có giai cấp ở ấn Độ đãtrở nên rõ ràng hơn nhờ những kết quả to lớn của các phát hiện khảo cổ học
Năm 1921, nhà khảo cổ học ấn Độ, RayBaharua Đayaram Xani đã khaiquật ở Harappa, bên bờ sông ấn (Indus) thuộc miền Pengiap Sau đó, năm 1924,các nhà khảo cổ học ấn Độ cùng với một số nhà sử học phơng Tây tiếp tục khaiquật một di chỉ nữa ở Môhengiô Đarô (cũng bên bờ sông ấn, thộc miền Xin,cách Harappa vài trăm km về phía Nam) Các cuộc khai quật này đã phát hiệnhai thành phố và nhiều hiện vật bị chôn vùi dới lòng đất Cùng với các cuộc tìm
Trang 12kiếm tơng tự ở hai bờ sông ấn, những kết quả khai quật ở Harappa và Môhengiô
Đarô đã thực sự tái hiện một thời kỳ lịch sử cổ xa của ấn Độ mà lịch sử gọi nó lànền văn minh Harappa – Trung đại Môhengiô Đarô hay nền văn minh sông ấn
2.1.1 Văn minh Harappa – Trung đại Môhengiô Đarô (văn minh sông ấn)
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về nền văn minh Harappa – Trung đại Môhengiô Đarô phát hiện có ý nghĩa nhất ở Harappa và Môhengiô Đarô là cáccông trình kiến trúc đô thị Trong thành phố cổ này có hai khu vực rõ rệt là khu
“thành” trên đồi cao đợc đoán định là chổ ở của các tầng lớp trên và khu “phố” ởdới thấp là nơi c trú của ngời bình dân Rất nhiều nhà cửa đợc xây bằng gạch dọchai bên phố cắt nhau vuông vắn nh bàn cơ Trong số đó có nhiều nhà tầng, có
đầy đủ giếng nớc, hệ thống công rãnh và phòng tắm… tất cả d
Công trình kiến trúc nổi bật nhất đợc phát hiện ở Môhengiô Đarô là bểtắm lớn, dài 55 mét, rộng 33 mét, ở giữa có một bồn nớc hình chữ nhật với chiềudài 12 mét, rộng 7 mét và sâu 2,4 mét với các bậc thang lên xuống, xung quanhxây một hệ thống phòng liền nhau Có giả thiết cho rằng, bể tắm đó liên quan tớicác nghi lễ tôn giáo nh các lễ tắm thần của Đạo Bàlamôn sau này Kế tiếp làcông trình kiến trúc nhà thờ, với kiểu dáng đợc thiết kế là hình vuông, có cạnhdài 28 mét, trong có nhiều bàn đá Có nhiều ý kiến cho rằng đây là nơi hội họp,cúng tế của cộng đồng
Ngoài ra, trong các cuộc khai quật này, các nhà khảo cổ còn tìm thấy rấtnhiều các xơng thú, công cụ sản xuất, vũ khí, đồ dùng trong đời sống hàng ngày,
đồ trang sức có giá trị thẩm mỹ cao bằng vàng, bạc Ngời ta có cảm giác rằngnhững đồ trang sức này “mới mua đợc trong hiệu kim hoàn hiện nay chứ khôngphải tìm thấy trong ngôi nhà cách đây 5000 năm” Điều đặc biệt là các hiện vậtnày đều đợc làm bằng đồng, vàng, bạc hoặc đá chứ cha thấy dấu vết của đồ sắtxuất hiện Bên cạnh đó, các nhà khảo cổ còn tìm thấy trong các di chỉ nhiều đồchơi của trẻ nhỏ và các tợng nhỏ Điều khiến các nhà nghiên cứu chú ý là trong
số rất nhiều hiện vật ở Harappa và Môhengiô Đarô, có tới hơn 2000 quả ấn bằng
đất nung, kích thớc nhỏ, phần lớn hình vuông, đôi khi còn có hình tròn Trên mặtcủa các quả ấn này có khắc hình các loài thú nh voi, tê giác, hổ, trâu rừng… tất cả dcùng những dòng chữ mang tính tợng hình kèm theo Cùng với phát triển nghiêncứu thì nghĩa của các dòng chữ tợng hình đã đợc giải và chúng ta hiểu đợc nộidung chủ yếu là giới thiệu các danh hiệu qúy tộc và tên ngời Những quả ấn đợcdùng để đóng dấu lên hàng hoá, xác nhận chủ nhân của chúng và chức tớc, địa vịxã hội của họ Cũng có những quả ấn, dùng để miêu tả thần linh của họ
Căn cứ vào kết của khảo cổ và quan phân tích, so sánh, các nhà sử học đã
có những nhận định khá chính xác về nền văn minh sông ấn Đó là một nền vănhoá đô thị, đồ đồng phát triển ở mức cao
Trang 13Về mặt xã hội, trong văn minh sông ấn đã có sự phân hoá giai cấp, tuycha sâu sắc lắm và có khả năng đã có một chính quyền chuyên chế tồn tại
Về mặt kinh tế, nông nghiệp thời kỳ này đã khá phát triển và giữ một vị trírất quan trọng C dân ấn Độ không chỉ biết dùng cuốc để làm nông nghiệp màcòn biết dùng sức kéo của trâu, bò, đã biết trồng lúa mì, lúa mạch, vừng… tất cả d nhất
là bông Nhiều giả thiết cho rằng, ấn Độ là nơi trồng bông sớm nhất trong lịch
sử nhân loại Cùng với nông nghiệp, thì chăn nuôi cũng giữ vị trí quan trọngtrong nền kinh tế ấn Độ, chủ nhân của nền văn minh này đã biết thuần hoá, nuôidỡng súc vật nh trâu, bò, dê, cừu, lợn, chó… tất cả d
Thủ công nghiệp đã phát triển và có những tiến bộ vợt bậc Các nghề giacông kim loại (trừ sắt), làm đồ gốm bằng bàn xoay, điêu khắc trên đá và trên ngàvoi… tất cả d đạt trình độ khá cao Đồ gốm có màu sắc đẹp, với những hoa văn trang trí
đa dạng, phong phú Thời kỳ này, nghệ thuật làm đồ trang sức của ấn Độ đã đạt
đến trình độ tinh xảo đẹp mắt
Thơng nghiệp dới thời văn minh sông ấn đã thực sự phát triển Quan hệbuôn bán, trao đổi đã xuất hiện Những quả cân bằng đá và việc tính toán tỷ lệcủa những quả cân ấy cho thấy c dân ở đây đã biết dùng lối đếm theo cơ số 10,
đã biết dùng tiền làm vật trung gian để trao đổi hàng hoá
Dấu tích các hải cảng và các tàu của thời kỳ này cũng đợc phát hiện CảngLôthan trên mũi vịnh Cambay ra đời vào thời ấy là một loại cảng sớm nhất trênthế giới Ngoài ra, ngời ta còn tìm thấy mô hình con tàu vợt biển có sông nhọn
Điều này chứng tỏ c dân thời kỳ này đã sớm tìm đến những vùng đất mới bằng
đờng biển để buôn bán Điều đặc biệt là sự phát triển của đời sống kinh tế thời
kỳ văn minh sông ấn gắn liền với sự ra đời và tiến bộ của những phát minh,những tri thức khoa học kỹ thuật kiến trúc của thời đại này đã đạt tới trình độcao Hệ thống đờng sá, dẫn nớc… tất cả d ợc tính toán khá khoa học, phép đo tuyến, đphép đo và tính thuỷ triều, hệ thống thập phân bắt đầu đợc xây dựng
Nhìn chung, trong thời gian tồn tại của mình (từ đầu thiên niên kỷ thứ III TCN (cách ngày nay 5000 năm) và đến giữa thiên niên kỷ thứ II - TCN thì bị huỷdiệt, nền văn minh sông ấn đã đạt đợc những thành tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnhvực, là một trong những thời kỳ quan trọng của lịch sử ấn Độ cổ đại, xứng đánglàm nền cho sự phát triển của văn minh ấn Độ trong những thời kỳ lịch sử kếtiếp
-2.1.2 Thời đại Vêđa (văn minh sông Hằng)
Khác với thời đại văn minh sông ấn, chỉ căn cứ vào kết quả của khai quậtkhảo cổ, thời kỳ từ giữa thiên niên kỷ thứ II tới giữa thiên niên kỷ thứ I - TCN,lịch sử ấn Độ đợc phản ánh trong nhiều tác phẩm văn học, chủ yếu là trong bộkinh Vêđa Vì vậy mà thời kỳ lịch sử này còn có tên gọi là thời đại Vêđa
Trang 14Kinh Vêđa có 4 bộ là Rig Vêđa, Yajuya Vêđa, Sâm Vêđa và Arthva Vêđa.Tất cả đều có ngữ căn là “Vid” nghĩa là “hiểu biết” Trong bộ kinh này, phần chủyếu của mỗi bộ là Matra (kinh gốc, có tính thần bí), tiếp theo là phần Brahamana(lời chú giải) và Upanisad (phần phát triển) Trong bộ kinh, ngoài việc tập hợpnhững nghi lễ, chúc tụng thần linh là việc phản ánh những hoạt động kinh tế,chính trị, xã hội của thời kỳ lịch sử cổ đại ấn Độ
Trong thời đại Vêđa, sự xâm nhập của ngời Arian và sự tan rã của công xãthị tộc ở ấn Độ là những sự kiên tiêu biểu Từ đầu thiên niên kỷ thứ II - TCN,những ngời Arian từ vùng Trung á, quanh dãy Capcadơ và biển Caxpia bắt đầucuộc di trúc dần xuống phía nam Tộc ngời Arian có vóc dáng cao lớn, mũithẳng, da trắng, tiếng nói thuộc ngữ hệ ấn - Âu
Tới giữa thiên niên kỷ thứ II – Trung đại TCN, các tộc ngời Arian đã tràn xuốngvùng Bat, ápganixtan Một bộ phận ngời Arian tràn vào ấn Độ từ phía Tây Bắc.Lúc đầu cuộc thiên di của ngời Arian còn mang tính chất hoà bình, song đến khigặp phải sự kháng cự của c dân bản địa Đravinđa thì cuộc di hoà bình ấy trởthành cuộc xâm nhập vũ trang, cớp bóc tàn bạo Kết quả đã làm hàng loạt ngời
Đravinđa bị giết chết hoặc bị bắt làm nô lệ và một bộ phận đáng kể đã buộc phảichạy về phía Nam để lánh nạn Sau khi chinh phục đợc ngời Đravinđa, ngờiArian bắt đầu chuyển từ cuộc sống du mục sang cuộc sống định c, dần dần họhọc đợc kỹ thuật làm nghề nông của ngời Đravinđa, và ngời Arian từng bớc dựngnên những làng xóm của mình, đó chính là những công xã nông thôn
Trải quả quá trình phát triển lâu dài, ngời Arian dần dần tiến về phía Đông, làmchủ cả khu vực sông Hằng và trong khoảng thời gian từ 1000 đến 600 năm TCN (4 thếkỷ), ngời Arian đã lần lợt dựng lên những nhà nớc chiếm hữu nô lệ sơ khai
Nhà nớc chiếm hữu nô lệ của ấn Độ đợc manh nha từ khi ngời Arian bớcvào cuộc sống định c làm nông nghiệp Họ đã biết sử dụng công cụ lao độngbằng kim khí, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, dẫn đến hiệntợng xã hội phân hoá thành giai cấp Ngoài ra, do nhu cầu của trị thuỷ, thuỷ lợi,chống ngoại xâm, các công xã nông thôn của ngời Arian phải hợp sức lại, đồngthời tổ chức ra một bộ máy để một mặt điều hành các hoạt động Mặt khác, bảo
vệ, duy trì quyền lợi của giai cấp thống trị và trấn áp những cuộc đấu tranh củanô lệ và dân nghèo Do đó, nhà nớc của ngời Arian đã ra đời Đứng đầu nhà nớc
là vua, ngoài vua còn có một hội nghị đại biểu quý tộc cùng tham gia điều hànhcông việc Dới vua là một bộ máy quan lại giúp việc trông coi các mảng côngviệc cụ thể ở địa phơng, đứng đầu các liên minh công xã hoặc các công xã làmột thôn trởng ngoài ra còn có một số nhà chức trách giúp thôn trởng điều hànhcác công việc cụ thể Điều này chứng tỏ nhà nớc của ngời Arian trong khoảng
Trang 15thời gian này là nhà nớc chuyên chế trung ơng tập quyền sơ khai, nhng đó chaphải là nhà nớc điển hình vì vua cha phải là ngời nắm quyền lực về mọi mặt
Trong xã hội của thời đại Vêđa, nông dân công xã là lực lợng sản xuất chủyếu (dới sự cai quản của ngời Arian) họ làm ruộng của công xã, là đối tợng bóclột của công xã và quan lại Còn lúc này chế độ nô lệ cha thực sự phát triển và
điển hình Trong xã hội còn tồn tại rất nhiều loại nô lệ nh nô lệ bị bắt làm tù binh,nô lệ do nô lệ đẻ ra, những ngời dân tự do bị bần cùng hoá rồi biến thành nô lệhoặc do không trả đợc nợ nên phải gán thân làm nô lệ… tất cả d Và lúc này giữa nô lệ vàchủ nô vẫn có mối quan hệ ở chừng mực nào đó Có thể chủ nô vẫn lấy nữ nô làm
vợ hoặc nô lệ vẫn có quyền xây dựng gia đình riêng… tất cả d Trong xã hội mâu thuẫnchủ yếu không phải là mâu thuẫu giữa nô lệ với chủ nô mà là mâu thuẫn giữanông dân công xã với bọn quý tộc thống trị, và lúc này về cơ bản chế độ nô lệ ở
ấn Độ vẫn là nô lệ gia trởng, chế độ công xã nguyên thủy hoàn toàn tan rã
Khi định c, ngời Arian lấy làng xã làm đơn vị cơ sở, quan hệ thân tộc, kếthợp với quan hệ c trú Cộng đồng làng xã đợc duy trì lâu dài, sau trở thành mộtthiết chế xã hội có tính chất nền móng của ấn Độ
Về mặt xã hội, ngời Arian cũng du nhập vào ấn Độ chế độ đẳng cấp Ban
đầu sự phân biệt đó dựa vào cơ sở chủng tộc, chủ yếu giữa ngời Arian và các tộcngời bản địa ở ấn Độ Dần dần chế độ đẳng cấp đợc hình thành, những quy định
để phân biệt giữa các đẳng cấp đợc hình thành và ngày càng chặt chẽ hơn, lịch sửgọi đó là chế độ đẳng cấp Vacna hay chế độ chủng tính Vacna
Chế độ chủng tính đợc hình thành cùng với quá trình ngời Arian du nhậpvào ấn Độ Khi ngời Arian xâm nhập vào ấn Độ, trình độ phát triển của họ cònthấp hơn nhiều so với ngời bản địa Đravinđa, nghĩa là ngời Arian đang ở thời kỳtan rã của chế độ công xã thị tộc và sống với cuộc sống du mục Còn ngời
Đravinđa đã tạo dựng đợc cho mình một nền văn nông nghiệp rực rỡ Vì vậytrong quá trình phát triển, với cuộc sống định c, ngời Aravian muốn xác định địa
vị thống trị của mình đối với ngời Đravinđa, nên ngời Arian đã tìm ra chế độphân biệt những ngời Đrian và những ngời ngoài Arian… tất cả d trên cơ sở phân biệtmàu da, chủng tính Vì thế trong xã hội cổ đại ấn Độ đã xuất hiện chế độ đẳngcấp theo chủng tính
Chế độ đẳng cấp (Vacna) chia dân c ra làm 4 đẳng cấp khác nhau Đó là
đẳng cấp Bàlamôn tức tăng lữ, đứng ở vị trí hàng đầu Đẳng cấp thứ hai làRsatria tức võ sĩ Đẳng cấp thứ ba là Vaisia, gồm những ngời làm nghề nông,chăn nuôi, buôn bán, thủ công Đẳng cấp thứ t là Suđra - đẳng cấp tiện dân – Trung đại gồm những ngời cùng khổ Đẳng cấp này có nghĩa vụ và bổn phận phải phụctùng và phục vụ cho những đẳng cấp trên
Trang 16Chế độ đẳng cấp ở ấn Độ sau một thời gian dài mới trở thành quy địnhkhắt khe của xã hội và đã đợc khẳng định trong các bộ luật cổ nh luật Manuhoặc luật Apaxtamba Luật Manu là một tập hợp những điều quy định về cácnghi thức, những điều kiêng kị và nghĩa vụ trên giao Luật này theo truyềnthuyết, do ngời đầu tiên là Manu đợc thần ban cho nghĩa vụ soạn thảo rồi đợcnhiều thế hệ sửa chữa, bổ sung và hoàn chỉnh vào đầu công nguyên
Ngoài ra, sự tồn tại của chế độ đẳng cấp ở ấn Độ xuất phát từ giáo lý của
đạo Bàlamôn, giáo lý của đạo Bàlamôn cho rằng, có một vị thần tối cao làBàlamôn đã sáng tạo ra muôn loài trong vũ trụ, trong đó có con ngời Và theokinh Vêđa thì loài ngời đợc sinh ra với 4 tầng lớp: Bàlamôn đợc sinh ra từ miệngthần và trở thành đẳng cấp cao quý nhất, Ksatria đợc sinh ra từ tay thần, Vaixia
đợc sinh ra từ đùi thần và Suđra đợc sinh ra từ bàn chân của thần Trong đó, đẳngcấp Suđra trơ thành đẳng cấp thấp hèn nhất, kém cỏi nhất Pháp luật ở ấn Độthời kỳ này chỉ bảo vệ cho ba đẳng cấp trên, còn đẳng cấp cuối cùng bị coi là súcvật
Từ đây, chế độ đẳng cấp trở thành cơ sở cho sự phân chia giai tầng trongxã hội, là cơ sở cho những mâu thuẫn phát sinh Chế độ chủng tính trở thành “vậtcản” ngăn trở sự phát triển của lịch sử ấn Độ và đó là sự tồn tại của một chế độxã hội hà khắc, đầy bất công, tàn bạo và tội ác Cùng với thế giới lịch sử còn ghinhận sự tồn tại và dấu tích của nó
2.1.3 Vơng quốc Magađha và đế quốc Môria
Lịch sử ấn Độ từ thế kỷ VI – Trung đại TCN đến thế kỷ III sau CN, điển hình với
sự lớn mạnh của vơng quốc Magađha, cùng cuộc xâm lăng của Bat và Hy Lạp
và sự trởng thành của đế quốc Môria
Ngời Arian định c và hoà nhập với c dân bản địa, vào khoảng thế kỷ thứ VI – Trung đại TCN ở miền Bắc ấn Độ đã xuất hiện một số vơng quốc độc lập Trong đó có các vơngquốc Magađha, Anga, Viđiha, Casi, Côsala, Vátxa, Pansola, Curi và Avanti là tơng đốilớn mạnh Giữa các vơng quốc này thờng xẩy ra xung đột và thôn tính lẫn nhau Cuốicùng hai vơng quốc Magađha và Côsala trở nên hùng mạnh hơn cả
Vơng quốc Magađha đã nhanh chóng xây dựng, củng cố bộ máy củamình trở thành vơng quốc hùng mạnh nhất, và đến triều vua Bimbisara, vơngquốc Magađha thực sự là vơng quốc cờng thịnh nhất trong lịch sử tồn tại của v-
ơng quốc này Bimbisara, đã ra sức củng cố bộ máy hành chính, tăng cờng quân
đội và khuyến khích phát triển kinh tế Nhờ vậy, đến thế kỷ V – Trung đại TCN thìMagađha đã trở thành một vơng quốc hùng mạnh, lấy thành Pataliputara làm thủ
đô Ngoài ra, Bimbisara còn thi hành chính sách mở rộng lãnh thổ bằng chiếntranh xâm lợc nên đã quy thuận hầu hết các vơng quốc xung quanh dới sự thống
Trang 17trị của mình và thôn tính toàn bộ vùng đất đai sông Hằng đến tận vùng núiHymalaya Nhờ biết lợi dụng hệ thống sông ngòi dày đặc nên Magađha đã pháttriển mạnh về kinh tế thơng nghiệp Trong thế giới cổ đại thời Magađha đợc xem
là thế giới của thơng nhân Thế nhng, lịch sử luôn vận động và thay thế lẫn nhau,nên sau khi vua Bimbasara chết thì vơng quốc Magađha rơi vào tình trạng hỗnloạn, kéo dài đến tận năm 164 – Trung đại TCN Đến năm 362 – Trung đại TCN một ngời thợ cắttóc của cung đình (vốn xuất thân từ đẳng cấp Suđra) la Mahapatma Nanđa đã lật
đổ Magađha đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế – Trung đại văn hoá với các nớc lánggiềng, trớc tiên là vùng Iran và Apganixtan
Vào thế kỷ VI – Trung đại TCN, ở ấn Độ đồng thời xuất hiện hai tôn giáo lớn là
Đạo Phật và Đạo Gaina (Giaina) Sau này hai tôn giáo đó cùng với đạo Hinđu có
ảnh hởng tới đời sống tâm linh và văn hoá ở ấn Độ
Song song tồn tại và phát triển với vơng quốc Magađha, ở miền Tây Bắc
ấn Độ vẫn tồn tại các vơng quốc nhỏ, phân tán và xung đột lẫn nhau Thực tiễn
đó, là cơ sở cho những thuận lợi để các bên ngoài xâm lợc vào ấn Độ Chínhtrong thời điểm này, ở phía Tây ấn Độ, quốc gia Bat (Iran cổ đại) đã trở thànhmột nớc hùng mạnh ở châu á, Bat lần lợt tiến hành xâm lợc các nớc láng giềng,nhng cuối cùng Bat lại bị Hylạp thuần phục (vào năm 327 – Trung đại TCN) Năm 326 – Trung đại TCN, Alêchxanđrơ lại đem quân xâm lợc vùng hạ lu sông ấn Trong quá trìnhbành trớng sang phía Đông ấn Độ, quân Hylạp vấp phải sự kháng cự mãnh liệtcủa quân đội vơng quốc Magađha và sự phản đối của các binh sĩ Hylạp Mặtkhác, sau khi chinh phục miền Tây Bắc ấn Độ, Alêchxanđrơ bị vỡ mộng vì ấn
Độ không phải là vùng đất giàu có, thần kỳ nh truyền tụng Vì thế Alêchxanđrơbuộc phải từ bỏ kế hoạch tấn công Magađha và rút khỏi ấn Độ chỉ để lại một độiquân đóng ở hai cứ điểm
Sự kiện quân Hylạp tấn công xâm lợc ấn Độ cùng với những hậu quả taihại của chiến tranh, nó cũng du nhập nền văn hoá Hylạp vào ấn Độ, hoà cùngnền văn hoá bản địa, tạo nên sự giao thoa văn hoá giữa văn hoá phơng Đông vàvăn hoá phơng Tây nh một cầu nối giữa văn minh Địa Trung Hải và văn minhchâu á thời cổ đại
Sau khi Alêchxanđrơ rút khỏi ấn Độ và nhất là sau khi ông qua đời thìphong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ấn Độ lên cao, ngời lãnh
đạo phong trào này là Sanđra Gúpta Sanđra Gúpta vốn là một vị tớng có tài, đãtừng làm việc trong vơng triều Canđa, song vì bất mãn nên đã rời bỏ quê hơng
đến sinh sống ở miền Tây Bắc ấn Độ Nhờ tài năng và đợc sự ủng hộ của quầnchúng nhân dân, Sanđragup ta đã trở thành ngời lãnh đạo phong trào đấu tranh,sua khi giải phóng miền Tây Bắc nớc ấn khỏi ách thống trị của ngời Hylạp, thừacơ vơng triều Nanđa đang gặp phải rối ren, Sanđra Gúpta đã chỉ huy quân đội
Trang 18tiến thẳng về lu vực sông Hằng chinh phục vơng triều Ganđa và giành đợc ngôibáu lập nên vơng triều mới gọi là vơng triều Môria (tên gọi của một bộ lạc mạnhnhất hiệu con công lúc đó)
Vơng triều Môria do Sanđra Gúpta lập nên đã nhanh chóng phát triển vàchinh phục toàn bộ miền Bắc ấn, lấy thành Pataliputara làm thủ đô Sau đóSanđra Gúpta còn tiếp tục bành trớng thế lực xuống phía Nam và chinh phục đợcphần lớn miền cao nguyên Đê Can Còn phía Tây Bắc, Sanđra Gúpta đã tiến hànhxâm chiếm phần lớn miền Đông cao nguyên Iran thuộc vùng lãnh thổ củaApganitxtan Ngoài ra, Sanđra Gúpta còn thi hành chính sách đối ngoại mềmdẻo nh là cới con gái của Xêlơcut – Trung đại một vị tớng của Hylạp, để tạo mối quan hệhoà hảo, mở rộng ảnh hởng của mình về phía Tây
Sau khi Sanđra Gúpta chế thì con trai là Binđusara lên kế ngôi và tiếp tụcthi hành chính sách mở rộng lãnh thổ của vơng quốc Nhng đánh dấu sự cờngthịnh của vơng triều Môria phải chờ đến sự trị vì của vua Asôca, con trai củaBinđusara Dới thời Asôca Vácđana, lãnh thổ của đế quốc Môria trở nên rất rộnglớn, bao gồm hầu hết bán đảo ấn Độ trừ miền cực Nam Thời kỳ trị vị của Asôca
đợc ghi nhận là thời kỳ thịnh đạt nhất trong lịch sử cổ đại ấn Độ, thịnh đạt trêntất cả các lĩnh vực kinh tế – Trung đại xã hội, chính trị và ngoại giao
Lịch sử của các vơng triều không bao giờ ngừng vận động, sự hng thịnhcủa đế quốc Asôca cũng không loại trừ Thời kỳ thịnh đạt của đế quốc Asôcadần bị thay thế bằng sự suy vong và tan rã Xung quanh vấn đề tan rã của đếquốc Asôca còn rất nhiều ý kiến luận giải khác nhau Song dù ở bất kỳ luận điểmnào thì đó cũng là kết quả của sự vận động lịch sử Năm 236 – Trung đại TCN, Asôca qua
đời, đất nớc lâm vào tình trạng rối ren và ấn Độ trở thành miếng mồi ngon chongoại tộc dòm ngó và xâm lợc Vào những năm đầu của thế kỷ II – Trung đại TCN, ấn
Độ bị ngời Bactơria từ miền Trung á tràn vào xâm lợc Tiếp đó, vào giữa thế kỷ
II – Trung đại TCN, ngời Kusana hay còn gọi là ngời Quý Sơng đã xâm nhập vào ấn Độ,
ấn Độ bị đặt dới ách thống trị của ngời ngoại tộc trong suốt một thời gian dài.Lịch sử ấn Độ bớc vào thời kỳ mới, thời kỳ trị vì của các vơng triều ngoại tộc,lịch sử trung đại ấn Độ đợc định hình và tiếp diễn
2.2 Lợc sử trung đại ấn Độ
Thời kỳ phong kiến của lịch sử ấn Độ (thế kỷ IV đến thế kỷ XVIII) đợcghi nhận với sự tồn tại của các vơng triều ngoại tộc (ngoại trừ vơng triều Gúpta
và Hácsa) Đó chính là sự trị vì của vơng triều hồi giáo Đêlia (thế kỷ XII đến thế
kỷ XVI) và đế chế Môgôn (từ thế kỷ XVI – Trung đại XVIII)
Vào thế kỷ thứ III, ấn Độ bị chia cắt trầm trọng Năm 320, vơng triềuGúpta đợc thành lập, miền Bắc và miền Trung ấn Độ tạm thời thống nhất đợc một
Trang 19thời gian Năm 606, vua Hácsa dựng lên một vơng triều tơng đối hùng mạnh ởmiền Bắc ấn Năm 648, quốc gia hùng mạnh do ông dựng lên cũng tan rã
Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII là thời kỳ ấn Độ bị chia cắt và nhiều lần bịngoại tộc xâm nhập Đây là thời kỳ phong kiến phân tán trong diễn trình pháttriển của lịch sử ấn Độ Năm 1206, tổng đốc của Apganixtan thuộc miền Bắc ấn
đã tách miền Bắc ấn Độ thành một nớc riêng, tự xng mình là Xuntan (vua), đóng
đô ở Đêli, gọi là nớc Xuntan Đêli (vơng triều hồi giáo Đêli) Ngay khi lên làmvua, Gúttútđin Aibếch đã thi hànhmột số chính sách tiến bộ, thúc đẩy kinh tếphát triển, củng cố nền thống trị, đa ấn Độ phát triển lên một bớc Thế nhng, vàonăm 1210 Gúttútđin Aibếch qua đời, trong vơng triều diễn ra cuộc tranh giànhquyền lực, ngôi báu đẫm máu Thực trạng đó làm cho nớc Xuntan Đêli nhanhchóng rơi vào sự hỗn loạn và suy yếu Lợi dụng tình hình này đế quốc Mông Cổ
đã nhiều lần tấn công xâm nhập vào ấn Độ và tàn phá ấn Độ một cách tàn bạo,dã man Năm 1241, quân Mông Cổ chiếm đợc miền Tây Bắc ấn Độ Nhng thời
kỳ trị vì của ngời Mông Cổ chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn và nhanh chóng
bị thất bại Dới sự lãnh đạo của một tể tớng, nhân dân ấn Độ đã đuổi đợc quânMông Cổ ra khỏi lãnh thổ của đất nớc mình và đến năm 1625 thì Banban đợc lênlàm Xuntan Ngay sau khi nắm giữ quyền lãnh đạo, Xuntan Banban đã ra sứccủng cố quân đôi, tăng cờng khả năng phòng thủ đất nớc trớc những cuộc tấncông của quân Mông Cổ Sau khi Banban qua đời, Alaútđin lên kế ngôi, và lãnh
đạo nhân dân ấn Độ 3 lần đẩy lùi các cuộc tấn công xâm lợc của quân Mông Cổ,nhanh chóng bành trớng thế lực xuống phía Nam, sát nhập cả vùng Đê Can vàolãnh thổ của đế quốc Xutan Đêli Dới thời trị vị của Alantđin, ấn Độ phát triểncờng thịnh Nhng sự cờng thịnh của vơng triều Alantđin trị vì chỉ đợc duy trìtrong một thời gian ngắn, đề rồi sau khi ông qua đời thì nội bộ triều chính đãdiễn ra sự tranh chấp ngôi báu, quyền lực một cách quyết liệt và đẫm máu Hệquả tất yếu là quốc gia rơi vào tình trạng suy yếu Lợi dụng tình hình đất nớc hỗnloạn và suy yếu, các thế lực ngoại xâm đã đa quân vào đất nớc Xuntan Đêli đểxâm lợc Lần này, đội quân Mông Cổ lại xuất hiện và tiến hành thực hiện âm muxâm lợc quốc gia hồi giáo này Năm 1398 quân Mông Cổ tấn công đất nớc này
và nhanh chóng chiếm đợc thủ đô Đêli, rồi tiến hành cớp bóc, vơ vét của cảinhân dân, hãm hiếp phụ nữ, bắt nhân dân ấn Độ về làm nô lệ… tất cả d Tất cả đầy tìnhhình của đất nớc Xuntan Đêli rơi vào thực trạng hỗn loạn và tiêu điều
Vào đầu thế kỷ XV – Trung đại XVI, quốc gia hồi giáo này bị chia cắt ra thànhnhiều vơng quốc nhỏ và liên tục gây chiến lẫn nhau, làm cho ấn Độ không còn
đủ khả năng để chống đỡ, tự vệ trớc những đòn tấn công ồ ạt của các thế lựcngoại xâm Kết cục vào năm 1526, Xuntan Đêli bị ngời Môgôn xâm chiếm, ấn
Độ tiếp tục rơi vào ách thống trị của đế chế Môgôn, ngời dân ấn Độ tiếp tục
Trang 20cuộc sống với thân phận của những ngời dân mất nớc, những ngời nô lệ Đế chếMôgôn trên đất ấn Độ đặt dới sự cai trị của Babua Thế nhng Babua chỉ ở ngôi
đợc bốn năm Vào năm 1530, Babua chết, nội bộ đế chế Môgôn lại rơi vào tìnhtrạng của sự hỗn loạn và tranh giành Phải đến năm 1556, sau khi Humayun chế,con trai kế ngôi là Môhamét hiệu là Adsa lên ngôi đã chấm dứt thực trạng của sựhỗn loạn, mở ra một thời đại mới trong lịch sử ấn Độ nói chung và lịch sử củacác vơng triều ngoại tộc có mặt trên đất ấn Độ nói riêng, thời kỳ phát triển vàthịnh đạt Ngay sau khi lên ngôi, Acba đã thi hành một loạt những chính sáchtiến bộ, một mặt để củng cố nền thống trị, mặt khác để phát triển kinh tế, ổn
định và nâng cao đời sống cho ngời dân Đây là thời kỳ phát triển thịnh đạt nhấtcủa thời đại đế chế Môgôn
Đến giữa thế kỷ XVIII, thực dân Anh bắt đầu chinh phục ấn Độ, đến năm
1849 ấn Độ trở thành thuộc địa hoàn toàn của thực dân Anh Đến năm 1857 vơngtriều Môgôn bị diệt vong, lịch sử ấn Độ bớc vào một thời kỳ hoàn toàn mới
Nh vậy, sự phát triển của lịch sử ấn Độ thời cổ – Trung đại trung đại đó là sự kếtiếp và thay thế lẫn nhau giữa các vơng triều, dù đó là vơng triều nội tộc hayngoại tộc Sự phát triển tất yếu ấy đã trải qua biết bao biến động, thăng trầm củachính bản thân nó trong tiến trình vận động phát triển của lịch sử Nhng dù trongbất kỳ hoàn cảnh nào thì sự phát triển đó cũng là nền tảng, là cơ sở để ấn Độphát triển trong những giai đoạn tiếp theo
Trang 21Chơng 2: quá trình phong kiến hóa của
vơng triều Gúpta
* Vơng triều Gúpta (320 – Trung đại 500)
Khi đề cập đến quá trình phong kiến hoá, chính là đề cập đến bớc chuyểntiếp từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Đó là quá trình tiến tớihình thành và xác lập chế độ phong kiến, với hai nội dung cơ bản: là sự tập trungruộng đất vào tay quý tộc phong kiến làm phơng tiện bóc lột ngời lao động vàviệc biến nông dân công xã, lệ nông, nô lệ thành tá điền, nông nô Lúc đó, xã hộiphân thành hai giai cấp cơ bản: địa chủ và lệ nông – Trung đại nông nô Trong xã hội lúcnày phơng thức bóc lột chủ yếu đợc các quý tộc phong kiến sử dụng là địa tô ấn
Độ cũng không ngoại trừ quy luật tồn tại của lịch sử, với sự xác lập của vơngtriều Gúpta, lịch sử ấn Độ bớc vào quá trình phong kiến hoá
Vơng triều Môrya sụp đổ cùng với sự kiện Asôra, nhà vua lớn cuối cùngcủa lịch sử ấn Độ cổ đại qua đời (vào năm 236 – Trung đại TCN) Từ sau khi vơng triềunày sụp đổ cho đến triều Gúpta, chúng ta không biết rõ về lịch sử ấn Độ vì có rất
ít tài liệu hay công trình nghiên cứu đề cập đến lịch sử ấn Độ trong thời kỳ này.Cũng từ đó, ấn Độ đã không còn là một đế quốc thống nhất mà lâm vào tìnhtrạng bị chia xẻ Trong hai thế kỷ cuối cùng trớc công nguyên, lần lợt có nhiều
bộ tộc đã xâm nhập vào ấn Độ qua cửa ngõ Tây Bắc với đèo Khaibơ lịch sử.Khoảng đầu công nguyên, bộ tộc Kusana (ngời Trung Quốc gọi là Quý Sơng,một nhánh của tộc phục chi) thuộc các tộc Thổ Nhĩ Kỳ, đã đánh chiếm Kabul và
từ đó tràn qua khắp vùng Tây Bắc ấn Độ, thiết lập nên vơng triều Kusana
Nhà vua nổi tiếng của triều Kusana ở ấn Độ là Kaniska, trị vì trongkhoảng 25 năm (từ năm 78 – Trung đại 103 ?) Kinh đô lúc này là Purusapura (thuộcPakistan ngày nay) Từ đây trở đi các nhà vua triều đại Kasana tự xng là con thần(Đêvaputra) với một uy quyền tối thợng và tuyệt đối
Kanisa là một nhà vua sùng tín Đạo Phật Nhà vua đã cho đúc nhiều loạitiền đồng có in hình phật Thích Ca Chính vua Kaniska đã triệu tập ở Kasơmir
Đại hội Phật giáo lần thứ IV gồm 500 cao tăng, san định kinh Tam Tạng, chokhắc các kinh phật vào các tấm bảng đồng, truyền bá đạo Phật vào quảng đạiquần chúng Những nhân vật nổi tiếng trong lần kết tập kinh điển lần thứ IV này
đồng thời cũng là những học giả lớn về triết học, văn thơ nh các vị cao tăngAsơvagôsa (Mã Minh) và Nagacgiuna (Long Thọ) Họ cũng chính là những ngờisáng lập ra tông phái phật giáo Đại Thừa (Mahay – Trung đại ana), chủ trơng đa việc giácngộ đạo Phật vào đông đảo quần chúng nhân dân
Cũng trong triều đại Kaniska, nền văn hoá ấn Độ đã phát triển lên một
b-ớc mới với nền nghệ thuật kiến trúc điêu khắc, đặc biệt là các bức tợng Phật hình
Trang 22ngời đầy vẻ sinh động Điều đặc biệt, trong nghệ thuật điêu khắc của ấn Độ đã
có sự ảnh hởng, lan toả của nghệ thuật điêu khắc Hylạp Ngời ta nói rằng, cácthợ điêu khắc Gandara đã có một tâm hồn ấn Độ và đôi bàn tay Hylạp
Cùng với sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc, khoa học dới triều vuaKaniska có những bớc phát triển vợt bậc, để lại cho hậu thế những giá trị trờngtồn: thuật châm cứu, 500 tên cây thuốc, thuật chủng đậu… tất cả d
Thế nhng vào cuối thế kỷ III, vơng triều Kusana bớc vào con đờng khủnghoảng suy vong Sang đầu thế kỷ IV, ấn Độ rời vào tình trạng loạn lạc, chia cắt,giặc ngoại xâm và nô dịch Tuy nhiên, ngay sau đó một triều đại dân tộc đã h ngkhởi lên, đa ấn Độ đến đỉnh cao của một giai đoạn phát triển mới, với sự thốngnhất, hùng mạnh và thịnh vợng: đó là vơng triều Gúpta
Vơng triều Gúpta đợc sáng lập vào năm 320 và trải qua các triều vua cụthể: Chanđra Gúpta I, Samuđra Gúpta và Chanđra Gúpta II, với khoảng thời giantồn tại từ năm 320 – Trung đại 500 Thời gian tồn tại tuy không nhiều so với dòng chảycủa lịch sử, song vơng triều Gúpta đã để lại những dấu ấn không thể phai mờtrong lịch sử ấn Độ Vơng triều Gúpta ra đời cùng với quá trình xác lập chế độphong kiến của lịch sử ấn Độ hay còn gọi là quá trình phong kiến hoá
1 Quá trình phong kiến hoá về kinh tế
1.1 Quá trình phong kiến hoá về nông nghiệp
Trong thời kỳ cổ đại c dân ấn Độ sống và làm việc trong các công xãnông thôn với thân phận là các nông dân công xã tính chất bền vững của cáccông xã cùng chế độ đẳng cấp hà khắc đã duy trì ở ấn Độ một nền nông nghiệplạc hậu, trì trệ, tồn tại cùng một nền kinh tế khép kín, tự cung, tự cấp
Vơng triều Gúpta xác lập đã từng bớc làm mất đi tính độc lập của cáccông xã và đa nền kinh tế nông nghiệp ấn Độ bớc đầu đi vào sự phát triển mới.Các nông dân công xã của thời cổ đại giờ trở thành những nông dân nông nghiệpthực thụ Họ nhận ruộng đất của địa chủ hoặc phần ruộng của mình đợc phân cấp
để sản xuất và nộp tô thuế
Dới thời Gúpta, ấn Độ đã bắt đầu sử dụng rộng rãi công cụ lao động bằngsắt trong sản xuất kinh tế Lúc này kỹ thuật chế tạo công cụ lao động bằng sắt
đạt đến trình độ khá cao và nhờ có sự xuất hiện của những công cụ lao động này
mà con ngời đã có thể khai khẩn những khu rừng hoang, để từ đó mở rộng diệntích canh tác Bên cạnh đó, ngời dân ấn Độ đã biết đắp những con đập lớn đểchứa nớc và xây dựng đợc những con đê lớn để chống úng, chống lũ, phục vụcho nhu cầu tới tiêu trong quá trình sản xuất Điều đặc biệt là lúc này với sự xuấthiện của các công cụ lao động bằng sắt, diện tích canh tác mở rộng đã làm chocơ cấu mùa vụ của nền nông nghiệp ấn Độ có những chuyển biến lớn Trong quátrình làm kinh tế nông nghiệp, ngời dân đã biết sử dụng phân bón, biết phân chia
Trang 23các loại đất trồng, biết sử dụng kỹ thuật luân canh tăng mùa vụ và làm đa dạnggiống cây trồng, từ đó tăng năng suất lao động, năng xuất sản xuất Nhiều loạicây lơng thực, cây công nghiệp mới đợc c dân đa vào sản xuất, trồng trọt nh lúa,lúa mì, chàm, bông, đay… tất cả d Ngoài ra, họ còn trồng nhiều loại cây rau quả và cácloại cây gia vị nữa Nhiều nơi trên đất ấn Độ, lúc này đã xuất hiện những rặngdừa và đây đợc xem là loại cây quý hiếm vào thời điểm đó
Cùng với quá trình sản xuất trồng trọt, c dân ấn Độ còn biết kết hợp nuôirất nhiều loại gia súc nh trâu, bò, lạc đà, cừu… tất cả d Một mặt nó phục vụ cho quátrình sản xuất nông nghiệp và mặt khác nó cũng nâng cao đời sống cho ngời dân
ở nhiều nơi thuộc vùng hạ lu sông ấn và một số vùng thuộc Tây Bắc ấn Độ cònnuôi những giống ngựa địa phơng Tất cả hình thành nên cho ngành kinh tế nôngnghiệp mà còn nuôi những giống ngựa địa phơng Tất cả hình thành nên chongành kinh tế nông nghiệp ấn Độ một sự đa dạng, phong phú về chủng loại,thành phần Bớc đầu tạo ra những sự thay đổi trong cơ cấu ngành kinh tế chủ đạocủa nông thôn ấn Độ, điều mà trớc khi vơng triều Gúpta đợc xác lập cha có mộttài liệu nào đề cập đến, bởi nó cha xuất hiện trong lịch sử của quốc gia này
1.2 Thủ công nghiệp
Cùng với sự thay đổi, phát triển của ngành kinh tế nông nghiệp thì thủcông nghiệp ấn Độ thời kỳ này có những bớc khởi sắc mới, dù đó cha phải là sựphát triển vợt bậc Nếu nh trong xã hội cổ đại nông nghiệp và thủ công nghiệp làhai ngành kinh tế không tách rời nhau thì đến đây đã có sự tách biệt dù trình độsản xuất còn mang tính chất thủ công thô sơ Nghề dệt, vốn đã rất nổi tiếng tronglịch sử ấn Độ từ các vơng triều trớc đó, thì đến đây nó vẫn là nghề thủ công phổbiến nhất và giữ vị trí hàng đầu trong ngành kinh tế thủ công nghiệp Chỉ vớinhững khung cửi hết sức đơn giản và thô sơ, những ngời thợ thủ công khéo léocủa ấn Độ đã dệt nên những tấm vải mỏng, mềm, nhẹ nhàng với màu sắc độc
đáo Điều đặc biệt của những ngời thợ thủ công ấn Độ là các sản phẩm mà họtạo ra không có sự thay đổi về màu sắc mà nó giữ nguyên màu sắc ban đầu Vìvậy, nó trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của ấn Độ và đợc cácquốc gia phơng Tây yêu thích
Cùng với sự phát triển của nghề dệt thì nghề khai mỏ của ấn Độ tiếp tục
đợc phát triển trong giai đoạn này Ngời ấn Độ tiến hành khai thác sắt, vàng,muối và các loại đá quý… tất cả d tất cả đều là nguồn tài nguyên giàu có mà thiên nhiên
đã ban tặng cho vùng đất này Nhờ khai thác đợc nhiều kim loại mà nghề luyệnkim, rèn và làm đồ trang sức thời kỳ này đạt đến trình độ hoàn thiện
Sự phát triển của thủ công nghiệp ấn Độ thời kỳ này sau sự phát triển củanghề dệt và nghề luyện kim, không thể không nhắc đến nghề làm đồ trang sức.Bởi trong thời kỳ dân c ấn Độ, bất kể giàu nghèo, tất cả đều thích và dùng đô
Trang 24trang sức Họ không chỉ có mục đích dùng để làm đẹp mà họ còn dùng nó vớivai trò là vật cất giữ, để giành Tại các thành thị của ấn Độ thời đó, có vô số cáccửa hàng đầy nghẹt các thợ thủ công, họ cặm cụi, cần mẫn chạm trổ, sáng tạo đểlàm ra những sản phẩm có giá trị thẩm mỹ cao, phong phú về màu sắc và chủngloại, kiểu dáng: móc, trâm, châu ngọc, dây đeo, dao, lợc… tất cả d tất cả đều đợc làm từnhững nguyên liệu vốn có của chính họ: vàng, bạc, đá quý, ngà voi… tất cả d Đấy đều lànhững sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao
Bên cạnh đó, thời kỳ này ở ấn Độ nghề đóng thuyền đã đạt đợc nhữngthành tựu đáng kể Ngời ta đã đóng đợc những con thuyền lớn chở đợc hàng trămngời, thuyền có buồm và nhiều mái chèo thích hợp với những chuyến đi dài ngàytrên biển Dới thời kỳ trị vì của vơng triều Gúpta, nghề xây dựng của ấn Độ tuycha thực sự khởi sắc, song bớc đầu nó đã có những sự phát triển tạo nền tảng Tấtcả tạo nên sự đa dạng trong quá trình phát triển của ngành kinh tế công nghiệpmang tính thủ công của ấn Độ trong thời kỳ này
1.3 Thơng nghiệp
Song song với sự phát triển của ngành kinh tế thủ công nghiệp, thơngnghiệp ấn Độ, thời kỳ này cũng có những kết qủa vợt bậc Chính sự xuất hiệnmầm mống của nền kinh tế hàng hoá, nó đã phá vỡ tính chất khép kín của cáccông xã nông thôn Giữa các vùng miền trong khu vực đã diễn ra sự giao lu kể cả
sự giao lu giữa các vùng Các hội buôn đã đợc thành lập dù phạm vi hoạt độngcòn nhỏ hẹp Đó là các phờng hội sản xuất một mặt hàng nhất định và tiến hànhtrao đổi với nhau Sự xuất hiện của sự trao đổi buôn bán đồng nghĩa với sự xuấthiện của quan hệ t hữu và quan hệ hàng hoá Điều này chứng tỏ dới thời Gúptanền sản xuất hàng hoá đã xuất hiện và dần thay thế nền kinh tế khép kín của thời
cổ đại Sông Hằng với các chi lu và các nhánh sông của nó trở thành mạch máugiao thông chính của vùng Bắc ấn Nhiều tuyến đờng buôn bán nối liền giữa cácvùng khác nhau trên bán đảo đợc hình thành và trên những tuyến đờng đó cónhiều đoàn gia súc chở hàng hoá qua lại Hàng hoá dùng để trao đổi thời kỳ nàychính là những sản phẩm đợc ngành thủ công nghiệp tạo ra và những khoáng vật
đợc thiên nhiên u đãi, ban tặng cho ấn Độ: đồ trang sức, tơ lụa, hơng liệu, đáquý… tất cả d trong đó con đờng tơ lụa chính là huyết mạch của ngành kinh tế thơngnghiệp ấn Độ Đây không phải là mặt hàng mới mà nó chính là mặt hàng truyềnthống của c dân nơi đây Các nớc phơng Tây biết đến mặt hàng này với tính chất
là món hàng xa xỉ nhng rất đợc yêu chuộng
Ngoài ra, thời kỳ này ngành kinh tế thơng nghiệp ấn Độ xuất hiện mộtmặt hàng mới dùng để trao đổi và buôn bán, đấy là ngựa chiến Nó trở thành mặthàng đa lại nhiều giá trị cho ấn Độ trong giai đoạn lịch sử này cả về mặt kinh tế
Trang 25và sử dụng Vậy nên ngựa chiến đợc xem là một trong những mặt hàng xa xỉ của
ấn Độ trong thời kỳ này
Ngoại thơng ấn Độ thời kỳ này càng trở nên tấp nập và phát triển hơn trêncơ sở ấn Độ đã có một nền mậu dịch đối ngoại lâu đời Dới thời Gúpta, các th-
ơng nhân ngời Hylạp, La Mã đổ xô vào thị trờng ấn Độ, một thị trờng sôi động
và đa dạng về hàng hoá mà ngay từ thời cổ đại các nớc phơng Tây đã dày côngtìm kiếm Thơng nhân nớc ngoài vào thị trờng ấn Độ mua hơng liệu, dầu thơm,thuốc gián… tất cả d và phải trả với một mức giá rất cao đối với các mặt hàng xa xỉphẩm
Cùng với sự phát triển của lĩnh vực kinh tế ngoại thơng bằng đờng bộ thì
sự phát triển của ngành kinh tế ngoại thơng trên biển ở ấn Độ thời kỳ này nhộnnhịp rất nhiều Đợc sự u đãi của thiên nhiên, ấn Độ trở thành nơi hội tụ của rấtnhiều con sông, nhánh sông, các cảng lớn và đó chính là điều kiện thuận lợi, làtiền đề để ngành kinh tế này phát triển ở thời kỳ này, các hải cảng Tamralípti ởcửa sông Hằng, Brốc và Campây ở bờ biển Tây Bắc ấn Độ là những hải cảnglớn, có vai trò quan trọng trong quá trình thông thơng Các thơng nhân ấn Độ từnhững hải cảng này đã vợt biển để đến các châu lục khác giao lu, trao đổi hànghoá, thị trờng nh Ai Cập, Trung Quốc, các nớc phơng Đông, các đạo thuộc quần
đảo Mã Lai… tất cả d Trong số đó có nhiều ngời đã ở lại định c, buôn bán ở những vùng
đất này, gây dựng nên những thực dân địa buôn bán, gọi là các “làng ấn Độ”.Những c dân mới này dần dần bị địa phơng hoá, bản địa hoá, họ bắt đầu côngviệc truyền bá nền văn hoá của mình cùng với quá trình giao lu, buôn bán Đấy
là một trong những lý do giải thích vì sao văn hoá ấn Độ sớm vợt ra khỏi biêngiới quốc gia, có mặt ở nhiều nớc trên thế giới và đợc đón nhận mau lẹ
Nh vậy, thông qua quá trình tìm hiểu tình hình kinh tế dới thời trị vì củavơng triều Gúpta, chúng ta thấy đợc sự phát triển về mọi mặt trong cơ cấu nềnkinh tế của ấn Độ Đến lúc này, ấn Độ đã trở thành một quốc gia có nền kinh tếphát triển, đa dạng về cơ cấu ngành cũng nh cơ cấu sản phẩm, và một xã hội ổn
định với các chính sách tiến bộ của nhà nớc chính là tiền đề, là cơ sở cho mộtnền kinh tế phát triển Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã thúc đẩy choquan hệ xã hội có những chuyển biến to lớn
2 Sự phong kiến hoá về chính trị, văn hoá - t tởng
2.1 Văn hoá
Sau mấy trăm năm hỗn loạn, phân tranh, đến thế kỷ IV quốc gia ấn Độtrở nên cờng thịnh dới triều đại dân tộc Gúpta mà nhà vua nổi tiếng nhất làChanđra Gúpta II, có biệt hiệu là “Mặt trời dũng cảm” Cùng với sự cờng thịnh
về kinh tế vơng triều Gúpta đạt đến đỉnh cao của sự cờng thịnh về văn hoá, nhất
là dới thời kỳ trị vì của Chanđra Gúpta II, ấn Độ đạt tới một trình độ văn minh
Trang 26cha bao giờ có trong lịch sử ấn Độ Nhà s Pháp Hiển, một trong số không nhiềunhà s Trung Quốc đến ấn Độ vào thời kỳ hoàng kim của thời đại Gúpta (từ năm
400 đến 411) đã hết sức ngạc nhiên và khâm phục về sự giàu có, tự do của ngời
ấn Độ Ngời dân đợc tự do đi lại, tự do chọn lựa tín ngỡng, hệ t tởng của mình.Dới thời trị vì của Chanđra Gúpta II với những chính sách tiến bộ, nhà vua này
đã tập hợp chung quanh mình nhiều nhân tài trí thức và những nhà văn hoá lỗilạc, đợc gọi chung là “9 viên ngọc quý”, trong đó có nhà thơ kiêm nhà soạn kịchnổi tiếng Kaliđasa và nhà thiên văn kiêm toán học xuất sắc Varahamihira Saunày, giới nghiên cứu sử học đều thống nhất đặt tên cho vơng triều Gúpta là “thời
đại hoàng kim” của lịch sử ấn Độ
Kaliđasa đợc thừa nhận là nhà thơ, nhà soạn kịch lớn nhất trong nền vănhọc tiếng phạn Cái tên Kalidasa – Trung đại Giáo s Sylvain Levi nói – Trung đại chi phối nền thơ
ca ấn Độ và thâu tóm nó một cách xuất sắc Drama, sử thi bác học, thi ca, đếnngày nay còn đang chứng nhận sức mạnh và sự linh hoạt của thiên tài lỗi lạc đó,
là nguồn duy nhất trong đám môn đệ của Sarasvati (nữ thần tri thức và các nghệthuật), ông đã may mắn tạo nên sự kiệt tác thật sự kinh điển, mà ở đó ấn Độ tự
ca ngợi mình và ở đó nhân loại tự nhận ra mình Kalidasa là ngời trong số nhữngngời may mắn mà cuộc đời đã đối xử nh đứa con yêu và đã hởng đợc vẻ đẹpcũng nh sự dịu dàng của nó hơn là những cạnh thô ráp của nó
Một trong những trờng ca của ông là “Meghaduta”, Điệp Sứ Mây Nhà sửhọc Mỹ, Ryder đã dành cho trờng ca này và cho Kalidasa một sự ca tụng hết sức
đẹp đẽ Ông dựa vào hai phần của trờng ca nói: “phần đầu là một sự mô tả tựnhiên bao quanh những điểm xuyết bằng tình cảm con ngời; phần sau là bứctranh về lòng ngời, nhng bức tranh đó là đóng khung trong vẻ đẹp của tự nhiên
Nó sâu sắc, tế nhị đến nỗi không có ai có thể nói phần nào hay hơn”
Cũng trong thời kỳ trị vì của Chanđra Gúpta II, nhân loại còn biết đến vởkịch “Mudra Raksasha” hay là cái ân của Vishaha-datta Đây là vở kịch thuầntuý chính trị không có động cơ tình yêu hoặc chuyện thần thoại
Cùng với văn học, toán học đến thời kỳ này có những sự phát triển vợtbậc Nhà toán học kiêm nhà thiên văn học lỗi lạc của ấn Độ sống dới thời Gúpta
là Aryabata Ông là ngời đã hoàn chỉnh hệ thống dấu thập phân có số không (0),biết rút căn thức bậc 2, bậc 3, biết tính toán những khái niệm cơ bản về lợng giác
nh sin, cosin
Aryabata là ngời đã đa ra một định lý nổi tiếng có liên quan đến hằng thức
đáng nhớ, nội dung cơ bản đợc diễn đạt nh sau: “Lấy bình phơng của một tổngtrừ đi tổng của bình phơng hai số rồi đem chia đôi, ngời ta sẽ đợc tính của hai số
đó”
Trang 27ab =
(a+b)2 – Trung đại (a2 +
b2) … tất cả d [16,55]
2Cũng Aryabata là ngời ấn Độ đầu tiên phát hiện ra cách tính chu vi củamột đờng tròn tơng đơng với cách dùng số pi () Đó là luận đề: “Sáu mơi hainghìn tám trăm ba mơi hai suýt soát là chu vi của một đờng tròn có đờng kính làhai mơi nghìn”
(từ đó suy ra TL = 62.83220.010 = 3.1416) [16,55]
Aryabata xứng đáng đợc coi nh ngời thầy đã xây dựng nên nền móng củanền khoa học truyền thống của ấn Độ Năm 1975, vệ tinh đầu tiên của ấn Độ đ-
ợc phóng lên vũ trụ, đã mang tên là “Vệ tinh Aryabata”
Đồng thời với triều đại Gúpta, ở miền Trung ấn, ngời ta còn thấy đợc một
kỳ quan của nền mỹ thuật cổ đại, đó là phức hợp các chùa hang Agianta (thuộcbang Maharastra ngày nay) nổi tiếng thế giới Di tích nghệ thuật độc đáo này đã
đắm chìm trong quên lãng qua hàng chục thế kỷ và chỉ đợc phát hiện lại vào năm
1819 Phức hợp Agianta gồm 30 ngôi chùa đợc khoét sâu vào vạch núi bằng một
kỹ thuật điêu luyện Mỗi một ngôi chùa là một tác phẩm điêu khắc trên đá vớinhững vòm cửa, hàng cột, các tợng phật, phù điêu… tất cả d Đặc biệt, trên vách đá, trầnnhà là các bức bích hoạ, phần lớn lấy đề tài phật giáo, đã gây đợc ấn tợng sâu sắccho ngời xem qua những đờng nét uyển chuyển, bố cục hài hoà và màu sắc đẹp
đẽ Nghệ thuật bố trí ánh sáng khéo léo trong hang đã làm cho những hình ảnh
đó đợc sống động, tuỳ theo góc độ xem tranh mà thể hiện vẻ trầm t nghiêm nghịhoặc dịu dàng mỉm cời
Một nhà nghiên cứu nghệ thuật ấn Độ đã nhận xét về Agianta: “Tình cảm
ở đây đã đợc biểu hiện rõ rệt dới các hình thức khác nhau: trong sắc lá mùaxuân, trong dáng ngọn cây nghiêng mình trớc cơn giông tố, trong cách đứngngồi, cách cau mày, trong dáng điệu uể oải của làn mi cụp xuống, trong cái runrẩy của đôi môi, trong cách lâu một giọt lệ hoặc cách hạ tâm mạng choàng… tất cả d”[16,46] Nhà s Trung Quốc Huyền Trang khi đến thăm hang động này (thế kỷVII) cũng ghi lại: “ở đây, tất cả mọi thứ đều kỳ vĩ, đồng thời tất cả mọi thứ cũng
đều tinh tế… tất cả d” [8,56]
Trong những thành tựu về mặt nghệ thuật – Trung đại kiến trúc của ấn Độ, ngời tacòn biết đến một chiếc cột sắc độc đáo Nhờ kỹ thuật luyện kim phát triển, ngời
ta đã đúc đợc một chiếc cột sắc kỷ niệm nặng 6,5 tấn, đờng kính 0,40m và caohơn 7m dựng ở một giáo đờng ở Đêli Ngày nay, mọi ngời vẫn ngạc nhiên: “Saugần 16 thế kỷ dầm ma dãi gió, chiếc cột vẫn lúc nào cũng bóng nhẵn, không hề
bị hen rỉ”
2.2 Về t tởng – Trung đại kiến trúc
Trang 28Dới triều Gúpta, các tôn giáo và các giáo sỹ đều đợc tự do phát triển Song
điều đáng chú ý là đạo phật tuy vẫn tồn tại, có ảnh hởng lớn và đợc nhiều vị vuabảo vệ nhng không còn mạnh nh dới thời Asôca và Kanisca nữa Đến đây đạoBàlamôn dần đợc phục hồi và cải cách để phù hợp với thực tế xã hội, nó xuấthiện dới dạng một tôn giáo mới là ấn Độ giáo (đạo Hinđu) Vì vậy có thể nói
đạo Hinđu là thời kỳ tiếp nối và nâng của Bàlamôn Hinđu giáo chính là sự hứngkhởi trở lại của Bàlamôn trớc đó
Trong quá trình suy thoái, đạo Phật đã phân hoá thành hai giáo phái: pháiTiểu Thừa ở phía Nam và phái Đại Thừa ở phía Bắc Sự phân biệt giữa hai tôngphái Tiểu Thừa và Đại Thừa trong phật giáo là một sự phân biệt của hai tôngphái cùng có chung tôn chỉ và mục đích nhng có những quan điểm khác nhau vềphơng pháp và phơng tiện Cả hai tông phái đều thừa nhận vài trò chủ soái tôngiáo của Phật Thích Ca, đều công nhận những quan điểm cơ bản giáo lý của ĐứcPhật, đều dựa vào đoàn thể Thích Ca, nghĩa là đều lấy Tam Bảo (Phật, Pháp,Tăng) làm kim chỉ nam cho học thuyết của mình Tuy nhiên, lúc này giáo lý của
đạo Phật ngày càng uyên thâm và khó hiểu, mang nặng tính chất siêu hình tựbiện, vợt khỏi tầm hiểu biết của đa số quần chúng Mặt khác, một bộ phận trongtăng đoàn có phần nào bị biến chất Một tông phái mới là Mật giáo có điều kiệnphát triển Tông phái này đã phát triển phần triết học – Trung đại tôn giáo duy tâm cực
đoan của phật giáo Đại Thừa nhng đã bị thần bí hoá trong quần chúng bởi những
lý thức mang tính chất mê tín dị đoan Chính trong tình hình này, đạo Hinđu đãtranh thủ đợc quần chúng lấn át dần thế lực của phật giáo bằng một quá trình
đồng hoá hòa bình và trở thành quốc giáo của ấn Độ Từ đâu công nguyên đếnthời kỳ trị vì của vơng triều Gúpta, một trung tâm tôn giáo ra đời ở Mathura,cách Đêli 100km về phía Đông – Trung đại Nam, trên bờ sông Yamuna Những ngôi đềnHinđu giáo đợc xây dựng ở đây, qua những phù điêu cho thấy rõ phong cáchGúpta ở Sanchi, trên sông Namada, miền Trung ấn Độ, cách Mathura 400km
về phía Nam, nơi đó có Stupa chính hay Stupa lớn, hình bán cầu hay hình bát úp,cao 15m, đờng kính 35m Stupa Sanchi cũng nh các Stupa khác là nơi chứa đựngxá lị Phật (hay thánh tích – Trung đại dhatu) mà giá trị nghệ thuật của nó không phải ởkiến trúc sơ giản mà ở 4 cổng vào 4 hớng, mỗi cổng gồm có 2 cột với 3 xà ngangtợng trng cho ttân thể phật, làm bằng đá, trên đó chạm khắc dày đặc phù điêu,thể hiện các tính phật, cây cối, chim muông, dã thú, bánh xe pháp luân, quýMara, các lâm nữ Yaksini Đặc biệt là các lâm nữ trong t thế treo ngời, đu rớnngời, chân đạp thân cây… tất cả d
Lúc này các chùa cũng đợc làm thêm và hoàn chỉnh Có nhiều khu chùahoang hoặc chùa vách núi nhng đặc biệt phong phú là hai khu Ajanta và Ellora.Ajanta có 29 hang, Ellora cũng có hàng chụ hang Ngời ta đã lợi dụng hang đá,