1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946 2007)

101 1K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nền giáo dục Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay (1946 - 2007)
Tác giả Phan Thị Thanh Hiếu
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử Thế Giới
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm gồm 5 phần, giớithiệu khái quát những bớc phát triển của giáo dục Nhật Bản từ cổ đại đếncận - hiện đại, trên các mặt: hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học, hệthống quản lý h

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

==== ====

phan thị thanh hiếu

tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau

chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

1.1 Ngày 14/ 8/1945, vĩnh viễn đi vào lịch sử Nhật Bản với bản tuyên

bố đầu hàng vô điều kiện của nời đứng đầu đế quốc Nhật Bản - Thiên hoàngHirohito Nớc Nhật đã phải trả giá quá đắt về tham vọng của họ trong thờigian Chiến tranh thế giới thứ hai Sự hoang tàn của Nhật Bản sau ngày kếtthúc chiến tranh đến mức mà ngày nay kể lại nó giống nh những câu chuyệnhuyền thoại Nhng ngời Nhật đã không chùn bớc trớc những mất mát đau th-

Trang 2

ơng, đã biết tự vơn lên để rồi trở thành sự “thần kì” trong những năm 50

-60 (XX)

Vậy điều gì đã tạo nên sự “thần kì” đó? Cố Thủ tớng Nhật Bản

Yoshida Shigeru cũng cho rằng: Quan trọng nhất ngời Nhật là một giống

có khả năng, với tiêu chuẩn giáo dục cao và hãnh diện về truyền thống của mình” [21, tr.49].

Vì vậy, việc nghiên cứu những thành công trong lĩnh vực phát triểngiáo dục của Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ góp phần vàoviệc nhìn nhận một cách trực diện hơn những yếu tố làm biến đổi khôngngừng nớc Nhật, từ vị trí gần nh “bị bỏ quên” trong con mắt của ngời phơngTây, trở thành một đất nớc có ảnh hởng lớn trên thế giới

1.2 Việt Nam và Nhật Bản là hai nớc có nhiều nét tơng đồng về vănhoá Từ khi quan hệ giữa hai nớc chính thức đợc thiết lập (21/9/1973), đếnnay đã hơn 30 năm qua, dù gặp không ít khó khăn, trở ngại, song quan hệhợp tác giữa hai nớc đã có những bớc phát triển vững chắc trên tất cả cáclĩnh vực trong đó giáo dục đợc xem là một trong những lĩnh vực trọng tâmhớng sang thế kỷ XXI

1.3 Trong thời đại ngày nay, mặt bằng dân trí cùng với những đỉnhcao về trí tuệ là điều kiện quyết định để mỗi quốc gia tồn tại, phát triển bềnvững trong cuộc cạnh tranh trí tuệ có tính chất toàn cầu Giáo dục và đào tạongày càng có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng - là một trong những nhân tốquyết định tơng lai của mỗi dân tộc Trong số các nớc trên thế giới, NhậtBản là nớc có nhiều thành công lớn trong giáo dục cũng nh kinh tế, lại cómối quan hệ lâu đời với Việt Nam Do đó, việc đi sâu tìm hiểu về sự pháttriển của giáo dục Nhật Bản sẽ là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Namtrong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới Mặt khác, nền giáo dục ViệtNam cũng đang trong thời kỳ điều chỉnh cải cách Vì vậy, những kinhnghiệm của Nhật Bản là những bài học tham khảo có ý nghĩa cho công cuộc

đổi mới giáo dục của chúng ta

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Tìm hiểu nền giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay” làm đề tài

luận văn Thạc sỹ, với hi vọng góp phần nhỏ vào công việc nghiên cứu chínhsách giáo dục cho sự phát triển của đất nớc và tăng thêm sự hiểu biết chobản thân, phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn lịch sử

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trang 3

2.1 Việc nghiên cứu Nhật Bản nói chung và giáo dục Nhật Bản nóiriêng không chỉ mới phát triển mấy chục năm trở lại đây mà trên thực tếngay từ trớc đó rất lâu, đặc biệt khi Nhật Bản đạt tới sự phát triển “thần kì”thì giáo dục trở thành đối tợng thu hút các nhà nghiên cứu trên thế giới

ở Việt Nam, những năm gần đây các học giả quan tâm nhiều hơn tớigiáo dục của Nhật Bản trớc nhu cầu ngày càng cao trong việc đào tạo nguồnnhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc

Trong điều kiện cho phép chúng tôi mới chỉ tiếp cận đợc các bài viết, cáccông trình nghiên cứu của các tác giả trong nớc Nguồn t liệu mà chúng tôitiếp cận đợc gồm: sách tham khảo, sách chuyên khảo, luận án, các bài viết

đăng trên các tạp chí (Nghiên cứu Nhật Bản, Nghiên cứu Đông Bắc á, tạpchí Khoa giáo )

2.2 Dới đây là một số nguồn t liệu nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản

mà chúng tôi tiếp cận đợc

Tác phẩm “Giáo dục Nhật Bản hiện đại”, do Bộ Giáo dục Sài Gòn

phát hành năm 1965, của tác giả Đoàn Văn An Tác phẩm gồm 5 phần, giớithiệu khái quát những bớc phát triển của giáo dục Nhật Bản từ cổ đại đếncận - hiện đại, trên các mặt: hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học, hệthống quản lý hành chính cũng nh cách thức tổ chức và phơng pháp dạy học

ở các bậc học Từ đó, tác giả rút ra một số đặc điểm của giáo dục Nhật Bản

Đây thực sự là một tác phẩm rất có giá trị, nhất là về phơng pháp đề cập vấn

đề đợc chúng tôi tham khảo trên nhiều góc độ

Trong cuốn Nhật Bản ngày nay“ ”, do Nhà xuất bản Thông tin lý luận,Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1991, trình bày một cách khái quát

về tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội Nhật Bản trong đó nền giáodục từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay đợc trình bày trên các phơngdiện nh hệ thống giáo dục, cách thức quản lý giáo dục, về nội dung, mục

đích và cả những xu hớng cải cách giáo dục Nhật Bản hớng sang thế kỷXXI

Trong tác phẩm “Cải cách ở Nhật Bản trong những năm 1945 1951”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1999, của tác giả

-Hoàng Thị Minh Hoa, trình bày về công cuộc cải cách của Nhật Bản trên tấtcả mọi lĩnh vực sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó cải cách giáo dục

đợc xem là một trong những cải cách hiệu quả nhất Với sự ra đời của Đạoluật về giáo dục, hệ thống giáo dục mới, nền giáo dục Nhật Bản đã thực sự

Trang 4

có những bớc phát triển về chất so với thời kỳ trớc và trong đại chiến tranhthế giới hai.

Cuốn Hiện đại hoá giáo dục Nhật Bản“ ”, Nhà xuất bản Chính trị quốcgia, Hà Nội, năm 2001, do tác giả Phạm Minh Hạc chủ biên Trong đó tácgiả đã trình bày về quá trình hiện đại hoá nền giáo dục Nhật Bản bắt đầu từMinh Trị - Duy tân Tác giả nhấn mạnh hiện đại hoá giáo dục là một trongnhững nhân tố quan trọng của quá trình hiện đại hoá đất nớc

Trong cuốn Giáo dục thế giới đi vào thế kỉ XXI“ ”, Nhà xuất bản Chínhtrị quốc gia, Hà Nội, năm 2002, do GS VS Phạm Minh Hạc chủ biên, trong

đó đã nhấn mạnh đến những xu thế phát triển của giáo dục thế giới trong thế

kỉ XXI, đi sâu vào giới thiệu nền giáo dục của một số nớc trên thế giới,trong đó nền giáo dục Nhật Bản đợc trình bày khá hệ thống từ thực trạngnhững năm 80 (XX) và một số phơng hớng của giáo dục Nhật Bản hớngsang thế kỉ XXI Đây là một tác phẩm hấp dẫn và bổ ích cho việc tìm hiểu

và nghiên cứu về vấn đề mà chúng tôi quan tâm

Trong bài viết Cải cách giáo dục ở một số nớc Đông á”, của PGS.

TS Nguyễn Hữu Chí, đăng trên tạp chí Khoa giáo, số 3, năm 2007, tác giả

đã trình bày về công cuộc cải cách giáo dục ở Nhật Bản, Trung Quốc, HànQuốc và một số nớc Đông Nam á, trong đó cải cách giáo dục của Nhật Bản

đợc tác giả trình bày trên nhiều góc độ

Trong bài viết Về tình hình giáo dục Nhật Bản hiện nay và những

mục tiêu cải cách ở thế kỉ XXI”, của tác giả Ngô Hơng Lan, đăng trên tạp chí

Nghiên cứu Nhật Bản - Đông Bắc á, số 3 (33), năm 2001 Trong bài viếtnày tác giả chia làm hai phần, phần đầu tác giả trình bày về thực trạng củagiáo dục Nhật Bản, đó là bạo lực học đờng, học sinh bỏ học ngày càng tăng

đặc biệt là ý thức học tập của giới trẻ Nhật Bản ngày nay Phần thứ hai, tácgiả nêu những nguyên nhân và hậu quả của thực trạng trên Từ đó đề ra một

số mục tiêu cho công cuộc cải cách giáo dục trong bối cảnh mới Một mặt

để ứng phó với tình hình trên, mặt khác, nhằm đáp ứng những đòi hỏi củacông cuộc cạnh tranh trên quy mô toàn cầu trong thế kỷ XXI

Một số bài viết: Vài nét về giáo dục phổ thông Nhật Bản“ ”, của tác giảTrần Mạnh Cát, dăng trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 3, năm 1995;

“Giáo dục đại học ở Nhật Bản”, của tác giả Hoa L, in trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 4 (8), năm 1996; Một số vấn đề của giáo dục phổ thông ở

Nhật Bản và so sánh với Việt Nam ,” in trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản

-Đông Bắc á, số 6 (42), năm 2002, của tác giả Ngô Hơng Lan và một số

Trang 5

cuốn sách, bài viết khác cũng quan tâm đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứuvới nhiều quan điểm, nhiều góc độ và cấp độ tiếp cận khác nhau.

Những công trình trên là cơ sở, nguồn t liệu quan trọng để chúng tôithực hiện đề tài này

Từ góc độ lịch sử, tác giả đề tài tập trung trình bày một cách có hệthống nền giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Đây là giai đoạn phát triển quan trọng của nền giáo dục Nhật Bản

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hớng tới làm rõ một số vấn đề sau:

- Tác giả luận văn tập trung trình bày có hệ thống các vấn đề cơ bản

về sự phát triển của giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

đến nay Đây là giai đoạn giáo dục Nhật Bản phát triển cả chiều rộng lẫnchiều sâu, giáo dục Nhật Bản đã và đang đóng vai trò quyết định đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản

- Nghiên cứu nền giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứhai đến nay, sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức cơ bản về đờng lốiphát triển giáo dục của Nhật Bản Từ đó, giúp Việt Nam chúng ta có nhữngkinh nghiệm trong việc hoạch định chính sách phù hợp cho công cuộc đổimới giáo dục hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Giáo dục đợc xem là một trong những yếu tố quan trọng góp phầnthúc đẩy sự phát kinh tế - xã hội của Nhật Bản Do vậy, việc nghiên cứu giáodục Nhật Bản giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là nhiệm

vụ khoa học và cần thiết, làm tăng thêm hiểu biết về một lĩnh vực cụ thể củanớc này Đồng thời, qua đó giúp chúng tôi nhận thức một cách đầy đủ hơn

về vai trò của giáo dục Nhật Bản đối với sự phát triển của đất nớc Trên cơ

sở đó, đề tài nhằm giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

- Trình bày về một số nhân tố chi phối nền giáo dục Nhật Bản từ sauChiến tranh thế giới thứ hai đến nay

- Trên cơ sở trình bày về sự phát triển giáo dục Nhật Bản từ sau Chiếntranh thế giới thứ hai đến nay trên các mặt nh: cơ cấu hệ thống giáo dục, cơcấu hệ thống quản lý hành chính Qua đó, tác giả cố gắng làm rõ vai trò củagiáo dục Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc này

Trang 6

- Từ việc trình bày về nền giáo dục Nhật Bản trên tất cả các mặt, tácgiả cũng cố gắng rút ra một số nhận xét về nền giáo dục Nhật Bản và nhữngkinh nghiệm mà giáo dục Việt Nam có thể học tập.

4 Giới hạn của đề tài

Đề tài: “Tìm hiểu nền giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay”, đợc giới hạn bởi hai mặt sau:

4.2 Về nội dung

Tác giả luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển của giáo dục NhậtBản từ sau năm 1945 đến 2007 Trong luận văn, tác giả trình bày về một sốnhân tố chi phối nền giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

đến nay Qua đó, tác giả rút ra một số nhận xét và nêu lên những kinhnghiệm qua sự phát triển của giáo dục Nhật Bản mà giáo dục Việt Nam cóthể học tập

5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn t liệu

Luận văn đợc tiến hành chủ yếu trên cơ sở nguồn t liệu tại Trung tâm nghiêncứu Nhật Bản và Đông Bắc á, Th viện trờng Đại học s phạm Hà Nội, Đạihọc khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Viện chiến lợc và chơng trìnhgiáo dục

Các nguồn t liệu về lịch sử Nhật Bản, Luận án Tiến sỹ ngành lịch sử.Ngoài ra, luận văn còn tham khảo các sách, báo, tài liệu tham khảocủa các tác giả trong nớc liên quan đến đề tài

Luận án cũng truy cập các thông tin, nguồn tài liệu trên mạngInternet Đó là một số nguồn t liệu cơ bản mà tác giả luận văn tiếp cận đợc

để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

5.2 Phơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn t liệu tiếp cận đợc, chúng tôi sử dụng các phơngpháp nghiên cứu chủ yếu nh: phơng pháp lịch sử, phơng pháp lịch sử kết hợpphơng pháp lôgic Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài, luận văn còn sử dụng các

Trang 7

phơng pháp tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và suy luận để giải quyếtvấn đề mà luận văn đặt ra.

Từ các nguồn t liệu tiếp cận đợc, với những phơng pháp nghiên cứunêu trên, tác giả luận văn cố gắng khai thác và sử dụng thông tin một cáchkhách quan và trung thực

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình tập hợp, hệ thống hoá các nguồn t liệu vànhững kết quả nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản từ sau năm 1945 đến 2007,với nguồn t liệu này, luận văn phần nào giúp chúng ta có đợc cái nhìn tổngquan và hiểu biết thêm về lịch sử phát triển của nền giáo dục Nhật Bản

- Trên cơ sở nguồn t liệu tiếp cận đợc, tác giả luận văn xác định đợcnhững nhân tố chi phối đến nền giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thếgiới thứ hai đến nay Luận văn cũng rút ra một số nhận xét về nền giáo dụcnớc này

Sự phát triển của giáo dục Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

đến nay là phần nội dung chủ yếu của luận văn Thông qua những nội dung

đó, luận văn phần nào làm rõ vai trò của giáo dục Nhật Bản đối với sự pháttriển đất nớc Đồng thời giúp chúng ta rút ra đợc một số kinh nghiệm và xâydựng đờng lối phù hợp cho công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay

- Là đề tài nghiên cứu lịch sử theo hớng chuyên đề, luận văn trớc hếtphục vụ cho việc giảng dạy, biên soạn bài giảng, sau nữa là nguồn t liệuquan trọng về lịch sử phát triển của nền giáo dục Nhật Bản

Chơng 2 Sự phát triển của giáo dục Nhật Bản từ sau

Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.

Chơng 3 Một số nhận xét về nền giáo dục Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.

Trang 8

Nội dung Chơng 1 Những nhân tố chi phối nền giáo dục Nhật Bản

từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

1.1 Nhân tố bên trong

1.1.1 Truyền thống giáo dục

Nhật Bản là một quần đảo hình cánh cung, với tổng diện tích gần37,79 vạn km2 Dân số theo thống kê năm 2008 là 126,92 triệu ngời Mật độdân số trung bình khoảng 34,23 ngời trên km2

Nhật Bản nằm cách xa đất liền nên điều kiện địa lý rất bất lợi Với haidòng hải lu chảy mạnh dọc theo miền phía Tây, khiến cho việc giao lu giữacác vùng không đợc thông suốt Các hiện tợng động đất, bão, lụt, giá lạnhthờng xuyên xảy ra Thuận lợi lớn nhất đối với Nhật Bản là khí hậu cậnnhiệt đới và ma nhiều

Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Nhật Bản hầu nh không có gì ngoàimột ít than đá chất lợng không tốt Vì vậy, nhiều ngời cho rằng: tài nguyên

duy nhất ở Nhật Bản, đó là con ngời.

Nguồn tài nguyên ấy đợc hun đúc bởi những truyền thống giáo dục tốt

đẹp của dân tộc Hay nói cách khác, nguồn tài nguyên này chính là thànhquả không thể phủ nhận của quá trình giáo dục Bởi từ xa đến nay, giáo dục

đợc xem là một trong những lĩnh vực đợc coi trọng nhất ở Nhật Bản, chínhgiáo dục đã đào tạo đợc những lớp ngời có đủ tài năng trên các vị trí khácnhau, đa đất nớc vợt qua đợc những thử thách gay go của lịch sử, từ một nớc

có nguy cơ bị phơng Tây xâm lợc vào những năm đầu của thế kỷ XVII

Trang 9

-XVIII, lại trở thành một kẻ đi xâm lợc các nớc khác vào cuối thế kỷ XIX

đầu thế kỷ XX Đặc biệt vai trò của giáo dục thể hiện rất rõ trong công cuộctái thiết chế đất nớc gần nh bị sụp đổ hoàn toàn sau chiến tranh thế giới thứhai, trở thành sự thần kỳ những năm 50 - 60 (XX) và ngày nay Nhật Bản bớclên hàng cờng quốc về kinh tế và khoa học kỹ thuật

Sự phát triển của nền giáo dục Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứhai chính là sự kế thừa những truyền thống giáo dục tốt đẹp của dân tộc từcác thời kỳ trớc để lại

Mặc dù, ngay từ đầu nớc Nhật cha có đợc chữ viết riêng làm công cụcho giáo dục, song thời kỳ này nhiều yếu tố văn hóa xuất hiện đã chi phốinền giáo dục nớc này không chỉ lúc ấy mà ngay đến tận bây giờ

Từ khởi thủy cho đến thế kỷ VII là giai đoạn giáo dục Nhật Bản cha

có tổ chức mà giáo dục chủ yếu vẫn là việc riêng của mỗi gia đình, mọi lời

lẽ truyền dạy, khuyên răn đều theo quan niệm của Thần đạo

Khi tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, t tởng giáo dục vốn bị chi phốibởi Thần đạo lại tiếp tục chịu ảnh hởng của t tởng Nho giáo và Phật giáo

Đây cũng là thời kỳ mở đầu cho làn sóng tiếp thu văn minh Trung Hoa củangời Nhật Rất nhiều ngời Trung Hoa có khả năng về văn tự và kỹ thuật đợcmời sang Nhật để giảng dạy Những ngời này đợc gọi là Kikajin nghĩa là

“những ngời mang văn hóa đến” Họ dạy ngời Nhật cách nuôi tằm, dệt vải,viết thảo công văn giấy tờ ở triều đình Mặt khác, Nhật Bản còn tổ chức ch-

ơng trình gửi học sinh sang du học ở Trung Hoa

Việc tiếp xúc nền văn minh Trung Hoa đã góp phần to lớn vào sự pháttriển của Nhật Bản thời kỳ này, đặc biệt là việc truyền bá chữ Hán Vì từ đâychữ Hán trở thành phơng tiện chuyển tải tri thức của Trung Hoa sang NhậtBản Bên cạnh chữ Hán thì Nho giáo và Phật giáo cũng lần lợt du nhập vào

Điều đáng nói ở đây là, khác với con đờng tiếp nhận văn hóa TrungHoa của các nớc láng giềng nh Triều Tiên và Việt Nam, việc tiếp nhận vănhóa Trung Hoa của Nhật Bản mang tính tự nguyện, không có sự cỡng chếvăn hóa Vì quá trình này diễn ra có chọn lọc, trên cơ sở vừa tiếp thu cáimới vừa bảo tồn, giữ gìn nền văn hóa bản địa Điều này cũng thể hiện một

điều rằng, bản chất ngời Nhật là ham học hỏi, học những cái hay, cái tốt củangời khác nhng không đánh mất đi bản sắc dân tộc và tâm hồn Nhật Bản

Sự kiện chứng tỏ việc học tập văn minh Trung Hoa ở Nhật Bản đã trởthành cao trào đó là vị Thiên hoàng Kotoku lên ngôi năm 645, đặt niên hiệu

là Taica Đây là lần đầu tiên Thiên hoàng Nhật Bản bắt chớc Trung Hoa đặt

Trang 10

niên hiệu Ngay sau khi lên ngôi, Thiên hoàng Kotoku đã tiến hành nhữngcải cách mới mà đợc sử sách gọi là cải cách Taica

Việc tiếp xúc và học tập văn minh Trung Hoa đã tạo ra những bớcphát triển cho Nhật Bản đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục, đến Thiên hoàngTenji (625 - 671) đặt ra chức Quan học đảm nhận việc đôn đốc giáo dụctrong cả nớc Nhng kể từ khi Thiên hoàng Monmu (683 - 707) ban hànhTaihoritsuryo (Đại bảo luật lệnh) vào năm 701, đánh dấu nền giáo dục bớcsang một giai đoạn mới - giai đoạn giáo dục Nhật Bản bắt đầu có tổ chức

Học lệnh (Gakurei) nằm trong hệ thống Đại bảo luật lệnh bao gồm 22chơng Mặc dù chịu ảnh hởng nhiều của chế độ giáo dục Trung Hoa lúc bấygiờ nhng nó vẫn là cơ sở để xây dựng nền giáo dục có tổ chức của Nhật Bản

Kể từ đây, việc học tập đợc đẩy mạnh hơn bao giờ hết Những ngời làmnghề dạy học đợc gọi là Mochinoshi - đợc xếp vào một trong tám giới thợng

lu đợc u đãi, đợc dùng từ Đạo s“ ” để làm họ cho mình, đợc miễn toàn bộ tô,

điều, dung, dịch [27, tr.15] Điều này thể hiện truyền thống tôn s trọng

đạo” của ngời Nhật Bản.

Học lệnh đặt ra chế độ Daigaku - Kokugaku (Đại học - Quốc học) Hệthống giáo dục đợc chia thành hai cấp giống nh giáo dục của Trung Quốcthời cổ đại là tiểu học và đại học Theo đó, một trờng đại học đã đợc thànhlập ở kinh đô, với nhiệm vụ chủ yếu là giảng dạy và nghiên cứu Tứ th, Ngũkinh Đến thời kỳ Heian (đầu thế kỷ thứ IX) trờng có tất cả 4 khoa gồm:Minh kinh (Triết học Trung Quốc), Kỷ truyền (Lịch sử), Minh pháp (Phápluật) và Số học Học sinh tất cả đều là con trai tuổi từ 13 - 16, xuất thân từcác gia đình hoàng thân quốc thích, giới quý tộc và một số thuộc gia đìnhhọc giả có nhiều cống hiến cho đất nớc Ngoài 4 khoa đại học còn có 2 khoatiểu học là khoa Toán và khoa Tập viết dành cho những học sinh nhỏ hơn

Quốc học là trờng công ở các tỉnh Trong thời Nara cứ 3 - 4 tỉnh đặtmột trờng Nhng từ cuối thời Nara đến thời Heian, mỗi tỉnh lập một trờngquốc học Vào lúc đó, Nhật Bản chia thành nhiều đạo, mỗi Đạo gồm nhiềuQuốc (tơng đơng đơn vị tỉnh ở Việt Nam) nên trờng cấp tỉnh đợc gọi làQuốc học

Có thể nói rằng, nếu thế kỷ VIII là thế kỷ mở ra bớc ngoặt cho lịch sửgiáo dục Nhật Bản thì thế kỷ IX nh là một sự bùng nổ của giáo dục Trongthế kỷ IX, lần đầu tiên Khổng giáo chính thức đợc ghi vào chơng trình học

Đồng thời, một số môn của Phật giáo cũng đợc đa vào giảng dạy Sau khitriều đình chuyển về Heian (794), một trờng đại học mới đợc xây dựng tại

Trang 11

kinh đô Giới quý tộc cũng đua nhau mở trờng riêng cho dòng họ mình, đểcon cháu có điều kiện học nhiều hơn Tất nhiên các trờng này cũng là nhữngcơ sở giáo dục đạt tới trình độ kiến thức của Đại học, Kinh, Th, Sử, Truyện

và từ, phú, thơ, ca theo âm luật của Hán văn

Bớc sang thế kỷ X - XII, Nhật Bản vẫn coi trọng việc học và nhữngngời có học vấn cao bất kể thuộc tầng lớp nào Cùng thời gian này xã hộiNhật Bản có nhiều biến chuyển Do việc t nhân hóa ruộng đất từ cuối thờicải cách Taica đã dẫn tới việc hình thành các Shoen (trang viên) Trang viên

đợc tổ chức nh một đơn vị kinh tế xã hội khép kín và dần dần trở thành đơn

vị hành chính mà chính quyền trung ơng không kiểm soát nổi Mặt khác,giữa họ lại luôn luôn tìm cách thôn tính lẫn nhau Vì vậy, các chủ đất phải tựlập ra nhóm vũ trang để bảo vệ đất đai và tính mạng cho gia đình Trên cơ sở

đó, các nhóm võ sĩ chuyên nghiệp xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ X Còn lực ợng bảo vệ tại thủ đô đợc gọi là Samurai (thị), nghĩa là những ngời tôi tớsang trọng Sau này, Samurai đợc phổ thông hóa, đồng nghĩa với từ võ sĩ

l-Năm 1185, dòng họ Minamoto giành thắng lợi sau một thời gian chiếntranh kéo dài, mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử Nhật Bản: võ sĩ trở thànhlực lợng lãnh đạo đất nớc trong gần 7 thế kỷ liên tục, để lại những dấu ấn vôcùng đậm nét trên tất cả các lĩnh vực Đây cũng là thời kỳ Nhật Bản có haichính quyền song song tồn tại: chính quyền của giới võ sĩ đợc gọi là Bakufu(Mạc phủ) nắm trọn quyền lãnh đạo đất nớc và chính quyền của Thiênhoàng đóng đô ở Kyoto - hữu danh nhng vô thực

Trong thời kỳ lãnh đạo đất nớc, chính quyền Mạc phủ không xây dựngthêm đợc trờng học nào giống nh các trờng Quốc học ở giai đoạn trớc, nhngnhững chùa thuộc phái Thiền tông, lại trở thành nơi dạy học ngày mộtnhiều Các terakoya (Tự tử ốc) đặc biệt phát tiển ở thời kỳ Edo sau này đãbắt đầu từ những lớp nh vậy

Sau bốn thế kỷ nắm quyền lãnh đạo đất nớc, giới võ sĩ đã mang lại choNhật Bản một diện mạo mới Song, đất nớc vẫn cha hoàn toàn thống nhất.Chiến tranh, loạn lạc vẫn diễn ra trong suốt thời kỳ Nam - Bắc triều (1336 -1392) và đặc biệt trong gần 100 năm dới thời Chiến quốc Các thế lực vẫntìm cách thôn tính nhau, giành quyền chi phối quốc gia

Trong bối cảnh ấy, Tokugawa Ieyasu (1442 - 1616) đã hoàn thành sựnghiệp thống nhất đất nớc, thiết lập Mạc phủ ở Edo, mở ra một giai đoạnlịch sử mới của nớc Nhật Rút kinh nghiệm sự thành bại của những ngời đitrớc, Ieyasu chủ trơng xây dựng một thể chế bền vững và hòa bình lâu dài

Trang 12

Ông cho rằng: Muốn duy trì đợc chính quyền lâu dài thì chỉ dựa vào lực

l-ợng quân sự là không đủ mà còn phải có nền văn trị cũng cứng rắn không

kém đi kèm Những ngời kế tục Ieyasu cũng có quan điểm nh vậy Việckhuyến khích phát triển giáo dục trở thành đờng lối xuyên suốt qua các đờitớng quân Mạc phủ Tokugawa, trong đó Nho học trở thành chính sách văntrị và Tống học của Chu Hy đợc gọi là Kangaku (Quan học) - môn giáo dụcchính của nhà nớc

Vào năm 1691, Mạc phủ còn tiến hành xây dựng trong khuôn viên ờng nhà Văn Miếu để thờ Khổng Mạnh và các tiên Nho Đồng thời, yêu cầucác thủ lĩnh Đại danh sau khi kết thúc khóa học ở Edo trở về điền trang củamình cũng phải xây dựng thánh đờng và trờng học Một mô hình trờng mới

tr-đã xuất hiện Loại trờng mới này đợc gọi là Hanko (Phiên hiệu), nghĩa là cáctrờng học của phiên, trấn Các trờng phiên hầu hết đợc xây dựng theo môhình trờng do Mạc phủ trực tiếp quản lí, duy trì chế độ đẳng cấp nghiêmngặt và cũng lấy Nho giáo làm môn học chính

Từ cuối thế kỷ XVIII, đa số trờng đều mở thêm các môn học nh Y họcTrung Hoa, Tây Y hoặc môn học phơng Tây, tiếng Anh…

Ngoài số trờng do Mạc phủ thành lập và quản lí - trờng phiên thì trongthời kỳ này còn xuất hiện một loại trờng khác gọi là Kyogaku (Hơng học).Trờng này dành cho con võ sĩ ở xa trung tâm phiên, trấn hoặc con em bìnhdân lớp trên, ngời lớn tuổi cha có điều kiện đến trờng

ở thời kỳ này cũng đã xuất hiện một loại trờng đợc đánh giá rất cao

đó là trờng t thục Đây là loại hình giáo dục năng động thu hút nhiều họcsinh thuộc các tầng lớp võ sĩ, quan lại và có chất lợng đào tạo khá cao

Một loại trờng nữa xuất hiện ở thời kỳ này đợc ngời Nhật gọi là Terakoya xuất hiện ở hầu hết các địa phơng trong nớc Terakoya ra đời

từ thời Meromachi (1392 - 1573), do các nhà s đứng ra thành lập và

điều hành Đến thời kỳ Tokugawa, Terakoya trở thành trờng học dành cho dân thờng Terakoya phát triển rất nhanh nhất là trong thế kỷ XIX Năm 1850, đã có hơn 6.000 trờng Đến năm 1870, con số này tăng gầngấp đôi [1, tr.30]

Tính đến cuối thời kỳ Tokugawa, giáo dục ở Nhật Bản đã đạt đợc thành tựu khá cao, số trờng học và số học sinh đến trờng tăng nhanh (Bảng 1.1 và Bảng 1.2).

Trang 13

Vào những năm cuối của thời kỳ Tokugawa, số học sinh đến ờng tơng đơng những năm đầu thi hành chế độ giáo dục hiện đại Chẳng hạn, nếu những năm 1854 - 1867 có 79% nam giới và 21% nữ giới đến học ở các Terakoya thì năm 1873, con số này là 75% nam giới và25% nữ giới [1, tr.35]

Những con số dới đây cho thấy, những thành tựu mà nền giáo dục Nhật Bản đạt đợc trong thời kỳ này là rất đáng tự hào.

Bảng 1.1 :

Số lợng các loại trờng trong thời kỳ Tokugawa

Năm thành lập Trờng t Terakoya Hơng học Trờng phiên

võ sĩ Những kiến thức của phơng Tây đợc truyền bá vào cuối thời kỳ Mạcphủ bất chấp sự phản đối của giới nhà Nho Khái niệm “Giáo dục nghĩa vụ”bắt đầu xuất hiện ngay từ thế kỷ XVIII Việc tổ chức trờng theo mô hìnhhiện đại 3 cấp: tiểu học, trung học và cao đẳng cũng bắt đầu từ thời kỳ này.Cách suy nghĩ tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục ngày càng phổ biến Việchợp nhất một số trờng cao cấp ở Edo thành một trung tâm đào tạo trình độ

đại học có ý nghĩa sâu sắc trong việc chuẩn bị con đờng để đạt tới sự trởng thành nhanh chóng của chế độ giáo dục hiện đại từ thời Minh Trị.

Bảng 1.2: Số học sinh đến trờng trung bình hàng năm

Trang 14

là tiền đề cơ bản cho sự phát triển của giáo dục trong các thời kỳ sau.

Hay nói cách khác, những truyền thống giáo dục tốt đẹp của dân tộccàng thể hiện rõ ở thời kỳ Nhật Bản dới sự trị vì của Thiên hoàng Minh Trị

Ngời ta nói rằng, thế kỷ XIX là thế kỷ bản lề của lịch sử Nhật Bản, thế

kỷ đã đa lại cho nớc Nhật một trạng thái mới, thoát ra khỏi bóng tối của sựcô lập để Nhật Bản đợc biết đến nh một cờng quốc duy nhất ở châu á lúcnày, sánh vai cùng các nớc phơng Tây

Trong thời kỳ này, chính quyền và nhân dân Nhật Bản đã tự đặt chomình nhiệm vụ đầy tham vọng là quyết tâm đuổi kịp những quốc gia tiêntiến về mặt kỹ thuật Với khẩu hiệu: “ Học tập phơng Tây, đuổi kịp phơngTây, đi vợt phơng Tây”, nhằm xây dựng Nhật Bản thành một quốc gia hiện

đại trong đó giáo dục đợc xem là chiếc chìa khóa của quá trình này Cho nênmục tiêu của giáo dục đã đợc đặt ra ngay từ đầu là xây dựng một nền giáodục theo mô hình phơng Tây - một hệ thống giáo dục hiện đại

Mặc dù, đợc kế thừa những thành tựu to lớn của thời kỳ Tokugawa,song trong bối cảnh phơng Tây đã trải qua cuộc Cách mạng t sản và đangtham gia mạnh mẽ vào cuộc Cách mạng công nghiệp thì những nội dunggiảng dạy của các trờng học ở Nhật Bản lúc này không còn đáp ứng đợcnhiều cho sự phát triển của xã hội Vì vậy, để đạt đợc mục tiêu đã đề ra,chính quyền Minh Trị đã tiến hành một cuộc cải cách toàn diện trên tất cảcác lĩnh vực trong đó giáo dục gữ vị trí cực kỳ quan trọng, với những nguyêntắc sau:

1 Tiếp thu văn hóa phơng Tây trên cơ sở đề cao chủ nghĩa quốc gia

2 Nhà nớc kiểm soát toàn bộ nền giáo dục

3 Thiết lập một nền giáo dục thực dụng

Trên tinh thần đó, tháng 7/1871 Bộ Giáo dục Nhật Bản đã đợc thànhlập Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm hoàn toàn về chơng trình hoạt động củacác ngành thuộc lĩnh vực văn hóa, giáo dục, tôn giáo… trong toàn quốc

Trang 15

Một năm sau (1872), chế độ giáo dục thống nhất cho cả nớc đã đợccông bố (Gakkusei - Học chế)

Học chế gồm 213 điều với một số t tởng chủ đạo nh sau:

- Nhà trờng dành cho mọi ngời và kiến thức dựa vào Âu - Mỹ

- Đào tạo con ngời làm giàu cho Tổ quốc và bảo vệ đất nớc

- Xây dựng nhiều trờng học, mở rộng các trờng cao đẳng và chuyênnghiệp để tiếp thu kiến thức phơng Tây

Việc ban hành Học chế có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nền giáodục ở Nhật thời kỳ này Bởi đây là bộ Luật giáo dục đầu tiên trong lịch sửNhật Bản Tuy nhiên, Học chế rập khuôn lối quản lý có tính tập quyền củaPháp, chia toàn quốc thành 8 khu đại học Theo đó, ở mỗi khu có một trờng

đại học Mỗi trờng đại học phải quản lý 32 trờng trung học, mỗi trờng trunghọc quản lý 210 trờng tiểu học Nghĩa là theo chơng trình quốc gia quy địnhthì toàn quốc Nhật Bản phải có 8 trờng đại học, 256 trờng trung học và53.760 trờng tiểu học [1, tr.42]

Có thể thấy, đây là một kế hoạch to lớn nhng trong hoàn cảnh NhậtBản lúc bấy giờ việc thực hiện gặp không ít khó khăn mà khó khăn lớn nhất

là kinh phí Song cũng phải thừa nhận rằng, đó là những ý tởng tuyệt vờinhằm nâng cao trình độ văn hóa và giáo dục của toàn dân, với tinh thần:

“Giáo dục phải đợc truyền bá trong dân chúng nam cũng nh nữ… để khôngcòn gia đình nào mù chữ trong mỗi làng mạc, không còn ngời nào mù chữtrong mỗi gia đình” [26, tr.53] Vì thế, đến năm 1875 đã có 54% nam và19% nữ học xong cấp tiểu học 6 năm

Tiếp đó, Chính phủ ban hành Pháp lệnh về trờng học cho nhà s, thầycúng, Quy tắc gửi lu học sinh ra nớc ngoài, Pháp lệnh về trờng trung họcchuyên nghiệp, Pháp lệnh về giáo s nớc ngoài…

Cùng với việc tổ chức xây dựng hệ thống trờng học từ cấp tiểu học tớibậc đại học, thì hàng ngàn thanh niên đợc lựa chọn gửi ra nớc ngoài để tiếpthu những kiến thức hiện đại Rất nhiều ngời trong số họ sau này đã trởthành quan chức chủ chốt trong chính quyền Minh Trị Chỉ riêng năm 1873

đã có 373 sinh viên đợc gửi đi học ở nớc ngoài, trong đó Hoa Kỳ và Anh lànhững nớc có nhiều sinh viên Nhật đến du học nhất [24, tr.258]

Mặc dù, còn nhiều khó khăn về kinh phí nhng hàng ngàn giáo s vàchuyên gia kỹ thuật nớc ngoài thuộc những lĩnh vực khác nhau nh chính trị,luật pháp, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tiền tệ, công nghiệp, giao thông, giáodục đã đợc mời sang giảng dạy tại Nhật Bản với mức lơng rất cao Thậm chí

Trang 16

có ngời nhận đợc mức lơng cao gấp 3 lần lơng của Thủ tớng chính phủ khi

đó

Có thể khẳng định, từ khi công bố Học chế nền giáo dục Nhật Bản đãthực sự chuyển mình Trong vòng 7 năm (1872 - 1878), cả nớc đã xây dựng

đợc 26.584 trờng học các loại, đạt 50% so với kế hoạch Học chế đề ra, song

do kinh phí cho ngành giáo dục cha nhiều nên việc triển khai Học chế chathật hiệu quả và nhanh chóng bị thay thế bởi Kyoikurei (Giáo dục lệnh năm1879) Chế độ hành chính mang tính chất tập quyền trong giáo dục bị bãi bỏ

để chuyển sang xu hớng dân chủ và phân quyền cho các địa phơng

Nh vậy, sau hơn 10 năm học hỏi, lựa chọn, chính quyền Minh Trị đãquyết định cải tổ chính quyền, áp dụng chế độ Nội các hiện đại của các nớcphơng Tây Và đây cũng là giai đoạn giáo dục Nhật Bản hoàn thiện hệ thốngtrờng học và hệ thống luật giáo dục, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tếtrong giai đoạn mới Ngời góp phần to lớn vào sự nghiệp này là Bộ trởng giáodục đầu tiên theo chế độ nội các ông Mori Arinori (1847 - 1889)

Ông Mori là ngời đã học ở châu Âu và Mỹ, có vốn hiểu biết rộng vềnền văn minh phơng Tây Mặc dù giữ cơng vị Bộ trởng giáo dục không lâu,nhng là ngời tôn sùng văn hóa phơng Tây, lại đợc học tập và đợc tận mắtchứng kiến sự phát triển của nớc Mỹ, đặc biệt là nền giáo dục hiện đại củanớc này Vì vậy, Mori đã chỉ đạo tiến hành cải cách giáo dục một cách triệt

để Theo ông, muốn đa Nhật Bản đến tầm cỡ thế giới thì việc áp dụng nhữngphơng pháp hiện đại và tri thức có tính thực tế là điều tất yếu Trong bài phátbiểu tại trờng đại học s phạm Saitama vào tháng 2/1885, ông cho rằng:

“Nhật Bản phải tiến từ nớc hạng ba sang nớc hạng hai, từ nớc hạng hai sangnớc hạng nhất và sau đó phải giữ địa vị có tính chất chủ đạo trên toàn thếgiới Để làm đợc điều đó bằng mọi cách phải đạt đợc giáo dục sơ đẳng” [1,tr.47]

Nhìn chung quan niệm giáo dục của ông Mori gồm ba nội dung:

1 Giáo dục để tiến đến việc làm giàu và củng cố nhà nớc

2 Giáo dục sẽ làm biến đổi ý thức cũ

3 Giáo dục góp phần vào việc bảo tồn truyền thống quốc gia

Chỉ ít tháng sau khi giữ cơng vị Bộ trởng, ông đã nhanh chóng thể chếhóa hệ thống giáo dục, bằng việc ban hành nhiều bộ luật nh: Luật đại họcHoàng gia, Luật trờng tiểu học, Luật trờng trung học, Luật trờng s phạm.Các bộ luật này đợc gọi chung là Luật trờng học (1886), làm cơ sở cho hệ

Trang 17

thống nhà trờng Nhật Bản tồn tại trong một thời gian dài cho đến trớc Chiếntranh thế giới thứ hai.

Theo Luật Đại học Hoàng Gia, Đại học Hoàng gia là trung tâm giáodục chất lợng cao, đa ngành, đa lĩnh vực, là trung tâm nghiên cứu khoa học,tiếp thu nền văn hóa hiện đại của phơng Tây Chuẩn bị cho giới thợng lutham gia vào hoạt động khoa học kỹ thuật hiện đại và tổ chức quản lí, trựctiếp đặt dới sự chỉ đạo của Chính phủ Đại học Hoàng gia gồm 5 khoa: Luật,

Y, Văn học, Kỹ nghệ và Nông nghiệp Trờng Đại học Tokyo là trờng đạihọc duy nhất lúc đó đợc chuyển thành Đại học Hoàng gia (1886) Sau này,

Bộ lần lợt lập ra 6 đại học Hoàng gia khác ở Kyoto, Kyushu, Tohuku,Hokkaido, Osaka và Nagoya Kể từ đó, hầu hết các quan chức Chính phủ cónăng lực, các thơng nhân lớn đều là những ngời tốt nghiệp ở các trờng đạihọc Hoàng gia này Trờng tiểu học và trung học đều đợc chia thành 2 bậc:bậc thấp và bậc cao Tuy nhiên, việc đi học ở cấp tiểu học tơng đối thuận lợinhng ở bậc trung học còn bị hạn chế

Nh vậy, một hệ thống trờng từ tiểu học đến đại học đã đợc thiết lậptheo “phơng thức tinh hoa”

Trong khi đang triển khai một cách hiệu qủa chơng trình cải cách giáodục to lớn của mình thì Mori Arinori bị ám sát (11/2/1889)

Sau khi Mori bị ám sát, nhiều nhà lãnh đạo giáo dục mới xuất hiện

nh-ng lại theo các xu hớnh-ng khác nhau, đa giáo dục Nhật Bản chuyển sanh-ng mộthớng mới, chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong giáo dục tăng lên Điều này đợcphản ánh trong Kyoiku chokugo (Giáo dục sắc ngữ) năm 1890, với t tởngtrung quân ái quốc chi phối một cách nặng nề nền giáo dục Nhật Bản cho

đến khi nớc này bị bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Từ những năm 90 (XIX), nền sản xuất công nghiệp của Nhật Bản bắt

đầu đợc hiện đại hóa Vì thế tất cả các chính sách phải đợc xây dựng lạinhằm đáp ứng cho giáo dục kỹ thuật Ngời kế tục công việc của ông Mori là

Bộ trởng mới Kowashi Inoue đã quan tâm đến việc tổ chức hệ thống giáodục theo nhu cầu buôn bán và công nghiệp hóa Ông cho xây dựng nhữngngôi trờng mới bên cạnh việc tổ chức lại hoàn toàn các trờng học đã đợc xâydựng trớc đây Những ngời hoàn thành chơng trình tiểu học sẽ đợc phép vàohọc ở trờng trung học

Trờng trung học gồm những trờng dành cho nam giới và trung họcbậc cao dành cho nữ giới Nghĩa là, đối với nữ sinh, không có điều kiện họclên cao đẳng, đại học thì có thể học tập một khóa ngắn hạn 2 năm nữa sau

Trang 18

khi đã tốt nghiệp trung học Ngoài ra, còn có các trờng thơng nghiệp, trờng

bổ túc dành cho công nghiệp, nông nghiệp và nhiều trờng chuyên nghiệpkhác Trờng s phạm gồm những trờng đào tạo giáo viên tiểu học và giáoviên trung học

Nh vậy, vào những năm đầu thế kỷ XX, tức là những năm cuối củathời Minh Trị việc tổ chức hệ thống trờng học đã thực sự hoàn thiện với hơn90% trẻ em đến tuổi cắp sách tới trờng Theo số liệu thống kê, tỉ lệ ngời đihọc vào năm 1903 là 95,8% nam giới và 87% nữ giới Đến năm 1906, số trẻ

em đến trờng tăng lên tới 98,2% nam và 94,8% nữ giới [26, tr.53]

Những cải cách giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị đã mở đờng cho dântrí phát triển, đó là con đờng đi tốt nhất nhằm đạt tới sự thành công trongphát triển kinh tế Cải cách giáo dục đã tạo ra một thế hệ có trình độ văn hóacao, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến của thế giới nhngvẫn giữ đợc bản sắc dân tộc và tâm hồn Nhật Bản Kết thúc kỷ nguyên MinhTrị (1868 - 1912), giáo dục là một trong những cơ sở chủ yếu để xây dựngmột nền công nghiệp hiện đại mang đặc thù riêng của Nhật Bản

Chế độ giáo dục đợc xác lập sau Minh Trị duy tân, tuy có một số bổsung, nhng về căn bản vẫn đợc duy trì cho đến khi Chiến tranh thế giới thứhai kết thúc, với công thức 6 - 5 - 3 - 3, nghĩa là 6 năm tiểu học, 5 năm trunghọc, 3 năm cao đẳng và 3 năm đại học Mặt khác, trong thời gian quân đội

Mỹ chiếm đóng, Nhật Bản đã tiến hành cải cách toàn diện chế độ giáo dụclần thứ hai nhng những hình hài của nền giáo dục ấy vẫn đợc tiếp tục mộtcách căn bản Nói cách khác, là những thành quả mà giáo dục thời kỳ này

đạt đợc vẫn tiếp tục chi phối những bớc phát triển của nền giáo dục ở giai

đoạn sau đặc biệt là thời kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Nhật Bản là một dân tộc có truyền thống hiếu học cho nên dù bất kỳtrong hoàn cảnh nào thì Chính phủ và nhân dân Nhật Bản cũng tìm mọi biệnpháp tốt nhất để duy trì nền giáo dục dân tộc

Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, do ảnh hởng của t tởng Cáchmạng tháng Mời Nga (1917), khuynh hớng t tởng tự do dân chủ cũng đãngấm ngầm, lan rộng khắp trong các tầng lớp dân chúng, từ đó nhiều vấn đềxã hội phức tạp luôn luôn xẩy ra, làm hậu thuẫn cho khuynh hớng t tởngngoại lai ngày một lớn mạnh Các nhà lãnh đạo trong Chính phủ cũng nhcác giới có trách nhiệm về ngành giáo dục phải tìm đủ mọi phơng cách mới

có thể ngăn cản làn sóng t tởng ấy Một trong những phơng cách ấy là hô

Trang 19

hào, cổ vũ tinh thần “trung quân ái quốc” Vì thế, phần lớn chơng trình giáodục thời kỳ này đều thiên về mục đích này.

Mặt khác, cùng với sự tăng tiến của nền công nghiệp cũng đã đặt rayêu cầu ngày càng cao đối với nền giáo dục Để đáp ứng yêu cầu đó, chínhphủ Nhật Bản đã tiến hành xây dựng thêm nhiều trờng học, cải tổ chế độgiáo dục Vì thế, trong khoảng thời gian từ năm 1918 - 1923, tất cả các cấphọc từ tiểu học đến đại học đều đợc công bố sắc lệnh sửa đổi chế độ giáodục, khuyến khích việc thành lập các trờng công lập, t lập trên khắp các địaphơng trong toàn Nhật Bản

Nếu nh giáo dục mẫu giáo thời kỳ Minh Trị phụ thuộc vào cấp tiểuhọc thì nay đã có sắc lệnh riêng, công bố năm 1926 Sắc lệnh của các trờngdành cho trẻ em khuyết tật cũng đợc công bố Cho nên, số ngời đi học thời

kỳ này chiếm hơn 97%, hầu nh mọi ngời dân đều biết chữ Học sinh trunghọc tăng lên nhanh chóng, từ 17 vạn (1920) lên tới 34 vạn (1930) Với sự ra

đời của “Đại học lệnh” (1918), bậc đại học đã có nhiều loại hình khác nhau:

đại học tổng hợp, đại học đơn khoa và đại học t thục… tất cả đều đợc nhà

n-ớc thừa nhận

Trong khoảng 20 năm từ (1910 - 1930), số trờng đại học tăng lên nhanh chóng từ 3 đến 46 trờng, trờng cao đẳng từ 8 đến 32, trờng dạy nghề từ 17 đến 51 Nhờ đó, số sinh viên tăng lên khoảng 2,5 lần, đa số sinh viên đại học và cao đẳng của Nhật Bản vợt các nớc Tây Âu [24, tr.298].

Những biến đổi của giáo dục cùng với sự chuyển biến của ngành công nghiệp sang công nghiệp nặng đòi hỏi những nhà kỹ thuật thực chất có trình độ cao

Việc thành lập hoặc mở rộng một loạt trờng công nghiệp chính là do bốicảnh này, đặc biệt trong thời kỳ Taisho (1912 - 1926) những trờng thực nghiệmmới xuất hiện ngày một nhiều

Trang 20

Vào những năm đầu của cuộc đại chiến thế giới thứ hai, tất cả các ờng học của Nhật Bản đã biến thành cơ quan huấn luyện thực thụ Trớc tìnhhình đó, năm 1941, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã thành lập “Giáo dục thẩmnghị hội” với mục đích nghiên cứu và cải tổ phơng pháp giáo dục cho phùhợp với nhu cầu của thời đại Tinh thần căn bản của ngành giáo dục ở thời

tr-kỳ này là đào tạo dân chúng trở thành những ngời dân trung thành, dũngcảm, có tinh thần phục vụ quốc gia và biết hi sinh vì Thiên hoàng

Kể từ năm 1941, ngành giáo dục hoàn toàn đặt trong chế độ thờichiến Tất cả các trờng tiểu học phải đổi tên thành trờng “Quốc dân” Thờigian học cao đẳng và đại học bị cắt bớt Năm 1943, hủy bỏ chế độ hoãn binh

đối với học sinh Từ tháng 6/1944, Chính phủ quyết định học sinh và thầy côgiáo ở các thành phố lớn phải đi sơ tán, phần lớn học sinh trung học, cao

đẳng và đại học bị động viên vào nhà máy hoặc về nông thôn sản xuất Một

bộ phận phải sung vào các đơn vị quân đội Trong tổng số 28 vạn học sinhnam, nữ các trờng s phạm thì có 18 vạn (chiếm 64%) đã bị động viên theo chế độ này Giáo dục hầu nh ngừng trệ hoàn toàn trừ cấp tiểu học [1, tr.72].

Tóm lại, ở Nhật Bản trong khoảng thời gian 8 năm (1937 - 1945), đểcung ứng cho nhu cầu của thời thế, tất cả các ngành hoạt động giáo dục đềunhằm đến mục đích huấn luyện quân sự, sản xuất chiến cụ và nêu cao tinhthần quốc gia, phụng sự Thiên hoàng

Những thành tựu của ngành giáo dục thời kỳ trớc chiến tranh thế giớithứ hai đặc biệt là những cải cách của chính quyền Minh Trị Với những đạoluật khác nhau cùng những cố gắng không mệt mỏi và thái độ kiên quyết

đến cao độ, chính quyền Minh Trị đã xác lập đợc một cơ cấu giáo dục từ bậctiểu học đến đại học trên toàn quốc Nhật Đó là sự nỗ lực phi thờng của toàndân tộc để góp phần vào việc thực hiện hoài bão của Chính phủ là độc lậpquốc gia và từng bớc tiến lên bình đẳng với các nớc phơng Tây, thực hiệnkhẩu hiệu mà ở phơng Đông lúc đó chỉ có chính quyền Minh Trị mới dám

đa ra là “Học tập phơng Tây, đuổi kịp phơng Tây, đi vợt phơng Tây”

chính những thành công trong lĩnh vực giáo dục đã góp phần quantrọng trong những chuyển biến to lớn về kinh tế - xã hội của nớc này trongnhững năm 90 (XIX) Đấy cũng chính là nền tảng quan trọng cho những bớctiến kỳ diệu của nền giáo dục Nhật Bản sau chiến tranh

Nói tóm lại, Nhật Bản là một dân tộc có những truyền thống giáo dụctốt đẹp, đó là truyền thống hiếu học, truyền thống tôn s trọng đạo… Dù bất

Trang 21

cứ trong hoàn cảnh nào thì việc học tập vẫn luôn luôn đợc coi trọng, ngờihọc và đặc biệt là những ngời có trình độ học vấn đợc xã hội đề cao.

Những truyền thống giáo dục tốt đẹp đó cùng với sự chuyển biến vềkinh tế - xã hội thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã chi phối một cáchsâu sắc đến sự phát triển của nền giáo dục nớc này từ đó đến nay

1.1.2 Sự chuyển biến của tình hình kinh tế - xã hội (1946 - 2007)

Bị thất bại trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật rơi vào tình trạngkhủng hoảng và kiệt quệ về mọi mặt

Sau những trận ném bom đại quy mô của Mỹ, có đến 2,5 triệu ngôinhà bị phá huỷ hoàn toàn cùng 668.000 ngời chết [27, tr.107]

Nền kinh tế của Nhật hầu nh tan vỡ hoàn toàn Khoảng 34% máy móc,25% công trình xây dựng, 81% tàu biển bị phá huỷ Chỉ số sản xuất côngnghiệp chế tạo và khai khoáng tháng 11/1945 còn 10,4% so với mức sảnxuất của năm 1935 - 1936 Công nghiệp dệt giảm xuống còn dới 15% dokhông có khả năng nhập nguyên vật liệu Các ngành công nghiệp khác cũnggiảm sút mạnh Sản xuất năm 1946 chỉ bằng 1/6 số lợng sản xuất năm 1941.Vào tháng (12/1945 và 1/1946) sản xuất than, sắt chỉ bằng 1/8 và 1/20 mứctrớc chiến tranh [49, tr.385]

Tình trạng lơng thực thực phẩm còn tồi tệ hơn nhiều Trung bình mỗingày một ngời lớn chỉ có đợc khẩu phần ăn khoảng 1.000 calori Trong khi

đó, giá cả lại tăng vọt Nếu lấy chỉ số giá cả của năm 1945 là 100 thì năm

1946 tăng lên tới 515, năm 1947 là 1.655, năm 1948: 4.857 và năm 1949 là7.889, nghĩa là chỉ trong 4 năm đã tăng gần 80 lần [27, tr 108] Vì thế, cuộcsống của ngời dân hết sức thiếu thốn, đói kém bao trùm lên mỗi nhà Nhìnchung tình hình Nhật Bản những năm sau chiến tranh hết sức khó khăn.Nhật Bản phải dựa vào Mỹ, nhng cũng chính nhờ sự đầu t, giúp đỡ của Mỹ,cùng với những cải cách kịp thời, nền kinh tế Nhật Bản từng bớc đợc phụchồi

Từ cuối những năm 1950 trở đi, kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ,

đợc thế giới gọi là giai đoạn phát triển “thần kỳ” Trung bình mỗi năm kinh

tế tăng trởng 10% Và ngời ta cho rằng, một trong những yếu tố tạo nên sựthành công này là nhờ công cuộc cải cách sau 1945, đặc biệt là cải cách giáodục Nhng cũng từ sự thành công ấy đòi hỏi giáo dục phải có những thay đổikịp thời nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lợng cao, đáp ứng yêu cầu pháttriển của nền kinh tế

Trang 22

Sau một thời gian thành công rực rỡ, đến năm 1973 với cuộc khủnghoảng dầu mỏ thế giới đã ảnh hởng một cách trực tiếp đến Nhật Bản Nềnkinh tế bớc vào giai đoạn phát triển trung bình, tăng trởng bình quân hàngnăm chỉ đạt 4%.

Nhất là từ lúc nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, Nhật Bản bị chìm sâuvào khủng hoảng kéo dài cho đến tận ngày nay Theo thống kê từ năm 1991

đến 2001, tốc độ tăng trởng kinh tế nhiều năm chỉ đạt dới 1% Tốc độ tăngtrởng kinh tế thực tế đã giảm từ 2,9% năm 1991 xuống còn 0,4% năm 1992 và 4năm liền từ 1992 - 1995, mức tăng trởng trung bình chỉ đạt 0,6% Mặc dù đã khôiphục lại đợc mức 2,9% năm 1996, song đến năm 1997 - do ảnh hởng của cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á xuống - 0,5% [56, tr.6]

Hậu quả to lớn của sự sụp đổ nền kinh tế bong bóng và sự đình trệ củanền kinh tế kéo dài là tỷ lệ thất nghiệp lên cao Theo thống kê công bố vào

đầu thập niên 90 chỉ có 2%, năm 1995 khoảng 3,1% Từ tháng 10/1997 là3,5% Tính đến năm 1998, tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản đã lên tới mức kỷlục là 3,9% Theo Tachibanaki (2001) thì trên thực tế tỷ lệ thất nghiệp lên

đến 10% nếu kể cả số ngời mất việc nhng không tìm đợc việc nữa, đã thấtbại nhiều lần trong những lần cố gắng tìm việc từ trớc [56, tr.8] Nền kinh tếNhật Bản những năm gần đây vẫn trong tình trạng khủng hoảng đặc biệt làhiện nay do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Nhật lại rơivào tình trạng trầm trọng hơn

Ngoài ra, một vấn đề nội tại nữa cũng ảnh hởng trực tiếp đến chínhsách giáo dục, đó là sự già hoá về dân số Trớc chiến tranh, tuổi thọ trungbình của ngời dân Nhật Bản là 50 tuổi, năm 1970, con số này đợc nâng lênkhá cao: nam là 69,3; nữ là 74,7; năm 1980 tơng ứng là 73,4 và 78,8; năm

1992 là 76,1 và 82,2; năm 1994 là 76,6 và 83,0 Với mức tuổi thọ trung bìnhhiện nay, Nhật Bản là quốc gia có chỉ số tuổi thọ cao nhất thế giới

Cùng với sự kéo dài tuổi thọ trong dân c, số lợng và tỷ lệ ngời giàtrong tổng dân số cũng tăng lên mạnh mẽ Tỷ lệ phần trăm dân số có độ tuổidới 14 đã giảm còn khoảng 20% trong những năm gần đây Mặt khác, tỷ lệphần trăm của những ngời thuộc nhóm già hơn đang tăng lên nhanh chóng.Năm 1950, số ngời ở độ tuổi 65 trở lên chiếm 4,95% dân số; năm 1980 là9,05% và năm 1995 là 14,5% Theo điều tra của Bộ nội vụ Nhật Bản, năm

2007 có 26,82 triệu ngời già, chiếm 21% tổng dân số [59] Với tốc độ tănglên mạnh mẽ nh vậy, dự đoán đến năm 2020 số ngời cao tuổi sẽ chiếm 25%dân số Nhật Bản Sự tăng lên nhanh chóng của tuổi thọ trung bình và tỷ lệ

Trang 23

ngời già trong dân số Nhật Bản cho thấy Nhật Bản là một quốc gia có tốc độgià hóa nhanh nhất thế giới.

Hiện tợng già hoá dân c ở Nhật Bản cũng nh ở các quốc gia khác phản

ánh xu hớng phổ biến của xã hội phát triển, là một trong những vấn đề nangiải, làm thay đổi cơ cấu dân số và nảy sinh hàng loạt vấn đề kinh tế - xã hội,trong đó có việc đảm bảo cuộc sống cho số ngời già ngày một tăng

Xu hớng già hoá dân số ở Nhật Bản đã và đang làm thay đổi cơ cấu vàchất lợng lao động Tỷ lệ ngời già trong lực lợng lao động tăng dần qua từngnăm Tỷ lệ ngời có việc làm ở độ tuổi 40 trở lên tăng từ 37,5% vào năm

1950 lên 42,6% năm 1970 và 58,7% vào năm 1995 Hơn nữa, do tỷ lệ sinhgiảm, đã làm giảm tốc độ bổ sung lao động trẻ cho các lĩnh vực của nềnkinh tế quốc dân

Dân số ít đi và già hơn có nghĩa là hoạt động kinh doanh thu hẹp lại,lực lợng lao động ít hơn, giá cả sức lao động tăng cao, ảnh hởng đến đầu tphát triển sản xuất, số tiền tiết kiệm và số tiền dành cho đầu t cũng co lại nh-ờng chỗ cho các khoản chi phí cho phúc lợi, hu trí và chăm sóc ngời già

Dân số và lực lợng lao động già đi cũng khiến cho chế độ làm việcsuốt đời và tăng lơng dựa vào thâm niên của các công ty Nhật Bản cũngthêm rắc rối và cần phải sửa đổi, do các công ty không thể chịu đựng đợc chiphí lao động ngày càng tăng, và do yêu cầu của một cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ mới, cũng nh môi trờng kinh doanh có tính chất quốc tế vàcạnh tranh hơn đòi hỏi phải tuyển thêm và đãi ngộ tốt hơn cho lực lợng lao

động trẻ năng động và sáng tạo ngày càng ít đi Đó là cha kể việc già hoádân số và lực lợng lao động còn dẫn tới nguy cơ các phát minh sáng tạocũng ít đi Điều này đòi hỏi giáo dục phải có những chính sách phù hợp, đàotạo ra một lực lợng lao động trẻ, chất lợng cao Một mặt sung vào lực lợnglao động, mặt khác góp phần khôi phục lại sự phát triển của kinh tế

Hơn nữa, sang đầu thập niên 90, nền kinh tế của các nớc phát triển bắt

đầu chuyển mạnh từ trạng thái “cứng” sang “mềm”, thời đại cơ khí chuyểnsang thời đại tin học, viễn thông, nền kinh tế dựa vào trí tuệ con ngời làchính chứ không phải là vào thế mạnh tài nguyên và nguồn nhân công rẻnữa Xu thế này càng đặt ra nhiệm vụ hết sức to lớn cho nền giáo dục, nếukhông Nhật Bản sẽ tụt hậu

1.2 Nhân tố bên ngoài

Sự đi lên cũng nh sự phát triển ở một lĩnh vực cụ thể của một dân tộckhông thể tách rời với xu thế chung của nhân loại Vì thế, sự phát triển của

Trang 24

Nhật Bản nói chung và sự phát triển của giáo dục Nhật nói riêng từ sauchiến tranh thế giới thứ hai đến nay ngoài chịu sự chi phối của những nhân

tố bên trong còn chịu sự chi phối bởi những nhân tố bên ngoài, đó là:

1.2.1 Sự bùng nổ của giáo dục thế giới

Cục diện thế giới đã có những thay đổi cơ bản từ sau chiến tranh thếgiới thứ hai Xu hớng hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càngtrở thành đòi hỏi bức thiết của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới.Chính sự chuyển biến này đòi hỏi giáo dục cũng phải có những cải cáchnhằm phù hợp với tình hình mới

Hơn thế nữa, chính sự phát triển của khoa học kỹ thuật quân sự vớinhững vai trò nhất định trong thế chiến hai, nay đợc áp dụng vào sản xuấtdân dụng đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng trởng mạnh Đồng thời,bản thân khoa học kỹ thuật nói chung cũng phát triển nhanh chóng đa đếnnhững sự biến đổi lớn lao trong cơ cấu sản xuất, không ngừng mở ra nhiềuthị trờng mới, sức sản xuất xã hội đợc nâng cao đáng kể Các nớc côngnghiệp phục hồi khá nhanh sau những tàn phá mất mát nặng nề bởi chiến tranh

Tăng trởng kinh tế cùng với những biến đổi về xã hội đã làm cho mứcsống đợc nâng cao Trong những nớc mới giành đợc độc lập đã có nớc đa đ-

ợc nền kinh tế cất cánh, làm nổi rõ vai trò của giáo dục trong phát triển

Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sự phát triển mạnh mẽcủa lực lợng sản xuất là nguyên nhân làm nảy sinh cuộc vận động cải cáchgiáo dục có tính chất thế giới lần thứ hai, diễn ra vào cuối những năm 1950

đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX

Khác với cuộc cải cách lần thứ nhất - diễn ra đầu thế kỷ XX, trọngtâm lần này là cải cách quan niệm và kỹ thuật xây dựng chơng trình, thiết kếlại hệ thống các môn học, đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng phát huytính tích cực, chủ động sáng tạo của ngời học, trọng tâm “hớng vào họcsinh”

Chính từ cuộc cải cách này, sỉ số (tổng số ngời đi học) ở các nớc pháttriển và các nớc đang phát triển đều tăng lên một cách cha từng thấy Năm

1950, dân số thế giới khoảng 2,5 tỷ ngời, số ngời đi học đạt khoảng 300triệu (12%), trong đó hơn một nửa thuộc các nớc công nghiệp phát triển.Nhng đến năm 1998, dân số thế giới gần 6 tỷ, tổng số ngời đi học trên thếgiới đã tăng lên 1 tỷ (17%), trong đó 3/4 thuộc về các nớc đang phát triển

Bảng 1.3: Tổng số ngời đi học trên thế giới theo bậc học

Trang 25

Năm Tiểu học

(triệu ngời) Trung học

(triệu ngời) Đại học

Bảng 1.5 : Số sinh viên trên 10vạn dân của một số nớc

(năm 1998)

Nớc Sinh viên/ 10 vạn dân Nớc Sinh viên/ 10 vạn dân

Nguồn : Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, tr.21 [17]

Từ sau những năm 1980, với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, hìnhthành xã hội thông tin và xu thế toàn cầu hoá đã là những nhân tố tác độngmạnh mẽ đến giáo dục, đã tạo nên một làn sóng đổi mới, cải cách giáo dụctrên thế giới làn thứ ba, với đặc điểm chủ yếu là:

1 Giáo dục đại chúng dần thay thế cho giáo dục tinh hoa

2 Quan tâm đến việc hình thành các phẩm chất, năng lực cho thế hệtrẻ và ngời lao động về ý thức trách nhiệm, tính tích cực chủ động, năng lựcsáng tạo, thích ứng nhanh với sự đổi mới, phát huy cá tính của ngời học

3 Thực hiện chơng trình cốt lõi (60%) thống nhất trên toàn quốc

Đồng thời trao quyền tự chủ cho địa phơng, trờng học, nhà giáo, học sinh,sinh viên quyết định vận dụng linh hoạt khoảng 40% còn lại

Trang 26

4 Đầu t mạnh mẽ (dành phần ngân sách lớn nhất trong tổng ngân sáchquốc gia) cho giáo dục, giúp ngời học tiếp cận với những thành tựu hiện đạicủa khoa học công nghệ.

Trong trào lu cải cách này, hiện nay, ở các nớc phát triển ngời ta đãnói đến việc đại chúng hoá đại học (theo UNESCO, số ngời học đại họctrong độ tuổi dân số 18 - 23 đạt đến dới 10% giáo dục đại học còn lại là tinhhoa, 15 - 40 là đại chúng, trên 50% là phổ cập)

Đối với giáo dục phổ thông, trớc những năm 1960, các nớc chủ yếutập trung nâng cao chất lợng tiểu học Từ những năm 1980 đến nay, xu thếchung là nâng cao chất lợng, mở rộng quy mô và phổ cập giáo dục trunghọc Từ năm 1965 đến 1985 quy mô học sinh trung học trên thế giới tăng300% Năm 1982 quy mô học sinh trung học lên đến 153 triệu [17, tr.14].Tuy vậy, tỷ lệ chuyển tiếp và hoàn thành bậc học ở các nớc cũng rất khác nhau

Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông lên đại học ở một số nớc phát triển

và đang phát triển trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng những năm 1986

- 1988 khá cao: ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia: dới 10%; Nhật Bản: 28,2%;Niu Dilân: 36,35%; Philippin: 37,9% ; Hàn Quốc, Thái Lan có tỷ lệ cao hơn.Một số nớc, tuy tỷ lệ học sinh lên đại học thấp nhng tỷ lệ học sinh học tiểuhọc học lên hết bậc trung học lại khá cao nh: Trung Quốc: 43%, Iran: 48%,Việt Nam từ 50 - 60%

Việc xoá mù chữ đợc đẩy mạnh ở các nớc còn kém phát triển Tuyvậy, cho đến nay vẫn cha xoá xong nạn mù chữ trên toàn thế giới Đến năm

1995 mới đạt đến 8/10 nam giới và 7/10 nữ giới biết chữ, vẫn còn khoảng

900 triệu ngời mù chữ không biết đọc, biết viết

Về đội ngũ giáo viên đông đảo hơn, quan hệ giữa giáo viên và họcsinh cũng dần đợc thay đổi Giáo viên không còn là ngời cung cấp thông tinduy nhất mà vai trò chủ yếu của giáo viên chỉ còn ở việc tổ chức, hớng dẫn,khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập

Bảng 1.6: Số giáo viên trên 1000 ngời lớn (tuổi từ 15-60)

đồng thời có yêu cầu ngày càng cao đối với giáo dục

Bảng 1.7: Tỷ lệ chuyển tiếp và hoàn thành bậc học

Trang 27

của một số nớc (trong những năm 1980)

Từ tiểu học lên trung học cơ sở lên t học phổ thông Từ trung học cơ sở Trung học cơ sở Trung học phổ thông

Nguồn: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, tr 35 [17]

Sự tăng nhanh quy mô trong hệ thống giáo dục làm nảy sinh nhiều vấn

đề cho xã hội và sự quản lý của nhà nớc Những khó khăn về cơ sở vật chấttrờng lớp, giáo viên cũng xuất hiện: giáo dục đã phải dùng đến biện pháptình thế nh học 2 - 3 ca, dựng các trờng lớp lắp ghép sẵn và tạm bợ, huy

động cả các giáo viên cha đợc huấn luyện tốt,… Điều này xảy ra ngay tạicác nớc công nghiệp phát triển

Tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục, kể cả ở tầm quốc gia và quốc

tế cũng trở nên căng thẳng hơn Năm 1990, ớc tính toàn thế giới còn khoảng 100triệu trẻ em không đợc đi học, khoảng 1 tỷ ngời lớn mù chữ [17, tr.17]

Tuy nhiên, chính sự phát triển của giáo dục đã đóng một vai trò vôcùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói riêng

và của toàn thế giới nói chung Sự phát triển của giáo dục thế giới đã tác

động mạnh mẽ đến giáo dục của các nớc sau Chiến tranh thế giới thứ hai,trong đó có Nhật Bản

1.2.2 Nền kinh tế tri thức

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nớc thắng cũng nh bại trận

đều rơi vào tình trạng khủng hoảng và kiệt quệ Bằng sự nỗ lực của mình đặcbiệt là những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đạimang lại, đã đa sự phát triển kinh tế sang một giai đoạn mới về chất, giai

đoạn kinh tế tri thức

Đó là sự chuyển đổi từ một nền sản xuất dựa vào tài nguyên, lao

động là chính sang một nền sản xuất dựa vào trí tuệ con ngời là chính Tri thức là vốn quý nhất, quyền sở hữu trí tuệ trở thành quan trọng nhất,

là nguồn lực hàng đầu tạo ra sự tăng trởng và phát triển Do vậy, đầu t phát triển tri thức là đầu t chủ yếu nhất.

Trang 28

Bảng 1.8: Đầu t vào tri thức của một số nớc

(năm 1995, tính theo % GDP)

Tên nớc Tổng số Chi tiêu của chính

phủ cho giáo dục Cho nghiên cứu và triển khai Phần mềm

Ngời ta dự đoán rằng, trong nền kinh tế tri thức sẽ xuất hiện một sốvấn đề mới đối với giáo dục; đó là:

Thứ nhất, học với lao động là một Nền kinh tế tri thức dựa chủ yếu

trên lao động trí óc và sáng tạo cho nên có sự trùng hợp giữa học tập và lao

động Khi lao động để hoàn thành một sản phẩm trí tuệ thì đó cũng chính làhọc tập Do đó, phải học tập từng phút, từng giờ trong lao động trí óc cho cóhiệu quả T duy chính là lao động T duy và hợp tác sẽ làm cho lao động trí

óc có hiệu quả hơn

Thứ hai, học tập trở thành thách thức suốt đời Từ trớc đến nay ngời ta

thờng tách riêng thời đi học và thời đi làm Trong nền kinh tế tri thức, học vàlàm là một Ngời ta tính rằng với khối kiến thức của một kỹ s thì chỉ sau thờigian 3 năm khối kiến thức đó sẽ trở nên lạc hậu, cần đợc bổ sung Do đóphải liên tục học tập

Trang 29

Trong kinh tế tri thức, tiêu dùng cũng là học tập; sử dụng thành thạo

điện tử gia đình đã là học tập; mua hàng qua mạng Internet, gửi th điện tử…

đều phải học Giáo dục nhà trờng chỉ là một phần, một giai đoạn ngắn trongtoàn bộ cuộc sống của mỗi một con ngời Vai trò của giáo dục ngoài nhà tr-ờng kể cả đối với đại học ngày càng lớn Giáo dục cao đẳng, đại học chuyển

từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng, giáo dục phổ cập Theo đó,học tập đã dịch chuyển dần ra ngoài các trờng đại học chính quy

Thứ ba, nhà trờng của không gian điện tử Đây là một vấn đề rất thiết

thực Vì trớc đây, một sinh viên cần phụ đạo một vấn đề, trớc đây phải tớigặp thầy giáo đợc phân công, bây giờ có thể thông qua mạng để đặt câu hỏicho các địa chỉ và sẽ nhận đợc sự phụ đạo tận tình, thậm chí có thể đối thoại.Xuất hiện nhà trờng trên mạng, đó là nhà trờng của không gian điện tử

Nếu hệ thống giáo dục đợc tích hợp đầy đủ vào siêu xa lộ thông tin(mạng máy tính quốc gia) thì khả năng thích nghi của hệ thống với nền kinh

tế tri thức chắc chắn sẽ tốt đẹp

Nói tóm lại, trớc sự thay đổi của nền kinh tế thế giới thì đòi hỏi nềngiáo dục phải có những đổi mới phù hợp Vì thế, sự chuyển dịch sang nềnkinh tế tri thức cũng là một trong những nhân tố chi phối đến chính sáchphát triển giáo dục của các nớc, trong đó có Nhật Bản Giáo dục phải đợc utiên đầu t mạnh để có thể đào tạo nguồn nhân lực có chất lợng, từng bớc đivào kinh tế tri thức

1.2.3 Toàn cầu hoá, khu vực hoá

Ngày nay xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá là một xu thế tất yếukhách quan Các dân tộc muốn tồn tại và phát triển không thể không đi theo

xu thế chung này đợc Bởi nó chính là điều kiện, là thời cơ cho các quốc giahội nhập và cạnh tranh thị trờng khu vực và quốc tế

Trong quá trình này, lợi thế cạnh tranh ngày càng nghiêng về nhữngquốc gia có nguồn lực chất lợng cao, nhất là đội ngũ nhân tài Do có lợi thế

về tri thức khoa học và công nghệ, các nớc phát triển có cơ hội bóc lột giá trịthặng d tinh vi và cao hơn trớc đây nhiều lần Trong khi đó, các nớc nghèochiếm 1/5 dân số thế giới lại chỉ tạo ra một tổng sản phẩm bằng 1% GDPcủa toàn thế giới do chỉ dựa vào việc bán sức lao động đơn giản, bán nguyênliệu và các mặt hàng sơ chế thì ngày càng tụt hậu Toàn cầu hoá, khu vựchoá đã mang lại sự giàu có vô độ cho những nớc biết tận dụng lợi thế củacác luồng hàng hoá, dịch vụ đang tràn qua các đờng biên giới quốc gia, còncác nớc nghèo lại càng nghèo thêm Điều này khiến cho sự chênh lệch giàu

Trang 30

nghèo trên thế giới (giữa 20% dân số giàu nhất và 20% dân số nghèo nhất)

có xu hớng ngày càng gia tăng: năm 1911 là 11 lần, năm 1960 là 30 lần,năm 1990 là 60 lần, năm 1997 là 74 lần; thu nhập bình quân đầu ngời của n-

ớc giàu nhất so với nớc nghèo nhất là 400 lần (đầu thế kỷ XX chênh lệchkhông quá 10 lần)

Mặt khác, toàn cầu hoá đang tạo điều kiện cho việc chuyển giao đếncác nớc đang phát triển những thành quả công nghệ mới, những đột phásáng tạo về khoa học - công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinhdoanh…, mang lại những nguồn lực quan trọng, từ các nguồn lực vật chất

đến các nguồn lực tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản lý cả ở tầm vĩ môcủa quốc gia và tầm vi mô của từng doanh nghiệp, từng hộ gia đình

Toàn cầu hoá, khu vực hoá có thể là cơ hội lớn cho các nớc đang pháttriển, nếu biết tiếp nhận tri thức và công nghệ hiện đại thông qua chính sách

mở cửa và hội nhập Bất cứ quốc gia nào muốn tham gia vào “mạng” kinh tếtoàn cầu, đều phải lựa chọn và tạo đợc lợi thế cạnh tranh của mình Kinhnghệm của nhiều nớc công nghiệp mới cho thấy, điều kiện nguồn nhân lực

đi đôi với cấu trúc lại nền kinh tế, đổi mới hệ thống hành chính

Cạnh tranh kinh tế là cuộc cạnh tranh gay gắt về khoa học và côngnghệ Nớc nào làm chủ đợc khoa học công nghệ mũi nhọn, nớc đó sẽ có sứccạnh tranh kinh tế mạnh trên toàn cầu Tuy nhiên, để có đợc nền khoa học

và công nghệ phát triển, vấn đề cơ bản là phải đầu t xứng đáng vào giáo dục

và đào tạo, tức là đầu t vào tài nguyên con ngời Đặc biệt, phải tạo ra đợcnăng lực nội sinh, trớc hết là nguồn nhân lực có năng lực trí tuệ và tay nghềcao, có khả năng tiếp cận và sáng tạo tri thức và công nghệ hiện đại

Ngày nay, các tri thức khoa học và công nghệ hiện đại đã trở thành tàisản chung của nhân loại, có thể tận dụng mạng Internet để tiếp cận, nắm bắt

Điều chủ yếu là phải xây dựng một thể chế kinh tế, thị phần kinh tế trongviệc nắm bắt và ứng dụng công nghệ hiện đại

Cuộc cách mạng thông tin hiện nay đang tạo điều kiện thuận lợi đểtiếp thu tinh hoa văn hoá của các nớc, nhng đồng thời cũng làm cho các nềnvăn hoá bị pha tạp, lai căng, mất bản sắc Khi hội nhập vào quá trình toàncầu hoá, khu vực hoá, nếu biết phát huy những giá trị truyền thống và bảnsắc văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, thì sẽ cósức đề kháng đối với các cuộc “xâm lợc văn hoá” diễn ra hàng ngày, hànggiờ Chính sách đúng đắn là kết hợp hài hoà giữa tự do thông tin với kiểmsoát có sự lựa chọn

Trang 31

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ nh hiện nay,rất khó ngăn chặn những sản phẩm văn hoá có hại xâm nhập Giữ gìn bảnsắc văn hoá dân tộc và phát huy truyền thống dân tộc phải đợc quán triệttrong mọi lĩnh vực giáo dục và trong lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, xãhội, khoa học, nghệ thuật, ngoại giao, an ninh quốc phòng… trong đó vai tròcủa giáo dục hết sức quan trọng.

Để hội nhập vào khu vực và quốc tế, giáo dục và đào tạo đợc coi làquốc sách của mỗi một dân tộc

Tiểu kết chơng 1

Nhật Bản là một đất nớc có bề dày về truyền thống giáo dục Mặc dù,ngay từ đầu cha có đợc chữ viết riêng nhng cùng với việc tiếp xúc và học tậpvăn minh Trung Hoa nền giáo dục Nhật Bản đã từng bớc hoàn thiện và pháttriển

Từ thế kỷ thứ VII - VIII, Nhật Bản đã xây dựng cho mình một hệthống giáo dục hai cấp

Đến cuối thời kỳ Tokygawa thì hệ thống trờng học đã đợc thiết lậptrên toàn cõi Nhật Bản

Dới thời Minh Trị duy tân, với khẩu hiệu: “Học tập phơng Tây, đuổikịp phơng Tây, đi vợt phơng Tây”, Nhật Bản đã xác lập đợc một cơ cấu giáodục từ bậc tiểu học đến bậc đại học trên toàn quốc, đáp ứng sự phát triển củanền kinh tế trong thời kỳ mới Tuy nhiên, để có đợc những thành tựu ấy,không chỉ là đóng góp của những ngời lãnh đạo trong công cuộc canh tân

mà phải do nỗ lực của toàn dân tộc Cơ cấu và chơng trình giáo dục lập ralúc này đợc duy trì đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai Nhà trờng khôngchỉ giới hạn trong việc “dạy học” mà còn có trách nhiệm đem lại sự thăngtiến nền kỹ thuật quốc gia cũng nh cải thiện cuộc sống của mỗi ngời dân

Những chuyển biến về kinh tế - xã hội cùng với sự phát triển nhanh vàliên tục của khoa học và công nghệ đã làm biến đổi giáo dục một cách cơbản và thực chất, đồng thời có yêu cầu ngày càng cao đối với giáo dục Yêucầu nền giáo dục của mỗi dân tộc cần phải có những chính sách đúng đắn đểnhằm đáp ứng sự phát triển của đất nớc, theo kịp xu thế phát triển của thời đại

Điều đó cũng có nghĩa là, sự phát triển của giáo dục Nhật Bản chịu sựtác động chi phối của nhiều nhân tố, cả nhân tố bên trong lẫn nhân tố bênngoài Nhng nhân tố bên trong đặc biệt là truyền thống giáo dục là nhân tố

Trang 32

quan trọng nhất, tác động chi phối một cách sâu sắc nhất đến nền giáo dụccủa Nhật Bản nhất là thời kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.

Nền giáo dục của Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến naycũng vận động và phát triển theo chiều hớng đó Sự nỗ lực của Chính phủcùng với sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, nền giáo dục Nhật Bản từ bấy

đến nay đã đạt đợc những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nớc Đó là một nền giáo dục nghiêm khắc, dânchủ, tạo cơ hội bình đẳng trong học tập cho mọi ngời dân

Chơng 2

Sự phát triển của nền giáo dục Nhật Bản từ sau

Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay 2.1 Đờng lối giáo dục

Mặc dù, sự vận động, phát triển của nền giáo dục Nhật Bản là liên tục.Song sự phát triển đó, luôn luôn thay đổi và chuyển mình nhằm đáp ứng yêucầu của lịch sử dân tộc và sự phát triển của thời đại Nói cách khác, nền giáodục Nhật Bản một mặt phát huy những nét truyền thống tốt đẹp của lịch sửdân tộc, mặt khác luôn luôn có sự thay đổi, cải cách, tiếp thu những tinh hoavăn hóa của nhân loại Vì thế, đờng lối giáo dục ở mỗi thời kỳ cũng khácnhau, nó chịu sự chi phối của các nhân tố nêu trên

* Thời kỳ: từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai - đầu những năm 60

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản khủng hoảng về mọimặt, nền kinh tế trở nên điêu tàn Có lẽ trong lịch sử nớc mình, Nhật Bản ch-

a bao giờ rơi vào hoàn cảnh bi quan đến nh vậy Hàng trăm ngàn lính Mỹ

d-ới danh nghĩa quân Đồng minh kéo vào chiếm đóng nớc Nhật Lần đầu tiên

kể từ ngày lập quốc, Nhật Bản bị mất quyền độc lập Thêm vào đó là nhiềuvấn đề xã hội phức tạp luôn luôn rình rập nh thất nghiệp…

Tình trạng khó khăn tơng tự cũng đặt ra cho ngành giáo dục Hầu hết

hệ thống trờng học Nhật Bản đã bị phá hủy trong chiến tranh Tổng số trờng

bị thiêu cháy là 3.556 trờng các loại

Những khó khăn về vật chất hết sức trầm trọng Mặt khác, sau côngcuộc Duy tân Minh Trị, nền giáo dục hiện đại theo mô hình phơng Tây đã đ-

ợc thiết lập ở Nhật Bản, nhng đây là lúc quyền lực của giới võ sĩ chuyểnhoàn toàn cho triều đình phong kiến, đứng đầu là Thiên hoàng Minh Trị, nêngiáo dục Nhật Bản tiếp tục bị chi phối bởi những yếu tố cũ, khiến cho nókhông còn phù hợp với bối cảnh thế giới sau chiến tranh nói chung và chính

Trang 33

quyền chiếm đóng nói riêng Đặc biệt, những t tởng nh trung quân, ái quốc,dân tộc chủ nghĩa cực đoan… ợc giáo dục, tuyên truyền trong các trờng họcđ

và nhân dân Nhật Bản cùng với xu hớng quân phiệt hóa của những năm 30

là một trong những nguyên nhân đẩy nớc này vào con đờng chiến tranh xâmlợc và những chiến dịch quân sự mù quáng ở nớc ngoài Vì vậy, việc cải tổtoàn diện nền giáo dục đã trở thành một nhu cầu tất yếu của xã hội Nhật Bảntrong đó đờng lối giáo dục đóng một vai trò vô cùng quan trọng

Ngay từ cuối tháng 8/1945, những d luận về việc tiến hành cải cáchgiáo dục cùng với việc tái thiết chế đất nớc đã nhanh chóng lan ra trongNhật Bản Trong khi đó, d luận xã hội cho rằng, nguyên nhân thất bại củangời Nhật Bản lúc này một phần đáng kể là do sự “chậm trễ của khoa học”Nhật Bản Nói cách khác là ngời Nhật Bản đã “thất bại bởi khoa học” Vìvậy, Bộ Giáo dục đã phải nhanh chóng đối phó với d luận này Đến cuốitháng 10/1945, Ban cải cách giáo dục công dân thuộc Bộ Giáo dục đợcthành lập nhằm xây dựng chơng trình giáo dục công dân với t cách là “nềntảng của nền giáo dục mới” Ngoài ra, việc cải cách giáo dục thể chất cũng

đợc chú ý

Ngày 4/12/1946, Nội các Nhật Bản công bố cơng lĩnh cải cách giáodục nữ mà phơng châm là tìm mọi cách để khẳng định sự bình đẳng về nộidung giáo dục giữa nam và nữ Đây là một vấn đề cha đợc giải quyết sauMinh Trị duy tân

Về phơng châm giáo dục mới, đợc đề cập đến trong bài phát biểu của

Bộ trởng giáo dục ngày 15/9/1945: “Phơng châm giáo dục trong công cuộcxây dựng nớc Nhật mới”, trong đó một mặt nhấn mạnh tới việc “cố gắngduy trì quốc thể” (vai trò của Thiên hoàng), nhng mặt khác, Bộ trởng chorằng mỗi ngời phải có trách nhiệm trong việc xây dựng một quốc gia hòabình và loại bỏ những màu sắc của chủ nghĩa quân phiệt, phải có tiêu chuẩnchung về trí, đức và rèn luyện t duy khoa học, đối với giáo chức sẽ phải tiếnhành đào tạo lại…

Đạo luật giáo dục đợc ban hành tháng 3/1947 khác hẳn với chế độgiáo dục trớc đó một cách toàn diện về mục đích và phơng châm giáo dục

Mục đích giáo dục: đào tạo nhân cách những con ngời của xã hội NhậtBản, dân chủ, yêu chuộng chân lý, chính nghĩa bảo vệ giá trị nhân đạo, tôntrọng lao động, có trách nhiệm đào tạo lớp ngời có tinh thần tự chủ

Phơng châm: trong mọi hoàn cảnh bằng mọi cách thực hiện cho đợcmục đích giáo dục đã nêu và để đạt đợc mục đích đó cần phải triệt để tôn

Trang 34

trọng tự do học vấn, phát triển tinh thần sáng tạo phù hợp với đời sống thực

tế, đào tạo nên đức tính khiêm tốn, thân ái hợp tác và sẵn sàng góp công vàoviệc xây dựng phát triển nền giáo dục quốc gia [1, tr.203]

Tuy nhiên, những cố gắng của Chính phủ, Bộ Giáo dục và nhân dânNhật Bản nhằm tiến tới một nền giáo dục mới trong bối cảnh chiến tranhvừa kết thúc thật không đơn giản Đó là thời điểm hỗn loạn trên mọi lĩnh vựccùng những khó khăn chồng chất Chính sự can thiệp từ bên ngoài, hay nói

đúng hơn là do sức ép từ phía lực lợng chiếm đóng đã thúc đẩy quá trình cảicách của Nhật Bản diễn ra nhanh chóng và triệt để

Theo Tuyên bố Potdam thì quân Mỹ với t cách quân Đồng minh vàochiếm đóng Nhật Bản từ cuối tháng 8/1945 đến tháng 4/1952 Việc điềuhành nớc Nhật nằm trong tay Tổng t lệnh tối cao các lực lợng Đồng minh(GHQ) - tớng Douglas Mac Arthur Quyền lực của ông ta với nớc Nhật làtuyệt đối, dới sự chỉ huy của chính phủ Mỹ và thông qua vai trò trung giancủa bộ máy chính phủ Nhật Bản để thực thi chính sách của mình

Sau khi lên nắm quyền, Mac Arthur công bố Báo cáo về chính sách

đầu tiên của Mỹ đối với Nhật, bao gồm hai mục tiêu chủ yếu là xóa bỏ chủnghĩa quân phiệt Nhật Bản và dân chủ hóa nớc này Ngày 11/10/1945,Arthur lại chỉ thị cho Thủ tớng Nhật Bản Shindehara thực thi 5 cải cách cơbản gồm:

1 Thực hiện quyền bầu cử của phụ nữ

2 Khuyến khích việc thành lập các tổ chức của ngời lao động

3 Tự do hóa giáo dục

4 Xóa bỏ chính quyền chuyên chế

5 Dân chủ hoá các cơ quan kinh tế

Nh vậy, có thể thấy đợc trong những nội dung cải cách do chínhquyền Mỹ triển khai, chỉ có thể chia làm 3 loại: cải cách về chính trị, cảicách kinh tế và cải cách văn hóa - xã hội Về giáo dục, Mac Arthur chorằng cần đa vào Nhật Bản nền giáo dục theo kiểu Mỹ

Vì vậy, ngay từ tháng 9/1945, ông ta đã yêu cầu chính phủ Mỹ cửmột phái đoàn giáo dục sang Nhật Bản nghiên cứu tình hình giáo dục nớcnày để giúp Mac Arthur trong việc cải cách Sau một tháng, phái đoàn giáodục Mỹ do Hiệu trởng trờng Đại học Tổng hợp Illiois làm trởng đoàn đãchuyển tới Mac Arthur bản báo cáo với những nhiệm vụ cải cách sau:

Trang 35

1 Mục tiêu của giáo dục nhằm đạt đợc sự phát triển cá tính, tôn trọngcá nhân, đào tạo học sinh thành những công dân dân chủ, thành viên của xãhội dân chủ.

2 Tiến tới sự tự do rộng rãi cho cả giáo viên và học sinh Đối với giáoviên phải dành cho họ quyền tự do lựa chọn trong giảng dạy, biên soạn giáotrình, thiết kế chơng trình Học sinh phải đợc giải phóng khỏi “địa ngục thicử”, nhồi nhét kiến thức Chơng trình phải đợc đa dạng hóa, loại bỏ chế độkiểm duyệt sách giáo khoa Viết lại các sách giáo khoa Địa lý, Lịch sử, mởthêm môn khoa học xã hội cho trờng trung học bậc thấp

3 Về quản lý giáo dục, phải xóa bỏ độc quyền của Bộ Giáo dục Bỏchế độ độc lập chức quan riêng phụ trách giáo dục ở các địa phơng Đồngthời, công nhận quyền hạn, trách nhiệm trong công tác quản lý giáo dục củachính quyền địa phơng Lập Hội đồng giáo dục bằng bầu cử trực tiếp ở cácphủ, huyện để phụ trách công tác giáo dục sơ và trung cấp

4 áp dụng nguyên tắc bình đẳng về cơ hội giáo dục Để thực hiện đợcnguyên tắc này phải chuyển cơ cấu đa tuyến (chia hệ thống giáo dục thànhquá nhiều loại trờng), thành cơ cấu đơn tuyến (liên thông ít loại trờng) vàthực hiện giáo dục nghĩa vụ 9 năm không mất tiền, tiến hành việc học chungnam nữ Thực hiện chế độ 6 - 3 - 3 - 4 (6 năm tiểu học, 3 năm trung học bậcthấp, 3 năm trung học bậc cao và 4 năm đại học)

5 Khơi gợi việc coi trọng giáo dục của trẻ em, loại bỏ chủ nghĩa bìnhquân tuyệt đối trong phơng pháp giáo dục, đào tạo lại giáo viên, coi trọngviệc đào tạo phù hợp với trình độ đảm nhận của họ nghĩa là phải thay đổichế độ giáo dục s phạm, áp dụng chế độ đào tạo giáo viên theo hệ 4 năm.Tăng tính chuyên môn cho các chuyên viên trong bộ máy hành chính giáo dục

6 Đối với giáo dục ngời lớn, cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việclập kế hoạch giáo dục ngời lớn một cách rộng rãi, mở thêm trờng, chú trọnggiáo dục bằng th viện, bảo tàng và các phơng pháp giáo dục khác

7 Về giáo dục đại học, cải tổ đại học theo phơng châm tất cả thanhniên nam nữ có khả năng đều đợc theo học Phê phán tính độc quyền của

Đại học Hoàng gia Mở trờng đại học cho nữ giới Đặt tiêu chuẩn tính độclập tự trị của đại học và Hội đồng giáo s [27, tr.121]

Nh vậy, những t tởng cơ bản của việc xây dựng hệ thống giáo dục mới

đã đợc làm sáng tỏ trong Báo cáo của phái đoàn giáo dục Mỹ Trên cơ sởnhững đề nghị này, ngày 10/8/1946, Chính phủ Nhật Bản quyết định thành

Trang 36

lập “Hội đồng cải cách giáo dục” trực thuộc Bộ Giáo dục để triển khai kếhoạch cải cách.

Công việc đầu tiên của Hội đồng cải cách là tiến hành soạn thảo Luậtgiáo dục Sau khi Chiến tranh kết thúc, Giáo dục sắc ngữ (1890) đã khôngcòn phù hợp nữa Nhng đây là một vấn đề rất nhạy cảm vì nó liên quan đếnvai trò của Thiên hoàng Vì vậy, vấn đề cải cách giáo dục có liên quan chặtchẽ tới Hiến pháp Chỉ có sự khẳng định bằng Hiến pháp mới tránh đợcnhững tranh cãi xung quanh vấn đề này Với thái độ kiên quyết, ngày11/10/1945, Mac Arthur ra chỉ thị cho Nội các Nhật Bản phải sửa đổi sang

dự thảo Hiến pháp mới không khác lắm so với Hiến pháp 1889, đặc biệt làtrong dự thảo vẫn giữ nguyên vai trò của Thiên hoàng Sau khi thẳng thắnbác bỏ, Mac Arthur đã sử dụng nhóm luật gia của GHQ hoàn thành bản dựthảo mới và bản dự thảo đợc chuyển đến cho Nội các Nhật Bản vào ngày13/2/1946 với nội dung khác hẳn bản dự thảo trớc, đặc biệt là vị trí, vai trò

và quyền hạn của Thiên hoàng Ngày 6/3/1946, Nghị viện Nhật Bản thôngqua bản Hiến pháp do Mac Arthur chỉ đạo soạn thảo với một cái tên đơngiản: Hiến pháp Nhật Bản, đợc Thiên hoàng công bố ngày 3/11/1946 và cóhiệu lực kể từ ngày 3/5/1947

Điều quan trọng nhất thể hiện trong Hiến pháp 1946 là tính dân chủ vàviệc phủ nhận vĩnh viễn chiến tranh Vì vậy, bản Hiến pháp còn có tên gọi làHiến pháp hòa bình

Về vấn đề giáo dục đợc đề cập trực tiếp trong 2 điều khoản của chơngIII: “Nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân” Đó là những điều khoản không

có trong Hiến pháp 1889, bao gồm: “Nhà nớc đảm bảo tự do giáo dục”(Điều 23) và “mọi công dân đều có quyền đợc hởng một nền giáo dục nhnhau, tùy theo khả năng của mình, phù hợp với những quy định của Luậtpháp Tất cả công dân phải có nghĩa vụ chăm sóc trẻ em và cho chúng đếntrờng, giáo dục đợc miễn phí” [27, tr.125]

Dựa trên tinh thần cơ bản của bản Hiến pháp mới, Hội đồng cải cáchgiáo dục nói riêng và những ngời có trách nhiệm ở Nhật Bản nói chung đãbắt đầu ngay việc tiến hành cải cách toàn diện nền giáo dục mà trớc tiên làvạch ra “Luật giáo dục cơ bản”

Ngày 31/3/1947, Luật giáo dục cơ bản chính thức đợc công bố Bộluật bao gồm: Lời nói đầu và 11 điều khoản Những ý tởng cơ bản của hệthống giáo dục mới đợc ghi trong Lời nói đầu của bộ luật:

Trang 37

“Khi thiết lập hiến pháp cơ bản của nớc Nhật, chúng ta đã chứng tỏ quyếttâm của chúng ta góp phần vào hòa bình của thế giới và hạnh phúc củanhân loại bằng cách xây dựng một quốc gia dân chủ và văn hóa Việc thựchiện lý tởng này sẽ tùy thuộc chủ yếu vào quyền lực của giáo dục Chúng taquý trọng phẩm giá cá nhân và cố gắng nâng cao trình độ quốc dân yêuchân lý và hòa bình trong khi giáo dục nhằm đến sự sáng tạo nền văn hóachung và giàu cá tính, sẽ đợc phổ biến xa và rộng khắp Tại đây chúng taban hành đạo luật này phù hợp với tinh thần của Hiến pháp Nhật Bản nhằmlàm sáng tỏ mục đích của giáo dục và thiết lập những cơ sở giáo dục cho nớc Nhật mới” [27,126].

Về nội dung bao gồm những vấn đề chủ yếu sau:

1 Mục đích của giáo dục nhằm hoàn thiện nhân cách, đào tạo nhữngcon ngời xây dựng quốc gia hòa bình, yêu chân lý, chính nghĩa, coi trọng giátrị cá nhân, tôn trọng lao động, trong sáng về tâm hồn, mạnh khoẻ về thể chất

2 Để đạt đợc mục đích ấy thì vấn đề tự do học vấn phải đợc tôn trọng.Khuyến khích sự sáng tạo, tinh thần hòa đồng, đoàn kết xây dựng quốc gia

3 Để đảm bảo việc phổ cập hóa giáo dục phải đa lại cơ hội giáo dục

nh nhau cho mọi công dân tơng ứng với năng lực của họ và xác nhận mộtcách cụ thể hơn điều khoản trong Hiến pháp không đợc phân biệt dòng dõi,tín ngỡng, giới tính, giai cấp xã hội, địa vị kinh tế trong giáo dục

4 Về giáo dục nghĩa vụ, khẳng định mọi công dân không phân biệtnam, nữ có nghĩa vụ đi học 9 năm theo chơng trình giáo dục của quốc gia.Các trờng quốc lập và công lập không thu học phí trong những năm học này

5 Về việc nam nữ giúp đỡ nhau cùng học tập

6 Về hệ thống trờng lớp: pháp luật thừa nhận tất cả các trờng họccông cộng đợc tổ chức một cách hợp pháp Ngoài trờng quốc lập, công lập,các đoàn thể hoặc t nhân đủ t cách pháp lý đều có thể lập trờng học t Giáoviên là những ngời phụng sự cho quần chúng nên phải nỗ lực thực hiệnnghĩa vụ của mình Đồng thời, nhà nớc và xã hội cũng phải tôn trọng họ,phải đối xử với họ một cách thích đáng trên mọi phơng diện

7 Nhà nớc và các tổ chức xã hội ở các địa phơng cần phải khuyếnkhích giáo dục ngoài học đờng bằng việc mở rộng hệ thống th viện, bảotàng, nhà văn hóa, đáp ứng cho mọi tầng lớp nhân dân

8 Bộ luật đề cập đến vấn đề giáo dục chính trị và giáo dục tôn giáo,quy định trờng học không là nơi tuyên truyền t tởng ủng hộ hay chống đốicác chính đảng, không đợc tuyên truyền hoặc tổ chức hoạt động tôn giáo

Trang 38

Hình 2.1: Tổ chức quản lý giáo dục

9 Vấn đề quản lý hành chính giáo dục (Xem hình 2.1)

10 Những quy định để thực hiện đạo luật này

Cũng trong ngày hôm đó (31/3/1947), Luật giáo dục đợc công bốnhằm triển khai một cách cụ thể những t tởng của Luật giáo dục cơ bản Bộluật này gồm 9 chơng với 108 điều, có hiệu lực ngay từ hôm sau (1/4/1947)

Bộ Giáo dục H ớng dẫn, t Ng ời dân địa ph ơng

vấn

Lãnh đạo địa ph ơng Hội đồng địa ph ơng

Uỷ ban giáo dục

Chỉ định

Ng ời quản lý các tr ờng công lập

T vấn của các tr ờng công lập

Hiệu tr ởng

Giáo viên chủ nhiệm

Giáo viên th ờng

Trang 39

Luật giáo dục trờng học khẳng định việc hủy bỏ toàn bộ hệ thống giáo dục

cũ và thết lập hệ thống giáo dục đơn tuyến nhằm mở rộng cơ hội giáo dụccho mọi ngời Đó là hệ thống 6 - 3 - 3 - 4 theo mô hình Mỹ Luật còn đề cậpmột cách cụ thể về chế độ giáo dục nghĩa vụ 9 năm Trong đó điều 39 có

đoạn: “Các giới phụ huynh và những ngời đỡ đầu có bổn phận khuyên nhủcon em mình tiếp tục học thêm 3 năm ở trung học sau khi đã tốt nghiệp tiểuhọc Nếu là trẻ em khuyết tật thì phải cho đi học ở những trờng đặc biệt nhtrờng mù, trờng điếc, trờng câm… Nói một cách khác, trẻ em dù là lànhmạnh hay tật nguyền, tất cả đều phải đến trờng học cho đến ngày đợc 15tuổi, tức là tốt nghiệp trung học” [1, tr.151]

Việc nam nữ cùng học, bình đẳng về cơ hội giáo dục, quyền tự chủtrong giáo dục của các địa phơng, quy định việc sắp xếp, hệ thống, mục đíchcủa giáo dục, thực hiện quyền kiểm định sách giáo khoa của Bộ Giáo dụccũng đợc nói đến cụ thể trong các điều khoản khác nhau của bộ luật

Việc thực hiện Luật giáo dục cơ bản năm 1947 có ý nghĩa rất lớntrong lịch sử giáo dục Nhật Bản Trớc hết, đó là việc triển khai những ý tởngcủa bản Hiến pháp mới, nhằm xây dựng nền giáo dục của nớc Nhật sauchiến tranh: dân chủ và yêu hòa bình Nhà nghiên cứu giáo dục Ota Takashicho rằng, về thực chất đây là “Luật giáo dục cơ bản”, nhng có thể gọi đó là

“Hiến pháp giáo dục” Bởi vì, so với những quyết định trong quan niệm giáodục của Giáo dục sắc ngữ là hoàn toàn khác

Hai là, nó tiếp nhận những quyền lợi về giáo dục đợc ghi nhận trong

điều 26 của Hiến pháp Nhật Bản, là cụ thể hóa những nguyên tắc cơ bản củaviệc quản lý nền giáo dục và các chế độ thực thi nền giáo dục với t cách làquyền lợi Nó hoàn toàn khác với thể chế giáo dục của Thiên hoàng trớcchiến tranh, coi giáo dục là một trong 3 nghĩa vụ lớn, bên cạnh việc đóngthuế và đi lính

Ba là, Luật giáo dục cơ bản đợc hình thành bởi những ngời đại diệncho quyền lợi của nhân dân và đợc công bố với t cách là pháp luật chứkhông phải là sắc lệnh hay chiếu chỉ Nói cách khác, nó mang ý nghĩa củamột bộ luật thực hiện theo tinh thần của Hiến pháp và nguyên tắc điều hànhnền giáo dục dựa vào quyền lực từ phía nhân dân thay cho việc chi phối bởiThiên hoàng của giáo dục sắc ngữ trớc đây

Sau hơn một năm công bố Luật giáo dục cơ bản, ngày 19/6/1948, haiViện thuộc nghị viện Nhật Bản đã chính thức quyết định chấm dứt việc sửdụng Giáo dục sắc ngữ trong các trờng học Nh vậy, cơ chế và nội dung giáo

Trang 40

dục theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan đã hoàn toàn bị thủ tiêu, để thay vào

đó bằng một nền giáo dục mới dân chủ công bằng

Nh vậy, mục tiêu, phơng châm của giáo dục sau Chiến tranh thế giớithứ hai khác hẳn với thời kỳ Minh Trị là nhằm đạo tạo con ngời theo khuônmẫu, nhân nghĩa quân thần, phụ tử, nền giáo dục mới chú trọng đào tạo conngời thành những ngời dân có tinh thần độc lập trong một quốc gia hòabình, dân chủ và trong cộng đồng tôn trọng nhân quyền và yêu chuộng chân

lý hòa bình

Một trong những nguyên tắc căn bản khác trong Đạo luật năm 1947 là

sự bình đẳng trong khả năng giáo dục hớng cho mỗi ngời theo một tài năngriêng biệt Đạo luật ngăn cấm mọi sự phân biệt chủng tộc, tín ngỡng, tôngiáo, địa vị xã hội, hay kinh tế, hoặc thành phần xuất thân của gia đình

Hệ thống giáo dục hoàn chỉnh cung cấp các cơ hội giáo dục bình đẳngcho mỗi cá nhân, không chỉ các trờng tiểu học mà cả các trờng trung họccũng đợc cải cách hoàn toàn Hệ thống trờng học 6 - 3 - 3 - 4 đã đợc thựchiện, thời hạn bắt buộc giáo dục đã tăng thêm 3 năm thành 9 năm Giáo dụctiểu học vốn không mở ra cho mọi trẻ em nay đã trở thành bắt buộc Nguyêntắc giáo dục thuần giới đã đợc xóa bỏ, thay vào đó là giáo dục chung cho cảnam và nữ đã trở thành chuẩn mực

Sau một thời gian tiến hành cải cách, nền giáo dục Nhật Bản mangnhiều yếu tố Mỹ, một mặt đã đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực chất l ợngcao, góp phần vào sự phát triển thần kỳ của đất nớc, hoàn thành trọn vẹnkhẩu hiệu đề ra từ thời Minh Trị “Học tập phơng Tây, đuổi kịp phơng Tây,

đi vợt phơng Tây” Nhng mặt khác, đã bộc lộ những yếu tố không phù hợpvới điều kiện xã hội Nhật Bản Hơn nữa yêu cầu của xã hội đối với nguồnnhân lực có chất lợng ngày càng cao

* Thời kỳ từ cuối những năm 60 - đầu những năm 90

Bớc vào thế kỷ XXI, thế kỷ của quốc tế hóa, thông tin hóa, lại đang

đứng trớc những vấn đề phức tạp nh: nền kinh tế liên tục tăng trởng mạnh từsau chiến tranh thế giới thứ hai, nay rơi vào tình trạng đình trệ, suy thoái,vấn đề thất nghiệp ngày càng trầm trọng, dân số già hóa trong khi tỷ lệ trẻ

em sinh ra ngày một giảm Những thử thách gay go đó đã đặt ra cho nền giáodục Nhật Bản một nhiệm vụ mới, nắm bắt và giải quyết những nhu cầu mới

Để đáp ứng nhu cầu đó, ngay từ nửa những năm 60, ở Nhật Bản đãdiễn ra những cuộc tranh luận về việc cải cách nền giáo dục nớc nhà Đếntháng 7/1967, Hội đồng giáo dục trung ơng đợc thành lập với nhiệm vụ

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Nguyễn Thị Bình (2007), ''Giáo dục Việt Nam phải xây dựng bằng nỗ lực và trí tuệ Việt Nam'', Tc Khoa giáo, số 9, tr 5 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Giáo dục Việt Nam phải xây dựngbằng nỗ lực và trí tuệ Việt Nam''
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2007
[5]. Trần Mạnh Cát (1998), ''Chi phí cho giáo dục của các gia đình Nhật Bản'', Nc Nhật Bản, số 1(13), tr 42 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Chi phí cho giáo dục của các gia đìnhNhật Bản''
Tác giả: Trần Mạnh Cát
Năm: 1998
[6]. Trần Mạnh Cát (1995), ''Vài nết về giáo dục phổ thông Nhật Bản'', Nc Nhật Bản, số 3, tr 52 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Vài nết về giáo dục phổ thông NhậtBản''
Tác giả: Trần Mạnh Cát
Năm: 1995
[7]. Vũ Đình Cự (1998), Giáo dục hớng tới thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hớng tới thế kỷ XXI
Tác giả: Vũ Đình Cự
Nhà XB: NXB Chính trịquốc gia
Năm: 1998
[8]. Hồ Châu (2005), ''Chiến lợc đối ngoại của Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ XXI'', Nc Nhật Bản, số 2 (56), tr 64 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Chiến lợc đối ngoại của Nhật Bản trong nhữngnăm đầu thế kỷ XXI''
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 2005
[9]. Nguyễn Hữu Chí (2007), ''Cải cách giáo dục ở một số nớc Đôngá'', Tc Khoa giáo, số 9, tr 50 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Cải cách giáo dục ở một số nớc Đông"á''
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 2007
[10]. Nguyễn Duy Dũng (2003), Nhật Bản năm 2002 cuộc cải cách vẫn còn tiếp tục, NXB Thống kê, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản năm 2002 cuộc cải cáchvẫn còn tiếp tục
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
[11]. Đông á - Đông Nam á những vấn đề lịch sử và hiện đại, (2004), NXB ThÕ giíi, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông á - Đông Nam á những vấn đề lịch sử và hiện đại
Tác giả: Đông á - Đông Nam á những vấn đề lịch sử và hiện đại
Nhà XB: NXB ThÕ giíi
Năm: 2004
[12]. Fukuzawa Yukichi (1995), Cách tân giáo dục thời Minh Trị, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tân giáo dục thời Minh Trị
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
[14]. Phạm Minh Hạc(1996), Mời năm đổi mới giáo dục, NXB Giáo dục [15]. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trớc ngỡng cửa củathÕ kû XXI, NXB CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mời năm đổi mới giáo dục, NXB Giáo dục" [15]. Phạm Minh Hạc (1999), "Giáo dục Việt Nam trớc ngỡng cửa của"thÕ kû XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc(1996), Mời năm đổi mới giáo dục, NXB Giáo dục [15]. Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục" [15]. Phạm Minh Hạc (1999)
Năm: 1999
[16]. Phạm Minh Hạc (2001), Hiện đại hoá giáo dục Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hoá giáo dục Nhật Bản
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXBChính trị quốc gia
Năm: 2001
[17]. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXBChính trị quốc gia
Năm: 2002
[18]. Dơng Phú Hiệp (1996), ''Vài nết về quan hệ giáo dục Việt Nam - Nhật Bản trong những năm gần đây'', Nc Nhật Bản, số 2, tr 3 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Vài nết về quan hệ giáo dục Việt Nam -Nhật Bản trong những năm gần đây''
Tác giả: Dơng Phú Hiệp
Năm: 1996
[19]. DơngPhú Hiệp (2004),Nhật Bản trên đờng cải cách,NXB KHXH [20]. Dơng Phú Hiệp, Vũ Văn Hà (2004), Quan hệ kinh tế Việt Nam -Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới, NXB KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trên đờng cải cách",NXB KHXH[20]. Dơng Phú Hiệp, Vũ Văn Hà (2004), "Quan hệ kinh tế Việt Nam -"Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới
Tác giả: DơngPhú Hiệp (2004),Nhật Bản trên đờng cải cách,NXB KHXH [20]. Dơng Phú Hiệp, Vũ Văn Hà
Nhà XB: NXB KHXH[20]. Dơng Phú Hiệp
Năm: 2004
[21]. Hoàng Thị Minh Hoa (1999), Cải cách ở Nhật Bản trong những n¨m 1945 - 1951, NXB KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách ở Nhật Bản trong nhữngn¨m 1945 - 1951
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1999
[22]. Hồ Hồng Hoa (2001), Văn hoá Nhật Bản những chặng đờng phát triển, NXB KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Nhật Bản những chặng đờng phát triển
Tác giả: Hồ Hồng Hoa
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2001
[23]. Vũ Hoài (1999), ''Một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực đối ngoại của Nhật Bản'', Nc Nhật Bản, số 3 (21), tr 16 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực đối ngoạicủa Nhật Bản''
Tác giả: Vũ Hoài
Năm: 1999
[24]. Nguyễn Quốc Hùng (2007), Lịch sử Nhật Bản, NXB Thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
[25]. Cung Hữu Khánh (2003), ''Vài nét về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 30 năm hợp tác, giao lu và phát triển'', Nc NB, số 2, tr 34 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Vài nét về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản30 năm hợp tác, giao lu và phát triển''
Tác giả: Cung Hữu Khánh
Năm: 2003
[28]. Nguyễn Văn Kim (2003), Nhật Bản với Châu á - những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội, NXB ĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với Châu á - những mối liên hệlịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.5  :    Số sinh viên trên 10vạn dân của một số nớc - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 1.5 : Số sinh viên trên 10vạn dân của một số nớc (Trang 30)
Bảng 1.4:       Số sinh viên trên thế giới  (ở các cơ sở đại học) - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 1.4 Số sinh viên trên thế giới (ở các cơ sở đại học) (Trang 30)
Bảng 1.7: Tỷ lệ chuyển tiếp và hoàn thành bậc học - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 1.7 Tỷ lệ chuyển tiếp và hoàn thành bậc học (Trang 32)
Hình 2.1: Tổ chức quản lý giáo dục - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Hình 2.1 Tổ chức quản lý giáo dục (Trang 45)
Bảng 2.7:  Số giáo viên các cấp (quốc gia, địa phơng, t nhân) - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 2.7 Số giáo viên các cấp (quốc gia, địa phơng, t nhân) (Trang 82)
Bảng 2.9: Số trờng, học sinh khuyết tật - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 2.9 Số trờng, học sinh khuyết tật (Trang 85)
Bảng 3.1:  sinh viên, giáo viên các trờng đại học, họcviện - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 3.1 sinh viên, giáo viên các trờng đại học, họcviện (Trang 96)
Bảng 3.2: Trình độ học vấn trong công nhân - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 3.2 Trình độ học vấn trong công nhân (Trang 97)
Bảng 3.3: Xu hớng học lên trong thanh thiếu niên Nhật - Tìm hiểu nền giáo dục nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay ( 1946   2007)
Bảng 3.3 Xu hớng học lên trong thanh thiếu niên Nhật (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w