1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống ở đô lương nghệ an

69 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống ở Đô Lơng – Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Duyên
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 271 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, còn có một số bài viết khác có đề cập đến nghề thủ công ở Đô L-ơng đợc in rải rác trên các báo và các tạp chí nh tạp chí “Thông tin khoa công nghệ” 2005 của Sở khoa học và công

Trang 1

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Ai qua Phợng Kỷ, Tràng Sơn Gạch vôi nghề cũ đâu hơn chỗ này.

Yên Phúc là đất trồng đay, Văn Tràng lợn nái tháng ngày chăn nuôi.

Mời về Trù ú mà coi, Tiếng nghề nồi đất mấy đời đồn xa.

Những câu ca dao trên đã thay lời cho ngời dân Đô Lơng nói về tình hìnhkinh tế, về đất đai và sự chăm chỉ, chuyên cần của con ngời nơi đây trong lao

động sản xuất Ngoài ý nghĩa đó thì những câu ca dao trên đã giới thiệu mộtcách đầy đủ rõ ràng về những vùng đất nổi tiếng làm nghề thủ công truyền thốngtrên địa bàn huyện Đô Lơng

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

-Nguyễn thị kim oanh

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trang 2

Ngày nay, việc trở về với cội nguồn dân tộc, tìm về những bản sắc văn hoácủa cha ông xa rất đợc Đảng và nhà nớc ta quan tâm trong đó có việc khôi phục,bảo tồn và phát triển các nghề thủ công truyền thống đang rất đợc các cấp lãnh

đạo chú trọng

Nghề thủ công truyền thống đợc hình thành từ xa, đợc truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác Nghề thủ công và sản phẩm thủ công đều do trí tuệ và bàn taycon ngời tạo ra nó là sản phẩm của văn hoá Có đợc một nghề thủ công, một sảnphẩm thủ công, bao giờ cũng là kết quả của khoa học (dù là khoa học sơ khainhất) và của nghệ thuật ( dù là nghệ thuật đơn giản nhất) trớc khi bàn tay con ng-

ời dùng chất liệu tạo ra hình thù cụ thể

Các sản phẩm thủ công là tinh hoa, trí tuệ tâm hồn, nhân văn của cha ông

ta trong quá trình lịch sử Bao năm rồi, nghề thủ công, sản phẩm thủ công luôn là

bệ đỡ là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế và văn hoá; nối tay nối chân, trải rộngtrí óc cho con ngời, làm giàu có thêm cho đời sống con ngời cả về hai mặt vậtchất và tinh thần

Nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam không chỉ có bề dày về thời gian

mà nó còn trải rộng theo không gian Do vậy mà nghề thủ công truyền thống ờng đợc phát triển ở diện rộng bắt đầu từ một ngời, một số ngời, một gia đình,một số gia đình hay một làng, một khu phố sau đó là một khu vực Nên ở ViệtNam có làng nghề, phố nghề nhng nhìn chung các nghề thủ công truyền thốngthờng xuất hiện ở các làng nhiều hơn Bởi nghề, làng nghề thủ công truyền thốngbao giờ cũng đi đôi với sản xuất nông nghiệp Nên từ xa đến nay nó tồn tại vàphát triển ở nông thôn nhiều hơn thành thị trong khi điều kiện phát triển ở thànhthị có nhiều thuận lợi hơn

Lí tởng của chúng ta là xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ,văn minh, dân giàu nớc mạnh Về kinh tế, một trong các phơng châm của chúng

ta là nghiên cứu và phục hồi các nghề thủ công cổ truyền, coi đó là một trongcác hớng để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc nhng giờ đây các nghề, làngnghề thủ công ở nớc ta đang diễn ra một cuộc khủng hoảng trớc cơ chế thị trờng

đang mở cửa Nhiều hàng hoá của nền công nghiệp tiên tiến nớc ngoài đã và

đang xâm nhập vào nớc ta Tâm lí sùng hàng ngoại của một bộ phận nhân dân ta

và sự thờ ơ của thế hệ trẻ đối với di sản cổ truyền đang là vấn đề cần phải giảiquyết Cuộc khủng hoảng này có nguy cơ dẫn đến nhiều nghề, làng nghề thủcông cổ truyền bị suy thoái, thậm chí bị tiêu vong ấy là cha kể một lớp nghệnhân già đã và sẽ qua đời, không có lớp con cháu kế tiếp

Với chính sách đổi mới chúng ta phải coi các sản phẩm thủ công cóchất lợng cao là những thành tựu văn hoá vừa hữu thể vừa phi vật thể để làm bạn

Trang 3

với các nớc trong khu vực và trên thế giới Do vậy, chúng ta cần có những chínhsách, biện pháp cụ thể để chăm lo, phục hồi các nghề, làng nghề thủ công cổtruyền Đó là làm giàu cho quê hơng và cũng là để tôn vinh, bảo vệ gia tài vănhoá của cha ông, sắc thái văn hoá của từng địa phơng.

Nghị quyết TW XII đã chỉ rõ: “Trong những năm trớc mắt, khả năng vốncòn đang có hạn Nhu cầu công ăn việc làm rất bức bách, đời sống nhân dân còngặp nhiều khó khăn, tình hình kinh tế- xã hội cha thật ổn định vững chắc Vì vậycần tập trung nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, rasức phát triển các ngành nghề công nghiệp chế biến nông lâm, hải sản…bảo đảmbảo đảmvững chắc nhu cầu lơng thực, thực phẩm cho cả thành thị và nông thôn Hạn chếviệc di chuyển dân c từ nông thôn vào thành thị và các đô thị, khuyến khích nôngdân rời ruộng không rời làng phát triển các ngành nghề trên địa bàn, không làmnông nghiệp nhng vẫn sống ở nông thôn” [3; 5]

Thực hiện nghị quyết của ban chấp hành TW đồng thời hoà mình trong xuthế của thời đại thì các nghề, làng nghề truyền thống cổ truyền dần dần đợc khôiphục và đầu t phát triển, phố nghề đợc trả lại danh tiếng đã từng có nhng mộtthời bị lãng quên

Trên quê hơng Đô Lơng của tôi, ngoài nghề trồng trọt với những đặc trngriêng thì vùng quê này còn có truyền thống lâu đời về nghề thủ công và buônbán

Để hiểu rõ hơn về các nghề thủ công truyền thống trên quê hơng mình thìtôi quyết định chọn vấn đề: “Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống ở ĐôLơng – Nghệ An” làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề.

Trong xu thế phát triển hiện nay thì sự giao lu và hội nhập của nớc ta diễn ratrên tất cả mọi lĩnh vực, nhất là kinh tế và văn hóa Có một thực tế là trong cơchế thị trờng mở cửa nếu bàn tay cứ nắm lại thì trí tuệ của cha ông vẫn nằmtrong “câm lặng”, phải xòe ra thì mới thấy cha ông đã vắt trí tuệ và luyện bàn taythế nào để chế ngự thiên nhiên, chống lại các lực lợng hắc ám, bảo vệ cuộc sống,xây dựng cuộc sống, làm cho cuộc sống ngày càng phong phú, tốt đẹp, đỡ sức cơbắp của con ngời

Nhận thức đợc việc để mất nghề thủ công truyền thống là mất dần di sảnvăn hoá, mất dần tinh hoa truyền thống, mất dần tiềm năng và cuối cùng cũng làmất dần cả kinh tế Do vậy, chúng ta quyết không đợc để mất nghề thủ côngtruyền thống Cho nên trong cơ chế thị trờng hiện tại, gìn giữ và phát huy nghềthủ công truyền thống vừa là bảo lu di sản văn hoá của dân tộc, của quê hơngvừa đi lên theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 4

Khi mà các nghề, làng nghề thủ công truyền thống đợc các cấp, các ngànhquan tâm thì nghề, làng nghề thủ công truyền thống cũng đã xuất hiện trên cáctrang sách, tạp chí.

- Viết về các nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam có một số công trìnhnghiên cứu nh:

+ Dominque Bouchart (1994) – Khôi phục những làng nghề thủ công truyền thống (Huế) – Tạp chí sông Hơng, số 5

+ Tăng Bá Hoành (1984) – Nghề cổ truyền, Sở văn hoá thông tin tỉnh Hải

Hng Tập 1, tập 2, tập 3

+ Phạm Văn Kính (1997) – Thủ công nghiệp và làng xã Việt Nam trong

“Nông thôn Việt Nam trong lịch sử”, Tập 1, NXB Khoa học xã hội.`

+ Vũ Huy Phúc (1996) – Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 1945,

+ Ninh Viết Giao, chủ biên (1998) – Nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An, NXB Nghệ An Có hơn 40 bài viết về nghề, làng nghề thủ

- Viết về nghề thủ công truyền thống ở Đô Lơng có một số tác phẩm nh:

+ Lịch sử Đảng bộ huyện Đô Lơng 1930 1963, NXB Nghệ An Trìnhbày về các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hoá, xã hội, quân sự và những đóng gópcủa nhân dân Đô Lơng trong cuộc đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nớc từ khi

Đảng ra đời 1930- 1963 Trong đó, khi nói đến tình hình kinh tế thì có nhắc tớimột số nghề thủ công truyền thống ở huyện Đô Lơng nh: dệt, gạch ngói…bảo đảm nhng

nó chỉ mới nêu tên các nghề thôi

+ Trong cuốn Nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An do Ninh

Viết Giao chủ biên, NXB Nghệ An (1998) Trong đó có 40 bài viết về các nghề,

Trang 5

làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An thì có hai bài viết về nghề thủ côngtruyền thống ở Đô Lơng Đó là:

* Đào Tam Tỉnh – Trù Sơn, Đô Lơng với nghề làm đồ gốm.

* Hồ Hữu Quyền Nghề làm gạch ngói ở Ph ợng Kỷ, Đà Sơn - Đô lơng.

Ngoài ra, còn có một số bài viết khác có đề cập đến nghề thủ công ở Đô

L-ơng đợc in rải rác trên các báo và các tạp chí nh tạp chí “Thông tin khoa công nghệ” (2005) của Sở khoa học và công nghệ - Nghệ An có bài viết về nghềgốm ở Đô Lơng- “Mộc mạc gốm Trù Sơn”, số 1 của tác giả Lam Phơng đã đềcập đến vai trò của nghề đó với ngời dân và hớng đi của nghề gốm Trù Sơn.Tuy nhiên, các công trình nói trên mới chỉ điểm sơ qua hoặc mới chỉ nêu đ-

học-ợc một, hai nghề thủ công ở Đô Lơng chứ cha khái quát đhọc-ợc một cách đầy đủ, cụthể, chuyên sâu vào các nghề thủ công trên địa bàn huyện Đô Lơng Song đó lànguồn tài liệu quý giá, là cơ sở tham khảo của tác giả khi nghiên cứu vấn đề này.Với đề tài “Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống ở Đô Lơng- NghệAn” bớc đầu sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về nghề thủ công truyềnthống ở Đô Lơng

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Nghề thủ công truyền thống ở Đô Lơng có nhiều song tôi chỉ chọn một số

nghề tiêu biểu để đề cập tới trong đề tài của mình Chọn một số nghề tiêu biểukhông phải là so sánh nghề nào quí hơn nghề nào, nghề nào giá trị hơn nghề nào.Với tôi nghề nào cũng quí cũng có giá trị nh nhau, nhng do thời gian hạn hẹp,

nguồn t liệu có hạn nên tôi mạnh dạn đề cập đền một số nghề Đó là: nghề làm

gạch ngói ở Phợng Kỷ - Đà Sơn; nghề đan phên che gạch ở Đà Lam Đà Sơn;nghề dâu tơ tằm ở Đặng Sơn; nghề làm bánh đa kẹo lạc Vĩnh Đức, thị trấn Đô L-

ơng; nghề mây tre đan ở Trung Sơn; nghề làm đồ gốm ở Trù Sơn…bảo đảm Qua đó nhằmgiới thiệu một số nghề với các quy trình sáng tạo trong công nghệ để cho sảnphẩm Đồng thời, nhằm thấy rõ hơn thực trạng của các nghề đó và đặc biệt thấy

đợc vai trò của nó trong mọi mặt của đời sống nhân dân của các làng, xã trên địabàn huyện Đô Lơng

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Sử dụng nguồn tài liệu thành văn, tài liệu dân gian đề cập đến vấn đề trên

Sự dụng nguồn t liệu điền giã (những câu chuyện kể của các cụ cao tuổitrong làng hoặc của những ngời làm nghề trong các làng xã cung cấp…bảo đảm)

Tôi sử dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic để phân tích vấn đềtrên cơ sở tài liệu thu thập đợc nhằm khôi phục lại bức tranh toàn cảnh của nghề

Trang 6

Ngoài ra, tác giả sử dụng phơng pháp điền dã để thâm nhập thực tế, vậy tìm hiểu

về các nghề thủ công truyền thống trên địa bàn huyện Đô Lơng

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung chính của luận văngồm hai chơng :

Chơng 1 Khái quát về nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An

Chơng 2 Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống ở Đô Lơng – NghệAn

Trang 7

B Phần nội dung

Chơng 1 Khái quát về ngành nghề thủ công

truyền thống ở Nghệ An

1.1 Khái quát về nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm nghề, làng nghề thủ công truyền thống

Ngày nay cùng với việc khôi phục, bảo tồn và phát huy nghề thủ côngtruyền thống thì việc nghiên cứu về các nghề, làng nghề đã trở thành một vấn đề

đợc nhiều ngời quan tâm Khái niệm nghề, làng nghề thủ công truyền thốngcũng đợc đa ra tranh luận

- Nghề thủ công truyền thống

Ngày nay, khái niệm về nghề thủ công truyên thống ít thấy xuất hiện trêncác sách, báo, tạp chí mà ngời ta gọi nghề thủ công truyền thống với nhiều têngọi khác nhau: nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề phụ,nghề tiểu thủ công nghiệp…bảo đảm

Trong các chơng trình và dự án đầu t phát triển nông thôn hiện nay, kháiniệm “sản xuất phi nông nghiệp” đã xuất hiện và trở nên quen thuộc Nội dungthuật ngữ này bao hàm cả các nghề cổ truyền, đợc “gói” chung trong cái gọi là

“nông nghiệp nông thôn”

Để có thể tránh đợc sự chồng chéo khái niệm dẫn đến nhiều khó khăn trongnghiên cứu, chỉ đạo và đầu t phát triển sản xuất, sáng tạo, tránh sự khảo sát vàtổng hợp phiến diện chúng ta nên gọi theo đúng tên gọi của nó “ nghề thủ côngtruyền thống Việt Nam” Với tên gọi này là nhằm để chỉ chung cái nghề truyềnthống nớc nhà, trong đó bao gồm rất nhiều nghề: gốm, đúc đồng, chạm khắc đá,chạm khắc gỗ, kim hoàn, rèn, mây tre đan, sơn, khảm trai, dệt vải và tơ lụa, dệtchiếu, làm nón, làm quạt giấy, giấy dó, tranh dân gian…bảo đảm Đó là những nhómnghề lớn, nổi tiếng và có ý nghĩa kinh tế, văn hoá, xã hội và khoa học, kỹ thuật

hết sức lớn lao của dân tộc chúng ta Trong cuốn “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi Văn Vợng (2002), Nxb Văn hoá thông tin đã đa ra

nhng tiêu chí để mỗi nghề thủ công đợc xếp vào danh mục nghề thủ công truyềnthống:

“ 1 Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nớc ta

2 Sản xuất tập trung thành các làng nghề, phố nghề

3 Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

4 Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam

5 Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nớc hoàn toàn, hoặc chủ yếu ởtrong nớc

Trang 8

6 Sản phẩm tiêu biểu độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lợng cao,vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mĩ thuật thậm chí trở thànhcác di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá Việt Nam.

7 Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân c của cộng đồng Có đóng góp

đáng kể về kinh tế và ngân sách nhà nớc” [16;12]

Theo tác giả: nghề thủ công nói gọn lại và suy cho cùng là sản xuất chủ yếubằng tay và công cụ giản đơn, với con mắt và bộ óc giàu sáng tạo của nghệ nhân.Công nghệ truyền thống bao gồm cả tay nghề của nghệ nhân và thợ kỹ thuật nóichung Hiện đại hoá công nghệ truyền thống cần phải tính toán, cân nhắc kỹtừng khâu kỹ thuật, sản xuất chế tác Cần bồi dỡng kiến thức mới và hiện đại,tiên tiến cho nghệ nhân chứ không làm mất vai trò của họ [16;13]

Còn theo GS.Ninh Viết Giao lại cho rằng: nghề thủ công là những nghềdùng tay và cả trí óc nữa tác động vào các nguyên vật liệu nh đá, đất, kim khí, gỗ

để làm ra những công cụ dùng trong cuộc sống Công cụ này có thể là những đồhàng ngày cho con ngời, cho gia đình, có thể là những công cụ để dùng trong sảnxuất nông nghiệp, trong săn bắt, đánh cá, chăn nuôi, học hành, đi lại, làm nhàcửa, trang sức…bảo đảmNghề thủ công có thề một ngời, một gia đình, hay một số ngời,một số gia đình làm một nghề gì đó trong một làng nào đó, bên cạnh nghề chính

là nông nghiệp [4;272]

Nh vậy, nghề thủ công truyền thống là một nghề đợc ra đời từ lâu và đợc

truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Đó là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay, sửdụng nguyên liệu tại chỗ Nó giải quyết công ăn việc làm, đồng thời tăng thunhập cho ngời dân Tuy sản xuất chủ yếu bằng tay, sử dụng công cụ giản đơn nh-

ng với con mắt và bộ óc sáng tạo của ngời thợ thủ công đã điểm tô cho các sảnphẩm trở nên có giá trị không chỉ mặt vật chất mà còn có giá trị tinh thần cao.Nghề thủ công truyền thống ở nớc ta tồn tại và phát triển song với nghề chính -nông nghiệp Ngời nông dân sau khi xong mùa vụ đă trở thành ngời thợ thủcông

Có nhiều ý kiến khác nhau về làng nghề thủ công truyền thống:

+ Quan niệm thứ nhất: Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủcông, nơi nay quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mangtính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo

Trang 9

phờng hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thànhviên luôn ý thức tuân theo những ớc chế xã hội và gia tộc Sự liên kết hỗ trợ chonhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc,cùng phờng nghề trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển nghề nghiệp đãhình thành làng nghề ngay trên đơn vị c trú, làng xóm truyền thống của họ.

Làng nghề thủ công truyền thống thờng có tuyệt đại bộ phận dân số làmnghề cổ truyền (sản xuất và dịch vụ phi nông nghiệp) hoặc một vài dòng họchuyên làm nghề lâu đời kiểu cha truyền con nối Sản phẩm của họ làm chẳngnhững thiết dụng mà hơn thế nữa còn là hàng cao cấp, tinh xảo, độc đáo, nổitiếng vá dờng nh không đâu sánh bằng

Do tính chất kinh tế, hàng hoá, thị trờng của quá trình sản xuất và tiêu thụsản phẩm, làng nghề thực sự là đơn vị tiểu thủ công nghiệp Vai trò tác dụng củalàng nghề đối với đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội là rất lớn và tích cực [16;14].+ Quan niệm thứ hai: Còn nói một làng nghề là làng ấy tuy vẫn có trôngtrọt, chăn nuôi và nhiều nghề phụ khác…bảo đảm Song đã nổi trội một số nghề cổ truyềntinh xảo với những lớp thợ thủ công ít nhiều chuyên nghiệp và chủ yếu sốngbằng nghề đó Họ có phờng, có ông trùm, phó cả Mặt hàng của họ đã là nhữngsản phẩm hàng hoá đợc trao đổi buôn bán ở nhiều vùng, ở nhiều đô thị…bảo đảm Nhữnglàng ấy, ít nhiều đã trở thành địa danh của một nghề thủ công cổ truyền đợcnhiều ngời biết đến đã đi vào ca dao, tục ngữ, trở thành di sản của văn hoá dângian [4;272]

Nh vậy, làng nghề thủ công truyền thống là nơi lu giữ nghề thủ công lâu

đời Vì thế ở mỗi làng nghề xa nay tự nó đã có sẵn hai yếu tố cơ bản:

Truyền thống văn hoá

Truyền thống nghề nghiệp

Hai yếu tố đó hoà quyện, không tách rời nhau, đã tạo nên văn hoá làngnghề Làng nghề là nơi có ông tổ nghề, nơi mà bí quyết làng nghề đợc truyền nốicho con cháu Trong làng nghề thì nghề thủ công đã thu hút đợc hầu hết lao

động chính trong làng tham gia, tạo ra giá trị kinh tế cho khu vực đó Các sảnphẩm của làng nghề rất tinh xảo, có tính chuyên môn hoá cao đợc tiêu thụ ởnhiều vùng khác Đó là nghề sản xuất chính nuôi sống cả làng bên cạnh nghềphụ - nông nghiệp

Hai khái niệm đều nói về nghề thủ công nhng mỗi khái niệm lại chứa đựngnhững giá trị khác nhau về kinh tế, văn hoá, xã hội Nghề thủ công giải quyếtcông ăn việc làm cho ngời dân tận dụng khoảng thời gian nhàn rỗi của nhà nông

để kiếm thêm đồng ra đồng vào Sản phẩm của nghề thủ công cha đạt đến mứctinh xảo nhng làng nghề thì sản xuất tập trung có tính chuyên môn hoá cao và nó

Trang 10

không phải làm nghề để tận dụng lúc rảnh rỗi của nhà nông mà đó là nghề chính

đơc làm quanh năm có thu nhập cao Sản phẩm của làng nghề thủ công đạt đếntrình độ tinh xảo và đợc tiêu thụ ở nhiều nơi, đồng thời mỗi sản phẩm là nơinhững ngời thợ thủ công gửi ngắm những ớc mơ ho i bão của mình vào đó Mặtài bão của mình vào đó Mặtkhác, khái niệm nghề thủ công truyền thống có thể hiểu là nghề đó cha tách khỏinông nghiệp, nông nghiệp là nghề chính

Còn khái niệm làng nghề thủ công truyền thống thì có thể hiểu là nghề đãcắt đứt đợc cái “cuống nhau” nối với nông nghiệp, sản phẩm làm ra có tínhchuyên môn hoá cao và đợc tiêu thụ rộng khắp, không những thu hút sức lao

động hầu hết của cả làng mà còn là nghề sản xuất chính nuôi sống cả làng bêncạnh nghề phụ – nông nghiệp

1.1.2 Phân loại nghề thủ công truyền thống

Phân loại nghề thủ công truyền thống theo vùng: ở nớc ta, nghề và làngnghề có một số lợng rất lớn, hình thành và phát triển trên khắp cả nớc, rải ráchoặc tập trung ở tất cả các miền, các vùng lãnh thổ với hàng trăm nghề và hàngnghìn làng nghề lâu đời, nổi tiếng Do vậy, nếu phân loại nghề, làng nghề thủcông truyền thống ở nớc ta theo vùng lãnh thổ thì ta có thể phân loại nh sau:

- Nghề sản xuất công cụ vũ khí gồm: nghề làm cày bừa; nghề làm súng,cung, nỏ…bảo đảm

Trang 11

- Làm thuốc và chế biến thực phẩm: nghề đông y; nghề thuốc nam; nghềnấu rợu; nghề làm tơng; nghề làm nớc mắm; nghề làm muối; nghề muối da, cà;nghề làm nha- mật- đờng; nghề làm bánh, mứt, kẹo; nghề làm cốm; nghề làmbún; nghề làm giò, chả, nem; nghề làm đậu phụ; nghề ép, chng cất dầu thực vật;nghề yến sào; nghề nấu ăn…bảo đảm

Những nhóm nghề kể trên với hơn 50 ngành nghề chỉ là con số chọn lựatheo tiêu chí: lâu đời, nổi tiếng, có ý nghĩa kinh tế và văn hoá lớn

Số lợng nghề thủ công nớc ta, thực tế còn nhiều hơn nữa bởi vì hai lẽ: mỗinhóm nghề đã bao gồm nhiều nghề

Những nghề mới xuất hiện (từ đầu thế kỷ XX đến nay) do du nhập từ các

n-ớc phát triển Âu- Mĩ và khu vực châu á nh: nghề ảnh, nghề sơn móng tay, tạomẫu thời trang, chữa xe máy…bảo đảm là những nghề cha đợc nghiên cứu đến

1.1.3 Quan hệ giữa nghề thủ công truyền thống và các nghề khác

Những làng có nghề thủ công truyền thống, đời sống kinh tế ổn định và kháhơn những làng làm nông nghiệp thuần tuý Thủ công nghiệp có mối quan hệmật thiết với nông nghiệp và thơng nghiệp Nông nghiệp luôn luôn là cơ sở đểphát triển thủ công nghiệp Còn thơng nghiệp thúc đẩy sản xuất thủ công nghiệpqua lu thông hàng hoá

Hầu hết các nghề thủ công đều “ lấy nông làm gốc” hoặc “dĩ nông vi bản”

và hoạt động của các nghề có tính “ nông nhàn” Bản thân từng ngời thợ thủcông thì nhiều trờng hợp tách khỏi nông nghiệp để đi sâu vào nghề nghiệp nhnghàng xóm và gia đình của họ dù nghề nghiệp có mang lại giàu có đi nữa cũngcha hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp, trừ một số ít gia đình lập nghiệp ở thànhphố

Trong lịch sử có một vài làng do nghề nghiệp phát đạt trong một thời kỳ sốngời làm ruộng không đáng kể, việc đồng áng phần lớn thuê nhân công từ nơikhác đến làm thay nhng khi gặp thiên tai, mất mùa đã làm cho đời sống của họkhó khăn, chật vật phải gắn bó với ruộng vờn và lấy đó làm “ gia bản”

Nhiều ngành nghề ngời thợ phải ra thành phố làm việc rồi trở thành thị dântrong đó không ít gia đình vẫn có ruộng vờn ở làng để có chỗ đi lại, gắn bó vớiquê hơng, tăng thu nhập và phòng khi nghề nghiệp đình đốn

Các nghề thủ công hoạt động vừa lúc “ nông nhàn”, tận dụng lao động dthừa của nông nghiệp có tính chất thời vụ là cần thiết và hợp lý trong cơ cấu kinh

tế công nông nghiệp Nhng nếu ngành nghề nào cũng bị buộc chặt vào bó lúacủa nhà nông thì sẽ hạn chế rất lớn đến mức sản xuất và chuyên sâu, khó cải tiến

kỹ thuật để tạo ra năng suất cao, chất lợng và hiệu quả lớn

Trang 12

Thực tế cho thấy hớng nghiệp chuyên sâu sẽ tạo ra năng suất cao và nảysinh nhiều nghệ nhân tài năng đến mức ngạc nhiên Những nghệ nhân nổi tiếngthờng là những ngời đợc làm nghề sớm, chuyên sâu và nhiều năm làm việc ởnhững trung tâm văn hoá.

Thủ công nghiệp của tỉnh nhà không tách rời khỏi nông nghiệp để tiến tớihình thành các công trờng thủ công rồi lên cao nữa là công nghiệp hoá Vì: nôngnghiệp cha đủ khả năng cung ứng lơng thực và nguyên liệu thờng xuyên cho thủcông nghiệp, sức tiêu thụ cũng có chừng mực, thơng nghiệp thì hết sức nhỏ bé,ngoại thơng cha mở rộng đợc thị trờng tiêu thụ sản phẩm, cha có những hợp

đồng lớn và dài hạn thúc đẩy thủ công nghiệp phát triển

Điều đó chứng tỏ kinh tế hàng hoá cha phát triển Kết cục là bản thân cácngành nghề không phát huy đợc khả năng của mình Nghề nghiệp không đảmbảo cuộc sống vững chắc cho ngời thợ lâu dài, vì thế mà họ không dám cắt đứtcái “ cuống nhau” nối với nông nghiệp

Nghề thủ công và sản phẩm thủ công do trí tuệ và bàn tay con ngời tạo ra.Nghề thủ công truyền thống là “bệ đỡ”, là “đòn bẩy” cho sự phát triển kinh tế vàlàm phong phú thêm cho đời sống con ngời

Thủ công nghiệp chính là “đêm trớc” của công nghiệp Không có một nềnthủ công nghiệp bền vững thì không thể có văn minh nông nghiệp

1.1.4 Thực trạng của nghề thủ công truyền thống.

Hiện nay một số nghề đã phát triển tới trình độ công trờng thủ công vàcông nghiệp hoá từng công đoạn Nhng số đó còn nhỏ bé và thờng xuyên thiếunguyên- vật liệu Vai trò của khoa học- kỹ thuật và công nghiệp hiện đại cũng rất

mờ nhạt đối với các ngành nghề thủ công 90% số nghề đợc nghiên cứu hiện nay

đang hoạt động theo truyền thống ít đợc cải tiến kỹ thuật, tự sản, tự tiêu, mangnặng tính tự cấp tự túc Một số địa phơng chất lợng hàng hoá có khá nhng thiếuhình thức cần thiết để hấp dẫn khách mua Một số nghề cổ truyền có nguy cơthất truyền, nghệ nhân già nua và tha dần, lớp thợ trẻ cha thấy xuất hiện Một vàinghề phải chuyển hớng sang một nghề khác để đảm bảo đời sống

Trừ những trờng hợp cá biệt còn phần lớn nghệ nhân các nghề cổ truyềntrình độ học vấn không cao, họ từ nông dân mà ra học nghề theo lối gia truyền

và tự học, không đợc đào tạo đến nơi đến chốn về văn hoá cơ bản và kỹ thuật,làm theo truyền thống nhiều hơn là áp dụng những kỹ thuật tiên tiến vì thế màhạn chế nhiều năng lực sáng tạo của ngời thợ

Trang 13

Trong khi đó những ngời đợc mệnh danh là có học thức thì lại ít quan tâm

đến nông nghiệp, trừ những ông tiến sĩ, ông tổ nghề có công lập làng Chất xámrất thiếu trong hoạt động sản xuất của các nghề cổ truyền

Một số nghề thủ công cổ truyền hiện nay đợc phục hồi và phát triển sau mộtthời gian dài chiến tranh làm cho mai một và gián đoạn, trong đó có nhữngngành nghề thu hút hầu hết lao động phụ, lao động của những ngời tàn tật, lao

động d thừa của nông nghiệp làm cho một số làng nghề có công ăn việc làm, hạnchế những tệ nạn xã hội, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị thiết thực, đảm bảocuộc sống ổn định và lành mạnh, có ý nghĩa kinh tế xã hội to lớn Duy trì, pháttriển hoặc chuyển hớng hoạt động của các nghề cổ truyền, đặc biệt là nghề độc

đáo là vấn đề cấp thiết Thực tế cho thấy chúng ta hoàn toàn có khả năng phụchồi và phát triển những nghề đòi hỏi kỹ thuật phức tạp tởng nh đã thất truyền,nếu biết tổ chức và phát huy đúng hớng

Sự xuất hiện và tồn tại những nghề thủ công truyền thống ở tỉnh nhà là biểuhiện văn minh của dân tộc trong một địa phơng Nếu có quan điểm đúng, hành

động tích cực và khoa học thì có thể khai thác đợc di sản văn hoá quý báu mà

ông cha ta đã sáng tạo và lịch sử đã bàn giao cho chúng ta chắc chắn sẽ mang lạilợi ích to lớn trên nhiều phơng diện

1.2 Khái quát về nghề nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An.

ở đây chúng ta không đi sâu tìm hiểu về vị trí địa lý, tự nhiên, về xã con ngời Nghệ An mà chúng ta chỉ điểm qua một số nét chung liên quan đếnnghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An

hội-Nghệ An là nơi viễn trấn, trấn địa xa thủ đô, đờng giao thông đi lại khókhăn cho nên phải tự túc về các nghề thủ công, sản xuất ra các công cụ, các sảnphẩm để phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp, xây dựng và phát triển cuộcsống hàng ngày cũng nh các nhu cầu khác

Mặt khác, dân c Nghệ An ngoài ngời bản địa ra đời cùng thuở bình minhlịch sử đã làm chủ các thời kỳ văn hoá thì còn nhiều ngời ở các vùng khác đến,nhiều nhất là ngời ngoài Bắc Họ đến đây lập nghiệp do nhiều nguồn gốc, nhiều

lý do qua nhiều thời gian khác nhau

Có ngời là dân phiêu tán, có ngời là lính thú, có ngời là quan lại đợc cử đếntri nhậm, có ngời là tù binh qua các cuộc chiến tranh, có ngời bị lu đầy, có ngờivào thay tên đổi họ để chốn tránh sự đàn áp của triều đình qua các cuộc phế hngtrong lịch sử…bảo đảm Vào Nghệ An, nhiều ngời không chỉ làm nông nghiệp, họ đemtheo nghề thủ công truyền thống từ quê hơng xứ sở theo cùng và rồi hành nghề,truyền nghề tại địa phơng mới đến c trú

Trang 14

Ví dụ: Những ngời lính của Thục An Dơng vơng đã truyền nghề làm vàngcho dân Đồng Tháp, Diễn Châu Hoặc ông Nguyễn Tiên Yên và những ngờihuyện Khải An, Hải Dơng đã truyền nghề làm muối cho dân xã Đồng An cũ(nay là huyện Quỳnh Lu)…bảo đảm

Lâu rồi họ đã trở thành con ngời xứ Nghệ, chung lng đấu cật để xây dựngmảnh đất Nghệ An này Điều đó cũng cắt nghĩa tại sao ở đây có nhiều nghề thủcông cổ truyền

Mặt khác, ở Nghệ An do điều kiện địa lý, xã hội, văn hoá từ xa xa để lại, dotâm lý ngời dân trong cộng đồng làng xã nên nhiều làng là làng nghề hay cónghề thủ công truyền thống song ai cũng bám vào một phần ruộng công Ruộngcông là sở hữu của toàn dân Ruộng đất công còn tồn tại, sức sản xuất khôngnhững bị giẫm chân tại chỗ mà nó còn bảo lu, củng cố bao thế lực của vùng nôngthôn khép kín nh tàn tích thị tộc, thể chế quân cấp theo hơng ớc Vì thế, ngờinông dân đã trở thành ngời thợ thủ công chuyên nghiệp vẫn cố bám lấy mảnh đấtcông điền, đợc coi nh quyền lợi của làng xã dành cho mình, không muốn thoátkhỏi cái làng xã khép kín mà bao đời đã hạn chế tầm nhìn, cách nghĩ cũng chịubao khổ đau mê muội để có thể giải thoát cho mình và vơn lên theo thời đại Mặtkhác, ngời xứ Nghệ sống theo kiểu “ Làng thơng hơn nơng kín”, đi vào một làngnào đó chúng ta chỉ cần vào một nhà rồi băng vào khắp mọi nhà trong làng Điềunày cũng có cái hay của nó nhng rõ ràng ý thức t hữu cha cao, cha có t tởng làmkinh tế hàng hoá

Qua đó cũng đủ hiểu tại sao nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ

An, trừ một số nghề mà “ Dân biết mặt, nớc biết tên” còn đa số sản phẩm làm rachỉ để tự cung tự cấp hoặc trao đổi trong vùng, trong tỉnh cha giao lu buôn bánrộng rãi, cha nhóm họp đô thị chuyên bán sản phẩm nghề thủ công của xứ sở Do

đó ta hiểu tại sao thành phố Vinh hay một vài đô thị nhỏ khác ra đời nhng không

có phố nghề

Tuy nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An không bằng ở Kinh

Kỳ và tứ trấn Đàng Ngoài hay Cố đô Huế song bức tranh của nó cũng không đếnnỗi nông sơ, kém ấn tợng

Theo tìm hiểu của chúng tôi thì ở Nghệ An có gần 100 nghề thủ công Vàtrong gần 100 nghề đó, có nghề tạm gọi là “ Thủ công nghiệp nặng” nh: luyệnsắt; luyện đồng; làm đất để làm gốm; nghề làm ra công cụ sản xuất vũ khí; nghềlàm ra đồ dùng hàng ngày; nghề làm ra đồ tế khí; nghề phục vụ nhu cầu ẩm thực;nghề làm ra dụng cụ âm nhạc; nghề làm ra đồ trang trí nội thất, ngoại thất; nghềlàm các đồ theo yêu cầu của đời sống tâm linh; nghề làm đồ chơi nhi đồng…bảo đảm

Trang 15

chúng ta thấy rằng đời sống càng cao, giao lu văn hoá càng rộng rãi thì có thêmnghề mới và sản phẩm của nghề cũ cũng đợc cải tiến hơn Điều đó gần nh mộtquy luật khi mà sản xuất thủ công trở thành hàng hoá.

Ngời xứ Nghệ chuộng cái gì chắc, bền nên sản phẩm thủ công cũng phảibền, chắc, ít chạm trổ, ít trau chuốt, ít hoa lá nh tính cách con ngời xứ Nghệ vậy

Đó cũng là một nét văn hoá đặc trng của xứ Nghệ

Cho đến đầu thế kỉ XX ở Nghệ An cả miền xuôi lẫn miền núi có gần 100nghề thủ công truyền thống V trong số những nghề thủ công truyền thống cóài bão của mình vào đó Mặtmặt ở Nghệ An đều có một quá khứ và ít nhiều đã nổi danh nh:

- Làng luyện quánh(quặng sắt) và rèn Nho Lâm

- Làng gốm Trù ú, Bộng Vẹo

- Làng dệt tơ lụa Quỳnh Đôi

- Làng thợ mộc Phú Nghĩa, Tràng Tân, Nam Hoa

- Làng đúc lỡi cày Mỹ Lý (Si)

- Làng bện võng Hoàng La, Phú Hậu

- Làng dệt chiếu Yên Lu, Văn Trai

Trai mong chiến bảng đề danh Gái thì dệt vải vừa lanh vừa tài.

Trang 16

Nói về làng làm nớc mắm Vạn Phần:

Hỡi cô gánh nớc quang mây,

Có về làng Vạn đi đây cùng về Làng Vạn nớc mắm ngon ghê, Sông Bùng tắm mát, nốc nghề cá tôm.

Nói về làng Luyện Quánh Nho Lâm:

Nho Lâm than quánh nặng nề, Những ông làm quánh kém chi học trò, Quánh này xây dựng cơ đồ, Nhà Lê nhà Nguyễn cũng dụng quánh để điểm tô sơn hà.

Nói về thợ ca Chân Phúc, thợ mộc Tràng Thân:

Cái ca Chân Phúc, Cái đục Tràng Thân, Muốn làm nhà ngói sa chân đi tìm.

Thợ ca Chân Phúc (Nghi Lộc) cũng tự hào lắm chứ:

Búa sắc cũng chẳng qua rìu Thợ ca ta cũng phong lu linh đình

Ra ca bắt thép đóng đinh

Ca mà thấp chấu dám khinh thợ nào.

Nói về mấy cô gái phờng Lịch dệt vải:

Em dệt bao nhiêu vải tốt lành

Mà em mặc yếm chật để anh ngẩn ngời.

Các cô gái phờng Lịch kiều diễm ngồi dệt vải có nhiều anh ớc mơ:

Cái chân thì đạp dọc Cái thoi thì lọc xọc đâm ngang Bao giờ anh cới đợc nàng,

Để anh đạp dọc đâm ngang với mình

Nói về mấy ông thợ đục cối đá ở Trung Phờng:

Thế gian đi học tiên đề Trung phờng đục cối cũng nghề vinh quang

Nói về đất tơ tằm Dơng Phổ:

Trang 17

Dơng Phổ là đất tơ tằm

Em về Dơng Phổ em nằm em ăn

Có thể kể thêm nhiều làng nữa, nh: "Làng Trung - bẻ vàng, làng Tràng đanbị", "Kẻ Si đúc cày, xa quay phờng Lịch", "Bánh đúc cháo kê là nghề làng Trại,

đánh tranh mãi mãi là thói làng Vinh, làm nhà làm đình là dân Phú Nghĩa",

"Kiềng làng Hạ, rá làng Đông, nồi đồng Cồn Cát", "Nồi Bộng Vẹo, chiếu VănTrai", "Nống Do Nha, cà Nghi Lộc", "Rơi Hng Nguyên, thuyền Chân Phúc",

"Thợ ca Chân Phúc, thợ mộc Thái Yên", "Nhút Thanh Chơng, tơng Nam Đàn", Nh

Thợ rèn trên búa dới đe Thiếu chi nho sĩ em ve thợ rèn

Cô gái đáp:

Núi cao thì gọi bằng lèn, Gia Long, Minh Mạng cũng cần tới thợ rèn nữa em.

Thiết tởng đó cũng là câu gói lại tấm lòng của nhân dân ta nói chung, Nghệ

An nói riêng đối với nghề thủ công

Trên đây chúng ta mới khái quát về nghề thủ công truyền thống của Nghệ

An Do giới hạn của đề tài nên chúng tôi chưa có dịp đi sâu tìm hiểu hết đợc cácnghề thủ công truyền thống có mặt ở Nghệ An mà qua đề tài này tôi mới chỉ đisâu tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống ở một trong 19 huyện của tỉnhNghệ An Và đơn vị hành chính của tỉnh mà đề tài này hớng tới là huyện Đô L-

ơng

Trang 18

Chơng 2 Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống

ở đô lơng - Nghệ An.

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, xã hội, con ngời Đô Lơng

2.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

Đô Lơng là một mảnh đất văn hiến có vị trí chiến lợc quan trọng, có bềdày lịch sử vẻ vang

Đô Lơng xa có tên gọi dân gian là Lờng, hiện nay những địa danh gắnvới chữ Lờng vẫn còn tồn tại, nh sông Lờng, chợ Lờng, Đò Lờng…bảo đảm

Mỗi thời kì lịch sử, từng triều đại phong kiến khác nhau Đô Lương cótên gọi khác nhau

Từ xa xa vốn là vùng đất thuộc Bộ Việt Thờng, một trong 15 bộ của nớcVăn Lang thuở các vua Hùng dựng nớc Trong thời kì chống lại ách đô hộ củaphong kiến phơng Bắc, Đô Lơng thuộc các đơn vị hành chính khác nhau:

Đời nhà Hán, Đô Lơng thuộc vùng đất của huyện Hàm Hoan

Đời Đông Ngô là đất của huyện Đô Giao

Đời Đờng thuộc huyện Nhật Nam của Châu Hoan

Đời Tiền Lê là đất của huyện Hoan Đờng

Đời Trần Hồ là Kệ Giang

Đời Lê thuộc huyện Thạch Đờng

Sau là đất của huyện Nam Đờng

Vào đời Lê (Thế kỷXV), Đô Lơng thuộc phủ Anh Đô bao gồm toàn bộphần đất của các huyện Hng Nguyên, Nam Đàn, Anh Sơn, Đô Lơng hiện nay Đến thời nhà Nguyễn vào năm Minh Mệnh thứ ba (1822) cắt bốn tổngcủa huyện Nam Đờng và hai tổng của huyện Thanh Chơng lập ra huyện LơngSơn do phủ Anh Sơn kiêm lý (Phủ Anh Đô đợc đổi tên là phủ Anh Sơn) HuyệnLơng Sơn là đất của huyện Đô Lơng và Anh Sơn hiện nay Đến thời Thành Thái,nhà Nguyễn bỏ cấp phủ, huyện Lơng Sơn mới đổi thành phủ Anh Sơn

Từ khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta cho đến đầu 1946 phủ Anh Sơn làmột trong sáu phủ, năm huyện của tỉnh Nghệ An

Năm 1954, huyện Anh Sơn có 53 xã [8;9].

Theo quyết định số 52 CP ngày 19/4/1963 của Hội đồng chính phủ,Anh Sơn đợc tách ra làm hai huyện Đô Lơng và Anh Sơn (mới) Từ đó phần đấtphía Đông của huyện Anh Sơn cũ đặt là huyện Đô Lơng, vùng đất phía Tây gọi

là huyện Anh Sơn Chuyển ba xã cho huyện Tân Kì là Phú Sơn, Hơng Sơn và KỳSơn

Trang 19

Huyện Đô Lơng là phần đất của các tổng: Bạch Hà, Thuần Trung, Đô

L-ơng, Yên Lăng và một phần của tổng Đặng Sơn (chiếm hơn bốn trong sáu tổngcủa phủ Anh Sơn cũ ) [8;9]

Ngày nay, Đô Lơng gồm có 31 xã và một thị trấn, thị trấn Đô Lơng Xét về vị trí địa lí, nếu dựa vào địa hình, địa mạo, dân c và đờng ranhgiới có sẵn theo GS Nguyễn Đổng Chi trong “Địa chí văn hoá dân gian NghệTĩnh” đã chia Nghệ Tĩnh thành bảy khu vực Trong đó “khu vực ba gồm cáchuyện nằm hai bên bờ sông Lam nh Anh Sơn, Đô Lơng, Thanh Chơng, Nam

Đàn, Hng Nguyên và thành phố Vinh” [1;47]

Đô Lơng là huyện trung tâm của tỉnh Nghệ An, nằm về phía Tây bắc củathành phố Vinh Bao bọc xung quanh là các huyện bạn bao gồm: phía ĐôngNam là huyện Nam Đàn, Nghi Lộc; phía Bắc giáp ranh huyện Yên Thành; phíaTây Bắc giáp huyện Tân Kỳ, Anh Sơn; phía Nam giáp huyện Thanh Chơng

Xét trong tổng thể chung các huyện theo đờng 7A thì ta thấy rằng: Đô

L-ơng nằm ở vị trí trung chuyển từ các huyện miền núi (Kỳ Sơn, Con Cuông, TL-ơngDơng, Anh Sơn) xuống các huyện đồng bằng ven biển (Yên Thành, Quỳnh Lu,Diễn Châu)

Từ thành phố Vinh về Đô Lơng có thể đi cả đờng bộ hoặc đờng thuỷ Về

đờng bộ thì có thể ngợc quốc lộ 1A ra Hà Nội đến thị trấn Diễn Châu rẽ trái theoquốc lộ 7 khoảng 30 km Con đờng bộ nữa có thể đi là từ thành phố Vinh theotỉnh lộ 15A,15B qua Hng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chơng rẽ về Đô Lơng Còntheo đờng thuỷ có thể ngợc dòng sông Lam từ cầu Bến Thuỷ đi khoảng 80 kmcũng đến Đô Lơng

Xét trong hệ thống mạng lới giao thông thì có thể coi Đô Lơng ở vị trí

nh cái “dúm vó” của tỉnh nhà, từ mọi hớng có thể vào Đô Lơng một cách dễ dàng

Địa hình Đô Lơng nghiêng dần về phía Đông Về đất đai tự nhiên của ĐôLơng có diện tích khoảng 35,574 ha Trong đó núi rừng và trung du chiếm 2/3diện tích Diện tích trồng trọt của huyện đợc phân bố trên các vùng : Bán sơn địa,vùng lúa, vùng ven bãi sông Lam và vùng kinh tế mới Vùng rừng đồi và ven theocác bãi sông rất thuận lợi cho việc trồng các loại cây hoa màu, cây lu niên đặcbiệt là cây công nghiệp Đây là điều kiện tốt để nhân dân phát triển kinh tế vờn

đồi và làm hàng xuất khẩu Vùng lúa của Đô Lơng có diện tích là 12.765 ha.Ruộng đất phì nhiêu đợc trải ra thành cánh đồng vừa rộng vừa bằng phẳng lại có

hệ thống tới tiêu khá tốt nên rất thuận lợi cho việc đẩy mạnh thâm canh tăng năngsuất Vì vậy, đây là vùng chiếm vị trí quan trọng nhất trong trồng trọt và thu nhậpkinh tế của huyện cũng là một trong những vùng trọng điểm lúa của tỉnh Nghệ

Trang 20

An Mặt khác, trong cấu tạo địa chất thủa mới hình thành, các dãy núi ở Đô Lơngcũng kiến tạo biến đổi mạnh tạo thành những hang động và thiên nhiên mới lạ.

Sông Lam (sông Cả), con sông lớn nhất của tỉnh Nghệ An, bắt nguồn từ đấtLào chảy từ các huyện vùng thợng nguồn rồi đổ về Đô Lơng chia huyện thành haiphía tả ngạn và hữu ngạn Phía tả ngạn gồm 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn.Tả ngạn bao gồm các xã còn lại Con sông Lam chảy qua địa bàn huyện với chiềudài 20 km là điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt đặc biệt là chiếnlợc phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng Con sông Lam qua đoạn huyện Đô L -

ơng đợc ngời dân ở đây gọi là sông Lờng Và qua bài hát “Mời bạn về Đô Lơng”của nhạc sỹ Phan Thanh Chơng đã vẽ ra con đờng, cũng nh thay cho lời mời trìumến của con ngời nơi đây khi bạn đến với mảnh đất thân yêu này “Về Đô Lơng

đi ngợc sông Lờng mà nghe câu hò hết giận rồi thơng…bảo đảm” Nó là đầu mối giaothông quan trọng nối liền giữa Đô Lơng với các huyện khác

Ngoài ra, Đô Lơng còn có các con sông lớn, nhỏ phục vụ tới tiêu, bồi đắpphù sa đem lại sự phì nhiêu cho đồng bãi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao

lu mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội Tuy nhiên bên cạnh đó những thuậnlợi, con sông Lờng và các con sông khác cũng đặt ra những vấn đề bức thiết hàngnăm đó là đắp đê phòng lụt, việc thông thoát dòng chảy

Đô Lơng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm của dải đấtmiền trung nên cũng mang những đặc điểm của khí hậu vùng, vừa có yếu tốthuận lợi vừa có sự khắc nghiệt của thiên nhiên, ngoài những yếu tố nắng lắm, manhiều, nhiệt độ, độ ẩm cao thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi ĐôLơng cũng chịu những bất lợi của thiên nhiên Vào mùa hè đặc biệt là vào tháng

6 và tháng phải hứng chịu những đợt gió Phơn Tây Nam (còn gọi là gió Lào) cực

kỳ oi bức Vào thời gian đó ở Đô Lơng luôn đặt trong tình trạng khẩn cấp về cháyrừng Bên cạnh đó việc hình thành các vùng tiểu khí hậu, lợng ma nắng phân bốkhông đều trong năm dẫn đến hạn hán, ma lũ thờng xuyên Điều đó đã gây biếtbao tai hoạ cho sản xuất và đời sống của nhân dân Vì vậy, từ lâu ngời dân ở đâybiết đoàn kết, gắn bó bên nhau để cùng nhau chống lại khó khăn, thiên tai, địchhoạ, chinh phục thiên nhiên nh đắp đê, xây đập, đào sông, mơng máng…Mà thểhiện rõ nhất là trên địa bàn toàn huyện có hơn 10 km đê điều, 57 hồ đập lớn nhỏ

và hàng trăm trạm bơm nớc Đập Ba Ra ở địa bàn xã Tràng Sơn, Đặng Sơn đợcxây dựng từ thời Pháp thuộc nổi tiếng khắp cả khu vực Đông Dơng nay vẫn cònnguyên giá trị Hệ thống bơm nớc Vãn Tràng có công suất lớn tới tiêu cho hơn

2500 ha…

Trang 21

Sự đa dạng phong phú của đất đai, tài nguyên, khí hậu là điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi cũng đã tạo nên những nét đặc thù riêngtrong sự phát triển kinh tế cũng nh xã hội và con ngời Đô Lơng.

2.1.2 Xã hội, con ngời Đô Lơng

Về dân c, tính đến năm 2005, Đô Lơng có trên 19,8 vạn dân (chiếmkhoảng 7% dân số toàn tỉnh ) trong đó có khoảng 7% dân số của huyện theo đạoThiên Chúa [8;10]

Trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An “có sáu dân tộc anh em sinh sống đó làKinh, Thái, Thổ, Khơ mú, H’mông và Ơ Đu” [13;15] Về nguồn gốc con ngời

Đô Lơng thì đã có từ rất xa xa Các tài liệu khảo cổ học phát hiện các di cốt hoáthạch ở các vùng lân cận Đô Lơng nh: Dùng, Rạng (Thanh Chơng), Tân Kỳ, DiễnChâu, Nghĩa Đàn…Đã khẳng định rằng cách đây 20 vạn năm đã có ngời nguyênthuỷ sinh sống Con ngời Đô Lơng cũng xuất hiện trong bối cảnh chung đó

Con ngời Đô Lơng mang đầy đủ cốt cách của con ngời Việt Nam: “ cần cù,chịu khó trong lao động; kiên cờng dũng cảm trong chiến đấu, nghĩa tình thuỷchung trong cuộc sống…bảo đảm” [8; 5]

Đô Lơng từ lâu có tiếng là nơi hiếu học Nhiều tên đất, tên làng, tên núi nh:Văn Khuê, Văn Lâm, Văn Trờng, Núi Bút, Ngọn Nghiên, Hòn Mực, thể hiện thái

độ trân trọng của nhân dân đối với việc học hành, khoa cử Với một quan niệm

“Học để biết và hiểu đạo lý làm ngời” Do vậy nhiều gia đình tuy nghèo nhng vẫntìm cách cho con đi học Vì vậy, ở Đô Lơng nhà Nho, những ngời có học khôngphải chỉ xuất thân từ những gia đình giàu có

Các bậc Nho sỹ, khoa bảng nơi đây đều hay chữ nghĩa, thích văn thơ,khảng khái, hào hiệp và trọng khí tiết Do đó một khi đất nớc bị nạn ngoại xâm,phần lớn họ đều hăng hái tham gia chống giặc cứu nớc Hay mỗi khi bị bắt éplàm những việc phi nhân đức dù làm qua đầy quyền lực và bổng lộc nhng nhiềungời treo ấn từ quan về quê dạy học, bốc thuốc cứu ngời nh: tiến sỹ Đặng MinhBích (Lam Sơn), tiến sỹ Nguyễn Nguyên Thành (Đông Sơn)…Mặc dù học rộng,tài cao, công danh đang rộng mở nhng các ông sẵn sàng tham gia phong trào VănThân, Cần Vơng chống giặc Pháp cứu nớc cứu dân. Ở Đô Lơng có nhiều dòng họnổi tiếng hiếu học,và đỗ đạt, nh họ Nguyễn Cảnh, Thái Bá…ở các nhà thờ họ hiệnnay còn lu danh nhiều con ngời của quê hơng, của dòng họ với những tài năngcông trạng lớn

Đô Lơng phong cảnh nên thơ và ngời dân có một đời sống văn hóa phongphú lâu đời Từ chân núi Đại Huệ đến đỉnh Truông Dong và ngợc dòng Lam đếnVòm Cóc mà trông dần về phía chân trời thì “ Đô Lơng giống nh một bức tranh

Trang 22

thủy mạc” Ngời dân ở đây rất quý trọng thuần phong mĩ tục và biết sáng tạo racác giá trị văn hóa Nhiều đền thờ miếu mạo… đợc xây dựng qua các triều đại vớinhững nét kiến trúc khá tinh vi, chắc khỏe và giản dị Một trong những nét đặcsắc là phần lớn những di tích này đều gắn liền với một tên đất, tên ngời có côngtrạng với dân tộc trong đấu tranh để tồn tại và phát triển, nh đền Mợu (Bồi Sơn),

đình Lơng Sơn (Bắc Sơn)…

Về kinh tế, ở Đô Lơng nghề nông vẫn là chủ yếu Hình ảnh “ Chồng cày vợcấy, con trâu đi bừa” vẫn là phổ biến ở nơi đây Tuy nhiên nhờ sự đa dạng, phongphú của đất đai, t i nguyên, khí hậu là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển câyài bão của mình vào đó Mặttrồng, vật nuôi Ngoài trồng lúa, ngô, khoai, sắn…từ lâu nơi này đã có những loạicây đặc sản nổi tiếng nh : vải Thanh Lu, nhãn Khả Qua, bởi Lơng Sơn…Nh vậy,lơng thực, thực phẩm của Đô Lơng rất sung túc Trong dân gian có câu :

“ Muốn ăn khoai sọ chấm đờng Xuống đây mà ngợc đò Lờng cùng anh

Đò Lờng bến nớc trong xanh Gạo ngon, lúa tốt bến thành ngợc xuôi ”Hay:

"Bao giờ Bến Thuỷ hết dầu

Đô Lơng hết gạo anh hết cầu duyên em"

Ngoài trồng trọt với những nét đặc trng riêng, vùng quê này còn có truyềnthống lâu đời về nghề thủ công v buôn bán.ài bão của mình vào đó Mặt

Nghề thủ công ở Đô Lơng cũng rất phát triển Theo sử sách ghi lại thì từ

đời Lý, Đô Lơng và Bạch Ngọc đã là thị trấn của Nghệ An nổi tiếng đô hội và trùphú Đồ gốm xuất hiện khá sớm và nổi danh nh: Nồi đất ở Trù ú (Trù Sơn), gạchngói ở Phợng Kỷ (Đà Sơn) Nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở Đô Lơng nổi tiếng

từ lâu về sự bền đẹp rất đáng tự hào:

Đô Lơng dệt gấm thêu hoa Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời

Ngoài ra Đô Lơng còn có các nghề nh: mộc, rèn, đan lát, mây tre, làm

đá Từ xa đến nay, các nghề thủ công ở Đô Lơng đóng một vai trò rất qua trọngtrong đời sống của nhân dân và sự tiến bộ của vùng

Do điều kiện kinh tế phát triển, giao thông thuận lợi nên con ngời Đô Lơngsớm biết giao lu, buôn bán, trao đổi Dọc theo tuyến đờng số 7 và theo dòng sôngLam, nhiều bến chợ trao đổi hàng hóa, buôn bán đợc hình thành khá sớm Nhữngngày chợ phiên, thuyền bè tấp nập ngợc xuôi đờng bộ chật ních ngời, trong đó cócả những du khách vì nghe danh chợ Lờng mà tìm đến vãn cảnh Giờ đây chợ L-

Trang 23

ờng đợc hiện đại hóa để phục vụ kịp thời cho nhu cầu dân sinh nhng vẫn giữ đợc

vẻ duyên dáng, hữu tình của một thời đã qua

Nh vậy có thể nói rằng: Đô Lơng là một huyện đồng bằng có đồng ruộng,

có núi đồi xen kẽ tạo nên một vùng quê rất đa dạng về duyên cách địa lý, hiểmtrở về quân sự, thuận lợi về giao thông, phong phú về kinh tế Mặc dù vậy trớcchế độ phong kiến thực dân, Đô Lơng vẫn là một vùng quê với nền kinh tế tựcung tự cấp, manh muốn, lạc hậu mà đặc biệt là sự phát triển không đều giữa cácvùng Nơi đây ngời dân phải chịu đựng muôn vàn khó khăn, phải vật lộn với thiênnhiên khắc nghiệt, đấu tranh quyết liệt với các thế lực đè nén, áp bức Trong quátrình đấu tranh ấy, con ngời Đô Lơng dã tự hun đúc cho mình những phẩm chấtcao quý : cần cù, chịu thơng chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất, trọngnhân nghĩa, dũng cảm…Truyền thống ấy mãi mãi là tài sản quý báu trong quátrình xây dựng và bảo vệ quê hơng đất nớc của nhân dân Đô Lơng

2.2 Một số nghề thủ công truyền thống ở Đô Lơng - Nghệ An

Sự ra đời của nghề thủ công là yêu cầu bức thiết của cuộc sống, của sự phát triểncủa nông nghiệp Nghề thủ công ra đời đã giải quyết công ăn việc làm cho bao ngời

Giả sử không có nghề thủ công thì những lúc nông nhàn, nhân dân ta làmgì? những làng đinh đa- điền thiểu ngời dân làm gì?

Nghề thủ công đã giải quyết nhân công d thừa, và có đồng ra đồng vào chobao gia đình trong lúc tháng 3 ngày 8, sau những ngày nông vụ tấn thì hay không

có ruộng đất, vừa giáo dục lao động cho con cái

Hình dung lại xã hội ta ngày trớc, trừ những ngời làm nghề thủ côngchuyên nghiệp, còn lại không tay cày, tay cấy là kéo vải cán bông, là chăn tằmdệt vải…Công việc luôn tay thế mà đời sống chẳng no đủ Dẫu sao có nghề thủcông cũng là “hạnh phúc” cho gia đình

Nh vậy, các nghề thủ công không chỉ giải quyết công ăn việc làm cho baongời mà nó còn đảm bảo đợc đời sống của gia đình, đóng góp việc làng việc nớc Chính những ý nghĩa trên mà ở Đô Lơng ngoài nghề trồng trọt với nhữngnét đặc trng riêng, ở vùng quê này còn có truyền thống lâu đời về nghề thủ công

ở Đô Lơng có rất nhiều nghề thủ công truyền thống nhng đang dẫn bị maimột trớc cơ chế thị trờng mở cửa Do thời gian có hạn nên tôi chỉ đi sâu tìm hiểumột số nghề thủ công truyền thống ở Đô Lơng

Trang 24

Cái nghề nồi đất mấy đời đồn xa”

(Ca dao)Làng “Trù ú” nổi tiếng với nghề làm đồ gốm, mà chủ yếu là làm nồi đất đã

đI vào ca dao “Trù ú” xa gọi là Kẻ Trần hay Kẻ Trang thuộc tổng Bạch Hà,huyện Lơng Sơn, về sau thuộc hai xã Trù Sơn và Đại Sơn huyện Đô Lơng Vùng

đất Trù Đại ngày nay có địa giới giáp với ba huyện: phía Nam giáp Nam Đàn và

đợc ngăn cách bởi dãy núi Đại Huệ, do đó có tên làng xã của vùng này có nhiềubiến đổi

Tháng 3 năm 1948, hai xã Trù Sơn và Đại Sơn nằm trong một xã lớn gọi làHoà Lu, do sát nhập với các xã Lu Sơn và Lu Mỹ (Trù Sơn) và xã Thanh Hoà(Đại Sơn) Xã Lu Sơn, trớc cách mạng tháng tám bao gồm cả làng Thợng Giáp

và Kẻ Đại (Cự Đại) sau đổi gọi là Kê Trang, còn có tên là Phú Yên Xã Lu Mỹ làxã giáo dân toàn làng

Tháng 3 năm 1954, xã Hoà Lu lại chia làm hai xã Trù Sơn và Đại Sơn XãTrù Sơn bao cả xã Lu Mỹ và một nửa Cự Đại, cho đến nay có 21 xóm

Nghề làm nồi đất của Nghệ An, chủ yếu ở các xã Trù Sơn và Đại Sơn(huyện Đô Lơng), Sơn Thành, Viên Thành (Yên Thành) nhng làm nhiều hơn cảvẫn là xã Trù Sơn mà trung tâm là làng Thợng Giáp (cũ), nay là các xóm 12, 13,

14, 15, 16, 17 của xã Trù Sơn

Trù Sơn có diện tích đất tự nhiên 800 ha, trong đó chỉ có 120 ha đất canhtác Xã có 600 hộ với 2000 nhân khẩu, 85% thu nhập hàng năm trông chờ vàonông nghiệp và nghề gốm truyền thống Nghiên cứu sâu vào nghề làm đồ gốm ởTrù Sơn ta có thể hiểu rõ đợc diện mạo và công nghệ làm đồ gốm thô sơ thủcông ở Nghệ An Thời Pháp, V Barbire có nghiên cứu về một số làng nghềtruyền thống ở Việt Nam (đã đăng trên tạp chí Revue Indochinoise) cho rằnglàng nghề làm nồi đất ở Kẻ Trần, Nghệ An cũng ví nh làng nghề làm đồ sứ ở Li-Mô- Giơ (Limoges) ở Pháp vậy Trong sách “địa chí văn hoá dân gian NghệTĩnh” do GS Nguyễn Đổng Chi chủ biên cũng đã viết: ở Lu Mỹ- Anh Sơn cũng

có nghề làm gốm, nồi đất lâu đời, do đất tốt, nung lên hàng trắng trẻo rất đẹp,kiểu dáng xinh xắn dễ coi, thờng gọi là nồi đất Kẻ Trần, ai cũng thích mua cócâu:

Nồi trắng cát, bát men xanh

“Nồi trắng cát, bát men xanh…” …”

2.2.1.2 Xuất xứ của nghề

Hiện nay còn có đền thờ ông tổ nghề gốm xứ Nghệ ở Đình Trung làng gốmCẩm Trang, xã Bồng Giang nay là xã Đức Giang, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh

Ba vị tổ s nghề gốm đợc thờ ở đây là là Hứa Vĩnh Cảo (Kiểu), Lu Phong Tú và

Đào Tứ Tiến Theo truyền thuyết thì các vị tổ s vốn gốc gác từ làng Thổ Hà, tổng

Trang 25

Tiên Lát huyện Việt Yên, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc nay là xã Vân Hà, huyệnViệt Yên, tỉnh Bắc Ninh, nằm bên tả ngạn sông Cầu Theo ông TháI Kim Đỉnhtrong sách “Làng cổ Hà Tĩnh” viết về 3 vị tổ s nghề gốm nh sau:

“Theo truyền thuyết ở quê quê gốc Thổ Hà thì tổ s nghề gốm là Hứa VĩnhCảo (Kiểu), Lu Phong Tú và Đào Tứ Tiến Tơng truyền 3 ông đều làm quan thời

Lý, sang sứ Trung Quốc khi qua về phủ Thiều Châu, có đa theo 12 ngời thợ gốm

về nớc, dạy nghề cho dân Dân học đợc nghề, làm ra sản phẩm đẹp, dâng lênvua Vua Lý khen ngợi phong cho 3 ông làm Thánh S nghề gốm ở 3 vùng” ông

Lu ở Phù Lãng, ông Hứa ở Bát Tràng và ông Đào ở núi Gốm, huyện Quế Vỏ vềsau dân chợ núi Gốm theo dòng sông Cầu đến làng Vạn An, làng Đặng, làngChoi, làng Quả Cam, cuối đời Trần thì định c ở Thổ Hà, lập nên làng gốm nổitiếng Rồi từ Thổ Hà thợ gốm lại về Thanh, Nghệ đến tận Cẩm Trang” Dân làngCẩm Trang chỉ biết có 3 vị tổ s và nhớ ngày mùng 3 tháng giêng âm lịch là ngàygiỗ tổ, lời khấn rất đơn sơ: “ Xin tam vị Thánh Tổ s tiên s, tổ s phù hộ cho củi

đỏ, lò bền, hàng đẹp, chín trong chín ra, chín ngoài chín vô”

ở Trù Sơn ngoài các họ lớn nh Nguyễn, Trần, Phạm, Lê, Cao còn có họ Đào

đến lập nghiệp từ lâu đời cũng cha rõ là họ Đào ở đấy có phải nguồn gốc từ ĐàoTrí Tiến, một trong 3 vị thánh s của nghề gốm Thổ Hà hay không

ở Trù Sơn cũng có một số đình chùa thờ bà chúa, con gái thứ 9 vua Trần DụTông với sắc phong: “Trần Triều đệ cửu đế Ngọc Hoa công chúa”, đền HộiThiện có thờ Đức Thánh Trần (Trần Hng Đạo) Dân ở đây thờng làm lễ dâng h-

Xấu đất vắt nỏ lên nồi “Nồi trắng cát, bát men xanh…”

Anh về lấy vợ cho tôi lấy chồng”

Đất đợc lấy ở làng Hội Yên, xa là Xạ Hội, xã Nghi Văn huyện Nghi Lộc vàlàng Điện Yên, xã Sơn Thành, Yên Thành, là loại đất dùng làm nồi đẹp nhấtNghệ An Dân ở xã Nghi Văn chỉ bán đất, không có hộ nào làm nồi cả Đây làmột vùng đất sét trắng nằm ở cánh đồng hình cái chậu hơi trũng một ít, sâu hơnmặt đất chừng 80 cm, rộng khoảng mấy chục ha Đi lấy đất là công việc rất nặngnhọc và dành cho đàn ông Đất đợc đào thủ công theo từng lỗ nh kiểu đào giếng,

Trang 26

sâu chừng 1,5-2 m, rộng 1m cho đến lớp đất sét trắng có đờng vân vàng, ánh dầu

là rất đẹp Sau khi lấy đất ngời ta lại đào ngang theo hàm ếch chừng 1-1,5 m đểlấy đất tiếp Đào hàm ếch rất nguy hiểm vì có những trờng hợp đã sập hầm, làmchết ngời Đất lấy đợc bỏ vào thùng và gánh về nhà, đã có câu ví von nh sau:

Hai đầu hòn gánh lúc lắc, hai thúng nặng, Một thứ đất sét trắng thấm dầu, lấp lánh.

Ngày nay đất đợc chở bằng xe đạp thồ, mỗi xe khoảng một tạ đất phải nộptrả 1000đ cho trạm thu tiền đất của bản xã Hố đất sau khi khai thác xong lại đợchoàn thổ trở lại để trồng lúa, sau một thời gian lại đợc khai thác lại để lấy đất

Đất lấy về, trớc khi dùng chày gỗ giã, rồi quết lên thớt gỗ Công việc quết giãcũng chẳng kém một buổi thợ đi cày Xa có những chàng trai lời nhác muốn làm

rể nhà ngời ta, nhng khi mới đến ngoài ngõ nhà cô gái nhìn vào thấy nhiều đống

đất cha giã mà không giám vào:

Đất trai ba trác rõ ràng Anh đứng ngoài ngõ, ngoài đàng dòm vô

Ngày nay ngời ta cải tiến bằng cách nghiền nát đất đỡ vất vả hơn, bằng cáchdùng liềm hay dây cắt làm gạch xắn nhiều lần rồi rảy nớc, sau đó chứa đất vào bìxác rắn lấy chân giẫm cho nhuyễn Đất phải đợc giữ sạch, không trộn bất cứ mộtthứ gì vào chỉ lẫn một hột muối là nồi sẽ nổ ngay khi nung Đất nhồi nhuyễnxong là có thể làm đợc nồi ngay

Việc làm nồi và các sản phẩm từ đất đều do phụ nữ làm Về vấn đề truyền

nghề trong dân gian có câu: Chẳng thà cho nhau vàng còn hơn bày đàng làm ăn.

Nghề này không cần có thầy dạy truyền nghề mà tự trong gia đình, các thế hệtruyền nghề cho nhau, bà và mẹ trực tiếp truyền nghề cho con cháu, con gáichừng 8,9 tuổi là có thể làm đợc nghề này Ngời lanh lợi làm giỏi nhất trong mộtngày có thể làm đợc 45 nồi, còn trung bình 20 cái một ngày Một xe đất chừngmột tạ làm đợc 100 cái nồi và các sản phẩm phụ khác, thờng làm trong khoảng 3ngày là xong Những lúc nông nhàn, giờ rỗi là lúc đàn bà, con gái trong nhà tậptrung làm nồi và có thể làm quanh năm bằng các công cụ thô sơ

Trang 27

Ngời dân Trù Sơn làm gốm

- Dụng cụ làm nồi và quy trình nặn nồi

Bàn xoay bằng gỗ, gồm thớt dới hình vuông có một cái nụ tròn nhô ở giữa

để đặt thớt tròn lên trên Thớt trong to hơn thớt vuông ở dới đờng kính khoảng45cm, mà ngời thợ dùng ngón chân cái để quay Đây chính là cái bàn quay cổ

điển chỉ chiếm một khoảng đất bằng cái đĩa từ 10-15 cm

Ngời thợ làm nồi ngồi trớc bàn xoay, lấy một nắm đất sét vắt thành một cụctròn nhỏ và đặt trên đĩa xoay Cái cục tròn nhỏ đó sẽ đợc nặn thành cái trôn nồi.Sau đó ngời thợ vắt một khoanh tròn nh cái dồi lợn đặt nó lên cánh tay, lớt nóqua bàn tay phải luôn luôn ở phía trong tạo thành hình cái nồi, trong khi bàn taytrái lo giữ và làm bóng phía ngoài Nồi làm xong đợc xếp đặt ngay trên nền nhà,trong góc nhà và hiên nhà…bảo đảm chờ cho nồi xe khô thì dùng que gót hay gọt (là một

đoạn cật giang, nứa hay tre vót mỏng) để cạo nồi làm mỏng bớt đất và tạo sựtrơn, bóng đẹp cho nồi

Thông thờng ngời ta làm 3 loại nồi: Nồi thờng để nấu cơm, nồi dùng để nấunớc thì miệng hẹp hơn, nồi để kho cá thì trẹt cạn hay còn gọi là trách Ngoài ra,các sản phẩm khác làm kèm theo gồm có: nồi đình gánh nớc, ấm hay còn gọi làsiêu để sắc thuốc đông y, nồi miệng rộng dùng để quạt than cho ngời ốm và ngời

đẻ, hông xôi lớn nhỏ, hông để cất rợu trắng, chao rang, cái vung nồi còn đợc gọi

là vàng để đậy nồi Xa kia còn làm cả các loại ống nhổ, cái ao chai để cất rơuvang, bù đựng nớc cho mát do ngời Âu và các linh mục đặt làm Ngày nay ngời

ta còn làm thêm cái ấm để đựng tiền tiết kiệm cho trẻ em

Khi nồi đã gót (gọt) hoàn thiện xong, ngời ta xếp ra sân phơi nắng cho khôcứng và gọi là rồi mộc Nồi và các sản phẩm mộc, muốn đem ra sử dụng cần đợcnung đốt cho chín ở trong lò

- Lò nung: đợc xây bằng các khuôn đất đựng 4 phía với 3 hoặc 4 cửa Để

làm lò nung ngời ta đào đất ngoài đồng, đào thành viên để nguyên cả cỏ, mỗiviên nh viên nh viên táp lô, có kích thớc khoảng 15-30 cm hoặc 20-25 cm, dày15-20 cm để ghép thành lò Lò có kích thớc khoảng một chiều dài 1,5 m, mộtchiều rộng 1,2 m Nền lò đợc lát bằng các mảnh nồi vỡ gọi là “mẻ nồi”, thứ đã đ-

ợc nung chín Một lò kiểu này xếp đợc chừng 300 nồi Các nhà làm nồi thờngchung nhau ba nhà làm một lò để tiết kiệm vật liệu và có ngời trở nồi khi nung

Trang 28

- Vật liệu đun lò: gồm các loại cỏ, lá thông, lá bạch đàn…bảo đảmlá “bổi” và rơmrạ Một lò nung tốn chừng bảy gánh bổi Bổi cũng do đàn ông hoặc đàn bà cácnhà làm nồi tự đi kiếm lấy ở trên núi Khu vực có nhiểu bổi thuộc dãy núi ĐạiHuệ, Lèn Sót, Rú Đuôi, Yên Ngựa, Mảng Ruốc, Rú Lả, Bừa Cào, Lèn Trổ Lái,Lèn 12 Thung, Lèn Đá Bạc…bảo đảm

Nếu không có các loại lá nh bổi thì ngời ta dùng rơm rạ Đến Trù ú ta thấynhiều nhà đun bổi hay đun rơm, rạ là dùng làm vật liệu đun lò

- Cách đun:

Nung lần thứ nhất: Gọi là đun nồi hay hơ nồi Lần này nung, nồi đợc xếpngửa hết, đáy xuống dới, miệng lên trên Cho bổi vào đốt ở dới cho hơi nóngtrong nồi bay ra hết và nung cho đến khi nồi hơi đen không còn chỗ trắng là đợc.Giai đoạn nung này chừng hết nửa giờ (30 phút)

Nung lần thứ hai: lần này nồi đợc xếp ngợc lại, xếp úp nồi, miệng xuống

d-ới Trong lòng nồi có rơm lót và xếp vung cùng các loại nồi cỡ nhỏ hơn vào Nồi

đợc chồng nhiều lớp xếp nghiêng vào vào giữa lò Đốt bồi nung ở dới cho đếnkhi thấy nồi ngả màu đỏ có ánh lửa thì tụ lò, tức là vấn lò nồi bằng rơm rạ, lá cỏ,

tủ cho kín dới chân, phía trên và xung quanh Sau đó đốt to lửa để tạo thành mộtvầng lửa lớn mà dân địa phơng gọi là cho có “hoa lả ” là đợc

Nung nồi thờng vào buổi chiều tối, nung đến chín nồi thì để nguyên ủ cho

đến sáng hôm sau mới dỡ nồi khi nồi đã nguội Nồi đợc nung chín ủ kỹ, khi dỡ

ra có màu đỏ au nh nắng mặt trời mọc buổi sáng sớm là đẹp

- Các loại các kiểu nồi đất là hàng hoá: sản xuất ra đồ gốm là sản xuất ra hàng hoá Nên có chợ bán nồi.

Sản phẩm gốm Trù Sơn xuống phố

Các chợ có bán nhiều nồi, có phiên chợ nồi thờng gắn với các làng xã cónghề làm nồi nh chợ Trù ú (Trù Sơn), chợ ú (Đại Sơn), chợ Rộng (Sơn Thành),chợ Vẹo (Liên Thành), chợ Rộc (Nam Thành), nhng chợ Trù là nơi bán nồi đấtnhiều hơn cả Chợ Trù có các phiên ngày chẵn và các ngày lẻ 7, 9…bảo đảm Phiên chínhbán sỉ nồi vào các ngày 7, 9, 17, 27, 29 Chợ ú họp vào các ngày 3, 5 có bán nồinhng ít hơn Phiên chợ Trù chính bán nồi, nồi đợc các nhà gánh gồng, chở bằng

xe đạp thồ đi kín đờng, xếp chật chợ, ngời bán kẻ mua tấp nập

Giá bán sỉ các loại sản phẩm gốm đất chủ yếu hiện nay nh sau:

- Nồi loại to khoảng: 500- 800đ/ 1 cái

- Trách và chân rang: 500- 800đ/ 1 cái

- Niêu sắc thuốc bắc: 500- 800đ/ 1 cái

- ống bỏ tiết kiệm: 600đ/ 1 cái

Trang 29

Ngời bán hàng và ngời mua hàng thờng cầm một cái que để bỏ vào hôngnồi, ngời bán thì quảng cáo giới thiệu nồi tốt, ngời mua bao giờ cũng lựa chọnchất lợng nồi Nồi mua xong đợc xếp vào các sọt lớn đan bằng cật đeo hai bên xe

đạp thồ Một xe hai sọt xếp đợc chừng 5 - 10 xe nồi lại lên đờng lan toả đi bốnphơng, khắp các chợ làng quê xứ Nghệ, có tốp còn đi xa hàng trăm cây số lênmiền núi cao, sang các tỉnh bạn, ra tận Thanh Hoá vào đến Quảng Bình Khi vậnchuyển nồi đi đờng, xe đạp thồ phải tháo xích đa lên khung để tránh vấp váp, xephải đi êm nhẹ, giữ cho khỏi xóc nảy để làm nồi khỏi dập vỡ Một xe nồi bánnhanh cũng khoảng 3 ngày mới hết, có khi bán trong 1 tuần hay 10 ngày Có gia

đình nhiều ngời, cả đàn ông đàn bà, có thể tự sản xuất (phụ nữ) và tự đI tiêu thụsản phẩm (đàn ông) Nh vậy sẽ kiếm đợc nhiều tiền hơn từ bàn tay lao động củagia đình mình

Nghề làm đồ gốm, chủ yếu là làm nồi đất của nhân dân ở Trù Sơn là mộtnghề thủ công cổ truyền khá vất vả, nhng cũng giúp cho họ tăng thêm thu nhập,nhất là những lúc giáp hạt, nông nhà và bao đời nay họ vẫn sống dựa vào nghề

Bà Lê Thị Thuỷ (Thợng Giáp, Trù Sơn) nói: “quê tui không có nghề ni thì chết

đói”

Ngày nay, ngời dân chủ yếu sử dụng nồi nhôm vừa bền vừa đẹp, nên có ảnhhởng đến việc tiêu thụ nồi đất Dù vậy, ở thôn quê nhiều gia đình vẫn có thóiquen dùng thêm nồi đất, trách đất để luộc khoai, kho cá, nấu thức ăn ngon hơn

đồ nhôm, nhiều ngời vẫn thích mua niêu sắc thuốc…bảo đảm

Đến nay, cuộc sống của dân tộc nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn vất vả vànghề của tổ tiên để lại cứ thế mà tồn tại từ đời này qua đời khác, không cần một

bí quyết gì thật đặc biệt Tuy vậy, đó lại là một sản phẩm đặc trng của con ngờinơi đây, nổi tiếng chịu thơng chịu khó của một vùng quê xứ Nghệ Tuy nhiênnghề này rất khó phát triển trong tơng lai Nhà nớc nên có chính sách đầu t vốn

và tạo ra mặt hàng mới phù hợp với thị trờng hiện nay để lu giữ và phát triển mộtngành nghề thủ công truyền thống tốt đẹp của địa phơng

Giờ đây các quán cơm niêu phát triển ở Hà Nội, ở Vinh và một số nơi khácnên nghề làm đồ gốm có khấm khá hơn Đi đôi với sự chú ý của nhà nớc, ngờilàm thợ làm đồ gốm ở Trù ú và những nơi khác phải cải tiến mặt hàng sao cho

đẹp hơn, nhiều kiểu dáng hơn, bền hơn thích hợp với cơ chế thị trờng

Trang 30

những chuyến xe thồ chậm rãi suốt ngày đêm vào Nam ra bắc lên tận biên giới,

đến với các vùng xa xôi, đến với các dân tộc ít ngời để ngâm chàm nhuộm thổcẩm thì sắc màu đẹp hơn các sản phẩm phục vụ cho khách du lịch cũng có công

đóng góp của làng nồi, các hiệu vàng nổi tiếng đó đây cũng cần các sản phẩmcủa làng để khò vàng thì tạo nên sức sống trong các đồ trang sức, dùng để làmgiỏ phong lan cho các nhà hàng kinh doanh cây cảnh, dùng trang trí tại nhà hàngkhách sạn, dùng ủ giá thì cây to và trắng ăn thì ngon miệng hơn nếu ai cha mộtlần nồi đất của Trù Sơn để kho cá đồng với nớc tơng thì hãy thởng thức qua mộtlần để nhớ, bát nớc chè xanh om nồi bầu thì thơm ngon và sảng khoái và đặc biệtthuốc bắc trắc vào ấm thuốc Trù Sơn thì dễ uống, bệnh mau lành và chóng khỏi.Các nhà hàng cao cấp phục vụ khách trong và ngoài nớc cũng dùng sản phẩmcủa Trù Sơn làm cơm niêu thì ngon cơm và mát dạ Phụ nữa sau khi sinh maxông lửa sau đất lò thì khoẻ mạn và dẻo dai (cha qua nghiên cứu nhng thực tếcho thấy thế) và khi đó là cha kể ra hết đợc muôn vàn tác dụng của gốm Trù Sơn

đã đổi với cuộc sống của con ngời

Về văn hoá ẩm thực ta dám khẳng định một điều đó là nồi bầu hạ “nốc ao”của công nghệ chảo xoong, nồi điện, nồi đồng Sản phẩm của Trù Sơn có vinhhạnh đợc lên ôtô ra Gia Lâm để xuất hàng đi Đan Mạch (1996) với số lợng củachuyến hàng đó rất lớn với hơn 5000 chiếc Đến nay, nó còn đợc lên máy baysang Mỹ, Châu Âu…bảo đảmNhng nó chỉ đến với con ngời của quê hơng hoặc nhữngngời biết giá trị của ấm trắc thuốc Trù Sơn

Tuy thu nhập của nghề gốm không cao nhng trong điều kiện khó khăn giátrị của nghề gốm đã trở thành niềm tự hào của nơi đây:

Trù Sơn là đất ăn chơi Tiền lơng gạo hết do nồi mà ra

Mảnh đất chật, ngời đông với dân số gần 1 vạn ngời này đã đi vào thơ ca.Nhà thơ Thạch Quỳ đã có bài “Làng nồi” với những câu biểu thị làng nồi với vấtvả nghèo khó:

Một làng nh thể làng thôi Một doi núi với doi đất bằng Mái nhà lợp kiểu cỏ răng Mảnh tờng đất với đá ong xếp dài

Và tôi nhận ra làng nồi

Từ trong vị khói chua mùi đất nung…

Hay có những câu thơ bản sắc dân tộc trong thơ đã và đang và sẽ mãi đợc lugiữ:

Làng nồi đã ở trong tôi

Trang 31

Tự bà nhen lửa mẹ ngồi nấu cơm Bây giờ trớc cửa chiều hôm Mùi cỏ cháy cứ bay thơm bồi hồi Sắt nhôm vào cuộc sống rồi Cái nồi đất của làng nồi vẫn yêu…

Ngời xứ Nghệ chuộng cái gì chắc, bền nên sản phẩm thủ công cũng bền,chắc, ít chạm trổ, ít chau chuốt, ít hoa lá nh tính cách con ngời xứ Nghệ vậy Chonên ở Nghệ An nghề thủ công bị khép kín, không mở rộng đợc, nên không pháttriển

Nghề gốm Trù Sơn cũng không nằm ngoài quy luật đó, do sử dụng mĩ thuật

“kín” (thô kệch) nên nhìn gốm Trù Sơn nh một cô gái quê cha hề đợc trang

điểm, không biết làm dáng nhng lại có những nét duyên ngầm Đặc điểm kháriêng biệt của dòng gốm này là đơn giản, thô mộc, không men tráng và hoàntoàn không có dáng dấp của nghệ thuật hoa văn trang trí Tuy nhiên, gốm TrùSơn có những u điểm rõ rệt về độ mỏng và nhẹ Ông Lê Ngọc Hân (hội Mỹ thuậtViệt Nam) cho rằng với độ mỏng lý tởng đó cùng độ thấm nớc gần nh không có

và thành phần xơng đất tốt, gốm Trù Sơn có đầy đủ tố chất để vơn lên một đẳngcấp cao hơn, tạo nên những sản phẩm gốm nghệ thuật

Từ trớc đến nay lãnh đạo xã và huyện cũng cha thực sự quan tâm tới lànggốm Song qua việc các nhà khoa học là giáo s tiến sĩ của bảo tàng dân tộc họcViệt Nam đã về Trù Sơn khảo sát và cho ngời dân Trù Sơn đại diện cho huyệnnhà trình diễn nghề gốm tại Hà Nội trong cuộc hội thảo ở Hà Nội (3/2004) dờng

nh đã mở ra cho nghề một hớng đi có triển vọng hơn

Nhng mừng nhất có lẽ vẫn là ngời dân (nghệ nhân) của Trù Sơn Quanh nămcặm cụi với nghề gốm của mình tức cái nghề “vắt đất làm nồi” họ thờng gọi và

có lẽ họ chẳng bao giờ nghĩ có ngày mình lại đợc ra Hà Nội để “trình diễn” cáicông việc nhà nông “quê mùa” ấy trớc ngời dân thủ đô và du khách nớc ngoài

Ông Trần Doãn Hùng, Trởng phòng văn hoá thông tin huyện Đô Lơng nói:

“Họ rất vui vì đây là lần đầu tiên đợc ra Hà Nội, “biểu diễn” cách làm nồi cho

đông đảo ngời dân thủ đô xem, lại còn đợc thăm lăng Bác, đợc “lên ti vi nữa”

Có thể hình dung về niềm vui ấy khi nhìn những ngời nông dân nhỏ bé, đen

đúa với giọng nói mang âm sắc nằng nặng nhng khuôn mặt rạng rỡ nụ cời tậntình hớng dẫn các thao tác làm gốm tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trungtuần tháng ba năm 2004 vừa qua

Những “nghệ nhân” của làng nh chị Hơng, chị Liên, chị Thái, anh Hứa…bảo đảmđãtrình diễn kĩ thuật làm gốm (vật liệu, công cụ, các công đoạn hoàn thành sảnphẩm…bảo đảm)

Trang 32

Tìm cho gốm Trù Sơn một hớng đi để phát triển đến một đẳng cấp cao hơnchỉ mới là ý tởng của những nhà chuyên môn Còn đối với cán bộ văn hoá, thôngtin huyện Đô Lơng cũng nh tỉnh Nghệ An thì chỉ mong sao gìn giữ đợc nhữngnét duyên mộc mạc, nguyên sơ của nó, mà bản thân vẫn tiêu thụ đợc, để ngờidân không bỏ mất cái nghề đã trở thành truyền thống này.

Tuy nhiên do sự phát triển ồ ạt của đồ nhôm, đồ nhựa, sản phẩm gốm TrùSơn nếu không có sự cải tiến đáng kể về mẫu mã và chất lợng thì rất khó trụvững đợc lâu dài

Trớc đây có khoảng 80- 90% ngời theo làm nghề gốm, thì hiện nay chỉ cònkhoảng 20 -30% Những ngời thợ thủ công ở Trù Sơn thất vọng khi: Bọn trẻ lớnlên chỉ lo đi khỏi làng để làm ăn thôi, giờ chỉ còn ngời già chẳng biết làm ăn gìnữa thì mới làm nồi vậy, trớc là để kiếm thêm đôi đồng, sau là để giữ cái nghề tổtiên để lại Thế nhng anh Hứa cũng nh chị Liên, chị Hơng, chị Thái- những ngờithợ gốm lâu năm ở Trù Sơn đều tin tởng rằng, nghề gốm nơi đây vẫn cứ tồn tạimãi cùng với mảnh đất và con ngời nơi đây

2.2.2 Nghề dâu tơ tằm ở Đặng Sơn

Trồng dâu nuôi tằm, ơm tơ, dệt lụa là nghề có truyền thống lâu đời ở ViệtNam Trải qua hàng ngàn năm với bao thăng trầm nghề trồng dâu, nuôi tằm ở n-

ớc ta vẫn tồn tại và phát triển Nghệ An có nhiều hàng dệt tơ lụa, dệt roi; Xuân

Hồ, Xuân Liễu, Thịnh Lạc, Hoành Sơn, Trung Cần (Nam Đàn), Đặng Sơn (Đô

L-ơng), Phợng Lịch (Diễn Châu), Nhân Sơn, Bèo Hậu, Phú Đa, Phú Nghĩa, ThợngYên, Trạch Động, Ngọc Đoài (Quỳnh Lu)…bảo đảmNhững làng trên vừa trồng dâu, nuôitằm, ơm tơ, dệt lụa, trồng bông dệt vải ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về nghềtrồng dâu nuôi tằm, ơm tơ của xã Đặng Sơn và nói về làng nghề tằm tơ Xuân

Nh, Đặng Sơn - Đô Lơng

2.2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội của xã Đặng Sơn

Diện tích tự nhiên: 415,64 ha, trong đó: Đất nông nghiệp: 207,82 ha; Đấtcanh tác: 182,22 ha; Đất hai lúa: 101,24; Đất màu: 80,98 ha; Đất vờn khu dânc: 24,86 ha; Đất mặt nớc: 0,74 ha; Đất thổ c: 21,54 ha; Đất chuyên dùng:53,36 ha; Đất sông suối, bãi cát: 132,92 ha

Dân số của xã tính đến 30/8/2005 có 5467 nhân khẩu Trong đó:

- Dân số nông nghiệp: 4318 khẩu

- Dân số phi nông nghiệp: 1086 khẩu

Bình quân đất canh tác: 333 m2/ khẩu

Cơ cấu dân c thành 7 xóm: 5 xóm nông nghiệp và 2 xóm ngành nghề thunhập dựa vào khai thác cát sạn, đánh bắt thủy sản, buôn bán lâm sản

Trang 33

Về cơ cấu ngành nghề Đặng Sơn chia thành 3 làng, đó là làng Đặng Lâm,Xuân Nh và Phú Cờng Ba làng này có nghề truyền thống nuôi tằm ơm tơ, kéosợi và mây tre đan lát từ bao đời nay.

2.2.2.2 Đặc điểm làng Xuân Nh, Đặng Sơn

Làng nghề ơm tơ kéo sợi Xuân Nh xã Đặng Sơn gồm một xóm, phía Đônggiáp cầu Đô Lơng, phía Bắc giáp xóm 2, phía Tây giáp bãi đất phù sa, phía Namgiáp sông Lam

Làng Xuân Nh gồm 199 hộ có 984 nhân khẩu có hơn 100 hộ sản xuấtnghề trồng dâu, nuôi tằm, kéo sợi có 239 lao động

Diện tích tự nhiên: 48,2 ha

Trong đó: - Đất canh tác: 41,7 ha

- Đất 2 lúa: 22 ha

- Đất màu, bãi trồng dâu: 19,7 ha

2.2.2.3 Xuất xứ và lịch sử của nghề

Do dân ít ruộng, ngời nông dân không đủ ăn đã tìm cách mở ra nghề nghiệptranh thủ tận dụng thời gian nhàn rỗi nhà nông lại kiếm thêm đợc đồng ra đồngvào cả thiện thêm đời sống gia đình và nhân dân xã Đặng Sơn đã tìm ra mộtnghề có giá trị kinh tế tổng hợp là nghề trồng dâu, nuôi tằm, ơm tơ

Còn nói ai là ngời truyền nghề, dạy nghề thì không còn ai nhớ rõ chỉ biết là

nó có từ lâu rồi và thế hệ cha ông đi trớc truyền dạy lại cho con cháu mà thôi Trớc đây phân tán ở các hộ gia đình tự túc giống tằm nuôi rồi kéo sợi Mộtphần tự dệt lụa để mặc Sau đó chuyển lên nuôi tằm kéo sợi thành tổ đổi công,hợp tác xã cấp thấp

Trong những năm chuyển đổi thành hợp tác xã cấp cao.Thành lập các tổ độichuyên giống nuôi tằm con riêng, sau phân bổ về các hộ gia đình để nuôi tiếp, sốlợng lao động đợc bố trí 60-70% Sản lợng kén đạt 30- 35 tấn và 3-4 tấn sợi tơcác loại giá trị của tơ bán ra phân phối lại cho ngời lao động trong toàn xã

Từ năm 1975 đến năm 1991, hợp tác xã tổ chức ơm tơ, kéo sợi tập trungbằng hệ thống ơm máy Mua máy trong Lâm Đồng rồi thuê thợ ở Đà Nẵng ra(1979) để đào tạo thợ Với việc ơm tơ bằng máy mà chất lợng tơ đạt tiêu chuẩncao cấp, số lợng lao động tập trung từ 10 - 180 ngời Sản lợng tơ hàng năm chếbiến đợc 3 - 3,5 tấn tơ máy và 0,7 - 1,1 tấn tơ gốc đã thành lập một đội dệt lụahàng năm dệt đợc 2200 - 2500 mét vải lụa, bán giá u đãi cho các cụ từ 60 tuổitrở lên nghề ơm tơ lúc đó đã thu mua sản phẩm kén cho xã viên các xã bạn ở cáchuyện Anh Sơn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn

Đặc biệt đã đào tạo tay nghề cho gần 100 công nhân cho nhà máy ơm củanông trờng Đông Hiếu Nghề nuôi tằm ơm tơ đã có tiếng và là một điểm sáng tự

Trang 34

túc đợc một phần nhu cầu mặc cho nhân dân không những trong tỉnh mà còn đếntrung ơng Đồng chí Bí th Đảng uỷ xã lúc đó là bác Trần Nguyên Nậm đợc dự

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV(27/8/1982) để báo cáo thành tích mà xã(huyện, tỉnh) đạt đợc phát huy tính tích cực của một địa phơng, khó khăn về ănmặc đợc giải quyết

Xã Đặng Sơn đã 17 năm liền đợc tặng cờ quyết thắng

Ngoài những năm 1990 xoá bỏ cơ chế bao cấp, hơn nữa giá cả thị trờngtrong nớc và quốc tế biến động giảm lớn sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ đ -

ợc, nghề nuôi tằm ơm tơ lắng xuống, một số ngời tự đào bỏ cây dâu trồng câykhác

Đồng thời, trong giai đoạn giao thời, thị trờng tiêu thụ biến động không cóngời giao dịch từ đó nghề nuôi tằm ơm tơ kéo sợi tập trung phải giải tán về hộgia đình Nhng Đảng bộ và nông dân nhận thấy trồng dâu nuôi tằm kéo sợikhông thể vắng trên đất Đặng Sơn

Đến lúc cơ chế thị trờng mở cửa có thành phần kinh tế cá thể, có chỗ đứngtrong nền kinh tế quốc dân Đợc nhà nớc quan tâm, cơ chế chính sách vay vốn,giảm thuế Uỷ ban nhân dân các cấp tạo mọi điều kiện về hành lang pháp lý, các

hộ gia đình mạnh dạn đầu t vốn, hợp đồng lao động có nghề kén tơ kéo sợi thànhlập xởng ơm máy mi ni đạp chân, chuyển thành máy ơm bằng điện Số hộ đó tậptrung trên địa bàn 3 làng Xuân Nh

Năm 2003 đợc Phòng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, Hội đồng liênminh hợp tác xã Sở công nghiệp và các sở, phòng ban chức năng tỉnh Nghệ Anchú trọng quan tâm tạo điều kiện mở lớp học ơm tơ kéo sợi để nâng cao taynghề Đồng thời Uỷ ban nhân dân xã cử cán bộ và hội nông xã ra Nam Cao -Thái Bình và một số làng nghề kéo sợi ở phía Bắc để học hỏi kinh nghiệm, tiêuthụ sản phẩm về áp dụng vào địa phơng

Bằng chứng nhận làng nghề ơm tơ, kéo sợi Xuân Nh

Từ đó các hộ gia đình yên tâm đầu t mở rộng nghề, giá tơ thị trờng có phầntăng lên, ổn định thu nhập của ngời lao động làm nghề mà mức thu nhập ngàycàng tăng lên

Ngày 29/7/2005 đợc Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định công nhậnlàng nghề tiểu thủ công nghiệp năm 2004 tiêu chí “Làng nghề ơm tơ kéo sợi”Xuân Nh xã Đặng Sơn, huyện Đô Lơng

Nghề nuôi tằm là một nghề truyền thống có từ xa xa phát triển thăng trầmtheo từng giai đoạn Nay phát triển tơng đối đều trên khắp địa bàn xã Nổi bật

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Đổng Chi “Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh”, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ An
[2]. Dominque Bouchart (1994) - “ Khôi phục những làng nghề thủ công truyền thèng (HuÕ)- ” tạp chí Sông Hơng, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khôi phục những làng nghề thủ công truyềnthèng (HuÕ)-
[3]. Ninh Viết Giao, chủ biên (1998) - “ Nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An , ” NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề, làng nghề thủ công truyền thống ởNghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
[4]. Hội văn nghệ dân gian Nghệ An (2005) “ Nghệ An, lịch sử và văn hoá , ” NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An, lịch sử và văn hoá
Nhà XB: NXB Nghệ An
[5]. Tăng Bá Hoành (1984) “ Nghề cổ truyền ”- Sở văn hoá thông tin Hải Hng (tập 1, tËp 2, tËp3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề cổ truyền
[6]. Đặng Thị Hờng (2004) Luận văn tốt nghiệp “ B ớc đầu tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền thống ở Hà Tĩnh . ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc đầu tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền thống ở Hà Tĩnh
[7]. Phạm Văn Kính (1997) Thủ công nghiệp và làng xã Việt Nam trong Nông “ thôn Việt Nam trong lịch sử” tập 1 NXB Khoa học xã hội. … Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ công nghiệp và làng xã Việt Nam trong Nông"“"thôn Việt Nam trong lịch sử
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội. …
[8]. “Lịch sử đảng bộ huyện đô lơng 30-63 - ” Uỷ ban nhân dân huyện đô lơng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ huyện đô lơng 30-63 -
[9]. Bùi Dơng Lịch-“Nghệ An ký , ” NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An ký
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
[10]. Lam Phơng (2005) – “mộc mạc gốm Trù Sơn - ” Tạp chí thông tin khoa học công nghệ Nghệ An, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: mộc mạc gốm Trù Sơn -
[11]. Vũ Huy Phúc (1996) “Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858- 1945, ” NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858- 1945
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
[12]. Tô Ngọc Thanh (1996) – “Làng nghề truyền thống và những vấn đề cấp bách đặt ra - ” Tạp chí văn hoá nghệ thuật, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề truyền thống và những vấn đề cấp bách đặt ra -
[14]. Phan Văn Thắng (10/2004)- Làng nghề truyền thống xứ Nghệ nhìn từ văn hoá và du lịch .Tạp chí văn hoá Nghệ An, số 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề truyền thống xứ Nghệ nhìn từ văn hoá và du lịch
[15]. Vũ từ Trang (2001) “ Nghề cổ n ớc Việt , ” Nxb văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề cổ nớc Việt
Nhà XB: Nxb văn hoá dân tộc
[13]. Hồ Hữu Thới (2004) - Mấy nhận thức về tài nguyên và môi trờng du lịch nhân văn ở Nghệ An .Tạp chí văn hoá Nghệ An ,số 48 (trang 13-16) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w