Cân đối ngân sách nhà nước không chỉ thực hiện định kì khi năm tài chính kết thúc mà phải thực hiện ngay khi lập dự toán ngân sách nhà nước .Trên thực tế dù có cố gắng đến đâu thì ngân sách nhà nước không thể đạt trạng thái cân bằng do nhu cầu chi tiêu của nhà nước phát sinh thường xuyên trong khi thu ngân sách nhà nước lại phát sinh định kì , vì vậy xét vào một thời điểm nhất định ngân sách nhà nước có thể thặng dư , thâm hụt hoặc cân bằng
Trang 1A MỞ BÀI
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh
tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tế thị trường hiện nay thì ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản
lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội Do đó cần có những nguyên tắc để quản lí ngân sách nhà nước cho hiệu quả , trong đó nguyên tắc cân đối ngân sách
có vai trò đặc biệt quan trọng Vì vậy để nghiên cứu rõ hơn nội dung của nguyên
tắc này em xin chọn đề tài : “ Tìm hiểu nguyên tắc cân đối ngân sách trong hoạt động ngân sách nhà nước theo luật ngân sách nhà nước 2015 và pháp luật có liên quan”.
B NỘI DUNG
I Khái quát về nguyên tắc cân đối ngân sách trong hoặt động ngân sách nhà nước
1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước là sự cân bằng giữa tổng số thu và tổng số chi bằng tiền của nhà nước trong một tà khóa nhất định
Cân đối ngân sách nhà nước không chỉ thực hiện định kì khi năm tài chính kết thúc mà phải thực hiện ngay khi lập dự toán ngân sách nhà nước Trên thực tế
dù có cố gắng đến đâu thì ngân sách nhà nước không thể đạt trạng thái cân bằng
do nhu cầu chi tiêu của nhà nước phát sinh thường xuyên trong khi thu ngân sách nhà nước lại phát sinh định kì , vì vậy xét vào một thời điểm nhất định ngân sách nhà nước có thể thặng dư , thâm hụt hoặc cân bằng Xét trong năm tài chính các quốc gia luôn cố gắng tìm kiếm các biện pháp để cân bằng ngân sách nhà
Trang 2nước Việc cân abwfng ngân sách giúp cho nhà nước cũng như các cấp chính quyền địa phương thực hiện được nhiệm vụ kinh tế xã hội đã được ấn định
2 Nguyên nhân cần phải cân đối ngân sách nhà nước
Thứ nhất nguyên nhân đầu tiên của việc cân đối ngân sách nhà nước chính
là xuất phát từ việc đả bảo các mục tiêu kinh tế- xã hội của đất nước được thực hiện đến cùng Nếu như các nhiệm vụ chi luôn cao hơn khả năng thu của đất nước thì điều tất yếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện các mục tiêu khác của các lĩnh vực khác nhau của đất nước mà cần phải có nguồn tài chính để điều chỉnh Ngược lại nếu chúng ta luôn được bội thu ngân sách thì tất cả các mục tiêu của đất nước sẽ luôn được hoàn thành mà không có mục tiêu nào được thực hiện đến cùng
Thứ hai việc cân đối trong hoạt động ngân sách còn bắt nguồn từ chủ trương
ổn định hệ thống chính sách tài khóa tiến tới ổn định việc tiến hành những công việc đã đề ra theo kế hoạch Như vậy việc ổn định nguồn ngân sách sẽ là điều kiện cho việc tiến hành công việc cụ thể triệt để , giúp cho nguồn ngân sách không bị xáo trộn do những nguồn thu đáp ứng đủ nhiệm vụ chi
Thứ ba việc cân đối trong hoạt động ngân sách còn xuất phát từ mục tiêu có vai trò quan trọng đó là để tăng cường nguồn dự trữ ngân sách dự trữ này để đáp ứng cho những mục tiêu cao cả của đất nước
Thứ tư việc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước là xuất phát từ yêu cầu đấu tranh phòng chống tham nhũng Bởi lẽ những nguồn thu và nhiệm vụ chi được lên kế hoạch cụ thể , có nghĩa là nguồn thu này được phấn bổ bao nhiêu cho nhiệm vụ chi cụ thể thì bắt buộc cơ quan có thẩm quyền thu,người có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước những khoản thuế theo quy định của pháp luật và những
cơ quan đơn vụ tiếp nhân phấn bổ nguồn ngân sách để trực tiếp thực hiện công
Trang 3việc được giao phải làm đúng định hướng , kế hoạch mà cấp trên giao cho để đảm bảo cho công việc được hoàn thành mà ngân sách nhà nước lại vẫn ổn định , không
bị xáo trộn
3 Vai trò của cân đối ngân sách nhà nước.
Thứ nhất,cân đối ngân sách nhà nước là việc cân đối ngân sách nhà nước sẽ giúp cho ổn định nền kinh tế vĩ mô Nhà nước cân đối ngân sách thông qua thuế , chính sách chi tiêu hàng năm và mức bội chi Từ đó góp phần ổn định các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Thứ hai,cân đối ngân sách nhà nước còn góp phần phân bổ và sử dụng nguồn tài chính có hiệu quả thể hiện ở việc phân cấp ngân sách giữa trung ương và địa phương một cách hợp lí để đảm bảo mục tiêu đã đề ra
Thứ ba ,cân đối ngân sách góp phần đảm bảo sự cân bằng xã hội , giảm thiểu
sự mất cân bằng giữa các địa phương Nước ta thì mỗi vùng lại có một điều kiện kinh tế xã hội giàu nghèo khác nhau nên việc cân đối ngân sách sẽ giúp cho việc huy động nguồn lực từ những nơi thuận lợi đến nơi ít thuận lợi hơn và Nhà nước cũng đầu tư ngân sách nhiều hơn góp phần phát huy thế mạnh vốn có của những vùng khó khăn giúp đảm bảo sự phát triển cân bằng cho mọi địa phương
II Nguyên tắc cân đối ngân sách trong hoạt động ngân sách theo luật ngân
sách năm 2015 và pháp luật có liên quan.
Nguyên tắc cân đối ngân sách theo luật ngân sách 2015 có hiệu lực trong năm ngân sách 2017 được quy định tại điều 7 và có thể cụ thể thành một số nội dung sau :
1 Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định
Theo khoản 1 điều 7 :”Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách
Trang 4nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế”.
Theo nguyên tắc này thì việc thu ngân sách sẽ không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể , tao điều kiện linh hoạt cho nhà nước nói chung và các địa phương nói riêng chủ động trong việc sử dung ngân sách một cách hợp lí và đạt hiệu quả cao hơn
b) Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước
Với quy định trên cho thấy rõ nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước ở nước ta hiện nay và trong tương lai Đồng thời, số bội chi NSNN bị khống chế luôn nhỏ hơn chi đầu tư phát triển Điều này có nghĩa là: Do nhu cầu đầu tư nhà nước lớn mới làm cho ngân sách nhà nước bội chi, việc tìm kiếm nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước cũng chính là việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư cho phát triển
Trường hợp đặc biệt như lũ lụt , hạn hạn , thiên tai thì phải có Quyết định của Chính phủ trình quốc hội xem xét thì việc bội chi ngân sách mới được lớn hơn chi cho đầu tư phát triển
c)Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên
Trang 5Cũng giống như nguyên tắc của luật ngân sách nhà nước năm 2002 bội chi ngân sách nhà nước là bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch thiếu giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu ngân sách trung ương của năm ngân sách Việc bội chi ngân sách chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển đó là những khoản chi không cố định , không gắn với nhiệm vụ của nhà nước , là khoản chi nhằm duy trì và phát triển các dịch vụ kinh tế , xã hội như chi phát triển nông nghiệp và nông thôn, cho đầu tư xấy dựng công trình công cộng , chi cho hoạt đông thương mại và giao thông vân tải chứ không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng
d)Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp từ các nguồn sau:
Khoản 4 điều 7 bội chi ngân sách địa phương
Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc
tế và phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vay lại.
Theo quy đinh trên của pháp luật bội chi ngân sách nhà nước ở nước ta được xác định trong một năm ngân sách là số chênh lệch giữa chi ngân sách trung ương (NSTW) lớn hơn thu NSTW ở năm ngân sách đó Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp từ 2 nguồn đó là vay trong nước là vay nước ngoài Các hình thức vay cũng được luật ngân sách nhà nước năm 2015 nêu ra cụ thể như vay trong nước đó
là hình thức phát hành trái phiếu chính phủ , công trái xây dựng tổ quốc và các khoản vay khác ; vay nước ngoài thì có các hình thức vay chính phủ các nước , các khoản vay nước ngoài về cho vay lại Khi ngân sách địa phương bị bội chi ngân sách thì có thể áp dụng một trong xác hình thức như trên để bù đắp hoặc áp dụng
Trang 6đồng thời nhiều biện pháp cùng một lúc đẻ giải quyết việc bội chi ngân sách địa phương
e)Bội chi ngân sách địa phương:
Khoản 5 điều 7 luật ngân sách 2015 : bội chi ngân sách địa phương
a) Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;
b) Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
c) Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước.
Theo luật ngân sách 2015 thì cấp tỉnh sẽ là cấp quản lí ngân sách địa phương nên việc bội chi ngân sách chỉ được xảy ra ở cấ tỉnh , mục đích của việc bội chi chỉ được đáp ứng khi đó là sử dụng để đầu tư các dự án đầu tư công được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ra quyết định Như vậy đây là điểm mới của luật 2015 so với luật
2002 Thêm vào đó nguyên tắc cũng quy định luôn cách thức để bù đắp bội chi ngân sách địa phương rất rõ ràng
f)Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương:
Theo quy định tại khoản 6 điều 7 luật ngân sách 2015 quy định : mức dư nợ vay của ngân sách địa phương
Trang 7a)Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp;
b)Đối với các địa phương có số thu ngân sách đại phương được hưởng phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp
c)Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu thu ngân sách được hưởng theo phân cấp
Đây cũng là một điểm mới đáng kể trong nguyên tắc cân đối ngân sách của luật ngân sách nhà nước 2015 so với luật ngân sách nhà nước 2002 Không đánh đồng tất cả địa phương về một mức mà chia ra từng cấp độ địa phương khác nhau
để quy định mức dư nợ vay của địa phương.Theo luật ngân sách 2002 thì chỉ quy
định “Mức dư nợ không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh “ Điểm mới rõ nhất đó là cách tính số % cho
phép mức dư nợ ở địa phương , luật năm 2002 thì là % vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh còn luật 2015 là % số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp Việc đổi mới như vậy cũng là có lí do nếu như việc tính % dư nợ theo luật năm 2002 không được linh hoạt vì đó là vốn đầu tư xây dựng hàng năm còn % dư nợ của luật 2015 thì mang tính linh hoạt nhiều hơn , nếu tỉnh đó mà được hưởng ngân sách theo phân cấp bao nhiều thì sẽ có mức % dư nợ nhiều và ngược lại
Như chúng ta đã biết thì TP.Hà Nội và TP.HCM là hai thành phố lớn nhất
cả nước , hai trung tâm đầu não của quốc gia nên việc bội chi ngân sách tất nhiên
sẽ nhiều hơn vì vậy luật để mức dư nợ là 60% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp Còn các tỉnh khác thì theo tùy theo mức thu ngân sách địa phương được
Trang 8hưởng phân cấp bao nhiêu thì sẽ có mức % dư nợ bấy nhiêu , cụ thể :Đối với các địa phương có số thu ngân sách điạ phương được hưởng phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp ;đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu thu ngân sách được hưởng theo phân cấp
II THỰC TẾ ÁP DỤNG NĂM NGÂN SÁCH 2015 CỦA NGUYÊN TẮC CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH :
Năm ngân sách 2015 là một năm bội thu : dự toán ngân sách nhà nước năm
2015 được Quốc hội quyết định là 911,1 nghìn tỷ đồng , nhưng kết quả đạt tới 996,87 nghìn tỷ đồng , tương đương vượt 9,4% so với dự toán Việc thực hiện nguyên tắc cân đối ngân sách cũng được thực hiện tốt , đúng luật và triệt để
Dưới đây là bảng dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 được lấy từ Tổng thông tin điện tử của Chính Phủ nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015
(Kèm theo Quyết định số 3137/QĐ-BTC ngày 10/12/2014
của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc công bố công khai số liệu dự toán NSNN năm 2015)Đơn vị : nghìn tỷ đồng
2015
A TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC 911,100
1 Thu nội địa 638,600
2 Thu từ dầu thô 93,000
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập
khẩu 175,000
4 Thu viện trợ 4,500
Trang 9B THU CHUYỂN NGUỒN NGÂN
SÁCH TRUNG ƯƠNG NĂM 2014 SANG NĂM 2015
10,000
C TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC 1,147,100
1 Chi đầu tư phát triển 195,000
2 Chi trả nợ và viện trợ 150,000
3 Chi thường xuyên 767,000
4 Chi cải cách tiền lương 10,000
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 25,000
D BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ
Tỷ lệ bội chi ngân sách só với GDP 5,0%
1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NĂM NGÂN SÁCH 2015:
Trên thực tế thì ,theo Bộ Tài chính, năm 2015, công tác thu-chi ngân sách nhà nước (NSNN) được triển khai trong bối cảnh còn nhiều khó khăn kèm theo việc giá dầu thô sụt giảm mạnh, nhưng tính đến ngày 28/12/2015, tổng thu cân đối NSNN đạt gần 957 nghìn tỷ đồng, bằng 105% dự toán, 103,1% số ước thu cả năm
đã báo cáo Quốc hội Trong đó, thu nội địa đạt 110,9% dự toán, bằng 103,1% số báo cáo Quốc hội; thu dầu thô đạt 73,1% dự toán, bằng 111,4%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 98,2% dự toán và số báo cáo Quốc hội…
Về chi NSNN cơ bản, việc bố trí, cân đối NSNN đã đảm bảo hoạt động của
bộ máy nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và đảm bảo các chính sách an sinh xã hội
Về chi đầu tư phát triển những năm gần đây đã được thực hiện theo hướng phân bổ tập trung, chống dàn trải, giảm hẳn tình trạng đầu tư mới ồ ạt, công trình
Trang 10xây dựng dở dang kéo dài gây lãng phí… Việc giảm đầu tư xây dựng công trình từ nguồn ngân sách nhà nước đi đôi với thúc đẩy các hình thức hợp tác công - tư PPP, BOT, tăng cường quản lý việc sử dụng vốn vay ODA.Thêm vào đó là kêu gọi các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, đặc biệt là mô hình hợp tác công tư (PPP)
và việc giảm sử dụng vốn vay ODA để cấp phát, tăng mức cho vay lại được xem là giải pháp hiệu quả
Về chi thường xuyên đã được thực hiện tiết kiệm tối đa theo hướng yêu cầu tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên của từng bộ, ngành, địa phương; giảm tối đa kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết; hạn chế bố trí kinh phí
đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài, hạn chế mua sắm ô tô và trang thiết bị đắt tiền…
Mặt tích cực trong cân đối NSNN trong những năm gần đây là đã giảm những khoản nợ của NSNN (như nợ quỹ hoàn thuế đã được xử lý dứt điểm, nợ cấp
bù lãi suất và phí quản lý của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội đã được giảm, các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản được xử lý theo lộ trình…).Bên cạnh đó, trong năm 2015, trước yêu cầu thực tế thị trường trong nước, Chính phủ đã trình Quốc hội cho phép đa dạng hóa kỳ hạn trái phiếu chính phủ để tăng khả năng huy động vốn, nhờ đó, đã hoàn thành nhiệm vụ phát hành trái phiếu chính phủ được giao
Hầu hết các địa phương đều thu đạt và vượt dự toán được giao Đặc biệt, qua
rà soát, nắm đối tượng và nguồn thu ngân sách trên địa bàn; triển khai các biện pháp chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế; đôn đốc thu các khoản theo kết quả kiểm toán, thanh tra; thực hiện các biện pháp xử lý nợ đọng thuế, ngành Tài chính
đã thu hồi 39 nghìn tỷ đồng nợ thuế nội địa Kết quả thu NSNN đạt khá đã hạn chế cao nhất việc phải sử dụng đến khoản 10 nghìn tỷ đồng thu thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để hỗ trợ cân đối ngân sách trung ương năm 2015