1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền thóng ở quỳnh lưu nghệ an

63 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lưu Nghệ An
Tác giả Nguyễn Công Sơn
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hà
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lu vẫn là một trong những trung tâm sản xuất các mặt hàng thủ công truyềnthống của tỉnh Nghệ An, do vậy mà Quỳnh Lu thực sự đóng vai trò quan trọngtrong việc phát triển kinh tế chung của

Trang 1

Trờng đại học vinh

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này bản thân tôi luôn luôn nhận đợc

sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hớng dẫn Th.S Nguyễn Thị Hà cùng các thầy cô trong khoa lịch sử trờng Đại học Vinh Với sự nỗ lực, cố gắng hết mình của bản thân và sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình.

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hớng dẫn cùng các thầy cô giáo trong khoa lịch sử và xin gửi đến thầy cô lời cảm ơn chân thành nhất.

Vì thời gian và nguồn t liệu có hạn, vả lại bản thân còn là một sinh viên tập nghiên cứu khoa học, đây là công trình thử thách bớc đầu của mình nên chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót, tác giả mong nhận đợc các ý kiến đóng góp của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2009

Tác giả

Nguyễn Công Sơn

Trang 3

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 5

Chơng 1: Khái quát điều kiện phát triển, đặc điểm và những nhân

tố tác động đến nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu 61.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của Quỳnh Lu 61.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống 9

Trang 4

2.2.2 Mét sè c«ng tr×nh do ngêi thî lµng nghÒ tu t¹o vµ x©y dùng 35

Ch¬ng 3: Gi¸ trÞ vµ c«ng t¸c b¶o tån, ph¸t triÓn lµng nghÒ thñ

c«ng truyÒn thèng ë Quúnh Lu 523.1 Nh÷ng gi¸ trÞ cña lµng nghÒ thñ c«ng truyÒn thèng 52

Trang 5

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Có con ngời là có lao động Nghề thủ công truyền thống gắn liền vớiquá trình ra đời, phát triển của con ngời Ngay từ xa xa, các thế hệ cha ông đãbiết đến nghề thủ công, trớc hết nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu của cuộcsống đời thờng, gắn với quá trình lao động sản xuất của con ngời, dần dần donhu cầu của cuộc sống cũng nh sự tiến bộ của xã hội, các nghề thủ côngtruyền thống của dân tộc, của mỗi miền quê trên dải đất Việt Nam

Trải qua quá trình ra đời và phát triển, nghề thủ công đã đi vào tiềmthức của mỗi ngời dân Việt Nam, nó trở nên gần gũi thân quen, là một phầnkhông thể thiếu trong cuộc sống đời thờng Hơn nữa khi nghiên cứu sự pháttriển kinh tế - văn hoá - xã hội của một đất nớc, sự phát triển khoa học kỹthuật chúng ta không thể không nghiên cứu đến nghề thủ công truyền thống ởmỗi làng quê Việt Nam

Trong xu thế quốc tế hoá toàn cầu nh hiện nay, khi mà nền công nghiệpnớc ta cha phát triển cao thì những sản phẩm của các làng nghề thủ côngtruyền thống trở thành những mặt hàng có giá trị kinh tế cao Mặt khác cácsản phẩm từ các làng nghề thủ công truyền thống còn là những mặt hàng đạidiện cho Việt Nam trong quá trình giao lu, hội nhập với các nớc trong khu vực

và trên thế giới Để phát huy những thế mạnh và tận dụng những nguồnnguyên liệu sẵn có trong tự nhiên nhằm đa nền kinh tế phát triển đòi hỏichúng ta phải phát huy những ngành nghề thủ công ở các làng nghề truyềnthống trên đất nớc ta

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ơng Đảng lần thứ 7 (khoá

VII) đã nêu: Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

từng vùng mở thêm những ngành nghề mới, phát triển công nghiệp nông thôn ” [24,63]

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) cũng nêu lên:

Cần phải phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công và các nghề mới

“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

bao gồm: tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu…” [25,87]

Quỳnh Lu vốn là mảnh đất có đầy đủ cả 3 yếu tố “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củathiên thời, địa lợi,nhân hoà” nên đã nhanh chóng tiếp nhận và vận dụng một cách có hiệu quảnhững ngành nghề và làng nghề thủ công truyền thống Từ bao đời nay Quỳnh

Trang 6

Lu vẫn là một trong những trung tâm sản xuất các mặt hàng thủ công truyềnthống của tỉnh Nghệ An, do vậy mà Quỳnh Lu thực sự đóng vai trò quan trọngtrong việc phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh.

Làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu cũng có những bớc thăngtrầm nhất định, tuy nhiên cho đến hiện nay các làng nghề thủ công truyềnthống ở Quỳnh Lu vẫn đợc duy trì và ngày càng phát triển, góp phần khôngnhỏ vào sự phát triển của lịch sử Nghệ An nói riêng và lịch sử dân tộc nóichung Một số nghành nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu đã thực sự trởthành “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củatrọng tâm” trong quá trình phát triển kinh tế của huyện và đã đạt đợcnhững thành tựu to lớn đó là: nghề chế biến nớc mắm ở làng Phú Lợi - xãQuỳnh Dị, làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa - xã Quỳnh Nghĩa

Cho đến ngày nay, việc duy trì và phát triển các làng nghề thủ côngtruyền thống thực sự phù hợp với điều kiện của đất nớc cũng nh xu thế pháttriển của thời đại Điều này cũng nhằm mục đích để khẳng định giá trị đíchthực của các làng nghề thủ công truyền thống

Với tấm lòng của một ngời con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quỳnh

Lu, tôi mong muốn góp thêm một phần bé nhỏ vào việc tìm hiểu nghiên cứuquá trình ra đời, phát triển và kỹ thuật sản xuất của một số làng nghề thủ côngtruyền thống ở Quỳnh Lu cũng nh giá trị của nó đối với nền kinh tế - xã hội

địa phơng

Từ những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: Tìm hiểu một số làng“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu - Nghệ An” làm khoá luận tốt

nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề

Nói về các làng nghề thủ công truyền thống ở nớc ta nói chung và ởQuỳnh Lu nói riêng là một vấn đề khó khăn, phức tạp bởi những nghề thủcông truyền thống cho đến nay có khi còn hoặc có khi đã mất đi, cộng thêmvào đó là do sự biến động của lịch sử đã tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại,phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống Tuy nhiên cũng có một sốcông trình nghiên cứu đề cập đến những ngành nghề thủ công truyền thống

Trong tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 5/1999 có bài viết của Lê Thị Tuyết

Vân Một số vấn đề về làng nghề thủ công ở n“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của ớc ta hiện nay”., có nêu lên đôi

nét về lịch sử phát triển của làng nghề và sự đan xen giữa các làng nghề thủcông truyền thống với sự hình thành các làng nghề mới

Trang 7

Trong cuốn Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của ” (1998) củaBùi Văn Vợng, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc - Hà Nội, đã giới thiệu nhiềunhóm làng nghề trên mọi miền đất nớc trong đó có Nghệ An, đồng thời cũngnêu lên những yếu tố ảnh hởng đến sự phát triển của các làng nghề Qua đó,chúng ta thấy đợc một cách khái quát về các ngành nghề thủ công ở các làngnghề truyền thống

Trong cuốn Kỷ yếu hội thảo về các nghề thủ công truyền thống“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của ”, xuất

bản 1995 và đặc biệt là cuộc hội thảo Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

công truyền thống Việt Nam - tiến trình lịch sử và định hớng” (1998) Đây là

tập kỷ yếu hội thảo Quốc tế do Bộ công nghiệp và tổ chức UNIDO (Tổ chứcphát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc) phối hợp tổ chức Hội thảo tập trung

đi sâu nghiên cứu lợi thế để phát triển làng nghề và đa ra một số nhận xétmang tính dự báo về nghề thủ công truyền thống

Trong cuốn Tìm hiểu khoa học kỹ thuật trong lịch sử Việt Nam“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của ”(1979), nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội, có bài: “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củaVài nét về kỹ thuậtthủ công cổ truyền của dân tộc” của Phạm Văn Kính, giới thiệu về kỹ thuậtsản xuất một số nghề thủ công truyền thống cổ xa của ngời Việt bao gồm kỹthuật chế biến lơng thực thực phẩm, kỹ thuật dệt, kỹ thuật sản xuất hàng tiêudùng Tuy nhiên, giữa các vùng miền vẫn có sự khác nhau đó chính là sựkhác nhau về tay nghề, trình độ và óc sáng tạo của nghệ nhân trong kỹ thuậtsản xuất của làng nghề thủ công truyền thống

Trong cuốn: Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của ” củaNinh Viết Giao (chủ biên), nhà xuất bản Nghệ An, đã giới thiệu quá trình ra

đời, phát triển nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An và đề cập đến nhiềulàng nghề nổi tiếng ở Nghệ An, trong đó có nhiều làng nghề thuộc Quỳnh Lu

Nhìn chung các cuốn sách và tài liệu nói trên mới nêu lên một cáchkhái quát về các ngành nghề và kỹ thuật sản xuất một số ngành nghề thủ côngtruyền thống ở nớc ta chứ cha đi sâu khai thác nét riêng, nét đặc sắc ở mỗi địaphơng tạo thành bí quyết làng nghề

3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu của đề tài là Tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

thống ở Quỳnh Lu - Nghệ An”, để thấy đợc một số thành tựu về kinh tế, khoa

học kỹ thuật của nớc ta nói chung, của Quỳnh Lu nói riêng trong điều kiện

Trang 8

lịch sử lúc bấy giờ Từ đó nhằm rút ra những giá trị đích thực của nghề thủcông truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh Lu.

Với mục đích đó khoá luận trớc tiên đề cập đến điều kiện phát triển vànhững yếu tố tác động đến ngành nghề thủ công ở Quỳnh Lu Trọng tâmnghiên cứu của khoá luận là quá trình ra đời và phát triển của một số làngnghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu, từ đó thấy đợc quy trình kỹ thuật sảnxuất cũng nh giá trị của nó đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển sự nghiệp

đất nớc Qua đó một lần nữa khẳng định những thành tựu và kỹ thuật sản xuấthàng hoá thủ công của nhân dân Quỳnh Lu là một bớc tiến bộ trong xu thếphát triển kinh tế ở nớc ta lúc bấy giờ

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã dựa trên một số nguồn tài liệu sau

đây:

Tài liệu thành văn bao gồm: Là các Nghị quyết của Đảng Cộng sản ViệtNam (tại các Đại hội VII, VIII), các Kỷ yếu hội thảo trong nớc và quốc tế, cáccuốn sách viết về các ngành nghề thủ công truyền thống của dân tộc, các kếhoạch - báo cáo phát triển kinh tế và các nguồn tài liệu liên quan khác

Tài liệu điền dã: Các cuộc trao đổi với những ngời cao niên, nhữngnghệ nhân của làng nghề hiện nay còn sống hoặc hậu duệ của những nghệnhân xa hiện đang tiếp tục làm nghề

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp chủ yếu:phơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các ph-

ơng pháp chuyên ngành nh khái quát, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổnghợp kết hợp tài liệu thành văn với t liệu điền dã để đảm bảo cơ sở khoa họctrong đề tài nghiên cứu của mình

5 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dungcủa khoá luận đợc trình bày trong 3 chơng:

Chơng 1: Khái quát điều kiện phát triển, đặc điểm và những nhân tố tác

Trang 9

B- Nội dung

Ch ơng 1 Khái quát điều kiện phát triển, đặc điểm và những nhân tố tác động đến nghề thủ công truyền thống ở

Quỳnh Lu 1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của Quỳnh Lu

Quỳnh Lu nằm ở phía Bắc tỉnh Nghệ An Tuy là huyện đồng bằng nhng

có rừng núi, có biển Diện tích đất tự nhiên là 60.706 ha, trong đó diện tích đấtdùng vào nông nghiệp là 15.427,64 ha Dân số tính đến năm 2007 là 360.000ngời Quỳnh Lu là một huyện đồng bằng tơng đối rộng, có tọa độ địa lý: CựcBắc 19022'12" vĩ độ bắc, cực Nam: 1900'15" vĩ độ Bắc, cực Tây: 1605'15" đôngkinh tuyến, cực Đông: 105047'50" đông kinh tuyến Quỳnh Lu có đờng biêngiới dài 122 km, trong đó đờng biên giới đất liền 88 km và 34 km đờng bờbiển Khoảng cách từ huyện lỵ là Thị trấn Cầu Giát đến Tỉnh lỵ là Thành phốVinh khoảng 60 km Phía Bắc huyện Quỳnh Lu giáp huyện Tỉnh Gia (ThanhHóa), có chung địa giới khoảng 24 km với ranh giới tự nhiên là khe nớc lạnh.Phía nam và tây nam Quỳnh Lu giáp với huyện Diễn Châu và huyện YênThành với ranh giới khoảng 31 km Vùng phía nam của huyện Quỳnh Lu cóchung khu vực đồng bằng với huyện Diễn Châu và Yên Thành Phía tây huyệnQuỳnh Lu giáp huyện Nghĩa Đàn với ranh giới khoảng 33 km đợc hình thànhmột cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng có những

đèo thấp tạo ra những con đờng nối liền 2 huyện với nhau Phía đông huyệnQuỳnh Lu giáp biển đông

Mặc dù không đợc u đãi về mặt đất đai, song thiên nhiên đã phú choQuỳnh Lu có sơn thủy hữu tình Khách bộ hành đi trên đờng thiên lý bắc nam,

dù ngoài vào hay trong ra, qua đất Quỳnh Lu, sẽ thấy phía tây và phía bắc núinon trùng điệp, hòn thấp hòn cao, khi ẩn khi hiện trong làn mây trắng Ngắmcảnh phía Đông sẽ thấy những ngọn núi đá nhỏ đứng chơ vơ giữa đồng ruộng,

điểm xuyết cho cảnh chí Quỳnh Lu thêm khối hình, màu sắc Quỳnh Lu cónhiều ngọn núi: Núi Trụ Hải, núi Bào Đột, núi Tùng Lĩnh bên cạnh đó thìQuỳnh Lu còn có nhiều sông, cửa biển là điều kiện thuận lợi cho giao thông

đờng thủy phát triển, với các sông nh: Sông Thai, sông Hoàng Mai

Trang 10

Đặc biệt Quỳnh Lu nằm ở khu vực nhiệt đới, nhng lại ở miền biển nênthờng nhận đợc 3 luồng gió: Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnhlẽo của vùng Sibia và Mông Cổ, từng đợt thổi qua Trung Quốc và vịnh Bắc Bộtràn về, bà con gọi là gió Bắc Gió mùa Tây Nam ở tận vịnh Bănggan tràn qualục địa, luồn qua các dãy Trờng Sơn, thổi sang mà nhân dân thờng gọi là gióLào, nhng chính là gió Tây khô nóng Gió mùa Đông Nam mát mẻ từ biển

đông thổi vào nhân dân gọi là gió nồm

Nhìn chung khí hậu Quỳnh Lu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nóng từtháng 5 đến tháng 10 dơng lịch, mùa lạnh từ tháng 11 năm trớc đến tháng 4 d-

ơng lịch năm sau Về mùa nóng, nhiệt độ trung bình 300c, có ngày lên tới

400c; về mùa lạnh thờng có gió mùa Đông Bắc, ít ma Với một điều kiện địa lý

tự nhiên nh vậy thì chúng ta có thể thấy rằng Quỳnh Lu là mảnh đất không

đ-ợc thiên nhiên u đãi nh các huyện khác trong tỉnh Chính điều đó đã tác độngkhông nhỏ đến quá trình phát triển của các làng nghề thủ công truyền thốngtrong huyện

Vùng ven biển bao gồm các xã từ Quỳnh Lộc đến Quỳnh Thọ gồm có

13 xã Phần lớn các xã đều nằm lọt giữa kênh Dâu với biển Đông Kênh Dâuchảy theo chiều Bắc Nam gần nh song song với bờ biển nối sông Hoàng Maivới sông Ngọc Để Các xã nằm bên kênh này và kề mép nớc, nhân dân Quỳnh

Lu gọi là vùng Bãi Ngang Vùng ven biển Quỳnh Lu nh vừa nói trên là do cát,

đất bồn và vỏ các loài nhuyễn thể, nói chung là trầm tích của biển bồi tụ, nên

độ màu mỡ có bị hạn chế Tuy là vùng nhỏ hẹp, song địa hình cũng khá phứctạp, thấp dần về phía đông, độ chênh từ tây xuống đông trung bình 4 m, cóchỗ 6 m so với mặt nớc biển Với độ chênh ấy lại đất cát, nên đồng ruộng dễ

bị xói mòn, làm cho việc cải tạo đất và canh tác gặp nhiều khó khăn Đất ở

đây, thành phần đạm lân, kali đều kém, lợng mùn nghèo Tuy thế đất ở đâyvẫn có 2 loại, đất cát pha và đất sét Đất cát pha phần lớn ở các xã Bãi Ngang,

ở đây nhân dân trồng lúa lốc vào mùa vụ, ngoài ra trồng khoai ngô, kê, đậu,lạc, vừng Nơi đất sét nhân dân trồng lúa

Vùng đồng bằng bao gồm 18 xã, bắt đầu từ xã Mai Hùng kéo tới xãQuỳnh Diễn Đây là vùng đất bằng phẳng, khá màu mỡ do sự bồi tụ của cácloại trầm tích biển và do sự cải tạo thờng xuyên của con ngời Chính vì thế màvùng này trở thành vựa thóc của cả huyện Quỳnh Lu Ngoài lúa là chủ yếu,nhân dân còn trồng khoai, ngô, đậu, lạc, vừng Từ ngày có nớc sông Nông

Trang 11

Giang từ Đô Lơng chảy về và các đập kênh tới tiêu, năng suất cây trồng ởvùng này đã nâng cao trông thấy Đây là vùng trung tâm kinh tế, văn hóa,chính trị của huyện.

Vùng đồi núi, vùng này không chỉ bao gồm các xã phía tây mà còn một

số xã phía bắc huyện Quỳnh Lu Đây là vùng đất thuận lợi cho trồng các loạicây công nghiệp nh chè, mía ngoài ra còn trồng các loại cây có hạt nh Trẩu,

Sở Do đồi núi và địa hình bị chia cắt mạnh, song vùng này có khả năng mởrộng diện tích canh tác, phát triển mạnh chăn nuôi, điều hòa dân số và pháttriển cả về nông nghiệp

Nh vậy với sự đa dạng của đặc điểm tự nhiên đã tạo cho Quỳnh Lu mộtnền kinh tế đa dạng, phù hợp với tính chất của c dân phơng Đông Trong đónông nghiệp trồng lúa nớc vẫn đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên bên cạnh đóthì còn có những làng nghề thủ công nghiệp đợc hình thành và ngày càng pháttriển, bổ sung vào nguồn thu nhập và nâng cao chất lợng cuộc sống cho ngờidân Bởi vậy cho nên, các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu luôn

đợc các cấp chính quyền quan tâm, đợc lu truyền và bảo tồn cũng nh phát huy

từ nơi này đến nơi khác, từ đời này sang đời khác

1.2 Đặc điểm của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Các làng nghề thủ công truyền thống vốn xuất hiện sớm trong lịch sửdân tộc ta nói chung và trong lịch sử Quỳnh Lu nói riêng Trong số nhữnglàng nghề thủ công đang hiện diện, nhiều làng nghề đã hình thành từ xa, đợctruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và thờng đợc gọi là những làng nghề thủcông truyền thống Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từhàng ngàn năm trớc đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nôngthôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu

đợc c dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụchính

Bởi lẽ trớc đây kinh tế của ngời Việt Cổ chủ yếu sống dựa vào việctrồng lúa nớc mà nghề trồng lúa không phải lúc nào cũng có việc Thông th-ờng chỉ những ngày đầu vụ hay những ngày cuối vụ thì ngời nông dân mới cóviệc làm nhiều, vất vả nh: Cày bừa, cấy, làm cỏ, cho đến gặt lúa, phơi khô còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để làm Từ đónhiều ngời đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích

Trang 12

ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau làtăng thêm thu nhập cho gia đình.

Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của

nó, mang lại lợi ích thiết thực cho c dân Nh việc làm ra các đồ dùng bằngmây, tre phục vụ sinh hoạt hay đồ đồng, đồ sắt phục vụ sản xuất Nghề phụ từchỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lạilợi ích kinh tế to lớn cho ngời dân vốn trớc đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa

Từ chỗ chỉ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làmtheo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gầnnhau Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đemlại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thìphát triển mạnh dần, ngợc lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phùhợp với làng thì dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làngnghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó nh: Làng mây tre đan, làngmộc

ở Quỳnh Lu, các làng nghề truyền thống mặc dù có quá trình hìnhthành và phát triển giống nhau, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau màcác làng nghề truyền thống này có sự biến động theo thời gian, để rồi từ đó

mà các làng nghề ở Quỳnh Lu khẳng định đợc vị trí của mình trong đời sốngcũng nh trong xã hội

1.2.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống

Quỳnh Lu là một huyện đồng bằng tơng đối rộng, trên địa bàn Quỳnh

Lu hiện nay có tới hơn mấy chục làng nghề thủ công truyền thống Trong đó

có nhiều làng nghề nổi tiếng không chỉ ở trong vùng mà còn nổi tiếng ra cáchuyện và các tỉnh lân cận: Nghề chế biến nớc mắm ở Quỳnh Dị, mộc dândụng và mỹ nghệ ở Phú Nghĩa Chính nhờ những làng nghề này và sản phẩmcủa nó đã góp phần tô thêm vẻ đẹp cũng nh nét riêng cho huyện Quỳnh Lu

Trải qua những bớc thăng trầm của lịch sử, sự biến động của xã hội,không ít làng nghề ở Quỳnh Lu đã dần dần mai một, rồi mất đi nhng hệ quảcủa nó là sự ra đời của các làng nghề khác ở Quỳnh Lu bên cạnh những làngnghề có tuổi nghề mấy năm lại đây thì vẫn đang còn tồn tại nhiều làng nghề

có tuổi nghề hàng trăm năm nh nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa,nghề chế biến nớc mắm Quỳnh Dị Những làng nghề này trong quá trình tồntại và phát triển của mình đã tạo ra đợc những giá trị về kinh tế, xã hội, văn

Trang 13

hóa vô cùng quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế Quỳnh Lu ngày một pháttriển đi lên Những sản phẩm tạo ra từ các làng nghề thủ công truyền thống ởQuỳnh Lu nó đã chứng tỏ đợc khả năng sáng tạo trình độ kỹ thuật cao cũng

nh là phản ánh đời sống vật chất và tinh thần c dân Quỳnh Lu

Một đặc điểm nữa của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lunói riêng và cả nớc nói chung đó là tạo đợc việc làm ngay cho cả ngời lao

động có trình độ thấp, nâng cao thu nhập cho ngời dân, góp phần quan trọngvào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn thúc đẩy việc chuyểndịch cơ cấu lao động theo xu hớng tích cực, giảm dần lao động trong nôngnghiệp, tăng số lao động tham gia làm việc trong các làng nghề tiểu thủ côngnghiệp

Hiện nay, đợc sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, các làngnghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu có điều kiện để phát triển hơn Bêncạnh đó thì một số làng nghề còn vấp phải những khó khăn trong quá trình sảnxuất cũng nh tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên những khó khăn này sẽ dần dần đ-

ợc khắc phục trong thời gian tới để đa quê hơng Quỳnh Lu phát triển sánhngang với các huyện khác trong tỉnh

1.3 Những nhân tố tác động tới sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lu

Nghề thủ công truyền thống gắn liền với nhu cầu của con ngời, bởi vậycòn sự tồn tại của con ngời là còn nghề thủ công hoạt động Do đó nó chịu sựtác động của những nhân tố sau đây:

Trớc hết đó là nhu cầu của con ngời về hàng thủ công truyền thống.Nhu cầu này rất lớn và hết sức đa dạng, thời nào cũng có, không bao giờ chấmdứt bởi vì nó gắn liền với cuộc sống của mỗi con ngời, không chỉ đó là đờisống sinh hoạt nh ăn, mặc, ở mà đó cũng là nhu cầu tâm linh Đây là nhucầu thiết yếu xuyên suốt chiều dài lịch sử

Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã tác động sâusắc tới quá trình phục hồi và phát triển của những nghề thủ công truyền thống.Tuy vậy các nghề thủ công truyền thống vừa phải tiếp cận với những tiến bộkhoa học kỹ thuật vừa phải tạo ra sự tinh tế trong kỹ thuật và kinh nghiệmtruyền thống Chính vì vậy mà các sản phẩm của các nghề thủ công truyềnthống luôn giữ đợc chỗ đứng trong lòng ngời tiêu dùng và ngày càng đợc sửdụng rộng rãi trong xã hội

Trang 14

Nh vậy có nhu cầu về hàng thủ công, tất phải có sản xuất hàng thủ côngtruyền thống Nhu cầu càng lớn, càng bền vững thì việc sản xuất ở cáclàng nghề càng ổn định, càng phát triển lâu dài Ng ợc lại một khi nhữngmặt hàng thủ công không còn ngời tiêu dùng a chuộng, mến mộ nếukhông kịp thời thay đổi sản phẩm thì nghề thủ công đó khó có thể tồn tại và

đứng vững trong xã hội đợc

Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề cũng là một trongnhững nhân tố ảnh hởng tới nghề thủ công truyền thống Cần phải thấy đợcrằng, vai trò của nghệ nhân và những thợ lành nghề có vai trò rất quan trọng

đối với sự tồn tại và phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống.Không có nghệ nhân thì không có nghề, hoặc ít nhất là không có thơng hiệulớn trong xã hội Chính tài năng của các nghệ nhân với “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củađôi tay vàng” của họ

đã tạo nên những sản phẩm quý giá và độc đáo, tạo ra những sản phẩm khôngchỉ có giá trị về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt văn hóa, sống mãi vớithời gian góp phần làm vẻ vang cho quê hơng đất nớc, tạo nên nét riêng, nét

độc đáo và truyền thống cho quê hơng Chính nghệ nhân, ngời thợ cả là nhân

tố hàng đầu cho sự tồn tại của các nghề thủ công truyền thống, đã tạo ranhững nhóm thợ mà trớc hết là con cháu họ, những ngời trong gia đình, rồinhững ngời trong làng Cứ nh vậy các nghệ nhân đã tạo ra một đội ngũ thợlành nghề ngay tại làng xóm của mình Những nghệ nhân và đội ngũ thợ lànhnghề họ có thể tiến hành công việc của mình từ khâu mua nguyên vật liệu, chếbiến nguyên liệu và cuối cùng là tổ chức tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa củamình Bởi vậy mà họ có vai trò hết sức quan trọng, to lớn đối với nghề thủcông truyền thống trong việc giữ gìn và phát huy những nghệ nhân và bí quyếtnghề nghiệp Đồng thời chính họ còn là những ngời có kỹ thuật và kinhnghiệm lâu đời, đã tạo ra những sản phẩm độc đáo có kỹ thuật cao Vì thế chonên nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề là nhân tố quan trọng để nghề thủcông truyền thống tồn tại và phát triển Ngợc lại một khi không có đội ngũ thợlành nghề thì nghề nghiệp cũng không còn nữa

Đặc biệt yếu tố địa lý - môi trờng của làng nghề cũng có tác động rấtlớn, có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành và đảm bảo sự tồn tại, phát triểnlâu dài đố với nghề thủ công truyền thống Thông thờng những nơi có nghềthủ công phát triển thờng tập trung ở các làng xã, chính vì thế mà nó rất thuậntiện về giao thông thủy bộ, gần nguồn nguyên liệu Quỳnh Lu là một huyện

Trang 15

đồng bằng ven biển, đất đai bằng phẳng, hệ thống giao thông đờng bộ và đờngthủy lại rất phát triển Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nghềthủ công truyền thống trong quá trình vận chuyển nguyên liệu buôn bán vớicác vùng khác Đặc biệt đó là sự quy tụ của các nghành nghề thủ công truyềnthống

Ngoài những yếu tố trên thì một yếu tố khác nữa cũng có tác động đếnnghề thủ công truyền thống đó chính là chính sách của Đảng và Nhà nớc ta

Đảng và Nhà nớc ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm xây dựng và pháttriển các nghề thủ công truyền thống Ngoài những chính sách của Đảng vàNhà nớc ta đối với các làng nghề thủ công truyền thống trên phơng diện cả n-

ớc thì do tính đặc thù của mỗi địa phơng do đó mỗi địa phơng đều có nhữngchính sách riêng để nhằm xây dựng va phát triển làng nghề Nghị quyết 06 -NQ/TƯ ngày 8/8/2001 của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ về việc phát triểnngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề tỉnh Nghệ An giai đoạn

2001 - 2005 có tính đến năm 2010 và quyết định số 3465 QĐ - UB ngày23/9/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án thựchiện nghị quyết 06/NQTƯ của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thực hiện nghịquyết số 07 của Ban chấp hành huyện ủy Quỳnh Lu khóa 24 Thực hiện đề áncủa ủy ban nhân dân huyện về phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệpgiai đoạn 2003 - 2005 có tính đến 2010

Riêng làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa - xã QuỳnhNghĩa, nhờ những chính sách hỗ trợ làng nghề của nhà nớc và địa phơng màlàng nghề đã nhanh chóng đạt đợc những thành quả cao

Các chính sách của Trung ơng

Nghị quyết số 134/NĐ - CP ngày 9-6-2004 của chính phủ về khuyếnkhích phát triển công nghiệp nông thôn Thông t liên tịch số 36/2005/TTLT -BTC - BCN của Bộ tài chính và Bộ công nghiệp ngày 16/5/2005 hớng dẫn việcquản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công.Thông t 03/0502005/TT - BCN của Bộ công nghiệp ngày 23/6/2005 hớng dẫnthực hiện một số nội dung của nghị định 134/2004 NĐ - CP ngày 9/6/2004của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn Nghị định66/2006/NĐ - CP của Chính phủ ngày 7/7/2006 về phát triển nghành nghề ởnông thôn

Chính sách của tỉnh Nghệ An

Trang 16

Quyết định số 82/2004/ QĐ - UBND ngày 2/8/2004 của Uỷ ban nhândân tỉnh về việc ban hành quy định về chính sách khuyến nông phát triển tiểuthủ công nghiệp, nghề và làng nghề trên địa bàn tỉnh Quyết định số109/2004/QĐ - UBND ngày 29/10/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc banhành quy chế quản lí, sử dụng quỹ khuyến nông.

Các chính sách của làng nghề đã đợc hởng

Hỗ trợ 20.000.000 đồng làm đờng cấp phối để xây dựng làng nghề, tặngthởng 30.000.000 đồng đạt danh hiệu làng nghề tiểu thủ công nghiệp Đợc hỗtrợ đào tạo nghề cho 75 lao động tham gia, hỗ trợ kinh phí xây dựng đờngnhựa làng nghề dài 2 km giá trị 1,2 tỷ đồng

Từ đó thấy rằng các chính sách của Nhà nớc cũng nh của chính quyền địaphơng đã tạo cho làng nghề có một bộ mặt khởi sắc và tiếp tục đa làng nghềngày càng phát triển cao hơn

Nh vậy, điều kiện địa lý tự nhiên cũng nh môi trờng thể chế - chính sách

và pháp luật của Nhà nớc có ý nghĩa quyết định và trực tiếp tác động đến sựphát triển bền vững đối với các làng nghề thủ công truyền thống Sự tác độngnày đã ảnh hớng lớn đến sự phát triển hng thịnh hay suy yếu của làng nghềthủ công truyền thống

Trang 17

Ch ơng 2 Quá TRìNH RA ĐờI Và PHáT TRIểN CủA một số làng nghề

thủ công truyền thống ở quỳnh lu 2.1 Nghề chế biến nớc nắm truyền thống ở làng Phú Lợi - Xã Quỳnh Dị

2.1.1 Nguồn gốc hình thành

Phú Lợi là một làng gồm hai xóm, xóm Phú Lợi 1 và xóm Phú Lợi 2,nằm dọc theo bờ sông Hoàng Mai, một mảnh đất vốn chật hẹp, đầy khó khăn,trở ngại mà điều kiện tự nhiên không mấy u đãi cho vùng đất này Thế nhng ởnơi ấy từ thời Bắc Thuộc, cách đây khoảng 200 năm, ngời dân nơi đây đã tựlập cho mình một nghề - nghề làm nớc mắm, mà đến nay nó trở thành nguồnthu nhập chính cho đời sống của ngời dân làng Phú Lợi

Trớc kia nơi đây vốn là một gò đất trống giáp biển, ngời dân ở khắp mọinơi từ Diễn Châu (Diễn Ngọc, Diễn Vạn, Diễn Kim), Nghi Lộc, Thanh Hoá,hội tụ về đây định c sinh sống tạo nên làng Phú Lợi ngày nay, họ sống chủyếu dựa vào nghề đánh bắt hải sản gần bờ, với phơng tiện hết sức thô sơ

Điều kiện tự nhiên đã ban tặng cho vùng đất này những thuận lợi to lớn,vốn là vùng giáp biển, vùng biển lắm sinh vật phù du, nhiều loại hải sản có giátrị kinh tế cao và giàu lợng đạm, nh cá hố, cá thu, cá ngừ, cá chim, đặc biệt làcá cơm, là các loại cá phù hợp nhất cho ng dân trong làng làm nghề chế biếnnớc mắm Bởi thế từ rất sớm ngời dân từ khắp mọi nơi đã hội tụ về đây lấynghề đánh bắt hải sản làm nghề chính, mà trớc đây ngời ta quen gọi là “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củadânvạn chài” Cuộc sống của họ gắn bó với biển cả, với những phơng tiện đánhbắt thô sơ, đánh bắt gần bờ Ban đầu hải sản đánh bắt đợc một phần đem vềphục vụ cho gia đình, một phần đem bán hoặc trao đổi trong làng trong xã lấythực phẩm và hàng tiêu dùng cho gia đình, dần dần hải sản đánh bắt đợc ngàycàng nhiều đem dùng trong gia đình và tiêu thụ trong làng, trong xã khônghết, họ đem phơi khô và muối phục vụ cho gia đình mình

Ban đầu chỉ một, hai gia đình làm, với một vài vại nhỏ Cuộc sống nay

đây mai đó trên sông, trên biển quần quật quanh năm nhng vẫn không đủsống, trong khi số hải sản mà họ đánh bắt đựơc lại d thừa, tiêu thụ không hết

Để khắc phục những khó khăn đó nhiều ngời dân trong làng đã đi khắp nơi

đến các vùng ven biển học nghề làm nớc mắm, tiêu biểu nh cụ Hoàng ĐứcPhơn, cụ là ngời đầu tiên trong làng ra Cát Hải - Hải Phòng học nghề làm nớcmắm, về truyền lại cho con cháu và nhiều hộ gia đình trong làng

Trang 18

Biển khơi đã tặng cho ngời dân nơi đây nguồn hải sản phong phú đadạng, cùng với cái khắt khe của gió tây nam, tởng chừng nh đó là sự khắt khecủa tự nhiên đối với làng quê Phú Lợi Thế nhng những ngời dân nơi đây đã v-

ợt lên mọi khó khăn, lợi dụng cái nắng, cái gió khắt khe đó để sống bằng nghềlàm nớc mắm Có lẽ cũng chính vì cái khắt khe đó tởng chừng nh đe doạ cuộcsống của con ngời nơi đây lại rèn luyện con ngời nơi đây cứng cỏi hơn và đâycũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho nớc mắm ở

đây thơm ngon thậm chí còn ngon hơn cả những nơi mà họ đã từng đến họcnghề

2.1.2 Quá trình phát triển

Lịch sử có những bớc thăng trầm và nghề làm nớc mắm ở làng Phú Lợicùng có những bớc thăng trầm nhất định:

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Làng Phú Lợi là một gò đất nổi, nằm ven sông Hoàng Mai, ngay từ thời

kỳ này ngời dân ở khắp nơi hội tụ về đây sinh sống, chủ yếu dựa vào đánh bắthải sản gần bờ, cuộc sống gắn bó với sông, biển, mà trớc đây ngời ta thờng gọi

là những ngời dân “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củavạn chài” Hải sản đánh bắt đợc tiêu thụ không hết, để tậndụng sản phẩm d thừa, họ đã đem muối làm nớc mắm Tuy nhiên thời kỳ nàynớc mắm làm ra chủ yếu để phục vụ cho gia đình chỉ mới một số ít gia đìnhlàm, nớc mắm cha phải là nghề chính nuôi sống gia đình, vì thế có thể xem

đây là thời kỳ hình thành phôi thai của nghề làm nớc mắm ở làng Phú Lợi

Sống trên mảnh đất hẹp, không có điều kiện để mở rộng sản xuất, ngờidân nơi đây chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản ven bờ Từ thời Pháp thuộc nghềlàm nớc mắm đã hình thành phôi thai, đến thời kỳ này nhiều ng dân làng PhúLợi đã đi khắp các nơi đến các vùng ven biển học nghề làm nớc mắm nh ởCát Hải - Hải Phòng, về làm nớc mắm, vì vậy đến thời kỳ này nghề làm nớcmắm mới thực sự hình thành ở làng Phú Lợi, ở thời kỳ này sản phẩm nớc mắmlàm ra không chỉ để phục vụ cho gia đình mà còn đem trao đổi buôn bán tronglàng xã, các hộ gia đình trong làng gây dựng tu bổ đợc một số cơ sở vật chất

Cuộc cách mạng tháng Tám giành đợc thắng lợi cha đợc bao lâu, thìPháp quay trở lại xâm lợc nớc ta Chiến tranh đã tàn phá tất cả những cơ sở vậtchất ban đầu của ng dân Phú Lợi, lực lợng đánh bắt hải sản chủ yếu là thanhniên trai tráng ra chiến trờng, bởi vậy nguồn nguyên liệu hải sản dùng để làm

Trang 19

nớc mắm thiếu trầm trọng, nghề làm nớc mắm ở đây không có điều kiện pháttriển, mở rộng sản xuất.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

Ngày 10/10/1954 quân Pháp rút lui hết khỏi Miền Bắc, cuộc khángchiến chống Pháp dành thắng lợi Tuy nhiên Pháp vừa rút khỏi Miền Bắc thì

đế quốc Mỹ lại tiến hành xâm lợc nớc ta, bằng việc thiết lập chính quyền phản

động ở Miền Nam Việt Nam, đất nớc bị chia cắt thành hai miền với hai chế độchính trị khác nhau

Trong hoàn cảnh đó Đảng, Nhà nớc ta đã đề ra nhiệm vụ cho cả haimiền Miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lênxây dựng xã hội chủ nghĩa và hậu phơng vững chắc cho tiền tuyến lớn MiềnNam Còn ở Miền Nam do cha hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhândân, nên phải tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dânhoàn thành sự nghiệp thống nhất nớc nhà là tiền tuyến lớn

Trong hoàn cảnh đó nhân dân Làng Phú Lợi cùng nhân dân cả nớc, vừakhôi phục kinh tế, hàn gắn vết thơng chiến tranh, vừa là hậu phơng vững chắccung cấp sức ngời của cho tiền tuyến ở Miền Nam Nhờ vậy mà đánh bắt vàchế biến hải sản, nhất là nghề làm nớc mắm truyền thống, dần dần đợc khôiphục trở lại

Ngày 22/10/1958 mô hình Hợp tác xã khai thác hải sản thành lập ở làngPhú Lợi Đây là một mốc quan trọng, tạo điều kiện cho nghề làm nớc mắm ở

đây có điều kiện phát triển, mọi ngời trong làng cùng đánh bắt hải sản, cùngchế biến trong Hợp Tác Xã hăng hái, những tia hy vọng mới thể hiện rõ trênnét mặt của mỗi ng dân làng Phú Lợi

Dới sự lãnh đạo của Đảng, các ngành các cấp, ng dân Phú Lợi vừa hănghái đánh bắt và chế biến hải sản, nhờ vậy mà năm 1962 -1963 Phú Lợi đợccông nhận là “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củalá cờ đầu” trong phong trào đánh cá ở Miền Bắc

Những ngời có tài có công nh: Cụ Lục, Cụ Hà, Cụ Tấn, Cụ Thờng lànhững ngời đi tiên phong trong nghề làm nớc mắm ở làng này Bị thất bạitrong chiến lợc chiến tranh đơn phơng, Mỹ tiếp tục đa ra các chiến lợc chiếntranh khác: Chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến lựơc Việt Nam hoáchiến tranh Các chiến lợc chiến tranh đó, đặc biệt sự kiện ngày 5/8/1964 đếquốc Mỹ leo thang đánh phá Miền Bắc, trọng điểm đánh phá là: Sông Gianh,Cầu Long Biên, Cầu Hàm Rồng trong đó có Cảng Cờn gần làng Phú Lợi

Trang 20

cũng là trọng điểm bị đánh phá ác liệt, bởi vậy làng Phú Lợi bị thiệt hại về

ng-ời và tài sản nghiêm trọng

Trong hoàn cảnh khó khăn đó nhân dân làng Phú Lợi cùng nhân dânMiền Bắc và nhân dân cả nớc vừa tiếp tục sản xuất khôi phục kinh tế hàn gắnviết thơng chiến tranh, vừa chống chiến tranh phá hoại, vừa chi viện cho cáchmạng Miền Nam Ng dân Phú Lợi tiếp tục bám trụ lấy làng để đánh bắt và chếbiến hải sản và nghề làm nớc mắm vẫn tiếp tục đợc duy trì, với tinh thần cơngquyết “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củamột tấc không đi một li không rời”, góp phần cùng cả nớc hoàn thànhcuộc kháng chiến chống Mỹ

Từ năm 1975 đến nay

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc cả nớc bớc vào thời kỳthống nhất đất nớc, chống thù trong giặc ngoài, khôi phục kinh tế, hàn gắn vếtthơng chiến tranh Nghề làm nớc mắm truyền thống ở làng Phú Lợi lại có điềukiện khôi phục và phát triển trở lại Tuy nhiên sau khi chiếm toàn bộ những cơ

sở vật chất: tàu, thuyền, chum, vại mà ng dân làng Phú Lợi gây dựng, khôiphục đợc từ thời kỳ đầu sau cuộc kháng chiến chống Pháp thành công hầu nhkhông còn gì, nhiều ngời trong làng hy sinh trong chiến trờng

Lúc này quân Mỹ rút khỏi Miền Nam nhng hai miền Nam Bắc vẫn haichế độ chính trị khác nhau, bởi vậy nhiệm vụ lúc này là phải hoàn thành thốngnhất đất nớc, lại phải tiếp tục đơng đầu với các cuộc chiến tranh biên giới:Chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới Phía Bắc và các thếlực phản động trong, ngoài nớc Vì thế ở thời kỳ đầu sau cuộc kháng chiếnchống Mỹ nghề làm nớc mắm ở làng Phú Lợi không có điều kiện để tập trungphát triển Từ năm 1986 sau khi hoàn thành thống nhất đất nớc, các cuộcchiến tranh biên giới kết thúc thắng lợi, cả nớc đi lên Chủ nghĩa xã hội Đảng,Nhà nớc đã đề ra đờng lối đổi mới, kinh tế cá thể hộ gia đình đợc khuyếnkhích và u tiên phát triển Nếu nh trớc năm 1986 kinh tế cá thể không có điềukiện phát triển, kinh tế phát triển theo cơ chế bao cấp, thì nay kinh tế cá thể đ-

ợc khuyến khích, có điều kiện phát triển, phù hợp với tâm lý nguyện vọng củanhân dân, mọi ngời phấn khởi tích cực lao động sản xuất

Năm 1999 một bớc đột phá về nghề nghiệp ở làng Phú Lợi, đó là nhiều

Đảng viên đã nhanh chóng mạnh dạn thay đổi cơ chế cũ, theo đờng lối cơ chếmới Nhiều Đảng viên trong làng trớc kia họ vốn là những chiến sĩ bộ đội giỏi

ở chiến trờng, thì nay khi chiến tranh kết thúc, đất nớc bớc vào thời kỳ đổi

Trang 21

mới, họ lại hoà vào cuộc sống đời thờng xây dựng phát triển kinh tế, tiêu biểu

nh ông Trần Đức Nghĩa, ông Nguyễn Viết Xân, ông Trần Văn Tiến

Từ năm 2001 căn cứ Quyết định của ủy Ban Nhân Dân huyện Quỳnh

Lu phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm 2001 -2010trên địa bàn xã Quỳnh Dị, căn cứ vào thực trạng khó khăn của làng Phú Lợi:Phơng tiện đánh bắt hải sản thô sơ, lạc hậu, công suất nhỏ, cơ sở vật chất thiếuthốn, h hỏng và tình trạng d thừa lao động, đặc biệt là lao động nữ ủy BanNhân Dân xã, cùng đại diện làng nghề là ông Trần Văn Tiến, chủ dự án đã

soạn thảo bản Đề nghị phê duỵêt dự án đầu t“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của ” số 07/CN - UB (30/12/2002),

gửi ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng liên minh Hợp Tác Xã vàdoanh nghiệp ngoài quốc doanh, ủy Ban Nhân Dân huyện, Phòng côngnghiệp và phát triển nông thôn

Ngày 15/02/2002 soạn tờ trình về việc phê duyệt dự án đầu t xây dựng

và phát triển làng nghề chế biến hải sản và bản đề án xây dựng làng nghề PhúLợi, gửi ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An, hội đồng liên minh Hợp Tác Xã vàdoanh nghiệp ngoài quốc doanh, ủy Ban Nhân Dân huyện, Phòng côngnghiệp và phát triển nông thôn

Nhờ những nổ lực của chính quyền các cấp và sự cần cù chịu khó củatoàn thể nhân dân làng Phú Lợi, mà năm 2002 làng có 20 tàu vơn khơi cócông suất từ 45/CV - 90/CV, sản lợng đánh bắt đạt từ 2500 đến 3000 tấn,trong đó cá cơm chiếm tới 80% là nguồn nguyên liệu phù hợp nhất cho làm n-

ớc mắm Nhờ vậy mà trong thời gian này nớc mắm ở đây ngày càng đợc mọingời a chuộng, các hội dịch vụ phát triển mạnh, đã giải quyết đợc tình trạnglao động d thừa trong làng, đem lại nguồn lớn cho ng dân Phú Lợi

Năm 2002 làng có 349 hộ, trong đó hộ đang làm nghề là 97 hộ, có haixởng sản xuất đá lạnh, còn lại là dụng cụ đựng nguyên liệu bằng thùng bêtông, xi măng và chum vại bằng sành, mỗi hộ có bể chứa từ 5 tấn trở lên

Năm 2004 tổng số lao động của làng là 582 lao động, giá trị sản xuất24,487 triệu đồng, tổng thu nhập của làng nghề là 11.011 tỷ đồng, thu nhậpbình quân chế biến đạt 19,8 triệu/ngời, thu nhập bình quân lao động 15,1triệu/ngời Đặc biệt sản lợng nớc mắm đạt đợc rất cao: Nớc mắm loại 1 đạt

800 nghìn lít, loại 2 đạt 230 nghìn lít, loại 3 đạt 20 nghìn lít Sản l ợng cá đánhbắt đợc 4000 tấn, trong đó chủ yếu là cá cơm, tại làng nghề đã có doanhnghiệp Minh Tuấn và 12 tổ hợp chuyên tiêu thụ sản phẩm của làng Ngoài ra

Trang 22

có 7 - 8 ngời mang sản phẩm bán ra ngoài huyện, ngoài tỉnh và 12 cơ sở trựctiếp mua tàu ra biển để dịch vụ thu mua hải sản trên biển, đem về chế biến nớcmắm.

Nhờ sự nỗ lực của chính quyền các cấp và toàn thể nhân dân làng PhúLợi mà năm 2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận 2 xóm Phú Lợi (1 + 2) đạt

danh hiệu Làng nghề tiểu thủ công chế biến thuỷ sản Phú Lợi - Quỳnh Dị -“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

Quỳnh Lu - Nghệ An ”.

Ngày 22 tháng 12 năm 2005, Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị đã tổ chức

lễ đón nhận bằng công nhận làng nghề chế biến hải sản làng Phú Lợi, cũngtrong dịp này Uỷ ban nhân dân xã và làng Phú Lợi tổ chức nhiều hoạt độngvăn nghệ, đua thuyền, lễ cầu ng, các trò chơi để đón bằng công nhận làngnghề

Sự kiện này đã đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng đối với nghề làm

n-ớc mắm ở đây Ng dân đợc vay vốn đóng mới, sữa chữa tàu thuyền, cơ sở vậtchất, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lợng nớc mắm ở đây

Thực hiện kế hoạch 5 năm, 2005 - 2010 cùng với sự giúp đỡ của chínhquyền các cấp, bà con ng dân làng Phú Lợi đã tích cực hăng hái đánh bắt, chếbiến hải sản Vì vậy mà nớc mắm ở đây không ngừng tăng lên cả về số lợng vàchất lợng Tổng sản lợng đánh bắt đợc là 355 tấn, chế biến nớc mắm 2100 tấn,cá nén 700 tấn, chế biến mắm chợp 1400 tấn, tổng sản lợng nớc mắm các loạixuất ra thị trờng là 1,3 - 1,5 triệu lít

Căn cứ quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh Lu phê duyệt kếhoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm 2001 - 2010 trên địa bàn xãQuỳnh Dị, thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ khoá XVIII nhiệm kỳ 2001 -

2010 Do đó việc xây dựng nhiệm vụ trọng tâm của làng Phú Lợi gắn kếhoạch chung của xã, huyện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với khả năng

và tình hình địa phơng, phát triển kinh tế xã hội từng bớc nâng cao đời sốngvật chất của nhân dân Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị đã lấy nhiệm vụ “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củađẩymạnh các nghề thủ công nghiệp nh chế biến nớc mắm, chế biến cá hấp, cákhô, các cơ sở sản xuất đá lạnh và các cơ sở sửa chữa tàu thuyền, nhằm phục

vụ đời sống dân sinh, phát triển các loại hình dịch vụ”.[13]

Nhờ thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm đó mà năm 2006 nghề làm

n-ớc mắm không ngừng phát triển và đạt đợc những thành tựu đáng kể

Trang 23

Theo kết quả thống kê của xã năm 2006 làng Phú Lợi sản xuất trên125.000 lít nớc mắm, trị giá khoảng 2 tỷ, cá phơi khô đạt 600 tấn giá trịkhoảng 9 tỷ, đóng góp cho ngân sách nhà nớc 100% chỉ tiêu.

Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2006 sản lợng khai thác của làng là2.150 tấn, trong đó cá phơi khô 110 tấn, cá đông lạnh 94 tấn, cá bán ra thị tr-ờng 256 tấn, chế biến chợp 1.300 tấn, mỗi ngày làng Phú Lợi xuất đực 2.000lít nớc mắm ra thị trờng

Bớc sang năm 2007 tiếp tục căn cứ quyết định của Uỷ ban nhân dânhuyện Quỳnh Lu phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm

2001 - 2010 trên địa bàn xã Quỳnh Dị, thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộkhoá XVIII nhiệm kỳ 2005 - 2010 và tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ trọngtâm năm 2006, thực hiện phơng hớng nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân huyện

và Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị, nghề làm nớc mắm ở đây lại đạt đợc nhữngthành tựu đáng kể

Năm 2007 làng Phú Lợi có 42 tàu đánh bắt hải sản có công suất từ45/CV - 90CV và 19 tàu dịch vụ thu mua nguyên liệu trên biển Theo tínhtoán của ng dân 42 tàu khai thác muốn trẻ về bến để bán sản phẩm sẽ mất hơn1.700lít dầu/chuyến, nhng nhờ có 19 tàu dịch vụ giảm đợc chi phí, nhờ vậy màlợng đánh bắt ngày một tăng, nguyên liệu cá phục vụ cho làm nớc mắm đợc t-

ơi hơn, nên chất lợng nớc mắm đảm bảo và ngon hơn

Riêng trong quý I năm 2007, sản lợng khai thác đạt 1.200 tấn, trị giá3,4 tỷ, chế biến đợc 1000 tấn chợp làm nớc mắm hải sản, tiêu thụ đợc 40.000lít nớc mắm các loại

Tổng sản lợng khai thác năm 2007 đạt 36000 tấn tăng 26,3% so vớinăm 2006 ngoài các tàu đánh bắt xa khơi và tàu dịch vụ, làng còn có 37thuyền vận chuyển và đánh bắt gần bờ, nhờ vậy mà nghề làm nớc mắm ở đâyphát triển ngày một vững chắc

Nh vậy kể từ khi nghề làm nớc mắm ở làng Phú Lợi hình thành manhnha đến nay, trải qua một thời kỳ khá dài trên 200 năm Cũng nh các ngànhnghề khác, nó có những bớc thăng trầm theo dòng lịch sử, có lúc phát triển rấtchậm, có lúc lại phát triển mạnh Hiện nay Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị vàlàng nghề Phú Lợi đang tiếp tục thực hiện kế hoạch 5 năm 2005 - 2010, tiếptục lấy nghề làm nớc mắm truyền thống ở làng Phú Lợi là nghề chính trongquá trình phát triển kinh tế của làng Phú Lợi

Trang 24

2.1.3 Quy trình kỹ thuật chế biến nớc mắm truyền thống ở làng nghề Phú Lợi

Quy trình kỹ thuật chế biến:

Chế biến cá Trỏng (cá cơm)

Cá Trỏng là tên gọi của ngời dân địa phơng nơi đây, thực chất nó thờng

đợc gọi là cá cơm Cá cơm là loại xơng nhỏ, mềm, nhiều thịt, giàu lợng đạm,phù hợp nhất cho làm nớc mắm Tuy nhiên cũng nh các loại cá khác, trớc khi

đem chế biến nó cũng phải trải qua khâu chuẩn bị và xử lý nguyên liệu mộtcách cẩn thận

Xử lý nguyên liệu, chuẩn bị chế biến

Bớc 1: Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ chế biến

Thùng đựng bằng sành, miệng rộng, dới đáy có lỗ thông ra để rútnớc mắm Thùng đựng nguyên liệu phải đặt ở nơi thông thoáng, không

bị che khuất bởi nhà cửa hoặc cây cối, để dễ tiếp nhận ánh sáng mặt trờimắm sẽ nhanh chín và thơm ngon; Vỉ gài nén, vỉ phải đợc làm từ chấtliệu tre đã ngâm nớc, tấm đậy thùng, nguyên liệu có tác dụng che ma, sơng,dụng cụ dằn phải bằng đá núi

Tất cả các dụng cụ này trớc khi đem dùng để chế biến nớc mắm phải

đ-ợc xử lý sạch sẽ

Bớc 2: Chuẩn bị các phụ gia gồm vừng, đờng, thính gạo, muối.

Ngời dân ở đây cho biết bí quyết để làm nớc mắm ngoài các yếu tốkhác thì việc trộn cá với phụ gia cũng hết sức quan trọng, giúp nớc mắm thơmngon hơn Cứ 100kg cá thì phải chuẩn bị một lợng phụ gia vừa đủ là: 22kgmuối hạt, muối phải trắng, sạch, để lâu năm 1,2kg thính gạo, thính gạo rangvàng, không đợc quá cháy, nếu thính cháy thì nớc mắm sẽ chuyển màu sẫm,mất mùi vị đặc trng 0,3 - 0,5kg vừng (mè), vừng cũng rang vàng, không bịcháy

Bớc 3: Lựa chọn và xử lý cá

Cá sau khi đợc đem từ bến về, tiến hành phân loại, lựa chọn Chọnnhững con cá tơi không bị ớp đá (nếu cá bị ớp đá nớc mắm sẽ có mùi tanh vàchuyển sang màu xanh đen), loại bỏ những con cá ơn, bể bụng, không đủ chấtlợng, sau đó đem loại bỏ các tạp chất, rửa sạch, để ráo nớc và chuẩn bị chếbiến

Phơng pháp (cách thức) chế biến

Trang 25

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu, phụ gia, dụng cụ, đem trộn cávới phụ gia trên nền ni lông (trộn trên nền đợc trải ni lông có tác dụng dễ đảonguyên liệu và phụ gia không bị lãng phí ngấm ra ngoài, lại sạch sẽ, dễ thudọn) Khi cá đã đợc trộn đều với phụ gia, đổ vào đầy thùng, rải lên trên mộtlớp muối mỏng để chống ruồi nhặng, gài nén, bịt kín lại.

7 ngày sau khi cá lên men thì rút nớc bổi lần 1, 2 ngày sau rút lần 2, rồilần 3 Khi cá đã lên men nguyên liệu trong thùng sẽ xẹp xuống lng thùng, talại tiếp tục đổ nguyên liệu cá đã đợc chuẩn bị vào đầy thùng, rồi gài nén lại đểcá lên men

Nớc bổi đợc rút ra đem phơi nắng, nếu ở nhiệt độ cao vào mùa hè thìphơi nớc bổi từ 10 - 15 ngày, rồi đổ nớc bổi vào thùng khi nó còn nóng, khi ấycũng là lúc cá lên men hoàn chỉnh tỏa mùi thơm

Sau khi cá đã lên men, hàng ngày phải mở ra phơi nắng tiếp nhiệt và

đậy lại kín khi chiều tối đến hoặc trời ma, sơng muối Cứ nh thế ngày nàocũng vậy, đợc 1 năm thì mắm mới chín đạt tiêu chuẩn và bắt đầu tiến hànhrút nớc mắm cốt

Nớc mắm cốt đợc rút hết, còn lại là bã 1, tiếp tục lấy nớc nổi của cáquậy đổ vào thùng bã 1, phơi nắng, tiếp nhiệt 7 ngày sau (nếu ở nhiệt độ caomùa hè) thì có thể rút đợc nớc mắm loại 1 và cứ nh thế tiếp tục rút nớc 2, nớc

3 cho đến khi hết lợng đạm quy định, bã cuối cùng còn lại đem chế biến làmthức ăn cho gia súc hoặc làm phân bón

Trong trờng hợp nếu không có cá quậy thì sau khi rút hết nớc cốt cácơm ta tiến hành đun nớc sôi hòa với một lợng muối nhất định để nguội đổvào thùng bã cá đó, đem phơi nắng tiếp nhiệt từ 7 - 10 ngày là có thể rút đợcnớc mắm loại 1, và cứ chu trình nh thế tiếp tục rút các nớc tiếp theo Hoặc cóthể cá quậy đợc làm riêng, rút riêng rồi lại lấy nớc mắm của cá quậy đổ vào bãcủa cá cơm, rồi lại rút nớc mắm cho hết lợng đạm quy định

Xử lý nguyên liệu, chuẩn bị chế biến

Bớc 1: Chuẩn bị dụng cụ chế biến

Trang 26

Bao gồm: Thùng đựng nguyên liệu, đối với các loại cá này thùng đựng

có thể bằng sành càng tốt, nhng cũng có thể bằng bê tông, nó không đòi hỏicầu kì nh cá cơm, tuy nhiên thùng phải có miệng rộng, có lỗ thông ở dới, và

đặc biệt phải đợc đặt ở nơi thông thoáng, dễ tiếp nhận năng lợng ánh sáng mặttrời, ngoài ra còn có các dụng cụ khác nh: vỉ gài nén, đá dằn, nắp đậy cũng

đợc chọn chất liệu và cách thức nh đối với cá cơm

Bớc 2: Chuẩn bị phụ gia

Đối với các loại cá này việc chuẩn bị phụ gia cũng rất đơn giản, phụ giachỉ có muối hạt, với tỷ lệ 22%, tuy nhiên muối trắng pha, sạch sẽ và đợc đểlâu năm

Bớc 3: Lựa chọn và xử lý cá

Cũng nh cá cơm, cá quậy sau khi đợc lấy từ bến về phải đợc phân loại,lựa chọn kỹ càng, chọn những con cá tơi, không bị ớp đá, loại bỏ các loại cá -

ơn, hỏng, kém chất lợng sau đó tiến hành phân loại Đối với những loại cá

to, xơng cứng này phải đợc cắt khúc nhỏ, loại bỏ các tạp chất, rửa sạch, để ráo

và chuẩn bị đem chế biến

Ng dân ở đây cho biết mùi vị nớc mắm của cá quậy không thơm ngon

nh cá cơm và lợng đạm thấp hơn, tuy vậy khi đợc đổ vào bả cá cơm thì nớcmắm rút ra cũng có mùi thơm ngon, không còn mùi của cá quậy nữa

Có một điểm khác biệt hẳn so với phơng pháp chế biến nớc mắm cảitiến và phơng pháp chế biến nớc mắm ở các nơi khác, đó là trong suốt chutrình suốt 1 năm ngời ta không bao giờ náo đảo trong thùng nớc mắm, đây làmột trong những bí quyết khiến nớc mắm ở đây thơm ngon và ít khi bị h hỏng

Trang 27

Nớc mắm ngon phải có màu vàng cánh dán, khi tráo từ bát ra vẫn còn sánh lạitrên bát, nếm vào có bị bùi bùi, ngon ngọt.

2.1.4 Giá trị sản xuất của nghề chế biến nớc mắm ở làng Phú Lợi

Thời kỳ chiến tranh, do phải tập trung cho chiến tranh, đồng thời chiếntranh đã tàn phá tất cả những cơ sở vật chất mà làng xây dựng đợc ban đầu,vìthế không có điều kiện đợc phát triển, mở rộng quy mô, nâng cao chất lợng n-

ớc mắm, cho nên đời sống của nhân dân làng Phú Lợi luôn luôn gặp khó khăn.Thời nay, đặc biệt năm 2005 với sự kiện 2 xóm Phú Lợi đợc ủy ban nhân dântỉnh công nhận làng nghề tiểu thủ công truyền thống, đã tạo nên một bớcngoặt lớn trong quá trình phát triển của nghề làm nớc mắm ở làng Phú Lợi.Nhờ vậy mà đời sống nhân dân làng Phú Lợi đợc ổn định, loại bỏ hẳn tìnhtrạng lao động d thừa, đem lại mức thu nhập kinh tế lớn cho ngời dân nơi đây.Với nhiều hộ làm ăn quy mô lớn, điển hình nh hộ ông Nguyễn Văn Kề - bàTrần Thị Ơng, trung bình mỗi năm thu mua trên 50 tấn chợp, tiêu thụ trên 100lít nớc mắm mỗi ngày, số vốn đầu t cho nghề nớc mắm lên tới 300 triệu đồng.Hay hộ bà Trần Thị Chính trung bình mỗi năm thu mua từ 400 - 500 tấn cá đểphục vụ cho phơi sấy và làm nớc mắm, hàng năm bán ra thị trờng từ 9.000 -10.000 lít nớc mắm loại 1, tạo công ăn việc làm cho 30 - 40 lao động, với mứcthu nhập bình quân 900.000đ/ngời/tháng

Không chỉ làm ăn giỏi mà ngời dân làng Phú Lợi còn say mê làm việcthiện Ông Trần Đức Nghĩa ở xóm Phú Lợi 1, thời kỳ còn chiến tranh ông vốn

là một chiến sỹ từng tham gia chiến đấu trực tiếp trên chiến trờng, sau khichiến tranh kết thúc ông trở về quê sinh sống và bắt đầu sự nghiệp của mìnhbằng nghề làm nớc mắm, vừa nguồn thu nhập cho gia đình mình Bớc đầu dothiếu vốn nên mỗi năm ông chỉ thu mua 2 tấn chợp làm nớc mắm, dần dần 5tấn, rồi 7 tấn, 20 tấn/1năm Góp phần tiêu thụ nguồn nguyên liệu trong làng,

ông còn làm từ thiện cho một số hộ vay vốn đợc ngời dân nơi đây rất tin tởng,

nể phục

Hầu hết các hộ dân nơi đây có truyền thống làm nớc mắm lâu đời, tiêubiểu nh hộ gia đình anh Cơng - chị Ngần, là gia đình có truyền thống 4 đờilàm nớc mắm, sản phẩm làm ra đợc nhiều ngời a chuộng, mỗi năm gia đình ớpkhoảng 30 tấn cá tơi, làm đợc 7.000 - 9.000 lít nớc mắm Ngày 20 tháng 02năm 2006 sản phẩm nớc mắm của cơ sở Cơng Ngần tham gia trng bày giới

Trang 28

thiệu sản phẩm doanh nghiệp nữ tỉnh Nghệ An lần thứ nhất và đợc đánh giáchất lợng rất cao.

Nhờ khai thác và chế biến hải sản, đặc biệt là nghề làm nớc mắm mà bộmặt của nhân dân làng Phú Lợi nói riêng và nhân dân xã Quỳnh Dị nói chungngày một ổn định, kéo theo sự thay đổi các mặt khác Hiện tại làng có khoảng

265 xe gắn máy, hàng chục xe vận tải, 2 cơ sở đại lý xăng dầu, 4 cơ sở sảnxuất đá lạnh, 75% số hộ có điện thoại di động và cố định, 100% hộ có nhàngói, trong đó có nhiều hộ xây dựng đợc nhà cao tầng, với đầy đủ tiện nghisinh hoạt Làng Phú Lợi bây giờ không thiếu thốn và nghèo nàn nh trớc kia

mà nhộn nhịp nh thành thị

Không chỉ đời sống nhân dân làng Phú Lợi thay đổi mà nhờ nghề chếbiến nớc mắm một phần nào đó đời sống nhân dân toàn xã cũng có nhữngthay đổi và ổn định hơn: Năm 2007 tổng thu ngân sách toàn xã đạt1.897.630.137 đồng bằng 77,1% kế hoạch; ngành công nghiệp - xây dựng đạt15.053,8 triệu đồng, tăng 4,8% kế hoạch < tăng 13,5% so với năm 2006;ngành dịch vụ đạt 469.918 triệu đồng, tăng 19,4% kế hoạch, tăng 30,3% sovới năm 2006 Có 1.073 gia đình văn hóa, chiếm 72,2%; 7/12 xóm đạt đơn vịvăn hóa, trong đó có 2 đơn vị nhà trờng đạt đơn vị văn hóa cấp tỉnh, huyện; sốhọc sinh thi đỗ Đại học 21 em, cao đẳng 24 em

Có đợc những thành tựu đó một phần là nhờ khai thác và chế biến hảisản ở làng Phú Lợi mà mũi nhọn là nghề làm nớc mắm

Trong những năm qua, nhờ nghề làm nớc mắm mà đời sống nhân dânlàng Phú Lợi ngày càng ổn định, đạt đợc những thành tựu to lớn, tuy nhiênbên cạnh một số mặt tích cực nhờ nghề làm nớc mắm đem lại, thì vẫn cònnhiều tồn tại hạn chế đã kìm hãm sự phát triển của nghề làm nớc mắm truyềnthống ở làng Phú Lợi nh:

Đất đai quá chật hẹp nên ng dân trong làng không có điều kiện để mởrộng quy mô sản xuất nớc mắm, trong khi đó chế biến hộ gia đình nên việc xử

lý chất thải gặp nhiều khó khăn gây ra ô nhiễm môi trờng, khó kiểm soát, khókhăn trong nâng cao dây chuyền thiết bị sản xuất

Phơng tiện đánh bắt chủ yếu là tàu thuyền có công suất thấp, vì thế ngdân ở đây chủ yếu đánh bắt gần bờ và vùng lộng, không có điều kiện để đánhbắt xa khơi lâu ngày trên biển, nên hiệu quả đánh bắt không cao, ng dân

Trang 29

không có đủ nguyên liệu cho việc mở rộng quy mô sản xuất nghề nớc mắm ởtừng hộ gia đình.

Trong những năm gần đây ng dân làng Phú Lợi đã đợc sự quan tâm củacác ngành các cấp, đã tạo điều kiện cho ng dân vay vốn phát triển kinh tế, tuynhiên việc thiếu vốn vẫn là vấn đề đặt ra bức thiết Do thiếu vốn nên ng dân bị

động, chuyển đổi tốc độ sản xuất, không có điều kiện để mở rộng sản xuất và

tu bổ nâng cấp phơng tiện đánh bắt, chế biến nớc mắm

Thời gian gần đây các cơn bão thờng xuyên đổ bộ vào vùng biển nớc ta,làm ảnh hởng đến khai thác, đánh bắt hải sản, cũng nh tính mạng của con ng-

ời, trong khi đó nguồn tài nguyên biển ngày một vơi cạn dần

Nghề chế biến nớc mắm ở đây còn phát triển cầm chừng, một số hộ chamạnh dạn đầu t vì thế cha phát triển tơng xứng với tiềm năng của làng Nhândân có truyền thống làm nớc mắm nhng vẫn là sản xuất thủ công lạc hậu, vìthế phần nào đó ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm

Làng cha có một đội ngũ có trình độ khoa học kỹ thuật để hớng dẫn chongời dân

Cơ chế thị trờng tạo động lực cho nghề làm nớc mắm ở đây phát triển,nhiều hộ gia đình đã tự gián nhãn hiệu cho sản phẩm của gia đình mình đểquảng bá chất lợng sản phẩm của gia đình mình Tuy nhiên sản phẩm nớcmắm ở đây vẫn cha có thơng hiệu, vì vậy rất khó khăn để đứng vững trên thịtrờng và cạnh tranh sản phẩm ở nơi khác, để tạo đợc thơng hiệu cho sản phẩmnớc mắm ở nơi đây thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực giúp đỡ của chính quyền cáccấp, đặc biệt là toàn thể nhân dân làng Phú Lợi

Chính vì thế mà các cấp chính quyền cũng nh làng nghề đã có nhữngbiện pháp nhằm duy trì và phát triển nghề làm nớc mắm ở làng Phú Lợi:

Với vị trí, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đã ban tặng cho làng PhúLợi những tiềm năng để phát triển nghề làm nớc mắm, vì thế từ rất sớm ở đây

đã hình thành và phát triển nghề làm nớc mắm, tuy nhiên vẫn có nhiều khókhăn và hạn chế Vì vậy để duy trì và phát triển nghề làm nớc mắm truyềnthống ở đây cần phải có những biện pháp nhất định, cụ thể là: Tiếp tục lụcsoát lại chính xác những phơng tiện khai thác hải sản để đa vào quản lý theo

đúng quy định, bố trí hợp lý trên từng phơng tiện, quản lý tàu cũ có công suấtnhỏ, tiêu tốn nhiêu liệu, tăng cờng đóng mới tàu có công suất lớn và tàu dịch

vụ thu mua nguyên liệu trên biển, trang bị đầy đủ thiết bị khai thác, thiết bị

Trang 30

hàng hải và các điề kiện đảm bảo an toàn để khai thác trên bờ, nâng cao giátrị sản phẩm khai thác, có nh vậy ng dân làng Phú Lợi mới có điều kiện để mởrộng quy mô chế biến nớc mắm.

Bố trí cơ cấu nghề hợp lý để khai thác hiệu quả cả 3 ng trờng: Vùngkhơi, vùng lộng, và vùng gần bờ

Gắn khai thác với chế biến sản phẩm sau khai thác để nâng cao giá trịsản phẩm, kết hợp hài hòa giũa chủ tàu và hộ sản xuất nớc mắm giữa các khâusản xuất tạo nguyên liệu và khâu chế biến, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm

Tổ chức thành đội tàu khai thác theo quan hệ dòng họ, gia đình và tổhợp, có sự hổ trợ của chính quyền địa phơng để bảo đảm khai thác hiệu quảhơn và giúp đỡ nhau khi trắc trở trên biển

Phải đợc bổ sung nguồn lao động có kỹ thuật, trình độ bằng cách gửi đitiếp xúc học hỏi kinh nghiệm ở nơi khác và tạo điều kiện cho họ tiếp cận vớicông nghệ hiện đại

Gấp rút xây dựng các cơ sở chế biến và hoàn thiện kết cấu hạ tầng đểphục vụ cho nghề làm nớc mắm

Cần có sự hỗ trợ về vốn, để mở rộng quy mô sản xuất, giải quyết việclàm cho nhân dân trong làng và trong xã nói chung

Tăng cờng đầu t nghề làm nớc mắm, tiếp tục tuyên truyền cho nhân dânquản lý bảo quản sản phẩm, cũng nh tiếp cận với công nghệ hiện đại hơntrong việc bảo vệ môi trờng, bảo vệ các công trình kết cấu hạ tầng, tăng cờngkiểm tra xử lý các trờng hợp vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm Rút ngắn thờigian quy trình làm nớc mắm để nâng cao số lợng và chất lợng sản phẩm và sửdụng đợc tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong làng và các xã ven biển lâncận Đồng thời phải có gắng nâng cao chất lợng sản phẩm để tạo thơng hiệucho sản phẩm, có nh vậy nớc mắm Phú Lợi mới có thể đứng vững trên thị tr-ờng hiện nay

Nh vậy với điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ rất sớm ngời dân nơi đây đãkhai thác và chế biến hải sản, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ, cùng với nhân dân cả nớc, nhân dân làng Phú Lợi đã gặp không ítkhó khăn và trở ngại, nhng với sự nỗ lực cần cù chịu khó và sự hỗ trợ củachính quyền các cấp, để rồi năm 2005 ủy Ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã côngnhận 2 xóm Phú lợi 1 + 2 là làng nghề chế biến hải sản Phú Lợi

Trang 31

Từ khi thành lập cho đến nay đời sống của nhân dân làng Phú Lợi ngàymột ổn định, về làng phú Lợi hôm nay đi đến đâu ta cũng bắt gặp hơng vị củabiển, mùi vị đặc trng của nớc mắm, khiến cho mỗi con ngời khi đến nơi đâyhẳn ai cũng không thể quên đợc nghề làm nớc mắm truyền thống ở làng PhúLợi Lịch sử vẫn không ngừng đi lên, con ngời vẫn không ngừng phát triển vàlàng Phú Lợi vẫn không ngừng đổi thay Măc dù còn nhiều khó khăn trắc trở

đối với nghề làm nớc mắm truyền thống ở nơi đây, nhng tôi nghĩ rằng với bảnchất cần cù chịu khó của ngời dân xứ Nghệ, sự giúp đỡ của các cấp chínhquyền thì nghề làm nớc mắm ở Quỳnh Dị vẫn sẽ đợc duy trì và phát triển

2.2 Làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa - Xã Quỳnh

Nghĩa

2.2.1 Khái qu át quá trình hình thành làng nghề

Quỳnh Nghĩa, một vùng quê ven biển bãi ngang nằm ở phía đông huyệnQuỳnh Lu, nơi đây xa kia vốn là vùng ngập mặn, sau đó nớc triều rút dần màthành điền thổ

Khoảng một ngàn năm trớc vào đời cố Lê, khi những c dân đầu tiên đến

đây khai dân lập ấp, hẳn các vị tiền nhân đã chọn đợc vùng “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củađịa linh nhânkiệt” nên quả phúc lộc truyền lu muôn đời hậu thế

Hơng ớc của làng đã khẳng định: làng ta là làng Nghĩa Lộ xã Hoàn“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

Hậu trời ban cho đất ở chung đúc linh thiêng, cao khoa hiển hoạn thời nào cũng có, đất nhờ ngời mà nổi tiếng nhờ ngời đức mà thịnh vợng ”.

Trong quá trình hình thành và phát triển, trải qua bao đời “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củalấn biển,chấn sông” mà làng đã qua nhiều tên gọi khác nhau, đến giữa thế kỷ 17 thìmang tên làng Phú Nghĩa và chính cái tên đó đã gắn liền với một làng nghềtruyền thống “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củalàng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa” Các cụ túcnho xa đã khái quát quê hơng bằng hai câu thơ một cách tài tình, đầy tínhnhân văn nh sau:

Đằng đầu nhất khẩu chữ tiền“Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của

Thảo đầu vơng ngã là miền quê ta”.

Trong chữ Hán câu trên ghép lại thành chữ “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củaPhú” nghĩa là giàu có,câu dới ghép lại thành chữ “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống củaNghĩa” tức giàu nhân nghĩa ân tình Cả haicâu có nghĩa: Quê hơng ta là Phú - Nghĩa vừa giàu có vừa thắm đ ợm nhânnghĩa ân tình

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Quý Đôn (1977), Phủ biên tạp lục. Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH
Năm: 1977
[2] Lê Quý Đôn (1988), Đại Việt thông sử. Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH
Năm: 1988
[3] Ninh Viết Giao (1998), Địa chí huyện Quỳnh Lu. Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí huyện Quỳnh Lu
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 1998
[4] Ninh Viết Giao (chủ biên), Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An. Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
[5] Lâm Bá Nam (1989), Nghề thủ công cổ truyền ở nớc ta. Tạp chí dân tộc học, số 1/1989, trang 69 -73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công cổ truyền ở nớc ta
Tác giả: Lâm Bá Nam
Năm: 1989
[6] Lu Thị Tuyết Vân (1999), Một số vấn đề về làng nghề nớc ta, tạp chí NCLS, sè 5/1999, trang 63 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về làng nghề nớc ta
Tác giả: Lu Thị Tuyết Vân
Năm: 1999
[7] Bùi Văn Vợng (1998), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Vợng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc
Năm: 1998
[8] Bùi Văn Vợng (1998), Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam - Tiến trình lịch sử và định hớng. Kỷ yếu hội thảo quốc tế, tháng 8/1998, Hà Nội, trang 64 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam - Tiến trình lịch sử và định hớng
Tác giả: Bùi Văn Vợng
Năm: 1998
[9] Báo cáo thực trạng và những giải pháp nhằm củng cố khu vực kinh tế HTX và tiểu thủ công nghiệp - làng nghề, Hội đồng liên minh HTX và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Nghệ An, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng và những giải pháp nhằm củng cố khu vực kinh tế HTX và tiểu thủ công nghiệp - làng nghề
[10] Đề án phát triển tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề tỉnh Nghệ An, Hội đồng liên minh HTX và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Nghệ An, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề tỉnh Nghệ An
[11] Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An, Sở khoa học công nghệ Nghệ An, Hội văn hoá dân gian Nghệ An, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An
[12] Báo cáo làng nghề chế biến hải sản Phú Lợi xã Quỳnh Dị, UBND xã Quỳnh Dị, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo làng nghề chế biến hải sản Phú Lợi xã Quỳnh Dị
[13] Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2006, kế hoạch năm 2007 ngành thủy sản, UBND huyện Quỳnh Lu, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ] Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2006
[14] Báo cáo sơ kết và phát triển nuôi trồng và chế biến thuỷ sản theo chuyên đề 04 của huyện ủy, UBND huyện Quỳnh Lu, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết và phát triển nuôi trồng và chế biến thuỷ sản theo chuyên "đề 04 của huyện ủy
[15] Đề án xây dựng làng nghề 1 + 2 xã Quỳnh Dị - Quỳnh Lu - Nghệ An, UBND xã Quỳnh Dị, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ] Đề án xây dựng làng nghề 1 + 2 xã Quỳnh Dị - Quỳnh Lu - Nghệ An
[16] Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2006, UBND xã Quỳnh Dị, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2006
[17] Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2007, UBND xã Quỳnh Dị, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2007
[18] Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008, UBND xã Quỳnh Dị, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008
[19] Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2006, UBND xã Quỳnh Nghĩa, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2006
[20] Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2007, UBND xã Quỳnh Nghĩa, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w