Nghiên cứu “Tìm hiểu nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào và lễ hội uống nớc nhớ nguồn ở huyện Anh Sơn – Lào Nghệ An” là một đề tài mới mẻ, mặc dù có sự cố gắng nỗ lực hết mình của bản thâ
Trang 1Lời cảm ơn!
Khoá luận tốt nghiệp đợc hoàn thành với sự góp ý của thầy, cô giáo khoa Lịch Sử - Trờng Đại học Vinh Đặc biệt là sự giúp đỡ chỉ bảo hớng dẫn tận tình của Thạc Sĩ Hoàng Quốc Tuấn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới quý thầy cô
Nghiên cứu “Tìm hiểu nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào
và lễ hội uống nớc nhớ nguồn ở huyện Anh Sơn – Lào Nghệ An” là một đề tài mới mẻ, mặc dù có sự cố gắng nỗ lực hết mình của
bản thân song không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp, chỉ bảo của quý thầy cô và bạn đọc
Vinh, ngày 8 tháng 5 năm 2006
Sinh viên:
Nguyễn Thị Giang Châu
MụC LụC
Trang
A - PHầN Mở ĐầU
1 Lí do chọn đề tài ………4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 5
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu ……….6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……….7
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu ……… 7
6 Bố cục của khoá luận ……….7
Trang 2B - PHầN NộI DUNG
Chơng 1: Qúa trình hình thành nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào. Lào.
1.1 Xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào – Lào Một đạo lý nhân văn của
dân tộc Việt Nam……… ……… 9
1.2 Cơ sở xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào ở huyện Anh Sơn – Lào Nghệ An………
12
……
1.2.1 Cơ sở đạo lý truyền thống……….12
1.2.2 Cơ sở thực tế lịch sử……… 13
1.2.3 Những chủ trơng trực tiếp quyết định xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào……… 15
1.3 Qúa trình hình thành và xây dựng……….16
1.3.1 Công cuộc khảo sát lựa chọn địa điểm ………17
1.3.2 Qúa trình xây dựng ……… 17
1.3.3 Các nguồn lực vật chất ……….18
Chơng 2 : Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào. Lào – Lào. Một công trình kiến trúc tởng niệm hoành tráng. 2.1 Quy mô của khu nghĩa trang Việt – Lào Lào……….21
2.1.1 Vị trí, cảnh quan……… 21
2.1.2 Quy hoạch tổng thể………22
2.1.3 Các hạng mục kiến trúc, xây dựng tiêu biểu ……… … 22
2.2 Qúa trình quy tập hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang……….29
2.2.1 Các đơn vị làm nhiệm vụ quy tập và hoạt động của họ………29
2.2.2 Số lợng hài cốt liệt sĩ đã đợc quy tập tại nghĩa trang………31
2.2.3 Những nghi thức, nghi lễ trong mỗi lần quy tập……… 32
2.3 Hoạt động của ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào 33
………
2.3.1 Biên chế ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào ………
33 2.3.2 Những công việc thờng ngày của ban quản lý nghĩa trang Việt – Lào.Lào………
35 2.4 Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào trong tâm thức của nhân dân địa ph-ơng………37
Chơng 3: Lễ hội uống nớc nhớ nguồn
Trang 33.1 Đạo lý uống nớc nhớ nguồn trong lễ hội truyền thống Việt Nam…… 40
3.2 Những lễ hội mang đậm đạo lý uống nớc nhớ nguồn xa ở huyện Anh Sơn……… 41
3.3 Lễ hội uống nớc nhớ nguồn hiện nay ở huyện Anh Sơn – Lào Nghệ An 42
3.3.1 Sự tiếp nối truyền thống ……… 42
3.3.2 Nội dung của lễ hội uống nớc nhớ nguồn ở Anh Sơn……… 43
3.3.3 Nhận xét ……….56
C - KếT LUậN……… 57
Tài LIệU THAM KHảO……… 59
PHụ LụC………61
BảNG CHữ CáI VIếT TắT
Trang 4A PHầN Mở ĐầU
1 Lý do chọn đề tài:
Mỗi con ngời khi sinh ra và lớn lên, đều gắn bó với một vùng đất riêngnào đó Sự gắn bó đó có thể là những hoạt động sinh tồn đơn thuần, cũng cóthể khái quát lên thành những trạng thái tình cảm thiêng liêng nhất Bản thântôi, là một sinh viên khoa Lịch Sử, lại theo chuyên ngành Văn hoá Đợc làmkhoá luận tốt nghiệp, tôi cũng suy nghĩ, và đợc sự định hớng của thầy giáo h-ớng dẫn, tại sao mình lại không làm khoá luận về văn hoá của chính mảnh đất
mà mình đã sinh ra, đã nuôi lớn mình, đã là một cõi đi về cho tâm hồn mình
Đó chính là lý do động lực thúc đẩy tôi làm khoá luận về mảng văn hoá củahuyện Anh Sơn – Lào quê hơng tôi
Dân tộc Việt Nam của chúng ta đã trải qua lịch sử hàng ngàn năm Đó làhàng ngàn năm đấu tranh chống ngoại xâm, đấu tranh để khẳng định ViệtNam là một dân tộc độc lập, tự chủ, khẳng định vị thế của con ngời và bản sắcvăn hoá của dân tộc Việt Nam Và chính lịch sử tranh đấu đó, đã hình thànhtrong nếp nghĩ của ngời Việt Nam ý thức sẵn sàng hi sinh cho dân tộc, cho lýtởng cao đẹp Ngời ra trận ngã xuống, đem lại tự do, thanh bình cho quê hơng
đất nớc Còn ngời ở nhà, chăm lo dựng xây quê hơng một lòng hớng về ngời
ra trận, đã ngã xuống, lấy đó làm tấm gơng kiên trung để giáo dục hết thế hệnày đến thế hệ khác niềm khao khát hoà bình, độc lập và lòng quyết tâm giànhlại nền hoà bình, độc lập đó Không đơn giản chỉ là nếp nghĩ, điều này đã trởthành truyền thống, một truyền thống mang tính đặc trng, bản chất của dân
tộc Việt Nam, truyền thống Uống n“ Uống n ớc nhớ nguồn”.
Vùng đất Anh Sơn cũng giống nh bao vùng đất khác trên đất nớc, đãsẵn sàng cung cấp tất cả cho Tổ Quốc kể cả xơng máu Và ngời dân Anh Sơn
cũng nh bao ngời dân Việt Nam khác, luôn coi truyền thống Uống n“ Uống n ớc nhớ nguồn” là lẽ sống Là một sinh viên lịch sử, lại sinh ra và lớn lên trên vùng đất
Anh Sơn, hơn ai hết, bản thân tôi hiểu rõ Anh Sơn đã làm gì, đã chiến đấu nh
Trang 5thế nào trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trong thế kỷ XX,hiểu rõ tấm lòng của ngời dân Anh Sơn ra sao với những ngời con Việt Nam
đã ngã xuống trên đất quê hơng và trên đất bạn Lào vì nhiệm vụ quốc tế caocả Bởi thế mà Đảng và Nhà Nớc đã quyết định xây dựng nghĩa trang quốc tế
Việt – Lào Lào ngay trên đất Anh Sơn, và lấy lễ hội Uống n“ Uống n ớc nhớ nguồn ” tại
nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào làm lễ hội chính của huyện Anh Sơn
Là ngời đã từng trực tiếp quan sát và tham dự lễ hội Uống n“ Uống n ớc nhớ nguồn” tại nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào, tôi cũng thấu hiểu hơn những giá trị
của truyền thống và quan trọng nhất, tôi hiểu đợc tại sao con ngời không thểquay lng lại với quá khứ, bởi chính những giá trị đợc tạo ra từ quá khứ là nềntảng to lớn nhất, vững chắc nhất để xây dựng và phát triển cuộc sống hôm nay.Những di cốt, những vong linh của các liệt sĩ, ý nghĩa của nghĩa trang liệt sĩViệt – Lào Lào dờng nh đang là điểm tựa cho những bớc tiến nhanh, xa trong xâydựng và phát triển quê hơng của những ngời dân Anh Sơn hiện nay Và lễ hội
Uống
“ Uống n nớc nhớ nguồn ” tại nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào là cách thức để biểu
hiện tất cả những điều đó Đây chính là lí do cơ sở để tôi lựa chọn đề tài khoáluận “ Uống nTìm hiểu nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào và lễ hội uống nớc nhớnguồn ở huyện Anh Sơn Nghệ An”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Đề tài: “Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào và lễ hội uống nớc nhớnguồn ở huyện Anh Sơn – Nghệ An ” đã đợc đăng tải trên các tạp chí do
địa phơng xuất bản gồm:
Tạp chí văn hoá Nghệ An số 23 (2000), Sở văn hoá thông tin Nghệ An
có bài viết "Nghĩa trang hữu nghị Việt - Lào, công trình văn hoá - du lịch"củatác giả Văn Sơn đã đề cập đến đặc điểm kiến trúc nghệ thuật của nghĩa trangcùng với lễ hội uống nớc nhớ nguồn nhng chỉ khái quát những nét cơ bản chứkhông nói về vị trí lịch sử văn hoá của nghĩa trang trong đời sống tâm linh củanhân dân địa phơng
Tạp chí văn hoá số1 (2002), Bộ văn hoá thông tin có bài viết "Lễ hộiuống nớc nhớ nguồn ở Nghệ An- nhìn từ yêu cầu xã hội hoá của tác giả Phạm
Đức Hữu" thiên về khái quát lễ hội uống nớc nhớ nguồn tại nghĩa trang liệt sĩViệt – Lào Lào mà cha nêu lên đợc một cách khái quát đầy đủ về quá trình hìnhthành và kiến trúc của nghĩa trang
Tạp chí văn hoá Nghệ An số 50 (2004), Sở văn hoá thông tin Nghệ An
có bài viết "Văn bia - nghĩa trang hữu nghị Việt - Lào" của tác giả Đỗ Minh
Nụ đã nêu lên một cách khái quát đặc điểm kiến trúc của một số hạng mục
Trang 6chính và nội dung của văn bia Nhng không đề cập đến lễ hội uống nớc nhớnguồn tại nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào.
Tạp chí văn hoá nghệ thuật số 29 (2001), Sở văn hoá thông tin Nghệ
An Trong cuốn này có bài viết "Lễ hội uống nớc nhớ nguồn ở Nghệ An - 5năm nhìn lại của tác giả Phạm Đức Hữu đã đề cập một cách khái quát 4 lễ đợctiến hành trong lễ hội uống nớc nhớ nguồn ở huyện Anh Sơn – Lào Nghệ An,không đề cập đến kiến trúc của nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào
Tuy công trình nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào trên địa bàn huyện AnhSơn đã đợc sự chú ý, quan tâm của một số nhà báo, song cha có một bài báotạp chí nào nêu một cách tổng thể về hệ thống các hạng mục, về đặc điểmcũng nh mối quan hệ giữa nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào với đời sống thực tạicủa ngời dân Đó là một điều đáng tiếc Nhận thấy điều đó cho nên chúng tôichọn đề tài này là có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử vănhoá Nghệ An
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tợng:
Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào trên địa bàn huyện Anh Sơn trên các mặt
nh lịch sử nghĩa trang, kiến trúc, lễ hội tại nghĩa trang
3.2 Giới hạn:
Đi sâu tìm hiểu về kiến trúc các hạng mục chủ yếu và lễ hội uống nớcnhớ nguồn hàng năm tại nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Trong đề tài này sẽ tiến hành các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ quá trình hình thành nghĩa trang, qua đó thấy đợc vai trò, vị trícủa nghĩa trang
- Tiến hành làm sáng tỏ một số mặt nh:
+ Kiến trúc của các hạng mục
+ Lễ hội uống nớc nhớ nguồn tại nghĩa trang
- Rút ra những kết luận khoa học, qua đó nêu đợc hiện trạng và giảipháp bảo vệ, phát triển nghĩa trang
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
5.1 Nguồn tài liệu:
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã tập trung khai thác các nguồn tàiliệu sau:
- Các sách lịch sử văn hoá, địa danh lịch sử, các báo tạp chí có liên quan
đến đề tài
Trang 7- Hồ sơ về nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào.
- Các tranh ảnh về lễ hội uống nớc nhớ nguồn ở nghĩa trang
- Các nguồn tài liệu điền dã
6 Bố cục của khoá luận:
Đề tài Nghĩa trang liệt sĩ Việt “ Uống n – Lào. Lào và lễ hội uống n ớc nhớ nguồn ở huyện Anh Sơn – Lào. Nghệ An” đợc trình bày gồm:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nộidung chính của đề tài đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1: Qúa trình hình thành nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào.
1.1 Xây dựng nghĩa trang liêt sĩ Việt – Lào.Lào: Một đạo lý nhân văn của dân tộcViệt Nam
1.2 Cơ sở xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào.Lào ở huyện Anh Sơn – Lào Nghệ An.1.3 Qúa trình hình thành và xây dựng
Chơng 2: Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào.Lào – Lào Một công trình kiến trúc tởng
niệm hoành tráng
2.1 Quy mô của khu nghĩa trang
2.2 Qúa trình quy tập hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang
2.3 Hoạt động của ban quản lý nghĩa trang
2.4 Nghĩa trang Việt – Lào Lào trong tâm thức của nhân dân địa phơng
Chơng 3: Lễ hội uống nớc nhớ nguồn.
3.1 Đạo lý uống nớc nhớ nguồn trong lễ hội truyền thống Việt Nam
3.2 Những lễ hội mang đậm đạo lý uống nớc nhớ nguồn xa ở huyện Anh Sơn 3.3 Lễ hội uống nớc nhớ nguồn hiện nay ở Anh Sơn
Trang 8B PHầN NộI DUNG
Chơng 1:
Qúa trình hình thành nghĩa trang liêt sĩ Việt – LàoLào.
1.1 Xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào. Lào – Lào. Một đạo lý nhân văn của dân tộc Việt Nam.
Trải qua một quá trình lịch sử hàng ngàn năm của lịch sử Việt Nam, từthời đại Hùng Vơng đến thời đại Hồ Chí Minh, đất nớc ta, dân tộc ta chẳngmấy khi nghỉ ngơi cung kiếm trong việc bảo vệ biên cơng Tổ Quốc, bảo vệnền độc lập và danh dự của dân tộc Giang sơn tổ quốc Việt Nam hôm nay làkết tinh của muôn triệu sự hy sinh của các thế hệ anh hùng liệt sĩ
Trong cõi sâu tiềm thức, từ đời này sang đời khác ngời Việt Nam luôn
có một niềm kí ức về một thời đại, về sự cống hiến cao đẹp của các anh hùngliệt sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ Quốc Lòng biết ơn thành kính đốivới những bậc có công với dân với nớc đã trở thành một đạo lý tốt đẹp của dântộc Việt Nam, văn hoá Việt Nam Bởi vậy mà trên khắp đất nớc Việt Nam này
đâu đâu cũng có những gơng hy sinh vì dân, vì nớc và đợc Đảng, Nhà nớc vànhân dân ta bày tỏ lòng tôn kính qua việc xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ Dovậy, mỗi xã, phờng đều có nghĩa trang liệt sĩ tôn nghiêm
Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX là một cuộc đụng đầu vĩ đại nhất của dântộc Việt Nam, văn hoá Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc mà phần thắng đãthuộc về dân tộc Việt Nam, văn hoá Việt Nam Để giành đợc những chiếnthắng vĩ đại này, thêm một lần nữa các thế hệ con dân đất Việt đã quyết hysinh vì danh dự của dân tộc Chắc chắn rằng để làm nên sức mạnh Việt Namthế kỷ XX có một phần là bởi một quá khứ hào hùng, một đạo lý nhân văn,một truyền thống biết ơn, uống nớc nhớ nguồn đã đợc đúc kết, lu truyền trongsuốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nớc
Trang 9Trong lịch sử hiện đại, có thể khẳng định ít có dân tộc nào kiên cờng,bền bỉ và dám chấp nhận hy sinh vì độc lập tự do, vì danh dự và phẩm chất củadân tộc và mỗi con ngời nh dân tộc Việt Nam Gần nửa thế kỷ đánh giặc cứunớc, hàng triệu ngời dân Việt Nam đã dấn thân tranh đấu, đổ máu và hy sinhvì nghĩa của dân tộc Máu xơng của họ kết tinh thành non sông đất nớc hômnay, tinh thần của họ đã trở thành linh hồn của dân tộc Trong mỗi chúng ta
đều có một không gian thiêng giành cho những ngời đã hy sinh vì hạnh phúchôm nay và mai sau
Trong đời sống cộng đồng ngời Việt, niềm tin, sự tôn kính các anh hùngliệt sĩ có công với làng, với nớc đã trở thành truyền thống văn hoá và là mộtchuẩn mực đạo đức Cùng với tín ngỡng thờ cúng tổ tiên đạo lý uống nớc nhớnguồn đã thăng hoa trong văn hoá tâm linh của dân tộc Rất nhiều, rất nhiềucác anh hùng liệt sĩ đã đợc các cộng đồng ngời Việt tởng nhớ, tôn vinh, đó là
lí do Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta coi trọng việc xây dựng các nghĩa trangliệt sĩ
Hiện thực lịch sử đã chứng minh thắng lợi của cuộc cách mạng chốngngoại xâm của dân tộc ta là nhờ kết quả của sự hy sinh xơng máu của các anhhùng liệt sỹ, của các đồng chí thơng binh, bệnh binh và những ngời có côngvới nớc Công lao đó mãi là niềm tự hào của Đảng ta, nhà nớc ta, nhân dân ta,của các lực lợng vũ trang nhân dân và của muôn đời con cháu mai sau Lòngbiết ơn đối với các anh hùng liệt sĩ vì dân vì nớc đợc chủ tịch Hồ Chí Minh
kính yêu căn dặn chúng ta cách đây 58 năm: Công trạng to lớn của các anh“ Uống n
hùng liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng của toàn dân và non sông đất nớc, máu nóng của liệt sĩ đã nhuộm lá quốc kỳ vẻ vang thêm thắm đỏ, tiếng thơm của liệt sĩ muôn đời lu với sử xanh.
Một nén hơng thơm.
Vài lời an ủi ” [ 14, 6 ] Để đền đáp công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, những ngời đangsống bày tỏ tình cảm của mình bằng việc xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ tạicác địa phơng, để họ dâng những vòng hoa đỏ thắm, những trái chín ngọt lànhcủa quê hơng đất nớc nhằm ghi tạc công ơn của các anh Đó cũng là điều trớc lúc
đi xa Bác Hồ căn dặn chúng ta: Đối với các liệt sĩ, thì mỗi địa ph“ Uống n ơng (thành phố, làng xã) cần xây vờn hoa và bia kỷ niệm, ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nớc cho nhân dân ta ” [ 20, 6 ]
Thực hiện lời dạy của Bác năm xa, các thế hệ con dân đất Việt hôm nay
đang làm tất cả để giữ gìn và phát huy đạo lý ăn quả nhớ ng“ Uống n ời trồng cây” của
cha ông Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn
Trang 10ngày 27 tháng 7 hàng năm để tôn vinh và khắc sâu công ơn của các anh hùngliệt sĩ, thơng binh, làm theo lời Ngời hơn năm mơi năm qua, toàn Đảng, toàndân ta đã thể hiện tình cảm sâu sắc và trách nhiệm cao cả của mình với nhữngngời có công với nớc Không gì có thể bù đắp đợc sự hy sinh của các anh hùngliệt sĩ, thơng binh, bệnh binh và tất cả những ngời đã tham gia cuộc vệ quốc vĩ
đại Đây là món nợ không bao giờ trả nổi Nhng những gì mà chúng ta đã và
đang làm hôm nay là việc xây dựng các nghĩa trang để kính viếng các anh hùngliệt sĩ là ý nguyện chân thành và sâu sắc
Việc xây dựng các nghĩa trang ở các địa phơng là một trong những cách
thể hiện đạo lý nhân văn uống n“ Uống n ớc nhớ nguồn ăn quả nhớ ng” “ Uống n ời trồng cây ,” ở Nghệ An đạo lý này đợc nâng lên thành một loại lễ hội Các hoạt độngcủa lễ hội đã một phần làm vơi đi nỗi đau mất mát của những bà mẹ Việt Namanh hùng và thể hiện tình cảm của mình đối với những ngời có công với nớc.Chúng ta, những ngời đang sống cuộc sống hoà bình hôm nay nguyện sốngxứng đáng với những ngời góp mồ hôi xơng máu vì dân, vì Tổ Quốc
Trong chiến tranh, cũng nh lúc hoà bình, chính sách tử sĩ, thơng binhluôn đợc coi là một vấn đề quan trọng Nó đụng chạm tới mọi gia đình, tớivùng sâu kín của lơng tâm, đạo lý ở mỗi ngời - đầu mối của lòng nhân ái conngời Vì vậy, mỗi ngời đang thừa hởng thành quả xơng máu hôm nay, ai cũnglàm cái gì đó, dù nhỏ nhất góp phần cho việc đền ơn, đáp nghĩa Cho nên,chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi hàng loạt nghĩa trang đợc xây dựngtrên khắp đất nớc ta, từ Nam ra Bắc Xây dựng nghĩa trang nhằm để tởng nhớ,tôn vinh các anh hùng dân tộc
Trong cuộc chiến tranh khốc liệt chống chủ nghĩa đế quốc, Việt Nam vàLào đã từng đoàn kết, chung lng đấu cật để giữ gìn bảo vệ độc lập của hai dântộc Quá trình đấu tranh đã để lại trên hai đất nớc nhiều chiến sĩ, nhiều gơng
hy sinh của hai nớc Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào là nơi quy tập, an nghỉ củacác chiến sĩ đã hy sinh vì sự phồn vinh của hai dân tộc, bởi vậy ngoài nhữngmục đích trên đây, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào còn nhằm tăng c-ờng, củng cố tình đoàn kết Việt – Lào Lào vì “ Uống nđộc lập – Lào tự do – Lào phồn thịnh”của hai dân tộc
1.2 Cơ sở xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào. Lào ở huyện Anh Sơn – Lào
Nghệ An.
1.2.1 Cơ sở đạo lý truyền thống.
Trong trờng kỳ lịch sử dựng nớc và giữ nớc, tỉnh Nghệ An nói chung,huỵện Anh Sơn nói riêng luôn luôn giữ vai trò là đất phên dậu, then chốt và r-
Trang 11ờng cột của đất nớc Do vậy, sự đóng góp nhân lực, tài lực và vật lực của ngờidân Anh Sơn là vô cùng to lớn Có thể khẳng định rằng Anh Sơn là một trong
những huyện thể hiện đạo lý truyền thống “ Uống nUống nớc nhớ nguồn” sâu nặng
nhất
Chiến tranh kết thúc, vấn đề khó khăn nhất là giải quyết hậu quả củachiến tranh, thực hiện chủ trơng của Đảng, nhân dân huyện Anh Sơn đã nỗ lựcthực hiện đạo lý đền ơn, đáp nghĩa bằng các việc làm cụ thể, các xã đều cónghĩa trang liệt sĩ tôn vinh ghi chữ vàng những ngời con đã đổ máu, đi mãikhông về Ta đi đến từng gia đình, thấy treo những tấm huân chơng, huy ch-
ơng chống Pháp, chống Mỹ Những nghĩa trang liệt sĩ ấy, những tấm huân
ch-ơng, huy chơng ấy là minh chứng hùng hồn nói lên chí khí kiên cờng, oanh
liệt thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất n“ Uống n ớc, không chịu làm nô
lệ ” Hàng trăm ngòi con Anh Sơn nh một đã nhất tề đứng dậy theo tiếng gọi
thiêng liêng của chủ tịch Hồ Chí Minh “ Uống nkhông có gì quý hơn độc lập tự do”.
[ 14, 9 ]
Đạo là phép tắc đối xử trong xã hội, ai cũng phải biết và tuân thủ, giữ
gìn Ta thờng nói Đạo làm ng“ Uống n ời ăn ở sao cho phải đạo ,” “ Uống n ” còn đạo lý là lẽ
phải, lẽ hợp với đạo đức Ta thờng nói, đạo lý làm ng“ Uống n ời” Đạo làm ngời cũng
nh đạo lý làm ngời nhủ bảo mỗi chúng ta khi uốngnớc phảI nhớ lấy nguồn.Bởi thế, chúng ta biết ơn tổ tiên ta từ khi vua Hùng dựng nớc, biết ơn bao anhhùng, liệt sĩ từ thế hệ này đến thế hệ khác đã hy sinh quên mình để Tổ Quốc
ta, quê hơng ta và gia đình ta có đợc nh hôm nay
Dẫu chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm nhng nỗi đau thơng, nhữngniềm mong nhớ khuôn nguôi cha hết day dứt trong tim óc biết bao con ngời
đang sống Đạo lý uống nớc nhớ nguồn không chỉ là nghĩa vụ thôi thúc chúng
ta mà chính cũng là sức mạnh nội lực nâng bớc chúng ta trên con đờng pháttriển Nêu cao đạo lý truyền thống đó, ở Anh Sơn, từ năm 1997 đến nay, phốihợp với ngành văn hoá thông tin cùng các ngành liên quan nh sở lao động th-
ơng binh xã hội tổ chức lễ hội tại nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào, nơi an nghỉcủa hơn mời ngàn liệt sĩ quân tình nguyện hy sinh trên đất bạn Lào Đây làmột sáng kiến độc đáo, ngoài sự phát huy truyền thống của dân tộc, còn là sựtoả sáng tình cảm quốc tế trong sáng, thuỷ chung của ngời Việt Nam thời đại
Hồ Chí Minh
1 2.2 Cơ sở thực tế lịch sử.
Trang 12Ngợc về cội nguồn, Anh Sơn vốn là vùng đất thuộc bộ Việt Thờng, mộttrong 15 bộ của đất Văn Lang thuở các vua Hùng dựng nớc Trong thời kỳchống lại ách đô hộ của phong kiến phơng Bắc, trải qua nhiều lần tách nhập,Anh Sơn thuộc các đơn vị hành chính khác nhau Đời nhà Hán, Anh Sơn thuộcphần đất của huyện Hàm Hoan, đời Đông Ngô là đất của huyện Đô Giao, đời
Đờng thuộc huyện Nhật Nam của Châu Hoan Cho đến đời Lê (thế kỷ XV)mới có tên gọi phủ Anh Đô bao gồm toàn bộ phần đất của huyện HngNguyên, Nam Đàn, Anh Sơn, Đô Lơng nh hiện nay Dới chế độ phong kiếnnhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) phủ Anh Đô đợc đổi tên là phủAnh Sơn Đến khi thực dân Pháp xâm lợc cho đến đầu năm 1946, phủ Anh Sơn
là một trong 5 phủ, 6 huyện của Nghệ An (phủ Anh Sơn lúc này tơng đơng với 2huyện Anh Sơn Đô Lơng hiện nay).[ 3, 5 ]
Anh Sơn là một miền quê núi sông hùng vĩ, lèn Kim Nhan sừng sững,dòng sông Lam uốn khúc quanh co Cũng nh mọi miền, vùng núi khác củaViệt Nam, ngời dân Anh Sơn bao đời sống bằng nông nghiệp Qúa trình lao
động sáng tạo cùng với quá trình dựng nớc đã tạo nên cho ngời dân Anh Sơnnhững đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, giàu tình thơng trong cuộcsống hàng ngày
Trong cuộc đấu tranh chống các thế lực áp bức, bóc lột, nhiều tên đất,tên ngời Anh Sơn đợc lu danh sử sách Với vùng đất có thế núi, thế sông lợi
hại nên trong lịch sử giữ nớc, nơi đây thực sự là phên dậu“ Uống n ” là thắng địa“ Uống n ”, thế
đứng chân của các anh hùng cứu nớc Chỉ tính từ thế kỷ XV đến nay, không
có cuộc vùng dậy nào của quần chúng nhân dân lại không có sự đóng góp tolớn của ngời dân Anh Sơn Nếu nh Bồ Aỉ, Khả Lu và biết bao di tích lịch sửkhác gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, thì trong sự
nghiệp áo vả“ Uống n i cờ đào” của vua Quang Trung – Lào Nguyễn Huệ, một gia đình ở
làng Quan Lãng (Tờng Sơn) có bốn anh em trai đều trở thành tớng lĩnh của
đội quân Tây Sơn bách thắng
Đến thời thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, nhân dân Anh Sơn lại vùng lêndới cờ nghĩa Cần Vơng chống Pháp của cụ Phan Đình Phùng Nhiều con emAnh Sơn nắm giữ những chức vụ quan trọng, đợc cụ Phan hết sức tin cẩn Đó
là Tác Khai ở Khai Sơn, Đội Tăng, Đội Tuyền ở Lãng Sơn hoặc Đặng VănPhiên, Nguyễn Thiện Cẩn ở Vĩnh Sơn Quân thứ Anh Sơn do Nguyễn Mẫu chỉhuy đã từng làm cho quân giặc phải kinh hoàng, thất điên bát đảo Tiếp theocác cuộc khởi nghĩa do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo, từ sau năm 1905 trở đi,trên mảnh đất Anh Sơn lại in đậm dấu chân của các lãnh tụ phong trào Đông
Trang 13Du và nhiều con em Anh Sơn lại hoà nhập vào phong trào yêu nớc mới là xuấtdơng tìm đờng cứu nớc.
Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, ngời dân Anh Sơn đã thể hiện mộttruyền thống tốt đẹp kiên cờng, dũng cảm không bao giờ chịu cúi đầu trớc cácthế lực áp bức, bóc lột Họ không chỉ tạo nên những kỳ tích trong quá trìnhdựng nớc mà còn lập biết bao chiến công trong quá trình giữ nớc Trong quátrình đó những ngời con Anh Sơn đã hy sinh mất mát rất lớn, hậu quả để lạirất nặng nề Trách nhiệm của cả nớc, của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt ngờidân Anh Sơn những ngời đang sống hôm nay là phát huy truyền thống vănhoá, đạo lý của dân tộc để làm thật nhiều, làm hết sức mình để tôn vinh vàkhắc sâu công ơn của các anh hùng liệt sĩ Mỗi một ngời dân ở địa phơng cầnnêu cao tinh thần tự giác, làm thật nhiều việc và có hiệu quả để chăm lo chocác anh hùng liệt sĩ – Lào những ngời đã hy sinh bản thân mình cho độc lập tự docủa dân tộc, của Anh Sơn nói riêng và của cả nớc nói chung
1.2.3 Những chủ trơng trực tiếp quyết định xây dựng nghĩa trang liệt
sĩ Việt – Lào.Lào.
Để khẳng định công lao và vai trò quốc tế của quân đội Việt Nam,
Đảng, Nhà nớc và Sở lao động thơng binh xã hội, Sở văn hoá thông tin tỉnhNghệ An đã làm hết sức mình để đền đáp công lao đối với những anh hùngliệt sĩ
Tại hội nghị đầu năm 1974 về dự kiến xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt– Lào Lào, có sự tham gia của các đại biểu của Đảng, Bộ quốc phòng, Sở lao
động thơng binh xã hội, Sở văn hoá thông tin Nghệ Tĩnh đều tán thành xâydựng nghĩa trang để đền đáp công lao của các liệt sĩ Có nhiều ý kiến về địa
điểm xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào nhng tuyệt đại đa số đều cảm
thấy không nơi nào thiêng“ Uống n ” bằng huyện Anh Sơn bởi mảnh đất này là mộtvùng địa linh nhân kiệt, có truyền thống lịch sử, điều này đợc nhà thơ Tài
Đông thể hiện qua những vần thơ sau:
“ Uống n Về Anh Sơn quê mình em có biết
Đồn Kim Nhan, đình chợ xã Phúc Sơn Những địa danh hun đúc những căm hờn Phá đồn thù giết giặc, năm ba mơi Xô viết [13, 32]“ Uống n
Tháng 4 năm 1976 có quyết định thành lập ban chỉ đạo quản lý xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào theo quyết định số 363/ QĐ- UB (ngày 6 tháng 4 năm 1976 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh)
Trang 14Đến tháng 9 năm 1976 bắt đầu triển khai khởi công xây dựng nghĩatrang liệt sĩ Việt – Lào Lào với quy mô mặt bằng 6 ha và một số hạng mục chínhnh:
Đài tởng niệm.
Khu ô mộ.
Nhà quản trang.
Cổng nghĩa trang.
Phải hoàn thành vào giai đoạn 1 (sau đó tiếp tục hoàn thành), trong buổi
lễ khánh thành thay mặt lãnh đạo Đảng, nhà nớc, đồng chí giám đốc Sở lao
động thơng binh xã hội Nghệ Tĩnh tuyên bố: Từ nay về sau tỉnh quyết địnhchọn ngày 27 tháng 7 hàng năm làm lễ tởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã chiến
đấu hy sinh trên đất bạn Lào ở nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào tại huyện AnhSơn tỉnh Nghệ An
Từ năm 1981 trở đi tiếp tục xây dựng hoàn thành một số hạng mục:
Đài tởng niệm, đờng sân bãi … Đến nay vẫn tiếp tục tu bổ, mở rộng
Trong quá trình tu bổ đến tháng 7 năm 2002, phó chủ tịch uỷ ban nhândân tỉnh Nghệ An đã đề nghị soạn nội dung văn bia nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào.Lào Ngày 27 tháng 8 năm 2002 theo quyết định số 3042 QĐUB – Lào VX của
uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã phê duyệt nội dung văn bia do giáo s PhanNgọc soạn thảo
Từ khi bắt đầu triển khai xây dựng đến nay, nghĩa trang liệt sĩ Việt– Lào Lào trở thành một nghĩa trang lớn trực thuộc quản lý của Sở lao động thơngbinh xã hội tỉnh Nghệ An, quy mô cha ổn định,vừa tu bổ, vừa nâng cấp mởrộng Việc xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào là cầu nối giữa hai nớcViệt – Lào Lào, đặc biệt tình đoàn kết giữa hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảngngày càng thêm thắm thiết Xúc động trớc tình cảm giữa hai nớc giám đốc,
nhạc sĩ Hồ Hữu Thới đã sáng tác lên bài hát “ Uống nTình Việt – Lào. Lào ”
1 3 Qúa trình hình thành và xây dựng.
1.3.1 Công cuộc khảo sát lựa chọn địa điểm.
Sau khi hội nghị dự kiến xây dựng nghĩa trang diễn ra và ban chỉ đạoquản lý nghĩa trang thành lập, đến cuối 1976 công cuộc khảo sát lựa chọn địa
điểm đợc tiến hành Qúa trình khảo sát do Công ty khảo sát quy hoạch và thiết
kế xây dựng tỉnh Nghệ Tĩnh tiến hành
Là nghĩa trang hữu nghị Việt – Lào Lào do đó vị trí khảo sát là dọc tuyếnquốc lộ 7 đi từ Lào về Diễn Châu Nghệ Tĩnh Trong quá trình khảo sát cáchuyện dọc quốc lộ 7 của Nghệ Tĩnh sau khi phân tích kỹ từng huyện Tỉnh uỷ
uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh và các ngành chức năng quyết định chọn quả
Trang 15đồi dọc quốc lộ 7 tại trung tâm thị trấn Anh Sơn đặt nghĩa trang hữu nghị Việt– Lào Lào.
Anh sơn là quê hơng cách mạng từ hồi Xô viết Nghệ Tỉnh 1930 – Lào
1931, là huyện anh hùng lực lợng vũ trang và là nơi căn cứ địa để quân tìnhnguyện Việt Nam sang nớc bạn Lào chiến đấu đánh đuổi quân thù
Là huyện miền núi, nhng giao thông đi lại thuận tiện Đờng quốc lộ 7nối với nớc bạn Lào Đờng Hồ Chí Minh chạy qua huyện 13 km Các tuyến đ-ờng giao thông nội vùng nối với các huyện lân cận
1.3.2 Qúa trình xây dựng.
Ngày 12 tháng 3 năm 1976 Bộ lao động thơng binh xã hội có quyết
định phê duyệt đầu t xây dựng nghĩa trang hữu nghị Việt – Lào Lào tại Anh SơnNghệ Tĩnh (lúc đó là xã Thạch Sơn, Anh Sơn, Nghệ Tĩnh) Chủ đầu t thuộc Sởlao động thơng binh xã hội tỉnh Nghệ Tĩnh
Sở lao động thơng binh xã hội tỉnh Nghệ Tĩnh tiến hành quy hoạch chitiết, thiết kế kỹ thuật khu nghĩa trang, xin Bộ lao động thơng binh xã hội phêduyệt và đầu t
Ngày 12 tháng 9 năm 1976 chính thức khởi công xây dựng khu nghĩatrang liệt sĩ Viêt- Lào
Từ khởi công cho đến tháng 6 năm 1979 tiến hành san ủi xong mặtbằng
Ngày 2 tháng 9 năm 1979 tiến hành xây dựng, lúc này xây tờng rào(phía trớc) và rào dây thép gai 3 phía bao quanh
Tháng 3 năm 1980 tiến hành xây mộ ở các ô A1, A2, A3
Tháng 7 năm 1980 quy tập hài cốt về nghĩa trang đợt đầu tiên
Ngày 27 tháng 7 năm 1981 khởi công xây dựng đài tởng niệm
Cũng bắt đầu từ đây việc xây dựng nghĩa trang đợc tiến hành khẩn
tr-ơng và đồng bộ:
Xây tợng đài, đắp phù điêu do thợ ngoài Bắc đảm nhiệm
Xây tờng rào, các ô mộ, nhà bia do thợ trong Huế đảm nhận
Xây hàng nghìn ngôi mộ do thợ Hà Nam Ninh
Qúa trình từ năm 1981 đến 1991 tiến hành vừa xây dựng, tu bổ hoànchỉnh vừa quy tập hài cốt liệt sĩ Với thiết kế quy hoạch cũ nghĩa trang hữunghị Việt – Lào Lào có diện tích không đủ để đặt bia mộ liệt sĩ Vì vậy, tháng 4năm 1992 uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An sau khi đợc sự đồng ý của Bộ lao
động thơng binh xã hội đã có quyết định mở rộng, nâng cấp và xây dựngnghĩa trang thành khu thăm viếng tâm linh và du lịch Xuất phát từ đó, đài t-ởng niệm đợc thiết kế và xây dựng theo mẫu mới:
Trang 16Nhà bia, ô mộ, phù điêu đợc xây dựng.
Đầm sen, cầu vồng, đờng đi lại, cây cảnh, cổng chính, cửa vào … ợcđxây dựng hoàn chỉnh
Hệ thống nhà khách 2 tầng, nhà đón tiếp, đèn chiếu sáng, đèn trang trí
Anh Sơn là quê hơng của lòng nhân ái, thuỷ chung hớng về cội nguồn.Mặc dù điều kiện kinh tế – Lào xã hội của huyện còn nhiều khó khăn nhng nhiềunăm qua Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đã phát huy truyền thống và đạo lý
“ Uống nuống nớc nhớ nguồn ăn quả nhớ ng” “ Uống n ời trồng cây”, không ngừng chăm lo
làm tốt chính sách thơng binh, liệt sĩ và ngời có công với cách mạng
Cùng với việc xây dựng nghĩa trang, phong trào đền ơn đáp nghĩa“ Uống n ” vàvận động đón thơng binh nặng về chăm sóc, nuôi dỡng tại gia đình và cộng
đồng phát triển mạnh ở tất cả các xã ở trong huyện, đợc đông đảo các tầng lớpnhân dân trong huyện hởng ứng
Từ khi triển khai xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào, Đảng, nhà
n-ớc và các cấp chính quyền đã đóng góp một nguồn sức của rất lớn để xâydựng, tôn tạo nghĩa trang.Trong giai đoạn đầu trung ơng đã cấp khoản tiền lớnvới tổng số là 13.615.475 000 đồng, từ đó đến nay hàng năm trung ơng lập các
dự án cấp kinh phí để tôn tạo nghĩa trang
Trong đó: Địa phơng đã đóng góp khoản tiền là 10.7817 000 đồng
Nhân dân với số tiền là 12 000000 đồng
Hàng năm hàng triệu lợt ngời đến viếng nghĩa trang, thắp hơng và tỏlòng biết ơn, nhớ lại những công lao các anh hùng liệt sĩ, để ôn lại truyền
Trang 17thống hào hùng của dân tộc Đặc biệt đến ngày 27 tháng 7, nhân dân cả nớcnói chung, Anh Sơn nói riêng sôi nổi tổ chức lễ tởng niệm các anh hùng liệt sĩ,tăng thêm lòng tự hào, ý chí cho ngời đang sống vợt qua khó khăn trong cuộcsống, đăc biệt là thân nhân gia đình liệt sĩ.
Mọi nổ lực cố gắng của toàn Đảng, toàn dân để thực hiện Đền ơn đáp“ Uống n
nghĩa” dù to lớn đến đâu cũng không thể đền đáp xứng đáng với sự hi sinh vô
bờ bến của các anh hùng liệt sỹ đã dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiêp giành
độc lập tự do cho Tổ Quốc Hầu nh trong mỗi chúng ta lúc nào cũng cảm thấylinh hồn của họ vẫn lấp lánh nh những vì sao đang thao thức dõi nhìn Cònmột ngày để chậm hoặc sót một ngời có công với nớc là chúng ta còn phải daydứt nh ngời có lỗi
Trang 18Chơng 2:
Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào – Lào một công trình
kiến trúc tởng niệm hoành tráng.
2.1 Quy mô của khu nghĩa trang Việt – Lào. Lào
2.1.1 Vị trí, cảnh quan
Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào nằm trên một vùng đất giữa trung tâmthị trấn Anh Sơn Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào là một công trình tình nghĩamang tầm quốc gia về ý nghĩa chính trị, đã và đang trở thành một công trìnhvăn hoá, đậm đà bản sắc dân tộc, thu hút khách thập phơng và mọi ngời quanhvùng đến thăm và phúng viếng hơng hồn các liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập tự docủa Tổ Quốc và nghĩa vụ quốc tế cao cả
Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào thuộc địa phận khối 4 thị trấn Anh Sơn,
có vị trí địa lý nh sau:
Phía Bắc giáp xã Vĩnh Sơn
Phía Nam giáp Bản Vều (xã Phúc Sơn)
Phía Đông giáp xã Long Sơn
Phía Tây giáp xã Hội Sơn
Toàn bộ khu nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào có tờng bao bọc đợc xâybằng gạch Nền và sân ở bên trong đợc lát gạch men Nghĩa trang có diện tích
60588 m2 bao gồm các hạng mục sau:
- Cổng Nghĩa trang
- Cửa Nghĩa trang
- Khu quản trang
Xét về thuyết phong thuỷ thì đây qúa là một địa thế cực kì tốt, đầu độinúi, chân đạp nớc Nhìn về phía nam là các ngọn núi, những lèn đá nhấp nhô
Trang 19theo hình vòng cung Quốc lộ số 7 chạy qua thi trấn ven bãi sông Lam nối liền
từ Anh Sơn lên Con Cuông
2.1.2 Quy hoạch tổng thể
Tổng thể khu Nghĩa trang đuợc xây dựng trên quả đồi hình chữ U Từngoài cổng nghĩa trang đi vào trong tợng đài cho đến hệ thống các hạng mụccông trình lớn - nhỏ, cao – Lào thấp nằm nhấp nhô tránh đợc không khí nặng nềcủa một công trình kiến trúc hình khối tơng đối lớn Hệ thống khu quần thểnghĩa trang xây bằng các loại vật liệu cứng (đá, gạch), nhng nhờ bàn tay khéoléo của các nhà điêu khắc nên từng hạng mục đợc bổ trí, sắp xếp hài hoà, vàtrau chuốt khéo léo trông rất nhẹ nhàng, trên bờ của từng hạng mục đều cóhoạ tiết rồng, hoa dây tạo nên vẻ đẹp uy nghi, linh thiêng cho nghĩa trang vớinhững đờng nét phong phú
Qua việc xây dựng, từ phong cách thể hiện đến hình khối kiến trúc tathấy nghĩa trang vừa đợc xây dựng ở vị trí non xanh, nớc biếc lại đợc bao bọcbởi dân c, nên tạo cảm giác ấm cúng thể hiện đợc mối giao hoà nơng tựa vàonhau giữa ngời sống và ngời đã khuất có sức lay động, khách hành hơng vềthăm viếng nghĩa trang
2.1.3 Các hạng mục kiến trúc, xây dựng tiêu biểu.
* Đài tởng niệm:
Đài tởng niệm là công trình kiến trúc chính của nghĩa trang, đợc xâythành trụ hai mặt là biểu tởng hai nớc Việt – Lào Lào tựa lng vào nhau chống đếquốc Đài dựa vào một không gian thiên thiên hùng vĩ, bao bọc xung quanh làcác ô mộ
Đài tởng niệm cao gần 20 m, dài 17 m, kiến trúc theo kiểu mái nhàchung giống nh một cái tháp vơn cao, toàn bộ ốp bằng đá Hoa Cơng màutrắng, chính giữa khoét rỗng theo mẫu Đài tởng niệm liệt sĩ Hà Nội với nhiềuhoạ tiết hoa văn đợc phủ nhũ vàng
ở giữa có dòng chữ:
“Tổ quốc ghi công”
Và trong vòng tròn khoét rỗng đặt chiếc l bằng đồng
Chiếc l đồng rất lớn, gồm có ba đỉnh, mỗi đỉnh cao 6,3 rộng 1,55m, l
đồng nặng 500kg, cao 1,5m, đờng kính miệng 1,1m Đai chuông là hai conrồng đợc tạo dáng cách điệu, quanh lng lại với nhau tạo thành vòng đai Toàn
bộ l đồng đợc trang trí hao văn giản dị theo mô típ dân tộc
Phía trớc đài là nơi dâng hơng tợng niệm, trống ba phía Đây là nơidâng hơng tởng nhớ công lao các liệt sĩ, ở giữa là hai lá cờ Tổ Quốc rất lớn,hai bên đàI là hai dòng chữ đợc viết trên nền màu đỏ:
Trang 20Phía phải:
“ Uống n Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ !”
Phía trái:
“ Uống n Tình hữu nghị Việt – Lào. Lào mãi mãi xanh t ơi - đời dời bền vững ”
Với kiến trúc nh vậy tạo cảm giác bâng khuâng trang trọng, chững chạc,
uy nghiêm mạng đậm yếu tố tâm linh, đáp ứng tâm nguyện của quần nhân dân
đến thắp hơng thăm viếng Đó là sự thể hiện lòng nhớ thơng sâu sắc, niềm biết
ơn và sự tôn vinh thành kính của ngời đang sống đối với những ngời con yêuquý đã không tiếc máu xơng cho sự nghiệp đấu tranh tự do của hai dân tộcViệt – Lào Lào
* Bia tởng niệm:
Tại Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào, nhà bia là công trình đáng chú ýkhông chỉ ở lối kiến trúc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, mà còn ở nộidung, ý nghĩa của bài văn bia đợc khắc trên đó
Nhà bia đợc xây dựng từ tháng 8 năm 2002 Hai nhà bia ở nghĩa trang
đợc đặt hai bên đờngcủa sân vào đài tởng niệm Hai nhà bia đặt đối diện nhau,khoảng cách giữa hai nhà là 20 m Nhà bia đợc tạo bởi 6 cột trụ tròn, mỗi cộtcao 4,0 m, rộng1,2 m, chất liệu bằng vôi, cát, vữa
Trong hai nhà bia là hai tấm bia bằng đá đen, khắc chữ Việt- Lào, nổibật lên ở giữa trán bia là hình quốc hiệu Việt Nam, khắc hoa văn lỡng longchầu nguyệt, xung quanh đợc chèn bằng hoa dây
Bia đá rộng 2,2 m, cao 3,7 m, dày 0,3 m
Trán bia cao 0,22 m, chân bia cao 0,55 m
Khác với bia ở nơi khác (chỉ khắc chữ phía trớc), mặt sau bia tại nghĩatrang này hớng ra các ô mộ, trên nền bia là sơ đồ nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào.Lào, nhìn vào sơ đồ đó ta có thể hình dung đợc toàn bộ các hạng mục trongnghĩa trang, đặc biệt là các khu ô mộ
Phía trớc bia đặt chiếc l bằng đá để thắp hơng L nặng 45kg, cao 0,43m,
đờng kính miệng 0,43m, diềm l là hình con rồng nhỏ nhắn mềm mại đang ớng về phía trớc
h-Nội dung của hai văn bia giống nhau nhng bia đá phía trớc đài tởngniệm bên phải ( ngoài vào ) khắc bằng tiếng Việt, còn bên trái khắc bằng tiếngLào Hai văn bia với hai thứ chữ ( Việt – Lào Lào ) thể hiện tình đoàn kết hữunghị Việt – Lào.Lào
Bài văn bia do giáo s Phan Ngọc, quê ở huyện Yên Thành Nghệ Ansoạn Văn bia đợc viết theo thể phú
Trang 21Toàn bộ nội dung văn bia tại nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào Lào gồm có
408 chữ, nội dung:
“ Uống n Nhân dân Việt Nam.
Hào kiệt giống nòi, hiên ngang đất tổ.
Hoà bình, độc lập, lẽ sống muôn đời, dân chủ, tự do, ớc mơ vạn thuở.
Gặp thời đen tối, hai nớc Việt – Lào. Lào, ách đô hộ đoạ đày; đ ợc Đảng sáng soi một cõi Đông Dơng đờng cứu nguy vạch rõ.
Việt Nam dân chủ cộng hoà dựng nớc, bọn thực dân đế quốc kinh hồn; Lào Itxala độc lập xây nền, lũ thổ phỉ ngụy quyền hoảng sợ.
– Lào
Chiếm Lào để chiếm Việt, thực dân Pháp trăm mu ngàn kế, ách áp bức hòng tái lập nặng đè ; giúp bạn chính giúp mình, nhân dân ta cả nớc một lòng, xiềng nô lệ quyết phen này xoá bỏ.
Quân dân ta lên đờng.
Xa gia đình, Tổ Quốc, chân sắt vai đồng, Việt – Lào. Lào chung sức chiến đấu,
đâu kể hy sinh ; vì tự do, hạnh phúc, gan vàng dạ ngọc quốc tế một lòng ủng
hộ, thực dân Pháp đành tháo chạy, kéo tay sai, lập đồng minh, đế quốc Mỹ phải rút lui.
Cho hay trọng pháo, xe tăng, pháo đài bay, bom bi toạ độ không thắng ý chí
độc lập tự do ; mới biết vũ khí, đô la, lửa Napan, thuốc độc da cam cũng phải thua khát vọng hoà bình dân chủ.
Máu hoà vào máu, cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Thà Khẹt, ta cùng bạn
hy sinh, xơng lẫn với xơng, At – Lào. tô - pơ, Khăm Muộn, Viên Chăn, bạn cùng
Tại nghĩa trang Anh Sơn này,
Thêng thang sáu vạn thớc vuông, ôm ấp mời nghìn phần mộ.
Ngày ngày ngời lại qua, đêm đêm trăng mờ tỏ.
Đạo lý uống nớc nhớ nguồn, tình dân đền ơn dáp nghĩa.
Trang 22Vậy nên: dựng bia ghi công đức, tởng nhớ mãi muôn đời [15, 15] ”
*Phù điêu:
Đến nghĩa trang ai cũng đứng hồi lâu ngắm xem tài nghệ và kĩ thuậtcủa nhũng nghệ nhân xây đắp lên phù điêu Phù điêu có hình chữ nhật, bằng
xi măng trắng,mỗi bức cao gần 4 m, rộng m và dài hơn 20 m
Các nhà điêu khắc đã mô tả không khí của cuộc kháng chiến, tinh thần
đoần kết chiến đấu của quân và dân hai dân tộc Việt – Lào Lào Hình ảnh ngờilính tình nguyện ở mỗi góc độ, mỗi nhóm, mỗi t thế chiến đấu đã toát lên khíphách hiên ngang kiên cờng dũng cảm quyết chiến dấu giữ độc lập tự do.Cuộc chiến đầy gian khổ hy sinh, biết bao ngời con đã ngã xuống, máu xơngcủa họ đã thấm vào từng tất đất, ngọn núi, con khe
Điều đặc biệt hơn nữa, ở đây ta gặp hình ảnh hai ngời mẹ Việt và Làoluôn theo dõi chở che từng bớc đi, từng trận đánh của những đứa con yêu quý.Mất mát đau thơng mắt mẹ càng rực cháy ngọn lửa căm thù Những đứa con
mẹ nh đợc sởi ấm tình thơng của cả dân tộc, cả quê hơng đất nớc
Hai bức phù điêu là bản hùng ca cách mạng ghi lại một thời, một giai
đoạn lịch sử Đó cũng là những chiến tích ngời sáng cả nớc dốc sức chunglòng cho cuộc kháng chiến Mọi ngời luôn sát cánh bên nhau Ngời, xe và cảnhững đàn voi cũng dồn sức tiếp đạn tải lơng chi viện cho chiến trờng đánhgiặc
* Hệ thống ô mộ, am thờ:
Nghĩa trang chia thành 2 khu với 21 ô mộ đợc lắp đặt các phần mộ:
- Khu A gồm các ô từ A1 dến A9, có 5312 ngôi mộ
- Khu B gồm các ô từ B1 dến B13 co 5200 ngôi mộ
Trong đó:
4 ô mộ có tên – Lào có quê với số mộ là 3238
Mộ có tên nhng không có quê là 551 mộ, còn lại là mộ liệt sĩ cha biếttên và quê Tổng quy hoach xây dựng 12000 phần mộ nay đã lắp đặt hoànthiện trên 11000 phần mộ, mai táng trên 1000 hài cốt liệt
Mộ đợc xây kiểu chồng diêm, chất liệu bằng gạch, đá ong, vữa,vôi, cát, mậtmía với hớng đông – Lào nam, đợc cấu trúc theo kiểu hình chữ nhật là nơi đặt hàicốt của liệt sĩ
Mộ dài 1m; rộng 0,50m; cao 0,67m Mặt trên đợc trang trí nền màu
đỏvới ngôi sao màu vàng Măt trên chếch khoảng 17cm Mỗi một mộ đặtmột l hơng bằng sứ Nối liền với ngôi sao và lọ hơng là tấm bia đề tên tuổiquê quán
- Khoảng cách giữa ngôi mộ này với ngôi mộ khác là 0,49m
- Khoảng cách giữa hàng mộ với nhau là 1m
Trang 23Cùng với 21 ô mộ là 21 am thờ ở đầu mỗi ô mộ.Mỗi am cao 2,1 m,rộng 1,03m
Am thờ là nơi để mọi ngời thắp hơng thăm viếng liệt sĩ có điều kiệnthắp chung cho các liệt sĩ tại am thờ này Hệ thống am thờ đ ợc xây dựngthống nhất cùng một thiết kế rất đẹp, đứng xa nhìn vào ta cảm thấy đó lànhững bông sen cạn, to khoẻ mọc lên từ trong lòng đất Đêm đến từ các amthờ và hệ thống đèn trong nghĩa trang sáng rực lung linh càng tăng thêm vẻ
đẹp huyền diệu cho nghĩa trang
Hệ thống khu ô mộ là một công trình kiến trúc bằng đá hoàn chỉnh,mang nhiều nét độc đáo, riêng biệt, hiếm thấy ở nớc ta: đã kết hợp đợc lốikiến trúc khoẻ mạnh, sắc sảo của phơng Tây với kiểu dáng mềm mại, thanhthoát của phơng Đông, tạo nên sự hài hoà, cân đối, vững chắc và trờng tồnvĩnh cữu với thời gian
* Nhà quản trang:
Nhà quản trang 2 tầng với 17 phòng làm nơi tiếp đón nghỉ ngơi củakhách tham quan và thân nhân liệt sĩ đến thăm viếng đợc xây dựng khangtrang sạch đẹp đủ các điều kiện sinh hoạt, vừa tạo điều kiện cho công tácquản lý và đón tiếp vừa góp phần làm cho quần thể kiến trúc nghĩa trang bềthế trang nghiêm
* Cổng nghĩa trang:
Nghĩa trang có hai lần cổng:
- Cổng ngoài chung cho toàn nghĩa trang
- Cổng trong dành cho khu mai táng Khoảng cách giữa hai lần cổng là100m
Từ quốc lộ số 7, muốn vào nghĩa trang phải đi qua cổng nghĩa trang.Cổng gồm 3 cột với hai lối đi lớn nhỏ, cao 2m , trong đó lối nhỏ rộng 1m, lốilớn rộng 4m, chất liệu bẵng vôi, vữa, cát, xi măng
Từ cổng chính khu vực nhà quản trang, khách tham quan đến thămviếng liệt sĩ đợc đi qua cổng trong Cổng trong đợc thiết kế xây dựng theokiểu cửa tam quan, gồm 3 cổng : một cửa chính giữa và hai cửa hai bên.Cổng chính chỉ đợc mở trong những ngày lễ, còn ngày thờng chỉ đợc ra vàobằng hai cổng phụ
Cổng có hai lớp mái:
Lớp 1: chất liệu bằng gạch,đá, vôi, vữa đợc xây cao 5m, rộng 2m
Trang 24Lớp 2: có độ dài ngắn hơn lớp 1 Nối với tầng 1 bằng 4 trụ, mỗi trụ cao2m Mái đợc uốn cong, độ cong của mái là 0,15 Nối với cửa là hệ thống dãytờng bao bọc đợc xây nối với nhau tạo thành một mặt tiền khép kín.
Của đợc làm bằng gỗ lim, vừa chắc đẹp, vừa gần gũi mang đậm nét quê củaViệt Nam
Chính giữa có in chữ nổi: “ Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào“.Nghệ nhân phối cảnh bằng cách đắp vào hai bên 2 đoá sen nở
Qua cửa nghĩa trang đi vào chừng 3m là Cầu vồng Cầu bắc qua ao dài24,4m, làm bằng xi măng cốt thép, có 4 trụ, mỗi trụ cao 3,0m, rộng 0,45m,hình cầu vồng, có lan can cao 1,0m, rộng 4,8m
Dới cầu, hai ao bán nguyệt thông nhau, mỗi ao dài 46,3m, rộng24,0m, sâu 5m, mùa hạ sen nở hoa thơm ngắt, trên bờ trồng dừa, trúc caotrông rất đẹp, tạo ra một cảnh quan, một không gian vừa có tác dụng điềuhoà không khí, tĩnh lặng làm cho th thái tâm hồn
Dọc hai bên đờng chính và các lối đi về các ô mộ đợc trồng nhiều câycảnh, cây xanh bóng mát rất nhiều loại hoa thơm ngát hơng nh hoa phợng, hoa
đại hay hoa Chămpa biểu thị cho mối tình đoàn kết Việt – Lào Lào Dừa, trúc,thông, bằng lăng, tràm, liễu, và nhiều cây ăn quả đợc trồng trong nghĩa trang càng làm cho nghĩa trang thêm đẹp, ấp áp tình ngời
2 2 Qúa trình quy tập hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang
2.2.1 Các đơn vị làm nhiệm vụ quy tập và hoạt động của họ.
Từ hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mặc dù đã lùi xa ba thập kỉ nhngvết thơng của chiến tranh vẫn cha liền sẹo, vẫn buốt nhói từng ngày Đảng,nhà nớc chúng ta rất nỗ lực, các cấp, các ngành và các địa phơng cũng rất nỗlực trong vấn đề trả nghĩa cho những mất mát hi sinh của các anh hùng liệt sĩ,nhng vẫn đang còn một thực tế là rất nhiều bà mẹ, nhiều thân nhân của các gia
đình liệt sĩ vẫn cha đợc gặp con, gặp ngời thân của mình Hiện vẫn còn hài cốtliệt sĩ đang rải rác ở nhiều nơi trên đất Lào và các đơn vị làm nhiệm vụ quytập vẫn đang ngày đêm tiếp tục tìm kiếm
Gần ba thập kỉ đã trôi qua, nhng những ngời lính đoàn quy tập vẫnkhông nghỉ ngơi, họ đang âm thầm rong ruổi trên những vùng đất của nớc bạnLào để đi tìm đồng đội
Trang 25Một ngời đóng vai trò rất quan trọng thực hiện nhiệm vụ quy tập đó làthợng tá Hồ Trọng Bình thuộc Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An Công việc của
đoàn quy tập là rất đặc biệt Thực tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tìmkiếm cất bốc mộ liệt sĩ, nhiều chiến sĩ của đoàn quy tập cũng đã hy sinh cảtính mạng của mình, có ngời đã phải chịu thơng tật suốt đời
Điển hình nh anh Trần Doãn Phú – Lào chiến sĩ của đội quy tập thuộc Bộchỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An trong một lần làm nhiệm vụ khai quật mộ liệt
sĩ, khi đang cố gắng mở bọc tử thi tại cánh Đồng Chum thuộc tỉnh XiêngKhoảng của nớc bạn Lào vào năm 1994 đã bị hơi độc phả vào mặt làm mù haimắt Từ đó đến nay cuộc sống của anh và gia đình hết sức khó khăn nhng với
sự cố gắng, nổ lực của bản thân, xuất phát từ nghĩa tình cao cả với đồng độianh đã vợt qua những khó khăn trở ngại
Cũng trong đoàn quy tập vào đầu năm 2004 trong lúc tìm kiếm, quy tập
mộ liệt sĩ, đội quy tập tỉnh Nghệ An có hai cán bộ hy sinh
Xuất phát từ đạo lý “ Uống nuống nớc nhớ nguồn ,” thực hiện chính sách đối vớithơng binh, tử sĩ của Đảng và nhà nớc, của Bộ quốc phòng, Quân khu bốn đãtăng cờng thành lập các đội quy tập mộ liệt sĩ tình nguyện chiến đấu trên đất bạnLào đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mỹ Có một thực
tế đau lòng là tất cả các đợt quy tập, hầu hết mộ liệt sĩ đều cha rõ lí lịch Hàngtrăm gia đình có thân nhân là liệt sĩ lại khắc khoải trong nỗi mong chờ tìm tênngời thân cuả mình, hàng ngày trên sóng phát thanh truyền hình:
Ai biết mộ anh ở đâu – Lào. xin nhắn dùm theo địa chỉ
Đều đặn mỗi tra thành lệ Giọng phát thanh viên day dứt Gieo vào lòng nỗi đau còn, mất Những ai không về sau cuộc chiến tranh.
Các đơn vị quy tập quyết hiến dâng cả tấm lòng, trái tim và hành động
để trên những hàng bia sẽ hết dần những chữ buốt lòng “ Uống n cha biết tên ” Đây lànỗi đau và bức xúc không chỉ riêng thân nhân liệt sĩ, của các đơn vị quyn tập
mà là của chung mọi ngời Xúc động trớc nỗi đau nhân tình này nhà báo VănHiền viết:
Xin đừng gọi tên anh là liệt sĩ vô danh Anh có tên nh bao khuôn mặt khác
Mẹ sinh anh tròn ngày, tròn tháng
Cha đặt tên chọn tuổi, chọn mùa
Anh nhận ra lỡi cày, lỡi hái.
………