Lịch sử vấn đề Nghiên cứu Phật giáo nói chung cũng nh nghiên cứu về Phật giáo Nhật Bản nói riêngcho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩmcủa nhiều tác giả trong v
Trang 1Mục lục
Phần 1: mở Đầu
Phần 2: nội dung
Chơng 1: Vài nét khái quát quá trình ra đời và giáo lý của phật giáo.
1.1 Cơ sở ra đời và sự ra đời của Phật giáo.
1.1.1 Cơ sở ra đời.
1.1.2 Sự ra đời.
1.2 Giáo lý của Phật giáo.
1.2.1.Tam tạng kinh điển.
1.2.2 Giáo lý.
1.2.3 Giới luật và lễ nghi.
1.3 Quá trình lan toả ra bên ngoài của Phật giáo.
Chuơng II: Quá trình du nhập của phật giáo vào Nhật Bản.
2.1 Khái quát về đất nớc, con ngời và văn hoá truyền thống của Nhật Bản.
2.1.1 Hoàn cảnh địa lý.
2.1.2 Văn hoá truyền thống.
2.2 Sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản.
2.2.1 Quá trình du nhập và niên đại Phật giáo truyền đến Nhật Bản.
2.2.2 Cuộc đấu tranh giữa hai trờng phái sùng Phật và bài Phật.
2.2.3 Tô ngã Mã Tử với Phật giáo.
2.2.4 Thái độ của Thiên Hoàng đối với Phật giáo.
chơng III: Các tông phái phật giáo ở Nhật Bản trong thời kỳ cổ - trung đại.
3.1 T tởng Phật giáo trong Hiến pháp.
Trang 2Phật giÌo ra Ẽởi vẾo thế kỹ VI trợc cẬng nguyàn ỡ ấnườ, Phật giÌo Ẽ· cọ mờt thởi kỷ phÌt triển mỈnh mé vẾ huy hoẾng ỡ ngay tràn quà hÈng Ẽ· sản sinh ra nọ, nhất lẾ dợi thởi kỷ AsẬka thuờc vÈng triều MẬria(thế kỹ III trợc cẬng nguyàn) Sau Ẽọ, ẼỈo Phật Ẽ· vùt ra ngoẾi biàn giợi ấn ườ Ẽể Ẽến cÌc khu vỳc khÌc nhau tràn thế giợi, mờt trong nhứng khu vỳc chÞu ảnh hỡng sẪu s¾c cũa Phật giÌo lẾ ChẪu Ì (Trung Quộc, ưẬng Nam Ì) trong Ẽọ cọ cả Nhật Bản.
Việc tỨm hiểu sỳ du nhập cũa ẼỈo Phật vẾo Nhật Bản cúng nh nhứng Ẽặc
Ẽiểm cũacũa Phật giÌo ỡ Nhật Bản trong thởi kỷ Ẽầu mờt mặt cho phÐp chụng ta hiểu mờt cÌch sẪu s¾c hÈn bản s¾c vẨn hoÌ cũa “xự sỡ hoa anh ẼẾo” Mặt khÌc giụp chụng ta cũng cộ thàm nhứng kiến thực lÞch sữ, vẨn hoÌ Nhật Bản trong thởi
kỷ cỗ trung ẼỈi
Nhật Bản cúng nh Việt Nam Ẽều chÞu ảnh hỡng sẪu s¾c cũa vẨn hoÌ Trung Quộc, mẾ trong Ẽọ thể hiện ró nhất lẾ ảnh hỡng cũa Nho giÌo Việt Nam vẾ Nhật Bản cúng nh nhứng quộc gia Ẽ· tiếp thu vẾ chÞu ảnh hỡng cũa ẼỈo Phật, mẾ Ẽiểm giộng nhau cẨn bản lẾ ỡ chố cả hai quộc gia Ẽều tiếp thu vẾ chÞu ảnh hỡng cũa Phật giÌo ưỈi thửa thẬng qua lẨng kÝnh cũa ngởi Trung Hoa Tuy nhiàn, khi thẪm nhập vẾo mối quộc gia ẼỈo Phật Ẽ· hoẾ quyện vẾo tÝn ngớng dẪn gian, phong từc
Trang 3tập quán của mỗi dân tộc Cho nên, ở mỗi một quốc gia đạo Phật mang một sắc diện mới Thông qua việc tìm hiểu quá trình du nhập và những đặc điểm của Phật giáo Nhật Bản trong thời kỳ sơ kỳ, cũng nh những cốt cách văn hoá của họ giúp cho chúng ta có điều kiện thuận lợi trong việc giao lu, trao đổi về mọi mặt Nhất
là trong giai đoạn hiện nay khi mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đang ngày càng đợc cải thiện, sự trao đổi giao lu cả về kinh tế lẫn văn hoá đang ngày càng
đẩy mạnh Thiết nghĩ, thông qua đó sẽ ít nhiều giúp chúng ta rút ra đợc nhiều bài học bổ ích cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu Phật giáo nói chung cũng nh nghiên cứu về Phật giáo Nhật Bản nói riêngcho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩmcủa nhiều tác giả trong và ngoài nớc nh : “ lịch sử Phật giáo thế giới” ( pháp s Thánh
Nghiêm)[11], “Các tôn giáo thế giới” (Nguyễn Mạnh Hào dịch)[8], “Các hình
thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng” (X.A-Tocarev)[14], “Phật giáo những vấn đề triết học” (Nguyễn Hùng Hậu, Ngô Văn Doanh dịch)[9], “Tìm hiểu
về đạo Phật của Nhật Bản” (Nguyễn Thuý Anh)[2], “Lịch sử nhà Phật” (Đoàn
Chu Còn)[4], “Lịch sử ba tôn giáo thế giới” (Lơng Thị Thoa )[15], “Mời tôn giáo lớn trên thế giới” (Hoàng Tâm Xuyên)[18], “Bách khoa th Nhật Bản” (Richar
Dbowring và Peter Kornicki)[3], “Lịch sử Nhật Bản” (Goerge)[5], “Nhật Bản câu chuyện về một quốc gia” (Edwino Reischauer)[13], “Lịch sử Nhật Bản” (Phan
Ngọc Liên)[12]…
Trong “Mời tôn giáo lớn trên thế giới” của tác giả Hoang Tâm Xuyên, tác
giả đã đề cập đến điều kiện lịch sử, xã hội, sự xác lập và các giáo lý đạo Phật, Phật giáo truyền ra bên ngoài nh Phật Bắc Truyền và Phật Nam Truyền…
“Lịch sử Phật giáo thế giới” của tác giả Pháp s Thánh Nghiêm, tuy chủ yếu
trình bày quá trình khai sáng phát triển và thay đổi của Phật giáo nhng nó luôn có quan
hệ gắn bó chặt chẽ với những bớc trởng thành của toàn bộ nền văn minh nhân loại
“Nhật Bản câu chuyện về một quốc gia” của tác giả Reischauer kể về Nhật
Bản từ thời Cổ đại tới thời Minh Trị Các niên biểu lịch sử Nhật Bản, các sự kiện
Trang 4chính nh chiến tranh với Nga từ 1904 đến 1905, việc xây dựng đế quốc cho đến chiến tranh thế giới thứ II và sự phát triển của chế độ độc tài quân sự dẫn đến chiến tranh thế giới, những sự kiện sau chiến tranh thế giới thứ II và tất cả những
sự kiện chính trong các năm tiếp theo
“Ba tôn giáo thế giới” của tác giả Lơng Thị Thoa là một tài liệu mang tính
chất thông sử để bồi dỡng kiến thức về tôn giáo thế giới cho các giáo viên hàng năm
“Phật học phổ thông khoá V” của Hoà Thợng Thích Thiền Hoa, trình bày về lịch sử
truyền bá Phật giáo, sự phát triển của các bộ phái Tiểu thừa và Đại thừa…
Thông qua những công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã có dịp tiếp cận, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài : “Tìm hiểu quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản” làm đề tài
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp lôgic- lịch
sử Ngoài ra trong quá trình sử lý t liệu chúng tôi còn kết hợp một số phơng pháp khác nh so sánh, đối chiếu,thống kê, tổng hợp…
5 Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kêt luận, luận văn gồm 3 chơng
Chơng 1: Vài nét khái quát quá trình ra đời và giáo lý của Phật giáo
Chơng 2: Quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản
Chơng 3: Các tông phái Phật giáo ở Nhật Bản trong thời kỳ Cổ- Trung đại
Trang 5Phần 2 - nội dung
Chơng I
Vài nét khái quát quá trình ra đời
và giáo lý của Phật giáo.
1.1 cơ sở ra đời và sự ra đời của Phật giáo
1.1.1 Cơ sở ra đời
Đạo phật là một trong ba tôn giáo lớn trên Thế giới, ra đời ở ấn Độ cổ đại khoảng thế kỷ VI TCN Trải qua lịch sử gầ
n hai ngìn năm trăm năm, đạo phật đã thu hút hàng trăm triệu tín đồ và
có mặt ở nhiều quốc gia trên khắp các châu lục Ngời dân ấn Độ rất tự hào vì đã sản sinh ra Đạo Phật đúng nh lời nhận xét của J.Nehru “Đạo Phật đã xuất hiện ở
ấn Độ và là bộ phận không thể tách rời cuộc sống văn hoá và triết học ở ấn Độ”.[15,39]
Vậy những tiền đề cho Đạo Phật ra đời đó là:
- chính trị: ấn Độ có nền văn minh sớm, đó là nền văn minh đô thị, có từ thiên niên kỷ III đến nửa thế kỷ II, chủ nhân của nó là ngời bản địa Đraviđa
Sau đó, nền văn minh này bị tàn tạ đi do ngời Arya tàn phá Lúc bây giờ
ng-ời Arya vốn sống ở vùng Trung á và họ đã di c vào ấn Độ, họ không lấy trung tâm sông ấn mà họ chỉ lấy trung tâm sông Hằng, bởi vì vùng Đông Bắc thuận lợi hơn đất tốt, ma nhiều, nớc d dật hơn có nền kinh tế biển Tuy nhiên,văn minh của ngời Arya còn thấp kém, bởi vậy họ thống trị ngời Đraviđa có nền văn minh văn hoá cao hơn để thống trị đợc họ phải dùng biện pháp phân biệt chủng tộc rất gắt gao, đó chính là chế độ phân biệt đẳng cấp vacna cùng với sự tồn tại của công xã nông thôn, nó kéo dài từ 1500- 600 đợc gọi là thời kỳ Vêđa Lúc bây giờ cha có nhà nớc mà chỉ tồn tại tổ chức công xã nguyên thuỷ, dần dần nó liên hiệp các công xã nông thôn lại và hình thành nên hàng trăm tiểu quốc ở sông Hằng, các tiểu
Trang 6quốc này thờng xuyên gây chiến tranh tiêu diệt lẫn nhau Đến thế kỷ VI TCN còn
có 16 tiểu quốc tơng đối lớn, trong đó nổi bật lên hai vơng quốc lớn nhất là Magađa (Magoaha) nằm trên lu vực trung du và hạ du sông Hằng (ngày nay là tỉnh Bi ha) và vơng quốc Kôsala (trung tâm ở vùng tỉnh A út ngày nay) Hai tiểu quốc này luôn gây kình địch nhau Cuối cùng một cuộc chiến tranh giữa hai tiểu quốc diễn ra trong một thời gian dài Magađa đã thắng lợi vì do Magađa ở vùng hạ
lu nên đất đai tốt kết hợp với nền kinh tế biển nên kinh tế phát triển mạnh Từ đó lập nên vơng quốc Magađa
Tuy vậy Magađa vẫn cha đủ sức để thống nhất vùng Bắc ấn, bên cạnh Magađa vẫn còn nhiều tiểu quốc A’rập
- Xã hội: Chế độ phân biệt chủng tộc, giàu nghèo rất khắc nghiệt, bởi vì nó chia xã hội ra thành chế độ Varna gồm 4 đẳng cấp với quyền lợi địa vị, nghĩa vụ khác nhau, đó là Bàlamôn, Xatơria, Vaisya, Xuđơra Ngoài ra còn có những ngời quá thấp họ bị đặt ra ngoài vòng đẳng cấp đó là Paria và Sanđala
Chế độ đẳng cấp đợc thần thánh hoá cho rằng đẳng cấp do thần tạo ra bởi vậy nó trở thành nghiêm ngặt, nó trói buộc con ngời bất công, thậm chí vô nhân
đạo, đẳng cấp đó không những là đẳng cấp bị trị chán ghét mà ngay cả đẳng cấp Xtơria (vơng công, quý tộc và võ sĩ) cũng rất bất bình
- T tởng - Triết học: Cùng với chế độ đẳng cấp khác khắc nghiệt đó thì xuất hiện đạo Bàlamôn phụ hoạ cho nó Vì đời sống vật chất cũng nh t tởng của tầng lớp bị trị bị bóp ngẹt, nên những cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trên lĩnh vực t t-ởng và tôn giáo, tiêu biểu đó là trờng phái triết học chứa đựng những yếu tố duy vật - trờng phái triết học “Sacvađa” do Bơrihaxpati sáng lập, một ngời thuộc đẳng cấp Vaisya Học thuyết của ông phản ánh lợi ích của nông dân, thợ thủ công và th-
ơng nhân nên đợc đông đảo quần chúng lao động thời đó ủng hộ, tiếp thu Trong bối cảnh xã hội đó Đạo Phật đã ra đời ở ấn Độ
1.1.2 Sự ra đời
Trang 7Theo truyền thuyết Phật giáo thì đạo phật ra đời vào thế kỷ VI TCN, ngời sáng lập ra Đạo Phật là Xitđácta Gôtama (Siddharra Gautama) nớc Kapilavaxtu ở chân núi Hymalaya ( vùng đất bao gồm một phần miền nam nớc Nepan và một phần các hang Utaprađisơ và Biha của ấn Độ ngày nay).
Cũng theo truyền thuyết Phật giáo kể về sự ra đời của Đức phật rất màu nhiệm và huyền diệu, vì bà hoàng hậu- vợ của vua Sutđôđana không mang thai một cách bình thờng, mà do bà nằm mơ thấy một con voi trắng sáu ngà thúc nhẹ bên sờn phải và chui tọt vào bụng bà sau đó hoàng hậu có thai, sau mời tháng bà sinh ra hoàng tử Vừa mới lọt lòng mẹ hoàng tử đã đứng thẳng dậy và ở t thế của ngời đang thuyết pháp Khi lớn lên hoàng tử có t chất thông minh lạ thờng, học gì biết nấy có sức khoẻ và cả tài bắn cung nỏ Bản tính, thái độ rất nhân từ Sau vài lần thái tử ra khỏi cung điện dạo chơi nhng thấy những cảnh khổ đau phiền não của ngời đàn ông thấy lòng buồn rầu vô hạn, và cũng lần sau ông ra ngoài cửa thành gặp một nhà tu hành hình dáng đoan trang, nét mặt nghiêm nghị, thái tử hiểu rằng chỉ có sự tu hành mới giải thoát đợc mọi sự đau khổ, từ đây ông đã nuôi chí xuất gia đi tu Năm ông 29 tuổi ông từ bỏ kinh thành về đi tu Thái tử đã phát
ra lời thề “ Nếu ta không diệt đợc sự đau buồn khổ não và không đạt đợc cái đạo chân thực thì ta không về qua cửa này nữa” [15.45] và ông tiến lên phía bắc về miền núi Tuyết Sơn vùng Uravila tu khổ hạnh gần suốt 6 năm ông nhịn ăn, nhịn mặc mỗi ngày tiều tuỵ da học lấy xơng, nhiều lúc khắc khoải nh chết vậy mà cũng chẳng đợc cái đạo của cuộc sống Thấy mình đã tu sai đờng, ông ăn uống cho lại sức rồi tìm đến một gốc cây Bồ Đề, lấy lá cây làm đệm ông ngồi đó rồi phát ra lời thề:“ Nếu ta ngồi đây mà không giác ngộ đợc đạo thì quyết không đứng dậy nữa” [15.46] ông ngồi đó tập trung suy nghĩ các lẽ về sự đau khổ của chúng sinh và nguyên do của sự biến hoá vô thờng trong thế gian Sau một thời gian (tơng truyền
49 ngày đêm) t tởng của ông trở nên sáng rõ là ông thấu suốt hết thảy mọi lẽ của taọ hoá, nghĩ đợc cách giải thích của sự tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau và tìm
đợc con đờng cứu vớt cho chúng sinh Từ đó, ông tự gọi mình là Budlha mà ta quen gọi là phật hoặc bút Sau khi thành phật ông đợc các đệ tự tôn xng là Xakia Muni
Trang 8(thích ca mầu ni) trong suốt 40 năm còn lại cuộc đời mình ông cùng với các đệ tử đi thuyết pháp và truyền bá t tởng của mình ở lu vực sông Hằng.
1.2 Giáo lý của Phật giáo.
1.2.1 Tam Tạng kinh điển.
giáo lý Đạo Phật tập trung trong “ Tam Tạng kinh điển” bao gồm có : kinh, luật, luận
+ Kinh trạng: (Stura pitaka) gồm các sách ghi lời dạy của phật thích ca về ngời giáo lý do đại đệ tử AnamĐa tập hợp lại ngay từ lần đầu tiên Kinh tạng dài của đức phật, trong hộ kinh gồm ( những bài thuyết pháp dài trung bình) tơng ứng với
bộ kinh (gồm những bài thuyết pháp theo từng pháp và tiểu bộ kinh) gồm những bài kinh xa nhất
+ Luật tạng (Vinaja pitaka): Là sách ghi những giới luật do phật định ra làm khuôn phép cho các đệ tử, nhất là đối với những ngời xuất gia đi tu trong sinh hoạt hàng ngày, trong tu đạo học Ng… ời có công sa tầm tập hợp để hình thành luật tạng là đại đệ tử Ưu Bà Ly, ngay từ lần kết tập đầu tiên
+ Luận tạng (Abihidhamma): Là những sách đợc các đại đệ tử của phật xây dựng sau khi ngài qua đời Mục đích của luận tạng là ngời giới thiệu giáo lý Phật giáo một cách có hệ thống, đồng thời phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái lệch lạc, những quan điểm xuyên tạc giáo thuyết Đạo Phật
điểm khác biệt rõ nét giữa Đạo Phật với đạo Do Thái, đạo Kitô, đạo Ixlam
Trang 9+ “ Vô thờng” : Trong vũ trụ bao la mọi sự vật hiện tợng không đứng yên, bất biến mà luôn chuyển động, biến đổi theo một chu trình: thành, trụ, hoại, không (đối với các loài vô tình) hay sinh –trụ – di – diệt (đối với các loài hữu tình) nghĩa là, quá trình phát sinh, phát triển (trởng thành) h hoại và tan rã.
+ Quy luật nhân duyên: Đạo phật cho rằng mọi sự vật, hiện tợng trong vũ trụ chuyển động, biến đổi đều bị chi phối bởi các quy luật nhân duyên (hay thuyết
“duyên khởi”) tức là sự vật, hiện tợng trong vũ trụ do nhân duyên mà thành (trong
đó nhân là mầm tạo ra quả, duyên là điều kiện, phơng tiện ) khi nhân duyên hoà hợp là sự vật sinh, khi nhân duyên tan dã là sự vận diệt
-Về mặt nhân sinh quan: Một trong những nội dung cơ bản của giáo lý Đạo Phật khi thể hiện quan niệm về con ngời là học thuyết về “ khổ và con đờng cứu khổ” Sách phật gọi là “tứ diệu đế hay tứ thánh đế ” còn gọi là hố chân lý thiêng liêng, bốn chân lý cao siêu, đó là khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế
+ “ Khổ đế ” là chân lý nói về nỗi khổ của ngời đời, Đạo Phật cho rằng: Đời
là bể khổ, trong đó con ngời có tám cái khổ: sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không a, xa ngời mình yêu, cầu mà không đợc, giữ lấy năm uẩn Khổ đau là vô tận, là tuyệt đối Đối với con ngời ngoài khổ đau vô tận không còn tồn tại nào khác Ngời ta thờng nói: Chết là hết khổ nhng Đạo Phật lại quan niệm rằng ngay cái chết cũng không phải là chấm dứt sự khổ Không phải là giải thoát mà là tiếp tục sự khổ mới Phật nói rằng: “Nớc mắt của chúng sinh nhiều hơn nớc đại dơng”
+ “Tập đế ” là chân lý nói về nguyên nhân của sự khổ, nguyên nhân ấy là:
“dục vọng” (lòng ham muốn) của con ngời nh: ham sống, ham quyền lực, danh vọng, ham giàu sang phú quý, ham lạc thú…
Phật tổ giải thích nguyên nhân sâu xa của sự khổ đau là do: “thập nhị nhân duyên, tức là mời hai nhân duyên này tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con ngời (kiếp luân hồi) Cái dây nhân duyên này gồm vô minh; Hành; Thức; Danh sắc; Lục nhập; Xúc; Thụ; ái; Hữu; Sinh; Lão
+ “Diệt đế ” : Là sự cần thiết phải diệt trừ nổi khổ, diệt đế là giải thoát luận
và cũng là lý tởng của đạo phật Đạo phật cho rằng muốn thoát khỏi bể khổ trầm
Trang 10luân phải tiêu diệt, phải loại bỏ lòng ham muốn vô chừng, xa lánh mọi cám dỗ trần tục Không vấn vơng một chút nào với những dục vọng đời thờng Nguồn gốc sâu
xa của sự khổ não là sự vận hành “ thập nhị nhân duyên” mà khởi đầu là “vô minh”, con ngời muốn diệt khổ phải đi tìm gốc rễ gây nên sự vận động của mời hai nhân duyên, phải bắt đầu từ sự diệt trừ “ vô minh”, “vô minh có bị diệt trừ thì trí tuệ mới đợc bùng sáng, mới hiểu rõ đợc bản chất của sự tồn tại thực hớng của
vũ trụ và con ngời, không còn tham dục để không kéo theo những hành động tạo
ra “nghiệp” nữa và nổi khổ đợc chấm dứt
+ “Đạo đế ” Là chân lý về con đờng diệt khổ cách thức tu hành để đạt đến
“Bát chính đạo” (tám con đờng chân lý ) đó là: chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, thuộc lĩnh vực rèn luyện đạo đức - “giới”, chính niệm, chính định (thuộc lĩnh vực rèn luyện t tởng - “định”); chính kiến, chính t duy, chính tịnh tiến (thuộc lĩnh vực khai sáng trí tuệ -“tuệ” )
“Tam học” phải rèn luyện đạo đức (giới); t tởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ)
1.2.3 Giới luật và lễ nghi.
Nội dung chủ yếu của giới thuật là những điều kiêng kỵ đối với tiến độ Đạo Phật (tu tại gia cũng nh với các tăng ni) nhằm chế ngự dục vọng, từ bỏ các việc ác, khuyến khích những việc thiện để đạt tới sự giải thoát
Giới luật bao gồm có “Ngũ giới” và “ Thập thiện”
Trang 11“Ngũ giới”: Gồm 5 điều răn cấm.
“Thập thiện”: Gồm 10 điều thiện cần làm
- 3 điều thiện về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm
- 4 điều về khẩu: không nói dối, không nói hai chiều, không nói điều ác, không nói thêu dệt
- 3 điều thiện về ý: không tham lam, không giận giữ, không tà kiến
Trớc khi nói đến lễ nghi chúng tôi muốn đề cập đến chức sắc phật giáo: Buổi đầu, phật giáo sơ khai tổ chức đơn giản, chỉ có phật và học trò đi truyền đạo
Về sau, cùng với quá trình phát triển của phật giáo, tu hành và truyền đạo diễn ra phúc tạp, hàng ngũ chức sắc đợc phân chia thứ bậc tạo thành tăng ni hành giáo phẩm
Ngời theo đạo phật đợc chia làm hai loại:
+ Ngời tu hành: Là ngời thoát khỏi gia đình và sinh hoạt xã hội, đi tu ở chùa theo quy định của phật Về sau, bổ sung theo loại “xuất gia” nhng đợc hoàn tục” Nam gọi là Tăng, nữ gọi là Ni
+ gời tu tại gia: Là ngời chấp nhận thờ phật, tự nguyện lễ phật tại nhà Nam gọi là u bà tắc, nữ gọi là u bà di, theo “ngũ giới” và “thập thiện”
Chức sắc phật giáo đợc chia thành 5 bậc sau:
- Hoà thợng ( s cụ) bậc cao nhất, có 40 năm tuổi tu ( tuổi hạ ), 60 tuổi đời,
từ lớp thợng toạ đợc suy tôn lên, trụ trì chùa lớn
- Thợng toạ( s cụ), bậc thứ hai, tuổi đời 45 và có 25 tuổi hạ trở lên, học phật cao, có uy tín trong tín đồ
- Đại đức ( s ông) là hàng tỳ kheo, đợc thụ giới sau khi làm s khoảng 10 năm trở lên Lễ thụ giới tỳ kheo gọi là giới đàn
Trang 12- S bác (sa di ), từ tiểu đợc thụ giới sau thời gian tập sự và đợc tăng chúng
đồng ý
-Tiểu (điều): ngời mới xuất gia tu hành tại chùa
Ngoài 5 bậc chức sắc trên, ở chùa nhỏ không có ngời tu hành thờng có một ngời tự nguyện đến trông chùa quét dọn, đèn hơng ngày rằm và mồng một, gọi là vãi hay sãi
Phật giáo có nhiều ngày lễ trong năm, giữa hai hệ phái, số lễ cung khác nhau Dới đây là những lễ chính tinh theo âm lịch:
Tháng giêng: ngày 1 lễ vía phật Di Lặc( phật Tơng lai) Ngày 15 lễ thợng nguyên.Tháng hai: ngày 8, lễ Phật Thích - ca xuất gia tu hành Ngày 15, lễ phật Thích – ca mất
Tháng t: Ngày 13, lễ đại thế chí Bồ Tát; ngày 15 lễ Phật thích – ca ra
đời( phật đản), mùa an c kiết hạ
Tháng sáu: Ngày 19 lễ Quan Âm Bồ Tát đắc đạo
Tháng bảy: Ngày 13, lễ Đại thế chí Bồ Tát; Ngày 15, lễ vu lan chuyên nghiệp cho vong linh nơi âm phủ, mãn mùa an c kiết hạ; ngày 30 vía Địa tạng Bồ Tát
Tháng chín: Ngày 19 vía Quan Âm Bồ Tát xuất gia Ngày 30 lễ phật Dợc
s
Tháng 11: Ngày 17 lễ Phật Adi - đà ( phật quá khứ)
Thánh12: Ngày 8 lễ Phật thích ca đắc đạo
Phái tiểu thừa chỉ làm lễ ngày rằm và các lễ chính trong năm, không lễ vía các Bồ Tát Ngoài ra mỗi chùa còn có lễ tụ tổ s, ngời có công thành lập chùa
Lễ nghi của phật giáo nguyên thuỷ rất đơn giản điều cốt yếu là thờ phật và truyền đạo Về sau trong quá trình phát triển đạo phật chia thành nhiều tông phái
và khi đi vào đời sống văn hoá xã hội của các dân tộc nơi đạo phật truyền đến, có
sự tiếp thu hoà trộn các yếu tố tín ngỡng dân gian và phong tục tập quán của nhiều nơi, nên giữa các tông phái, giữa các khu vực địa phơng có sự khác nhau trong luật
lệ lễ nghi và sự thờ phụng Xu hớng chung là ngày càng rờm rà, phức tạp thêm
Trang 13“phật giáo hiện nay đã biến chất rất nhiều so với đạo phật do xakya muni sáng lập Nhiều ngời thờ cúng phật chỉ để cầu xin tài lộc, tránh khỏi tai hoạ chữa khỏi
ốm đau cho bản thân và những ng… ời thân thiết của mình Đó là những điều hoàn toàn xa lạ với học thuyết của đạo phật” [3.20] hay nh phái mật tông đã thần thánh hoá cả phật lẫn những ngời xuất gia tu hành, thực hiện các lễ nghi mang tính chất
ma thuật, huyền bí (suy bái ma quỷ, thần linh, tin vào bói toán)
1.3 Quá trình lan toả ra bên ngoài của Phật giáo.
Khi Thích Ca Mâu Ni tạ thế, các khu vực truyền bá đạo phật chủ yếu ở miền Trung lu vực sông Hằng, đặc biệt ở xung quanh các thành phố lớn mới nổi lên Sau khi phật tạ thế, bắt đầu từ ấn Độ các đệ tử trực truyền của Ngài đã đem
đạo phật đi theo hai hớng:
- Một hớng truyền xuống phía Nam đến Sri-lan –ca, một hớng truyền lên phía Bắc đến Ca – dắc – xtan ngày nay Phật giáo truyền xuống phía nam nh Sri-lan –ca vốn không có nền văn hoá của riêng mình, ngoài vùng tiếp xúc với…
Ân Độ ra cũng không có các nên văn hoá khác có thể tiếp thu Do vậy, từ sau khi phật giáo truyền đến, cha có thể mở ra cục diện mới, thậm chí cho đến tận bây giờ vẫn cứ bảo lu đợc diện mạo gần nh là nguyên vẹn so với thời đức phật
- Còn hớng truyền lên phía Bắc thì chịu sự tác động mạnh của tôn giáo truyền thống Ân Độ, thêm vào đó là các hoạt động của hoàng đế Alexander The Great đã mang lại cho Ân Độ màu sắc văn minh Hy Lạp, vậy nên phật giáo dần dần bớc vào con đờng phát triển tự do Kết quả là chúng ta coi dòng Nam truyền
là phật giáo tiểu thừa, dòng Bắc truyền là phật giáo đại thừa Nhìn vào góc độ văn
tự thì các thánh điển Nam truyền chủ yếu là chử Pali Thánh điển Bắc truyền chủ yếu là chữ phạn
Hớng Nam truyền lại từ Sri-lan-ca truyền sang Miama đến Thái Lan, Campuchia, Lào v.v H… ớng Bắc truyền từ Ca-dăc-xtan truyền sang vùng Tân C-
ơng và Tây Tạng của Trung Quốc Phật giáo ở Tây Tạng tự lập thành một hệ thống mật giáo, rồi tiếp tục truyền sang Mông Cổ Phật giáo ở Tân Cơng thì phát triển nội địa ở Trung Quốc Trung Quốc vốn là một nhà nớc cổ văn minh có lịch sử lâu
Trang 14đời và bề dày văn hoá cho nên phật giáo mới truyền đến đã nuôi dỡng thêm cho văn hoá Trung Quốc Đồng thời cũng chịu ảnh hởng văn hoá Trung Quốc mà trở thành một thứ phật giáo mang mang hình thái Trung Quốc Chẳng hạn nh Tông Thiên Thai, Tông Hoa Nghiêm và đặc biệt là Thiên Tông, đã thể hiện đầy đủ mẫu hình Trung Quốc của ngời Trung Quốc Hình thái phật giáo Trung Quốc này đại thể là đến thời Tuỳ Đờng đợc hoàn thiện từng bớc Triều Tiên và Nhật Bản thì lấy luôn mẫu hình phật giáo Trung Quốc, có bổ sung thêm các nhân tố của riêng mình, thế là tạo ra phật giáo kiểu Triều Tiên, phật giáo kiểu Nhật Bản Đặc biệt là Nhật Bản từ thế kỷ XII sau công nguyên, khi liên tiếp xuất hiện các phái Tịnh Độ Chân Tông và Nhật Liên Tông, đã chia ngã tách đờng với mẫu hình phật giáo Trung Quốc.
Thời gian gần đây, phong trào nghiên cứu ấn Độ học và phật học lại khiến cho sức chú ý của rất nhiều học giả Phơng Tây tập trung vào Phơng Đông, lúc đầu bằng thái độ nghiên cứu khách quan họ giới thiệu phật giáo với ngời Phơng Tây Tuy nhiên xã hội Âu Mỹ ngày nay vẫn là xã hội Thiên chúa giáo hoặc Cơ đốc giáo, nhng việc truyền bá phật giáo ở Âu Mỹ đã là sự thực
Quá trình lan toả đó có thể thấy rằng, phật giáo là một tôn giáo ngọn nguồn
xa xôi mà dòng chảy rất dài
Trang 15Chơng II
Quá trình du nhập của phật giáo vào Nhật Bản.
2.1 Khái quát về đất nớc, con ngời và văn hóa truyền thống của Nhật Bản.
2.1.1 Hoàn cảnh điạ lý.
Từ xa Nhật Bản đã là một trong những quốc gia có nền văn hoá đặc sắc nhất là đến nay đang là một cờng quốc kinh tế lớn thứ ba trên thế giới, tiến sát tới những tiến bộ to lớn nhất trong nền văn minh nhân loại Thành tích này đáng nể hơn nữa nếu ta để ý hình ảnh nớc Nhật trên lợc đồ thế giới và biết rằng Nhật Bản hầu nh không có tài nguyên thiên nhiên Cả địa lý lẫn tài nguyên đều chẳng đóng góp vào sự vĩ đại của quốc gia này mà chính là nhân dân kiệt xuất và quá trình lịch sử đặc biệt
Diện tích Nhật Bản khá nhỏ, không bằng diện tích của liên bang California
ở Mỹ, mặc dù có lớn hơn diện tích của Italia và vơng quốc Anh, quê hơng của hai
đế quốc vĩ đại nhất của thế giới phơng Tây trớc đây Nhật Bản toàn là núi đồi trùng trùng điệp điệp sờn đá cheo leo, khe lũng hiểm trở, hồ trong veo tiểu biểu…trong đó có ngọn núi lửa Fuji tuyệt đẹp cao 3.776 m không phải ngẫu nhiên mà ngời Nhật Bản lại lấy ngọn núi lửa Fuji ( “có nghĩa là núi rợu trờng sinh”) làm hình ảnh tợng trng cho đất nớc mình Các khán giả màn ảnh nhỏ Việt Nam, nếu ai
đã một lần đợc thấy, sẽ không thể quên đợc bức tranh thuỷ mặc điểm màu, miêu tả ngọn núi này dới ánh sáng nhạt, một trái núi hùng vĩ hình chóp nón phủ tuyết hiện lên trên bầu trời xanh thẳm, một vài đám mây trắng lững lờ trôi, sờn và chân núi trải ra một tấm thảm màu lục bao la Cũng chính vì thế nên diện tích đất đai…
có thể sử dụng đợc nhỏ hơn nhiều so với thể hiện trên bản đồ, đã vậy lại không có nhiều khoáng sản Hiện nay gần 90% nguyên liệu năng lợng (chủ yếu là dầu lửa) hầu hết khoáng sản và phần lớn lơng thực của Nhật Bản phải phụ thuộc vào nhập khẩu
Tài nguyên quốc gia chủ yếu của Nhật Bản là khí hậu nhiệt đới (tạo ra lối sống năng động) và nhiều ma Nớc Nhật trải dài 3.000km, từ 20o 25’ tới 45o 33’ vĩ
Trang 16tuyến Bắc, với nhiều thành phố lớn Mùa hạ nóng và nhiều ma mùa đông lạnh có tuyết.
Nhờ thừa thãi nớc, nên suốt hai thiên niên kỷ qua ngời Nhật đã dùng công xây dựng những hệ thống kênh mơng để dẫn nớc vào bất cứ thửa ruộng nào có thể canh tác đợc lúa nớc Những cánh đồng đợc tới nớc, cộng với một mùa tăng trởng dài và mùa hạ nóng đã giúp cho nông dân Nhật Bản đạt đợc năng xuất lúa cao nhất thế giới Có thể canh tác hai vụ một năm trên khoảng nửa đất nớc, một vụ lúa và một vụ màu Nhờ mô hình nông nghiệp thâm canh cao này mà Nhật Bản có thể duy trì dân số đông hơn bất cứu quốc gia Tây Âu nào, ít ra là từ thời Trung Cổ Chế ngự hệ thống ruộng lớn nh ở đồng bằng Lỡng Hà, ấn Độ hay Trung Quốc đòi hỏi phải có sự chỉ đạo tập trung của nhà nớc Nhng ở Nhật Bản vì hệ thống sông ngòi nhỏ nên việc xây dựng thuỷ lợi đã khuyến khích xu hớng hợp tác và cũng ra quyết định ở từng nhóm nhỏ, một đặc trng ở ngời Nhật
Nhờ ma nhiều nên núi đồi Nhật Bản có độ che phủ của rừng rất cao Bờ biển khúc khuỷu cộng với núi đồi dốc đứng nhng có rừng che phủ vào những làng quê xanh tơi tạo nên một đất nớc tơi đẹp bậc nhất, trừ khi con ngời và công nghệ phá hoại nó
Toàn bộ vẻ đẹp thiên nhiên này đã góp phần tạo nên tính nhạy cảm của ngời Nhật, đợc thể hiện trong suốt lịch sử, đối với các kỳ quan thiên nhiên và tạo nên khiếu thẩm mỹ của họ
Vị trí địa lý tách biệt của Nhật Bản không thể đợc xem, là một lợi thế, đặc biệt là xa kia Nó nằm ở rìa phía đông của “thế giới Cổ Đại” á - Âu có nền văn minh rực rỡ không nằm ở giao điểm của các tuyến thơng mại thế giới mà lại ở nơi thực sự tận cùng trái đất nên Nhật Bản là nớc bị tách biệt trong số các nớc lớn đợc hởng ánh sáng văn minh của thời tiền hiện đại Những ảnh hởng từ bên ngoài tới rất chậm và sau khi đã đợc sàng lọc tại các nớc đông nam á xung quanh
Tuy nhiên là một đảo quốc không hẳn có bất lợi Mặc dù đất đai bị vô số dãy núi chia cắt thành nhiều vùng, nhng biển bao quanh cho phép liên lạc tơng
đối dễ dàng giữ các đảo và dọc theo bờ biển Điều này thấy rõ nhất ở biển Nội, cắt
Trang 17ngang miền Tây Nhật Bản Biển còn là nguồn cung cấp phong phú cá, nguồn động vật chủ yếu cho con ngời Cũng vì đảo Quốc, nên Nhật Bản ít bị các dân tộc khác
từ đất liền kéo sang và ít bị xâm lợc ở biên giới Sự khác biệt đã giúp cho ngời Nhật đợc hởng đặc tài của riêng của mình và tạo ra một lối sống rất khác biệt so với hầu hết các dân tộc khác
Nhật Bản là một bộ phận của nền văn minh Đông á cùng với Triều Tiên và Việt Nam trong đó Trung Quốc là Trung Quốc là trung tâm đây là một bộ phận của thế giới mà văn hoá cơ bản của nó có nguồn gốc nền văn minh từ thời Cổ Đại
ở Bình Nguyên Hoa Bắc Mặc dù là cái nôi trong suốt tiến trình lịch sử của một bộ phận lớn nhân loại – khoảng một phần ba – nền văn hoá Đông á lại tách biệt nhất so với các khu vực văn minh cổ xa Nó bị tách biệt hẳn với ấn độ Trung
Đông và lòng chảo Địa Trung Hải, bởi những dãy núi và hoang mạc ở Trung á và những cánh rừng già cùng các vùng địa hình chập trùng ở Đông Nam á và bán
đảo Mã Lai Trong khu vực tơng đối cách biệt này, Nhật Bản lại là nơi cách biệt hơn cả Từ Nhật Bản tới Triều Tiên là 100 dặm tới Trung Quốc là 500 dặm (so với
từ Anh sang Pháp qua eo biển Mang chỉ có 20 dặm)
2.1.2 Văn hoá truyền thống
Nhật Bản là chị em với nền văn minh Trung Hoa Những ảnh hởng của văn minh Trung Hoa lan toả sang Nhật Bản từ thiên niên kỷ thứ nhất sau Công Nguyên Nhng vì Nhật Bản tơng đối cách biệt so với trung tâm của nền văn minh nên nền văn hoá vay mợn ở Nhật Bản có cơ hội phát triển theo lớp mới riêng biệt Ngời thờng cho rằng ngời Nhật Bản chỉ là một dân tộc vay mợn và sao chép Sự thực hoàn toàn trái lại Mặc dù có sự cách biệt về địa lý khiến họ có ý thức học hỏi nớc khác song cũng cho phép họ phát triển một nền văn hoá có bản sắc nhất so với nhiều nơi Ví dụ nh cách trang phục nấu nớng, kiến trúc bên trong và bầu không khí họ sống ở nhà Những tấm chiếu mỏng trải sàn, những vách tờng giấy thay cho tờng nhà, cấu trúc mở và rất thoáng của toàn bộ ngôi nhà, những ngách t-ờng để bày những đồ mỹ nghệ, những lọ than (hibachi), những bồn tắm bằng sắt hay bằng gỗ đặc biệt là nơi tắm đợc coi là nơi th giãn hàng ngày sau khi kết thúc
Trang 18công việc, là nơi lu giữ cảm giác ấm áp và khoan khoái trong mùa đông, tất cả những thứ này và còn nhiều đặc trng đơn giản xong rất cơ bản khác trong cuộc sống thờng nhật của nớc Nhật truyền thống chỉ có ở riêng nớc này và chứng tỏ một nền văn hoá đầy tính sáng tạo chứ không phải là bắt trớc đơn giản.
Bản sắc văn hóa Nhật Bản càng nổi bật khi xét đến ngôn ngữ riêng của nớc này Mặc dù hệ thống chữ viết trong tiếng Nhật có nguồn gốc từ Trung Quốc và vô số từ vựng tiếng Trung đợc đa vào trong tiếng Nhật, song về cơ bản tiếng Nhật khác với tiếng Trung và cả tiếng Anh Cấu trúc của nó không giống tiếng Triều Tiên song không có nghĩa là nó gần với tiếng Triều Tiên Sử dụng một hệ thống chữ viết phức tạp hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác đang dùng phổ biến trong thế giới hiện đại và không có ngôn ngữ không có ngôn ngữ nào gần gũi, ngời Nhật trắc gặp phải nhiều trở ngại ngôn ngữ giữa bản thân họ và thế giới hơn bất cứ dân tộc lớn nào khác
Sự cách biệt về địa lý, bản sắc văn hoá và ngôn ngữ khiến cho ngời Nhật ý thứ rõ về sự khác biệt giữa họ với bên ngoài.Nhờ đó khi sang kỷ nguyên hiện đại của quốc gia dân tộc, ngời Nhật không gặp trở ngại gì về tính thống nhất dân tộc Thực tế, Nhật Bản là một quốc gia hoàn hảo nhất thế giới: địa lý có ranh giới rõ ràng với đại bộ phận dân c dùng chung một thứ ngôn ngữ và có chung một nền văn hoá đầy bản sắc và gần nh không có dân tộc nào khác nữa Tuy thế đây lại là một bất lợi nó khiến ngời Nhật hơi căng thẳng khi tiếp xúc với ngời nớc ngoài và họ có
vẻ tơng đối ít nhạy cảm đối với ngời khác Hình nh thỉnh thoảng họ bị ám ảnh bởi cảm giác hơn hay kém so với thế giới bên ngoài Sự cách biệt lý giải tại sao đôi lúc Nhật Bản lại có nhng hành vi lạ lùng trong quan hệ với quốc tế và có thể còn làm cho ngời Nhật đến nay vẫn không dễ cảm giác đợc vị trí của mình trong thế giới
Thần đạo và tôn giáo dân gian cũng góp một phần không nhỏ đến sự phát triển của văn hoá Nhật Bản: Shinto là tên đặt cho các phái tôn giáo tồn tại ở nớc Nhật Bản trớc khi đạo phật du nhập vào và nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay với sự thay đổi nhỏ Chữ Shinto đứng riêng âm chỉ tính thuần nhất, và những thần thoại sản sinh ra trong giai đoạn Minh Trị đã khiến khích cho một niềm tin rằng Shinto
Trang 19là một di sản cổ xa của dân tộc Nhật Bản Mặc dù nguồn gốc đợc ghi chép lại không đầy đủ, những bằng chứng khảo cổ học, các nghi lễ vẫn tồn tại, những mô - típ thần thoại và truyện cổ tích, cho thấy có nhiều giáo phái xuất phát từ nguồn gốc địa lý khác nhau, đã tồn tại ở Nhật Bản cuối thế kỷ VI sau công nguyên Những t tởng về vũ trụ, về số phận ngời chết, về chùa đợc thờ cúng, tất cả xác nhận nguồn gốc trong những vùng khác nhau của lục địa châu á và trong những vùng phía Nam, ở vùng Mã Lai Pôli-nêđia Shinto lúc đầu cũng nh chủng tộc và ngôn ngữ Nhật Bản, nó là kết quả pha trộn của các truyền thống trong thời tiền sử Tuy nhiên mặc dù nguồn gốc có tính chất pha trộn và trên thực tế thiếu một ngời sáng lập và tuyển tập những bộ kinh thánh chính những thần đạo có đợc một sức mạnh và sự tồn tại bền vững cho phép nó tồn tại cho đến ngày nay với nhiều đặc
điểm cổ không thay đổi
Đối tợng của sự thờ cúng: Kami
Đối tợng chính của sự thờ cúng trong thời cổ đại đến nay là những vị thần
đợc hiểu nh là Kami
Đây là những thực tế mờ ảo, tồn tại không hình dạng, thiếu hẳn tình ngời và giống nh sự biểu hiện quyền lực lạnh lùng Tất cả đợc coi nh là cao hơn ở bên trên con ngời bằng kiến thức và quyền lực, giữa những quyền lực đời sống và nằm ngoài sự kiện kiểm soát của con ngời Kami có nhiều loại khác nhau, chúng có thể
đợc phân biệt bằng những tên riêng nhng tất cả đều có đặc điểm chung sau:
Thứ nhất: Chúng không có hình dạng riêng, để biểu lộ bản thân chúng,
chúng phải đợc gọi đến lợt đợc ca tụng (phỉnh thờ) vào trong một cái bình với hình thức mời mọc thích hợp Những chiếc Bình này đợc coi nh là Yorishito thờng là cái móng và những cây, gậy nhỏ, những ngọn cỏ hay tảng đá dài Những con búp
bê đầu tiên ở Nhật Bản không phải là đồ chơi mà là nơi Kami có thể tìm đến c trú tạm thời Một số ngời có tài năng về tâm linh đã đóng vai những ngời trung gian hay là ngời phơng tiện cho Kami Từ thời cổ đại những chuyên gia về tôn giáo nh vậy làm chiếc cầu nối giữa Kami và thế giới loài ngời
Trang 20Thờng phụ nữ đợc hiểu là MiKô, họ có lợi thế để làm phơng tiện nh vậy mà nhờ đó giọng nói của họ có thể đợc Kami mợn để nhắn tin hoặc trả lời câu hỏi.
Thứ 2: Kami vốn là thực thể phi đạo đức họ là những ngời có quyền, những
ngời sẽ đáp lại một cách thuận lợi hoặc không thuận lợi theo cách đối xử của loài ngời đối với họ Đối xử tốt với họ qua những lễ nghi thực sự, những đồ cúng và
đền thờ, thì có thể mang đợc hởng phớc lành dới hình thức vụ mùa thu hoạch tốt
t-ơi, chống hoả hoạn, nạn đói và tệ nạn và con cháu họ sẽ hng thịnh Nếu không chú ý đối với họ hoặc xúc phạm họ bằng việc đa họ phơi bầy ra nơi mà họ không thích, ngay lập tức họ sẽ phá hoại cộng đồng với Tatari hoặc tai hoạ
Thứ 3: Kami sống ở trên thế giới riêng của họ nhng có thể đợc mời đến
thăm thế giới loài ngời vào các mùa Nghi lễ chính của thần đạo là Matsuri trong
đó Kami đợc gọi bằng âm nhạc, vũ hội và những lời phù thuỷ, và thế giới của họ
đến thăm các điện thờ ở làng quê Họ đợc chào đón tiếp đãi và yêu cầu ban phớc lành, thỉnh thoảng cũng bị hỏi trớc khi trở lại vơng quốc thực sự vủa họ Kami cũng có khả năng sở hữu con ngời và dù muốn hay không sẽ bị sử dụng cho những mục đích riêng của họ
Thứ 4: Hầu hết Kami thông thờng thích sự ô uế về máu, bẩn và sự chết
chóc ở đây xác nhận bản chất tự nhiên phi đạo đức của họ Xúc phạm họ không phải là một tội đạo đức tốt cũng không làm họ vui lòng Keggare hoặc việc làm nhơ bẩn nghi lễ đợc phát sinh mà không thể tránh khỏi trong đời sống con ngời đã xúc phạm đến các Kami Họ bị xúc phạm do máu, đặc biệt là máu bên trong phát sinh ra khi sinh đẻ và hành kinh của phụ nữ, mùi thối sinh ra từ xác chết Nh vậy không ai đợc phép đến các điện thờ khi có ngời chết trong gia đình Cũng nh vậy phụ nữ bị ngăn cản đến điện thờ trong khi akafryo của họ hoặc “sự ô nhiễm đỏ” của họ Và tất nhiên giai đoạn sau khi sinh đẻ cũng bị cấm Cuối cùng Kami đợc nhìn nhận nh là ngời ban phát những lợi ích vật chất bên ngoài chứ không phải là ngời biểu lộ chân lý tối hậu bên trong Một vài Kami có thể thỉnh cầu cho một loạt những ân hụê, những Kami khác luông ban phát một ân huệ cụ thể chẳng hạn chữa một căn bệnh sắp xếp một hôn nhân hạnh phúc hoặc một tài năng
Trang 21Các kiểu loại Kami:
Hơn một nghìn năm những vị thần đợc hiểu là Kami trở thành đối tợng chính trong nghi thức hành lễ của đạo Shinto Kami xuất hiện bằng nhiều loại khác nhau, trong đó có thể đợc phân biệt nh sau
Những vị thần ngụ trong các đối tợng tự nhiên nh là cây to lớn, những tảng
đá có hình thù kỳ quặc hoặc những dãy núi Sự xuất hiện thần thánh đợc cảm nhận bởi một ngời có cái nhìn thứ hai Vì sau những đối tợng đợc đa vào thờ cúng chuyên dùng với mục đích riêng
Những vị thần phụ trách một số nghề thủ công và kỹ năng, và phát khả năng
đặc biệt cho một số hành nghề Những ng dân, những ngời thợ săn trên núi, những thợ rèn, những thợ mộc, tất cả họ đều có những vị thần đặc biệt hay thần Kami của họ –ngời mang lại cho họ của cải và kỹ năng Nh vậy những ngời thợ có đợc
sự hoàn hảo nghề nghiệp là nhờ khả năng siêu tự nhiên
Còn thần Ujigami chỉ bảo hộ cho một gia đình hoặc một làng quê nhất định – Họ thờng sử dụng nh là tổ tiên sáng lập gia tộc và làng quê
Ikigami hoặc Hitogami là Kami, những ngời hoặc là đang sống hoặc là đã chết
Ikagami là ngời đàn ông và đàn bà, những ngời đợc thờ cúng nh Kami trong khi họ vẫn sống ví dụ nh những chuyên gia về tôn giáo nh Miko, những ngời bằng
sự rèn luyện khổ hạnh nghiêm túc đã đạt đợc điều kiện hoà nhập với Kami và đợc hiểu nh là hiện thân trần tục của Kami
Hitogami là ngời đợc thờ cúng nh Kami sau khi họ chết, thờng là họ chết những cái chết bất đắc kỳ tử, do vậy linh hồn tức dận của họ gây ra những thảm hoạ Sau đó nghi lễ phong thần cho các vị thần này vào vị trí cao nh Kami là một phơng pháp có hiệu quả làm thay đổi sức mạnh có tính chất phá hoại của thần thánh sức mạnh có ích sẵn sàng giúp đỡ nhân loại…
Ngoài ra các bậc quân minh hiền tớng, các anh hùng hảo kiệt cũng đợc coi
nh là thần linh (Kami) vì các nhân vật lớn đợc thần thánh hoá, cho nên các dòng
họ lớn, với mục đích đề cao địa vị và xuất thân của mình đã thêu dệt ra những thần thoại, truyền thuyết kia kết chúng lại sẽ thành ra thần thoại mở nớc ly kỳ đẹp đẽ
Trang 22Theo truyền thuyết Cổ Đại Nhật Bản, khi trời đất mới mở ra có 7 vị thần nối tiếp nhau gọi là 7 đời thần Lại sinh ra bát đại châu, cuối cùng xuất hiện Đại Thần Thiên Chiếu, Nguyệt Độc Tôn, và Tố Trản Minh Tôn Đại thần Thiên Chiếu
đang dần canh tác, nuôi tằm dệt vải Cháu của Đại Thần Thiên Chiếu là Quỳnh Quỳnh Chủ Tôn, lại gọi là Thiên Tôn, dòng dõi của Thiên Tôn là dòng họ thần Thiên Tôn Tố Trản Minh Tôn đã đuổi Xuất Vân từ trời cao nguyên xuống, cháu của Xuất Vân tức là dòng họ Xuất Vân Đại thần Thiên Chiếu ban cho Thiên Tôn
ba loại thần bảo là Kính, Kiếm, Ngọc.Thiên Tôn đa các con đến hớng mặt trời dựng đô lập nớc, gọi là Thiên Tôn giáng lâm
Vị thần số một của Nhật Bản là Vũ Thiên Hoàng, là chắt của Thiên Tôn, cho nên từ khi có Thiên Hoàng về sau chia thành hai thị tộc lớn Cháu con của Thần Vũ Thiên Hoàng là thị tộc Hoàng Biệt Các cháu con khác trực tiếp của Thiên Tôn là thị tộc thvieần biệt Thế là, trên cở sở tôn giáo thần thoại, ngời Nhật phân tích thành nhiều giai cấp Tộc Thiên Tôn đợc coi là cao quý nhất và có tính u việt thiên bẩm
Đại thần Thiên Chiếu của họ là Nữ thần Mặt Trời, cho nên họ tự xng là nớc Nhật Bản và coi mặt trời đỏ là tợng trng cho quốc gia của họ
Họ kính sợ uy thần mà cảm tạ ơn thần, xã hội Cổ Đại dùng phơng thức “tế chính nhất trí” Thiên Hoàng là lãnh tụ chính trị là cung điện của thần linh Thiên Hoàng đợc coi là thần Tình hình này, đến thời đại chính trị Vũ Gia, đã từng bị sa sút, khi Minh Trị Duy Tân khôi phục lại, và hình thành thế lực xâm lợc, bàng ch-ớng đối ngoại Đại chiến thế giới thứ II kết thúc Nhật Bản đầu hàng không điều kiện, Thiên Hoàng mới trở lại t cách con ngời Nhng sự tin kính của ngời Nhật đối với Thiên Hoàng, vốn có nguồn gốc xâu xa, cho nên cha dễ gì từ bỏ Có thể thấy rằng lực lợng dựa trên cơ sở tín ngỡng là thực, là bền vững ghê gớm bao nhiêu
2.2 Sự du nhập của Phật giáo vào Nhật bản
Lịch sử Phật giáo là một bộ phận trong toàn bộ lịch sử nhân loại, hơn nữa còn là một bộ phận cực kỳ quan trọng Do vậy ảnh hởng của văn hóa phật giáo từ lâu đã vỡ giới hạn tín ngỡng tôn giáo rồi
Trang 23Lịch sử phật giáo tuy chủ yếu trình bày quá trình khai sáng phát triển và thay đổi của phật giáo, nhng nó luôn luôn có quan hệ gắn bó máu thịt với những bớc trởng thành của toàn bộ nền văn minh nhân loại Riêng đối với các dân tộc phơng Đông chúng ta thì mối quan hệ này càng trở nên mật thiết hơn…
Phật giáo đợc bắt nguồn từ ấn Độ, thời đại ra đời vào khoảng trớc sau thời Khổng Tử Thời gian truyền vào Trung Quốc thì xấp xỉ với thời chú Giu-Xê giáng thế Con đờng truyền giáo của đạo phật bắt đầu từ ấn Độ đi theo hai hớng Một h-ớng truyền xuống phía Nam đến Sri-lan-ca một hớng truyền lên phía Bắc đến Ca-dăc- xtan ngày nay Phật giáo truyền xuống các nớc phía Nam đến Sri-can-ca… Vốn không có nền văn hoá của riêng mình, ngoài vùng tiếp xúc với ấn Độ ra cũng không có các nền văn hoá khác có thể tiếp thu, do vậy từ sau khi phật giáo truyền
đến, cha có thể mở ra cục diện mới, thậm chí cho đến tận bây giờ vẫn cứ bảo lu
đ-ợc diện mạo gần nh là nguyên vẹn so với thời Đức Phật, còn hớng truyền lên phía Bắc thì chịu sự tác động mạnh mẽ của tôn giáo truyền thống ở ấn Độ, thêm vào đó
là các hoạt động của hoàng đế Alexanđer the Great, đã mang lại cho ấn Độ màu sắc văn minh Hylạp, vậy nên phật giáo dần dần bớc vào con đờng phát triển tự do Kết quả chúng ta coi Dòng Nam truyền là Phật giáo Tiểu Thừa, dòng Bắc truyền là phật giáo Đại Thừa Nhìn chung vào góc độ văn tự thì các thánh điển Nam Truyền chủ yếu là Pali Thánh điển bắc truyền chủ yếu là chữ Phạn (san skrit)
Hớng Nam truyền lại từ Sri-lanca truyền sang miền Mianma đến Thái Lan, Campuchia, Lào H… ớng bắc truyền từ Ca-rac-Xtan truyền sang vùng Tân Cơng và Tây Tạng của Trung Quốc Phật giáo ở Tây Tạng tự lập thành một hệ thống phật giáo rồi tiếp tục truyền sang Mông Cổ Phật giáo ở Tân Cơng thì phát triển sang nội địa Trung Quốc, Trung Quốc vốn là một nhà nớc cổ văn minh có lịch sử lâu
đời và bề dày văn hoá cho nên phật giáo mới truyền đến đã nuôi dỡng thêm cho văn hoá Trung Quốc đồng thờ cũng chịu ảnh hởng văn hoá Trung Quốc mà trở thành một thứ phật giáo mang tính hình thái Trung Quốc Chẳng hạn nh Tông Thiên Thai, Tông Hoa Nghiêm và đặc biệt là Thiền Tông, đã thể hiện đầy dủ mẫu hình Trung Quốc của ngời Trung Quốc Hình thái phật giáo Trung Quốc hoá này
Trang 24đại thể là đến thời Tuỳ Đờng đợc hoàn thiện từng bớc Từ Trung Quốc phật giáo
và Triều Tiên và chuyển sang Nhật Bản Nhng ở mỗi nớc mà phật giáo lui tới đều
có biến thái và đặc điểm riêng của mình
Tôn giáo bản điạ của Nhật Bản vốn là đạo Shinto Đạo này tôn thờ thiên nhiên và thần thánh nh mặt trời, mặt trăng, các vì sao, núi, sông, cây cỏ, cho đến cả cá chim muông thú, côn trùng, các hiện tợng vũ trụ Đây là những thế lực vô…hình xuất phát từ tôn giáo nguyên thuỷ Vì vậy khi phật giáo du nhập vào Nhật Bản với nhiều điều mới lạ cha từng có nên đợc ngời Nhật ngỡng mộ
Nói chung cho rằng vào thời Khâm Minh Thiên Hoàng năm thứ 13 (552),
đạo phật lần đầu tiên đợc truyền vào Nhật Bản Lúc đó vua Thánh Minh của Bách
Tế đã từng dâng biểu khuyến tiến lên Nhật Hoàng, hơn thế còn tiến hiện tợng phật, kinh luận, phớn lọng, Đây là sự bắt đầu đạo phật chính thức truyền vào Nhật…Bản Thế nhng trớc đó đã có sự giao lu giữ nhân dân Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản do đó có khả năng Nhật Bản đã có sự tiếp xúc với đạo phật T Má Đạt ngời Nam Lơng năm 522 tại Đại Hoà (lại lơng) đầu tiên dựng lên phật giáo Thảo
đờng, đặt tợng phật tiến hành lễ bái Sau khi đạo phật truyền vào Nhật Bản, trong triều đình từng nổ ra cuộc đấu tranh kịch liệt, một phái trong bộ tộc Tô Ngã ủng
hộ phật giáo cuối cùng đã dành đợc thắng lợi, từ đó Đạo Phật dành đợc chỗ đứng trong cung đình và một bộ phận quý tộc Sau khi Thôi Cổ Thiên Hoàng đợc phái Tô Ngã ủng hộ lên ngôi lập Thái Tử Thánh Đức (574-622) lên làm hoàng thái tử nắm giữ đại quyền nhiếp chính
Thái tử Thánh Đức (572-622) là ngời Nhật Bản đầu tiên thực sự hiểu biết các t tởng Nhật Bản của đạo phật và tin tởng vào nó cũng nh bản thân Đức thích
ca Ông chính là ngời sáng lập ra phật giáo Nhật Bản một cách chính thức thế nên sau này thậm chí ông đợc xem là hoà thân của chính Đức Phật Bản thân thái tử
đã từng công bố bản “hiến pháp 17 điều” “những lời giáo huấn đạo đức phần lớn
là đạo Nho xen lẫn những ảnh hởng của t tởng pháp gia nhng xét về nguồn gốc thì lại các giáo lý phật giáo” [19.64], “Hiến pháp 17 điều” mà Thái Tử viết ra đã đợc coi là “một văn kiện lịch sử co tầm quan trọng đặc biệt đối với xã hội Nhật Bản
Trang 25vì nó chuyển tải những t tởng lớn từ nền văn minh Trung Hoa vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Nhật Bản làm cơ sở cho đất nớc này đi vào cuộc sống tốt đẹp hơn”.
Là ngời mộ đạo Thái Tử làm rất nhiều việc có ích cho sự truyền bá của phật giáo đến đại đa số quần chúng nhân dân
Năm 607, trong th gửi Hoàng Đế Trung Quốc Tuỳ Đờng Đế Thái Tử viết:
“Thái tử nớc mặt trời mọc trình th lên Hoàng Đế nớc mặt trời lặn Đợc phật giáo tại quý quốc đơng hồi hng thịnh, tệ quốc gửi sứ sang triều bái và đa theo mấy chục
sa môn để học thêm giáo lý cao thâm của phật Pháp” [17.259] Ngay trong năm đó
sứ đoàn đầu tiên của Nhật Bản đợc cử sang Trung Quốc để học tập văn hoá Trung Hoa Trong suốt 30 năm làm nhiếp chính (bắt đầu từ 593) của mình đã 3 lần Thái
Tử cử các sứ đoàn sang Trung Quốc thực hiện sứ mệnh quan trọng này Đồng thời
46 ngôi chùa cũng đợc xây dựng, trong đó có Horyuzi (pháp long trị) ngôi chùa
gỗ cổ nhất Nhật Bản đợc công nhận là di sản văn hoá thế giới Những công trình còn lại của ngôi chùa này, đợc xác định là có từ cuối thế kỷ 7, những công trình đó mang những nét nghệ thuật có phong cách phật giáo tuyệt đẹp từ thời đó
Trớc đó ngời Nhật đã biết đến phật giáo qua kinh kim cơng, Liên Hoa và nhiều kinh khác Nhng phải đến giai đoạn này nó mới đợc chấp nhận rộng rãi ở Nhật vì đã đáp ứng nguyện vọng tâm linh của nhân dân trong việc thờ cúng thời
kỳ đầu, phật giáo chỉ đợc hâm mộ bởi vẻ đẹp bên ngoài với kiến trúc chùa chiền, các buổi nghi lễ trang trọng, kinh kệ, tợng và ảnh phật, những thứ mà tôn giáo bản
địa trớc đây cha từng có Dần dần, ngời phật đã có sự thay đổi biết trân trọng các yếu tố tinh thần của phật giáo hơn, đặc biệt là trong tình cảm đối với gia đình Tình cảm này đợc củng cố bởi học thuyết đạo hiếu của Khổng Giáo, vì thế những tợng phật đầu tiên đợc làm ở Nhật thờng là dành cho bố mẹ nh một biểu hiện lòng biết ơn của con cái Sau này khi hiểu biết nhiều hơn các nhà s và giới cầm quyền Nhật đã khai thác và sử dụng phật giáo để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Từ
đó phật giáo đợc tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ Đặc biệt vào cuối thế kỷ VI,
đạo phật đã trở thành quốc giáo trong quốc gia Yamato, nó đợc truyền bá rộng rãi
Trang 26trớc hết trong giới cầm quyền nh một hệ thống tín ngỡng mà giáo lý của nó có lợi cho đất nớc Song cũng có thể nói, sử dụng đạo phật vừa là động cơ vừa là công
cụ thúc đẩy nền văn hoá và củng cố quyền lực của giai cấp thống trị Do thời đại Nara đạo phật phát triển nhiều chùa chiền, cung điện đã đợc xây dựng các loại hình nghệ thuật với chủ đề phật giáo cũng ra đời từ đó tiêu biểu là vào 710 một kinh đô cố định và cũng là đô thị đầu tiên của Nhật Bản đó nay là Nara, đợc xây dựng, mô phỏng Tràng An, kinh đô của Đại Đờng, với các đờng phố giống nh bàn
cờ, cung điện và nơi làm việc của chính phủ đợc xây dựng ở tận cùng phía Bắc của một trục đờng xuyên qua trung tâm thành phố theo hớng Bắc Nam thủ đô Heijô có một chiều dài 2,5 dặm và một chiều là 3 dặm so với Tràng An là 5 và 6 dặm Không giống nh Tràng An, một thủ đô thế giới với hơn một triệu dân, Nara mặc
dù đã thu nhỏ lại vẫn quá lớn so với nhân khẩu ít ỏi và tình trạng lạc hậu của Nhật Bản ở nửa phía Tây của nó không có một công trình nào đợc xây dựng, thậm chí cả tờng thành – một đặc trng của các đô thị ở Trung Quốc cũng chẳng có Đơn giản là vì chúng không cần thiết đối với đảo quốc nh Nhật Bản Mặc dù còn nhiều khiếm khuyết những cũng là một nỗ lực rất lớn của Nhật Bản lúc đó Khu vực cố
đô đến nay vẫn còn những cung điện mái ngói lộng lẫy và trở thành những công trình kiến trúc bậc nhất còn giữ lại đợc ở cả khu vực Đông á thời Đờng
Những đền thờ lớn đợc xây dựng trên vùng đồng bằng Yanrato trong và ngoài vòng quanh Nara sau khi thủ đô đợc thành lập ngời ta đã thờ vô số hình ảnh các vị thánh ở đó nh ShakaDainichi và Yakushi và hình tợng về bồ tát nh là Karnon Fugen và Monju Đó là sự trái ngợc với đạo Shinto một tôn giáo không
có thần tợng Trong những đền này một loạt các nghi thức theo các mùa đợc bảo trợ, những nghi thức này dựa trên những bài kinh Mahayara đợc tạo ra để bảo vệ nhà nớc Những bài kinh nh kinh Lotus, kinh ánh vàng và kinh về những vị vua nhân từ có hiệu quả đặc biệt Kinh Lotus có giá trị đặc biệt về đạo đức của nó đối với việc cứu giúp những ngời đã chết bằng cách huỷ diệt những tội lỗi, nghiệp ch-ớng của họ Nó trở thành sách kinh đợc tôn thờ nhất ở Nhật Bản Trong sách kinh này ngoài những bùa chú và sự hứa hẹn giúp đỡ còn có những điểm của luận
Trang 27thuyết siêu hình, thuyết này đợc các học giả, tăng lữ nghiên cứu và dần dần làm sống lại những gì đợc hiểu nh là sáu trờng phái của đạo phật Nara Mặc dù những giả thuyết trừu tợng này bản thân chúng không bao giờ vợt ra ngoài giới hạn của những tu viện, một vài từ vựng là khái niệm cơ bản cuối cùng đã xâm nhập vào văn học và văn hoá nói chung.
Dù có mặt tích cực hay tiêu cực, những vẫn cơ thể nói rằng phật giáo là
động cơ thúc đẩy sự tiến bộ của nền văn hoá dân tộc, “ nó có vai trò đáng ghi nhận trong nền văn minh của Nhật Bản Nhờ có phật giáo Nhật Bản đã có những bớc đi ban đầu làm phong phú thêm nền văn hoá riêng của mình” đồng thời “ phật giáo
đã đem một luồng gió mới cho sự phát triển của tín ngỡng, trở thành một hệ thống
có tín ngỡng có sức thuyết phục nhất định và mang đến cho Nhật nhiều yếu tố mới, đạo lý mới, trí thức mới đủ loại có thể chi phối văn học nghệ thuật, thủ công
mỹ nghệ mà tín ngỡng cổ truyền của dân tộc Nhật cha đủ sức làm đợc
Trong phần này chúng tôi đề cập đến một số đặc điểm Phật giáo Nhật Bản:
Đạo phật là một đức tin hoàn toàn khác với đạo Shinto Mục đích của những môn
đệ của đạo phật là sự giải thoát nội tâm đã học đợc từ kinh nghiệm và sau đó đợc dạy bởi đức phật ở ấn Độ, cốt lõi của giao lý đạo phật đó là thế giới mà chúng ta thờng thấy là không thực, không vững chắc và sinh ra những sự đau khổ cho con ngời những đau khổ bắt nguồn từ dục vọng này nảy sinh thông qua những ý muốn của bản thân Chỉ xoá bỏ nguyên nhân này, nhận ra thế giới và chính mình nh chúng có thực thì những khổ hạnh này sẽ không còn cách để làm mất đi những ảo tởng chủ yếu của chúng ta là phật pháp hoặc sự dạy bảo của đức phật
Con đờng của đạo phật chỉ ra nguồn gốc của điều xấu đang tồn tại trong tâm tởng của mỗi chúng ta, nh vậy nó đứng tơng phản rõ ràng với Shinto, Shinto xem xét toàn thể bên ngoài Kami hoặc những vị thần của Shinto đợc hiểu nh là những ngời ban phát niềm sung sớng về vật chất bên ngoài khả năng của con ngời không bao giờ biểu lộ chân lý nội tâm hoặc chân lý tối hậu Hầu hết những kết quả thu đợc do sự nổ lực về mặt tôn giáo trong thời kỳ đầu của Shinto có vẻ nh đợc h-ớng tới sự ủng hộ của thần thánh trong thế giới này, nh là mùa màng dồi dào và
Trang 28chống nạn đói và bệnh tật Không có truyền thống nào ở Nhật có thể so sánh đợc với Lão Giáo ở Trung Quốc, phơng pháp tinh thần hớng tới việc thay đổi ý thức bên trong để lĩnh hội đợc chân lý rộng lớn vào thời gian giáo lý đạo phật vào Nhật cuối thế kỷ VI Con đờng gốc đơn giản, những khó khăn đợc bao bọc bởi học thuyết và sự mô tả bằng tranh của những vị cứu tinh nhằm làm cho nó dễ đi theo hơn Trờng Mahayana của đạo phật đã tạo ra con đờng của nó Từ phía Đông ấn
Độ đến Trung Quốc theo con đờng tơ lụa xuyên qua Trung á, nó đợc khẳng định
có thể cứu vớt linh hồn không chỉ cho cá nhân có công hiến mà tất cả mọi ngời Nhằm một mục đích này một đền thờ đợc tạo ra để giúp đỡ những chúng sinh yếu
đuối và thêm vào đó những ngời bảo vệ thiên nhiên khác nh 4 vị vua Dera Từ ờng Mahayana cũng còn sinh ra một dòng kinh không tên nó không chỉ trình bày chi tiết học thuyết siêu hình mà còn hứa với các môn đồ về sự giúp đỡ của cá thần thánh trong mọi khó khăn nếu anh ta sao chép lại và đọc thuộc lòng những từ có hiệu nghiệm
tr-Đạo phật ở Nhật Bản luôn luôn đa ra hai mặt khác nhau Những mặt này ớng tới cho hai loại ngời khác nhau đối với phần đông những ngời không có nguyện vọng thực sự để thực hiện những lời dạy của đức phật với từng chữ, và những ngời không sẵn sàng chịu phục tùng chế độ ăn uống nghiêm ngặt Đạo phật luôn cung cấp hai dịch vụ quan trọng cả hai không có sự liên hệ nào với thông
h-điệp gốc của đức phật Nó cung cấp những lợi ích đời thờng quen thuộc Trong hầu hết các tôn giáo có các đền mà nguồn thu nhập chính là từ một loạt dịch vụ
nh chữa bệnh, an toàn giao thông, tìm ra đôi lứa hợp nhau Thứ hai là đạo phật…quan tâm đến chăm sóc ngời chết trong cả 2 ý nghĩa thực tiễn và tinh thần Không
bị cản trở bởi sự ô uế, điều luôn làm cái chết trở nên rắc rối trong đạo Shinto Đạo phật từ thời gian đầu đã đa ra lễ cầu hồn trong đám ma nó đợc coi là phơng pháp hữu hiệu nhất của việc đặt ngời đã chết yên nghỉ và tẩy trừ những tai hoạ của họ Trong ý nghĩa này nó đã lấp một chỗ hổng quan trọng trong đời sống tinh thần Nhật Bản, nhng bằng cách nh vậy đã làm cho nó xa rời khỏi học thuyết gốc đối với số ít ngời Nhật - những ngời có khát vọng với đời sống tinh thần, những ngời
Trang 29đó coi thế giới là không có thực và đầy rẫy sự đau khổ Đạo phật cung cấp một vài phơng pháp có thể thành công đợc trong sự rèn luyện t tởng, bằng cách đó những môn đồ có thể hy vọng mang lại sự thay đổi tất yếu của nhận thức Nổi bật trong
số này là lối tập huyền thiền định của trờng shingon, Tendai, và Zen Tất cả những trờng phái này đều đòi hỏi mức độ tập trung và thoát lý hoàn toàn với sự nhấn mạnh tới đời sống nội tâm, điều không đáng ngạc nhiên là đạo phật đã cung cấp cho ngời Nhật toàn bộ khái niệm đạo đức cho đến bây giờ vẫn cha đợc biết Trong Shinto không có từ vựng về đạo đức Đạo phật đã đa đến cho văn hoá Nhật Bản những từ về lòng thơng xót, anh minh, lòng từ bi, lòng thân ái, tất cả có liên quan đến cứu cánh tinh thần của sự giác ngộ đạo phật
Một trong những sức mạnh chính của đạo phật nằm trong tính linh hoạt dễ thích ứng của nó và sự nhận thức về nhiều con đờng dẫn tới cùng một chân lý cuối cùng Có một vài ngoại lệ đáng chú ý Giáo phái Nicchiren tự cho mình là chân lý duy nhất và tuyệt đối và đã bác bỏ các tín ngỡng khác một cách thô bạo và lịch sử
đạo phật cuối thời Trung Cổ của Nhật là những cuộc xung đột thờng xuyên, nhng nói một cách khái quát, sự mâu thuẫn mang tính bè phái không phổ biến và đạo phật đuợc đặc trng bởi tính rất đa dạng của nó
2.2.1 Quá trình du nhập và niên đại Phật giáo truyền đến Nhật Bản.
Nhật bản có tín sử là bắt đầu từ thời Thái Tử Thánh Đức Vì trớc đó Nhật bản cha có lịch pháp, nên không có cách nào để ghi niên đại Đến năm thứ 10 suy
cổ Thiên Hoàng, S tăng ở Bắch Tế là quan Lặc mới truyền lịch pháp vào Nhật bản
và bắt đầu đợc dùng từ tháng giêng năm Giáp Tý, năm thứ 12 suy cổ Thiên Hoàng
Đây là lịch Nguyên gia do Hà Thừa Thiên biên soạn vào năm thứ 20 niên hiệu Nguyên Gia ra đời Văn đế nhà Lu Tống Lịch Trung Quốc tích năm bằng can chi,
60 năm là một nguyên, 21 nguyên (1260 năm) là một bạc Lại theo thuyết âm
d-ơng ngủ hành đời Hán, tin rằng cứ gặp năm Tân Dậu thì quốc gia sẽ có biến đổi lớn Năm thứ 9 suy cổ Thiên Hoàng là năm Tân Dậu, tính thêm 1260 năm là năm Thần vũ Thiên Hoàng lên ngôi Thực ra đây chỉ là giả định của nguời Nhật mà thôi
Trang 30ở Nhật bản, trớc thời suy cổ Thiên hoàng quả là đã có văn hoá Nhng nền văn hoá Nhật bản lúc bấy giờ là do dân Tần Hán di c mang đến, là văn hoá Trung quốc Cho nên đến Thái Tử Thánh Đức (574-622) thì đã biết vận dụng t tởng Nho, phật lu hành ở trung quốc.
Phật giáo bắt đầu đợc lu truyền vào Nhật bản dới thời kế thể Thiên Hoàng (807-531) Nhng mãi đến đời Thái tử Thánh Đức thì nó mới đợc truyền bá công khai Ngời ta cho rằng lịch sử Nhật Bản thực sự chỉ bắt đầu vào thế kỷ thứ VI gắn liền với hiện tợng có đặc trng của tôn giáo, sự du nhập của phật giáo vào Nhật Bản Vì vậy chúng tôi giới thiệu lịch sử Nhật bản là bắt đầu từ giai đoạn này.Về phơng pháp phân kỳ lịch sử phật giáo Nhật bản, các học gia có chỗ chua nhất trí, Đại thể chia làm 7 thời ky
1 Thời kỳ phi Điểu : Từ Khâm Minh Thiên Hoàng đến Văn Vũ Thiên
Hoàng (540 – 707 Công lịch) Thời kỳ này Nhật Bản đóng đô ở vùng Phi Điểu, thuộc đảo Đại Hoà, cho nên ngời ta gọi là thời Phi Điểu
2 Thời kỳ Nại Lơng: Bắt đầu từ Nguyên Minh Thiên Hoàng đến Quang
Nhân Thiên Hoàng, gồm 7 đời vua khoảng 70 năm (708-781), vì thời kỳ này kinh
đô chuyển đến đóng đô ở Nại Lơng nên lịch sử gọi là thời kỳ Nại Lơng
3 Thời kỳ Bình An: Từ Hoàn Vũ Thiên Hoàng đến Hậu Điểu Vũ Thiên
Hoàng, trải qua 400 năm (782 – 1197) sở dĩ gọi là thời kỳ Bình An vì từ năm Diên Lịch thứ 34 (794) đã dời đô đến kinh đô Bình An
4 Thời kỳ Liêm Thơng: Cuối thời kỳ Bình An thế lực Hoàng Triều suy sụp,
các võ quan trong triều đánh lẫn nhau, kết thúc chiến tranh loạn lạc là Nguyên lại thống nhất toàn cục, nắm thực quyền, đợc bổ nhiệm làm chinh di đại tớng quân Sau đó năm thứ 3 niên hiệu Nguyên Hoằng của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (1192),
đặt mặc phủ tớng quân ở Liêm Thơng, mở đầu cho nền chính trị Vũ gia Mãi đến năm thứ 3 niên hiệu Nguyên Hoằng của Hậu Đế Hồ Thiêm Hoàng (1833) Khi Bắc Điều Cao Thời diệt vong mới chấm dứt Vào thời kỳ này Liêm Thơng là trung tâm chính trị, nên đợc gọi là thời kỳ Liên Thơng