1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu thờ lý nhật quang trên đất nghệ an

74 695 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số di tích lịch sử – văn hoá tiêu biểu thờ lý nhật quang trên đất nghệ an
Tác giả Nguyễn Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Trần Viết Thụ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hoá
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức rõ đợc các vấn đề trên, tôi đã suy nghĩ, tìm tòi, thâm nhập thực tế để làm khóa luận tốt nghiệp về đề tài : Tìm hiểu một số di tích lịch“thành đồng, ao nóng và là then khóa của

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

-

-Nguyễn Phơng Thảo

khoá luận tốt nghiệp đại học

tìm hiểu một số di tích lịch sử – văn hoá văn hoá tiêu biểu thờ lý nhật quang trên đất nghệ

Trang 2

Th viện tỉnh Nghệ An và các ban ngành, bạn bè và những ngời đã tạo mọi điềukiện và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Mặc dù đã nỗ lực hết mình, song đây là công trình nghiên cứu đầu tay và

do thời gian có hạn vì thế không thể không tránh khỏi những sai sót Tôi mong nhận

đợc sự góp ý của các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

íc trung ¬ng tËp quyÒn.

14

1.2.2 C«ng lao cña Lý NhËt Quang trªn lÜnh vùc ph¸t triÓn kinh tÕ 171.2.3 KÕt hîp chÆt chÏ gi÷a x©y dùng kinh tÕ vµ cñng cè quèc phßng 221.3 Nh©n d©n NghÖ An ghi nhí c«ng ¬n cña Uy Minh v¬ng Lý NhËt

Trang 4

Phần mở đầu

I Lý do chọn đề tài

Lịch sử Việt Nam là những trang sử hào hùng của quá trình dựng nớc

và giữ nớc Lịch sử đó đã trải qua hàng nghìn năm Để nhận thức đợc quákhứ loài ngời nói chung, quá khứ của dân tộc, địa phơng nói riêng, chúng taphải nghiên cứu thông qua các nguồn sử liệu vật chất và phi vật chất còn lugiữ và tồn tại Nguồn sử liệu đó đóng một vai trò quan trọng trong việcnhận thức và tái hiện lại quá khứ

Trong mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, các di tích lịch sử - vănhoá nh đền, đình chùa, miếu… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất

do nhân dân lao động sáng tạo ra Mặt khác, gắn liền với nó là những nhânvật, những sự tích, truyền thuyết, tín ngỡng, tôn giáo… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất liên quan đến sựhình thành và tồn tại của di tích trong tiến trình lịch sử Chính vì thế, các ditích lịch sử - văn hoá giữ vai trò quan trọng trong việc phục dựng lại quákhứ Nó có thể cho chúng ta nhìn rõ hơn quá khứ của nhân loại, của dântộc, của địa phơng và của một nhân vật lịch sử nào đó

Nh vậy, qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hoá,chúng ta có thể nhìn rõ đợc quá khứ của dân tộc, địa phơng Để từ đó,chúng ta có thể lý giải đợc các vấn đề của hiện tại và đoán định đợc sự pháttriển đi lên của tơng lai

Vùng đất Nghệ An xa (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay) là nơi đợc

xem là thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ” [1;55].Nhận thức rõ tầm quan trọng của vùng đất này, từ triều Đinh –Tiền Lê đến

Lý – Trần về sau, đều giao vùng đất này cho những nhân vật tài giỏi trấntrị Dới triều Lý, Lý Nhật Quang là ngời đầu tiên giữ chức tri châu Nghệ

An Ông đã có những công lao xây dựng và phát triển vùng đất này thànhmột vùng đất ổn định về mọi mặt Nhớ ơn ông, ở Nghệ An đã có hơn 30 ditích thờ Lý Nhật Quang đợc nhân dân xây dựng Từ miền xuôi tới miền núi,

từ bắc đến nam đều có đền thờ ông Đây là một hiện tợng tín ngỡng đặcbiệt Trong lịch sử nớc ta, ít có nhân vật lịch sử nào đợc thờ phụng rộng rãi

nh vậy

Để tìm hiểu đợc thân thế và sự nghiệp Lý Nhật Quang, tìm hiều tìnhhình kinh tế - xã hội thời Lý, các chính sách nhà Lý thi hành, đồng thời đểtìm hiểu đời sống tập quán, tín ngỡng của nhân dân nơi có di tích, chúng ta

Trang 5

phải tìm hiểu thông qua các di tích lịch sử đó Và để từ đó, chúng ta hiểu rõ

đợc lịch sử của dân tộc ta

Muốn đẩy mạnh vấn đề tìm hiểu cội nguồn dân tộc, giáo dục truyềnthống đấu tranh, dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, công tác nghiên cứu các

di tích là một yếu tố rất quan trọng

Nhận thức rõ đợc các vấn đề trên, tôi đã suy nghĩ, tìm tòi, thâm nhập

thực tế để làm khóa luận tốt nghiệp về đề tài : Tìm hiểu một số di tích lịch“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

sử văn hoá tiêu biểu thờ Lý Nhật Quang trên đất Nghệ An” Đây làmột đóng góp nhỏ bé để tìm hiểu truyền thống văn hoá xứ Nghệ của

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Văn hoá tâm linh là một điều gì thiêng liêng và bí ẩn với con ngời.Các di tích lịch sử là vấn đề đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đặc biệt, ởNghệ An đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về một số vấn đề về các ditích lịch sử thờ Lý Nhật Quang

Trong cuốn Địa chí văn hoá Quỳnh L“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” u” của PGS Ninh Viết Giao

đã nêu một cách khái quát, ngắn gọn về nhân vật đợc thờ và kiến trúc đền

Vu ở xã Quỳnh Vinh huyện Quỳnh Lu, tỉnh Nghệ An

Cuốn Nam Đàn Quê h“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” – ơng Chủ tịch Hồ Chí Minh” của PGS Ninh

Viết Giao cũng đã đề cập một số vấn đề cơ bản về nghệ thuật kiến trúc,lịch

sử xây dựng của đình Hoành Sơn thuộc xã Khánh Sơn , Nam Đàn , Nghệ

An

Cuốn Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ” của Trần Thanh Tâm –Ninh Viết Giao… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất cũng đã trình bày khái quát về nghệ thuật kiến trúc - điêukhắc của đình Hoành Sơn

Cuốn Tục thờ thần và thần tích Nghệ An“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ”của PGS Ninh Viết Giao

đã nêu một số mặt liên quan đến nhân vật Lý Nhật Quang và các đền thờcủa ông trên đất Nghệ an

Trong hội thảo Uy minh v“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ơng Lý Nhật Quang với Nghệ An” do

Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp với ủy ban nhân dântỉnh Nghệ An đã nêu một cách khá đầy đủ, chi tiết và làm sáng tỏ nhiều vấn

đề liên quan đến Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang, ngôi đền Quả Sơn và lễhội diễn ra nơi đây

B

“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ớc đầu tìm hiểu di tích lịch sử đình Hoành Sơn” của Quang Lê đã

nêu một số vấn đề về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đình Hoành Sơn

Trang 6

Trong Lý lịch di tích đền Quả Sơn“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ” , “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Lý lịch di tích đền Vu”, “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Lýlịch di tích đền Hoành Sơn” do Ban quản lý di tích lịch sử- văn hoá Nghệ

An thực hiện đã nêu đợc một số vấn đề nhân vật đợc thờ và di tích đó

Cuốn Đền Quả Sơn“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ” của PGS Hoàng Hữu Yên cũng nêu khái quátmột số vấn đề về đền Quả Sơn … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất

Tuy các di tích lịch sử – văn hoá thời Lý Nhật Quang trên địa bànNghệ An đã đợc sự chú ý, quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, songcha có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, tổng thể và có hệthống các di tích lịch sử – văn hoá tiêu biểu thờ Lý Nhật Quang trên đấtNghệ An Mặc dù vậy, những công trình nêu trên đã trở thành nguồn sử liệuquý giá trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài này

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng

Thân thế và sự nghiệp của Lý Nhật Quang; ba di tích lịch sử – vănhoá thời Lý Nhật Quang tiêu biểu ở Nghệ An đó là đền Quả Sơn, đìnhHoành Sơn, đền Vu

3.2 Giới hạn

Đề tài này không đi sâu vào tìm hiểu các vấn đề về nghệ thuật kiếntrúc – điêu khắc của các di tích mà nó đi vào tìm hiểu vấn đề thờ tự LýNhật Quang ở tại di tích, biểu hiện tấm lòng tri ân của nhân dân Nghệ Anqua các di tích, lễ hội Mặt khác, đề tài này cũng không tìm hiểu tất cả các

di tích thờ Lý Nhật Quang ở Nghệ An mà chỉ đi vào tìm hiểu ba di tích tiêubiểu đó là: Đền Quả Sơn, đình Hoành Sơn và đền Vu ở Nghệ An

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi tiến hành với các nhiệm vụsau:

- Làm rõ đợc thân thế, sự nghiệp nhân vật Lý Nhật Quang – con traithứ tám của vua Lý Thái Tổ Qua đó, thấy rõ đóng góp của ông đối vớivùng đất Nghệ An

- Tiến hành làm rõ nguồn gốc xây dựng, kiến trúc - điêu khắc, quátrình thờ tự của ba di tích tiêu biểu thờ Lý Nhật Quang

- Làm rõ đợc giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của các di tích mang lại

5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

- Các t liệu đã đợc công bố có liên quan tới đề tài

- Các t liệu trong quá trình điền dã, xâm nhập thực tế

Trang 7

ớc, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Cụ thể là:

Thứ nhất: Làm rõ thân thế, cuộc đời của nhân vật đợc thờ tự, truyềnthống “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”uống nớc nhớ nguồn” của nhân dân xứ Nghệ qua việc xây dựng đềnthờ và lễ hội

Thứ hai: Phân tích đợc giá trị lịch sử – văn hoá qua việc nghiên cứucác di tích, qua đó làm rõ hiện trạng và đề xuất biện pháp tu tạo, bảo

7 Bố cục

Ngoài phần Mở đầu, Phần kết luận và Phụ lục, nội dung chính củakhóa luận có ba chơng:

Chơng 1: Lý Nhật Quang với vùng đất phên dậu Nghệ An

Chơng 2: Khảo tả một số không gian linh thiêng tiêu biểu thờ LýNhật Quang trên đất Nghệ An

Chơng 3: Giá trị của ba di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu thờ Lý NhậtQuang

Trang 8

PHầN NộI DUNG

Chơng1:

Lý Nhật Quang với vùng đất phên dậu Nghệ An

1.1 Lý Nhật Quang: thân thế, con ngời và thời đại

Trong buổi đầu phong kiến Đại Việt, vùng đất Nghệ An đợc xem làvùng đất phên dậu của Tổ quốc – cực nam của quốc gia Đại Việt Vùng

đất đó bao gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay Vị quan đóng vaitrò quan trọng, đặt nền móng cho vùng đất này đó chính là tri châu Lý NhậtQuang Sự nghiệp của ông gắn liền với vùng đất biên viễn này Ông đã cónhững đóng góp to lớn với nhân dân nơi đây, cho nên ông đã đợc nhân dântôn làm thành hoàng và đợc xây dựng đền thờ khắp nơi trên xứ Nghệ Tuynhiên, các tài liệu cũ ghi chép về con ngời và cuộc đời của ông còn lạikhông còn nhiều , cho nên việc phục dựng lại thân thế và sự nghiệp của ôngcũng rất khó khăn

Lý Nhật Quang còn có tên là Lý Hoảng là con trai thứ tám của LýThái Tổ (974 – 1028), mẹ là Minh Trinh hoàng hậu họ Lê, em trai (cùngmẹ) của Lý Phật Mã (tức vua Lý Thái Tông sau này) Là con trai thứ támcủa Lý Thái Tổ cho nên ông còn đợc gọi là Bát lang hoàng tử Thời gian

ông ra đời không thấy một th tịch nào ghi chép nhng các nhà khoa học ớcchừng ông sinh khoảng vào những năm 1009 – 1010

Lý Nhật Quang thuở nhỏ là một ngời thông minh, chăm học Ông đã

đợc giáo dục cả hai mặt về văn lẫn võ Vậy nên, từ nhỏ ông đã sớm nổitiếng Truyền thuyết ở vùng Đô Lơng (Nghệ An) kể rằng, tám tuổi ông đãbiết làm thơ, mời tuổi có tài xứng họa, thông minh lanh lợi và rất có hiếu

Có thể đây là truyền thuyết nhng chứng tỏ cho chúng ta thấy một điều là

ông sớm đã có biểu hiện hơn ngời Trong “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Việt điện u linh” ghi lại: V “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ơng

có tính trung hiếu rất quả cảm và có tài ” [22; 26]

Thuở thiếu thời, Lý Nhật Quang thờng cùng các anh đi xem xét cuộcsống nhân gian, xem phố phờng ở đất Thăng Long, cho nên ông rất gần gũivới cuộc sống nhân dân Do thiếu t liệu cho nên chúng ta không thể tái hiện

đợc cụ thể chặng đờng dài thời niên thiếu của ông

Dới vơng triều Lý, những chức vụ quan trọng của bộ máy nhà nớcquân chủ đều nằm trong tay các hoàng thân quý tộc nhà Lý Ngay sau khilên ngôi (1009), Lý Thái Tổ đã xác lập ngay quyền lực của dòng họ Lý,

Trang 9

ngoài phong vơng, hoàng thái hậu, hoàng hậu, thái tử cho cha, mẹ,vợ, contrởng, còn lại các con trai khác đều đợc phong hầu, con gái phong côngchúa, phong tớc vơng cho anh và chú, phong cho cháu và em con chú cácchức thái úy và tổng quản

Cùng với việc phân chia quyền lợi về chính trị, vua Lý Thái Tổ cònchia sẽ những lợi ích kinh tế cho thân tộc Sử chép vào năm 1013, sau khi

định lệ thuế trong nớc thành sáu hạng, Lý Thái Tổ cho các v“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ơng hầu công chúa đợc cai quản các lệ thuế theo thứ bậc khác nhau” [8; 364] Nh vậy,

quý tộc và vơng hầu nắm trong tay quyền uy rất lớn kể cả về chính trị lẫnkinh tế

Tác dụng của chính sách này của nhà Lý đã đem lại những măt tíchcực nhất định Đó chính là cố kết, gắn bó các vơng hầu xung quanh nhà vua

để xây dựng đất nớc, củng cố nền an ninh quốc phòng Nhng mặt trái của

nó đó là dễ dàng dẫn đến tình trạng phân tán quền lực và tranh giành quềnlợi khi có cơ hội thuận tiện

Thái Tổ mất, quần thần vâng di chiếu đến cung Long Đức xin Lý

“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

Phật Mã lên ngôi, lúc bấy giờ, bọn Dực Thánh Vơng, Vũ Đức Vơng đều phục binh ngoài cửa Quảng Phúc định đánh vua ” [21; 84] Khai Quốc V“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” -

ơng làm phản Trớc xng đóng ở phủ Trờng Yên” [8; 377] Việc không

thành, Vũ Đức Vơng bị Lê Phụng Hiểu giết chết, Đông Chinh Vơng và DựcThánh Vơng chạy thoát, sau đó xin về chịu tội và đợc vua tha, còn KhaiQuốc Vơng làm phản ở Trờng Yên bị Lý Thái Tổ đem quân đi đánh dẹp,phải xin hàng và đợc nhà vua tha tội nhng điều về Thăng Long

Nh vậy, việc phân chia quền lợi chính trị - kinh tế của nhà Lý đã dẫn

đến tình trạng hỗn loạn và tranh dành quền lực khi có điều kiện Tuy nhiên,chúng ta không hề thấy Lý Nhât Quang tham gia vào các vụ tranh giànhquền lực ấy, mặc dù không biết lúc này ông bao nhiêu tuổi, làm gì và có thể

là ông cha đến tuổi trởng thành Nhng không thấy sử cũ nhắc đến ông trongcác s kiện đó mà chỉ thấy nói đến tính thẳng thắn và liêm trực của ông màthôi

Lịch sử đã đặt ra những nhiệm vụ cho vơng triều Lý cần giải quyết

đó là cần phải xác lập một quốc gia phong kiến vững mạnh Có ba vấn đềcơ bản cần phải đợc giải quyết đó là:

Trang 10

Thứ nhất : Xây dựng nhà nớc quân chủ vững mạnh, có uy tín và nănglực quản lý, có một quốc gia thống nhất, đa đất nớc phát triển vững vàngtrong kỷ nguyên độc lập

Thứ hai: Xây dựng đất nớc giàu mạnh, đem lại cuộc sống ấm no chonhân dân

Thứ ba: Bảo vệ nền độc lập tự chủ, ổn định biên cơng, tạo thế cho đấtnớc vững mạnh

Vào buổi đầu thời kỳ độc lập tự chủ của quốc gia Đại Việt nói chung,

đầu của mỗi vơng triều phong kiến nói riêng, những thế lực cát cứ luôn tìmcách phá hoại, yếu tố phân tán nhà nớc đều xuất hiện khá rõ trên nhữngbình diện rộng hẹp khác nhau Nổi bật là các vụ loạn lạc vào cuối các vơngtriều Ngô, Đinh, Tiền Lê mà các vơng triều mới chuẩn bị lên cầm quyền

phải giải quyết Cuối triều Ngô: Bấy giờ trong n“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ớc không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trởng, không ai chịu thống thuộc vào ai ” [8;301].Cuốitriều đại nhà Đinh quân Tống sang xâm lợc, Lê Hoàn phải lên ngôi Nh vậy,tình trạng nội bộ phân tán đang là một nguy cơ đối với nhà Lý, nó có nguồngốc lịch sử – xã hội sâu xa

Vấn đề thứ hai là công cuộc giành độc lập tự chủ hoàn thành, cuộcsống nhân dân phải đợc cải thiện thì độc lập tự chủ mới không vô nghĩa.Nhiệm vụ tiếp theo của nhà Lý là phải khuyến khích sản xuất, nâng cao đờisống mà chính sách về nông nghiệp là điều quan trọng nhất- một tiêu chí

đánh giá sự tiến bộ của một vơng triều phong kiến Các chủ trơng về nôngnghiệp của các triều đại đi trớc cũng nhằm mục đích đa đời sống xã hội đợcnâng cao Dới triều đại họ Khúc, với chính sách khoan dung, an lạc nhằm

đa đời sống tiến bộ hơn, dới triều Đinh có sửa đổi về tô thuế nhng chủ trơngkhai hoang mở rộng diện tích canh tác cũng nhằm mục đích nh vậy

Vấn đề thứ ba đó là phải bảo vệ nền độc lập luôn bị đe doạ bởi cáclực lợng từ bên ngoài Từ khi giành đợc độc lập tự chủ vào đầu thế kỷ X cho

đến thế kỷ XI, đất nớc nhiều lần bị phía Bắc xâm lợc (năm 931, 938 củagiặc Hán, năm 980 của giặc Tống) còn phía Nam thờng xuyên bị quânChiêm Thành quấy rối, cớp phá (quân Chiêm theo chân Ngô Nhật Khánhvào toan đánh chiếm kinh đô Hoa L vào năm 979, bắt sứ giả Đại Cổ Việtnăm 982) Đó chính là mối họa mà nhà Lý cần phải tiễu trừ

Ba vấn đề lớn đó là ba nhiệm vụ chiến lợc đợc các chính quyền họKhúc, Ngô, Đinh, Tiền Lê quan tâm và giải quyết Kế nghiệp công việc của

Trang 11

cha ông, triều Lý cần phải tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ mà lịch sử giaocho Nhiệm vụ trọng đại đó đợc đặt lên vai thế hệ của Lý Nhật Quang mà

đại diện là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông

Là đại quý tộc, Lý Nhật Quang đợc tham dự quản lý xã hội, gìn giữ

đất nớc với t cách là ngời đứng đầu địa phơng ở vùng biên cơng phía nam

Tổ quốc đó là châu Nghệ An

Vùng ái Châu và Châu Hoan thời Lý đợc xem là vùng xa trung tâm,cực Nam của đất nớc, cha đợc khai phá, mở mang Đặc biệt là vùng HoanChâu – Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay) còn là vùng biên viễngiáp với Chiêm Thành ở phía nam

Lịch sử tên gọi của vùng đất Nghệ An cũng có nhiều biến đổi ThờiTần, Nghệ An thuộc về quận Tợng Quận, thời Hán thuộc về Nhật Nam, thờiNgô đặt là Cửu Đức, thời Lơng gọi là Đức Châu, thời Tùy gọi là Nhật Nam,thời Đờng bắt đầu gọi là Hoan Châu, sau đó đổi là Diễn Châu Buổi đầu nhà

Lý, Hoan Châu đợc gọi là trại“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ”, cha đợc xem là châu Năm 1036, HoanChâu đợc đổi thành châu Nghệ An và cái tên Nghệ An cũng bắt đầu từ đây

Vấn đề ở chỗ, châu Nghệ An là một vùng có vị trí vô cùng quantrọng Cần phải có một thân vơng tin cậy, có tài và có đức độ ra trấn trịvùng trọng yếu này Là vùng đất xa xôi, các chính sách trực tiếp của triều

đình có tác dụng không triệt để nh các vùng gần kinh thành Cho nên, côngviệc của họ là không chỉ có dùng sức mạnh quân sự để đánh dẹp mà quantrọng hơn là phải khuếch trơng ân uy của triều đình

Năm 1039, Lý Nhật Quang đợc vua Lý Thái Tông quyết định giaocho vào thu thuế ở Nghệ An Thời đó, Nghệ An là một vùng rừng thiêng núithẳm, Lý Nhật Quang đã tìm hiểu kỹ càng về mọi mặt của vùng đất này, từ

đó đề ra những giải pháp tốt, do vậy, ông đã hoàn thành tốt công việc thuthuế của mình và đợc nhà vua ban cho hiệu là “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Uy Minh thái tử”

Tháng 10 năm Tân Tỵ (1041) vua Lý Thái Tông xuống chiếu cử LýNhật Quang làm tri châu ở Nghệ An với tớc là “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Uy Minh hầu”

Sau khi nhận chức, Lý Nhật Quang đã bắt tay vào công việc của

mình, tiến hành xác định lại sổ sách các châu gồm 6 huyện, 4 tr“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ờng, 60 giáp, số hộ 46.450, số ngời 54.364” [22;26] Uy minh vơng Lý Nhật Quang

còn dùng uy tín cá nhân chiêu dụ đợc nhiều hộ tộc thiểu số ở vùng biên

giới, ông đã thu phục đợc nhiều tù trởng 5 châu, 22 trại, 6 sách“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ” [22;27].Nhờ hoạt động tích cực đó của Lý Nhật Quang, địa vực quốc gia Đại Việt

Trang 12

mở đợc mở rộng về biên giới phía Tây Nam Sách “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Đại Nam nhất thống

chí” còn cho biết, Lý Nhật Quang là ngời có công trong việc dời đặt phủ lị“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

Sau khi nhận chức, ông đã xây dựng hành doanh gọi là trại Bà Hòa

hiểm kín, bốn mặt đào ngòi đắp lũy, trong trại đất rộng, chứa đ

“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ợc ba bốn vạn quân, kho tàng tiền lơng chứa sẵn để đủ dùng trong ba năm, khi vua dẫn quân vào quả đợc nh ý” [22;26] Tuy ông không trực tiếp tham gia

chiến tranh ở Chiêm Thành nhng ông đã có nhiều công lao trong việc chuẩn

bị quân lơng, phòng vệ đất nớc tạo điều kiện giữ vững biên cơng phía Nam

Vua tiến đánh Chiêm Thành đ

“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ợc đại thắng, chém chết vua Chiêm là Sạ

Đẩu tại trận … Khải hoàn tới bản châu, vua khen V Khải hoàn tới bản châu, vua khen V ơng đã giúp việc công

đầy đủ, chính lệnh lại càng tốt bèn gia phong tớc vơng, vẫn cai trị miền trong ấy ” [22; 26] trao toàn quyền việc cai quản châu Nghệ An cho LýNhật Quang

Mặt khác, việc lập trại Bà Hòa ngoài mục đích phục vụ nhiệm vụquân sự, chuẩn bị cho nhà vua đánh dẹp Chiêm Thành, còn có mục đích xâydựng, phát triển cuộc sống mới ở vùng đất này và nó đã thật sự có hiệu lựctrong việc mở rộng diện tích canh tác, phát triển nông nghiệp, cải thiện đờisống nhân dân

Ngoài việc xây dựng, phát triển châu Nghệ An lớn mạnh, là một thânvơng đợc trao toàn quyền xử lý công việc ở vùng đất biên giới, Lý NhậtQuang còn có công lao trong việc giải quyết ổn thỏa mối quan hệ ngoạigiao giữa Đại Việt và Chiêm Thành Sách “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Đại Nam nhất thống chí” cho

biết: Lúc ấy, ở Chiêm Thành các bộ lạc th“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ờng phản nhau, chúa Chiêm Thành sai sứ sang cầu viện, Vơng đem thuỷ binh đến thẳng cửa biển Thị Nại, đóng ở dới núi Tam Toà Các bộ lạc Chiêm nghe tin đều hàng phục và xin theo mệnh lệnh chúa Chiêm Thành Vơng đem quân về Ngời Chiêm Thành tởng nhớ ơn dức, lập đền thờ ở núi Tam Toà” [14; 189] Hiệu bụt

Tam Tòa của ngài cũng xuất hiện từ đây

Nh vậy, là một đại quý tộc tông thất, vào buổi rạng đông của kỷnguyên Đại Việt, giữa thế kỷ XI, Lý Nhật Quang đã có những đóng góp lớn

Trang 13

lao cho đất nớc Về mặt xây dựng bộ máy quản lý đất nớc, ông đã xứng

đáng với cơng vị một viên quan trấn trị ở địa phơng xa xôi cực nam của tổquốc Ông đã góp phần làm cho nhà nớc quân chủ vững mạnh, có hiệu lựctrong nhiệm vụ trị nớc an dân Về quốc phòng, ông cũng đã có những đónggóp để xây dựng một nền quốc phòng mạnh, có hiệu lực bảo vệ Tổ quốcthắng lợi Về phát triển kinh tế, ông đã cho thi hành những chính sách nhằmkhuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao đời sống ngời dân.Từ đó, ông đ-

ợc nhà vua quý trọng, nhân dân kính phục

Trong vòng 16 năm ông giữ chức tri châu Nghệ An, nạn cớp bóc hầu

nh không còn “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Việt điện u linh” chép: Đến năm Long Thụy thái bình thứ“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

hai (1051) vơng dẹp yên hai bọn ông Yết, Lý Phủ Có ngời dèm với vua rằng: Vơng có ý chuyên quyền, tự tiện dùng quân binh đánh dẹp.Thánh Tông nghe nói lấy làm ngờ vực.Vơng biết vậy mới xin từ chức” [22; 27].

Theo “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Việt điện u linh” thì Lý Nhật Quang đã giữ chức tri châu 17 năm,theo sự tích đền Quả Sơn, đến đời vua Lý Thánh Tông niên hiệu Long ThụyThái Bình thứ ba (1056) vơng bình dẹp xong giặc Ô Yết, Lý Phủ trở về cóngời thay nắm chính quyền Nh vậy, ông giữ chức trong vòng 16 năm, giữahai tài liệu có sự chênh lệch về thời gian ông làm quan là một năm nhng sựkiện thì tơng đối giống nhau

Lý Nhật Quang mất năm nào cũng không thấy tài liệu nào chép, chỉbiết trong sự tích đền Quả Sơn có ghi chép về ngày kỵ của Lý Nhật Quang

là ngày 17 tháng chạp hàng năm Theo “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”An Nam chí lợc”: Lý Thánh V“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ơng

đi đánh Chiêm Thành, khi qua quận Bố Chánh, Uy Minh Vơng lấy mũi thần giỡn xúc cát sỏi, bỗng chốc thành hòn núi, lại lấy thanh gơm chặt vò nớc, đứt ở giữa mà nớc không chảy, những kẻ đến xem đều thất kinh, lấy làm lạ.Lúc binh trở về, Vơng mất ở quận Bố Chánh” [17; 235] Còn sự tích

đền Quả Sơn và sách “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Việt điện u linh” thì cho rằng: “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”ít lâu sau, Vơng ngồi

ở trong dinh bỗng thấy một con quạ bay vào trong trớng, chim sẻ, chim yến xáo xác … Khải hoàn tới bản châu, vua khen V V ơng đi nằm bỗng nhiên không bệnh mà mất ” [22; 27] Có ýkiến cho rằng, khoảng năm 1056, khi ông từ quan trở về quê cha đất tổ tạiBắc Ninh sau đó ông mới mất

Cho dù tài liệu mờ nhạt nhng chúng ta cũng có thể xác định đợc LýNhật Quang sống và làm việc trải qua ba triều vua đầu của nhà Lý đó làcác vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông Đây chính là giai đoạn

đầu của nhà nớc Đại Việt độc lập tự chủ

Trang 14

Trong vòng 16 năm nắm quyền ở một địa phơng trọng yếu, từ việcthu thuế đến việc giữ chức tri châu đến nắm quyền tiết việt, thay mặt nhàvua quyết định mọi công việc quân dân, Lý Nhật Quang đã lập đợc nhiềucông lớn cho đất nớc nói chung và Nghệ An nói riêng Sau khi ông qua đời,nhân dân khắp các vùng ở xứ Nghệ vô cùng thơng tiếc, “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” Nhân dân châu lập

đền thờ… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất cacsc bộ lạc thuợc châu cũng có miếu thờ”[22; 28] Sống đợctrao trọng trách nơi đầu sóng ngọn gió, bao nhiêu khó khăn đều vợt qua, lậpnhiều công lao đối với triều đình, để lại ân đức với nhân dân, khi mất thìtrọn tiếng thơm, đợc nhân dân thờ phụng “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”sinh vi danh tớng, tử vi thần”

Do ông có nhiều công lao đối với dân với nớc, vậy nên ông đã đợcnhiều triều đại phong tớc, mặc dù ông đã mất nhiều năm sau đó Vào triềuTrần, khoảng niên hiệu Nguyên Phong (1251 – 1257), Lý Nhật Quang đã

“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”âm phù” cho nhà vua Trần Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, nhà vua sắcphong cho là “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Uy minh dũng liệt đại vơng”; năm Tùy Trung thứ t (1288)gia phong thêm hai chữ “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Tá Thánh”; năm Hng Long thứ 21 (1314) giaphong cho hai chữ “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Phu Hựu” Đến đời vua Lê Thánh Tông phong “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”TamTòa quốc chủ thợng đẳng thần” , Lê Thần Tông phong “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Hiển linh hộ quốcHồng huân đại vơng”; triều Nguyễn phong tặng “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Tam Tòa tá thánh Đại v-

ơng thợng đẳng thần” Còn nhân dân thì suy tôn ông là “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Thợng thợng ợng đẳng thần”

Th-Nh vậy, cuộc đời, sự nghiệp của ông chúng ta không biết đợc nhiềunhng qua những tài liệu trên ta có thể thấy rằng ông là một vị lơng quan, cónhiều cống hiến cho dân cho nớc Vậy nên, ông đã đợc thờ rộng rãi, từ cáctriều đình phong kiến cho đến mọi tầng lớp nhân dân đều xem ông là vịthần thiêng liêng có thể chở che cho mình Và ông cũng là một tấm gơngsáng cho thế hệ quan chức ngày nay noi theo

1.2 Công lao của vị tri châu tài ba Lý Nhật Quang đối với xứ Nghệ

1.2.1 ổn định xã hội ở Nghệ An, góp phần củng cố quyền lực nhà nớc trung ơng tập quyền

Triều Lý là triều đại khởi đầu cho giai đoạn ổn định của lịch sửphong kiến Việt Nam Tuy nhiên, vào giai đoạn đầu này tình hình xã hội n-

ớc ta cha ổn định ở những vùng sâu vùng xa, nơi biên viễn phía nam, tâynam, phía bắc, thậm chí là ở gần Kinh thành Thăng Long cũng còn tồn tạinhiều thế lực muốn cát cứ Nhiệm vụ của vơng triều này là phải ổn định trật

tự xã hội, đa đời sống nhân dân đi lên Chính vì vậy, triều đình nhà Lý đã

Trang 15

thực hiện chính sách “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”nhu viễn”, “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”phiên trấn” đối với các vùng xa xôi bằngcác hình thức khác nhau nh cử quan lại thân cận có tài cán và trung thành đikinh lý hay dùng chính sách “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”kimi” (ràng buộc lỏng lẻo) đối với các dântộc ít ngời hay dùng biện pháp gả công chúa cho các tù trởng miền núi.Chính sách này thực hiện đã đem lại những hiệu quả thiết thực, góp phần đaxã hội Đại Việt đi vào ổn định

Vào đầu thời Lý, Nghệ An là một vùng xa trung tâm, thậm chí còn

gọi là" trại", có nhiều thế lực địa phơng muốn cát cứ: “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Không chịu giáo

hóa, ngu bạo, làm càn, tàn ngợc với dân chúng, tội ác chồng chất không thể dung tha” [9; 363] Theo sự ghi chép của “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Đại Việt sử ký toàn th” có thể kể

ra một số sự kiện nh sau:

Năm Thuận Thiên thứ 3 (1012) Vua (Lý Thái Tổ) thân chinh đi“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

đánh Châu Diễn ” [8; 362]

Năm Thuận Thiên thứ 17 (1026): Xuống chiếu cho Khai Thiên V“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” ơng

đi đánh Châu Diễn” [9; 371]

Năm Thiên Thành thứ 4 (1031) : Mùa xuân, tháng giêng, Châu“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

Hoan làm phản … Khải hoàn tới bản châu, vua khen V vua (Lý Thái Tông) thân chinh đi đánh” [8; 385]

Từ những cuộc nổi loạn tiêu biểu đó, chúng ta thấy đều bị dẹp yênnhng có thể rút ra một điều rằng, trớc khi Lý Nhật Quang làm tri châu ởNghệ An đã có những thế lực muốn cát cứ, ảnh hởng nghiêm trọng đối với

đời sống xã hội đất nớc, thống nhất quốc gia Chính vì vậy, nhà Lý đã cửnhững thân vơng quan trọng đi kinh lý ở những vùng đất xa xôi Năm 1041,

Lý Nhật Quang đợc cử làm tri châu Nghệ An

Đợc giao phó một nhiệm vụ hết sức nặng nề, Lý Nhật Quang đã ýthức sâu sắc tầm quan trọng vị trí chiến lợc của vùng đất này Trớc hết ôngtiến hành trấn áp những thế lực chống đối, ổn định đời sống nhân dân, ổn

định xã hội bằng cách phát huy tiềm lực đất đai, của cải và con ngời nơi

đây, tích cực đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, tập hợp dân lu vong lậplàng xã mới, khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích trồng trọt Ông đãdùng tài năng để trấn trị, dùng đức độ để cảm hóa lòng ngời Chính vì vậy,trong những năm ông cai trị ở đây, xóm làng đã trở nên yên vui và trù phú,

c dân đông đúc thêm nhiều

Là vị trí trung tâm của cả châu, lại có địa thế độc đáo, cho nên LýNhật Quang đã chọn vùng Bạch Đờng làm sở lỵ Bạch Đờng có một vị tríhết sức quan trọng, nó nh “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”chiếc cầu nối giữa Nghệ An, Thanh Hóa với

Trang 16

vùng Bắc Bộ, nơi tiếp giáp Chiêm Thành”[20; 179] Từ Bạch Đờng có thểkiểm soát đợc vùng thợng du và đồng bằng, khống chế đợc giặc Lão Qua vềphía tây, án ngữ đợc giặc Chiêm Thành từ phía nam, khi khó khăn thì đây làmột nơi thủ hiểm, căn cứ an toàn để củng cố và xây dựng lực lợng chốnggiặc ngoại xâm cũng nh nổi loạn thời Lý Cũng từ đây, ông đã ban hànhnhiều chính sách tích cực và trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng và phát triểnchâu Nghệ An – mảnh đất còn hoang sơ nhng nhiều tiềm năng

Để tiện cho việc quản lý xã hội, Lý Nhật Quang đã cho kê khai vàlập sổ hộ tịch của châu Nghệ An rất đầy đủ Ông đã kê khai đợc Nghệ An

có tất cả “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” 6 huyện, 4 tr ờng, 60 giáp, số hộ 46.450, số ngời 54.364”

[22; 27] Sau đó, đợc lệnh triều đình, ông còn có công thu phục các tù trởngsát biên giới, không phục hàng triều đình, mở mang đợc những vùng đấtrộng “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”5 châu, 22 trại, 56 sách” [22; 27]… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất ng còn cho đắp đê sông Lam,sông Đa Cái, phân bố lại dân c, khai hoang lập ấp tạo nên những vùng đấtsau này đó là Nam Đàn, Con Cuông, Khe Bố, Thạch Hà, Yên Thành Ngoài

ra, ông còn chú ý đến đời sống văn hoá của nhân dân Thời Lý, đạo Phật

đ-ợc xem là quốc đạo, nhiều bậc danh nhân ngay cả vua Lý Thái Tông cũngtừng đợc học chữ, học đạo làm ngời ở cửa Phật Do vậy, Uy Minh Vơng LýNhật Quang cũng đã cho xây dựng nhiều đền chùa trên đất Nghệ An, riêngvùng đất Bạch Đờng có tám chùa đợc xây dựng từ thời Lý

Nh vậy, trên bình diện ổn định xã hội, Uy minh vơng Lý Nhật Quang

đã có những đóng góp to lớn đối với mảnh đất phên trấn Nghệ An “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Ngài ởchâu 19 năm trừng trị kẻ gian, khen thởng ngời lành, khai khẩn đất hoang,chiêu mộ dân lu vong, bọn vô lại phải im hơi, ngời dân về với ngài đợc yênnghiệp Ngài thờng qua lại những vùng này vùng khác, dạy nghề làm ruộng,trồng cây cối, nuôi gia súc, có nhiều chính sách có lợi cho dân, làm chonhân dân đoàn kết, ngời dân đến kiện tụng thì lấy liêm sỉ, lễ, nghĩa giảngdạy,làm cho tự giác ngộ, ai nấy đều cảm hóa, không bàn đến kiện cáo nữa”[20; 160]

1.2.2 Công lao của Lý Nhật Quang trên lĩnh vực phát triển kinh tế

Nh đã nói ở trên, nâm 1038,Lý Nhật Quang đợc cử đi thu thuế ởNghệ An kể từ thời điểm này đến khi ông qua đời, châu Nghệ An dới sựquản lý của ông đã ngày một ổn định và có điều kiện phát triển kinh tế nhất

Trang 17

là kinh tế nông nghiệp Rất tiếc là các t liệu cổ ghi chép rất ít về những sựkiện cụ thể của Lý Nhật Quang làm đợc trong thời gian ở đây

Ngay từ khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã ban hành chính sách định lệ

các thuế trong nớc (1013) gồm các loại: 1 chằm hồ ruộng đất; 2 tiền và“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

thóc về bãi dân, 3 sản vật núi ở vùng phiên trấn, 4 các quan ải xét hỏi mắm muối; 5 các loại sừng tê giác, ngà voi và các thứ hơng thơm của ngời Man Lão; 6 Các thứ gỗ và hoa quả ở đầu nguồn” [8; 363] Theo đó, các v-

ơng hầu công chúa đợc quản các thuế theo thứ bậc khác nhau Từ đó, chothấy quyền lợi của các quý tộc, vơng hầu rất lớn và Lý Nhật Quang cũng đ-

ợc hởng nhiều quyền lợi từ chính sách đó Vậy nên, năm 1038 ông đợc cửvào thu thuế ở Nghệ An Tuy nhiên, ông lại không chú trọng đến quyền lợi

đợc hởng mà lại lấy ân đức để cảm hóa nhân dân khuyến khích nhân dânphát triển sản xuất

Sau khi thực hiện tốt nhiệm vụ thu thuế, ông đợc cử làm tri châuNghệ An, ông vừa đi khắp nơi dụ yên nhân dân, vừa quan sát địa thế, ôngquyết định dời phủ lỵ Nghệ An đến Bạch Đờng (nay thuộc Đô Lơng) Nơinày vị trí sát sông Lam, có nhiều con sông chảy quanh, tạo thành đờng giaothông thủy bộ, đồng thời là nơi cấp thoát nớc khi hạn hán, ma lũ Địa bànBạch Đờng còn là nơi có nhiều sản vật quý, c dân đông đúc Từ đây ông đã

đặt ra những chính sách khác nhau để phát triển kinh tế

Một trong những chủ trơng quan trọng để phát triển kinh tế đó là ôngchủ trơng kinh dinh, chiêu dân tiến hành khai hoang lập ấp, mở rộng diệntích canh tác, phát triển sản xuất nông nghiệp

Ông chủ trơng đa dân lu tán và đa những chiến tù đến những nơi cònhoang vu để khai khẩn và tiến hành khai khẩn từng vùng

Tại vùng Khe Bố (Vĩnh Hòa) nay thuộc huyện Tơng Dơng, nhân dâncòn lu truyền những địa danh Bãi Sa, Bãi Sỏ, bản Trung Hng, bản Nhùng,khe Bố, Tam Đông, Sơn Hà đều do Lý Nhật Quang đem tù binh ChiêmThành đến đây để khai hoang lập ấp

Theo “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Đại Việt sử ký toàn th”: Năm Giáp Thân thứ ba (1044) ngày‘Năm Giáp Thân thứ ba (1044) ngày

Qúy Mão, vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, đánh thắng lớn Tháng tám, đem quân về đến hành dinh Nghệ An vua gọi Uy Minh V-

ơng Lý Nhật Quang đến yến ủy và trao tiết liệt cho trấn thủ châu ấy, gia phong đớc Vơng’’ Tháng 9 vua từ Chiêm Thành về, làm lễ cáo thắng trận“thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”

ở miền Thái Tổ, xong rồi ngự ở điện Thiên An, mở rợu mừng đến nơi … Khải hoàn tới bản châu, vua khen V

Trang 18

Ngay hôm ấy, bầy tôi dâng hơn 5000 chiến tù, các thứ vàng bạc, châu báu Vua xuống chiếu cho các chiến tù ghép theo bộ thuộc, cho trấn từ Vĩnh Khang (Tơng Dơng) thẳng đến Đăng Châu (Quy Hóa) đặt hơng ấp, phong theo danh hiệu cũ của Chiêm Thành” [8; 408]

Địa danh Vĩnh Khang tức là huyện Vĩnh Hòa sau này bao gồm cácxã Tam Quang, Tam Thái, Tam Đình, Thạch Giám (Tơng Dơng) và hai xãTam Lâm và Đôn Phục thuộc Con Cuông Nh vậy, qua sự kiện trên, chúng

ta thấy rằng vùng Tơng Dơng vào thời Lý Nhật Quang đã có ngời c trú,ngoài chiến tù Chiêm Thành đợc đa đến, ở đây cũng đã có c dân các dân tộc

c trú

Để tạo điều kiện tốt cho việc sản xuất ở các vùng này, Lý NhậtQuang đã cho đắp một cái đập qua cái khe chảy xuống sông Lam để đa nớcvào đồng ruộng, phát triển cây trồng Đập này ngày nay đang còn tồn tại,hiện đang ở bản Phai, “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Phai” trong tiếng Thái nghĩa là cái mơng, cái đập

Tại bản Phai này có một đền thờ Lý Nhật Quang đó là đền Pàng naykhông còn nữa

Ngoài những vùng đất nêu trên, hiện nay trên đất Nghệ An còn tồntại nhiều làng xã đợc hình thành từ thời Lý gắn với công lao của Lý NhậtQuang nh vùng Cự Cồn – Tơng Dơng thuộc huyện Con Cuông; vùng KheDiêm (Con Cuông);, vùng Công Trung Đông (Hợp Thành, Yên Thành),vùng Tràng Thành Nam (Hoa Thành, Yên Thành) đều là những nơi đợc LýNhật Quang khai hoang lập ấp

Cùng với việc khai hoang lập ấp, Lý Nhật Quang còn dạy dân trồngdâu nuôi tằm, dệt lụa, dệt vải, khuyến khích dân phát triển một số nghề thủcông mà họ mang từ quê nhà đến nh đóng thuyền, sản xuất đồ gốm, rèn sắt,

đánh cá… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất

Để thuận lợi cho sản xuất và đi lại và phục vụ quân đội khi có biến,

Lý Nhật Quang đã cùng nhân dân nạo vét các con sông, các kênh mơng nhsông Đa Cái ở Hng Nguyên, Kênh Sơn, kênh Dâu ở Quỳnh Lu, kênh Sắt ởNghi Lộc Ông đã cho lập trại Bà Hòa giáp danh giữa Thanh Hóa và Nghệ

An để vừa phục vụ mục đích quân sự và dân sự Ông khởi xớng việc đắpmột số đoạn đê sông Lam mà theo PGS Ninh Viết Giao thì đó là tiền thâncủa đê 42 sau này để ngăn lũ

Trang 19

Nh đã nói ở trên, ông chủ trơng kinh dinh, mở rộng hệ thống giaothông đờng sông, đờng bộ Ông đã tiến hành khai phá làm 2 con đờng th-ợng đạo ở Nghệ An

Con đờng thứ nhất từ Đô Lơng qua Nghĩa Hành, Nghĩa Phúc lênnông trờng sông Con, qua Thái Hòa (Nghĩa Đàn) rồi theo đờng Lê BãiThành nối liền con đờng thợng đạo Thanh Hóa ra Kinh Kỳ

Để làm hai con đờng này, Lý Nhật Quang đã cho một số quan chức ở

địa phơng thông thạo đờng đi lối lại tiến hành điều tra, khảo sát con đờngnày từ tháng 2/1042 Số quan chức này dựa vào lối mòn ven sông Lam, lốimòn trong rừng cùng với kinh nghiệm và hiểu biết của nhân dân, sau mộtthời gian lặn lội tìm tòi đã hoạch định ra đợc một con đờng nối liền cácvùng phía Tây Nghệ An với kinh kỳ mà PGS Ninh Viết Giao cho rằng nó

là một phần con đờng Bến Vệ – sông Con hiện tại

Tháng Giêng năm Quý Mùi (1043), Lý Nhật Quang đã điều dân phutới khai phá núi rừng, đào xới, san lấp, làm đờng bắc cầu Dân phu làm con

đờng này không khỏi phải vất vả, khó nhọc, thậm chí bị bệnh tật bởi rừngthiêng, núi độc và thú dữ

Việc khai phá con đờng này có một ý nghĩa vô cùng to lớn, nó nốiliền vùng Nghệ An với Kinh Kỳ trong điều kiện núi rừng còn hoang sơ, thúdữ lại rất nhiều và dân c lại đang còn hết sức tha thớt Và đến năm sau tứcnăm 1044 con đờng thợng đã đợc hình thành

Con đờng thứ hai đợc khởi đầu từ Đô Lơng qua Anh Sơn lên Cự Đồn(thuộc huyện Con Cuông ngày nay) qua Hội Nguyên lên Mờng Mật ở TơngDơng, Kỳ Sơn giáp Lào

Chúng ta không hề thấy sử sách ghi chép năm Lý Nhật Quang tiếnhành khai phá, mở rộng con đờng, chỉ thông qua t liệu điền giã của các nhànghiên cứu thì cho thấy Lý Nhật Quang khởi công làm con đờng này từnăm Bính Tuất (1046), mùa xuân năm sau tức năm 1047, con đờng đã đợchình thành

Để làm con đờng này, Lý Nhật Quang cũng cho một số quan địa

ph-ơng dân tộc bản địa thông thạo đờng đi lối lại, điều tra khảo sát để làm con

đờng thợng đạo lên phía Tây Các thổ quan ấy đã dựa vào lối mòn trongrừng, men theo các triền sông, triền suối mà chủ yếu là sông Lam để xâydựng con đờng Con đờng này men theo tả ngạn sông Lam, qua vùng LãngSơn sang Anh Sơn, lên vùng Dừa Lạng rồi tiếp men theo sông Lam lên Con

Trang 20

Cuông, Khe Bố, Cánh Sáp, Cửa Rào, tiếp theo là men theo sông Nậm Nộlên Chiêm Lu, Tà Ca và cuối cùng là biên giới Việt Lào Theo PGS NinhViết Giao thì có lẽ con đờng này quốc lộ số 7 đoạn từ Đô Lơng lên Kỳ Sơn

là con đờng xa do Lý Nhật Quang khai phá

Hai con đờng ấy đợc hình thành tạo điều kiện cho phát triển sản xuất,trao đổi buôn bán, giao lu văn hóa giữa các vùng

Việc khai phá và mở rộng đất đai của Lý Nhật Quang trong thời gian

ông làm tri châu có tính “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”chất toàn diện và có tầm chiến lợc”[20;127] Ôngkhông chỉ tiến hành khai triển ở miền xuôi mà còn ở miền núi, không chỉ ởtrên lĩnh vực nông nghiệp mà cả giao thông vận tải , thủy lợi, tạo bớc ngoặttrong lịch sử phát triển của đất Nghệ An Nhất là các ngành nghề có liênquan trực tiếp đến việc phục vụ quốc phòng nh khai mỏ, luyện kim, rèn sắt,

đóng thuyền … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất Hiện nay, đang còn tồn tại nhiều làng nghề nổi tiếng nhnghề rèn sắt ở Nho Lâm (Diễn Châu), Trung Lơng, Văn Tràng (Đức Thọ)

có từ thời Lý Những cơ sở sản xuất nh vậy đã trở thành những chỗ dựaquan trọng cho châu Nghệ An ngay cả thời bình và thời chiến Thời bìnhthì đó là nơi cung cấp nông cụ và các vật dụng cần thiết để sản xuất và sinhhoạt, thời chiến thì đó là nơi sản xuất vũ khí đáp ứng nhu cầu quân sự vớicác nghề có tính chất địa phơng nh vậy, mỗi làng nghề có thể tự sản xuấtlấy vũ khí trang bị nhỏ nhẹ, cung cấp cho các lực lợng dân binh, có khi còngóp phần cung cấp một số vũ khí, trang bị cho quân thờng trực ở các châu

Việc khai phá mở rộng đất đai, đa dân lập ấp đã dẫn đến, nhiều xómlàng trở nên trù phú, dân c trở nên đông đúc hơn nh vùng Ngọc Sơn (ĐứcThuận - Đức Thọ), Trảo Nha (Đại Lộc – Can Lộc), Phật Khê (Đà Sơn –

Đô Lơng) … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất Đặc biệt là vùng Tả Ao – Nghi Xuân là nơi buôn bán pháttriển

Nh vậy, chúng ta thấy rằng ông đã tiến hành khai phá các vùng hẻolánh, đa dân c đến sinh sống, khuyến khích phát triển sản xuất Điều nàycũng chứng tỏ rằng, chính sách nông nghiệp dới thời Lý cũng rất tiến bộ

Theo sự ớc tính của các nhà nghiên cứu thì, trên vùng Nghệ An và HàTĩnh đã có gần 50 làng lập đền thờ Lý Nhật Quang, hiện nay các đền thờ đóvẫn đang còn nghi ngút khói hơng, điều này còn có giá trị về mặt văn hoárất lớn, chứng tỏ công lao của ông đối với nhân dân Nghệ An rất lớn và ng-

ợc lại, tấm lòng của nhân dân Nghệ An đánh giá ông, nhớ ơn ông sâu sắc

nh thế nào

Trang 21

1.2.3 Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng

Nh đã nói ở trên, Nghệ An thời kỳ đầu của vơng triều Lý là nơi biênviễn phía nam của Tổ quốc, là tiền đồn phía nam của đất nớc Nơi đây th-ờng xuyên có những thế lực địa phơng muốn cát cứ và cũng thờng xuyên bịquân Chăm Pa đến quấy phá, xâm lấn và cớp bóc Nhiệm vụ của vị tri châu

đứng đầu xứ này là cần phải xây dựng nơi đây thành một tiền đồn mạnh, đủsức dẹp yên các cuộc nổi loạn trong và ngoài nớc

Nhận thức đợc tầm quan trọng trong mối quan hệ giữa kinh tế vớiquốc phòng, Lý Nhật Quang đã vận dụng các chính sách tiến bộ để khuyếnkhích phát triển nông nghiệp với nhiều hình thức nh bảo vệ sức kéo, trừngphạt những kẻ tự ý giết trâu bò chiêu mộ dân lu vong định c và sử dụng cả

tù binh Chiêm Thành khai khẩn ruộng đất, lập thành những làng xã mới Do

đó, trong thời gian ông làm tri châu, ở Nghệ An có nhiều làng xã, trại sáchmới đợc thiết lập thêm Ông cho dân đắp đê chống lụt, cho khơi vét kênhmơng để tới tiêu và ông thờng đích thân tuần du xuống các đồng quê để

động viên, khuyến khích nhân dân làm ruộng, nuôi tằm, chăn nuôi gia súc

và làm nghề thủ công Chính vì thế mà kinh tế trong vùng ngày càng pháttriển, đời sống nhân dân ngày càng đợc no đủ, thóc gạo dự trữ có phần dthừa, tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển

Để tạo điều kiện cho việc củng cố quốc phòng, Lý Nhật Quang đãcho xây dựng các kho thóc dự trữ Sử cũ chép rằng, “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Bấy giờ, Thái Tông sắpsang đánh Chiêm Thành, sai Vơng sửa dựng một chỗ ở gọi là trại Bà Hoà,cần phải đợc hiểm kín, bốn mặt đào ngòi đắp luỹ, trong trại đất rộng chứa 3

đến 4 vạn quân Kho tàng tiền lơng phải chứa sẵn để dùng đủ trong 3 năm”[22;26]; Năm 1037, vua (Lý Thái Tông) “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” Xuống chiếu cho châu Nghệ Anxây dựng các kho ở trong châu T Thành, Lợi Nhân, Vĩnh Phong, tất cả 50cơ sở” [8; 392]; Năm 1044, trớc khi chinh phạt Chiêm Thành, khi vua (LýThái Tông) dẫn quân vào “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”quả đợc vừa ý”[22; 26] Sau khi chinh phạtChiêm Thành xong “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại” tháng 8, vua kéo quân về Đến Nghệ An gọi Uy Minhhầu là Lý Nhật Quang đến an uỷ và trao tiết việt cho trấn thủ châu ấy, tiếnphong tớc vơng Trớc đây, vua uỷ nhiệm cho Uy Minh hầu thu thuế hàngnăm của châu Nghệ An và sai đặt trại Bà Hòa để cho có thể gi vững đợc

Và đặt điếm canh ở các nơi, chứa long thực đầy đủ Đến khi quân về đợcvừa ý vua, đặc biệt phong tớc vơng, ân huệ có phần hơn các anh emkhác”[13; 226]

Trang 22

Để đảm bảo có lực lợng quân sự tại chỗ, ông đã tiến hành kê khainhân khẩu và đã biết ở Nghệ An thời điểm hiện tại có 46.400 hộ, 54.364nhân đinh Mặt khác, ông đã tiến hành tuyển chọn quân lính Để tập trungnhân lực cho quân sự nhng không ảnh hởng đến việc xây dựng kinh tế, đủsức trấn áp các thế lực cát cứ, ông đã thực hiện chính sách “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”ngụ binh nông”– một chính sách sử dụng rộng rãi của nhà Lý Với chính sách này, ông đãchia phiên cho quân lính thay nhau về nhà làm ruộng Nhờ đó, quân lính ở

đây đều có điều kiện sản xuất kinh tế, vừa đỡ chi phí nuôi quân, vừa tăngthu nhập cho binh lính

Bên cạnh việc xây dựng lực lợng quân đội thờng trực ở châu, Lý NhậtQuang còn khuyến khích tổ chức ra các đội dân binh (hơng binh) tức là lựclợng vũ trang ở các làng, xã Đó là lực lợng sẵn sàng chiến đấu ở mỗi thônxóm khi có chiến sự, đồng thời bảo vệ an ninh thôn xóm hàng ngày Việcxây dựng quân đội địa phơng có vai trò to lớn, nó thực sự trở thành lực lợng

dự trữ thờng xuyên khi có biến cho quân đội quốc gia

Để đảm bảo thông tin liên lạc và điều quân khi có chiến sự, Lý NhậtQuang đã cho xây dựng hệ thống giao thông liên lạc thủy bộ Ông đã chonhân dân tiến hành nạo vét các kênh mơng nh kênh Đa Cái, kênh Dâu, kênhSắt … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất, ông cho khai phá làm hai con đờng thợng đạo đó là hai con đờng nốiliền Nghệ An với các tỉnh miền ngoài, ra Kinh Kỳ và nối liền các vùng ởNghệ An Điều này ngoài ý nghĩa về mặt phát triển kinh tế, nó còn có ýnghĩa về việc phát triển quân sự, tạo điều kiện lu thông nhanh chóng các tintức, lơng thực, khí giới, quân đội khi chiến tranh xẩy ra

Vào buổi đầu thời Lý, vơng quốc Chiêm Thành đang trên đà pháttriển, muốn mở rộng lãnh thổ ra phía Bắc Đã nhiều lần Chiêm Thành choquân vào cớp phá các vùng biên giới nớc ta: “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”mùa hạ, tháng 4 (1043) “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”giặcsóng gió”, Chiêm Thành cớp bóc dân ven biển” [8; 402], chúng nhiều lầnngấm ngầm quan hệ với nhà Tống âm mu quấy phá vùng biên cơng Thậmchí, trong thời kỳ Lý Nhật Quang trấn trị ở Nghệ An, một vài lần ChiêmThành đã liều lĩnh đa quân sang xâm phạm biên giới phía Nam Vua Lýphải thân chinh đi đánh dẹp Trong nhiều lần chiến tranh ấy, đều có sự thamgia tích cực của Lý Nhật Quang và đạo quân do ông chỉ huy Châu Nghệ

An lúc đó đã cung cấp đầy đủ sức ngời và sức của, đảm bảo thắng lợi chocuộc giử nớc Hơn thế nữa, bằng những hành động chính nghĩa của mình,

Lý Nhật Quang đã cảm hóa đợc nhân dân Chiêm Thành vùng sát biên giới,

Trang 23

thậm chí còn thu phục đợc cả tớng sỹ và binh lính ngời Chiêm: “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Lúc ấy, ởChiêm Thành, chúa Chiêm Thành sai sứ sang cầu viện, Vơng đem thuỷbinh đến thẳng cửa biển Thị Nại, đóng ở dới núi Tam Toà Các bộ lạc châu

ấy nghe tin đều cảm phục”[14; 189] Nhớ công đức của Lý Nhật Quang,nhân dân ở đây đã lập đền thờ Ngài ở núi Tam Tòa (nay thuộc tỉnh Bình

ĐOạT HƠN 3000 voi thuần, bắt sống hơn 5000 ngời” [8; 405-406] Chiếnthắng vang dội này của vua Lý Thái Tông có phần không nhỏ công lao của

Lý Nhật Quang

Sau cuộc chiến này, quan hệ hai nớc Việt – Chiêm ổn định đợc 20năm Nhng Chiêm Thành vẫn nuôi chí phục thù Họ lén lút thần phục nhàTống, dựa vào nhà Tống, sửa soạn quân bị để chống Đại Việt Biết rõ âm

mu của nớc Chiêm Thành, vua Lý Thánh Tông lập tức xuất chinh “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Mùa

xuân, tháng 2 (1069), vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, bắt đợc vua nớc

ấy là Chế Củ” [8; 421], không còn cách nào khác, “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Chế Củ xin dâng bachâu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội, vua bằng lòng, tha cho Chế

Củ về nớc” [8; 421] Nh vậy, đến năm 1069, biên giới nớc Đại Việt kéo dài

đến sông Thạch Hãn, mở đầu cho công cuộc Nam tiến của nớc ta Có thểnói, chiến công vang dội mang ý nghĩa lịch sử đó có phần không nhỏ củachâu Nghệ An và Lý Nhật Quang Lý Nhật Quang đã xây dựng Nghệ Anthành một căn cứ địa vững mạnh về mọi mặt: kinh tế, quốc phòng, giaothông vận tải … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất đáp ứng đầy đủ sức ngời sức của cho cuộc chiến

Nh vậy, Lý Nhật Quang không chỉ có công lao trong việc xây dựng

và phát triển vùng biên thùy phía nam mà ông còn góp phần nâng cao uythế của Đại Việt với các nớc láng giềng Ông không chỉ xây dựng phát triểnmột lĩnh vực của đất nớc mà trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị – quốcphòng, văn hoá ông đều có những đóng góp nhất định Ông đã cho xâydựng châu Nghệ An thành một châu địa đầu vững chắc, một hậu phơngchiến lợc trọng yếu của quốc gia Đại Việt thời Lý Ông đã có công đặt nềnmóng, cơ sở cho Nghệ An tiếp tục phát triển trong những thế kỷ sau

Trang 24

1.3 Nhân dân Nghệ An ghi nhớ công ơn của Lý Nhật Quang

1.3.1 Tổ chức xây dựng đền thờ

Lý Nhật Quang đã có những đóng góp lớn lao với vùng đất xứ Nghệnói riêng và quốc gia Đại Việt nói chung.Vì vậy, các vơng triều phong kiến

đều ghi nhận và gia trật, phong thởng cho ông Các sử sách xa đều nói về

ông và công lao của ông nh “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Đại Việt sử ký toàn th”, “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Đại Nam nhất thốngchí” “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Khâm định việt sử thông giám cơng mục” … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất Nhân dân tôn thờ ôngbằng cách lập các đền thờ để ngày đêm hơng khói

Vào thời Trần, ông đợc phong là “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Uy Minh dũng liệt hiển trung táthánh phu hiệu Đại vơng”; vào thời Lê ông đợc phong là “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Tam Tòa quốcchủ thợng đẳng thần, hiển linh hộ quốc hồng huân Đại vơng”;vào thờiNguyễn phong “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Tam Tòa tá thánh đại vơng thợng đẳng thần” Còn nhândân xứ Nghệ thì tôn ông làm Thành hoàng cho nhiều làng, là vị thần bảo trợcho các làng, để mong ngài che chở, phù hộ cho họ Trong con mắt củanhân dân xứ Nghệ, Lý Nhật Quang trở thành bất tử Truyền thuyết về cáichết của ông có thể minh chứng cho điều đó Chuyện kể rằng, trong một lần

đi dẹp giặc Lão Qua, để giữ vững biên cơng, Lý Nhật Quang bị tớng giặcchém trọng thơng, ngựa quý đa ngài về thôn Thợng Thọ, xã Bạch Đờng,bỗng có bà tiên nói với ngài rằng “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Quả Sơn là nơi linh địa, huyết thực muôn

đời, có thể hóa thân ở xứ ấy” Ngài theo, đến Quả Sơn thì quy hóa Bỗng cóhàng nghìn con mối xuất hiện, xông đầy thi thể ngời và ngựa và đã thànhmột ngôi mộ lớn

Câu chuyện mang tính linh dị, màu sắc huyền thoại nhng nó thể hiệnmột điều, với ngời dân xứ Nghệ, Lý Nhật Quang thật là huyền diệu, thậtkhác ngời và cái chết của ông cũng vậy, cũng kỳ lạ, không phải là một cáichết bình thờng

Nhớ ơn ông, tiếp nối truyền thống “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Uống nớc nhớ nguồn, ăn quả nhớngời trồng cây” của dân tộc, nhân dân ở nhiều nơi trong nớc nhất là vùng đ-

ợc ông đến, ông đi qua hay nơi ông từng có công dẹp loạn, khai khẩn đấthoang, mở mang thôn xóm, phát triển sản xuất đều lập đền thờ ông Khôngnhững vùng đất xứ Nghệ mà ở Ninh Bình, Thanh Hóa, Bình Định đều có

đền thờ ông với hiệu là Tam Tòa Đại vơng

Riêng ở vùng đất xứ Nghệ đã có hơn 50 làng thờ ông Nhân dân đãtôn ông làm Thành hoàng, tỏ lòng biết ơn, sùng bái đối với vị anh hùng Lý

Trang 25

Nhật Quang và cầu mong sự chở che của ngài khi ngài hiển Thánh Hiệnnay, qua khảo sát thực địa, ở Nghệ An có hơn 30 đền thờ Lý Nhật Quang.

Là tri châu Nghệ An, là trấn thủ xứ Nghệ nhng Lý Nhật Quang đợccoi là thần khai khẩn vùng đất này.Vì vậy, ông đợc nhiều làng tôn làmthành hoàng làng Riêng vùng Quỳnh Lu đã có 11 đền thờ Lý Nhật Quang,

đền lớn nhất là đền Vu ở xã Quỳnh Vinh, tổng Hoàng Mai cũ, nơi Lý NhậtQuang đặt trại Bà Hòa ở nhiều nơi khác suốt giải đất dọc sông Lam, từmiền núi đến miền xuôi, từ các vùng Khe Bố, Thành Nam (Con Cuông) đếncác vùng Công Trung (Yên Thành) vùng Nam Hoa (Nam Đàn) đến thànhphố Vinh đều có đền thờ Lý Nhật Quang ở xã Bạch Đờng cũ thuộc huyện

Đô Lơng không phải chỉ có đền Quả mà 6 làng Nhân Bồi, Nhân Trung,Phúc Hậu, Phúc Yên, Tập Phúc, Trạc Thanh đều có đền thờ Lý NhậtQuang Đó là cha kể một số làng ở Nghi Xuân, Đức Thọ, Kỳ Anh thuộcchâu Nghệ An, nay là Hà Tĩnh, đều có đền thờ Lý Nhật Quang Qua sửsách và khảo sát thực địa, ở Nghệ An (không kể Hà Tĩnh) có rất nhiều đềnthờ ông: Vùng Đô Lơng có 7 đền, Nam Đàn có 7 đền, Quỳnh Lu 11 đền, H-

ng Nguyên 1 đền, Thành phố Vinh 2 đền, Tơng Dơng 3 đền, Yên Thành 4

đền, Diễn Châu 2 đền, Con Cuông 1 đền Tuy nhiên, trong số những đền thờ

đó có những đền thờ không còn nữa, hiện nay chỉ còn hơn 30 đền mà thôi

Cụ thể các đền đó nh sau:

- Huyện Diễn Châu:

1 Đền Yên Lý thợng – xã Diễn Yên

1 Đền Trung Cần – xã Nam Trung

2 Đền Giáp Đông - xã Nam Trung

3 Đình Dơng Liễu - xã Nam Trung

4 Đình Thọ Toán - xã Nam Cờng

5 Đình Hoành Sơn – xã Khánh Sơn

Trang 26

- Huyện Quỳnh Lu:

1 Đền Vĩnh Yên- xã Tiến Thuỷ

2 Đền Giếng Dứa- xã Quỳnh Thiện

3 Đền Đông làng Thợng Yên – xã Quỳnh Yên

9 Đền Xuân Hòa – xã Quỳnh Xuân

10 Đền Nhị Yên – xã Quỳnh Trang

11 Miếu Tam Tòa – xã Quỳnh Tân

Trong lich sử Việt Nam, ít có ai đợc nhân dân ái mộ và tôn kính nhvậy, đặc biệt là trong đời sống tinh thần của ngời dân xứ Nghệ Có thể nói,

đây là một hiện tợng tín ngỡng đáng chú ý Trong hệ thống các bậc đế

v-ơng, các danh tớng lơng thần mấy ai đợc nhân dân ái mộ nh Lý NhậtQuang Trong tâm khảm của mọi tầng lớp nhân dân xứ Nghệ xa, ông là mộtniềm tôn kính tuyệt đối Nhân dân lập đền thờ ông để tỏ lòng ngỡng vọng,nhân dân tôn ông làm thành hoàng để mong muốn sự chở che, bảo trợ của

Trang 27

ông Vậy nên, các đền thờ Lý Nhật Quang vẫn còn nhiều ở trên đất xứNghệ này.

Trong số các đền thờ đó, thì đền Quả Sơn nổi tiếng linh thiêng của

xứ Nghệ mà tơng truyền câu ca ai cũng biết “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”Nhất Cờn, nhì Quả, Bạch Mã,Chiêu Trng” Đây là đền thờ chính, lâu đời thờ Uy Minh Vơng Lý NhậtQuang Đền đợc đặt ở nơi ông đóng sở lỵ, sống và làm việc nhiều năm khilàm tri châu ở Nghệ An Đình Hoành Sơn cũng là nơi thờ Lý Nhật Quang

Đây là ngôi đình đẹp về kiến trúc - điêu khắc trong hệ thống các đình - đềnthờ Lý Nhật Quang nói riêng và xứ Nghệ nói chung Đây chính là tài năng,trí tuệ, sức lực tổng hợp của nhân dân Nam Đàn làm nên để chứng tỏ sựkính trọng của mình đối với Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang Còn đền Vu ởxã Quỳnh Vinh – Quỳnh Lu là đền thờ chính, lớn nhất thờ Lý Nhật Quang

ở vùng phía bắc Nghệ An Đây đợc xem là đền thờ chính ở vùng HoàngMai cho nên trớc đây nhân dân đến bái lễ rất đông nhất là vào những ngàytết, ngày rằm … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất Đền Quả Sơn, đình Hoành Sơn, đền Vu là ba di tích lịch

sử – văn hoá lớn, tiêu biểu thờ Lý Nhật Quang trên mảnh đất xứ Nghệ này,

là tâm huyết của nhân dân, là lòng biết ơn, tôn trọng công lao của Lý NhậtQuang trong việc phát triển xứ Nghệ

1.3.2 Tổ chức lễ hội.

Nhằm tiếp tục công việc đền ơn đáp nghĩa, ngoài việc xây dựng đềnthờ để ngàn năm hơng khói, nhân dân xứ Nghệ hàng năm lại tổ chức các lễhội khác nhau tại các đình chùa để tỏ lòng tri ân với Lý Nhật Quang và qua

đó thực hiện các hoạt động văn hoá nhằm thỏa mãn các nhu cầu đời sốngtinh thần của mình

Trên mảnh đất xứ Nghệ này, có bao nhiêu nơi thờ Lý Nhật Quang thì

ở đó có bấy nhiêu nơi thực hiện việc tế tự, cúng lễ ông Hàng năm, nhândân ở các địa phơng nơi đặt các cơ sở thờ tự đều chú ý đến việc hơng khói,

tế tự ở các đền vào các ngày sóc, ngày vọng, ngày tết… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất Đặc biệt, vào ngàygiỗ kỵ của Lý Nhật Quang tất cả các đền thờ đều lập bàn thờ lộ thiên, hớng

về đền Quả Sơn, bày biện lễ vật, cúng vọng ngoài trời

Về phần hội, trớc đây ở các đình Hoành Sơn, Đền Vu … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất đều tổ chứccác kỳ lễ hội, nhng hiện nay không còn mà chỉ còn lại lễ hội chính tại đềnQuả Sơn

Trang 28

Hàng năm, tại đền Quả Sơn có hai kỳ lễ hội chính Lễ hội thứ nhất

đ-ợc tổ chức vào ngày 16,17 tháng chạp hàng năm và ký lễ thứ hai đđ-ợc tổchức vào ngày 20,21 tháng giêng hàng năm

Vào ngày 16,17 tháng chạp, nhân dân xã Bạch Đờng tổ chức lễ kỷniệm ngày mất của Lý Nhật Quang Trong kỳ này, chủ yếu nặng nề về phần

lễ, tổ chức cúng tế theo nghi thức cổ truyền Đây là dịp để nhân dân tỏ lòngbiết ơn với ngời có công với đất nớc Ngày 16 tháng giêng, ban nội tự trựcsuốt đêm để chuẩn bị lễ vật dâng cúng gồm có cỗ tam sinh (bò, lợn, dê) vàlàm rất nhiều bánh đợc làm từ nếp, ngoài ra còn có hơng hoa Phần hội của

kỳ lễ hội này chủ yếu là hát hội do phờng hát hội Thanh Chơng đợc mời về

tổ chức hát xớng suốt đêm ở ngoài nhà ca vũ của đền Quả Sơn

Kỳ lễ hội thứ hai đợc tổ chức vào ngày 20,21 tháng giêng hàng năm,tục truyền gọi là lễ Hạ Linh hay thờng gọi là lễ tạ ơn Bà Bụt – ngời cócông giúp đỡ Lý Nhật Quang trong lúc làm tri châu Nghệ An, cái chết của

ông cũng có sự nâng đỡ của Bà Bụt Đây cũng là dịp để nhân dân xã Bạch

Đờng thay mặt nhân dân xứ Nghệ bày tỏ tấm lòng tri ân đối với vị anh hùngdựng nớc, vị thành hoàng của cả xứ Đồng thời, là dịp đón xuân bằng tinhthần thợng võ và trò chơi dân gian truyền thống, sinh hoạt văn hoá cổtruyền

Với tính chất là lễ tạ ơn Bà Bụt, vì vậy lễ hội diễn ra ở hai di tích là

đền Quả Sơn và chùa Bà Bụt gồm các hình thức sinh hoạt phong phú nh: Lễkhai quang, lễ yết cáo, lễ xuất thần (lễ chính tế), lễ rớc thần, lễ tạ ơn Bà Bụt,

lễ tạ tại đền Quả Sơn

Lễ khai quang tẩy uế đợc tổ chức vào sáng 19 tháng giêng Lễ nàymang ý nghĩa dọn dẹp vệ sinh trong ngoài di tích, lau chùi đồ tế khí, làm lễmộc dục tắm cho di tợng Lý Nhật Quang và tổ chức lễ “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”trai áo” (thay áocho di tợng)

Lễ yết cáo đợc tổ chức vào đêm 19 mang ý nghĩa báo cáo với các vịthần linh – kính thỉnh các vị thần linh về dự lễ hội

Lễ chính tế đợc tổ chức vào giờ chính tý đêm 19, rạng ngày 20, là lế tếthần Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang, nhân dân Nghệ An gọi đây là lễ xuấtthần

Lễ rớc ngợc đợc tổ chức vào ngày 20 sau khi đã tổ chức lễ đại tếxong, dân đa di tợng Lý Nhật Quang ra kiệu rồng, hai đội quân thủy bộ có

Trang 29

cờ, xe, ngựa, thuyền đón rớc tợng đức thánh lên kiệu, có trống lệnh nổi lênkiệu, sống dậy khí thế hào hùng thuở nào của Lý Nhật Quang thắng trận

Trong lúc đoàn quân tiến về chùa Bà Bụt, dân làng hai bên đờng ranghênh đón Khoảng 12 giờ, hai đoàn thủy bộ cùng một lúc đến chùa BàBụt, kiệu Đức thánh đợc rớc vào trong sân chùa Chiều hôm đó, đội quânthủy và quân bộ cùng nhân dân trong vùng làm lễ tạ ơn bà Bụt Sau khi lễxong kiệu Đức Thánh đợc rớc về nghỉ đêm tại hành cung đợc chuẩn bị sẵnnằm trớc ngài khu vực chùa, trên một vùng đất rộng lớn, đợc trang hoànglộng lẫy Đêm đó trong chùa tổ chức tụng kinh hành lễ Phật, còn tại hànhcung Đức Thánh tổ chức hát chầu văn, biểu diễn văn nghệ

Lễ rớc xuôi đợc tổ chức vào sáng 21 tháng giêng âm lịch, sau khi đãlàm lễ bái tạ xong tại chùa Bà Bụt, đoàn quân thủy bộ chuẩn bị rớc về xuôihớng về đền Quả Sơn Đến gần tra, cả đoàn quân thủy và quân bộ cùng tiến

về đền Quả Sơn Đội thị vệ rớc tợng đức thánh vào đền Sau khi tợng đứcthánh đợc yên vị, toàn dân tổ chức lễ yên vị cho Đức Thánh

Phần hội của lễ hội này diễn ra qua các trò chơi đánh đu, cờ ngời,chọi gà, bơi chải … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất các sinh hoạt văn hoá nh hát chầu văn, ca trù, diễntuồng, hát chèo với các tích truyện dân gian, đề tài lao động, sản xuất, tìnhyêu nam nữ, sinh hoạt đời thờng … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất

Việc tổ chức lễ hội thời Lý Nhật Quang nói chung và lễ hội đền QuảSơn nói riêng là một sự thể hiện sinh động truyền thống “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”uống nớc nhớnguồn”, nhằm tôn vinh những ngời có công với dân, với nớc, chứng tỏ rằngchủ trơng phục hồi các lễ hội truyền thống của Đảng và Nhà nớc hoàn toàn

đúng đắn và phù hợp với nhu cầu của quần chúng nhân dân Đây là mộthoạt động văn hoá giàu bản sắc dân tộc cần đợc phát huy

Trang 30

Chơng 2:

Khảo tả một số không gian linh thiêng tiêu biểu

thờ Lý Nhật Quang trên đất Nghệ An

2.1 Đền Quả Sơn

Đền Quả Sơn là đền thờ Lý Nhật Quang lớn nhất ở xứ Nghệ và đâycũng là đền thờ chính thờ nhân vật lịch sử này Ngôi đền này không chỉ nổitiếng về đẹp mà còn nổi tiếng vì tính linh thiêng của nó Dân xứ Nghệ aicũng biết câu ca: "Nhất Cờn, Nhì Quả, Bạch Mã, Chiêu Trng" Đền QuảSơn thuộc địa phận xã Bồi Sơn - Huyện Đô Lơng - Tỉnh Nghệ An Đền cáchthị trấn 3km về phía Tây, cách thành phố Vinh 73km về phía Tây Bắc Ngôi

đền đợc xây dới chân núi Quả nên đợc gọi là đền Quả Sơn Đền có tên Nôm

là đền Mợu vì gọi chệch tên làng Miếu Đờng

Đền đợc xây dựng cụ thể từ năm nào thì không rõ vì không có một tàiliệu nào ghi chép về việc xây đền Nhng theo một số nhà nghiên cứu thì chorằng đền Quả Sơn đợc xây dựng vào thời Lý [22; 219] Lúc đầu quy mô của

đền còn đơn sơ nhng dới các triều đại phong kiến, đặc biệt là dới triềuNguyễn, đền Quả Sơn đợc xây dựng với quy mô đồ sộ hơn gồm có các côngtrình sân, vờn, tam quan, nhà canh, nhà vũm Hạ Điện, Trung Điện, Thợng

điện … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất Từ năm 1951 - 1953, thực dân Pháp cho máy bay ném bom bắn phá

đền Quả Sơn làm đền bị h hỏng nặng Từ năm 1964 - 1972, đền Quả Sơn lại

bị bom Mỹ phá hoại Hiện nay đền Quả Sơn đã đợc nhân dân và các cơquan chức năng tôn tạo lại trên cơ sở đền cũ và đã trở thành một ngôi đền

đẹp và quý

2.1.1 Khuôn viên đền thờ

Đền Quả Sơn đợc xây dựng dựa trên thuật phong thuỷ Trung Quốc.Phía sau lng, đền dựa vào chân núi Quả còn phía trớc thì soi bóng xuốngdòng sông Lam

Đền Quả Sơn đợc xếp hạng mục công trình "quốc tạo, quốc tế" tức là

do Nhà nớc xây dựng và tiến hành tế lễ Các triều đại phong kiến Trần, Lê,Nguyễn … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất đã nhiều lần sắc phong cho đền Đầu thế kỷ XX, đền Quả Sơntrở thành một quần thể to lớn gồm 7 toà, 40 gian theo lối kiến trúc hình chữ

"công" ( I ) Tuy nhiên, do thời gian và chiến tranh, đền đã bị h hại nhiều.Năm 1996, nhân dân đã khôi phục xây dựng lại trên nền đất cũ Vào tháng

2 năm 1998, đền Quả Sơn đợc Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng di tích lịch sửquốc gia Đền trùng tu gồm 3 toà (hạ điện, trung điện, thợng điện) với cổng

Trang 31

tam quan đồ sộ, hàng rào phía trớc đợc xây dựng mới đẹp chắc, trên vùng

đất 1,5 ha Toàn bộ kiến trúc đền Quả Sơn ngày nay đều mang dáng dấpcuối Lê đầu Nguyễn

Trớc khi bớc chân vào đền, chúng ta bắt gặp đầu tiên là cổng tamquan và tắc môn Cổng tam quan có chiều dài 8,5m, trong đó cổng chínhchiều rộng 4,1m, hai cổng phụ dài 2,2m Hai cột phụ có chiều cao 2,5m, haicột chính có chiều cao 5,7m, phía trên cột có để tợng con nghê Phía giữacổng chính là tắc môn Tắc môn dùng để chắn các luồng khí xấu xộc thẳngvào đền và tránh con mắt dòm ngó của ngời phàm tục Tắc môn có chiềudài 3,3m, cao 1,8m, phía trớc mặt tắc môn có đắp nổi hình tợng con lân s

Bớc qua cổng tam quan vào khu đền, hình ảnh khu vờn rộng rãi, bằngphẳng, trồng các loại cây xanh nh Đa, Phợng, Ngô đồng … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất Sân đền quả sơn

đợc làm đất phủ cỏ xanh tơi, trớc sân có lối đi bằng bê tông

Đi thẳng từ cổng tam quan xuống, phía trái là nhà bia ghi sự tích của

đền Theo truyền thuyết, khi Lý Nhật Quang mất ở Châu Nghệ An đã cótrên dới 30 đền thờ thờ ông, ở đền Quả Sơn có dựng một tấm bia đá to và

đẹp nói về công đức của ông Đáng tiếc, vì thời gian dài nên tấm bia đókhông còn Tấm bia đá hiện nay là do chúa Trịnh Tạc dựng lên để biểu d-

ơng nhân dân xã Bạch Đờng, Đức thánh Lý Nhật Quang đã âm phù giúpquân Trịnh đánh thắng quân của chúa Nguyễn năm 1661

Bia này làm bằng đá xanh, chân bia rộng 940mm, dày 260mm, bia cóchiều cao 1,4m, thân bia trớc mặt có khắc chữ Hán, xung quanh đợc viềntrắng dây hoa, đầu chạm nổi hình rồng chầu mặt nguyệt, nội dung lời ghitrên văn bia nh sau:

"Đại nguyên soái suý chởng quốc chính Tây Định Vơng triệu họp:các thôn trởng, xã trởng tớng thần, quan viên xã Bạch Đờng là Lê Thế Hng,

Lê Mậu Trung, Lê Bạch Hào, Phan Đăng Triều, Đào Văn Chức, Lê TấnTriều, Lê Thế Vinh, Ngô Công Liêm, Lê Bạn Hơng, tiến tớc Lê Quế, BùiQuang Hoa, Nguyễn Quang Lịch, Phạm Viết Bình, Lê Khắc Khoan, ĐàoLịch, Nguyễn Điện Bàn, Đỗ Đăng Thọ, Lê Ngọc Gia, Nguyễn Gia Cảnh,Nguyễn Vũ, đầy đủ các huyện uỷ lớn nhỏ trong toàn xã

Khâm sai tiết chế các xứ, thuỷ bộ ch dinh kiêm tổng chính binh thái

uý Nghi Quốc Công, thân chinh phản giặc, lấy nhân dân bản xứ đã biết thnghĩa, không nghe theo lũ cuồng khấu, ép uổng lấy đợc th giặc đem dâng,

Trang 32

giúp cho quân binh biết đợc tiên cơ đủ thắng, lại biết nổ lực công phá bọngiặc đồ hữu công … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất

Đã ban thởng:

Nay thiên uy chấn động, tiểu trừ nghịch đảng, thu hồi tơng thổ, nêngia thêm cờ xí khen thởng Nay đã bàn bạc chuẩn y cho từ nay đến mãi mãicác đời về sau đều đợc miễn trừ thuế má, binh phân hộ phân, các việc sudịch Các kẻ phụng sai, các nha môn đều phải phụng trừ để biểu dơngnhững ngời dân biết thủ nghĩa, ngàn muôn đời vui hởng thái bình

Nay lệnh, ngày 22/4 năm Vĩnh Thọ thứ 4" [20; 12]

ở phía trên bia đá là một mái nhà che bia làm bằng gạch, có ngói, có

8 kiểu chồng diêm, nhà bia trổ 4 cửa để mọi ngời đều có thể nhìn thấy nhàbia từ 4 hớng qua các cửa hình vòm uốn ở mặt chính đông, phần tờng haibên cửa đợc đắp nổi 2 con hạc đứng trên rùa

Nhà bia tính cả mái che cao 3,03m, cột cao 1,52m có tiết diện 300 x300mm, chân cột 400 x 400mm, vòm cuốn bằng gạch phía dới dày 220mm,vòm cuốn phía trên dày 110mm Nhờ tỷ lệ của nhà che bia rất cân xứnggiữa mái che, cột, vòm cuốn… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chấttạo nên sự hài hoà, cân xứng

Từ nhà bia nhìn thẳng xuống phía tây là lăng mộ Lý Nhật Quang.Theo truyền thuyết, khi Lý Nhật Quang mất đi, thi hài của ông đợc chôn ởchân núi Quả Lăng mộ Lý Nhật Quang có phần gối đầu lên chân núi Quả,phần chân duỗi ra phía bờ sông Lam Trớc kia, mộ của ông là mộ đất phủ

cỏ xanh, có hình tròn, ở phía chân mộ đắp một l hơng Tuy nhiên, hiện nay,

mộ của ông đã đợc xây dựng thành lăng để tỏ rõ sự uy nghiêm của ông,

đồng thời tỏ lòng tôn kính của nhân dân với Lý Nhật Quang Đây là mộttrong những điểm thu hút sự chú ý của du khách, là nơi an nghỉ cuối cùngcủa Ngài

Khuôn viên đền thờ Lý Nhật Quang vừa tĩnh lặng, vừa tao nhã, trangnghiêm mang đậm tính chất dân gian trong khung cảnh chung của cả vùng

2.1.2 Nhà hạ điện

Nhà hạ điện đền Quả Sơn là một công trình kiến trúc tôn giáo khá

đẹp, nhà có chiều dài 10m, rộng 7,6m Nhà hạ điện đợc xây dựng từ vật liệugạch, ngói, gỗ, đá Nhà hạ điện hớng mặt về sông Lam Nhà có 3 gian, 4 vìhồi, mái nhà lợp bằng ngói âm dơng, nóc nhà có đắp hình rồng chầu mặtnguyệt - một biểu tợng quen thuộc của đền chùa Con rồng trên mái nhànày đợc làm t xi măng Thân rồng uốn thành 3 khúc, quấn trong các dải

Trang 33

mây Đầu rồng dữ tợn ngẩng cao chầu vào mặt nguyệt đợc viền các tia hàoquang Hai con rồng này có dáng hình khoẻ khoắn.

Để bớc lên nhà hạ điện, chúng ta phải bớc qua bậc tam cấp, mỗi bậc

đi rộng 30cm, cao 16cm Nền nhà hạ điện đợc đắp cao hơn sân 0,6m, nềnnhà lát gạch cẩm trang màu đỏ sẫm, bờ tờng phía tây và phía đông đợc xâythẳng để tránh nớc ma tạt vào Tờng gạch dày 220mm, có móng đá rộng400mm, cột nanh cao 250 x 250mm Mặt trớc nhà hạ điện để trống, phíasau để ngỏ 1 gian ăn thông với nhà trung điện

Về kết cấu:

Từ nền bớc vào trong nhà qua cửa gỗ, cửa gỗ đợc thiết kế mở vào đểthu các luồng sinh khí tốt cho nhà thờ Ngạch cửa gỗ đợc thiết kế kiểu trênsong dới bản Khung nhà hạ điện đợc làm bằng gỗ lim, hệ thống cột có 6cột cái, 8 cột con Cột cái có bán kính 23cm, cao 3,1m, có đá kê tiết diện 38

x 38cm, cao 10cm (không có mặt gơng) Cột con cao 2,2m có cùng đá kê

nh vậy Hệ thống cột đó đợc nối với vì kèo, xà hạ bằng các mộng, sàm vừachắc chắn vừa khít Từ hàng cột lớn bên phải đến hàng cột bên trái cáchnhau 2,8m, từ hàng cột cái đến cột con cách nhau 2,5m, từ cột con đến bờ t-ờng cách 80cm

Mái nhà hạ điện có độ dốc 0,7m, mỗi bên mái có 33 rui, rui dài4,5m, tiết diện rui 80 x 20mm, khoảng trống giữa các rui là 19cm

Mỗi bên hồi có 28 rui, rui dài 1,3m

Văng có tiết diện 110 x 240mm, khâu đầu có tiết diện 100 x 200mm

Về bài trí nội thất:

Nhà hạ điện hiện nay còn lu giữ bài trí nhiều hiện vật quý hiếm nhcác đồ thờ, các nhạc cụ

Gian bên trái để một giá trống, chiếc trống da to là nhạc cụ chính để

đền thực hiện các lần tế lễ

Gian bên phải đặt một giá chiêng và chiêng đồng cũng là dụng cụ sửdụng trong các dịp tế lễ

Trang 34

Trung tâm bài trí nội thất của nhà hạ điện là hai gian giữa Hai giannày lu giữ nhiều đồ thờ cổ nh hơng án cọc nến, lọ hoa… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chấtCác đồ thờ nàychủ yếu đợc làm bằng gỗ.

Hai gian giữa bày hai hơng án cổ Hai cái có phần tơng đối giốngnhau Các hơng án đều bày l hơng và cọc nến, lọ hoa, mâm chè, chén đồng,mâm rợu… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chấtvà đều đợc sơn son thiếp vàng, đều đợc chạm khắc khá tinh xảo,các mảng chạm đều mang tính truyền thống: tứ linh, tứ quý Hơng án phíatrớc phục vụ nhu cầu bày đặy lễ vật của nhà đền, du khách Nằm sát hơng

án là 2 con hạc gỗ đợc sơn son thiếp vàng đang đứng trên lng rùa, phối hợpvới các đồ thờ nh lọ hoa, l hơng, câu đối làm cho cả gian thờ thêm rực rỡ,linh thiêng

Cũng nh nhiều đền thờ, gian thờ khác, đền Quả Sơn cũng đợc trangtrí bằng những bức đại t và câu đối Nội dung của những bức đại tự và câu

đối nói về công lao của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang và vẻ.đẹp của đềnQuả Sơn

“ở mái sau gian giữa của nhà hạ điện treo hai bức đại tự đợc khắcbằng chữ Hán và hoa văn rất đẹp

Bức đại tự treo ở dới xà sơn đen, chữ khảm trai có nội dung "Thamthiên toản hoá"

Bức đại tự treo ở trên sơn đen chữ vàng, phía trên chạm hình tợngrồng chầu mặt nguyệt, thiếp vàng rực rỡ Nội dung:

"Nam thiên thánh tích"

(Dấu tích Đức thánh tại trời Nam)

ở hàng cột chính, các gian thờ nhà hạ điện còn treo các câu đối cangợi vẻ đẹp của đền Quả Sơn, công lao dựng nớc của nhà Lý, đặc biệt là sựnghiệp vẻ vang của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang

Câu thứ nhất sơn đỏ chữ vàng có nội dung:

"Quả Sơn vạn thế (do) tiên bà chỉ bảo

Nhà Lý nhành Tám (là) con vua rất thiêng"

Câu thứ hai sơn đen chữ vàng có nội dung:

"Hách hách thần linh hơng hoả vĩnh tuyền kim miếu mạo

Đờng đờng đế trụ quan hà do chí tích huân danh"

(Hiển hách thần linh hơng hoả vĩnh tuyền kim miếu mạo

Đờng đờng đế trụ quan hà do chí tích huân danh)

Câu thứ ba có nội dung:

Trang 35

"Tiết liệt tráng sơn hà Hoàng Lý dễ lai lu chính khí

Huân danh thuỳ vũ trụ Hoan Nam tuỳ toại mộc cán ân"

(Tiết liệt sáng sơn hà đời Lý ngàn năm lu chính khí

Huân danh trùm vũ trụ Hoan Châu muôn nẻo đội ơn cao)

Câu thứ t có nội dung:

"Phúc nguyên trạch diễn liên trì cựu

Đức thu hoa khai liễu mạch trần"

(Nguồn ơn ban phúc mãi sáng hồ sen cũ

Công đức nở hoa thêm xanh đặng liễu nay)

Câu thứ năm có nội dung:

"Lý thuất thân huân thai bát diệp

Quả Sơn hơng hoả binh thiên thu"

(Nhà Lý công to nở nhành Tám

Quả Sơn hơng khói sáng nghìn thu)

Câu thứ sáu có nội dung:

"Đế trụ anh chung thiên đức thuỷ

Thần uy c trớc Quả Sơn vân"

(Thiên đức sông (xanh) nhờ đế trụ

Quả Sơn mây ngát tỏ thần uy)” [12; 94 - 101]

Trang 36

Khung nhà trung điện đợc làm bằng gỗ lim, các đầu kẻ đợc chạm nổicon vật trong bộ tứ linh.

Chiều cao mái chảy (từ mái ngói đến sàn nhà) là 2m

Chiều cao đỉnh bờ nóc xuống nền là 3,85m

Chiều cao cột là 2,65m

Chiều dài mái là 3,1m

Mỗi mái có 24 rui, mỗi rui dài 3,1m, ngoài ra có 10 rui dài hơn 1,2m.Mỗi hồi có 23 rui, rui dài 3,1m, rui rộng 110mm, dày 15mm

Tại vì kèo thứ nhất và vì kèo thứ ba, tính khái quát trong bố cục là

đặc điểm nổi bật của các mảng chạm ở đây Lý do vì sao nó mang tính kháiquát là phần gỗ bị che khuất bởi đốc tờng

ở bộ phận kẻ (bẩy) nâng đỡ kèo mái, thân kẻ đợc chạm cảnh rồngmây, con rồng đợc tạo trong t thế vơn cao đầu, thân ẩn trong các dây hoa

Nhằm đảm bảo tính chắc chắn cho khung nhà, phần hạ nhà trung

điện đợc cấu tạo thành nhiều phần, mỗi phần có một tác dụng nhất định.Phần cung nhà đợc chia thành 3 mảng: “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”mảng dới gồm các trụ đỡ tròn, kêtrên các đầu chạm nổi cánh hoa sen, nằm giữa hai trụ là một mảng ván khắcchữ "phúc" lồng trong vòng tròn; mảng giữa gồm hai trụ thấp liên kết vớihai con rờng ôm chặt một mảng ván chạm nổi một đầu rồng cách điệu;mảng trên cùng có hai trụ thấp hơn, liên kết với một con rờng nâng đỡ một

Trang 37

ờng chồng lên đờng hạ Mảng th ba là các con rờng nằm trên các trụ Mảngthứ t chồng lên con rờng của mảng thứ ba.

Tại các mảng chạm, các nghệ nhân xa đã trình bày những nét điêukhắc khác nhau

Mảng chính chạm khắc đôi rồng chầu mặt nguyệt Rồng trong t thếtrờn trong mây Miệng rồng há to, hai mắt lồi… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất

Mảng thứ hai không chạm khắc hình ảnh rồng mà chạm nổi hình dâyhoa, cả mảng ván nằm trong hai trụ chạm nổi chữ "lộc" cách điệu

Mảng thứ ba đợc chạm khắc hình tợng trong tứ linh đó là con chimphợng Hình ảnh con chim phợng, đợc chạm khắc trong t thế hai cánh dangrộng, đầu ngẩng cao, hớng ra cửa đền, vì nét chạm sâu, thoáng, tỷ lệ giữathân, cánh, đầu cân xứng nên hình ảnh con chim phợng đang sải cánh bayxa

Mảng thứ t tiếp tục bằng đề tài quen thộc là hình ảnh một con rồng

đ-ợc chạm nổi oai phong dữ tợn Hai chân rồng bám chặt vào con rờng Mắtrồng nhìn thẳng cửa ra vào

Nh vậy, đề tài trang trí của nhà trung điện là những đề tài truyềnthống Điều đó làm cho nhà trung điện thêm cổ kính và tôn nghiêm

Nhà trung điện không lớn nhng kết cấu vững chắc, các vì kèo, đấu,

kẻ, đờng xà … là một bộ phận của di sản văn hoá vật chất ợc trang trí hài hoà tinh xảo đã trở thành một công trình đkiến trúc chắc khoẻ

Bài trí nội thất:

Do kiến trúc của đền Quả Sơn xây dợng theo hình chữ “thành đồng, ao nóng và là then khóa của các triều đại”công” nênnhà trung điện đợc đặt dọc, lòng nhà không rộng nên bàn thờ và đồ thờ đợcbài trí ở giữa, hai bên để trống tạo ra hai lối đi

Bàn thờ nhà trung điện đợc chế tạo đơn giản và có kích thớc không

đều nhau Bàn thờ phía trớc thấp hơn bàn thờ phía sau Tất cả có 3 bàn thờ.Các bàn thờ đều bày mâm chè, l hơng, cọc nến… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chấtvà những đồ trờ đó đợclàm bằng gỗ, sơn son Bàn thờ phía trứơc dùng để bày biện các lễ vật

Nằm ben phải và trái bàn thờ là 2 giá bát bửu, nơi cắm các loại binhkhí nh côn, kiếm, đao, chuỳ, mâu, kích… là một bộ phận của di sản văn hoá vật chấtLoại đồ thờ này đợc chế tạo bằng

gỗ, phần thân đợc chạm khắc tỉ mỉ, sơn thiếp nên có kiểu dáng khá đẹp

Nhà trung điện cũng đợc trang trí bằng những bức đại tự và câu đối.Các bức đại tự và câu đối này có nội dung nói về công lao của Lý NhậtQuang và sự linh thiêng của ngài

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ninh Viết Giao, Địa chí văn hóa Quỳnh Lu, NXB Nghệ An, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa Quỳnh Lu
Nhà XB: NXB Nghệ An
3. Ninh Viết Giao, Nam Đàn “ Quê hơng Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn “ Quê hơng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXBNghệ Tĩnh
4. Ninh Viết Giao, Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, NXB Nghệ An, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
5. Vũ Ngọc Khánh, Đền miếu Việt Nam, NXB Thanh niên, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền miếu Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh niên
6. Nghệ An cổ tích lục (A.1993. Th viện Bác cổ – bản đánh máy lu ở Th viện Nghệ An) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An cổ tích lục
7. Quang Lê, Bớc đầu tìm hiểu di tích đình Hoành Sơn ( bản chép tay l- u ở Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc đầu tìm hiểu di tích đình Hoành Sơn
8. Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử ký toàn th, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nôi 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
9. Lịch sử Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ Tĩnh, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
10. Lý lịch di tích đền Quả Sơn (Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đền Quả Sơn
11. Lý lịch di tích đền Vu (Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đền Vu
12. Lý lịch di tích đình Hoành Sơn (Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đình Hoành Sơn
13. Ngô Thì Sỹ, Đại Việt sử ký tiền biên, NXB Khoa học – Xãhội, Hà Néi 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký tiền biên
Nhà XB: NXB Khoa học – Xãhội
14. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
15. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cơng mục, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Việt sử thông giám cơng mục
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Trần Thanh Tâm, Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam, NXB Nghệ Tĩnh, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
17. Lê Tắc, An Nam chí lợc, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Nam chí lợc
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
18. Bùi Thiết, Du lịch Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ An
19. Trần Mạnh Thờng, Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
20. Viện sử học – UBND huyện Đô Lơng, Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang với Nghệ An, NXB Nghệ An,2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang với Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
21. Việt sử lợc, NXB Thuận Hóa – Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử lợc
Nhà XB: NXB Thuận Hóa – Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w