1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc tày, cao lan, sán chí ở bắc giang

62 1,3K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở Bắc Giang
Người hướng dẫn PTS. Trần Viết Thụ
Trường học Trường Đại Học Bắc Giang
Chuyên ngành Văn hóa Dân tộc
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 207,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phong tục tậpquán, tín ngỡng của các dân tộc ít ngời là vấn đề liên quan trực tiếp tới nhữngchính sách của Đảng và Nhà nớc đối với những dân tộc ít ngời trong cả nớc.. Riêng đối với bản

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này bản thân tôi luôn luôn nhận đợc sự giúp đỡ của thầy giáo hớng dẫn Trần Viết Thụ Với sự nỗ lực cố gắng của bản thân và sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình.

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hớng dẫn và xin gữi đến thầy lời cảm ơn chân thành nhất đồng thời qua đây tôi cũng xin gửi tới gia đình và bạn bè lòng biết ơn sâu sắc nhất.

Trang 2

Néi dung 6

Ch¬ng1 : Kh¸i qu¸t vÒ c¸c d©n téc Ýt ngêi ë B¾c Giang 61.1- Vµi nÐt vÒ ®iÒu kiÖn tù nhiªn, con ngêi vµ lÞch sö - v¨n ho¸ 6 B¾c Giang

1.2- Kh¸i qu¸t vÒ d©n téc Tµy, Cao Lan, S¸n ChÝ ë B¾c Giang 16

Ch¬ng 2: Mét sè phong tôc tËp qu¸n, tÝn ngìng truyÒn thèng cña

d©n téc Tµy, Cao Lan, S¸n ChÝ ë B¾c Giang 242.1- Mét sè phong tôc, tËp qu¸n, tÝn ngìng cña d©n téc Tµy 24

2.2- Mét sè phong tôc, tËp qu¸n, tÝn ngìng cña d©n téc Cao Lan 37

2.3- Mét sè phong tôc, tËp qu¸n, tÝn ngìng cña d©n téc S¸n ChÝ 47

Ch¬ng 3: B¶o tån vµ ph¸t huy phong tôc, tËp qu¸n vµ tÝn ngìng cña 62

c¸c d©n téc Tµy, Cao Lan, S¸n ChÝ ë B¾c Giang trong t×nh

h×nh hiÖn nay

3.1- Nh÷ng gi¸ trÞ vµ h¹n chÕ cña phong tôc tËp qu¸n vµ tÝn ngìng

cña c¸c d©n téc Tµy, Cao Lan, S¸n ChÝ ë B¾c Giang 623.2- B¶o tån vµ ph¸t triÓn gi¸ trÞ phong tôc, tËp qu¸n, tÝn ngìng cña

c¸c d©n téc Tµy, Cao Lan, S¸n ChÝ ë B¾c Giang trong t×nh h×nh

Trang 3

biệt là trong bối cảnh hội nhập đang diễn ra hết sức mạnh mẽ Để tiếp thu mộtcánh chủ động sáng tạo những yếu tố văn hoá mới tích cực từ bên ngoài vào,thì chúng ta cần phải chấn hng, bảo tồn và phát huy những phong tục tậpquán, truyền thống văn hoá tốt đẹp của mỗi dân tộc Muốn nghiên cứu mộtcách đầy đủ và có hệ thống về truyền thống văn hoá của dân tộc, chúng ta cầnphải đi sâu tìm hiểu các truyền thống văn hoá ở các địa phơng Những phongtục tập quán, tín ngõng của các tộc ngời thiểu số ở các địa phơng đang là vấn

đề cần có sự quan tâm của mọi ngơì và đặc biệt là các nhà nghiên cứu Với tcách là một bộ phận cấu thành lên nền văn hoà truyền thống, nên ngày nayphong tục tập quán của các dân tộc đợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc vàcác cấp chính quyền địa phơng

Khi nói đến truyền thống phong tục tập quán, tín ngỡng của dân tộcViệt Nam thì không thể không đề cập tới truyền thống phong tục tập quán củacác dân tộc ít ngời ở Việt Nam Ngày nay với sự quan tâm của Đảng và Nhànớc thì những truyền thống phong tục tập quán, tín ngỡng của các dân tộc ítngời ngày càng đợc phát triển với những u điểm tốt đẹp của nó Phong tục tậpquán, tín ngỡng của các dân tộc ít ngời là vấn đề liên quan trực tiếp tới nhữngchính sách của Đảng và Nhà nớc đối với những dân tộc ít ngời trong cả nớc

Do vậy để nghiên cứu các phong tục tập quán của một số dân tộc ít ngời ở BắcGiang cũng phải đặt trên nền tảng phong tục tập quán, tín ngỡng của các dântộc Việt Nam

Riêng đối với bản thân tôi, ngoài sự tìm tòi, học hỏi để hiểu đợc cácphong tục tập quán, tín ngỡng của các dân tộc Việt Nam và vai trò của chúng

đối với quá trình xây dựng nền văn hoá tiên tiến hiện nay, tôi còn muốn tìmhiểu sâu và kỹ hơn nữa về phong tục tập quán, tín ngỡng của một số dân tộc ítngời ở Bắc Giang, địa bàn mà tôi đang sinh sống

Bắc Giang là một tỉnh có truyền thống lịch sử lâu đời Cộng đồng dân

c các dân tộc ở Bắc Giang trong quá trình lao động, đấu tranh xây dựng và bảo

vệ quê hơng đất nớc đă tạo nên những truyền thống văn hoá tinh thần độc đáovừa giàu tính dân tộc vừa thể hiện sắc thái riêng của Điều này đợc thể hiệntrong truyền thống văn hoá của các dân tộc và ngời dân nơi đây Để khôiphục và phát triển truyền thống văn hoá của các dân tộc trên quê hơng, trongnhững năm qua, cán bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có những chính sáchthích hợp nhằm bảo lu phong tục tập quán, tín ngỡng của các dân tộc ít ngời

đã đợc quan tâm đúng mức

Trang 4

Việc đi sâu vào tìm hiểu một số phong tục tập quán tín ngỡng của dântộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở Bắc Giang, không chỉ đa lại những đóng góp vềmặt lý luận khoa học mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Từ đề tài nhỏ này,giúp mọi ngời có cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về truyền thống văn hoácủa một số dân tộc ít ngời ở Bắc Giang, giúp mọi ngời hiểu rõ hơn đời sốngtinh thần, tâm linh đạo đức của họ thông qua phong tục tập quán tín ngỡng

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Tìm hiểu một số phong tục tập quán, tín ngỡng của dân tộc Tày, Cao Lan , Sán Chí ở Bắc Giang”

làm đề tài khoá luận của mình

2 Lịch sử vấn đề:

Bớc vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nớc, cán bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang hơn bao giờ hết cónhu cầu tìm hiểu về đất nớc, văn hoá con ngời Bắc Giang Do đó vấn đềnghiên cứu, tìm hiểu, biên soạn lịch sử các địa phơng đã đợc Đảng bộ, các cấpchính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang chú trọng phát triển.Những mảng đề tài thu hút đợc sự quan tâm của nhiều ngời nghiên cứu thờng

là truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, kinh tế- chính trị, lịch sửthành lập làng xã… Nh Nhng mảng văn hoá làng thôn bản đặc biệt là về phongtục tập quán của các dân tộc ít ngời thì cha có sự chú trọng đúng mức Tuynhiên trong quá trình su tầm, thu thập tài liệu, tôi thấy rằng vấn đề phong tụctập quán, tín ngỡng của các dân tộc ít ngời ở Bắc Giang đã đợc đề cập trênmột số khía cạnh trong các công trình nghiên cứu

Trong cuốn Địa chí Bắc Giang- Lịch sử và văn hoá“ ” do Sở Văn hoá vàThông tin Bắc Giang kết hợp với Tỉnh uỷ- Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giangxuất bản năm 2003 đã giới thiệu cho chúng ta biết đợc hàng ngàn năm lịch sửvăn hoá của các dân tộc và nhân dân tỉnh Bắc Giang Trong đó một phần quantrọng viết về phong tục tập quán, tín ngỡng của các dân tộc Tuy nhiên đócũng không phải là một công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về phongtục tập quán, tín ngỡng của các dân tộc thiểu số ở Bắc Giang

Cuốn Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang“ ”, của Ngô Văn Trụ- Ngô XuânCần (chủ biên), do Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc xuất bản năm 2003, cũng

có đề cập đến phong tục tập quán của một dân tộc thiểu số khác để làm rõ hơnphong tục tập quán của dân tộc Sán Dìu

Tạp chí Văn hoá (cơ quan của Bộ Văn hóa- Thông tin)- Chuyên đề dân

tộc miền núi số 10 (2005) có bài viết Lễ ăn hỏi của ngời Sán Chí ở Sơn

Trang 5

Động- Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Trọng Thanh đã viết rất chi tiết về lễ ăn

hỏi của dân tộc Sán Chí ở Bắc Giang

Cũng tạp chí văn hoá (Cơ quan của bộ văn hoá- thông tin )- Chuyên đề

dân tộc miền núi số 49 (2005) có bài viết Nét văn hoá của ngời Cao Lan ở Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Trọng Thanh đã giới thiệu khái quát về những

nét văn hoá trong cới xin, tang ma của ngời Cao Lan ở Bắc Giang

Tại hội nghị bàn về dân tộc Cao Lan- Sán Chí tổ chức tại Ban Dân tộc

và Miền núi tỉnh Bắc Giang năm 2005, bài tham luận của tác giả Hoàng VănChặng có đề cập đến một số khía cạnh về phong tục tập quán của dân tộc CaoLan- Sán Chí Nhng chủ yếu là để chứng minh sự khác nhau về phong tục củadân tộc Cao Lan và Sán Chí

Mặc dầu đã có nhiều công trình, tài liệu nh vậy, nhng cha có đề tài nàonghiên cứu về một số phong tục tập quán tín ngỡng của dân tộc Tày, Cao Lan,Sán Chí ở Bắc Giang đầy đủ và có hệ thống

Phong tục tập quán, tín ngỡng của dân tộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở BắcGiang là một bộ phận trong phong tục tập quán, tín ngỡng của các dân tộcViệt Nam Bởi vậy, xét một cách toàn diện thì nó mang những đặc điểm chungcủa bản sắc văn hoá Việt Nam, song nó cũng có những nét riêng biệt cần đợcchú ý nghiên cứu

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:

3 1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng của đề tài là tìm hiểu một số phong tục tập quán, tín ngỡngcủa dân tộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở Bắc Giang Chúng tôi đi sâu vào nghiêncứu những nét truyền thống văn hoá trong phong tục hôn nhân cới xin, tang

Tuy nhiên để trình bày vấn đề này có hệ thống hơn, tôi sẽ khái quát một

số vấn đề về địa lý tự nhiên, lịch sử và truyền thống văn hoá của nhân dân cácdân tộc tỉnh Bắc Giang để làm cơ sở cho chúng tôi giải quyết những vấn đề đã

đa ra Đề tài này đợc xác định trong một phạm vi không gian ở tỉnh BắcGiang

Trang 6

Với phạm vi nghiên cứu nh trên, chúng tôi có điều kiện nghiên cứu,

đánh giá xác đáng về sự bảo tồn những giá trị văn hoá tốt đẹp cũng nh bài trừnhững hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan trong một số phong tục tập quán của cácdân tộc ở Bắc Giang

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu:

4 2 Phơng pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu đợc đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp:Phơng pháp nghiên cứu lịch sử và phơng pháp logic, phơng pháp so sánh sửhọc, phơng pháp xác minh phê phán t liệu lịch sử và phơng pháp điền dã sutầm lịch sử địa phơng

5 Bố cục của đề tài:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, nộidung chính của đề tài này đợc trình bày trong 3 chơng

- Chơng 1: Khái quát về các dân tộc ít ngời ở Bắc Giang

- Chơng 2: Một số phong tục tập quán, tín ngỡng truyền thống của các

dân tộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở Bắc Giang

- Chơng 3: Bảo tồn phát huy phong tục, tập quán và tín ngỡng của cácdân tộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở Bắc Giang trong tình hình hiệnnay

Nội dung Chơng 1:

Trang 7

Khái quát về các dân tộc ít ngời ở Bắc Giang

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, con ngời và lịch sử – văn hoá ở Bắc văn hoá ở Bắc

Giang:

1.1.1 Điều kiện tự nhiên:

Bắc Giang là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử gắn bó hữu cơ với cảnớc trong quá trình dựng nớc và giữ nớc Trải qua nhiều thời kì lịch sử vànhững biến động của quá trình bào mòn lục địa, rồi thời kì tạo núi, địa chấtnâng lên hạ xuống nhiều đợt, đã tạo thành những nét riêng biệt về điều kiện tựnhiên của vùng đất Bắc Giang đối với các vùng khác trong cả nớc

Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du ở phía Đông Bắc thuộc vùngTrung du miền núi phía Bắc, nằm trong phạm vi từ 210 37’ đến 210 7’ vĩ độBắc và từ 1050 kinh Đông đến 1070 10’ kinh Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáptỉnh Lạng Sơn, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáptỉnh Thái Nguyên, Tây Nam giáp Thủ Đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh BắcNinh và Hải Dơng.[3;25]

Lãnh thổ Bắc Giang trải dài từ Tây sang Đông, nơi dài nhất khoảng120km; từ phía Bắc xuống phía Nam nơi rộng nhất khoảng 48km, nơi hẹpnhất dài 20km Với diện tích tự nhiên la 3822, 5km2 và dân số trong năm 2005 là1.563, 9 nghìn ngời, Bắc Giang đứng thứ 33 về diện tích và thứ 15 dân sốtrong 64 tỉnh thành phố của cả nớc

Địa lý tự nhiên Bắc Giang chia thành hai vùng: vùng rừng nùi và vùngtrung du Các huyện vùng núi gồm: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế,Tân Yên, Lạng Giang và Yên Dũng Các huyện vùng trung du gồm: HiệpHoà, Việt Yên và Thị xã Bắc Giang

Về địa hình: Vùng miền núi chiếm 4/5 diện tích toàn tỉnh, đồi núi phân

bố trải dài từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Những ngọn núi cao nhấtthuộc dãy núi Ba Vòi (phía Bắc), dãy Bảo Đài và dãy Huyền Đinh (phía Nam)(cao khoảng 1000m) Bên cạnh những dãy núi có nhiều sông ngòi, phân bố t-

ơng đối đều giữa các vùng Trong đó có ba con sông chính: sông Lục Nam(Ninh Đức), sông Thơng (Nhật Đức), sông Cầu (Nh Nguyệt)

Với vị trí địa lí nh vậy, Bắc Giang có thể ví nh chiếc cầu nối giữa cáctỉnh đồng bằng và thủ đô Hà Nội với miền trung du và phía Bắc rộng lớn cũng

nh đất nớc Trung Hoa, tạo điều kiện cho sự giao lu trong các lĩnh vực kinh tếvăn hoá, chính trị giữa miền xuôi , miền ngợc và quốc tế đợc thuận lợi

Trang 8

Bắc Giang có một số trục giao thông (đờng bộ, đờng sắt và đờng thuỷ)quan trọng của quốc gia chạy qua:đờng quốc lộ 1Avà đờng xuyên Việt từ HàNội đến thành phố Bắc Giang (58km) và lên Lạng Sơn (100km), cũng là đờngnối với Trung Quốc Ngoài quốc lộ 1A đi qua Bắc Giang còn có quốc lộ 31( từQuán Thành đến Hữu Sản dài 99km ) quốc lộ 27( Hòn Suy đến cầu Kha dài61km), quốc lộ 279 (từ Ha My đến Tân Sơn ) dài 58 km Các đờng quốc lộ tạonên mối quan hệ chặt chẽ giữa Bắc Giang với Thủ đô Hà Nội và các địa phơngkhác [3;26]

Về đờng sắt có tuyến đờng chính nh : Hà Nội - Đồng Đăng chạy qua,Kép - Uông Bí đi qua các huyện Lạng Giang - Lục Nam đến Quảng Ninh ;Kép- Thái Nguyên chạy qua Lạng Giang - Yên Thế

Các sông Thơng, sông Cầu và sông Lục Nam với tổng chiều dài quatỉnh là 347km; trong số đó có thể khai thác 189 km để tàu thuyền vận chuyểnhàng hoá Ba con sông này hợp nhau lại thành sông Thái Bình Trên các sôngnày có cảng á Lữ ( Sông Thơng), Đáp Cầu ( sông Cầu) làm nhiện vụ trao đổihàng hoá với các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ Các cảng và bến sông khác hoạt

động tơng đối nhộn nhịp, vận chuyển ngời và hàng hoá nh kênh Vàng, bến

Đám, bến Lục Liễu, bến Nhãn, bến Than trên sông Thơng, bến Chũ trên sôngLục Nam… Nh

Đầu mối giao thông quan trọng và cũng là tỉnh lỵ của Bắc Giang làThành phố Bắc Giang Thành phố Bắc Giang nằm trên bờ sông Thơng, có đ-ờng sắt va ga đờng sắt trên tuyến đờng Hà Nội - Lạng Sơn, có đờng quốc lộ1A chạy qua Vị trí trọng yếu của thành phố Bắc Giang đã đợc chứng minhtrong lịch sử Trong thời kỳ đầu những năm 60 của thế kỷ XX ở đây đã xâydựng nhà máy phân đạm Hà Bắc, nhà máy chế biến gỗ, cùng một số xí nghiệpcơ khí, chế biến thực phẩm, dệt, thêu, rèn Nay đã ra đời thêm 4 cụm côngnghiệp với các xí nghiệp may, cơ khí, sửa chữa, chế biến thức ăn chăn nuôi,chế biến nông lâm sản

Với những đặc điểm về địa hình đó có thể nói Bắc Giang tợng trng cho hình ảnh một vùng có địa hình khá phức tạp và đa dạng” Sự phong phú này

cũng đợc thể hiện ngay cả trong khí hậu

Khí hậu Bắc Giang mang những đặc trng của khu vực có khí hậu nhiệt

đới ẩm, gió mùa, có mùa đông lạnh song lại có sự phân hoá theo vùng Nhiệt

độ trung bình trong năm toàn tỉnh từ 22,70C - 240C Số giờ nắng trong năm từ1200h-1800h Những tháng nóng nhiệt độ lên tới 280C- 290C, nhiệt độ cao

Trang 9

nhất có những ngày lên tới 350C- 370C Mùa nóng ở trung du kéo dài từ tháng

4 đến tháng 10, ở miền núi từ tháng 5 đến tháng 10 Nắng nóng đi liền với manhiều, vào mùa này, lợng ma chiếm 80% / năm

Thời tiết ở Bắc Giang cũng khá phức tạp, ở mỗi vùng trong tỉnh luôn cókhí hậu thời tiết khác nhau Một đợt gió mùa Đông Bắc tràn về khí hậu cácvùng trong tỉnh có thể thay đổi trong một ngày trong một ngày ở các huyệnphía Bắc có thể ma to, các huyện phía Nam lại không ma Có vùng ma to,vùng khác lại ma không đáng kể, các huyện phía Bắc và Đông Bắc đangchống hạn, trong khi đó các huyện phía Nam lại đang chống úng

Về tài nguyên thiên nhiên: Với lịch sử hình thành tự nhiên lâu dài và sự

đa dạng về địa hình đã để lại cho Bắc Giang nguồn tài nguyên phong phú baogồm tài nguyên đất, nớc, rừng và khoáng sản… Nh

Sông ngòi, hồ, ao ở Bắc Giang có rất nhiều nguồn lợi kinh tế Hệ thốngsông ngòi, hồ ao không chỉ cung cấp nớc mà còn có ý nghĩa trong phát triểnthuỷ sản nớc ngọt, phát triển du lịch

Đất đai là nguồn lực quan trọng nhất, một tài nguyên quý giá để pháttriển kinh tế- xã hội cũng rất phong phú và đa dạng, bao gồm các loại đất: Đấtferalít thuộc vùng núi có rừng tự nhiên che phủ rất tốt; đất feralít màu vàng,màu đỏ vàng thuộc vùng gò đồi Loại đất này chua, khả năng giữ nớc kém, đấtnày thích hợp trồng các loại cây ăn quả (vải, nhãn, na, chanh, cam… Nh), câycông nghiệp chè; đất feralít đỏ vàng thích trồng cây công nghiệp (đậu tơng,thuốc lá, chè) Đất phù sa trong đê và đất phù sa ngoài đê đợc bồi hàng năm,thích hợp cho phát triển công nghiệp lúa nớc

Rừng ở Bắc Giang có nhiều loại gỗ quý (lim, lát, sến, dẻ) và nhiều dảirừng tre nứa ở Sơn Động, Yên Thế Đến nay trên địa bàn Bắc Giang còn 83, 5ngìn ha rừng tự nhiên (rừng sản xuất là 58, 5 nghìn ha, rừng phòng hộ 19, 1nghìn ha, rừng đặc dụng 5, 5 nghìn ha) và rừng trồng 41, 1 nghìn ha Trongrừng còn có một các loại cây đặc sản, thảo dợc và động vật nh nhựa thông,nhựa tràm, ba kích, sa nhân, đẳng sâm, ngũ gia bì, hà thủ ô, hoài sơn, tắc kè,baba suối, hơu, nai… Nh Bắc Giang còn có rừng cấm nguyên sinh khe Rỗ ở xã

An Lạc huyện Sơn Động có diện tích 7153 ha với hệ thực vật gồm 236 loàithực vật, cây lấy gỗ, 255 loài dợc liệu quý, 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài

bò sát… Nh.[3: 30]

Bên cạnh tài nguyên đất và rừng thì nguồn tài nguyên khoáng sản cũngkhá phong phú và đa dạng Mỏ vàng (Yên Thế), mỏ đồng ở Phong Vân (Lục

Trang 10

Ngạn), mỏ than Đồng Hu, Đông Sơn (Yên Thế), mỏ sắt Sơn Lơng (Yên Thế),

mỏ chì , kẽm ở mỏ Trạng (Yên Thế) … NhĐất sét làm gạch chịu lửa ở Tiên Yên,Việt Yên, cuội sỏi ở Hiệp Hoà, Lục Nam… Nh

Các tài nguyên khác là các nguồn nguyên liệu từ sản xuất nông, lâmnghiệp cung cấp cho công nghiệp nh vùng núi và trung du là vùng sản xuấtcây công nghiệp và cây ăn quả của tỉnh Những sản phẩm hàng hoá nh đỗ t-

ơng, sắn, vừng, lạc và các cây ăn quả mang tính hàng hoá nh vải, mía, dứa… NhKhông những đủ ăn mà còn cung cấp cho các vùng lân cận và nguyên liệu chochế biến nông, lâm sản

Nơi đây còn có nhiều làng quê với các nghề truyền thống nổi tiếng nhlàm đồ gốm, nấu rợu, dệt lụa, đan lát… Nh

Do sự đa dạng về địa hình, khí hậu và tài nguyên thiên, đã ảnh hởng rấtlớn đến mọi mặt của cuộc sống nhân dân Bắc Giang, trong đó có phong tục,tập, tín ngỡng

1 1 2 Quá trình hình thành về mặt hành chính của tỉnh Bắc Giang:

Trải qua các thời kỳ lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày càng có nhiều tên gọi

và quy mô địa giới hành chính khác nhau Thời các vua Hùng, Bắc Giangthuộc bộ Vũ Ninh của nớc Văn Lang Thời kỳ Bắc thuộc, vùng đất Bắc Giangthuộc quận tờng (nhà Tần 214- 209 TCN) gồm ba huyện Long Biên, Bắc Đới,

Kê Từ ( nhà Hán 111 TCN đến 220 SCN) thuộc huyện Long Biên ( nhà Tuỳ,

Ngày 10-10-1895, toàn quyền Đông Dơng ký nghị định thành lập tỉnhBắc Giang gồm hai phủ Đa Phúc và Lạng Giang và sáu huyện Đến trớc Cáchmạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Bắc Giang có 3 phủ, 4 huyện và 1 châu

Ngày 27-10-1962, Quốc hội khoá II nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

ra nghị quyết sát nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh

lỵ đặt tại thị xã Bắc Giang Tỉnh Hà Bắc chính thức thành lập từ 01- 04-1963

Trang 11

Ngày 27-10-1996, Quốc hội khoá IX nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩaViệt Nam ra nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Giang và BắcNinh Tỉnh Bắc Giang đợc tái lập từ ngày 01-01-1997

1.1.3 Vài nét về truyền thống lịch sử - văn hoá:

Theo các phát hiện của Khảo cổ học thì c dân ở vùng đất Bắc Giang đã

có mặt trong lịch sử dân tộc ngay từ những ngày đầu dựng nớc Các nhà khảo

cổ học đã tìm thấy di chỉ đồ đá cũ ở Bố Hạ ( Yên Thế), Chũ ( Lục Ngạn), AnChâu ( Sơn Động); di chỉ đồ đá mới ở Mai Su, Vô Tranh ( Lục Nam), di chỉ

đồng thau ở Hiệp Hoà, Yên Thế… Nh Những chứng tích ấy chứng tỏ Bắc Giang

là vùng đất cổ phát triển liên tục từ hàng vạn năm trớc cho đến ngày nay Trảiqua hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, nhân dân các dân tộc Bắc Giang đãtạo nên cho mình những truyền thống văn hoá với nhiều nét đặc sắc, viết nêncho mình những trang sử vẻ vang

Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang có truyền thống yêu nớc chốnggiặc ngoại xâm kiên cờng bất khuất Trong suốt hàng nghìn năm dựng nớc vàgiữ nớc vùng đất Bắc Giang đã luôn cùng quân dân cả nớc chống lại cuộc xâmlăng của các thế lực bên ngoài

Năm 40, Hai Bà Trng dựng cờ khởi nghĩa chống lại ách thống trị tànbạo của nhà Hán Nhân dân vùng Hiệp Hoà, Yên Dũng, Việt Yên, Yên Thế d-

ới sự chỉ huy của các nữ tớng Thánh Thiên và nữ tớng Dơng Thị Giá đã nổi lênchống lại tên thái thú Tô Định

Trong suốt hàng nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân Bắc Giang cùng nhândân cả nớc không chịu khuất phục, vẫn liên tiếp đứng dậy đấu tranh ách đô hộ,bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc

Bớc vào thời kỳ độc lập tự chủ, dới các triều đại Lý- Trần, nhân dân lộBắc Giang đã phối hợp với nhân dân cả nớc đánh tan 10 vạn quân Tống trênphòng tuyến Nh Nguỵêt và ba lần đánh bại các cuộc xâm lợc của quânNguyên - Mông Trong đó có những trận quyết chiến diễn ra trên đất BắcGiang

Đầu thế kỷ XV, trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, quân và dânBắc Giang đã phối hợp với nghĩa quân do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo, đãlàm nên chiến thắng lịch sử ở Cần Trạm, Hồ Cát, Xơng Giang “ Thắng lợi đó

là chiến công rực rỡ nhất trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta

đầu thế kỷ XV, góp phần cùng quân dân cả nớc chấm dứt 20 năm đô hộ tàn

Trang 12

bạo của nhà Minh”[20;21] Sau đó hơn ba thế kỷ quân dân Bắc Giang lại cùngquân dân cả nớc đánh tan 29 vạn quân Thanh giữ vững nên độc lập dân tộc.[

Ngày 1-9-1858, quân Pháp tấn công vào cửa biển Đà Nẵng mở đầucuộc chiến tranh xâm lợc nớc ta Quân và dân Việt Nam nói chung, nhân dânBắc Giang nói riêng không chịu khuất phục, tiếp tục đứng lên đánh đuổi thựcdân Pháp xâm lợc Hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nhân dân Bắc Giang đã nổ

ra mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do anh hùng Hoàng Hoa Thámlãnh đạo kéo dài gần 30 năm (1884 - 1913) Mặc dù thất bại nhng với lòngdũng cảm và lối đánh du kích tài tình, nghĩa quân Yên Thế đã lập nên nhữngchiến công oanh liệt làm cho quân Pháp bao phen kinh hoàng Sau khởi nghĩaYên Thế nhân dân Bắc Giang vẫn liên tiếp đấu tranh để chống lại thực dânPháp

Từ năm 1930, dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dơng, phongtrào đấu tranh của nhân dân Bắc Giang bớc sang thời kỳ mới với một sứcmạnh phi thờng Cùng với nhân dân cả nớc, nhân dân Bắc Giang đã theo Đảng

đấu tranh trong suốt 15 năm liên tục để làm nên cuộc cách mạng vĩ đại củalịch sử dân tộc - Cách mạng tháng Tám - 1945 Bắc Giang là một trong nhữngtỉnh tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám thành công sớm nhất trong cả nớc

Bớc vào cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, đáp lại lời kêu

gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thà hy sinh tất cả chứ nhất định

không chịu mất nớc, nhất định không chịu làm nô lệ , ” quân và dân Bắc Giang

đã cùng với quân và dân cả nớc vợt lên muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh

và đã giành thắng lợi, góp phần ghi tiếp những chiến công chói lọi vào trong

sử vàng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, hàng triệu lợt ngời trongtỉnh đã đợc huy động phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho cuộc kháng chiến

ở tiền tuyến, nhiều ngời con của Bắc Giang đã lập công xuất sắc trong đó córất nhiều con em thiểu số ở hậu phơng, nhân dân đã thi đua thực hiện thắng

lợi khẩu hiệu Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngời” Trong

cuộc chiến đấu ấy hàng vạn ngời con của Bắc Giang đã hy sinh anh dũng, biếtbao tấm gơng tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã là những tấm g-

ơng sáng cho thế hệ sau noi theo

Nhân dân Bắc Giang còn có truyền thống đoàn kết, tơng thân tơng ái Cũng nh nhiều vùng quê khác trong cả nớc, ngay từ xa xa c dân sốngtrên đất Bắc Giang đã biết làm kinh tế nông nghiệp lúa nớc Do đặc điểm kinh

Trang 13

tế nông nghiệp lúa nớc, nên từ rất sớm ngời dân đã biết tập hợp nhau lại để

đắp đê để bảo vệ mùa màng, ruộng đồng và làng xóm

Thêm vào đó, do nằm ở vị trí chiến lợc quan trọng của đất nớc, là “phên dậu” của kinh thành Thăn Long, ngay từ buổi đầu dựng nớc, nhân dânBắc Giang đã cùng nhân dân cả nớc phải chống lại các cuộc xâm lợc của cáctriều đại phong kiến phơng Bắc

Sống trong hoàn cảnh nh vậy, ngời Bắc Giang sớm đoàn kết gắn bó vớinhau trong cuộc đấu tranh chống chọi với thiên nhiên và giặc ngoại xâm đểsinh tồn Vì thế, tinh thần tơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống thờngngày sớm hình thành trong mỗi ngời dân Ngày nay trong quá trình lao độngsản xuất, xây dựng quê hơng đất nớc, truyền thống đoàn kết quý bấu ấy tiếptục đợc phát huy phát triển ngày càng phong phú, rực rỡ hơn

Bên cạnh truyền thống đoàn kết tơng thân tơng ái, nhân dân Bắc Giangcòn có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo

Với việc các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các di chỉ từ thời đồ đá đến

đồ đồng đã chứng minh trên vùng đất Bắc Giang cách đây hàng vạn năm đã cócon ngời khai phá và sinh sống Trải qua bao thế kỷ khai phá và cải tạo, những

c dân Bắc Giang đã tạo ra những cánh đồng màu mỡ, suốt từ miền xuôi lênmiền núi để cấy lúa trồng hoa màu và các loại cây ăn quả Nhiều loại sảnphẩm quý do ngời Bắc Giang làm ra nổi danh trong cả nớc nh cam sành (BốHạ), dứa sào , vải thiều ( Lục Ngạn), nếp áo hoa vàng, gạo tám thơm… Nh

Ngoài nghề nông nghiệp, từ xa xa Bắc Giang đã hình thành những làngnghề truyền thống: gốm Thổ Hà, bánh đa Kế, đan lát Phúc Long, Phúc Tằng,rèn sắt Đức Thắng, Ninh Khánh… Nh Những mặt hàng thủ công của Bắc Giangkhá nổi tiếng, không chỉ cung cấp cho nhân dân trong vùng mà con có mặt ởnhiều nơi trong cả nớc

Ngời Bắc Giang không chỉ biết làm nghề nông, nghề thủ công mà cònrất thạo nghề buôn bán Từ thời phong kiến, trên đất Bắc Giang đã xuất hiệnnhững trung tâm trao đổi hàng hoá, nhất vào thời Lê, Nguyễn Sách Đại Namnhất thống chí có ghi một trong số chợ lớn của Bắc Giang thời Lê, Nguyễn nhchợ Thổ Hà ( Việt Yên) vào loại lớn nhất của trấn Kinh Bắc thời Lê, chợ ĐứcThắng (Hiệp Hoà), chợ Dĩnh Kế “ quán xá đông đúc hàng hoá nhiều”, chợPhú Xuyên ( Lạng Giang), chợ Vô Tranh ( Lục Nam ngày nay)… Nh

Nhà thơ Lê Quý Đôn đã mô tả chợ Thổ Hà nh sau

“ Đờng thông bãi biển tôm cua rẻ

Trang 14

Đất có nghề nung chĩnh vại nhiều Lên xuống bến đò nh mắc cửi ”

Bài thơ cho chúng ta thấy việc sản xuất, buôn bán trong vùng đã khá tấpnập

Bên cạnh đời sống vật chất, cuộc sống tinh thần của ngời Bắc Giangcũng vô cùng phong phú và đa dạng biểu hiện qua các sinh hoạt phong tục tậpquán, tín ngỡng dân gian, tín ngỡng tôn giáo Bắc Giang có hàng ngàn côngtrình kiến trúc cổ đủ loại lớn nhỏ khác nhau nh : đình, điền, chùa, miếu, phủ,

từ đờng… Nh Mặc dù đến nay nhiều công trình không còn nhng những công trìnhcòn lại đã phần nào chứng minh đợc những di sản nghệ thuật kiến trúc đồ sộ

đáng tự hào của ngời Bắc Giang

Cũng nh nhiều cộng đồng của dân làng xã trong cả nớc, từ lâu nhữngmái đình ngôi chùa cổ kính là hình ảnh gắn bó mật thiết của mỗi làng quê ởBắc Giang, đồng thời cũng là địa điểm diễn ra biết bao là sinh hoạt văn hoá,sinh hoạt tâm linh đầy chất cộng cảm của mọi ngời dân trong mỗi cộng đồnglàng xã xa

Bắc Giang còn có truyền thống lâu đời về học hành khoa cử, đã sản sinh

ra nhiều nhà khoa bảng có phẩm chất tài năng, đóng góp lớn lao cho sự nghiệpphát triển văn hoá dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nớc

Lịch sử chế độ khoa cử Hán học của nớc ta bắt đầu từ thời nhà Lý năm

1075 và kết thúc dới thời nhà Nguyễn năm 1919 Trong 844 năm khoa cửHán học, nớc ta có tổng cộng 187 khoa thi đại khoa (thi Hội, thi Đình) và lấy

đỗ 2291 tiến sĩ Bắc Giang có 66 ngời đỗ đại khoa Làng Yên Ninh ( ViệtYên) có 10 ngời đỗ tiến sĩ, trong đó gia đình Thân Nhân Trung có bốn ngời

đều đỗ tiến sĩ gồm: cha, con, ông, cháu và làm quan cùng triều

Bắc Giang cũng có nhiều danh sĩ nỗi tiếng ra làm quan trong các triều

đại phong kiến và giữ nhiều vị trí quan trọng có phẩm hạnh, khí tiết tốt, đónggóp cho đất nớc về nhiều mặt không làm hổ danh tên tuổi quê hơng Đó làTrạng nguyên Đào Sứ Tích, ngời Sông Khê (Yên Dũng) đỗ Trạng nguyênkhoa Giáp Dần (1374) làm quan đến chức Nhập nội Hành khiển Thời Lê Sơ( thế kỷ XV) có Thân Nhân Trung ngời Yên Ninh (Việt Yên) đỗ tiến sĩ khoa

Kỷ Sửu (1469) là danh sĩ nổi tiếng đợc vua Lê Thánh Tông đánh giá về tài và

đức và đợc ngời đơng thời tôn vinh là bậc “ danh nho trùm đời”, ông làm quan

đến chức Đông các Đại học sĩ kiêm tế tiểu Quốc Tử Giám, Lại bộ Thợng th,Nhập nội Phụ chính Thời Mạc có Trạng nguyên Giáp Hải ( 1057-1586), ngời

Trang 15

Dĩnh Kế, đỗ Trạng nguyên năm 1538 làm quan đến Lục bộ Thợng th tớc SáchQuận công Thời Lê Trung Hng có Trần Đặng Tuyển (1614-1673), ngời làngHoàng Mai (Việt Yên) đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640) làm Tể tớng Ngoàinhững danh sĩ trên đây Bắc Giang còn có nhiều khác ngời làm quan cống hiếnnhiều cho đất nớc

Truyền thống văn hoá của nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang là thànhquả hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cờng, xây dựng và bảo

vệ quê hơng, đất nớc, là kết quả của quá trình giao lu tiếp xúc văn hoá củanhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Truyền thống văn hoácủa dân tộc nhân dân Bắc Giang không ngừng đợc phát huy phát triển trongthời đại ngày nay

1 2 Khái quát về dân tộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở Bắc Giang.

1 2 1 Giới thiệu chung

Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du ở phía Đông Bắc thuộc vùngtrung du miền núi ở phía Bắc Tỉnh có 9 huyện 1 thành phố với 229 xã, phờng,thị trấn trong đó có 169 xã miền núi – văn hoá ở Bắc vùng cao Diện tích vùng núi BắcGiang là 3415km2- 3822, 5km2, chiếm hơn 4/5 diện tích; dân số miền núi là1.090.000 ngời /1.551.197 ngời, chiếm 70% dân số toàn tỉnh Có 25 dân tộcthiểu số với 37.945 hộ, dân số 189.170 ngời, chiếm 12, 3% dân số toàn tỉnh.Các dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở các xã miền núi, vùng cao của 6huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang.[13;1]

1 2 2 Dân tộc Tày:

Dân tộc Tày là một trong những dân tộc chiếm số đông, trong thànhphần dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống tại tỉnh Bắc Giang Theo thống kêcủa cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở, ngày 01- 04-1999, cả tỉnh có 38 191ngời dân tộc Tày, phân bố hầu hết trên các huyện miền núi nh Lục Nam có7.117 ngời, c trú ở các xã Bảo Sơn, Đông Phú, Nghĩa Phơng, Tam Dị HuyệnLục Ngạn có 10.920 ngời c trú ở các xã Biển Động, Biển Sơn, Đồng Cốc,Phong Minh, Phong Vân, Giáp Sơn, Tân Hoa, Tân Quang, Tân Sơn, ThanhHải, Quí Sơn, Xa Lý Huyện Sơn Động có 14.104 ngời, c trú ở các xã: An Bá,

An Lạc, An Châu, Bồng An, Cẩm Đàn, Dơng Hu, Giao Liêm, Hữu Sản, Tuấn

Đạo, Phúc Thắng, Thuận Sơn, Vĩnh Thơng Huyện Yên Thế có 3.394 ngời, ctrú ở các xã: An Thợng, Canh Nậu, Đồng Hu, Đồng Lạc, Tam Tiến, TiếnThắng

Trang 16

Dân tộc Tày ở Bắc Giang có nguồn gốc chủ yếu là di c từ Lạng Sơnxuống và từ các tỉnh miền núi phía bắc đến định c lâu dài ở đây Trong đó một

bộ phận lớn mới từ các huyện giáp ranh của tỉnh Lạng Sơn di c xuống vào trớcCách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp nên tổ chức bản m-ờng truyền thống của đồng bào không tiêu biểu nh thiết chế của các đồng bàoTày “gốc”, ngợc lại có quan hệ nhiều với thiết chế hành chính và cơ cấu tổchức của làng xã ngời Việt Mỗi bản có thẩu bản đứng đầu, có nơi là chứckhán thủ, hay khán trại

Bản của ngời Tày đợc lập trong các thung lũng ruộng nớc, ven đờnggiao thông hay ven suối Bản có địa vực riêng với phạm vi canh tác đồi núi,sông suối, rừng cây đợc xác định rõ rệt, thuộc quyền sở hữu chung của cả bản

Bản là tập hợp của nhiều gia đình Trớc Cách mạng Tháng Tám, mỗibản chỉ thờng từ 15- 20 gia đình Từ sau Cách mạng Tháng Tám, đời sống của

đồng bào từng bớc đợc cải thiện, dân số tăng lên nhanh chóng nên số gia đìnhtrong bản cũng tăng lên đáng kể, khoảng 60 - 70 nóc nhà Mỗi bản thờng tậptrung vài ba dòng họ Tuy các họ thờng có xu hớng sống co cụm trong mộtkhu vực của bản, nhng quan hệ láng giềng vẫn nổi trội và ngời Tày rất coi

trọng tình cảm láng giềng nh ngời Việt, thể hiện ở câu tục ngữ “ phi noọng tam tô, bó tay phi noọng só rừng” (anh em ruột không bằng bà con ở ngay bên

cạnh) Tính cộng đồng trong làng bản của ngời Tày rất cao thể hiện ở sự quantâm giúp đỡ lẫn nhau khi mỗi gia đình có ngời bị ốm đau, hoạn nạn hay cóviệc cới xin, làm nhà và cả trong sản xuất

Nhà ở truyền thống của dân tộc Tày ở Bắc Giang thờng đợc xây dựngtheo kiểu nhà trệt, tờng trình, các bộ vì kèo đơn giản gồm 5 hàng cột đỡ, ít cửa

sổ ngói máng, nhà nào cũng có sàn gác để chứa vật dụng Những ngôi nhàtruyền thống ấy thờng thiếu ánh sáng chật chội Ngày nay do kinh tế phát triểnnên có những gia đình đã xây dựng nhng ngôi nhà kiểu mới, hình thức hiện

đại hơn Hình thức các ngôi nhà đã thay đổi so với các ngôi nhà truyền thôngsong đi sâu vào nét sinh hoạt văn hoá và nhất là đời sống tâm linh thì đồngbào vẫn giữ đợc khá nhiều nét văn hoá truyền thống

Về hoạt động kinh tế: Dân tộc Tày ở Bắc Giang đã biết canh tác lúa nớclâu đời, họ triển khai nông nghiệp đa dạng phù hợp nhiều địa hình khác nhauruộng nớc, nơng rãy, làm vờn Trong đó loại hình nông nghiệp ruộng nớc làquan trọng nhất, đợc đồng bào gọi là “nà”, có “ nà nặm” ( ruộng nớc) canh tác

Trang 17

hai vụ một năm, “ nà lẹng” ( ruộng chờ ma), ruộng “ nà lụm” ( ruộng lầythụt)

Canh tác lúa nớc cho năng suất cao, đời sống ổn định Vì vậy c trú ởnhững triền đồi thấp, đồng bằng nên bà con dân tộc Tày trên hầu hết cáchuyện của Bắc Giang đều có ruộng nớc ổn định Trớc đây đồng bào Tày canhtác chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm dân gian Ngày nay họ đã biết cách

áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng Bên cạnh sử dụngphân bón truyền thống, đồng bào đã sử dụng khá thành thạo phân bón hoáhọc, sử dụng các loại thuốc trừ sâu hoá học để trừ sâu bệnh

Ngoài ngành kinh tế sản xuất lúa nớc thì đồng bào Tày còn chăn nuôigia súc: Trâu, bò, lợn Nhng trâu bò đựoc nuôi chủ yếu với mục đích lấy sứckéo phục vụ cày bừa Chăn nuôi gia cầm nh gà, vịt, chủ yếu là phục vụ chonhu cầu trong sinh hoạt của gia đình

Bên cạnh sản xuất lúa nớc, chăn nuôi, ngày nay hầu hết các gia đình

ng-ời Tày đã có vờn, đồi cây ăn quả lâu năm nh cây vải, cây hồng… Nh

1 2 3 Dân tộc Cao Lan

Dân tộc Cao Lan cũng là một trong 7 thành phần dân tộc thiểu số chiếm

số đông hiện đang sinh sống tại tỉnh Bắc Giang, là c dân thuộc nhóm ngônngữ Tày Thái Ngời Cao Lan thờng đợc gọi là ngời Trại Cho đến nay ngờiCao Lan ở Bắc Giang vẫn tự nhận mình là dân tộc Cao Lan ( Hờn Bán) Vì tr-

ớc đây các nhà nghiên cứu ngời Pháp và một số nhà nghiên cứu trong nớc chorằng: Ngời Cao Lan là một bộ phận của dân tộc Dao)

Theo lời kể của ông Đàm Quang Tài (85 tuổi), ở thôn Tam Hiệp, xã An

Lập, huyện Sơn Động và theo cuốn Địa chí Bắc Giang- Địa lý và kinh tế“ ” thìnguồn gốc của ngời Cao Lan ở Bắc Giang là từ Quảng Đông, Quảng Tây, D-

ơng Châu, Quý Châu (Trung Quốc) di c sang Việt Nam khoảng 300 năm nay

Đến Việt Nam, ngời Cao Lan c trú ở tỉnh Quảng Ninh sau dó di c đến cáchuyện miền núi của tỉnh Bắc Giang

Thao số liệu của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, ngờiCao Lan ở Bắc Giang có 1.160 hộ với 8.499 nhân khẩu, sống tập trung thànhlàng bản, chủ yếu ở 4 huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế Tạihuyện Sơn Động, ngời Cao Lan c trú ở các xã: An Châu, Yên Định, Bồng Am,

An Bá, Vân Sơn, An Lập, An Lạc và Giáo Liêm Tại huyện Lục Ngạn c trú ởcác xã Đèo Gia, Phú Nhuận Đồng Cối, Xa Lý Tại huyện Lục Nam c trú ở các

Trang 18

xã Nghĩa Phơng, Bình Sơn, Lục Sơn Tại huyện Yên Thế c trú ở các xã XuânLơng, Đồng Ương, Tam Tiến

Về cấu trúc làng bản và nhà ở: Làng bản của ngời Cao Lan đợc lập ởnhững sờn đồi, những gò bãi bằng phẳng, những thung lũng hoặc dới chânnhững ngọn núi thấp Làng bản thờng dựa vào đồi và nhìn ra cánh đồng

Xa kia ngời Cao Lan thờng sống thành từng chòm xóm nhỏ, nhà nọ ờng cách nhà kia rất xa, làng bản cũng phân bố rải rác, đờng giao thông chậthẹp, lầy lội, đi lại khó khăn, nhà cửa nhỏ bé, lụp xụp tồi tàn, làng bản trôngtiêu điều ảm đảm

Ngày nay thôn bản đợc mở rộng hơn, trù phú hơn, chỗ ở đợc chọn ờng là nơi có ruộng, có nguồn nớc phục vụ cho sinh hoạt sản xuất, đồng thờicũng ở gần rừng để khai thác lâm thổ sản phục vụ cho cuộc sống Đờng tronglàng bản cải tạo, đợc mở rộng và sửa chữa giúp cho việc vận chuyển đi lạithuận lợi, dễ dàng

th-Thuở ban đầu, nhà ở của ngời Cao Lan thờng là nhà sàn T những năm

60 của thế kỷ XX, những ngôi nhà sàn của đồng bào đã nhờng chỗ cho nhữngngôi nhà đất Do vậy hiện nay những ngôi nhà sàn còn lại rất ít ở Bắc Giang

Ngôi nhà sàn cổ xa của ngời Cao Lan có kết cấu đơn giản, có hai loại

nhà Nhà nhỏ có 2 cột cái, 22 cột con, đợc gọi là tạc và“ ” , loại nhà lớn có 4

cột cái, 20 cột con, đợc gọi là Làn Lan ” ” Nhà gồm 2 tầng: tầng trên dành chongời ở và sinh hoạt, tầng dới dành cho trâu, bò, lợn, gà ở Trong tầng trên chialàm nhiều ô để các thành viên ở theo thứ bậc trong gia đình Lên nhà sàn bằngcầu thang, khách và chủ vào nhà đều phải để dép, guốc ở giữa cầu thang thứnhất và thứ hai

Ngôi nhà ngày nay của ngời Cao Lan thờng là nhà tranh bằng đất hoặcxây bằng gạch Một khuôn viên của gia đình gồm một ngôi nhà chính 4 hoặc

3 gian, nhà bếp 2 đến 3 gian, khu chuồng trại nuôi và nhà vệ sinh

Về hoạt động kinh tế: Cũng nh các dân tộc thiểu số khác sinh sống ởvùng núi thấp, ngời Cao Lan lấy việc trồng lúa nơng và cây lơng thực kháctrên đất dốc là hoạt động kinh tế chủ đạo, ngoài ra họ còn tận dụng nhữngkhoảng đất bằng phẳng để trồng lúa nớc

Xu kia, việc canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Những năm mathuận gió hoà thì có đủ lơng thực, còn những năm thời tiết không thuận lợi sẽ

bị mất mùa Ngày nay ngời Cao Lan cũng đã biết áp dụng những kỹ thuậtkhoa học vào canh tác, sản xuất nh dùng phân hoá học để bón cho cây trồng,

Trang 19

sử dụng các loại thuốc hoá học để phòng trù sâu bệnh… Nhnên năng suất thuhoạch tăng lên, đời sống của đồng bào ổn định hơn

Ngoài cây lúa là cây lơng thực chính, đồng bào còn có các loại cây lơngthực, thực phẩm khác nh: ngô, khoai lang, sắn, củ từ củ mỡ, lạc, đỗ tơng,khoai sọ, cà, mía, chuối, dứa… Nh để phục vụ cuộc sống hàng ngày và để trao đổimua bán Bên cạnh đó đồng bào còn trồng các loại cây ăn quả lâu năm đem lạihiệu quả kinh tế cao nh cây vải thiều, cây hồng, cây bông vải… Nh

Bên cạnh trồng trọt, nghề chăn nuôi ở ngời Cao Lan tơng đối phát triển

và chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế đồng bào Các con vậtchủ yếu đợc nuôi trồng trong gia đình nh: lợn, trâu bò, gia cầm, chó; trâu bò

đợc nuôi để cày, bừa, kéo gỗ và đôi khi còn để bán Mỗi gia đình nuôi 1-2 đến5- 6 con trâu Lợn cũng đợc nuôi hầu hết trong các gia đình ngời Cao Lan,mỗi nhà nuôi từ 1-4 con lợn thịt, chó mỗi gia đình nuôi một đến hai con để giữnhà Gia cầm có vịt, ngan, gà, ngoài dùng làm thức ăn hàng ngày còn để phục

vụ cho các ngày lễ, ngày cới, ngày tang hoặc để tiếp đãi khách

1 2 4 Dân tộc Sán Chí:

Dân tộc Sán Chí cũng là một trong bảy thành phần dân tộc thiểu số

đang sinh sống ở Bắc Giang Sán Chí hay Sán Chỉ là tên tự gọi của đồng bào.Ngời Sán Chí ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang cho rằng tên chính thức củadân tộc của Sán Chí phải gọi là Sán Chay vì trong ngôn ngữ của họ chữ Chay

và chữ Chí đều chỉ một loại quả Tuy nhiên chữ Chí chỉ quả rừng còn chữChay là tên chung chỉ cả quả rừng và quả do ngời trồng Họ cho rằng chữChay thể hiện rõ về một dân tộc đã có kinh tế trồng trọt hơn là chữ Chí mớichỉ thể hiện tính chiếm đoạt (hái lợm) và quan trọng nhất là tên gọi Sán Chaynày nói rõ dân tộc Sán Chí không bao gồm nhóm Cao Lan

Theo “Địa chí Bắc Giang- địa lý và kinh tế”,[4] thì dân tộc Sán Chí làmột dân tộc thiểu số sống ở miền núi phía tây-nam tỉnh Quảng Đông, TrungQuốc, khoảng 300-400 năm trớc đây do không chịu đợc sự chèn ép của ngờiHán, nên một bộ phận của dân tộc Sán Chí đã tìm đờng di dời xuống phía namtheo ngả Lạng Sơn vào c trú ở các huyện Lộc Bình, Văn Lang (Lạng Sơn) vàhuyện Lục Ngạn, Lục Nam (Bắc Giang), một bộ phận khác đi theo đờng biểnvào c trú ở tỉnh Quảng Ninh

Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số nhà ở ngày 01-04-1999,

ng-ời Sán Chí ở Bắc Giang có 23.762 ngng-ời, họ sống tập trung nhiều ở các xã Xa

Lý, Kiên Lao (huyện Lục Ngạn); xã Lệ Viễn, An Lạc (huyện Sơn Động); xã

Trang 20

Bình Sơn, Lục Sơn ( huyện Lục Nam và huyện Yên Thế) Ngời Sán Chí ở BắcGiang cũng sinh sống thành thôn bản, làng xóm, ít ai ở lẻ một mình trongvùng

Cấu trúc nhà ở truyền thống của ngời Sán Chí là nhà sàn, nửa sàn vànửa đất Hiện nay chủ yếu là nhà đất và có những gia đình khá giả thì cũngxây nhà gạch Hớng nhà ở thờng phải tuân theo sự kiêng kỵ của dòng họ hoặccủa ngời chủ nhà Riêng đối với hớng Tây, dẫu không có kiêng kỵ thì theokinh nghiệm của đồng bào cũng không làm nhà hớng này sẽ bị hắt nóng oi ảvào mùa hè và gió bức lùa vào mùa đông

Ngày nay hầu hết nhà mới làm đều bắt chớc ngôi nhà ba gian hai cháicủa ngời Kinh, và cách bố trí trong nhà cũng tơng tự Tuy nhiên, về tâm lý,nhất là đối với ngời già, đồng bào vẫn thích ở nhà sàn cổ truyền hơn, cho nênthờng có hiện tợng bên cạnh ngôi nhà mới xây vẫn giữ lại chiếc nhà sàn cổtruyền đợc rút gọn

Hoạt động kinh tế : Cũng nh dân tộc cùng sinh sống ở vùng núi thậpthuộc trung du Bắc Bộ, ngời Sán Chí là một trong những c dân sớm hình thànhngành kinh tế trồng trọt Loại hình kinh tế nơng rãy, trồng trọt trên đất dốc làkinh tế cơ bản và chủ đạo của ngời Sán Chí Tuy nhiên, họ cũng sớm tiếp nhậnloại hình kinh tế lúa nớc từ các dân tộc sống ở vùng thấp hơn, đặc biệt là kinhnghiệm trồng lúa trên ruộng bậc thang Kỹ thuật trồng lúa nớc đã đạt trình độcao, nhng không vì thế mà kinh tế nơng rãy mất đi vai trò quan trọng của nó.Ngoài trồng trọt, các hoạt động kinh tế khác nh chăn nuôi, thủ công gia đình,săn bắt, hái lợm vẫn đóng vai trò phụ trợ và mang đậm tính tự cung tự cấp

và khép kín Trồng trọt đem lại nguồn lơng thực cố định, đáp ứng nhu cầu sửdụng hàng ngày trong khi săn bắt, hái lợm đã cung cấp thêm nguồn dinh d-ỡng từ động vật và thực vật hoang dã Kinh tế chăn nuôi đợc hình thành để tậndụng số lơng thực thừa thãi, chủ yếu để phục vụ các dịp lễ tết

ở Lục Ngạn và Sơn Động chăn nuôi và trồng cây ăn quả nh vải, nhãn,hồng đang dần trở thành nguồn thu nhập chính trong các gia đình Tuynhiên, trồng lúa vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế của đồng bào

chơng 2

Trang 21

Một số phong tục tập quán, tín ngỡng truyền thống của

dân tộc Tày, Cao Lan, Sán Chí ở Bắc Giang

2 1 Phong tục tập quán, tín ngỡng của dân tộc Tày

2 1 1 Phong tục tập quán:

2 1 1 1 Hôn nhân và cới xin

Trong tục lệ hôn nhân truyền thống của ngời Tày ở Bắc Giang trớc đây,con trai, con gái ngời Tày không có quyền quyết định trong việc hôn nhân củamình mà do bố mẹ áp đặt theo quan niệm “ môn đăng hậu đối “ Trong gia

đình ngời Tày, khi có con trai lớn tuổi (từ 12 tuổi trở lên), bố mẹ lo tìm vợ chocon Cũng nh nhiều dân tộc thiểu số khác thì một cuộc hôn nhân, cới xin củangời Tày gồm rất nhiều bớc, các bớc trong một cuộc hôn nhân, cới xin đợcthực hiện nh sau:

- Lấy lá số (Au lạc mình)

Khi đã ớm đợc một cô gái nào vừa ý cho con trai mình, về mặt phẩmchất và phẩm hạnh, có thể chấp nhận làm dâu nhà mình, ông bố (hoặc nhờ chúbác ruột, có khi là anh ruột nếu đã đứng tuổi hoặc tỏ ra chững chạc) đem lễ vậtgồm : một cân thịt lợn, một chai rợu, một đồng bạc, hai hộp chè và bánh kẹo

đến đặt vấn đề với nhà gái Nếu chấp thuận, nhà gái nhận lễ vật và ghi lá sốcủa cô gái (ngày, giờ, tháng, năm sinh của cô gái theo tuổi âm lịch) giao chongời mối đem về trình nhà trai

Sau khi nhận lá số, cha mẹ nhà trai chọn ngày lành tháng tốt tìm thầy tớng số,hoặc thầy tử vi xem giúp số mệnh hợp nhau hay khắc nhau, cuộc sống tơng laicủa đôi bạn trẻ tơng lai của đôi vợ chồng trẻ nh thế nào vv

- Báo lá số:

Nếu thấy đôi trâi gái không hợp nhau thì nhà trai đem trả lại, nếu hợpnhau thì ngời đại diện của nhà trai (ông mối) mang một cân thịt lợn, một chairợu đến trình bày với nhà gái Nhà gái nhận lễ vật, mổ gà, làm cơm mời đạidiện nhà trai ăn Hai bên bàn định ngày lễ ăn hỏi

- Lễ ăn hỏi: (lễ vấn danh)

Sau lễ báo cáo lá số là lễ ăn hỏi Theo đúng thoả thuận, đến đúng ngày

-ớc định, hai gia đình tiến hành tổ chức lễ ăn hỏi trang trọng Ngày làm lễ ănhỏi phải đợc nhà trai báo trớc khoảng một tháng trớc trở lên để nhà gái có đủthời gian mời họ hàng bạn bè thân thích

Trang 22

Trong lễ ăn hỏi hai bên lại tiếp tục bàn bạc và quyết định nhiều vấn đềquan trọng nh lễ vật dẫn cới, lễ hồi môn, lễ xin ngày cới, ngày cới, ngày giờ

đón dâu

Đoàn dẫn lễ ăn hỏi của nhà trai gồm có ông mối, một ngời đại diện(ngời lớn tuổi có uy tín trong họ) thay mặt nhà trai, chú rể và hai chàng trai trẻkhoẻ để gánh lễ vật Trớc đây ở vùng Lục Ngạn lễ vật trong lễ ăn hỏi gồmnăm con gà trống hoa loại từ một kg trở lên, năm lít rợu, hai rá xôi cùng trầucau, vỏ thuốc Hiện nay lễ vật là mời kg thịt lợn, hai kg gà và mời chai rợu, 2rá xôi cùng trầu cau, vỏ thuốc) đến nhà gái Nhà gái nhận lễ vật trớc sự chứngkiến của họ hàng rồi mổ gà ăn cỗ, mời họ hàng và nhà trai cùng ăn Xong haibên trao đổi bàn định số lợng lễ vật thách cới Theo phong tục trớc Cáchmạng tháng Tám, nhà trai phải mang đến nhà gái số lợng lễ vật tuỳ theophong tục của tùng vùng Chẳng hạn:

Một khoản tiền trị giá bằng tiền mua một con trâu mộng to (vùng LụcNgạn thờng bằng 120 đồng bạc trắng, ở vùng Sơn Động khoảng 50 đồng bạctrắng)

Một tạ thịt lợn (số thịt này đợc nhà gái cân lại, nếu thiếu nhà trai phải

bù cho đủ) và một con lợn quay khoảng 30 kg trở lên

120 bánh giày to bằng cái đĩa, tính trung bình mỗi kilogam gạo chỉ làm

đợc 3 chiếc bánh (ở vùng Sơn Động là 40 kg gạo, 30kg nếp, 10kg gạo tẻ)

Rợu tuỳ đám, có đám 50- 70 lít có đám 60- 100 lít

Thuốc lào nửa bánh (tơng đơng 1 lạng, hoặc 1 lạng thuốc phiện) Theo

nh lời kể của cụ Dơng Văn Muộn, ngời dân tộc Tày (năm nay 76 tuổi), ở xóm

gà, xã Văn Sơn, huyện Sơn Động thì “từ đầu những năm 60 đến những năm

đầu của thập kỷ 90, số lễ vật này hầu nh không thay đổi, từ đầu thập kỷ 90 trở

đi số lễ vật trên đợc quy đổi bằng tiền” Hiện nay số tiền đã giảm hẳn, chỉ là 2triệu đồng, nhà trai mang đến nhà gái trớc ngày cới 1 tuần

- Lễ báo ngày cới:

Trong lễ ăn hỏi nếu đã xác định đợc ngày cới thì nhà trai thông báoluôn với nhà gái Nhng nếu cha xác định đợc thì sau này, khi thông báo chonhà gái thì nhà trai phải sắm một số lễ nhỏ mang sang nhà gái xin báo ngàycới (lễ báo ngày cới) Nhà trai cử ngợi đại diện thân thuộc mang 1 con gà, mộtchai rợu, một ít gạo nếp sang nhà gái để bàn mọi việc cho ngày cới nh : ấn

định ngày cới, ngày giờ nhà trai mang lễ vật thách cới sang , ngày giờ đóndâu

Trang 23

- Lễ cới:

Cũng nh các dân tộc khác ở Bắc Giang, đối với đồng bào Tày, thì thờigian thuận lợi để tổ chức đám cới là từ tháng 7 đến tháng 2 năm sau (âm lịch).Vì đây là khoảng thời gian mát mẻ và nông nhàn, nên công việc tổ chức đợcthuận lợi hơn

Hai bên gia đình đều tổ chức lễ cới trong hai ngày Ngày hôm truớc nhàtrai mang lễ vật thách cới ( nh đã định) sang nhà gái Nhà gái kiểm tra lại rồilàm cỗ mời họ hàng ăn uống từ chiều hôm trớc cho đến hếtt ngày hôm sau.Các vị khách mời dự lễ cới đều có lễ vật mừng cho gia chủ bằng tiền haybằng vật Nhà chủ cử một ngời thân giữ sổ ghi lễ mừng của khách để sau nàybiết mà đi trả nợ

- Lễ đón dâu:

Theo ớc định, đúng ngày tốt, giờ tốt ( nh đã chọn trớc), đoàn đón dâunhà chú rể bắt đầu ra cửa đi đón dâu Đoàn đón dâu gồm có: 4 nam giới, 1 nữgiới có tuổi thay mặt họn hàng để đón dâu, lại nhờ thêm 2 phù rể, 1 nữ giớigánh trầu cau cùng chú rể đến nhà gái Khi nhà trai đến nhà gái, họ bị chặnlại trớc cổng bằng 1 “cửa tiên” ( một cổng làm bằng tre uốn cong, dới cổng

đặt một cái bàn phủ vải đỏ, trên bàn đặt 1 chai rợu và 1 cái chén Nhà trai phải

đặt lên đó một ít tiền tợng trng (trớc đây là 1 đồng hai hào hiện nay là 10000

đồng) thì nhà gái mới cho vào Nếu không có thì đoàn đón dâu phải hát đối

đáp với nhà gái nếu thắng thì đợc vào nếu thua thì hai đại diện nhà trai phảiuống rợu rót ra từ trai ở trên bàn , bao giờ say hoặc không muốn uống nữaphải có lời xin thì nhà gái mới cho vào Nhà gái cũng cử một đoàn đa con vềnhà chồng Đoàn đa dâu chủ yếu là phụ nữ gồm hai ngời có tuổi, coi nh thaymặt ông bà ngoại của cô gái (gọi là ông bà ngoại giả) và hai cô gái phù dâu

Nhà trai đợc nhà gái đón tiếp trang trọng, có đám thì mời ăn cơm, có

đám thì mời trầu, nớc, ăn kẹo, hút thuốc sau lễ đón tiếp nhà trai, đến giờdâu ra cửa (đúng giờ tốt mới đợc ra cửa) Cô dâu chú rể làm lễ gia tiên, trớc sựchứng kiến của hai họ rồi cùng đoàn đón dâu trở về nhà trai Trên đờng về nhàtrai, nếu gặp cầu, sông, suối, cô dâu thờng dừng lại để trả tiền” đò” qua sông,tiền đợc ném xuống sông Khi về đến nhà trai, nếu cha đến giò tốt thì phải đợingoài bao giờ đúng giờ tốt mới đợc vào nhà

Về tới nhà chồng, ngời Tày có tục làm lẽ tẩy uế những thứ không lành

ám vào cô dâu trên đờng đi: “Về đến nhà trớc khi cô dâu vừa bớc vào cửa, mộtphụ nữ thuộc hàng cô, dì , thím của chú rể làm nhiệm vụ gác cổng ( kẻ cài)

Trang 24

cho cô dâu nấp sau cánh cửa, cạnh cánh cửa đặt một chậu nớc có khăn ( cảchậu và khăn đều mới) Khi cô dâu vừa bớc vào cửa, bà kẻ cài bất thần lấykhăn trong chậu nớc úp vào mặt cô dâu và rửa tẩy cho hết vía độc và nhữngkhông may trên đờng đi:” [ 4;194] Sau đó cô dâu và hai phù dâu vào trongbuồng khoảng 30 phút thì nhà trai bng vào một mâm cơm gọi là mâm “mìlô”(mâm cô dâu) gồm một bát rau xào, một bát gạo sống, một bát cơm, mộtbát muối , một đĩa thịt, một bát nớc, một chén rợu Tất cả các bát đợc úp kín,cô dâu phải mở một bát bất kì trong mâm để thử may hậu vận của mình khi vềsống với chồng mình sau này trớc sự chứng kiến của hai ngời đóng vai trò là

ông bà ngoại của mình

Nếu mở đợc bát có cơm, gạo, thịt là điều tốt, cô dâu sẽ may mắn saunày có bát ăn bát để

Mở đợc các bát có rau, muối là không tốt cô dâu làm ăn khó khăn

Mở đợc bát có rợu, chén nớc cô dâu sẻ gặp nhiều không may nhng mọikhông may đó sẽ qua khỏi [4]

Sau khi cô gái thực hiện xong nghi lễ này Hai ngời đóng vai trò ông bàngoại của cô dâu sẽ báo lại cho bố mẹ chồng của cô dâu biết về việc mở vậnmay này, để bố mẹ cô biết lợng tính đờng ăn nết ở và tìm hớng xử lý các tìnhhuống trong đờng làm ăn cho cô dâu về sau

Đến giờ quy định, bà đa chân cô dâu ra lễ tổ tiên và nội ngoại bênchồng Thờng ngời ta lập danh sách họ hàng theo thứ bực trên dới và đọc têntừng ngời để lễ, đồng thời qua đó để cô dâu nhận mặt họ Một lúc sau nhà gái

ra về Cô dâu ra ngoài rạp dọn dẹp

- Lễ lại mặt

Lễ lại mặt đuợc tiến hành khi cới ba ngày (hiện nay đợc tiến hành ngayngày hôm sau ) Cô dâu trở về nhà mình, có em gái cùng đi Hai ngời đi đợcvài phút thì chồng theo sau, mang theo hai con gà, một rá xôi, một chai rợu

Đến nhà bố mẹ vợ mổ gà cùng ăn Chàng rể chỉ lại nhà vợ một ngày để đithăm và nhận mặt họ hàng bên vợ Trớc đây, trong vài năm đầu cô dâu chỉ vềnhà chồng trong các dịp lễ tết hay thu hoạch mùa màng Chỉ khi nào sắp sinhcon cô mới về nhà chồng(hiện nay ở hẳn nhà chồng sau ngày cới) Trong thờigian đó, nhà trai phải “ sêu tết” (mang lễ sang nhà gái trong các ngày lễ tết)

đều đặn mổi năm 2 kỳ vào những ngày nhà gái có công việc và chàng rể đếnlàm giúp

Trang 25

Cho đến nay, đám cới của ngời Tày đã có nhiều thay đổi, nhiều nghithức rờm rà đã không còn rờm rà đã không còn duy trì Trai gái đợc tự do tìmhiểu, lựa chọn bạn đời Nhiều nghi lễ đợc tổ chức theo phong tục của ngờiKinh

2 1 1 2 Tang ma:

Do chịu ảnh hởng của Phật giáo, kết hợp với tín ngỡng bản địa ngời Tày

ở Bắc Giang cũng có quan niệm cuộc sống ở trần gian chỉ là tạm thời, cái chếtmới là vĩnh hằng, và sự ăn ở lúc sống của từng con ngời ảnh hởng đến sự chếtcủa ngời đó (trở thành ma lành hay ma giữ) từ đó có thể đem lại hạnh phúchơn cho con cháu Chính vì tin rằng những ngời đã chết sang thế giới bên kiavẫn có mọi nh cầu nh ngời đang sống, nên khi cử hành chôn cất ở ngời Tày th-ờng diễn ra những nghi lẽ hết sức phức tạp Một đám tang bình thờng theotrình tự sau:

ở bất cứ gia đình nào, khi trong nhà có ngời mất, việc đầu tiên concháu trong nhà lấy một vài đồng xu bỏ vào miệng, đun nớc lá bởi hoặc lá câythanh tao để tắm rửa cho sạch Theo quan niệm của ngời Tày tắm rửa nh thếvừa có ý nghĩa tẩy uế, vừa làm cho linh hồn ngời chết đợc thơm tho mát mẻ,sau đó ngời chết đợc đặt ở giữa gian nhà theo chiều nóc (đầu quay phía nàocũng đợc) tuỳ thuộc vào từng dòng họ, từng địa phơng Ngời chết đợc phủgiấy trắng lên mặt, sau đó tiến hành liệm ngời chết Vải liệm là một loại vảimộc tự dệt nếu ngời chết là nam thì quấn bảy vòng, nữ chín vòng, mỗi vòng

đều có thắt nút Liệm xong lập một bàn thờ ở phía đầu linh cữu trên đó có báthơng có bài vị và bát cơm quả trứng Sau đó tang chủ chính thức phát tang vàbáo tang, cho ngời đi mời thầy mo về nhập tang

Khi mời đợc thầy mo đến thì làm lễ nhập quan Thầy mo làm lễ nhậpquan bằng cách dùng pháp thuật thu hồn ngời chết vào áo quan Khi nhậpquan phải chọn giờ tốt ở một số vùng của huyện Lục Ngạn, dới đáy quan tài

đợc lọt một lớp tro bếp (tro đợc đốt bằng rơm nếp) sàng kỹ, rồi phủ một lớp láchuối trên cùng là một chiếc chiếu mới và đặt thi hài, quần áo, chăn màn củangời chết vào áo quan Con cháu nhìn mặt ngời chết lần cuối để đóng nắpquan tài Theo tục lệ tiếng đóng đinh dứt con cháu mới đợc khóc Sau lễ nhậpquan này con cháu mới đợc ăn cơm Trớc khi ăn phải tiến hành cúng cơm, gọihồn cho ngời chết Bữa cúng cơm đầu tiên do thầy mo làm, các bữa sau do contrai trởng cúng mời Trong những ngày tang lễ, các sinh hoạt gia đình phảithay đổi: con cháu phải ăn chay, vợ chồng không đợc ngủ chung

Trang 26

Trang phục tang lễ của ngời Tày ở các địa phơng đối thống nhất, chỉ cómột số chi tiết khác biệt: “áo bằng vải xô nhng có sự khác biệt ở ống tay của

áo con trai và con gái: áo con trai chỗ nối gấp vào trong, áo con gái và con dâuchỗ nối lộ ra ngoài Về khăn tang của con trai, có sự khác biệt giữa từngdòng họ, từng vùng Chẳng hạn, ở vùng Lục Ngạn họ Lờng, họ Mông thì đội

mũ rơm; trong khi họ Bế, họ Hoàng thì chít khăn trắng” [4; 218]

Sau khi đã nhập quan xong, cữu (quan đài) đợc đặt ở gian giữa, theodọc nhà hày ngang nhà tuỳ theo từng dòng họ Nếu đặt dọc theo nóc nhà thì

đầu hớng nào cũng đợc; còn nếu đặt ngang (theo hớng nhà) thì đầu ở phíatrong ở đầu quan tài có đặt một bàn thờ (có bát hơng hoa quả) Khi đa mabàn thờ này đợc khiêng sau cữu, sau đó lại đợc rớc về đặt ở gian giữa, sát váchtờng, hàng ngày cúng cơm sau từ 1 đến 7 suất (tuỳ từng dòng họ mỗi suất bảyngày) thì thôi

Để đa ngời chết sang thế giới bên kia một cách yên ổn, các thầy Tàongời Tày ở Bắc Giang cũng giống nh các thầy Tào của ngời Tày ở các tỉnhViệt Bắc thực hiện nhiều nghi lễ cầu kỳ, phức tạp nh dng điện hoa cho ngờichết đi đờng, lễ dng cơm cho ngời chết, lễ bố trí thức ăn cho tất cả những linhhồn ngời chết… Nh Trong đó có hai nghi lễ bắt buộc phải thực hiện là lễ chạy

đàn phá ngục và lễ đa ma

- Lễ chạy đàn phá ngục: Lễ này trớc đây thờng kéo dài 4 ngày 4 đêm,nay chỉ làm trong một ngày, với mục đích giải thoát linh hồn ngời chết khỏi

địa ngục, do quan niệm linh hồn ngời chết thờng bị cầm tù dới địa ngục, nhất

là linh hồn các bà mẹ khi còn sống sinh con, giặt dũ dới sông suối vô tìnhphạm vào việc làm uế tạp thuỷ cung nên hồn bị giam tại đó Ngời ta xây dựngmột địa ngục giả, giữa đắp một đầu s tử bằng đất tợng trng cho ngục, xungquanh căng vải tợng trng cho thành luỹ của ngục Thày Tào và các đệ tử châncuốn xà đạp cửa nhảy múa theo nhịp trống thanh la, náo bạt nh một đội quânrầm rộ đi lùng khắp bốn cửa ngục và tìm giải thoát linh hồn ngời chết Saucùng tờng luỹ địa ngục bị phá, bài vị ngời chết đợc trai cả đa ra khỏi hàm s tử

và mang về nhà [17; 545]

- Lễ đa ma: Ngày hôm sau đợc bà con họ hàng và hàng xóm đa ra đồng,gọi là lễ đa tang Nghi lễ này thờng đợc tổ chức vào sáng sớm, nhng cũng phảichọn giờ tốt mới đa ra đồng Bắt đầu là một phát sáng báo hiệu, thầy Tào làmphép ở trong nhà hàm ý tống tiền linh hồn ngời chết Con cháu ngồi từ cửa ra

đến sân để linh cữu khiêng qua với ngụ ý cõng cha (mẹ) về với tổ tiên Đến

Trang 27

khi đa con cháu tiếp tục ngồi ra đến cổng một đoạn nữa Linh cữu khiêngxuống sân đợc đặt trên một giá bằng tre Trớc khi những ngời khiêng đặt giálên vai, thầy Tào cầm một ít gạo ném lên nhà táng:

Trong lễ đa tang đi đầu là một ngời (con trai hoặc cháu nội trai tuỳ từngvùng) cầm bó đuộc to đang cháy, tiếp sau là ngời khiêng đồ lễ Tiếp đó là thầyTào, linh cữu và con cháu, họ hàng thân thích, hàng xóm láng giềng đi saucùng Đi dọc đờng có tiền giấy tợng trng rải đều khắp dọc đờng

Theo tín ngỡng của ngời Tày ở nhiều vùng thuộc Bắc Giang hiện nay:

“Khi về thế giới bên kia, linh hồn của ngời chết sẽ phải qua sông qua biển rồitới núi hoa Tại đây nhờ đợc hởng các loại hơng hoa, linh hồn sẽ trở nên thanhthoát nhẹ nhàng và tiếp tục theo những cánh chim bay vào cõi tiên và cõi phật.Vì thế khi bố hoặc mẹ mất, các con nhất là con gái đã đi lấy chồng phải làmmỗi ngời một cây hoa để bố mẹ về với cõi phật, để tỏ lòng báo hiếu với bố mẹ.Cây hoa cao chừng 2, 5 – văn hoá ở Bắc 3m, thân làm bằng một loại tre hoặc trúc đặc, đờngkính khoảng 3cm Trên cây có rơm bện xung quanh, trang trí trên đó các loạihoa rừng (29 bông), và có hình một con chim gấp bằng giấy đang bây, ngụ ý

để linh hồn ngời chết theo đó bay vào cõi tiên phật [4;219]

Nghi lễ lớn cuối cùng của đám tang là lễ chôn cất Tại nghĩa địa huyệt

đã đợc đào sẵn, trớc khi hạ quan tài xuống, thầy Tào làm lễ thả gà trống xuốnghuyệt để “ an sơn thần” và để nó tự bay lên Gia đình họ hàng và làng xómngồi xung quanh ném đất xuống lập mộ Mộ lấp xong cẩn thận thì con cháu,

họ hàng mới ra về, bàn thờ mang về để tại vách gian giữa

Đối với ngời Tày sau khi chôn cất đợc ba ngày có lễ gọi là “khắp tu mi”(lễ mở cửa mồ) Nghi lễ này mang ý nghĩa là xin sơn thần, thổ địa thu nhậplinh hồn ngời chết vào nghĩa địa Lễ gồm có xôi, gà, rợu Làm lễ xong concháu làm nhà che cho ngời mất, nhà có sáu cột chính, mái lợp giành hoặc rạ

Do tục lệ là trong suốt thời gian có tang lễ con cháu trong nhà để phải

ăn chay, khi chôn cất xong con cháu làm lễ “kẻ chai” để thôi ăn chay Trênbàn thờ ngời quá cố có đặt một bát canh, căng qua miệng bát canh hai sợi chỉ (một đen, một trắng) Con cháu lần lợt nhúng đũa vào bát đa lên miệng ba lần

Theo phong tục thì phần lớn c dân Tày ở Bắc Giang không cúng 49ngày, 100 ngày và cũng không cúng giỗ Nhng sau ban năm thì có làm lễ mãntang (hết tang) Đây là nghi lễ cuối cùng đối với ngời đã mất Tuỳ từng vùng,từng dòng họ, vào 30 hay mồng một tết chuyển bát hơng bố hoặc mẹ lên bànthờ ông bà, đồng thời đem vàng hơng, gậy kiếm tre của con trai ra sân đốt

Trang 28

Khi khói vừa bay lên thì lấy khăn, áo tang trùm lên coi nh hết tang, khăn áotang vẫn có thể dùng lại đợc, nếu không muốn dùng thì đốt bỏ đi

Cho đến nay đám tang của ngời Tày đã có một số nghi lễ không cầnthiết đợc bỏ đi nhng phần lớn các nghi lễ vẫn đợc duy trì nh cũ, với nhiều nghithức phức tạp, chứa đựng những yếu tố gây mê tín, cùng những chi phí tốnkém

đều cho đó là nơi có ma thiêng ẩn nấu Do quan niệm có nhiều loại phi macùng sinh sống và tồn tại với con ngời nh vậy nên con ngời không thể khôngcầu cúng mong sự tốt đẹp và bình an

Tín ngỡng của ngời Tày rất đa dạng và phức tạp đan xen, pha trộn nộisinh và ngoại nhập, có cả tín ngỡng dân gian trong đó, có tín ngỡng tồn tại nhmột tôn giáo Họ có nhiều hình thức thờ các loại ma khác nhau, theo các nghi

lễ cúng bái khác nhau

2 1 2 1 Tín ngỡng thờ tổ tiên:

ở ngời Tày tiêu biểu nhất trong tín ngỡng của họ là thờ cúng tổ tiên.Mang việc thờ cúng tổ tiên mang ý nghĩa duy trì, dạy dỗ và nhắc nhở con cháuluôn nhớ về tổ tiên gìn giữ truyền thống gia tộc, đồng thời cũng mang tínhchất t hữu và kế thừa tài sản… Nh Ngời Tày ở Bắc Giang không kể con trai trởnghay thứ, cha mẹ còn hay mất hễ con trai tách hộ ở riêng là phải lập bàn thờ tổtiên (theo lời kể của cụ Dơng Văn Muộn, 76 tuổi ở xóm Gà- xã Vân Sơn-huyện Sơn Động)

Mỗi gia đình ngời Tày đều có một bàn thờ tổ tiên đợc đặt ở gian chínhgiữa nhà, nơi trang trọng nhất và đợc trang hoàng đẹp nhất Tuỳ từng ngànhtừng gia đình, từng dòng họ có bố cục khác nhau Bàn thờ tổ tiên đợc lau chùisạch sẽ, ngày mồng một và ngày rằm âm lịch, các ngày lễ tết trong năm đồngbào có thắp hơng hoa quả cúng chè, rợu Chỉ có ngời chủ gia đình mới đợclàm chủ lễ, trớc khi hành lễ gia chủ phải tắm rửa sạch sẽ, gọn gàng Đó là sựthể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, đồng thời cũng thể hiện tính thiêngliêng, trang trọng của tổ tiên đối với con cháu Do tính chất trang trọng và

Trang 29

thiêng liêng nh vậy, nên ngời ta thờng cấm đoán phụ nữ không đợc đến gần,nhất là con dâu, cháu dâu tới gần bàn thờ tổ tiên Khi gia chủ vắng nhà, ngời

vợ phải sửa lễ nhng hiếu tế cúng thì phải nhờ chú bác Mỗi khi trong gia đình

có việc đại sự nh làm nhà mới, sinh đẻ, cới dâu, có ngời mất thì phải cúng bái,mới tổ tiên và chứng giám

Đồng bào Tày thờng tảo mộ ông bà tổ tiên vào tiết thanh minh (ngày 3tháng 3 âm lịch), không cúng giỗ vào ngày mất của ông bà mà chỉ cũng cácngày rằm, mồng một và các ngày lễ tết trong năm

2 1 2 2 Thờ Thần Phật:

Trong đời sống tâm linh của đồng bào Tày, tín ngỡng thờ thần còn có

ảnh hởng lớn của phật giáo Họ thờ cả phật bà quan âm ở tại nhà, coi phật bàquan âm là vị thần có sức mạnh siêu phàm có thể giúp gia đình trừ đợc quỷgiữ, tà ma Bàn thờ cúng có thể đặt chung với bàn thờ tổ tiên, có nơi đặt bànthờ ở hồi nhà bên phải Trên bàn thờ khi xếp lễ cúng là xếp lễ chay nh cơm,bánh khảo, bánh chng không nhân Những nhà thờ phật bà quan âm kiêngkhông đợc đem thịt trâu, thịt cho… Nh vào nhà

2 1 2 3 Thờ Mụ:

Một thần linh tôn thờ phổ biến khác ở trong các gia đình ngời Tày làthờ bà mụ Theo quan niệm của ngời Tày bà mụ là thầy trông coi việc sinh đẻ,nuôi dạy, bảo vệ đứa trẻ và bà mẹ Đứa trẻ trai hay gái cũng do bà mụ tạo ra,khi bà mẹ mang thai ba tháng, họ đã làm lễ cúng bà mụ, cầu xin bà mụ chongời mẹ và đứa trẻ mẹ tròn con vuông Khi cúng phải mời bà then (pụt) cónhiều kinh nghiệm để làm, đồng thời cũng phải mời bà ngoại của đứa trẻ vàmột số bà con dân bản tới dự Cúng xong đặt bát hơng thờ bà mụ, bàn thờ bà

mụ ở cửa buồng nơi đứa trẻ nằm, để bà mụ luôn ở bên cạnh đứa trẻ Buổi tốihàng ngày bà nội thắp hơng câu cúng ở gia đình ngời Tày, mỗi ngời con dâu

đều có buồng riêng và đều có bàn thờ bà mụ cho con mình có bao nhiêu condâu thì có bấy nhiêu bàn thờ bà mụ Bàn thờ bà mụ của thế hệ bà trở thành bànthờ mụ chung cho cả nhà Khi cúng bà mụ lễ xếp đều giống nhau Các cắp vợchồng lúc ra ở riêng, phải mời bà Then về cúng và lặp bàn thờ bà mụ Nh vậy

bà mụ trong tâm thức của ngời Tày là rất quan trọng trong việc bảo tồn nòigiống

2 1 2 4 Thờ Thổ công:

Phạm vi bảo vệ bản thôn của ngời Tày còn thờ thần thổ công, thổ địa,các vị thánh trong vùng Thổ công là vị thần bảo vệ bản làng và mùa màng… Nh

Trang 30

hàng năm đợc cúng vào ngày tết Nguyên Đán, tết Nguyên Đán và các ngày lễkhác trong năm, khi bản làng có các công việc hệ trọng Thổ công có miếu thờdựng ở gốc cây to hoặc đám cây cổ thụ ở đầu bản Ngoài ra mỗi bản hoặc vàibản có đình thờ thần núi, thần rừng và các thần thánh khác ở địa phơng, nhữngthánh thần này ngụ trên một khu rng hay trên một quả núi Lễ cũng các vịthần này đợc tổ chức vào ngày mồng 4 tể âm lịch hàng năm “ căn cứ vào ngàymồng 4 tết âm lịch hàng năm đồng bảo tổ chức cúng lễ ở đình Mỗi gia đình

đều phải góp gạo, rợu để sắm lễ thịt gà , thịt vịt, thịt lợn… Nh a có ruộng đình)(xtừng nhà cử một ngời con trai đại diện ra đình cúng lễ và thu lộc tập trung tạigia đình Ngày nay lễ cúng nh một ngày hội của bản làng, có tổ chức các tròchơi nh ném còn, kéo co, hát lợn giao duyên”.[ 4]

Các vị thánh khác nh Nam Tào Bắc Đẩu, thần nớc, thần bảo vệ giasúc… Nh cũng đợc tổ chức cúng lễ chu đáo vào những ngày lễ tết hàng năm, cầumong cho mùa màng tốt tơi, ma thuận gió hoà, súc vật sinh sôi nẩy nở, bảnlàng yên vui hạnh phúc… Nhđặc biệt ở ngời Tày còn có hội “ lồng tồng” ( hộixuống đồng) đợc tổ chức vào đầu mùa xuân, lễ vật có rợu, thịt gà, thịt lợn, xôingũ sắc, các thứ bánh hoa quả… NhTất cả đợc tập trung cúng ở một thửa ruộng

đầu bản Lễ hội này là cúng tất cả các thần thánh, ma quỷ trên đời, dới đất,ngoài cầu những gì tốt đẹp ra cũng còn có nội dung vui chơi, giải trí của dânbản

2 1 2 5 Thờ Táo Quân:

Ngời Tày cũng có tục thờ Táo Quân Nơi thò Táo Quân đợc đặt ngaycạnh bếp nấu ăn hàng ngày, rất đơn giả, chỉ một ống hơng làn bằng tre giángiấy đỏ Đồng bào Tày quan niệm Táo Quân là vị thần bảo vệ ngời và gia súctrong gia đình Khi gia đình có việc đại sự, hoặc xẩy ra việc nh mất trộm, giasúc ốm đau… Nh thì gia đình đều cầu cúng báo cho thần bếp biét, xin thần chứnggiám và phù hộ độ trì cho tai qua nạn khỏi Hàng năm cứ đến ngày 30 thangchạp âm lịch là làm lễ tiễn đa Táo Quân lên trời gạp Ngọc Hoàng (có vùngcũng giống nh ngòi Kinh và ngời Nùng, ngời Tày cúng Táo Quân vào ngày

23 tháng 12 âm lịch), để báo cáo một năm thực hiện công việc ở dới trần gian

Đến sáng mồng 3 tết làm lễ đón Táo Quân từ trời trở về

Đối với ngời Tày bếp là nơi tôn nghiêm, linh thiêng, đồng thời cũng lànơi sinh hoạt vật chất và tinh thần của một gia đình (nơi bàn bạc chuyện sảnxuất, nơi dạy dỗ, giáo dục con cháu, bàn bạc lễ nghi phong tục tập quán,truyền thống dân tộc, đồng thời bếp cũng là nơi giao lu văn nghệ, hát lợn, giao

Trang 31

duyên, đối đáp… Nh) Với tính chất linh thiêng nh vậy nên khi làm nhà mới haycho con ra ở riêng, ngờ Tày chia lữa cho con cái Do đặc điểm địa bàn c trú ởmiền rừng núi, khí hậu lạnh, củi rừng sẵn cho nen bếp của ngời Tày lửa khôngbao giờ tắt Họ quan niệm bếp không có lửa thì điều xấu sẻ đến Vì vậy bếp

là nơi quan trọng trong gia đình ngời Tày

2 2 Một số phong tục tập quán, tín ngỡng của dân tộc Cao Lan

2 2 1 Phong tục tập quán

2 2 1 1 Hôn nhân và cới xin

Trong tục lệ hôn nhân của ngời Cao Lan, trai gái từ 15- 16 tuổi đợc tự

do tìm hiểu nhau thông qua các lần đi chợ, các đêm hát ví tập thể (hát sìnhca), những dịp hội hè Thông qua các lần tìm hiểu nh thế, khi đã ng nhau, ng-

ời con trai tặng cho ngời con gái vòng, con gái tặng lại khăn Khi hai ngờithấy có thể tiến hành tới hôn nhân, đôi trai gái về tha chuyện với bố mẹ Cha

mẹ chàng trai mua quà và nhờ ông mối (ông mòi) mang sang nhà gái để ớmhỏi, đồng thời nhờ ông mối đứng ra làm trung gian tiến hành các bớc cới xin.Theo tục lệ, ông mối phải là ngời đứng tuổi (nam giới), am hiểu phong tục cótài ứng đáp nhiều ngời kính nể vợ chồng song toàn đông con cháu, gia đìnhhoà thuận Vợ ông mối đợc gọi là bà mối Ông bà mối khi se duyên thànhcông đợc đôi vợ chồng mang ơn suốt đời, sống có lễ, chết để tang Ông bà mốikhông chỉ có trách nhiệm với hạnh phúc của đôi vợ chồng khi cới hỏi mà còn

có trách nhiệm với hạnh phúc của đôi vợ chồng đó về sau này Khi họ có con

ông bà mối cũng thăm hỏi và mừng tuổi cháu bé nh ông bà ngoại Vai trò của

ông mối quan trọng nh vậy là bởi hôn nhân của ngời Cao Lan trả qua nhiềunghi lễ, nhiều phong tục Một cuộc hôn nhân của ngời Cao Lan trải qua các b-

ớc sau:

- Đi hỏi ( xin lá số)

Nghi lễ này nhằm xin lá số gồm có tên tuổi, ngày tháng năm sinh củacô gái về so tuổi với chàng trai Đây là nghi lễ khởi đầu để xác định việc hônnhân, do ông mối đảm nhận Khi đã nhờ đợ ngời đi làm mối, nhà trai sxchuận bị lễ vật( số lễ vật này tuỳ vào từng vùng, từng địa phơng; nh ở vùngSơn Động, số lễ vật đó gồm: 4 quả cau, 8 lá trầu, 1cân thịt, 1 hộp bánh khảo, 2mì bó, 2 bìa đậu (t liệu do cụ Đàm Quang Tài ở Sơn Động cung cấp), nhiềuvùng số lễ vật phổ biến là: 4 quả cau, 4 lá trầu, một ít thuốc phiện (hiên naykhông còn), để ông mối mang sang nhà gái Trong bớc đầu tiên này đi cùng

ông mối cần có một thanh niên đã có vợ con (có khi là một thiếu niên), đứng

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w