Về tôn giáo nói chung và Kitô giáo nói riêng từ trớc tới nay đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong cũng nh ngoài nớc nh: "Chủnghĩa xã hội và tôn giáo"của V.I Lênin,
Trang 1trờng đại học vinh khoa – Lịch Sử
Giáo viên hớng dẫn: ThS Bùi Văn Hào
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phơng
Lớp : K42B1
Vinh, 2005
= =
Trang 2Lời cảm ơn.
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đợc nhiều sự giúp đỡ Qua
đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử; đặc biệt là thầy giáo hớng dẫn – Thạc sĩ Bùi Văn Hào, ngời đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn th viện Quốc Gia Hà Nội, Viện nghiên cứu Đông Nam á, trờng Đại học Quốc Gia Hà Nội, trờng Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Th viện tỉnh Nghệ An, Th viện trờng Đại học Vinh và Th viện khoa Lịch Sử đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc tìm t liệu.
Vì thời gian và nguồn t liệu có hạn, bản thân còn chập chững trên con đờng nghiên cứu khoa học nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong đợc sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các bạn.
Tác giả:
Nguyễn Thị Phơng
**************************************
Trang 3Mục lục.
1 Lý do chọn đề tài……… 3
2 Lịch sử vấn đề……… 4
3 Phạm vi đề tài……… 6
4 Phơng pháp nghiên cứu……… 6
5 Bố cục đề tài……… 6
Nội dung: Chơng 1 Khái quát về cơ sở ra đời, sự ra đời của đạo Kitô 1.1 Cơ sở ra đời……… 7
1.2 Sự ra đời……… 12
Chơng 2 Quá trình chia tách lần thứ nhất của đạo Kitô (từ thế kỷ V đến thế kỷ XI) 2.1 Sự phát triển của đạo Kitô từ thế kỷ I đến thế kỷ V ( từ khi ra đời cho đến khi trở thành quốc giáo)……… 18
2.2 Nguyên nhân và quá trình chia tách của đạo Kitô lần thứ nhất 36
2.3 Sự phát triển của hai giáo phái: Công giáo và Chính thống giáo từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV……… 40
Chơng 3 Phong trào cải cách tôn giáo và sự ra đời của giáo phái mới - Đạo Tin lành 3.1 Nguyên nhân dẫn đến phong trào cải cách tôn giáo ở Châu Âu (thế kỷ XVI)……… 47
3.2 Một số cuộc cải cách tôn giáo tiêu biểu……… 56
3.3 Sự ra đời của giáo phái mới - Đạo Tin lành……… 69
Kết luận……… 72
Tài liệu tham khảo……… 74
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tôn giáo là một hình thái ý thứcxã hội , là sự phản ánh một cách xuyên tạc và lộn ngợc vào đầu óc con ngời tanhững lực lợng tự nhiên, xã hội đang thống trị họ Họ tin rằng bên cạnh thếgiới hiện thực còn tồn tại một lực lợng siêu nhiên và chính lực lợng này đangchi phối đến vận mệnh con ngời Và từ trớc đến nay, ngời ta chủ yếu tập trungphân tích tính tiêu cực của tôn giáo, đúng nh Mác nói : "Tôn giáo là tiếng thởdài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có trái tim,cũng giống nh nó là tinh thần của một trạng thái không có tinh thần Tôn giáo
là thuốc phiện của nhân dân" Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây,các nhànghiên cứu đã có những đánh giá khách quan hơn về tôn giáo (kể cả mặt tíchcực lẫn tiêu cực) Bởi vì xét cho cùng thì tôn giáo là yếu tố không thể thiếu đợccủa văn hoá cộng đồng Mặc dù các tôn giáo khác nhau về địa lý, khác nhau
về niềm tin nhng đều có mẫu số chung là hớng thiện
Trên thế giới hiện nay có nhiều tôn giáo, mỗi khu vực, mỗi quốc gia chịu
ảnh hởng của một số tôn giáo khác nhau Riêng Kitô giáo thì đây là môt trong
ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới, với số tín đồ đông đảo nhất (chiếm khoảnggần 1/3, hơn 1/4 tổng dân số thế giới) Đạo Kitô ra đời vào những năm tiếpgiáp công nguyên, khi mà ở đó còn tồn tại chế độ nô lệ Cùng với quá trìnhphát triển của lịch sử cũng nh với các tôn giáo khác, đạo Kitô đã có nhiều biến
đổi, những điều chỉnh nhất dịnh để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Do đó
từ một tôn giáo ta thờng gọi là đạo Kitô ( đạo Cơ đốc, nói chính xác hơn là các
đạo Ki tô - tức là các tôn giáo cùng thờ một vị chúa Giêsu Crit), dần dần nóchia tách thành các giáo phái mới và tồn tại một cách độc lập nh Chính thốnggiáo, Công giáo (còn gọi là Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo) và đạo Tin lành
Trang 5Bản thân s chia tách này một mặt phản ánh sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử
đối với tôn giáo Mặt khác nó là kết quả của quá trình biến đổi, phát triển đểphù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới
Thông qua việc tìm hiểu quá trình chia tách của đạo Kitô từ thế kỉ V
đến thế ki XVI cho phép chúng ta có một cách nhìn tổng thể các giai đoạnphát triển cũng nh đặc điểm của tôn giáo này qua các thời kỳ lịch sử Đồngthời giúp chúng ta nắm vững hơn mối quan hệ , tác động qua lại giữa tôn giáovới các vấn đề khác nh chính trị, văn hoá,xã hội
Hiện nay, trên đất nớc chúng ta tồn tại một lúc nhiều tôn giáo nh đạoThiên chúa, đạoTin lành, đạo Phật, đạo Hoà Hảo, đạo Cao Đài Đảng và Nhànớc ta chủ trơng tự do tín ngỡng Tuy nhiên, một số phần tử phản động đã lợidụng tôn giáo để chia rẽ, kích động quần chúng nhân dân Do đó việc tìm hiểutôn giáo nói chung và Kitô giáo nói riêng một mặt sẽ góp phần giữ vững khối
đoàn kết toàn dân, mặt khác giúp cho mỗt chúng ta có thể tránh đợc nhữnghành động có tính chất mê tín dị đoan – một hiện tợng khá phổ biến trongcuộc sống hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài khoáluận là:"Tìm hiểu quá trình chia tách của đạo Kitô từ thế kỷ V đến thế kỷ XVI".
2 Lịch sử vấn đề.
Về tôn giáo nói chung và Kitô giáo nói riêng từ trớc tới nay đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong cũng nh ngoài nớc nh: "Chủnghĩa xã hội và tôn giáo"của V.I Lênin, "Lịch sử ba tôn giáo thế giới"của L-
ơng Thị Thoa, hay "Mời tôn giáo lớn trên thế giới"do Hoàng Tâm Xuyên (chủbiên)
Riêng nghiên cứu về đạo Kitô nói chung thì đây là vấn đề khá hấp dẫn
và lý thú Đặc biệt nghiên cứu về quá trình chia tách của đạo Kitô từ thế kỷ V
đến thế kỷ XVI là đề tài có nhiều điều mới mẻ Hiện nay cũng có rất nhiều
Trang 6chuyên khảo phân tích cơ sở ra đời, sự ra đời cũng nh giáo lý, giáo luật, cáchthực hành đạo Song tài liệu về quá trình chia tách của đạo Kitô thì cha nhiều Trong tác phẩm "Lịch sử ba tôn giáo thế giới"của Lơng Thị Thoa - NXBGiáo dục 2000; tác giả đã đề cập đến cơ sở ra đời, sự ra đời cũng nh giáo lý,giáo luật trong đó ít nhiều đề cập đến sự khác nhau giữa Công giáo với Chínhthống giáo cũng nh với đạo Tin lành.
Trong tác phẩm "Mời tôn giáo lớn trên thế giới" của tác giả Hoàng TâmXuyên - NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội 1999, trong đó tác giả đề cập kháiquát về Kitô giáo nh về chúa Giêsu, bối cảnh ra đời, đặc điểm tín ngỡng và tácgiả cũng đề cập đến sự chia rẽ của giáo hội, phong trào cải cách tôn giáo
Hay trong tác phẩm "Tôn giáo thế giới và Việt Nam"của tác giả Mai
Thanh Hải - NXB Công an nhân dân 1998, tác giả đã đề cập khá nhiều về đạoKitô (chủ yếu nói về đạo Chính thống và đạo Tin lành), nhất là ở Việt Nam
Từ những tài liệu mà chúng tôi có dịp tiếp cận, chúng tôi quyết định chọn
đề tài "Tìm hiểu quá trình chia tách của đạo Kitô từ thế kỷ V đến thế kỷ XVI" với cái nhìn tổng quát từ nhiều khía cạnh khác nhau.
3 Phạm vi đề tài.
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tập trung giải quyết những vấn đềchủ yếu sau:
- Cơ sở ra đời và sự ra đời của đạo Kitô
- Sự chia tách của đạo Kitô lần thứ nhất
- Phong trào cải cách tôn giáo và sự ra đời của giáo phái mới - Đạo Tinlành
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Trang 7Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp lôgic lịch sử Ngoài ra trong quá trình xử lý t liệu, chúng tôi còn kết hợp với một sốphơng pháp khác nh phơng pháp so sánh, đối chiếu, thống kê
-5 Bố cục đề tài.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chínhgồm có 3 chơng sau:
Chơng 1: Khái quát về cơ sở ra đời, sự ra đời của đạo Kitô
Chơng 2: Qúa trình chia tách lần thứ nhất của đạo Kitô (từ thế kỷ V đếnthế kỷ XI)
Chơng 3: Phong trào cải cách tôn giáo và sự ra đời của giáo phái mới- ĐạoTin lành
Trang 8ơng nhân và ngời lao động tự do, nô lệ và thợ thuyền Mâu thuẫn giai cấp ngàycàng trở nên gay gắt, tầng lớp nô lệ và thợ thuyền bị áp bức bóc lột thậm tệngày càng căm ghét tầng lớp tăng lữ và quý tộc, đòi hỏi cuộc sống tự do, bình
đẳng Và nếu nh đạo Hồi ( tức đạo Ixlam) ra đời dựa trên cơ sở kinh tế, chínhtrị, tôn giáo: Hồi giáo ra đời cùng với quá trình xã hội ả Rập bớc vào phânhoá giai cấp sâu sắc làm nảy sinh nhu cầu tín ngỡng từ đa thần giáo sang độcthần Giai cấp chủ nô thống trị xã hội đang có nhu cầu thống nhất các bộ lạcthành nhà nớc tập trung, có đủ sức mạnh để kiểm soát tuyến đờng buôn bán từ
Đông sang Tây Hay Phật giáo Hoà Hảo ra đời dựa trên cơ sở xã hội, tôngiáo… Thì đạo Kitô ra đời cũng dựa trên những cơ sở của nó Đó là cơ sở kinh
tế - xã hội, cơ sở triết học, cơ sở thần học Do Thái và sự hoà trộn nhiều yếu tốtôn giáo, tín ngỡng, phong tục tập quán Để hiểu rõ chúng ta sẽ tìm hiểu từngcơ sở cụ thể:
1.1.1 Cơ sở kinh tế – xã hội.
Lịch sử Rôma từ thế kỷ VI đến thế kỷ III trớc công nguyên là thời đạicộng hoà, một thời kỳ lịch sử xảy ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa bình dân
Trang 9Plep và quý tộc chủ nô Pơtơrixi, thời kỳ nền cộng hoà đợc thiết lập khá vữngchắc, nền kinh tế Đại điền trang (Latiphunđia) xuất hiện và phát triển Đồngthời đây cũng là thời kỳ giai cấp thống trị chủ nô Rôma liên tục mở rộng lãnhthổ ra bên ngoài bằng các cuộc chiến tranh xâm lợc Đến đầu công nguyên,Rôma đã là một đế quốc lớn trải dài từ Đông sang Tây, bao gồm toàn bộ bán
đảo Italia, Lỡng Hà, Ai Cập, Bắc Phi, Tiểu á và nhiều quốc gia vùng ĐịaTrung Hải Nhng đế quốc này cho dù ở thời kỳ thịnh nhất cũng không phải là
“Thái bình thịnh thế”, danh khác với thực, bởi vì trong đế quốc này mâu thuẫngiữa giai cấp thống trị Rôma với giai cấp thống trị các tỉnh, mâu thuẫn giữangời Rôma với các dân tộc khác rất gay gắt Đối với các cuộc khởi nghĩa củacác dân tộc, dẹp yên đợc chỗ này chỗ khác lại vùng lên liên miên không ngớt.Chính vì vậy mà đế quốc lớn mạnh này lâm vào tình trạng tan rã
Vùng Palextin cách Rôma rất xa, đông từ vịnh Ba T đến phía tây biêngiới Ai Cập, trong lịch sử đã trải qua bao thời kỳ binh đao khói lửa kinhhoàng Từ 20 thế kỷ trớc công nguyên, trớc sau nó đã bị chiếm đóng, dày xéocủa ngời Acmênia, ngời Xích và ngời Ai Cập Thế kỷ XV trớc công nguyên,ngời Hêbrô (còn gọi là ngời Ebrai, sau chỉ ngời Ixraen, tức là dân tộc Do Tháingày nay) bắt đầu tiến vào mảnh đất “Canaan tơi đẹp”, hơn thế các thổ dânCanada và ngời Phênixi đã tiến hành các cuộc chiến tranh liên miên, thế kỷXIII trớc công nguyên, ngời Ai Cập đã chinh phục lại khu vực này, nhng sựthống trị của nó về sau lại bị ngời Phênixi của một dân tộc mới lật đổ, đế quốc
Ai Cập bị diệt vong rất nhanh Bắt đầu từ thế kỷ VIII trớc công nguyên trở đi,ngời Yasu, ngời Babilon, ngời Batơ lần lợt vào làm chủ Canaan, khiến cho dântộc Do Thái ở vùng này nhiều lần bị tấn công và áp bức Thế kỷ III trớc côngnguyên, khu vực này trải qua sự thống trị của đế quốc Hi Lạp Cuối cùng đếnthế kỷ I trớc công nguyên đã trở thành một bộ phận của đế quốc Rôma
Lại nói về Rôma, có thể nói đến những thế kỷ đầu công nguyên (thế kỷ
II – I trớc công nguyên và thế kỷ I – II sau công nguyên), thì đế quốc Rôma
Trang 10đã trở thành một đế quốc hùng mạnh, một đế quốc đợc thiết lập bằng chiếntranh thu phục và dựa trên nền tảng của chế độ chiếm nô Cũng thời kỳ nàygiai cấp thống trị chủ nô đã đặt ách thống trị trên phạm vi toàn đế quốc, nềnkinh tế điền trang đặc biệt phát triển mạnh mẽ, ách thống trị của giai cấpthống trị chủ nô đối với dân chúng ngày càng nặng nề hơn bao giờ hết Khôngphải chỉ có nô lệ mà ngay cả dân tự do các tỉnh nằm trong đế quốc cũng phảisống trong điều kiện bị ngợc đãi thậm tệ, họ bị lạm dụng và phải đóng đủ mọithứ thuế, tạp dịch Luật lệ nổi tiếng của hoàng đế Tibêriuxơ là “cắt lông chứ
đừng lột da” thể hiện trong bức th gửi cho viên thái thú Ai Cập là Emili Rêctơ
đã minh chứng cho sự tàn bạo của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động.Nô lệ và dân nghèo trong đế quốc Rôma phải sống một cuộc sống vô cùngcực khổ dới hai tầng áp bức: một là gọng kìm thuế khoá của chính quyềnhoàng đế Rôma, hai là sự bóc lột của bọn đi xâm chiếm và bọn quyền thế ở
điạ phơng Khắp nơi vang lên những tiếng nguyền rủa của nhân dân lao động
đối với bọn thống trị Hàng triệu nô lệ và dân nghèo coi chính quyền chủ nô là
kẻ thù không đội trời chung với họ và họ đã nhiều lần nổi dậy khởi nghĩa
Đáng kể là cuộc khởi nghĩa năm 136 – 132 trớc công nguyên và cuộc khởinghĩa năm 104 – 99 trớc công nguyên trên đảo Xixin Song lớn hơn cả làcuộc khởi nghĩa của nô lệ do Xpáctcuxơ lãnh đạo (năm 73 – 71 trớc côngnguyên) Sau khi các phong trào đó thất bại, trong quần chúng nhân dân nảysinh tâm trạng bi quan, chán nản, mệt mỏi Chính trong tâm trạng tuyệt vọng
và mệt mỏi đó, quần chúng lao khổ đã hớng tới một sự giải thoát, trông chờvào sự giúp đỡ của lực lợng siêu nhiên – là một vị thần hay một đấng cứu thế,
mà có thể đánh đổ đế quốc Rôma, giải phóng nô lệ và dân nghèo khỏi áchthống trị của gia cấp chủ nô, xây dựng một vơng quốc công bằng, bình đẳng.Kitô giáo đã ra đời trong một hoàn cảnh xã hội nh thế Chính vì vậy, ở buổi
đầu “Kitô giáo là tôn giáo của những ngời nô lệ, của những ngời nghèo khổ vànhững dân tộc không có quyền, bị nô dịch hay bị Rôma hoá”[9;244]
Trang 111.1.2 Cơ sở triết học.
Sự xuất hiện của đạo Kitô còn dự trên nền tảng triết học của Hi Lạp vàRôma cổ đại Mà đặc điểm nổi bật của triết học Hi – La cổ đại là ít mangtính tính thần bí và ít mang màu sắc tôn giáo Ngay từ đầu nó đã đi vào giảiquyết vấn đề cơ bản để từ đó hình thành hai trờng phái triết học là triết họcduy vật và triết học duy tâm Trong triết học duy tâm có nhiều trờng phái nhtrờng phái Khắc kỷ, trờng phái Platon mới, trờng phái Pitago mới, trờng pháichiết trung, trờng phái hoài nghi… trong trờng phái Khắc kỷ có hai đại biểuxuất sắc là Xênêcơ và Philông
Xênêcơ (Rôma) đợc Enghen mệnh danh là “Bác của đạo cơ đốc”, ôngvốn là thầy dạy tên bạo chúa Nêrôn, ông viết khá nhiều tác phẩm triết học nhtác phẩm “ Bàn về nhân từ”, “Bàn về phẫn nộ”, “Bàn về sự yên tĩnh”, “Bàn vềcuộc sống hạnh phúc”… trong tác phẩm của mình, ông thể hiện rõ quan điểmduy tâm thần bí Ông cho rằng: “Thể xác là gánh nặng của linh hồn, là sựtrừng phạt đối với linh hồn Cuộc sống trần gian chỉ là khúc dạo đầu của cuộcsống bên kia linh hồn và đối với cuộc sống bên kia, ngời nô lệ và kẻ bần hàn,cũng nh ngời giàu và quý tộc đều có thể đạt đợc nh nhau”[14;7] Nh vậy, theoluận thuyết của Xênêcơ thì con ngời cần phải sống nhẫn nhục, phục tùng sốmệnh, phải từ bỏ lạc thú ở đời, sống thanh đạm nơi trần thế để rồi đợc đền bù
ở thế giới bên kia Quan điểm của ông hoàn toàn phù hợp với lợi ích và mongmuốn của giai cấp quý tộc lúc bấy giờ là nhằm củng cố và duy trì trật tự xãhội đơng thời
Phi lông (ngời gốc Alếchxanđơri) đợc Anghen gọi là “Cha đẻ của đạocơ đốc”, theo Phi lông thì: “Thế giới vật chất trong đó có bản thân con ngời làcăn nguyên của mọi tội lỗi, sự hèn hạ, còn thể xác là ngục thất của linh hồn.Một vực thẳm đã chia đôi thế giới vật chất và thế giới tinh thần Giữa hai thếgiới đó có một vật trung gian - đó là Đạo, là Đấng cứu thế, là Toà thánh Nhờ
đó mà con ngời tội lỗi một khi có lòng tin sẽ đợc cứu vớt”[14;7]
Trang 12Với những quan điểm này cả hai ông đã kêu gọi con ngời từ bỏ nhậnthức thế giới hiện thực, ca ngợi thần thánh và sự duy tâm thần bí Đồng thờikhuyên con ngời phải sống nhẫn nhục, chịu đựng trần thế, phục tùng số mệnh,phải từ bỏ mọi lạc thú, có nh thế thì mới đợc đền bù một cuộc sống tốt đẹp ởthế giới bên kia Đó chính là cơ sở t tởng lý luận cho sự ra đời và hình thànhgiáo lý của đạo Kitô.
1.1.3 Cơ sở thần học đạo Do Thái.
Cùng với cơ sở xã hội và triết học nói trên, đạo Kitô ra đời còn dựa trêncơ sở thần học Do Thái Những tín điều đợc nêu trong kinh thánh của đạo DoThái nh : lịch sử sáng thế, tội tổ tông, sự màu nhiệm của đức Chúa Trời, linhhồn và thể xác, thiên đàng và địa ngục…đều đợc nói tới trong kinh thánh Kitôgiáo Có thể nói giáo lý cơ bản của đạo Kitô giữ nguyên hoặc phát triển nhữngtín điều của đạo Do Thái
1.1.4 Ngoài việc dựa vào thần học Do Thái và t tởng triết học duy tâm Hi
Lạp – Rôma để xây dựng một giáo lý hoàn chỉnh Kitô giáo ra đời còn đợcchuẩn bị bởi sự hoà trộn nhiều yếu tố của tôn giáo, tín ngỡng, phong tục tậpquán của các dân tộc ở khắp các vùng trong đế quốc, đặc biệt là các dân tộcvùng Trung Cận Đông Ví dụ, quan điểm về đấng Cứu thế đợc nhiều tiên tricủa các dân tộc nói đến bằng những tên tuổi khác nhau nh: Ôrôsơ (Oros),Khơrônôxơ (Khronos), Hêculơ (H culis) Hình ảnh chúa Giêsu cũng đð ợc xâydựng bằng nhiều phẩm chất thiêng liêng của các vị thần nh Iavơ (Yahve) –ngời anh hùng của dân tộc Do Thái bị đóng dinh trên cây thánh giá; hay thầnHerule trên núi ốcta đợc xem là con của thợng đế xuống trần gian chịu chết
để đem lại hoà bình cho mọi ngời Các thần Isin, Ôridit (Ôrisin) ở Ai Cập,thần thánh trong tín ngỡng Mitơra (Mithra) của dân tộc Iran… đều đợc nói tớitrong các giáo hoàng Kitô giáo sơ kỳ Enghen đã nhận xét rằng: “Lòng tin ở
đạo Kitô là do sự kết hợp giữa thần học của ngời phơng Đông, đặc biệt là của
Trang 13ngời Do Thái với triết học của ngời Hi Lạp, đặc biệt là của Xtôixit mà sinhra”[18;226].
Tuy nhiên về cơ sở cho sự ra đời của đạo Kitô cũng cần làm rõ một điềurằng: Mặc dù Kitô giáo sử dụng nhiều yếu tố triết học, thần học, phong tục tậpquán, tín ngỡng các dân tộc khác nhau trong đế quốc Rôma để xây dựng giáo
lý của mình Song trong quá trình hình thành và hoàn thiện Kitô giáo đã chọnlọc, cải biên và gạt bỏ những yếu tố của tín ngỡng địa phơng không thích hợp,
cố gắng tạo ra những nét chung mang tính phổ cập, đáp ứng với xu hớng thờ
độc thần, phù hợp với lòng mong đợi của các dân tộc khác nhau về một đấngCứu thế
1.2 Sự ra đời của đạo Kitô.
Nếu nh sự ra đời của đạo Phật gắn liền với tên tuổi của Thái tử SitđactaGôtama (Siddharta Gotama); đạo Ixlam ( đạo Hồi) gắn liền với tên tuổi củaMôhamét (570 – 632); Phật giáo Hoà Hảo ra đời gắn với tên tuổi của HuỳnhPhú Sổ (sinh 1920) hay đạo Cao Đài ra đời gắn với tên tuổi của Ngô MinhChiêu (sinh 1878), Lê Văn Trung (sinh 1875), Phạm Công Sắc (sinh 1893)…thì đạo Kitô ra đời lại gắn với tên tuổi của Giêsu Crit (Jesu Christ)
Theo truyền thuyết Kitô giáo thì ngời sáng lập ra tôn giáo này là GiêsuCrit, con của Đức bà đồng trinh Maria, đợc Đức chúa trời đầu thai vào ngời
Ông đợc sinh ra tại vùng Bethelem thuộc Palextin (nơi sinh sống của dân tộc
Do Thái) – một tỉnh của đế quốc Rôma
Tuy nhiên, về nhân vật Giêsu Crit hiện nay có nhiều quan điểm khácnhau, có quan điểm phủ nhận cho rằng không có nhân vật Giêsu Crit, nhng cóquan điểm lại thừa nhận Giêsu Crit là có thực
Những học giả phủ nhận nhân vật Giêsu Crit là nhân vật có thực phầnlớn có một số quan điểm dới đây:
Có ý kiến cho rằng Giêsu là nhân vật trong truyền thuyết sai lầm
Trang 14Có ý kiến cho rằng Giêsu trong Cơ đốc giáo trên thực tế là sự h cấu mộtnhân vật cùng tên trong lịch sử.
Trong những sử liệu cùng thời đại và trong những khai quật khảo cổkhông tìm đợc căn cứ đầy đủ Ngoài ra trong giáo hội cũng có một số ngời phủnhận một Giêsu có thân xác, máu thịt, họ cho rằng Giêsu cơ đốc là thần, chorằng Giêsu là con ngời bằng máu thịt trong lịch sử chỉ là một loại “huyễn t-ởng” hoặc đó cũng chỉ là ảo giác của con ngời
Trong số những ngời chủ trơng Giêsu là nhân vật có thực có ngời là họcgiả theo đạo Cơ đốc nhân sỹ bảo vệ giáo, cũng có học giả không phải là giáo
đồ Cơ đốc, giữa các quan điểm thờng có sự khác biệt khá xa, có thể chia ramột số loại sau:
Quan điểm một: tiếp nhận toàn bộ sự ghi chép của Kinh Thánh, duy trìbảo vệ truyền thống của giáo hội, cho rằng Giêsu chính là Christos bằng xơng,bằng thịt
Quan điểm hai cho rằng: Giêsu là “thủ lĩnh phản loạn” của ngời DoThái lúc đó
Quan điểm ba cho rằng: Giêsu là ngời lãnh đạo một phong trào cáchmạng
Quan điểm bốn cho rằng: Giêsu là một tên đại lừa đảo
Quan điểm năm cho rằng: Giêsu là một nhà tiên tri chết vẫn không giácngộ
Quan điểm sáu: Giêsu là một ngời bình thờng bằng xơng bằng thịt,
nh-ng về sau con nh-ngời đã thần thánh hoá ônh-ng ta
Giới học thuật đã từng triển khai cuộc thảo luận “Giêsu ngời Nazareth”,tên này đợc ghi trong Kinh Thánh Năm quyển đầu của “Tân ớc” gọi Giêsu là
“ngời Nazarene” hoặc “phái Nazoraean” Trong văn hiến của đạo Do Thái,Giêsu và các môn đồ của ông đợc gọi là “Notzrim” Đại đa số học giả chorằng những từ này đều liên quan đến một thành phố tên là “Nazareth” ở
Trang 15Galilee Nhng cũng có một số ít học giả không đồng ý với quan điểm này Họcho rằng trong “Cựu ớc” không tìm thấy tên thành phố “Nazareth” này, có khảnăng đó là tên một thôn nhỏ Archibald Robertson, ngời ở vào thời kỳ cận đại,sau khi dẫn dắt văn hiến liên quan ở thế kỷ IV, đã chỉ ra: trong lãnh thổ Xiri vàPalextin trớc công nguyên đã có một giáo phái gọi là “phái Nasaraens” Ôngcòn nói một câu chuyện kỳ lạ khác là: một giáo phái gọi là “Phái Mandaean”sùng bái ngời tiến hành lễ rửa tội John là nhà tiên tri, mà bài xích Giêsu là kẻnói khoác và bịp bợm, nhng vẫn gọi các thành viên chủ yếu của họ làNasoraye, cũng tức là “phái Nazoraean” Do đó, ông rút ra kết luận: “các tín
đồ của John và Giêsu đợc gọi là phái Nazoraean, nhng tên này không hẳn làtên thôn ở Nazareth, ngợc lại bắt nguồn từ tiếng Hêbrơ bởi từ Natzar, vốn cónghĩa là “giữ” tức là chỉ những ngời giữ bí mật hoặc ngời giữ nghiêm luật pháp
Do Thái Trong nớc cũng có ngời cho rằng đạo Cơ đốc là giáo phái Nazarene
kể trên phát triển mà thành Tựa hồ nh ngày càng nhiều học giả kiên trì quan
điểm phái Nazarene là một phái trong đạo Cơ đốc, cho rằng thời gian xuấthiện phái này ở vào khoảng thế kỷ I đến thế kỷ II sau công nguyên”[20;591]
“Giêsu” tiếng Hi Lạp Iesous là dịch âm của các từ tiếng Hêbrơ
“Jeshua”, “Jehoshua”, “Joshua”… nguyên ý là “Jehovah” (cứu vớt) Robertsoncho rằng từ “Christos Jesu” trong tiếng Hi Lạp chính là “Messich Jeshua”,cũng có mối quan hệ nội tại với nhà tiên tri Jeshua trong “Cựu ớc” Thế nhngquan điểm của ông lại quan niệm hàm nghĩa của bản thân từ “Joshua” cũng đãbác bỏ cách giải thích “Phúc Âm Mathew” ở chơng 1 tiết 21, cho nên không
đợc đa số học giả chấp nhận
Cho dù các luận giả khẳng định chắc chắn Giêsu là con ngời có thực,nhng về cuộc đời của Giêsu vẫn còn rất nhiều điểm nghi vấn Ví nh, “năm sinh
và năm mất của Giêsu theo cách nói truyền thống của giáo hội chính là nămbắt đầu của công lịch Song các nhà sử học đã chỉ ra rằng: “Phúc Âm Luca”chơng 2 tiết 2 ghi: “Khi Curic làm tuần phủ Xyri” năm 6 đến 7 sau công
Trang 16nguyên, mà theo “Phúc Âm Mathew” ghi chép ở chơng 2 tiết 1: “vào đời vuaHerod, Giêsu sinh ra ở Bethiehem của Do Thái” thì năm sinh phải là năm thứ
t trớc công nguyên”[20;592] Nh vậy, không những năm sinh cha rõ ràng mànăm mất cũng khó xác định đợc
Trong “Kinh Thánh” ghi chép về thân thế cuộc đời của Giêsu cũng rất ít
ỏi Những sự việc khi tuổi thơ tựa hồ nh không nói đến, chỉ ở chơng 2 trong
“Phúc Âm Luca” có nói khi Giêsu 12 tuổi có theo cha tới vùng Giêruxalem,
ông ở trong thánh điện giữa các giáo s nghe giảng và học hỏi Tiếp đó, trongchơng 3 tiết 23 lại viết: “Giêsu bắt đầu truyền đạo, tuổi khoảng 30” Ngoài ranhững điều ghi chép trong sách phúc âm đều là những lời nói và việc làm màsau khi Ngời truyền đạo Cho nên Hegel cũng rất lấy làm tiếc và đã nói rằng:
“Đối với một vấn đề có hứng thú là sự phát triển thành thục của Giêsu (t tởng),chúng ta lại không có đợc bất kỳ một thông tin nào Khi ông xuất hiện lần đầutiên đã là thời kỳ thành niên rồi, lúc đó Ngời đã đợc giải phóng ra khỏi ý niệm
cũ truyền thống của ngời Do Thái”[20;593]
Từ những t liệu và kết quả nghiên cứu tổng hợp hiện có, chúng ta có thểkhẳng định một số điểm về cuộc sống của Giêsu nh sau:
Giêsu là ngời Do Thái, sống ở đầu thế kỷ I sau công nguyên Năm 30tuổi, ông tự nhận mình là vị “Chúa Cứu thế”, một vị chúa mà ngời Do Thái đãmơ ớc từ lâu Ông bắt đầu đi truyền giáo ở Giêrudalem, ông tuyên truyền t t-ởng bình đẳng, tố cáo tội các của giai cấp thống trị đơng thời…Những lờigiảng đó đã trở thành niềm an ủi đối với nô lệ và dân nghèo lúc bấy giờ, đápứng đợc nguyện vọng tha thiết của nô lệ và nhân dân lao động là đợc giảiphóng, thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù, thoát khỏi cuộc sống bị đoạ đày đaukhổ, để có đợc cuộc sống bình đẳng trong xã hội và hi vọng vào cuộc sống nơithiên đàng sau khi chết…Vậy là có rất nhiều nô lệ, dân nghèo , phụ nữ đi theo
ông và tôn ông là vị giáo chủ của mình Trớc tình hình đó, các thầy tu cao cấpcủa đạo Do Thái, đại biểu của giai cấp quý tộc chủ nô đã bài xích Giêsu để giữ
Trang 17vững nền thống trị của mình Vì họ cho rằng ông là kẻ gieo rắc dị đoan – mộttôn giáo phản loạn, nhằm tập hợp quần chúng chống lại nền thống trị Rôma.
Ông bị chính quyền Rôma kết tội và hành hình, đóng đinh trên thánh giá chữthập tại Giêrudalem khi ông vừa mới 33 tuổi và chính trong tác phẩm “Bài cathơng khó” của Xuân Ly Băng có đoạn tả rất rõ sự hành hình của chính quyền
La Mã đối với Giêsu:
… “Đoạn rồi chúng lột áo ra,
Xô ngài nằm xuống để mà đóng đinh
Trần truồng giữa đám cỏ xanh,
Nắm trên thập giá nhục hình nào hơn
Này đinh nọ búa đập dồn,
Đứa lôi đứa đóng kinh hồn chát tai!
Còn chi đâu nữa hình hài,
Xơng thâu thịt rách phun sôi máu đào
Lỡng quyền bốc nổi lên cao,
Má gầy hóp lại lệ trào song song
Tứ chi run rẩy hãi hùng,
Ngực ran xơng giãn phập phồng thở ra…” [3;58]
Truyền thuyết Kitô giáo còn kể lại rằng trong quá trình đi giảng đạo,Giêsu đã làm nhiều phép lạ cứu ngời nh giúp ngời mù loà lấy lại ánh sáng,chữa cho nhiều ngời vợt qua đợc căn bệnh hiểm nghèo… và ông đã chọn đợc
12 môn đệ và đi truyền giảng tôn giáo mới Giêsu gọi họ là “những ngời đợcsai đi” (hay còn gọi là thiên sứ – các tông đồ) sau khi bị hành hình ông đợccác môn đệ chôn cất thi hài trong hang đá trống rỗng Giêsu đã sống lại, ở vớicác môn đệ thêm 40 ngày nữa nơi trần thế rồi mới về trời Trớc khi về trời ông
đã lập ra 7 phép bí trích để loài ngời đợc hởng ân huệ của Thiên Chúa Từ đó
về sau 7 phép bí tích đợc coi nh những lệ nghi chính của đạo Kitô
Trang 18Chơng 2
Quá trình chia TáCH lần thứ nhất của đạo Kitô
từ thế kỷ V đến thế kỷ XVI.
2.1 Sự phát triển của đạo Kitô từ thế kỷ I đến thế kỷ V.
2.1.1 Đạo Kitô từ khi ra đời cho đến khi trở thành quốc giáo.
Khi mới ra đời, Kitô có ý nghĩa giải phóng về mặt tinh thần đối với nô
lệ và dân nghèo bị áp bức, đòi thực hiện sự bình đẳng trong xã hội, tố cáo tội
ác của giai cấp thống trị đơng thời, dự đoán sự diệt vong của đế quốc Rôma…vì thế mà số tín đồ theo đạo Kitô ngày càng đông Enghen đã nhận xét rằng:ban đầu, cuộc vận động cho đạo Kitô là một cuộc vận động đòi giải phóng nô
lệ và dân bán tự do Trớc hết, những ngời tin ở đạo Kitô đa số là nhân dân lao
động bị áp bức, bóc lột, bị hãm hại, phải sống khổ cực Về sau, số tín đồ của
đạo Kitô tăng lên nhanh chóng, lúc này không chỉ có nô lệ và nhân dân lao
động mà kể cả c dân ở các thành thị và một số trí thức cũng tin theo đạo ấy.Cuộc vận động Kitô giáo ngày càng phát triển và trở thành một lực lợng xã hộiquan trọng Trớc tình đó, giai cấp thống trị chủ nô cảm thấy bị đe doạ Quý tộcchủ nô Rôma đã tiến hành những cuộc truy nã, tàn sát tín đồ Kitô giáo rất dãman Điển hình là tên bạo chúa Nêrôn, kẻ đã đổ lỗi cho các tín đồ Kitô gây ra
vụ cháy thành Rôma năm 64 Tín đồ bị tàn sát, Thánh kinh bị thiêu huỷ, thánh
đờng bị đập phá…Nhng càng bị sát hại, tín đồ theo đạo càng đông Trải quahai thế kỷ, thế lực Kitô giáo bành trớng khắp đế quốc Rôma Nửa sau thế kỷIII, đế quốc Rôma có hơn 1800 thánh đờng, đâu đâu cũng có tổ chức và hoạt
động của tín đồ Kitô
Đàn áp không nổi, các hoàng đế Rôma buộc phải thay đổi thái độ đốivới Kitô giáo, áp dụng một chính sách mềm dẻo, khoan dung đối với đạo Kitô.Nhận thức ra mặt hạn chế trong chủ trơng của đạo Kitô giáo: “Nếu có ai đánh
Trang 19anh ở má trái, anh hãy đa má bên phải cho ngời ta đánh nốt”, giai cấp thống trịRôma đã lợi dụng Kitô giáo để củng cố quyền thống trị chuyên chế của chúng.Vì chủ trơng trên, đạo Kitô đã thủ tiêu đấu tranh giai cấp, bảo vệ địa vị củagiai cấp thống trị.
Năm 311, hoàng đế Galêriuxơ đình chỉ sát hại tín đồ đạo Kitô và thừanhận sự bình đẳng của tôn giáo này đối với các tôn giáo khác Đạo Kitô đợcthừa nhận về mặt pháp lý
Năm 313, hoàng đế Côngxtantinuxơ ban bố sắc lệnh Milanô, xác địnhlần cuối cùng địa vị hợp pháp của đạo Kitô Năm 325, tại Nixê (Tiểu á), ôngtriệu tập một Đại hội các giáo chủ, gồm hơn 300 ngời, đại biểu các tổ chứcgiáo hội thuộc đế quốc Rôma Tại đây hoàng đế đã tuyên bố trả lại toàn bộ tàisản của giáo hội bị tịch thu Ông cho xây dựng một thủ đô mới ở phía Đôngcủa đế quốc Rôma và lấy tên mình đặt cho nó Cônxtantinốp (nay thuộc ThổNhĩ Kỳ) trở thành trung tâm Kitô giáo thứ hai của đế quốc Rôma
Năm 337, Côngxtantinuxơ trớc lúc chết đã chịu phép rửa tội Đó làhoàng đế Rôma đầu tiên theo đạo Kitô Đến thời hoàng đế Têôđôđiuxơ (cuốithế kỷ IV), đạo Kitô đợc tôn làm quốc giáo
Nh vậy, từ một tôn giáo địa phơng, Kitô giáo đã trở thành một tôn giáothống trị ở đế quốc Rôma, đợc hởng đặc ân của chính quyền và giữ địa vị độctôn trong các quốc gia phong kiến Châu Âu Ngày nay, nó trở thành một tôngiáo quốc tế – một tôn giáo lớn trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới
2.1.2 Kinh điển.
Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, luật lệ – lễ nghi riêng của mình và
đạo Kitô cũng vậy Nếu nh giáo lý của đạo Kitô đợc chứa đựng trong KinhThánh thì luật lệ - lễ nghi của nó lại đựơc thể hiện trong bộ luật với những nộidung rất chặt chẽ
2.1.2.1 Giáo lý.
Trang 20Kinh Thánh: Giáo lý đạo Kitô đợc chứa đựng trong Kinh Thánh, baogồm kinh Cựu ớc và kinh Tân ớc.
Kinh Cựu ớc: Là bộ dã sử của dân tộc Do Thái và Kinh Thánh của đạo
Do Thái, bao gồm 46 quyển chia làm 3 loại:
Sách lịch sử: Chủ yếu viết về thiên chúa tạo dựng vũ trụ và con ngời, vềnhững sự tích của dân Do Thái cùng những luật lệ, phong tục, tập quán vàtruyền thống văn hoá của dân tộc Do Thái sau khi lập quốc và tan rã
Sách văn thơ: Gồm các loại sách ca vịnh, châm ngôn, truyền đạo, nhãca
Sách tiên tri (Sấm kỷ) của các thánh tiên tri nh: Esai, Ghêrêmi,
Êxêchiên, Đannhiên, Ôxê, Giôan…
Kinh Tân ớc: Gồm 27 quyển, kể về cuộc đời và sự nghiệp của chúaGiêsu, hoạt động của thánh tông đồ, những lời răn dạy, chỉ bảo của chúa Giêsu
và các thánh tông đồ đối với con ngời
Sách kinh Tân ớc đợc chia thành 4 loại:
Sách Tin mừng (hay sách Phúc âm) đợc ghi lại bởi 4 thánh tông đồ:Luca, Macô (Max), Mathiêu và Gioang
Sách Công vũ sứ đồ: kể về các hoạt động của thánh tông đồ do thanhLuca chép
Sách Thánh th gồm các th của thánh tông đồ gửi cho các giáo đoàn.Sách Khải huyền của Thánh Gioang, tiên đoán về tơng lai của đạo Kitô,của nớc Do Thái trong mối quan hệ với đế chế Rôma
Đối với những ngời theo Kitô giáo thì Kinh Thánh là những lời mặckhải của thiên chúa đối với loài ngời mà mẫu mực tối cao của đức tin, do đóphải đợc tôn sùng, đề cao nh thánh thể chúa Theo họ, Hội thánh đợc chúaGiêsu giao cho nhiệm vụ thiêng liêng mang ý nghĩa Thánh truyền
Nội dung giáo lý của đạo Kitô có thể khái quát ở những điểm chủ yếusau:
Trang 21Quan niệm về thế giới quan:
Nếu nh quan niệm của đạo Phật về vũ trụ tập trung trong 5 thuyết cơbản là vô ngã, vô thờng, vô tảo giả, nhân duyên, sắc – không Tức Phật giáoquan niệm thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi, không có buổi ban đầu vàngày tận diệt Thì đạo Kitô lại cho rằng tín điều cơ bản đầu tiên của Kitô giáo
là niềm tin vào thiên chúa và sự mầu nhiệm của thiên chúa Kinh thánh Kitôgiáo cho rằng: Thiên chúa (tức Thợng đế) có trớc đời đời, có trớc cả khônggian và thời gian Thiên chúa có 3 ngôi: Ngôi thứ nhất là Đức chúa Cha; Ngôithứ hai là Đức chúa Con; còn ngôi thứ ba là do ngôi một và ngôi hai mà ra Bangôi “Đồng đẳng, đồng vinh, đồng quyền” nhng mỗi ngôi có một chức năngriêng đối với loài ngời Ngôi thứ nhất - Đức chúa Cha: tạo dựng (tạo ra loài ng-
ời và vũ trụ); ngôi thứ hai - Đức chúa Con: cứu chuộc; và ngôi thứ ba - Đứcchúa Thánh Thần: làm nhiệm vụ Thánh hoá (lập Hội thánh và truyền sứcmạnh, lòng can đảm cho các môn đệ của chúa Giêsu đi truyền đạo)
Kinh thánh Kitô giáo cho rằng thiên chúa tạo ra trời đất và muôn loài từ
h không Kinh Cựu ớc kể lại rằng thiên chúa tạo dựng trời đất muôn loài trongsáu ngày
Ngày thứ nhất: Tạo nên sự sáng và tối, đặt tên sự sáng là ngày, sự tối là
đêm
Ngày thứ hai: Tạo ra không gian quen gọi là trời
Ngày thứ ba: Tạo ra đất , nớc, cỏ cây
Ngày thứ t: Tạo ra các tinh tú trên trời làm cơ sở phân chia ngày, đêm,năm tháng, thời tiết trong đó có hai vì tinh tú lớn là: mặt trời cai trị ban ngày
và mặt trăng cai trị ban đêm
Ngày thứ năm: Tạo nên muôn vật, chim trên trời, cá dới nớc
Ngày thứ sáu: Tạo nên con ngời
Ngày thứ bảy: Sau khi hoàn thành công việc sáng tạo của mình, Thiênchúa nghỉ ( còn gọi là ngày chúa nhật hay chủ nhật)
Trang 22Thiên chúa là đấng thiêng liêng, sáng láng, là chúa tể của trời đất vàmuôn loài, có quyền phép vạn năng, sắp xếp vận hành trật tự trong vũ trụ Nóicách khác là tất cả mọi sự tồn tại, biến đổi trong vũ trụ đều do thiên chúa tiền
định một cách hợp lý và tuyệt đối
Quan niệm về con ngời:
Đạo Phật cho rằng con ngời không phải do thợng đế sinh ra mà là mộtpháp (vật) đặc biệt của vũ trụ tạo thành bởi “ngũ uẩn” (năm yếu tố tụ lại: x-
ơng, thịt, da, thần sắc, hình tớng), con ngời tồn tại chỉ là vô ngã, chịu kiếp luânhồi; con ngời có nhiều khổ ải và nêu lên con đờng cứu khổ của con ngời Ng-
ợc lại theo quan niệm của đạo Kitô thì con ngời là do thiên chúa tạo nên theohình ảnh của thiên chúa bằng một hành động tự nguyện của thiên chúa Vì thếcon ngời có nhiệm vụ thờ phụng thiên chúa và tiếp tục công cuộc kiến tạo trái
đất của thiên chúa Kinh Cựu ớc kể lại rằng: “con ngời đầu tiên đợc thiên chúatạo nên bằng cách lấy bụi trần (có tài liệu nói rằng đất sét) nặn ra một hình ng-
ời đàn ông và thổi vào đó một hơi thở đầy sinh khí, ngời đó bắt đầu chuyển
động – một sinh vật có sự sống Ngời đàn ông đó đợc Thiên chúa đặt tên làAđam (tiếng HiLạp có nghĩa là “ngời đầu tiên”) Sau đó Thiên chúa bẻ một
đoạn xơng sờn của Ađam rồi cũng lấy cành cây, bụi trần đắp thêm vào tạo nênhình ngời đàn bà Ngời đó đợc Thiên chúa đặt tên là Eva (Eva theo tiếngHiLạp có nghĩa là “mẹ của sự sống”) và cho hai ngời hôn phối vớinhau”[14;14-15] Từ đó Ađam và Eva sinh ra biết bao con trai, con gái và xãhội loài ngời cũng hình thành
Đạo Kitô cũng cho rằng: trong các công trình sáng tạo của Thiên chúathì con ngời là sản phẩm hoàn hảo và tuyệt mĩ Con ngời có trí khôn, có t duy
và đạo đức nên làm chủ thế giới và muôn loài Con ngời có mối liên hệ trựctiếp với Thiên chúa và đợc Thiên chúa yêu thơng hơn tất cả Sau này khi conngời sa vào vòng tội lỗi, mối quan hệ trực tiếp không còn nữa mà phải thôngqua đấng Cứu chuộc là chúa Giêsu
Trang 23Cũng nh mọi tôn giáo khác, Kitô giáo cũng quan niệm rằng: con ngờigồm có hai phần: thể xác và linh hồn Thể xác chỉ là cái vỏ bọc ngoài, tạmthời, là nơi trú ngụ của linh hồn nên sau khi con ngời chết, thể xác do sinh ra
từ cát bụi thì nay lại trở về với cát bụi, còn linh hồn là phần sinh khí do Thiênchúa truyền vào nên tồn tại mãi mãi, ngay cả khi con ngời đã chết (tức là khithể xác đã tan rữa ra)
Con ngời là sản phẩm tuyệt vời trong công cuộc sáng tạo của Thiênchúa Tuy vậy, con ngời có tính phàm tục nên mắc nhiều tội lỗi Bản chất tộilỗi của con ngời là tính tự do, tính kiêu ngạo Kinh Cựu ớc kể lại rằng: Thiênchúa rất yêu thơng con ngời nên sau khi tạo nên Ađam và Eva, thiên chúa cho
họ sống trong cảnh thanh nhàn sung sớng, cho họ ăn mọi thứ hoa thơm quảngọt, chỉ trừ một loại quả là quả “tri thức” là Thiên chúa cấm không cho ăn.Song vì không nghe lời Thiên chúa, lại bị quỷ dữ thỉnh gạt, Ađam và Eva đã viphạm đến điều cấm của chúa và bị Thiên chúa trừng phạt, bị mất dần đi phần
ân huệ mà Thiên chúa đã ban cho Cũng theo lời nguyền của Thiên chúa, từ đó
về sau loài ngời mang tội do vợ chồng Ađam gây ra là tội tổ tông (hay tội tôngtruyền)
Bên cạnh những tín điều cơ bản nói trên, giáo lý Kitô giáo còn nóinhiều về sự ra đời bằng phép màu huyền diệu của đức chúa Giêsu, về côngcuộc cứu chuộc của ông, về thuyết thiên đàng địa ngục, về cái chết của đấngcứu thế…
Ví nh giáo lý đạo Kitô cho rằng: đến một ngày nào đó thế giới bị huỷdiệt, con ngời cũng nh mọi sinh vật trên trái đất do thiên chúa giáo tạo ra sẽ bịtiêu diệt, ngày đó gọi là ngày “tận thế” Sau đó từ trong tro bụi, tất cả con ngờicủa thế hệ đợc sống lại, khi đó chúa Giêsu lại xuống trần một lần nữa để thựchiện lời phán xét cuối cùng gọi là ngày phán xét chung Nếu ai không có tội sẽ
đợc lên thiên đàng, hởng cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc Còn những ngời mắcnhiều tội lỗi phải đẩy xuống địa ngục…
Trang 24Về cái chết của chúa Giêsu giáo lý Kitô giáo nói đó là một hành động
tự nguyện của đấng cứu thế, là một cái chết hợp với Đức chúa Trời ( chúaCha) Chúa Giêsu chịu hạn, chịu tra tấn cực hình và chịu chết là hành động caocả nhất trong công cuộc cứu chuộc của Ngời Chúa Giêsu chết là để cho thếgian đợc sống, “chết cho tất cả mọi ngời” Đó chính là hành động thể hiệnlòng thơng yêu vô bờ bến không chỉ của chúa Giêsu mà của cả Thiên chúa(Thợng đế) đối với tất cả sinh vật trên trái đất do Thiên chúa tạo ra
2.1.2.2 Luật lệ - lễ nghi.
Đạo Phật có hai giới luật quan trọng là “ngũ giới” ( năm điều cấm):không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không ham muốn vợ chồngngời, không nói sai, không uống rợu và “thập thiện” (mời điều thiện): ba điềuthiện về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; bốn điều thiện
về khẩu: không nói dối, không nói hai mặt, không nói bịa đặt, không nói ác ý;
ba điều thiện về ý: không sinh lòng tham, không giận giữ, không có ý xấu.Còn đạo Kitô từ rất sớm đã xây dựng cho mình đợc một hệ thống các luật lệ– lễ nghi rất chi tiết, cụ thể và đợc thực hiện trên toàn thế giới
Bộ luật ban hành năm 1983 ( thay thế bộ luật năm 1917) gồm 1752
điều, quy định mọi giáo sĩ và giáo dân phải tuân theo chặt chẽ
Tuy có bộ luật đồ sộ nh vậy, nhng giáo dân biết ít đến, mà chủ yếu thựchiện các nội dung sau:
2.1.2.3 Mời điều răn của Thiên chúa.
Theo Kinh Thánh, đây là 10 điều răn, thiên chúa đã khắc vào bia đá,ban cho Maisen tổ phủ của dân Do Thái
Thứ nhất: Thờ phụng một Đức chúa Trời và thờ phụng Ngời trên hếtmọi sự
Thứ hai: Chớ kêu tên Đức chúa trời vô cớ
Thứ ba: Giữ ngày chủ nhật
Thứ t: Thảo kính mẹ cha
Trang 25Thứ mời: Chớ tham của ngời ( của trái lẽ).
Mời điều răn ấy tóm lại hai điều phải nhớ, đợc coi là tôn chỉ của đạo:
“Kính chúa trên hết mọi sự” và “yêu ngời nh mình ta”
2.1.2.4 Sáu điều răn của Hội thánh.
Thứ nhất: Xem lễ những ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc
Thứ hai: Chớ làm việc xác ngày chủ nhật cùng các ngày lễ buộc
Thứ ba: Xng tội trong một năm ít nhất một lần
Thứ t: Chịu mình thánh chúa Giêsu trong mùa phục sinh
Thứ năm: Giữ chay những ngày Hội thánh buộc
Thứ sáu: Kiêng thịt ngày thứ sau cùng các ngày khác Hội thánh dạy.Giáo luật cho phép tín đồ dự lễ chiều hôm trớc bù cho ngày lễ hôm sau.Nếu không có ngời làm lễ, tín đồ vẫn phải dự lễ bằng cầu nguyện hay đọckinh Việc giữ chay phải quy định ngặt trong hai ngày: Ngày lễ tháng 10 vàngày thứ sáu – ngày chúa Giêsu chịu chết
2.1.2.5 Bảy phép Bí tích.
Giáo luật khẳng định các Bí tích do chúa Giêsu lập ra và giao cho Giáohội thực hiện để thánh hoá con ngời Nguyên tắc căn bản của Bí tích là chỉ bancho tín hữu công giáo Có ba Bí tích chỉ đợc lĩnh một lần và “in dấu vĩnh viễn”
là phép rửa tội, phép thêm sức và phép truyền chức thánh
Trang 26mục, linh mục, phó tế ( hoặc bất cứ tín hữu nào khi khẩn cấp) cũng có thể ban
Bí tích rửa tội đợc Ngời lĩnh Bí tích rửa tội phải muốn xin nhận và có ngời đỡ
đầu (cha mẹ thiêng liêng) Trẻ em dới 14 tuổi phải đợc cha mẹ hoặc ngời giám
hộ đảm bảo Có thể rửa tội ở bất cứ đâu, vào lúc nào và đợc ghi tên vào sổnhân danh của giáo xứ
Bí tích thêm sức:
Bí tích thêm sức giúp tín hữu giữ vững lòng tin để đi vào cuộc sống đạonơi trần thế Giám mục hay linh mục đợc giao quyền ban cho tín hữu bằngnghi thức xức dầu và lời kinh nguyện theo quy định Chỉ những ngời đã chịuphép rửa tội đủ trí khôn hiểu biết giáo lý và có đức tin mới đợc chịu phép thêmsức
Bí tích thánh thể (lễ Misa): Bí tích thánh thể diễn tả lại sự nghiệp cứuchuộc của chúa Giêsu Nghi lễ do giám mục hay linh mục cử hành tại nhà thờ,sau khi đọc lời truyền phép mình thánh theo quy định, thì bánh (làm bằng bột)
và rợu nho sẽ trở thành thịt và máu chúa Tín hữu đã rửa tội, xng tội và đợcgiải tội thì chịu phép mình thánh, tức là nhận miếng bánh đã làm phép để thiênchúa ngự vào lòng họ Tín hữu đợc phép lĩnh thánh thể hàng ngày và phải lĩnh
ít nhất một lần trong một năm
Thánh thể (bánh đã truyền phép) đợc lu giữ trong các nhà thờ, nhànguyền dành cho tế lễ và phải đợc giám mục cho phép Mỗi nhà thờ, nhànguyện tổ chức chầu thánh thể một năm một lần (chầu lợt)
Bí tích giải tội:
Bí tích giải tội là sự hối hận về tội lỗi và quyết tâm sửa chữa của tín hữu.Ngời đợc giải tội phải thành tâm tự xét mình, tự giác xng hết tội lỗi Chỉ cógiám mục, linh mục mới có quyền thay chúa giải tội định ra hình thức sửachữa
Bí tích xức dầu thánh:
Trang 27Thực hiện đối với bệnh nhân trong cơn nguy tử để đợc thiên chúa nâng
đỡ, cứu vớt, đợc “chết lành” Giám mục thực hiện phép truyền dầu thảo mộcthành dầu thánh, linh mục trực tiếp xức dầu thánh bằng tay mình cho bệnhnhân, tín hữu phải xin hoặc không từ chối mới đợc ban phép xức dầu và có thể
đợc ban thêm nhiều lần nếu căn bệnh kéo dài
Bí tích truyền chức thánh:
Bí tích truyền chức thánh chỉ dành riêng cho tu sĩ nam giới đã học và có
đủ các điều kiện để trở thành giáo sĩ, thay mặt thiên chúa “chăn dắt” đàn chiêncủa chúa Chức thánh có ba bậc: Phó tế, Linh mục, Giám mục Giáo luật cónhiều quy định cụ thể về điều kiện và lễ nghi
Bí tích hôn phối:
Bí tích hôn phối làm tăng cờng tính duy nhất và bền vững trong hônnhân và quan hệ gia đình của tín hữu Giáo luật quy định rất cụ thể về điềukiện và lễ nghi Hôn phối chỉ hợp pháp theo giáo luật khi đã hội tụ đủ các yếu
tố và đợc đại diện hợp pháp của giáo hội (giáo sĩ) làm phép cới ( phép chuẩn),làm chứng và công nhận trớc hai ngời làm chứng nữa cho đôi hôn nhân đó.Ngời Kitô hữu đợc kết hôn với ngời ngoài không theo đạo nhng phải có phépchuẩn và các điều kiện cần thiết
Giáo hội Kitô giáo cấm ly hôn (chỉ giáo hoàng mới có quyền quyết định
Trang 286 Chuộc kẻ làm tội.
7 Chôn xác ngời chết
Đối với linh hồn:
1 Lấy lời lành mà khuyên ngời
6 Yêu ngời chớ ghen ghét
7 Siêng năng việc Đức chúa Trời chớ làm biếng
Lễ sinh nhật (Lễ Noel): Ngày chúa Giêsu ra đời, ngày 25tháng 12
Lễ phục sinh: ngày chúa Giêsu sống lại, và ngày chủ nhật cuối “TuầnThánh” trong tháng 4
Lễ chúa Giêsu lên trời: sau lễ phục sinh 40 ngày
Trang 29Lễ chúa thánh thần hiện xuống: sau lễ chúa Giêsu lên trời 10 ngày.
Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời ngày 15 tháng 8
Lễ các Thánh: ngày 01 tháng 11
Các ngày lễ trọng khác tuy không buộc, nhng dự sẽ đợc nhiều ơn phúc
Lễ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội: ngày 08 tháng 12
Lễ Tro: ngày đầu vào mùa chay: có ý nghĩa là khi con ngời chết, thể xáctrở về với tro bụi, còn linh hồn tồn tại mãi mãi
Lễ Lá vào chủ nhật đầu (Tuần Thánh): kỷ niệm việc chúa Giêsu vàoGiêruxalem, đợc dân chúng rải lá đón tiếp
“Tuần Thánh” bắt đầu từ chủ nhật lễ Lá đến lễ phục sinh, kỷ niệm sựtích chứa Giêsu chịu nạn, chịu chết rồi sống lại Trong “Tuần Thánh” còn cócác lễ: Lễ truyền phép mình Thánh vào thứ 5, lễ chúa Giêsu chịu chết vào thứ
6, lễ Vọng phục sinh vào thứ 7, lễ phục sinh vào chủ nhật
Lễ Thánh Tông đồ Phaolô ngày 29 tháng 6
Lễ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục: ngày 02/11
Ngoài các lễ chung ra còn có lễ địa phơng do Giám mục bản quyền ấn
định là:
Ngày lễ thánh quan thầy của các xứ, họ đạo, chầu lợt…
Lễ bạc, lễ vàng: lễ chúc thọ các linh mục, giám mục 70 – 80 tuổi
Lễ cới: lễ thực hiện Bí tích hôn phối cho đôi nam nữ
Lễ an táng, lễ mồ: lễ đa tiễn, an táng, cầu nguyện riêng cho các linh hồncủa ngời nhà tín hữu xin lễ
Các ngày thờng, ở nhà thờ có linh mục, giám mục đều tổ chức lễ vàchầu thánh thể
Giáo hội còn chia năm tháng thành từng mùa để làm chủ đích cho cácsinh hoạt tôn giáo
Tháng 3: tháng Kính Thánh cả Giêsu
Tháng 4: tháng dâng hoa kính Đức bà Maria
Trang 30Tháng 6: tháng Kính Trái tim chúa Giêsu.
Tháng 10: tháng Mân côi Đức mẹ
Tháng 11: tháng Cầu nguyện cho các linh hồn
Mùa giáng sinh: từ Lễ sinh nhật đến ngày 06 tháng 01
Mùa Thơng khó: (mùa chay): từ lễ Tro đến lễ thứ năm Tuần Thánh Mùa phục sinh: từ lễ Phục sinh đến lễ Hiện xuống
Mùa vọng: từ ngày 30 tháng 11 đến lễ Giáng sinh
Các tín hữu Kitô giáo còn đợc khuyến khích thực hiện sinh hoạt thờngngày nh đi lễ, đi chầu Thánh thể, đọc kinh ở nhà nguyện Đọc kinh cầunguyện ở nhà, làm dấu đọc kinh trớc bữa ăn và nhiều các sinh hoạt hội đoànkhác…
Các Kinh đợc đọc theo thứ tự quy định cụ thể cho từng loại lễ, từngmùa, từng buổi Sau cộng đồng Vaticăng II, các nghi lễ đợc cử hành bằngtiếng từng địa phơng (hiện đã có khoảng 250 thứ tiếng khác nhau trên thế giớidùng trong cử hành thánh lễ)
Hàng năm các giáo phật đều biên soạn và in ấn “Lịch Công giáo” đểthống nhất lịch sinh hoạt, lễ nghi chung cho toàn giáo phận
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và phẩm trật của giáo hội.
Cũng nh đạo Phật, đạo Hồi hay các tôn giáo khác, đạo Kitô cũng chia ranhiều chức sắc và phẩm trật theo thứ tự từ cao đến thấp
Theo Kinh Thánh, giáo hội là một cộng đồng hữu hình có tổ chức màchúa Giêsu đã lập trớc khi về trời để lu tồn sự hiện diện của Thiên chúa nơitrần thế Giáo hội có bốn đặc điểm: Duy nhât, Thánh thiện, Công giáo, Tôngtruyền
Nếu nh ở đạo Phật chức sắc đợc chia làm 5 bậc: Hoà thợng (s cụ), ợng toạ (s cụ), Đại đức (s ông), S bác (sa đi) và Tiểu (điều) Thì cơ cấu tổ chức
Th-và phẩm trật của giáo hội đợc sắp xếp nh sau:
Giáo Hoàng
Trang 31Giám mục đoàn
Hồng y đoàn
Giáo triều Vatican
Giáo hội địa phơng
Giáo hội cơ sở
2.1.3.2 Giáo Hoàng.
Giáo Hoàng là ngời đứng đầu tối cao của giáo hội Rôma đợc tín đồ xng
là Đức Thánh Cha, ngời kế vị Thánh Phêrô và thay mặt thiên chúa chăn dắt
“đàn chiên” của chúa Giáo hoàng có quyền “tối thợng toàn diện và trực tiếp”,sau cộng đồng Vatican I (1780) Giáo hoàng “không bao giờ sai lầm về đứctin”
Giáo hoàng đợc Hồng y đoàn bầu ra khi toà thánh trống ngôi và giữnguyên chức vị cho đến chết Phẩm phục của Giáo hoàng màu trắng
Giáo hoàng thực hiện quyền lực thông qua Giám mục đoàn, Hồng y
đoàn và bộ máy giáo triều Vatican
2.1.3.3 Giám mục đoàn và Thợng hội đồng Giám mục.
Giám mục đoàn là toàn thể giám mục Kitô giáo hợp với Giáo hoàngthành một thể thống nhất để duy trì sự hiệp thông và cai quản toàn giáo hội
Đây là thiết chế quyền bính tối cao trong giáo hội
Giám mục đoàn thực hiện quyền tối thợng qua các “cộng đồng chung”.Cộng đồng chung đợc tổ chức khi có những vấn đề hệ trọng liên quan đến tín
điều, đờng hớng hoạt động, tổ chức giáo hội thì Giám mục đoàn đợc nhómhọp để bàn định dới sự triệu tập và điều hành của Giáo hoàng Mọi nghị quyếtcủa Cộng đồng chung có hiệu lực khi Giáo hoàng cùng các thành viên cộng
đồng chung chấp thuận, Giáo hoàng phê chuẩn và truyền công bố
Thợng hội đồng Giám mục: là một tổ chức có tính chất thờng trực củaGiám mục đoàn, gồm đại biểu Giám mục của các miền, đợc họp theo đinh kỳhoặc bất thờng để giúp Giáo hoàng bảo vệ đức tin và phong hoá Giáo hội,
Trang 32củng cố duy trì kỷ cơng giáo truyền và nghiên cứu những vấn đề liên quan đếnhoạt động của Giáo hội trong xã hội Giáo hoàng phê chuẩn thành viên, triệutập và ấn định nội dung bàn thảo Giữa kỳ họp có một văn phòng làm việc đợc
sự điều khiển của một tổng th ký do Giáo hoàng chỉ định
2.1.3.4 Hồng y và Hồng y đoàn.
Hồng y: ngời đợc tấn phong tớc vị Hồng y phải là Giám mục nổi trội vềtác phong, đạo đức và khôn ngoan Trớc đây các Hồng y “chủ yếu là ngờiItalia và làm việc tại giáo triều Vatican, nay Hồng y có ở nhiều nớc (65 nớc).Hồng y là quan chức Giáo triều thì nghỉ hu ở tuổi 75, các Hồng y trên 80 tuổikhông đợc tham gia bầu Giáo hoàng”[27;38] Số lợng Hồng y tuy ấn định nh-
nh không ổn định Giáo hoàng Gioan Phaolô II là ngời phong nhiều Hồng ynhất Hiện nay Giáo hội “có 167 Hồng y, trong đó có 120 vị ở tuổi bầu Giáohoàng”[27;38]
Theo giáo luật các Hồng y thành lập một công đoàn riêng là Hồng y
đoàn với nhiệm vụ bầu Giáo hoàng và giúp Giáo hoàng cai trị Giáo hội với tcách tập thể hoặc cá nhân
2.1.3.5 Giáo triều Vatican.
Vatican là cơ quan đầu não của giáo hội Kitô giáo và là một quốc gia,rộng 44ha trong thủ đô Rôma của Italia Vatican đợc tổ chức nh một bộ máythế quyền gồm:
Văn phòng th ký Giáo hoàng có:
Quốc vụ Khánh toà thánh (tơng đơng Thủ tớng): thâu tóm các đầu mốicông việc ngự trị, ngoại giao, quản lý toà thánh
Th ký nội vụ: giữ các đầu mối công việc nội bộ toà thánh
Th ký ngoại vụ: giữ đầu mối các công việc ngoại giao với các nhà nớcthế tục
Các thánh bộ giáo triều: gồm 12 bộ khác nhau
Trang 33Các toà án giáo triều: gồm có các toà: án giải, thợng thẩm và chungthẩm.
Các hội đồng Giáo hoàng: gồm 12 hội đồng, còn gọi là các Văn phòng,Giáo hoàng đảm nhiệm các vấn đề về tôn giáo và xã hội khác nhau
Cơ sở vật chất bảo đảm cho sinh hoạt của Giáo triều bao gồm một sảnnghiệp đồ sộ tại chỗ những đền đài, nhà của nguy nga, bảo tàng, th viện, cơ sở
đào tạo; nguồn tài chính khổng lồ từ cổ phần các công ty t bản Âu Mỹ; lợi tứcruộng đất ở Italia, Tây Ban Nha và bất động sản ở Rôma; sự đóng góp củaGiáo hội địa phơng và các nhà nớc Vatican là một trong những thế lực kinh tếlớn nhất Châu Âu
Đài phát thanh Vatican, một trong những đài mạnh nhất thế giới phátliên tục hàng ngày bằng 35 thứ tiếng ( trong đó có tiếng Việt) Toà thánh xuấtbản nhiều tờ báo, tạp chí và các ấn phẩm khác về nội dung tôn giáo bằng nhiềuthứ tiếng, phát hành khắp thế giới Một đài truyền hình viễn thông đã và đangtrực tiếp phát đi khắp hành tinh hình ảnh hoạt động của Toà thánh Vatican
2.1.3.6 Giáo hội địa phơng.
Giáo phận:
Giáo phận ( địa phận) còn gọi là “giáo hội riêng” là cấp hành chínhchính thức của Giáo hội, trực thuộc Toà thánh Vatican, giới hạn trong một địadanh nhất định do Toà thánh quyết định
Cai quản địa phận là một giám mục, ngời có các quyền lập pháp, hànhpháp và t pháp trong phạm vi tôn giáo
Trợ giúp giám mục có Giám mục phó (ngời kế vị), Giám mục phụ tá,Hội đồng t vấn, Hội đồng linh mục …Toà giám mục còn có đại diện, th ký,văn th lu trữ, hội đồng tài chính và quản trị…
Giáo tỉnh và Giáo miền:
Giáo tỉnh và Giáo miền là các nhóm của Giáo hội riêng, không đợcxem là cấp hành chính thức
Trang 34Giáo tỉnh: là một tập hợp đoàn các giáo phận trong một khu vực doVatican II thiết lập để liên kết với nhau trong hoạt động mục vụ Giáo tỉnh có
t cách pháp nhân trong Giáo hội, đứng đầu là vị Tổng giám mục - đồng thời làGiám mục giáo phận trung tâm giáo tỉnh
Tổng giám mục có quyền hạn và nghĩa vụ theo giáo luật là chăm lo đứctin và kỷ luật; kinh lý các địa phận, đề cứ giám mục địa phận sau 8 ngày trốngngôi, đợc cử hành mọi nghi lễ tại các nhà thờ trong giáo tỉnh
Giáo miền: các giáo tỉnh họp lại thành giáo miền, nhằm hổ trợ việctruyền giáo, quản lý mục vụ và thiết lập quan hệ giữa Hội giáo với chínhquyền Nhà nớc Giáo miền không nhất thiết có t cách pháp nhân trong giáohội
Các giám mục trong giáo miền lập ra “Hội đồng giám mục” Hội đồnggiám mục có nhiệm vụ triệu tập “Cộng đồng toàn miền” để bàn thảo và định
ra đờng hớng hoạt động trong khuôn khổ giáo luật
Giáo xứ và giáo hạt: Giáo xứ là đơn vị hành chính cuối cùng có t cáchpháp nhân của giáo hội, đợc giáo hội đặc biệt quan tâm củng cố vì đây là cơ
sở, nền tảng của Giáo hội, nơi diễn ra các hoạt động tín ngỡng, nơi thiết lậpquan hệ chặt chẽ giữa giáo quyền và giáo dân Mỗi giáo xứ có một linh mụcchính xứ, do giám mục địa phận bổ nhiệm, có quyền duy nhất cai quản và thựchiện các nhiệm vụ Trong điều kiện thiếu thì có một linh mục có thể cai quảnnhiều giáo xứ
Trợ giúp linh mục chính xứ có linh mục phó xứ và các phó tế Mỗi giáo
xứ lập ra “Hội đồng giáo xứ” có đại diện giáo dân để hỗ trợ cai quản và hoạt
động mục vụ
Mỗi giáo xứ có thể chia thành các đơn vị nhỏ là các họ, khu, giáp mỗi
họ đạo thờng có một nhà thờ (hoặc nhà nguyện), chọn một vị thánh bảo trợ đểthờ lạy, tổ chức ra Ban hành giáo để duy trì, tổ chức các sinh hoạt tôn giáo
Trang 35Giáo hạt là một đơn vị liên hiệp giữa các giáo xứ theo địa d trong phạm
vi địa phận do giám mục thiết lập Giáo hạt có một linh mục hạt trởng do bầu
ra hoặc bổ nhiệm và không có t cách pháp nhân trong giáo hội
Giáo sĩ và đào tạo giáo sĩ:
Giáo hội độc quyền đào tạo giáo sĩ thông qua các chủng viện, để trởthành giáo sĩ, chúng sinh phải có các tiêu chuẩn và phải qua chơng trình Đạichủng viện
Phẩm trật (chức vị) của Giáo sĩ gồm có Giám mục, Linh mục và Phó tế.Giám mục là ngời có đức tin vững chắc, có đạo đức và danh tiếng tốt, cóbằng cử nhân hay tiến sĩ thần học, tuổi ít nhất 30 và làm linh mục 5 năm trởlên Việc phong chức giám mục về phơng diện tôn giáo thuộc phẩm quyềnVatican
Linh mục có hai loại: “Triều” là những linh mục theo đơn vị hành chính
từ xứ họ trở lên và “Dòng” là những linh mục trong các dòng tu Các hoạt
động mục vụ tôn giáo của các linh mục tơng tự nh nhau
Việc đào tạo linh mục rất đợc coi trọng, với thời gian 7 năm ở chủngviện, 2 năm giúp xứ, 6 năm học đại chủng viện, rồi phải qua điều tra t cách, ýchí, sức khoẻ, thi cử… mới trở thành linh mục
Tu sĩ và dòng tu:
Trang 36Dòng tu là những cộng đồng tu sĩ, nguyện từ bỏ cuộc sống trần thế đểcống hiến trọn đời cho việc đạo Các tu sĩ phải giữ trọn lời khẩn “Thanh khiết,thanh bần, vàng phục và huynh đệ” Tổ chức dòng tu thờng có ba cấp: bề trêndòng, tỉnh dòng tu và các cơ sở tu viện Trong dòng tu có các tu sĩ và linhmục, linh mục dòng đợc đào tạo nh linh mục triều nhng hoạt động chủ yếutrong phạm vi dòng tu.
Có hai loại dòng tu: Dòng “Miễn từ” và dòng “Địa phơng” Dòng
“Miễn từ” là dòng có hệ thống quốc tế, có “dòng mẹ” trực thuộc Toà thánhVatican và các dòng con (dòng nhánh) có mặt ở nhiều nớc khác nhau Dòng
“Địa phơng” là dòng có Giáo hội địa phơng (giáo phận, giáo tỉnh) tổ chức vàquản lý
Các dòng tu có hiến chơng, quy chế hoạt động và tổ chức riêng, nhngtrong hoạt động vẫn có sự hỗ trợ lẫn nhau Hiện nay thế giới có hơn 400 dòng
tu Một số dòng có mặt ở Việt Nam nh dòng Jesus (dòng tên), dòng Bơnoa(Vĩnh sơn, dòng Đức Bà, dòng Mến Thánh giá…)
2.2 Nguyên nhân và quá trình chia tách của đạo Kitô lần thứ nhất.
Sau khi trở thành quốc giáo của Rôma, để quản lý việc đạo trong toàn
đế quốc, đạo Kitô đã thành lập 5 trung tâm giáo hội do Tổng giám mục đứng
đầu Đó là Côngxtăngtinôplơ, Antiốt, Giêrudalem, Alêchxăngdri và Rôma.Sang thời trung đại do tình hình chính trị ở Đông Rôma (tức Bidantium) và ph-
ơng Tây khác nhau, nên lịch sử phát triển của giáo hội Kitô ở hai miền cũngkhác nhau
ở phơng Đông các trung tâm giáo hội tổ chức theo đơn vị hành chínhnhng Tổng giám mục ở Côngxtăngtinôplơ đợc giữ quyền thống nhất, ở đóchính quyền của hoàng đế rất vững mạnh nên giáo hội phải phục tùng quyềnlực của hoàng đế Hội nghị tôn giáo đợc triệu tập vào giữa thế kỷ V đã côngnhận hoàng đế Bidantium là ngời có quyền cao nhất trong giáo hội và đợc gọi
là “Giáo chủ hoàng đế” Tuy vậy hội nghị tôn giáo tuy đợc coi là cơ quan cao
Trang 37nhất của giáo hội phơng Đông, nhng quyền triệu tập hội nghị ấy, quyền quyết
định các thành viên tham dự cũng nh quyền phê chuẩn nghị quyết của hội nghịlại thuộc về hoàng đế
Còn ở phơng Tây từ thế kỷ V đã hình thành nhiều vơng quốc của ngờiGiecmanh Vua, quý tộc các nớc này đã nhanh chóng tiếp thu đạo Kitô cho thếlực của giáo hội ở đây càng thêm mạnh Trong khi đó, Tổng giám mục Rôma
tự xng là giáo hoàng, luôn luôn nuôi mu đồ nâng cao địa vị của mình vàochiếm quyền lãnh đạo toàn bộ giáo hội Kitô Lợi dụng sự suy yếu và tình hìnhcha ổn định của các quốc gia phong kiến do “man tộc” vừa mới thành lập nên
ở Tây Âu, giáo hoàng không chỉ quản lý công việc của tôn giáo mà còn giànhlấy chức năng về chính trị và hành chính nữa
Cơ sở vật chất của chính quyền giáo hoàng là các lãnh địa rộng lớn củacác nhà thờ và tu viện thuộc giáo hội Rôma Để thần thánh hoá địa vị củamình, giáo hoàng lan truyền rằng ngôi Tổng giám mục Rôma vốn là thánh Pie,ngời cầm đầu các môn đồ của chúa Giêsu sáng lập Do vậy, giáo hoàng gọilãnh địa của mình là “Lãnh địa thừa kế của thánh tông đồ Pie” Giáo hoàngLeô I (440 – 461) còn dùng cả biện pháp dối trá, đã thêm vào bản dịch tiếngLatinh quyết đinh của hội nghị toàn thể tín đồ Kitô giáo lần thứ nhất một câu:
“Giáo hội Rôma vĩnh viễn đứng hàng đầu” Đến nửa sau thế kỷ VI, tuy vềdanh nghĩa, giáo hoàng Rôma vẫn lệ thuộc Bidantium, nhng vì chính quyềncủa Bidantium ở Italia suy yếu nên đợc hoàn toàn độc lập Do vậy, mu đồ làmchúa tể cả việc đạo và việc đời của giáo hoàng đối với thế giới Kitô giáo càngkhông bị ràng buộc
Một khi thế lực đã mạnh thì dã tâm của giáo hoàng càng lớn Năm 568,ngời Lôngba xâm nhập Italia Nh vậy, Italia bị ngời Bidantium và ngời Lôngbachia nhau chiếm đóng Định lợi dụng sự đấu tranh của hai bên để mu lợi íchriêng cho mình, giáo hoàng khi thì ký hiệp định với bên này, khi thì cam kếtvới bên kia Đến khi thế lực của vơng quốc Frăng lớn mạnh và ngày càng giữ