1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại tòa án nhân dân huyện sa thầy, tỉnh kon tum

54 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Trộm Cắp Tài Sản Và Thực Tiễn Tại Tòa Án Nhân Dân Huyện Sa Thầy, Tỉnh Kon Tum
Tác giả Nguyễn Văn Vũ
Người hướng dẫn Trương Thị Hồng Nhung
Trường học Đại học Đà Nẵng phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với tình hình thực tế về sự gia tăng tội phạm trên địa bàn huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum trong những năm gần đây tội trộm cắp tài sản, đã không ít gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

NGUYỄN VĂN VŨ

BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM

Kon Tum, tháng 5 năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện chuyên đề báo cáo thực tập này, em đã nhận được sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình, bạn bè, cơ quan, trường học Qua đây cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

Ban giám hiệu Trường Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum cùng toàn thể quý thầy cô giáo của Trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em trong quá trình học tập cũng như hoàn thành chuyên đề thực tập, đặc biệt là cô giáo Trương Thị Hồng Nhung người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề thực tập của mình

Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em có cơ hội thực tập, học hỏi được những kinh nghiệm thực tế, không chỉ về kiến thức chuyên môn mà còn về kỹ năng nghề nghiệp để tự trang bị thực tế cho mình và tiếp thu những cái mới làm giàu kiến thức cho mình

Mặc dù đã được trang bị kiến thức tại trường nhưng do trình độ và kinh nghiệm thực tế còn chưa hoàn chỉnh vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót trong bài viết

Kính mong quý thầy cô giúp đỡ để hoàn thành bài báo cáo thực tập này

Xin chân thành cảm ơn !

Sa Thầy, ngày 14 tháng 5 năm 2021

Sinh viên

Nguyễn Văn Vũ

Trang 4

i

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề bài 1

2 Mục đính nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

5 Bố cục 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM 3

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM 3

1.1.1 Giới thiệu về huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 3

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 3

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM 4

1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của tòa án Nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 4

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 4

1.3 NỘI QUY TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM 6

1.3.1 Nội quy đối với cán bộ tòa án khi tiếp dân 6

1.3.2 Nội quy đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo 7

1.4 CÔNG VIỆC THỰC TẬP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM 7

KẾT CHƯƠNG 1 8

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 9

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI CẮP TÀI SẢN 9

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm về tội trộm cắp tài sản 9

2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 11

2.2 PHÂN BIỆT TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 15

2.2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản 15

2.2.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản 16

2.2.3 Phân biệt tội cướp trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản 17

2.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 17

2.3.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015 17

Trang 5

3.1.1 Tình hình phát sinh tội trộm cắp trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 31 3.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 32

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY 37

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tội trộm cắp tài sản 37 3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trong quá trình xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 42

KẾT CHƯƠNG 3 44 KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng số vụ án, số bị cáo bị xét xử về tội phạm hình sự nói chung và tội

Trộm cắp tài sản nói riêng phải giải quyết tại TAND huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

từ năm 2016-2020

Bảng 3.2 Tình hình xét xử về tội Trộm cắp tài sản phải giải quyết tại TAND huyện

Sa Thầy, tỉnh Kon Tum từ năm 2016-2020

Bảng 3.3 Hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài sản

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề bài

Trong cuộc sống hiện nay điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

là một trong những yếu tố hàng đầu cho sự phát triển của quốc gia Phương châm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã làm cho quan hệ pháp luật về nền kinh tế nhiều thành phần đã làm cho quan hệ pháp luật về kinh tế, dân sự, hình sự… ngày càng đa dạng phong phú, kinh tế ngày càng được phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện hơn, bên sự phát triển đó, nền kinh tế thị trường đã nảy sinh những mặt trái, đó là sự tha hóa biến chất về đạo đức và nhân phẩm của một số bộ phận con người làm phát sinh ra tệ nạn xã hội, dẫn đến tình hình chính trị, an ninh, xã hội đi theo khuynh hướng xấu

Tội phạm ngày càng gia tăng, tính chất mức độ ngày càng nguy hiểm và ngày càng tinh vi hơn, trong đó các loại phạm tội như tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản… và nó xảy ra càng ngày càng phức tạp với nhiều hình thức khác nhau Đối với tình hình thực tế về sự gia tăng tội phạm trên địa bàn huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum trong những năm gần đây tội trộm cắp tài sản, đã không ít gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, và nhận thấy cần phải tìm hiểu những quy định, hình phạt nắm vững các quy định pháp luật nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này để có những biện pháp phòng chống hiệu quả Vì vậy, em quyết định chọn đề

tài “Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum”

làm đề tài nghiên cứu cho báo cáo thực tập cuối khóa

2 Mục đính nghiên cứu

Nghiên cứu về Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, kể từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Sa Thầy nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

b Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu quy định Pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

và thực tiễn trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được kết quả, nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra trong quá trình nghiên cứu, tác giả

đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: so sánh, tổng hợp phân tích,

Trang 9

2

Chương 2: Một số vấn đề cơ bản và quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội trộm cắp tài sản trong quá trình xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

Trang 10

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY,

TỈNH KON TUM 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM

Sa Thầy là huyện miền núi, biên giới, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Kon Tum, với tổng diện tích tự nhiên 143.522,3 ha; phía Tây giáp Vương quốc Căm pu chia với đường biên giới dài khoảng 34,5 km Dân số của huyện hiện nay khoảng 51.000 người, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 57,6%, gồm 06 dân tộc chủ yếu sinh sống là: Ja Rai, HLăng, Thái, Rơ mâm, Rơ Ngao, Kinh Huyện có 10 xã, 01 thị trấn (trong đó, 07 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, 02 xã biên giới), với 74 thôn, làng (trong đó, 42 thôn, làng

là vùng đồng bào dân tộc thiểu số); trên 80% dân số của huyện sống ở nông thôn làm nông nghiệp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn; đến cuối năm 2017, toàn huyện có 3.382

hộ nghèo, chiếm 26,83%

Kinh tế của huyện tiếp tục phát triển khá, sản xuất nông nghiệp đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra; một số cây trồng chủ lực của huyện tiếp tục phát triển; kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn ngày càng khang trang, đồng bộ Văn hóa,

xã hội tiếp tục phát triển Đến cuối năm 2020, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 115,151 tỷ đồng, đạt 178% dự toán tỉnh giao; thu nhập bình quân đầu người 35,67 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo 20,58% Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp tiếp tục được nâng lên; nội bộ cấp uỷ đoàn kết, thống nhất, uy tín của Đảng bộ đối với Nhân dân ngày càng được củng cố Hệ thống chính trị được kiện toàn, đội ngũ cán bộ trưởng thành nhiều mặt; quan hệ giữa Đảng với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân gắn bó chặt chẽ; chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự

an toàn xã hội được giữ vững

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum được thành lập theo Quyết định số 112/QĐ-UB ngày 11 tháng 10 năm 1979 của UBND Tỉnh Kon Tum, có trụ sở nằm tại số nhà 194, đường Trần Hưng Đạo, thôn 2, Thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum Ngay sau ngày thành lập TAND huyện Sa Thầy đã có nhiều nỗ lực, vừa khắc phục mọi khó khăn, tiến hành xây dựng cơ sở vật chất vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, với chức năng xét xử TAND huyện Sa Thầy đã không ngừng phát huy vai trò, chức năng của mình, kịp thời xét xử nghiêm minh các vụ việc, phục vụ cho nhiệm vụ đảm bảo công bằng xã hội, ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện, tích cực tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Hiện nay, Tòa án nhân dân huyện có 07 biên chế và 02 hợp đồng dài hạn Trong đó, 03 Thẩm

Trang 11

1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của tòa án Nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

Theo Điều 2 luật tổ chức tòa án nhân dân 2014, tòa án Nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn sau:

Một là, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác

Hai là, Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ

án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính

và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không

áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành

Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum thực hiện đúng với chứng năng, nhiệm vụ được quy định trên và thực hiện giải quyết xét xử sơ thẩm các loại án: Hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính theo thẩm quyền quyền và thực hiện công tác thi hành án phạt tù đối với các bản án thuộc thẩm quyền của mình

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy được tổ chức theo Điều 45 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương được quy định như sau:

Một là, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương

có thể có Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Căn cứ quy định tại khoản này và yêu cầu, thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức Tòa chuyên trách Hiện nay, căn cứ vào thực tế xét xử

Trang 12

5

các loại án thì Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy chưa đủ điều kiện thành lập Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính chuyên trách Hai là, Bộ máy giúp việc

Bà là, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có Chánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên về thi hành án, công chức khác và người lao động Tuy nhiên, do Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy chưa đủ điều thành lập Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính chuyên trách nên không có chức danh Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm tra viên về thi hành án

Cơ cấu tổ chức tòa án nhân dân huyện Sa Thầy

06 Lương Công Anh Thứ ký

07 Nguyễn Thị Kiều Kế toán

08 Nguyễn Thị Thơm Văn phòng

09 Nguyễn Văn Đăng Văn phòng

Trong đó:

- Chánh án là một chức danh tố tụng Chánh án Toà án có hai nhóm nhiệm vụ: nhóm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; và nhóm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người khi trực tiếp tiến hành giải quyết vụ án hình sự Bộ luật tố tụng hình sự đã phân định rất rõ ràng, cụ thể hai nhóm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm đó

Với tư cách người đứng đầu Toà án trong tố tụng hình sự, Chánh án Toà án có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: tổ chức công tác xét xử của Toà án; quyết định phân công Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công thư ký Toà án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án trước khi mở phiên toà; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo quyết định của Bộ luật này; Ra quyết định thi hành án hình sự; quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; quyết định xóa án tích; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Toà án Khi trực tiếp tiến hành giải quyết

vụ án hình sự, Chánh án Toà án có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam; quyết định xử lý vật chứng; quyết định

Trang 13

Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Phó Chánh án Toà án có những nhiệm vụ và quyền hạn được quy định đối với Chánh án khi tiến hành giải quyết

1.3.1 Nội quy đối với cán bộ tòa án khi tiếp dân

Trong quá trình tiếp dân cán bộ tòa án phải tuên thủ các quy định sau:

1 Khi tiếp dân phải ăn mặc gọn gàng, tự giới thiệu tên chức vụ của mình để được người tiếp biết

2 Người được giao trách nhiệm tiếp dân phải có thái độ lịch thiệp, hướng dẫn cho

họ vào phòng tiếp dân

3 Phải lắng nghe, ghi chép vào sổ theo dõi tiếp dân đầy đủ nội dung mà công dân trình bày Nếu là đơn thư kiếu nại tố cáo gửi qua đường bưu điện thì phải ghi rõ ngày mà Tòa án nhận được Không gây phiền hà, sách nhiễu đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo

4 Khi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo cán bộ tiếp dân phải xem xét nội dung kiếu nại, tố cáo

+ Nếu khiếu nại có căn cứ, đúng thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện giải quyết thì phải tiếp nhận đơn, tài liệu, giấy tờ có liên quan, báo cáo lãnh đạo cơ quan quyết định hoặc có thể trả lời trực tiếp cho công dân

+ Nếu thấy việc khiếu nại không thuộc thẩm quyền của Tòa án thì hướng dẫn công dân đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết

+ Việc khiếu nại đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét có văn bản quyết định giải quyết đúng chính sách pháp luật thì trả lời rõ và yêu cầu công dân chấp hành

Trang 14

7

+ Đối với công dân đến tố cáo, cần phải đảm bảo bí mật cho người tố cáo, không tiết lộ nội dung tố cáo hoặc chuyển đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân người bị tố cáo

+ Nếu công dân tố cáo trình bày trực tiếp thì phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên, địa chỉ của công dân và người bị tố cáo Nếu công dân cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo thì phải biên nhận và bảo quản chu đáo

+ Phải ghi đầy đủ nội dung tố cáo, ghi lời tố cáo phải cho công dân đọc lại, nghe lại, yêu cầu cùng ký xác nhận

1.3.2 Nội quy đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo

Khi đến tòa án khiếu nại, tố cáo, công dân cần tuân thủ các quy định sau:

1 Phải xuất trình giấy tờ tùy thân Tuân thủ nội quy tiếp công dân và thực hiện theo

sự hướng dẫn của cán bộ tiếp dân

2 Trình bày trung thực sự việc, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại,

tố cáo của mình và ký xác nhận vào nội dung đã trình bày Được nghe hướng dẫn, giải thích về thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo (Theo luật kiếu nại tố cáo)

3 Trường hợp nhiều công dân đến khiếu nại, tố cáo cùng một nội dung thì phải cử đại diện để trình bày với cán bộ tiếp dân

4 Được kiếu nại tố cáo về những hành vi sai trái cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu của người tiếp dân

TỈNH KON TUM

Được sự phân công của Chánh án tòa án nhân dân huyện Sa Thầy thì công việc của

em tại đơn vị thực tập là phụ giúp các anh chị trong tòa án như là (giao công văn đến cho Công An, Viện kiểm sát, Thi hành án; ghi sổ thụ lý và kết quả giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự; cùng đi xem xét tại chỗ và thẩm định giá….) và nghiên cứu hồ sơ, tài liệu ở trong tòa án đối với các vụ án, vụ việc; đặc biệt là đối với các vụ án

về tội danh “trộm cắp tài sản” mà bản thân em chọn làm đề thực tập của mình

Trong thời gian thực tập, với sự cố gắng của bản thân cũng như sự giúp đỡ của anh chị cùng với những gì từ trải nghiệm thực tế, thì đây là cơ hội để em được tiếp xúc thực

tế, học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng kiến thức đã học vào công việc thực tế, là trải nghiệm là hành trang quí báu để em mang theo với chặng đường sau này Với những gì học hỏi và tiếp thu từ anh chị em đã học hỏi và trao dồi thêm cho mình kiến thức, kỹ năng phương pháp, cách thức, tác phong làm việc của ngành tòa án:

Một là, cùng với những kiến thức đã học tập được nhà trường, những kiến thức về

thực tiễn đã giúp em hoàn thiện hơn về pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản ở các khía cạnh như bản chất pháp lý, đặc trưng của tội phạm hay nhận biết và so sánh với các tội phạm khác trong cùng trương các tội phạm sở hữu

Hai là, qua nghiên cứu hồ sơ trong đơn vị, em đã biết cách tìm hiểu một hồ sơ cụ

thể, qua đó học được các phương pháp như phân tích, thống kê, nghe nhìn, quan sát Lý luận đi cùng với thực tiễn giúp em biết cách vận dụng các kiến thức về mặt lý thuyết một

Trang 15

8

cách nhanh chóng, dễ hiểu, và quan trọng nhất là một “thử nghiệm đáng giá” cho công

việc sau này của bản thân khi rời ghế nhà trường Các kỹ năng về đặt vấn đề, đưa ra các giả thiết xung quanh giải quyết xét xử loại tội phạm này cũng giúp em phần nào nắm được cách làm rõ vấn đề bằng cách tự mình quan sát, đưa ra câu hỏi rồi tự mình đưa ra lập luận

Ba là, Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, làm bút lục, trích lục hồ sơ

vụ án đã giúp bản thân em hiểu rõ hơn về quá trình thụ lý, giải quyết một vụ án hình sự là như thế nào và để đưa một vụ án hình sự ra truy tố và xét xử trước pháp luật thì hồ sơ bao gồm đầy đủ những gì?

Bốn là, Tham gia những phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng như những phiên tòa hình

sự sơ thẩm lưu động đã giúp em được tiếp cận thực tế, hiểu rỏ hơn về trình tự thủ tục tiến hành một phiên tòa hình sự

Như vậy, với những kiến thức thực tế ở trên đã giúp em có một cái nhìn thực tế tổng quát và hoàn thiện hơn về chuyên ngành Luật mà em đang theo học

KẾT CHƯƠNG 1

Khi em qua thực tập tại Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy thì em được một số anh/chị phân công nhiệm vụ để làm việc thì em có nhận ra rằng là Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy cũng giống như một số Tòa án nhân dân cấp huyện khác là từng mỗi cá nhân từng người đều có những chức năng cũng như là nhiệm vụ riêng của tòa án nhân dân, có một

số nội quy được quy định cách rõ ràng cụ thể, và cơ cấu tổ chức đượcghi rõ ràng cụ thể từng người đều có những nhiệm vụ riêng biệt trong cơ quan tại Tòa án được quy định một cách rõ rệt Cũng như khi mà làm đề án về chương này giúp cho em hiểu biết được bản đồ địa lý nơi em đang thực tập tại đơn vị và cũng như cho em biết được lịch sử hình thành và phát triền tạo ra Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum được thành lập

nên như thế nào để có được Tòa án nhân dân được như bây giờ

Trang 16

9

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI CẮP TÀI SẢN

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm về tội trộm cắp tài sản

Theo pháp luật hình sự thì khái niệm tội phạm được các nhà nghiên cứu đưa ra một

số ý kiến cũng như các định nghĩa và quan điểm khác nhau Theo quan điểm mà em hiểu

thì: “Tội phạm là những hành vi gây ra nguy hiểm cho xã hội, và nó cố lỗi, trái pháp luật.”

Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, thì khái niệm tội phạm được luật ghi

rõ trong tại Điều 8 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ Luật hình sự, do người có năng lực pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thóng nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm nhưng lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự

Theo tại điều luật, CTTP của tội trộm cắp tài sản nó không mô tả rõ thế nào là hành

vi trộm cắp tài sản Tuy nhiên trên khái niệm và các dấu hiệu của tội phạm mỗi người đưa ra mỗi quan điểm khác nhau, thì theo quan điểm mà em hiểu được căn cứ theo Điều

173 Bộ luật hình sự 2015 thì: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi mang tính lén lút để chiếm đoạt tài sản của người sở hữu tài sản và nó được thực hiện bởi người có năng lực hành

vi TNHS mang tính cố ý, xâm phạm đến người sở hữu tài sản, cá nhân hoặc tổ chức và cơ quan.”

Về đặc điểm của nó thì tội trộm cắp tài sản là một tội phạm mang tính chất cụ thể,

nó có đủ các dấu hiệu của một tội phạm, đó là:

Tính nguy hiểm cho xã hội: Được biểu hiện ở chỗ người phạm tội có hành vi tác

động trái pháp luật tài sản của chủ sở hữu làm cho việc chủ sở hữu mất quyền chiếm hữu,

sử dụng, định đoạt tài sản với giá trị nhất định

Tính có lỗi: Lỗi là trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi

phạm tội do mình gây ra Theo quy định của BLHS, lỗi của người có hành vi trộm cắp tài sản là lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức rõ hành vi tác động trái pháp luật lên tài sản của người khác, gây thiệt hại về tài sản, cụ thể là giá trị tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Người phạm tội trộm cắp tài sản được thực hiện hành vi mang tính lén lút

để nhằm chiếm đoạt tài sản

Tính trái pháp luật hình sự: Tội trộm cắp tài sản nó được thể hiện ở việc người

phạm tội thực hiện những hành bị luật hình sự nghiêm cấm và bảo vệ tại Điều 173 của BLHS 2015

Trang 17

10

Tính hình phạt: Theo quy định của BLHS, chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu

hành phạt được quy định tại BLHS Đối với tội trộm cắp tài sản, các hình phạt được quy định trong BLHS để áp dụng đối với người thực hiện tội phạm này là: cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn.1

Mặc dù tính chất lén lút là đặc trưng cơ bản nhất và nổi bật của tội trộm cắp tài sản nhưng không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài san mà đi kèm với nó là hành vi chiếm đoạt tài sản

Đối chiếu với đặc trưng nổi bật như vậy, thì quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên thế cũng tương tự, ví dụ:

Quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân trung hoa về tội trộm cắp tài sản

BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ

2 ngày 01/7/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm

1997, 1999, 2001, 2002 và 2005

Theo đó, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 264 trong chương “Tội xâm

phạm tài sản” BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như sau: “Người nào có hành vi trộm cắp tài sản của công hoặc tư với số lượng tương đối lớn hoặc trộm cắp nhiều lần thì

bị phạt tù đến dưới ba năm, cải tạo lao động hoặc quản chế, kèm theo phạt tiền hoặc chỉ

bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng lớn hoặc có những tình tiết nghiêm trọng khác thì

bị phạt tù từ ba năm đến mười năm và bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng đặc biệt lớn hoặc có những tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ mười năm trở lên hoặc tù chung thân và bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản; nếu có một trong những hành vi dưới đây thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình và bị tịch thu tài sản: 1 Trộm cắp tiền, tài sản với số lượng đặc biệt lớn từ ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác; 2 Trộm cắp di sản quý hiếm, có tình tiết nghiêm trọng”

Thông qua quy định trên cho thấy điều luật cũng chỉ nêu được tên của hành vi trộm cắp tài sản mà không đưa ra được khái niệm mô tả hành vi thế nào là trộm cắp tài sản Dấu hiệu bắt buộc được phản ánh trong cấu thành tội phạm của điều luật này là hậu quả thiệt hại về tài sản, đồng thời điều luật cũng không quy định rõ giá trị tài sản bị

chiếm đoạt tối thiểu là bao nhiêu mà chỉ sử dụng các thuật ngữ chung chung như “số lượng lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, điều này sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật một cách

tùy tiện, và quy định như vậy 10 cũng rất khó để xác định được đâu là vi phạm hành chính và đâu là vi phạm hình sự

Về hình phạt bao gồm hình phạt tiền, cải tạo lao động hoặc quản chế, tù có thời hạn,

tù chung thân, tử hình So với Bộ luật hình sự Việt Nam, hình phạt cao nhất đối với tội trộm cắp tài sảm là đến 20 năm, còn đối với Luật hình sự Trung Hoa là tử hình

Quy định của BLHS Liên bang Nga đối với tội trộm cắp tài sản

1 https://www.slideshare.net/trongthuy2/luan-van-tinh-hinh-toi-trom-cap-tai-san-tai-tp-ha-noi-hay-9d

Trang 18

11

Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 158 chương “Các tội xâm phạm quyền

sở hữu” của BLHS Liên bang Nga hiện hành, được ban hành năm 1996, sửa đổi, bổ sung

năm 2010, như sau:

“1 Trộm cắp tài sản nghĩa là bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tiền đến tám mươi nghìn rúp hoặc bừng lương hoặc bằng thu nhập khác của người bị kết

án đến sáu tháng, hoặc bị phạt lao động đến một trăm tám mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ sáu tháng đến một năm, hoặc bị hạn chế tự do đến hai năm, hoặc bị phạt giam đến bốn tháng, hoặc bị phạt tù đến hai năm

2 Hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện:

a) Bởi nhóm người có bàn bạc từ trước;

b) Kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà hoặc nhà kho khác;

c) Kèm theo việc gây ra thiệt hại đáng kể cho công dân;

d) Từ quần áo, túi xách hoặc đồ xách tay khác trên người bị hại thì bị

phạt tiền đến hai trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm

3 Hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện:

a) Kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà ở;

b) Từ ống dầu mỏ, ống dẫn các sản phẩm dầu mỏ, ống dẫn ga;

c) Ở mức độ nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ một trăm nghìn đến năm trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hoặc bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm;

4 Hành vi trộm cắp được thực hiện:

a) Bởi nhóm có tổ chức;

b) Ở mức độ đặc biệt lớn thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm hoặc không kèm theo bị phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người

bị kết án đến năm năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến hai năm”

Theo quy định của Bộ luật hình sự Liên bang Nga cho thấy tại điều luật đã đưa ra được định nghĩa của tội trộm cắp tài sản Theo đó, hành vi phạm tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách bí mật tài sản của người khác Điều luật đã mô tả được thế nào là hành vi trộm cắp, đó là hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng lại không quy định trị giá tài sản cụ thể là bao nhiêu mà chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị coi là phạm tội trộm cắp

và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự Do vậy, quy định này không phân biệt được ranh giới giữa vi phạm hành chính và hình sự về hành vi trộm cắp

2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản

Trang 19

12

a Khách thể của tội trộm cắp tài sản

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại

Cũng như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong phần 12 các tội xâm phạm sở hữu, tội trộm cắp tài sản đặc trưng bởi hành vi chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên hành vi chiếm đoạt tài sản của tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách lén lút, không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội bắt cóc nhằm CĐTS, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản mà nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt Sau khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản nhưng bị đuổi bắt mà có hành vi chống lại người đuổi bắt để tẩu thoát mà gây chết người, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo hành vi tương ứng 2

b Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Về hành vi khách quan: Trong tội trộm cắp tài sản, người phạm tội chỉ có một hành

vi khách quan duy nhất đó là CĐTS nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, bí mật Đặc trưng lén lút của hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản cũng chỉ đòi hỏi phải có trong ý thức của người phạm tội, nó thể hiện ở việc người phạm tội che giấu hành vi đang phạm tội của mình, không cho phép chủ tài sản biết có hành vi CĐTS khi hành vi này đang xảy ra Thực tế cho thấy, khi người phạm tội thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với chủ sở hữu nhưng lại công khai CĐTS với những người có mặt ở đó nhưng những người có mặt lúc tài sản bị chiếm đoạt vì lý do nào đó mà không biết chủ tài sản là

13 ai, không có trách nhiệm quản lý tài sản đó thì hành vi của người CĐTS trong trường hợp này vẫn bị coi là hành vi trộm cắp tài sản; trong trường hợp này, người CĐTS chỉ có hành vi che giấu hành vi trộm cắp của mình đối với chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không cần che dấu với những người khác

Về đối tượng tác động Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người

phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam, tài sản có nhiều hình thức khác nhau Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản”

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, nó tồn tại khách quan bên ngoài ý thức mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vật

2 Mục 6 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BCA-BTP

Trang 20

13

chỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật Vì vậy, có trong thế giới vật chất, có những

bộ phận ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật Như vậy, trong giao lưu dân sự muốn trở thành vật thì phải thỏa mãn được những điều kiện,

đó là: là bộ phận của thế giới vật chất; mang lại lợi ích cho chủ thể; con người chiếm hữu được; có thể đang tồn tại hoặc có thể sẽ hình thành trong tương lai Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Vật phải nằm trong

sự chiếm hữu của con người thì khi đó vật mới là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Đối với trường hợp vật vô chủ (có thể là trường hợp chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình và tài sản không nằm trong phạm vi quản lý) thì hành vi lấy đi loại tài sản này không bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản

Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính là vật độc lập có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh…); vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính điều (khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,…) Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chia được Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật

mà người ta phân loại vật thành vật thành vật cùng loại và vật đặc định Ngoài ra, người

ta còn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đông bộ

Tiền: Theo Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận mới được coi là tài sản Tiền là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản và là thước đo giá trị

Giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể khác3 Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ

có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển 15 nhượng tòan bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính

có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro

3 https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y_t%E1%BB%9D_c%C3%B3_gi%C3%A1

Trang 21

14

Quyền tài sản: Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Quyền là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác

Về hậu quả: Hậu quả của tội trộm cắp tài sản do người phạm tội gây ra là thiệt hại

về giá trị tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp Tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt bao gồm các loại tiền, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như ngân phiếu, công trái, trái phiếu… Căn cứ quy định của BLHS hiện hành, giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm; còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168 (tội cướp tài sản), 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), 170 (tội cưỡng đoạt tài sản), 171 (tội cướp giật tài sản), 172 (tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), 174 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), 175 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

và điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản) của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là di vật, cổ vật Có thể khẳng định tội trộm cắp tài sản có cấu thành vật chất bởi dấu hiệu cấu thành hậu quả được phản ánh trong cấu 16 thành tội phạm của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên, mặc dù người có hành vi trộm cắp chưa chiếm đoạt được tài sản mà nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ thì vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản nhưng là phạm tội chưa đạt chứ không nhất thiết phải có thiệt hại về

tài sản mới cấu thành tội phạm

Về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Mối quan hệ nhân quả phản ánh

hành vi và hậu quả trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Theo đó, hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; trong hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế, mầm mống nội tại, nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả; hậu quả xảy ra phải là hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của

hành vi trái pháp luật

c Chủ thể của tội trộm cắp tài sản

“Chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều

173 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ

14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 173 BLHS”

Điều 12 BLHS năm 2015 quy định: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143,

Trang 22

15

144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287,

289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này [12, tr14] Như vậy, căn cứ theo Điều 8 và điều 173 BLHS hiện hành ta có thể xác định được rằng: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản Còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chỉ phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo 17 khoản 3 và khoản 4 Điều 173 BLHS

d Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản

Mặt chủ quan của tội phạm đó là những diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội Giống như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, tội trộm cắp tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội trộm cắp tài sản nhận thức được rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội

và thấy trước hậu quả của hành vi đó khi tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép

và mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích của tội phạm là chiếm tài sản của người khác Trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã xuất hiện mục đích chiếm đoạt Do vậy, có thể khẳng định dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội trộm cắp tài sản là mục đích CĐTS Tuy nhiên, cùng với mục đích chiếm đoạt thì người phạm tội còn có thể có những mục đích khác nếu mục đích đó không cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản

2.2 PHÂN BIỆT TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ

2.2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản

Xuất phát từ các dâu hiệu đặc trung tội TCTS và tội cướp tài sản, xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật, có thể rút ra sự giống nhau và khác nhau giữa hai tội này như sau:

Khác nhau:

Sự khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản và tội cướp tài sản là ành vi phạm tội của người phạm tội: đối với tội TCTS, hành vi của người phạm tội là lén lút lấy tài sản đang trong sự quản lý cảu người khác một cách trái pháp luật mà không dùng bất kỳ vũ lực nào tác động đến chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản Đối tội cướp tài sản, hành vi của người phạm tội là dùng vũ lực, đê dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự Như vậy,

để phân biết sự giống nhau và khác nhau giữa hai tội này, cần phải xem xét hành vi của người phạm tội dựa trên các yếu tố cơ bản sau đây: Động cơ, mục đích của người phạm tội, hành vi khách quan, khách thể, hậu quả

Trang 23

16

Bảng 1.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản

Khách thể bị xâm phạm

Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu

nhưng không xâm phạm tới sức khỏe,

tính mạng của nạn nhân

Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu, sức khỏe và tính mạng của nạn nhân

Hậu quả

Thiệt hại về tài sản là dấu hiệu định tội

của tội trộm cắp tài sản

Không phải là dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản, người phạm tội chỉ cần có hành vi được mô tả trong CTTP của tội cướp tài sản là đã cấu thành tội cướp tài sản

2.2.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản

Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản đều là các tội nhằm trong nhóm các tội phạm quyền sở hữu Hai tội nầy đều có điểm chung là lỗi cố ý trực tiếp và mục đíc là chiếm đoạt tài sản của người khác Tuy nhiên, chúng vẫn có sự khác biệt cơ bản

Để phân biệt tội TCTS với tội cướp giật tài sản, chúng ta cũng chủ yếu tập chung phân tích yếu tố hành vi khách quan của người phạm tội

Khách thể bị xâm phạm

Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu

nhưng không xâm phạm tới sức khỏe,

Trang 24

17

2.2.3 Phân biệt tội cướp trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tội trộm cắp tài sản Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tính chất công khai

Người phạn tội che giấu hành vi của mình,

chiếm đoạt tài sản một cách lén, lút mà

người quản lý tài sản không biết là hành vi

trộm cắp

Người phạm tội không cần che giấu hành vi

và thực hiện công khai hành vi chiếm đoạt Công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sả, sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh Chủ sở hữu biết rõ mình bị mất tài sản nhưng không có điều kiện để cản trở hành vi chiếm đoạt

2.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 2.3.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015

a Từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời sau thành công của Cách mạng tháng

8 đã phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách, đó là vừa phải đối phó với thù trong giặc ngoài, vừa phải từng bước quản lý, phát triển và xây dựng đất nước Để bảo vệ thành quả của cách mạng và duy trì sự ổn định xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư để xử lý tội phạm nói chung, tập trung vào các tội phản cách mạng

Có nhiều văn bản pháp luật quy định xử lý tội phạm trong đó có các quy định về tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng như: Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký cho phép tạm thời giữ lại các luật, lệ tại miền Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành các VBPL thống nhất trong toàn quốc; Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1948 quy định trừng trị các hành vi trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh Nghị định số 32 - NĐ ngày 06/4/1952 của Bộ tư pháp quy định đường lối xét xử các tội trộm cắp, lừa đảo, biển thủ tài sản; Thông tư số 11

- BK ngày 14/12/1949 của liên Bộ nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp ấn định phương pháp đối phó với các vụ trộm cắp tại nơi có chiến sự

Ngoài các văn bản pháp luật trên thì phải kể đến hai văn bản pháp luật được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/10/1970 đó là Pháp lệnh số 149-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh số 150-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Tội trộm cắp tài sản được quy định thành hai loại, cụ thể là

Trang 25

và Nhà nước ta không những đối với tài sản của Nhà nước mà còn đối với cả tài sản riêng của công dân, làm cho người dân nâng cao niềm tin vào chính quyền Dân chủ cộng hòa, tích cực tham gia sản xuất và chiến đấu

b Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về tội trộm cắp tài sản

BLHS năm 1985 được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27/6/1985,

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986 đã đánh dấu một bước phát triển mới đối với

kỹ thuật lập pháp của khoa học pháp lý nước ta nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Điều này đã khắc phục được tình trạng các văn bản pháp luật chồng chéo, không thống nhất trước đó; nó được thể hiện dưới hình thức Bộ luật, có tính bao quát tất cả các hành

vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng bảo vệ thành quả của cách mạng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tội trộm cắp tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 bao gồm hai Điều luật độc lập, trong đó Điều

132 BLHS quy định về tội trộm cắp tài sản XHCN và Điều 155 BLHS quy định về tội trộm cắp tài sản của công dân

Tại Điều 132 BLHS năm 1985 về tội trộm cắp tài sản XHCN được quy định thành

ba khoản với mức hình phạt thấp nhất của khoản 1 là “phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” và hình phạt cao nhất quy định tại khoản 3 là “tù chung thân hoặc tử hình” Tại Điều 155 BLHS năm 1985 về tội trộm cắp tài sản của công dân quy định thành ba khoản với mức hình phạt ở khoản 1 là “phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” và khung hình phạt cao nhất ở khoản 3 là “phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm”

Như vậy, so với các quy định tương ứng của các văn bản pháp luật đã được ban hành trước năm 1985 thì tại Điều 132 và Điều 155 BLHS năm 1985 đã quy định rõ ràng

và cụ thể hơn hành vi phạm tội trộm cắp tài sản XHCN và hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của công dân

Về hình phạt: Trong giai đoạn này, tư tưởng chỉ đạo là chú trọng bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân BLHS năm 1985 đã quy định tương đối đầy

đủ và tập trung hệ thống hình phạt và tiêu chí áp dụng Việc quy định như vậy đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc áp dụng hình phạt đó là không phải chỉ nhằm mục đích trừng trị mà còn nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và răn đe đối với những người khác

Trang 26

19

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: BLHS năm 1985 ra đời thì lần đầu tiên các quy định về tình tiết giảm nhẹ (Điều 38) và tình tiết tăng nặng (Điều 39) được quy định khá đầy đủ, làm tiêu chí để quyết định hình phạt Ngoài ra, còn có một số hướng dẫn nghiệp

vụ của Tòa án nhân dân Tối cao về một số tình tiết khác như người phạm tội đầu thú, gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho bị cáo cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ

Với tính chất của tội phạm ngày càng gia tăng và thủ đoạn ngày càng tinh vi, BLHS năm 1985 chưa phản ánh được đầy đủ Do đ 21 lập pháp, tuy nhiên nó được ban hành trong thời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp, có sự phân biệt rõ ràng trong việc bảo vệ tài sản XHCN và tài sản của công dân Mặc dù đã trải qua bốn lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992, 10/5/1997) nhưng những lần sửa đổi, bổ sung này chủ yếu nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh đối với một số loại tội phạm nhất định, và sau các lần sửa đổi, bổ sung đó thì BLHS đã không còn là một chỉnh thể thống nhất, do

đó cần có một BLHS mới thay thế để phù hợp với điều kiện xã hội hơn Chính vì lẽ đó, BLHS năm 1999 ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển cho phù hợp với điều kiện và tình hình xã hội lúc bấy giờ đã thay thế BLHS năm 1985 Tội trộm cắp tài sản thay vì quy định ở hai điều luật khác nhau như ở BLHS năm 1985 (Điều 132 tội trộm cắp tài sản XHCN và Điều 155 tội trộm cắp tài sản của công dân) thì nay đã được quy định trong một điều luật, đó là Điều 138 BLHS năm 1999

c Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội trộm cắp tài sản

Bộ luật hình sự năm 1999 được thông qua ngày 21/12/1999 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa X và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 cho thấy trong tư tưởng của các nhà làm luật đã có một sự nhìn nhận khách quan hơn về sự bình đẳng của các thành phần sở hữu trong các mối quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật hình sự nói riêng, do đó đã khắc phục được những hạn chế trong việc phân biệt giữa các thành phần sở hữu mà BLHS năm 1985 đã quy định

Sau nhiều năm thi hành, Bộ luật hình sự năm 1999 đã góp phần quan trọng trong việc giữ vững tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Tuy nhiên, BLHS năm 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập, thiếu sót sau 10 năm thi hành, trong đó đáng chú ý là chưa thể chế hóa được quan điểm, chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08- 22 NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị Trong khi đó,sự phát triển mạnh

mẽ của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã đặt ra cho hệ thống pháp luật nói chung

và pháp luật hình sự nói riêng phải là công cụ pháp lý sắc bén nhằm thúc đẩy và bảo vệ cho sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy, ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như phù hợp với yêu cầu cải cách của đất nước

Trang 27

của pháp luật so với nền phát triển của kinh tế

d Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tình tiết định tội

Căn cứ theo quy định, so sánh Điều 138 BLHS năm 1999 với Điều 138 BLHS năm

1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì thấy về cơ bản các quy định tại Điều 138 vẫn giữ nguyên, kể cả thứ tự các khoản và khung hình phạt Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có sự thay đổi trị giá tài sản tối thiểu bị chiếm đoạt để cấu thành tội trộm cắp tài sản đó là từ “năm trăm nghìn đồng” thành “hai triệu đồng” Bởi trong giai đoạn trước năm 2009 khi nền kinh tế vẫn còn đang ở một mức độ nào đó và tài sản trị giá từ năm trăm nghìn trở lên là tương đối lớn, do đó hành vi trộm cắp tài sản trị giá từ năm trăm nghìn đồng đã được coi là hành vi nguy hiểm 23 cho xã hội và cấu thành tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên, đến năm 2009 thì nền kinh tế xã hội đã phát triển đến một mức độ nhất định, đời sống của nhân dân được nâng lên, do đó chiếm đoạt tài sản trị giá từ hai triệu đồng trở lên mới thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

e Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về hình phạt và tình tiết định khung tăng nặng

Theo quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì tội trộm cắp tài sản được chia thành 4 khung hình phạt gồm một khung cơ bản (khoản 1) và

ba khung tăng nặng (khoản 2, khoản 3 và khoản 4)

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về hình phạt trong cấu thành tội phạm

cơ bản

Khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 chính là CTTP cơ bản của tội trộm cắp tài sản Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS thì một hành vi được coi là thỏa mãn cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản khi thỏa mãn điều kiện lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau:

- Gây hậu quả nghiêm trọng: Hậu quả nghiêm trọng này có thể là những thiệt hại

về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và các thiệt hại phi vật chất Cụ thể được quy định tại điểm a tiểu mục 3.4 Mục 3 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999; theo đó, những

Ngày đăng: 24/08/2021, 14:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BLHS Bộ Luật hình sự - Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại tòa án nhân dân huyện sa thầy, tỉnh kon tum
u ật hình sự (Trang 6)
TNHS Trách nhiệm hình sự - Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại tòa án nhân dân huyện sa thầy, tỉnh kon tum
r ách nhiệm hình sự (Trang 6)
Bảng 1.1. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản - Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn tại tòa án nhân dân huyện sa thầy, tỉnh kon tum
Bảng 1.1. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w