Vì vậy khi nhắc đến đại danh Thiệu Hóangười ta không chỉ biết đến nơi đây là một vùng đất cổ có lịch sử phát triểnlâu đời, có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa mà còn là vùng đất “địa
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thiệu Hóa, vùng đất cổ, một địa danh nổi tiếng của Thanh Hóa nóiriêng và Việt Nam nói chung Thiệu Hóa, có sông Chu- núi Đọ, nơi cáchđây khoảng 30- 40 vạn năm đã có con người cư trú, đồng thời đây cũng làđịa bàn sinh sống lâu đời của cư dân Việt cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển cùng với lịch sử quốcgia dân tộc, bằng đấu tranh, lao động và sáng tạo, con người nơi đây đãphải đổ mồ hôi công sức kể cả xương máu và nước mắt để tạo dựng nênmảnh đất không ít kì tích này Vì vậy khi nhắc đến đại danh Thiệu Hóangười ta không chỉ biết đến nơi đây là một vùng đất cổ có lịch sử phát triểnlâu đời, có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa mà còn là vùng đất “địa linhnhân kiệt”, nơi đã sản sinh ra biết bao anh hùng, danh nhân văn hóa củadân tộc, tiêu biểu như: Dương Đình Nghệ, Đinh Lễ, Lê Văn Hưu, NguyễnQuán Nho, …
Trên nền bức tranh lịch sử đầy biến động, hòa cùng với sự phongphú cả về đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây, thì nhữngcông trình kiến trúc như đình, đền, chùa, … là không thể thiếu được.Những công trình này không chỉ được các triều đại phong kiến suy tôn màngay cả trong thôn cùng ngõ hẻm, từng người dân đều muốn được lập lên
để thờ phụng để đáp ứng nhu cầu trong đời sống tâm linh của mình
Các di tích lịch sử và văn hóa như: đền, đình, chùa, miếu, … là mộtphần nhỏ trong di sản văn hóa do nhân dân sáng tạo ra, là biểu hiện sinhđộng trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, quá khứ và tươnglai Đó không chỉ là những “pho sử lộ thiên” các công trình kiến trúc nàycòn hội tụ trong mình tất cả các giá trị văn hóa nghệ thuật, kinh tế du lich,
Trang 2văn hóa tâm linh và cố kết cộng đồng Bởi vậy, chúng ta- những thế hệ trựctiếp được thừa hưởng những giá trị đó cần phải có những hiểu biết về sựtồn tại cũng như vị trị, ý nghĩa của các công trình kiến trúc này để bên cạnh
sự tôn kính, tự hào còn phải ý thức được trách nhiệm khi đứng trước mộtngôi đền, ngôi đình, hay một ngôi chùa
Huyện Thiệu Hoá là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và vănhoá hàng ngàn năm Trong khoảng thời gian ấy, có biết bao đổi thay thăngtrầm của thời cuộc cho nên thật khó để xác định có bao nhiêu ngôi đền,đình, chùa… đã được xây dựng và từng tồn tại Nếu mỗi ngôi đình, đền,chùa,… này đều có một bản ghi thuật tóm tắt để giới thiệu về mặt niên đại
và sự kiện liên quan đến việc hưng tạo, trùng tu, đặc điểm kiến trúc, điêukhắc, hành trạng sự tích của các đối tượng được thờ cúng, tiểu sử các vị sưtrụ trì cùng với những lễ hội, lễ tục, truyền thuyết, phong tục dân gian liênquan, thì điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho những người làm công tácquản lý di tích, mặt khác cũng đáp ứng được nhu cầu của những ngườiquan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu các di tích lịch sử- văn hoá ở địa phương
Từ những lí do như trên tôi đã quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu một
số di tích lịch sử- văn hóa ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa” làm khóaluận tốt nghiệp đại học, với mong muốn tìm hiểu thêm về vùng đất “địalinh nhân kiệt” này cũng như nguồn gốc hình thành, kiến trúc và lễ hội ởmột số di tích lịch sử- văn hóa ở trên địa bàn huyện nhà
Trang 3khái quát về văn hoá truyền thống của huyện Thiệu Hoá trên nhiều lĩnhvực.
Trong tác phẩm “Tể tướng Vãn Hà ’’, NXB Thanh Hoá, năm 1995,
tác giả Lê Bá Chức đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ về cuộc đời, sựnghiệp của nhân vật Nguyễn Quán Nho cũng như những nét khái quát banđầu về đền thờ và lăng mộ của ông
Trong cuốn “Thanh Hoá di tích và danh thắng’’ (Tập 3), NXB
Thanh Hoá, năm 2004, đã đề cập đến qui mô, kiến trúc của chùa Vồm
Bên cạnh những tác phẩm kể trên, những di tích lịch sử- văn hoá ởhuyện Thiệu Hoá còn được đề cập tản mạn trong một số công trình nghiêncứu khác và trong các bài viết ở tạp chí, bài viết tay của nhiều người làmcông tác quản lý di tích lịch sử- văn hoá ở các xã, Thị trấn trên địa bànhuyện
Tuy nhiên những tác phẩm trên mới chỉ đề cập đến một phần của di
tích, như cuốn “Khảo sát văn hoá truyền thống Thiệu Hoá’’ phần lớn đi
vào sưu tầm các giá trị văn hoá dân gian (truyện kể, phương ngôn, tục ngữ,
ca dao, trò diễn…), hay cuốn “Tể tướng Vãn Hà” chỉ mới đề cập đến thân
thế, cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật Nguyễn Quán Nho và đôi nét khái
quát về đền thờ, lăng mộ của ông và cuốn “Thanh hoá di tích danh thắng” cũng chỉ mới đề cập đến quy mô, kiến trúc của chùa Vồm Riêng về
ngôi đình Thanh Dương mới chỉ có một số nhà làm công tác quản lý di tíchvăn hoá ở thôn, xã đề cập một cách sơ sài Mặc dù vậy, những tư liệunghiên cứu này đã giúp tôi tiếp cận và là cơ sở để giải quyết những vấn đề
mà đề tài đặt ra
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài “Tìm hiểu một số di tích lịch sử- văn hoá ở huyện ThiệuHoá, tỉnh Thanh Hoá”, nhằm trình bày một cách có hệ thống về chùa Vồm,đền thờ và lăng mộ Nguyễn Quán Nho, đình làng Thanh Dương để phầnnào hiểu hơn vùng đất và con người Thiệu Hoá
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu trên của đề tài, khoá luận trước tiên đề cập khái quátđiều kiện tự nhiên, dân cư, truyền thống lịch sử- văn hoá của huyện ThiệuHoá Trọng tâm nghiên cứu của khoá luận tìm hiểu về nguồn gốc xây dựng,nhân vật được thờ tự, nghệ thuật kiến trúc điêu khắc, hệ thống thờ tự, cáchoạt động lễ hội của chùa vồm, đền thờ và lăng mộ Nguyễn Quán Nho,đình làng Thanh Dương, qua đó để thấy được giá trị của các di tích lịch sử-văn hóa này cũng như công tác bảo vệ, trùng tu, tôn tạo của chính quyềncác cấp
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1.Tài liệu nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu nhiềutài liệu có liên quan cùng với thực tế điền dã nhằm tiếp cận các di tích cũngnhư thu tập nguồn tư liệu từ trong dân gian, qua đó để đối chiếu với cácnguồn tài liệu đã có, mặt khác để tìm hiểu thêm những đặc điểm mới của ditích
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp chung là phương pháp duy vật lịch sử, để hoànthành đề tài này tôi còn kết hợp với nhiều phương pháp khác như: điền dãthực tế, tổng hợp, thống kê, so sánh lịch sử, phương pháp liên ngành
Trang 55 Đóng góp của đề tài
Từ trước đến nay vấn đề tìn hiểu các di tích ở Thiệu Hóa chưa đượcnghiên cứu một cách có hệ thống Do vậy tôi chọn đề tài này với mongmuốn đóng góp một số ý chính sau:
- Bước đầu trên sơ sở nguồn tài liệu thu thập được, xử lý và trình bày
có hệ thống góp phần phục dựng lại bức tranh toàn cảnh về các di tích lịchsư- văn hóa ở Thiệu Hóa nói chung và của chùa Vồm, đền thờ và lăng mộNguyễn Quán Nho, đình làng Thanh Dương
- Nêu bật giá trị cũng như hiện trạng và mạnh dạn đề suất một số ýkiến về công tác bảo vệ, trùng tu, tôn tạo và phát huy các giá trị của di tíchlịch sử- văn hóa ở Thiệu Hóa
- Hi vọng khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ hiệu quả choviệc tìm hiểu, bảo vệ các di tích lịch sử- văn hóa ở Thiệu Hóa cũng nhưcông tác giảng dạy về lịch sử địa phương
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của khóa luận được trình bày qua ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về huyện Thiệu Hóa- Thanh Hóa
Chương 2: Một số di tích lịch, sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa- ThanhHóa
Chương 3: Lễ hội truyền thống và các giá trị văn hóa
Trang 6B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN THIỆU HÓA- THANH HÓA
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Đối sánh trên bản đồ huyện Thiệu Hoá đương đại và sử cũ còn lưulại, thì vùng đất Thiệu Hóa ngày nay vốn là thổ địa của huyện ThụyNguyên thuộc phủ Thiệu Hóa xưa kia Thụy Nguyên trước kia vốn là vùngđất có vị trí “ Đông Tây cách nhau 89 dặm, Nam Bắc cách nhau 114 dặm,phía Đông đến địa giới huyện Hoằng Hóa 14 dặm, phía Tây đến địa giớichâu Lang Chánh 75 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Lôi Dương vàĐông Sơn 1 dặm, phía Bắc đến địa giới huyện Yên Định 9 dặm” [18; 250]
Trong Địa chí Thanh Hóa “ Thiệu Hóa được xác định có vị trí địa lýnằm dọc theo tỉnh lộ 22 từ tỉnh lỵ qua cầu Thiệu Hóa đến Thị trấn Vạn Hà
là huyện lỵ Thiệu Hóa, cách tỉnh lỵ khoảng 18 km Địa phận huyện ThiệuHóa trải dọc hai triền sông Chu từ giáp huyện Thọ Xuân tới giáp Ngã BaĐầu (Thiệu Dương) dài trên 20 km, triền sông với những bãi ngô, dâu …màu mỡ” [23; 428]
Trên thực tế Thiệu Hóa là một huyện nằm ở trung tâm các huyệnđồng bằng của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc tiếp giáp với huyện Yên Định,phía Tây giáp với hai huyện Triệu Sơn và Thọ Xuân, phía Đông giáp huyệnHoằng Hóa và thành phố Thanh Hóa Vị trí thuận lợi như vậy sẽ tạo điềukiện cho Thiệu Hóa phát triển và giao lưu kinh tế- văn hóa với các vùng lâncận trong tỉnh Thanh Hóa
Trang 71.1.2 Địa hình
Đối với quá trình định cư lâu dài của con người thì địa hình, đất đai
là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự ổn định và pháttriển của mọi cộng đồng dân cư
Thiệu Hóa có địa hình tương đối bằng phẳng, không quá phức tạp,đại đa số các xã đều là đồng bằng, ít hoặc không có đồi núi Là một bộphận của đồng bằng Thanh Hóa, đồng bằng Thiệu Hóa được cấu tạo bởiphù sa hiện đại trải dài trên bề rộng nghiêng dần về phía Đông Nam, các rìaphía Bắc và Tây Bắc là các dải đất cao từ 8m tới 15m được cấu tạo bằngphù sa cổ
Trong cái bằng phẳng như rất nhiều khu vực xung quanh ta còn bắtgặp những khoảng đồi núi sót như núi Bằng Trình (còn gọi là núi Vồm-Thiệu Khánh), núi Đọ (còn gọi là núi Tràn- Thiệu Vân), núi Nuông (còngọi là núi Khuyển Ngọa Sơn- núi chó nằm), núi Là (Thiệu Tiến), núi Mấu(hai ngọn núi đá gần nhau thuộc Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Thành,Thiệu Tiến) hầu hết đều có độ cao trung bình từ 150 tới 200m được cấu tạo
từ đá phun trào, đá vôi, cát kết và đá phiến
Sự xuất hiện của đồi núi cùng địa hình dốc nghiêng đã tạo ra sựthuận lợi trong các việc xây dựng những công trình thủy nông tự chảy hoặclàm cho nước tự tiêu rút
Bên cạnh đó, do quá trình hình thành phải trải qua thời gian dài nânglên hoặc lún xuống, phù sa sông Mã và sông Chu không bồi đắp lập nên địahình Thiệu Hóa có cả những vùng thấp, trũng Trải qua hàng ngàn nămnhân dân Thiệu Hóa đã bỏ ra biết bao công sức để tạo nên hàng trăm km đêđại hà, đê quai, đê con trạch dọc theo các triền sông, hệ thống đê này đãhạn chế phần nào tác hại do lũ lụt gây ra, nhưng nó cũng đã góp phần ngăn
Trang 8cản quá trình bồi tụ phù sa cho các vùng thấp trũng, để đến nay vẫn còn tới
3000 ha đất trũng thấp dễ bị mất trắng trước mưa bão thuộc các xã ThiệuDuy, Thiệu Thịnh, Thiệu Hợp, Thiệu Quang, Thiệu Giang, Thiệu Nguyên
và một số vùng cục bộ rải rác ở các xã hữu ngạn sông Chu, xấp xỉ 100 ha.[1; 22- 23]
Trừ một vài khu vực ở Thiệu Hợp và Thiệu Khánh, khi con sôngChu chỉ còn 3 km nữa thì gặp sông Mã, đã phải chảy xuyên qua một khối
đá vôi biến tính cnf ở nhiều khu vực khác các sông Mã, sông Chu, sôngCầu Chày đổi dòng liên tục, để lại nhiều đoạn sông chết ngoèo lâu dầnthành các hồ bán nguyệt hoặc vành khăn Ở phía ngoài đê nhiều dãy phù samàu mỡ được bồi đắp, có khi còn nhô cao hơn cả đất ở phía nội đồng, chỉ
bị ngập lụt khi có lũ lớn
Mặc dù còn nhiều bất cập như: địa hình có độ dốc cao lại bị chia cắtbởi các đồi núi thấp, sông ngòi…nhưng nhìn chung mặt bằng của huyệnThiệu Hóa mang tính đồng nhất, là một vùng đồng bằng thuận lợi cho việchình thành các vùng chuyên canh cây lúa có diện tích tương đối lớn củatỉnh Thanh
1.1.3 Đất đai
Thiệu Hóa là huyện đồng bằng có đủ các loại đất như phù sa cổ, phù
sa mới bồi đắp, đất cát, đất sét Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh người tachia chúng làm 2 hệ chính:
- Đất phù sa hình thành trên trầm tích không bồi tụ hằng năm
- Đất feralit phát triển trên địa hình đồi núi
Theo số liệu thống kê hiện nay, “tổng quỹ đất toàn huyện quản lý sửdụng là 17547,52 ha, trong đó đã sử dụng 14842,83 ha bằng 84,6% tổngdiện tích tự nhiên toàn huyện Diện tích đất chưa sử dụng là 2704,64 ha,
Trang 9bằng 15,4% tổng diện tích tự nhiên Diện tích sông suối chiếm 1702,84 habằng 10% diện tích tự nhiên” [19; 1]
Trong số diện tích đất đã được đưa vào sử dụng được phân thành cácnhóm, cụ thể như sau:
Đất nông nghiệp 11045,06 ha chiếm 62,94% tổng diện tích đất tựnhiên
Đất lâm nghiệp 130,70 ha chiếm 0,75% diện tích đất tự nhiên
Đất chuyên dùng 2644,28 ha chiếm 15.4% diện tích đất tự nhiên
Đất ở 968,73 ha chiếm 5,6% ha điện tích đất tự nhiên.[19; 1]
Tóm lại đất đai của huyện Thiệu Hóa chủ yếu là nhóm đất phù sa cóđặc tính lý hóa tốt, phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loàicây trồng đặc biệt là cây lúa và cây hoa màu- Thiệu Hóa là vựa lúa số 1, số
2 của xứ Thanh
1.1.4 Khí hậu
Huyện thiệu hóa nằm ở vùng khí hậu đồng bằng, theo phân vùng củakhí hậu tỉnh Thanh Hóa, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa có nền nhiệt caovới hai mùa chính: mùa hè và mùa lạnh
Mùa hè: khí hậu nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng bắtđầu từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch Mùa này khí hậu có bốn hiện tượng đanxen nhau và sự mạnh yếu của từng thời kỳ khác nhau đó gió lào- nóng, hạnhán, giông bão và lụt lội
Nhiệt độ trung bình mùa nóng thường là 280C, ngày nóng lên tới
350C đến 370C Vào những ngày này buổi chiều thường có gió Tây, gióxoáy và mang theo mưa rào giúp cho vụ chiêm phát triển Thời kỳ gió Tâyxuất hiện từ tháng 3 âm lịch đến tháng 5 chậm nhất là đầu tháng 6 Cùngthời gian này thường xuất hiện gió Tây Nam nhiệt độ lên tới 380C – 390C.Tổng số giờ nắng trong năm là 1658 giờ, tháng có số giờ nắng nhiều nhất là
Trang 10tháng 7 (217 giờ) tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng 2 (49giờ), số ngàytrung bình không có nắng trong năm là 83,5 ngày, cơ bản có lợi cho vậtnuôi và cây trồng nhưng thiên tai nhất là bão lụt và khô hạn luôn là mối đêdọa đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống con người Chỉ cần cólượng mưa từ 200- 300mm là đủ gây úng lụt cho 1/3 diện tích toàn huyện
Mùa lạnh: bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau Đầu mùa có cáctrận gió mùa Đông Bắcc xuất hiện nên thường kèm theo các trận mưa togió lớn, vào tháng 10 có gió lạnh heo khô Nhiệt độ trung bình trên dưới
16oC vào mùa rét nhiệt độ mới giảm thấp có khi khoảng 70C- 80C trongnhững đợt rét đậm, vẫn xuất hiện các ngày nắng ấm
Nhận xét khí hậu của khu vực, “ Đại Nam nhất thống chí” đã viếtnhư sau: “ Tháng giêng và tháng hai, gió Đông Bắc, khí trời hơi lạnh; tháng
3 và tháng 4 gió Đông Nam, khí nóng bắt đầu riêng tháng 5 và tháng 6, giónồm thổi mạnh, phần nhiều nóng nực, tháng 7 và tháng 8 thường có gióTây Nam; thỉnh thoảng mưa rào hoặc mưa lũ, hoặc có bão lớn; khoảng thusang đông, sau khi sấm chớp thường có gió lạnh hoặc mưa dầm, lại hay cóbão nhỏ (tục ngữ nói: “Tháng chín bão rươi, tháng mười bão cá” ), tháng
11 và 12 gió bắc, trời rét; cuối tiết đại hàn, khí trời đã sang xuân, sấm bắtđầu dậy” [18; 242]
1.1.5 Sông ngòi
Thiệu Hóa là một trong những huyện ở xứ Thanh có hệ thống sôngngòi phong phú và đa dạng bao gồm cả sông tự nhiên và sông nhân tạo(sông đào ) Lớn nhất là sông Mã và sông Chu, đây là hai con sông đóngvai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của cư dân ThanhHóa nói chung và Thiệu Hóa nói riêng
Sông Mã hay còn gọi là sông Tất Mã hoặc sông Lễ, phát nguyên từvùng Tây Bắc có chiều dài 522 km, trong đó có 245 km chạy qua Thanh
Trang 11Hóa Sông vượt qua nhiều vùng rừng núi có địa hình phức tạp, nguồn nướcnhiều, tốc độ dòng chảy cao, diện tích lưu vực tới 9000km2 Khi vào tới địabàn Thiệu Hóa, sông Mã chảy trên một dạng địa hình mặt bằng chiếm ưuthế, độ cao tương đối không lớn, độ chia cắt rất yếu vì điều kiện cơ bản làđịa hình Thiệu Hóa vốn là một bình nguyên cũ mới được nâng lên Thêmvào đó là lượng mưa ở đây giảm đi nhiều so vớii vùng thượng lưu Hai đặcđiểm này khiến cho mạng lưới sông ngòi kém phát triển tại lưu vực sôngMã.
Sông Chu là con sông lớn thứ hai của xứ Thanh, bắt nguồn từ SầmNưa (Lào) ở độ cao 1000m, chảy vào Thanh Hóa ở huyện Thường Xuân,chảy qua các huyện Thọ xuân, Thiệu Hóa rồi nhập vào sông Mã ở Ngã BaĐầu (làng Giàng, xã Thiệu Khánh) Diện tích lưu vực cũng tới 3000km2 vàmật độ sông suối cũng tăng hơn nhờ băng qua khu vực mưa nhiều Lượngnước sông Chu chiếm khoảng 1/4 nước sông Mã Nước lũ trên sông Chucũng xảy ra khá mạnh Trên các phụ lưu chính nơi điạ hình mới được nângcao, mưa nhiều và chảy trên những vùng phiến Nam, ít thấm nước Vì vậy
đê sông Chu bắt đầu từ phía trên Thọ Xuân nhưng chỉ đắp bên hữu ngạn
Từ Thọ Xuân trở xuống, đê đắp cả hai bên
Sông Mã và sông Chu đã tạo nên vùng châu thổ và bãi bồi ven sôngrộng lớn, tạo ra vùng sản xuát nông nghiệp chủ yếu ở địa phương
Con sông quan trọng thứ 3 của vùng là sông Cầu Chày dài 87,5 km,tuy là con sông nhỏ nhưng trong quá trình vận động của mình, sông CầuChầy cũng làm tròn sứ mệnh khi cung cấp một lượng phù sa nhỏ cho vùngđất của nhiều xã phía tả ngạn sông Chu huyện Thiệu Hóa Là một sông nhỏ
ở đồng bằng nhưng vì nằm ở trung tâm mưa lớn gần Lang Chánh nên lũ rấtmạnh Trong khi đó lòng sông lại hẹp, cửa sông bị nước sông Mã ứ đọng
Trang 12cho nên dễ sinh ra úng lụt, sông Cầu Chày xưa nổi tiếng là có nhiều chướngkhí nên dân gian có câu:
“ Cầu Chày chó lội đứt đuôiNgựa lội đứt vó trôi xuôi Vực Vàng”
Trên địa phận Thiệu Hóa còn có hai sông nhỏ nữa đó là sông Dừabắt nguồn từ Như Xuân chảy dọc phía nam của huyện Thiệu Hóa và sôngMậu Khê xuất phát từ núi Vạc (Thiệu Ngọc ), chảy qua cầu Kịt (ThiệuLong ) đổ vào sông Chu ở cống Chấn Long (còn gọi là cống Nạp- ThiệuHợp) Nước của các sông này đều có độ khoáng nhỏ, hàm lượng hữu cơthấp, nghèo phù sa, ít biến đổi theo thời gian Tuy nhiên, đó lại là những tàisản vô cùng quý giá, làm thỏa mãn về nước sinh hoạt và đáp ứng những đòihỏi về tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh đó ở Thiệu Hóa còn có cả hệ thống sông Đào: “Năm 1983khi vua Lê Đại Hành đi đánh nước Chiêm qua núi Đồng Cổ đến sông BàHòa, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng
to khó đi lại, mới sai người đào đường kênh, đến đáy sông, thuyền bè đi lạiđều được thuận lợi” [13; 169] Do vậy, con sông đào này được gọi luôn làcon sông nhà Lê, khởi thủy từ thôn Đồng Cổ (Thuộc làng Đan Nê, xã YênThọ, huyện Yên Định ngày nay) Ngoài sông Đào nhà Lê đã đi vào truyềnthuyết, ở Thiệu Hóa còn có dòng Nông Giang, bắt nguồn từ đập BáiThượng (Thực dân Pháp đào vào những năm đầu thế kỷ XXI), chảy quanhiều làng xã trong huyện làm cho đời sống kinh tế văn hóa của người dânnơi đây thật sự đổi thay
Có thể nói rằng ngay từ rất sớm thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đấtThiệu Hóa một mạng lưới sông ngòi phân bố hầu khắp các xã trong huyện.Cùng với hệ thống sông Đào, các sông ngòi tự nhiên ở Thiệu hoá không chỉtạo thành một mạng lưới giao thông đường thuỷ thuận lợi từ Bắc vào Nam
Trang 13mà còn tác động rất lớn đối với việc định cư lâu dài của con người nơi đây,cũng như giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với các vùng lân cận.
1.2.Đặc điểm dân cư
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng đất Thiệu Hoá đã sớm có conngười tới sinh sống Lưu vực sông Mã, sông Chu và các dải núi sót phân bố
ở đôi bờ con sông từ thời đá cũ đã có con người tới cư trú Dấu vết củaNgười vượn cũng như những công cụ của họ đã tìm thấy ở Núi Đọ (ThiệuTân), núi Nuông (làng Tiên Nông, xã Thiệu Long) Theo sách “Đại cươnglịch sử Việt Nam” có viết: “Ở một số địa phương trên lãnh thổ Việt Namnhư Núi Đọ (Thanh Hoá), Xuân Lộc (Đồng Nai), An Lộc (Bình Phước),các nhà khảo cổ học đã phát hiện được nhiều công cụ đá ghè đẽo rất thô sơgiống với công cụ đá thời đại sơ kỳ đá cũ…Ở núi Quan Yên, núi Nuông(Thanh Hoá), Xuân Lộc, An Lộc cũng tìm thấy những công cụ giống như ởnúi Đọ Những công cụ nói trên có khả năng là của Người vượn”.[21; 14]
Người nguyên thuỷ ở Núi Đọ đã dùng đá ghè đẽo thành các công cụgần hình riù, tách các mảnh tước để dùng trong việc cắt gọt và các hạch đá,các công cụ chặt thô Họ sống chủ yếu bằng hái lượm và săn bắt Hàngngày từng bầy người tụ tập với nhau đi nhặt ốc ven sông Chu, hái quả vàđào củ trong núi rừng xung quanh Cuộc sống của họ cứ thế trải qua hàngvạn năm, cứ sinh sôi nảy nở và sáng tạo
Bước vào thời đại đồng thau, ven đôi bờ sông Mã, sông Chu lớp cưdân Cồn Chân Tiên nằm sát chân phía Đông Nam núi Đọ đã trở thành cốtlõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cửu Chân trong nhà nước Văn Lang(từ khoảng thế kỷ VII Trước CN)
Từ văn hoá Cồn Chân Tiên, người dân Thiệu Hoá đã bước vào nềnvăn hoá Đông Sơn với các chứng tích tìm thấy ở Thiệu Dương Tại đâyngoài rìu đồng được con người sử dụng để khai phá đất đai, đã có thêm
Trang 14những công cụ bằng đồng, bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi liềm, vai, thuổng vàđặc biệt là lưỡi cày cánh bướm Tại Thiệu Dương trong một đợt khai quật
đã thu được 11 lưỡi cày loại này cùng với nhiều xương và đầu trâu, haichiếc liềm đồng Những công cụ bằng đồng và nguồn sức kéo trên chophép họ mở rộng diện tích trồng trọt trên quy mô lớn, làm cho nông nghiệp
có bước phát triển mới
Kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước buộc con người phải có cuộcsống định cư, từ đó mà các làng bản mọc lên ở những bình nguyên do sông
Mã, sông Chu bồi tụ, ở Thiệu Hoá có không ít làng trước kia có tên bắt đầubằng danh từ “Kẻ’’ cổ xưa (tên gọi có từ thời Văn Lang- Âu Lạc); Kẻ Rị(nay là làng Trà Đông, xã Thiệu Trung), Kẻ Vồm (nay là làng Đại Khánh,
xã Thiệu Khánh), Kẻ Ràng ( nay là làng Dương Xá, xã Thiệu Dương), KẻTrịnh (xã Thiệu Giao)…
Chính từ hạt nhân Cồn Chân Tiên và sau đó là Thiệu Dương đã tạonên sự hình thành đô thị Tư Phố với những hoạt động buôn bán sôi nổi, đầumối giao thông thuỷ bộ của cả vùng từ năm 111 Tr.CN Tư Phố ngự trịgiữa ngã ba sông Mã- sông Chu đã trở thành đầu mối gắn kết các tụ điểmdân cư Thiệu Dương, Đông Sơn, núi Nấp, núi Sói (xã Hoằng Lý, huyệnHoằng Hoá)
Cho đến thời Lý- Trần- Hồ, nhiều dòng cư dân ở vùng Bắc Bộ đã di
cư vào sinh cơ lập nghiệp ở địa phương Thái sư Lê Văn Thịnh- ngườiĐông Cửu, Gia Bình (nay thuộc Gia Lương- Bắc Ninh) được đưa vào “antrí” ở Phủ Lý (Thiệu Trung) đã hình thành dòng họ Lê ở đây với các têntuổi Lê Văn Hưu, Lê Quát, Lê Giốc ,…
Trải qua bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử, bao lần di cư, chuyển
cư, trên địa bàn Thiệu Hoá đã có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong các làngxóm Đông hơn cả là họ Lê, họ Nguyễn, họ Trịnh, họ Hoàng cùng với các
Trang 15họ khác (Bùi, Phan, Phạm, Dương, Đào, Minh, Đỗ, Ngô, Tạ, Mai), …hàngngàn năm qua đã chung lưng đấu cật trên mảnh đất này để xây dựng nênbao xóm làng đông đúc, trù phú.
Sau nhiều lần xê dịch vị trí, địa giới, thay đổi tên gọi, đến giữa năm
1999, toàn huyện Thiệu Hoá có 193.000 nhân khẩu, với 44.909 hộ, mật độdân số trung bình là 1.143 người thuộc loại cao nhất tỉnh Thanh Hoá Cótới 85% số hộ sống bằng nghề nông, còn lại hoạt động trong các lĩnh vựckhác như thuỷ sản, dịch vụ, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp
và các ngành nghề khác Bên cạnh một số xã dưới 1000 hộ như Thiệu Tân(687 hộ), Thiệu Minh (872 hộ), Thiệu Thịnh (922 hộ), cũng có nhiều xãtrên 2000 hộ như Thiệu Dương (2057 hộ), Thiệu Giao (2153 hộ), đây cũng
là những xã đông dân nhất (Thiệu Dương 9.135 người, Thiệu Giao 9776người).[1;30]
Cho đến năm 2004, tổng số nhân khẩu của cả huyện Thiệu Hoá là193.454 người, với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên là 0,64% (năm 1997 là1,23%),dân số nông thôn chiếm 96,4%, thành thị chiếm 3,6%; sự phân bốdân cư khá đều đặn trên toàn huyện nằm dọc theo hai bờ tả và hữu sôngChu, hình thành sáu cụm kinh tế thuận lợi cho việc chỉ đạo phát triển kinh
tế, xã hội của huyện
Cũng theo số liệu năm 2004, tổng số lao động của huyện Thiệu Hoá
là 97.083 người chiếm 49,64% dân số toàn huyện, trong đó: lao động trongnông- lâm- ngư nghiệp 70.868 người chiếm 72,9%; lao động trong côngnghiệp và xây dựng 13.300 người chiếm 13,9%; lao động trong khối dịch
vụ 7.630 người chiếm 7,8%; lao động khác 5.085 người chiếm 5,4%.[19;2]
Dân số đông, số người trong độ tuổi lao động cao là thử thách lớntrong việc thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình, cũng như giải quyết vấn
đề việc làm, an sinh xã hội Tuy nhiên đây cũng chính là nguồn nhân lực
Trang 16dồi dào, đóng vai trò quyết định trong các chiến lựơc phát triển kinh tế- xãhội của cả huyện.
1.3 Truyền thống lịch sử- văn hoá.
1.3.1 Truyền thống lịch sử
1.3.1.1 Lịch sử hình thành huyện Thiệu Hóa
Thiệu Hoá ngày nay thuộc vùng đất của người Việt cổ cư trú từ thủa
xa xưa, trước công nguyên nằm trong hai huyện Quận Ninh và Tư Phố.Dấu vết thành Tư Phố hiện còn ở làng Giàng (nay là làng Dương Xá – xãThiệu Dương)
Sau thời Lý- Trần, các huyện trên đổi tên là Lương Giang và CửuChân
Đến thời Lê sơ được thay thế bằng tên mới là Thuỵ Nguyên và ĐôngSơn Vua Lê Thánh Tông lên ngôi (1460 - 1497) định lại bản đồ cho huyện
lỵ vào phủ Thiệu Thiên lấy tên Lương Giang Thời Lê Hy Mục 1509) đổi tên là Thuỵ Nguyên, lỵ sở đặt tại làng Yên Cảng, nay là xã PhúYên huyện Thọ Xuân
(1505-Đến thời Nguyễn, dưới triều vua Gia Long (1802 - 1819) huyện lỵdời về làng Mật (nay là xã Thiệu Phúc), sau đó lại dời về làng Bằng Trình (nay là xã Thiệu Hợp) Thời vua Minh Mạng (1820 - 1841) lỵ sở dời về làngKiến Trung (nay là Thị trấn Vạn Hà) Cũng từ thời Gia Long, năm 1815phủ Thiệu Thiên đổi tên là phủ Thiệu Hoá (tên Thiệu Hoá có từ đây) PhủThiệu Hoá bấy giờ kiêm nhiếp 8 huyện: Quảng Bằng, Thạch Thành, ThuỵNguyên, Yên Định, Lôi Dương, Vĩnh Lộc, Đông Sơn, Cẩm Thuỷ Từ 44
xã, 13 thôn, 17 trang, 1 sở, 6 trại, 13 phường thời Lê, đến đây huyện ThuỵNguyên có 8 tổng: Phùng Cầu, Mật Vật, Phù Chẩn, Thử Cốc, Phú Hà, YênTrường, Quảng Thi, Ngọc Lặc
Trang 17Năm 1900 dưới thời vua Thành Thái đã cắt tổng Ngọc Lặc, YênTrường, Quảng Thi thành lập Châu Ngọc Lặc; chuyển tổng Phú Hà sangLôi Dương để lập huyện Thọ Xuân; đồng thời nhận về tổng Lôi Dương củaThọ Xuân đặt làm tổng Xuân Lai; hai tổng Vận Quy, Đại Bối và một phầncủa tổng Thạch Khê của huyện Đông Sơn Từ tên huyện Thuỵ Nguyên đãchuyển gọi là phủ Thiệu Hoá gồm 8 tổng, trong đó 4 tổng thuộc hữu ngạnsông Chu là Xuân Lai, Xuân Phong, Vận Quy, Đại Bối và 4 tổng tả ngạn làThử Lốc, Phù Chẩn, Mật Vật, Phùng Cầu.
Cách mạng tháng Tám thành công, tổng Thử Cốc chuyển về ThọXuân, đổi phủ Thiệu Hoá thành huyện Thiệu Hoá, bỏ đơn vị hành chínhtrung gian là tổng, chia huyện thành 12 xã: Huy Toàn, Đại Đồng, MinhQuang, Thái Bình, Đại Bối, Tân Dương, Ngọc Vũ, Thành Công, Vạn Hà,Chuỳ Giang, Duy Tân và Quang Thịnh
Từ tháng 3- 1953 đến nay 12 xã trên chia thành 31 xã: Thiệu Duy,Thiệu Nguyên, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh, Thiệu Công, Thiệu Thành, ThiệuNgọc, Thiệu Vũ, Thiệu Phúc, Thiệu Phú, Thiệu Hưng, Thiệu Long, ThiệuQuang, Thiệu Tiến, Thiệu Giang, Thiệu Vân, Thiệu Khánh, Thiệu Dương,Thiệu Viên, Thiệu Lý, Thiệu Vận, Thiệu Trung, Thiệu Đô, Thiệu Châu,Thiệu Thịnh, Thiệu Hoà, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Toán, Thiệu Tân,
và xã Thiệu Giao
Do những nhu cầu mới của xã hội, Hội đồng Chính phủ nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyết định số 177/CP ngày 5-7-1977 giảithể huyện Thiệu Hoá, 15 xã vùng tả ngạn sông Chu nhập vào huyện YênĐịnh, 16 xã vùng hữu ngạn sông Chu nhập vào huyện Đông Sơn mang tênhuyện Đông Thiệu, sau đó đổi là huyện Đông Sơn
Sau hơn 20 năm chung vai sát cánh trong đại gia đình Thiệu Yên vàĐông Sơn, ngày 18-11-1996, huyện Thiệu Hoá được tái lập với Nghị định
Trang 1872/CP của Chính phủ Ngày 1-1-1997, mọi hoạt động trở lại như ThiệuHoá của 20 năm trước đây và duy trì cho đến hiện tại.
1.3.1.2 Truyền thống đấu tranh, cách mạng
Thiệu Hoá vùng đất gắn bó máu thịt với Việt Nam, từ xa xưa ThiệuHoá không chỉ biết đến như một trong những nơi có lịch sử phát triển lâuđời mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc
Kể từ nền văn hoá Sơn Vi với những dấu vết hoạt động đầu tiên củangười cổ xưa, cho đến thời kỳ dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm bắtđầu từ nền văn minh đầu tiên của dân tộc: văn minh Đông Sơn tươngđương thời kỳ Hùng Vương dựng nước, thời kỳ An Dương Vương ngắnngủi là một nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, rồi khoảng hơn 1000năm dưới chế độ phong kiến độc lập cũng như trong hai cuộc kháng chiếnthần thánh chống Pháp và chống Mĩ vào nửa sau thế kỷ XX, đất nước ViệtNam, dân tộc Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, có cả khókhăn, thử thách, mất mát, đau thương nhưng cũng rất oanh liệt và đầy tựhào
Hoà cùng với dòng chảy của lịch sử dân tộc, bằng tình yêu tha thiếtquê hương đất nước, từ bao đời nay nhân dân Thiệu Hoá đã xây dựng chomình một truyền thống yêu nước và tinh thần chiến đấu quật cường, viếtnên những trang sử hết sức tự hào
Vào thời kỳ Bắc thuộc, trong những năm đầu thế kỷ thứ nhất, HánQuang Vũ cử Nhâm Diên sang làm Thái Thú Cửu Chân Chính viên TháiThú này câu kết với sĩ phu người Hán mở trường dạy học, truyền bá tưtưởng Nho giaó trên vùng đất Thanh Hóa lúc bấy giờ Đây cũng là thờiđiểm bùng nổ cuộc khởi nghĩa ở quận Giao Chỉ do hai chị em Trưng Trắc,Trưng Nhị lãnh đạo Ngay từ những ngày đầu của phong trào, thủ lĩnh Đô
Trang 19Lương (Thiệu Dương) đã phối hợp với Chu Bá lãnh đạo nhân dân CửuChân vùng dậy hưởng ứng, chiếm được thành Tư Phố.
Mùa hè năm 43 Mã Viện được nhà Đông Hán sai đem quân sangđánh đổ triều đình Trương Vương Trước thế giặc mạnh, Đô Dương và Chu
Bá đem lực lượng lui về Cửu Chân Sách “Hậu Hán Thư” chép “Viện đemlâu thuyền lớn nhỏ hơn 2000 chiếc, chiến sĩ hơn 20 vạn người, theo đánh
dư đảng của Trưng Trắc là bọn Đô Dương ở Cửu Chân, từ huyện Vô Côngđến huyện Cư Phong chém giết bắt bớ hơn 5000 người” Sách “Thủy kinhchú” lại chép: “Tháng 10, năm Kiến Vũ thứ 19 (43) Mã Viện vào quận CửuChân ở phía Nam đến huyện Vô Công, tướng giặc đầu hàng Lại đến huyện
Dư Phát, cừ súy là Chu Bá bỏ quân vào rừng sâu là nơi tê tượng tụ họp, bò
rừng từng bầy hàng máy nghìn con, thỉnh thoảng thấy hàng mấy chục đến
hàng trăm con voi Mã Viện lại chia binh đến huyện Vò Biên là Cửu Chânđỉnh ở đồi Vương Mãng lại đến huyện Lư Phong tướng giặc không hàngđều bị chém tới trăm người, Cửu Chân bèn yên ” [ 1; 43- 44 ]
Theo những điều được mô tả ở trên, sau khi chiếm được huyện lỵ DưPhát, Mã Viện đã đưa quân thủy bộ ngược sông Lèn rồi theo sông Mã tớiNgã Ba Đầu để tấn công Tư Phố- nơi Đô Dương, Chu Bá đóng giữ chúng
đã bị chặn lại ở núi Băng Trình Quân của Mã Viện ngoài lực lượng chínhquy còn có hơn 3000 tay cung thiện xạ tuyển trong số 1 vạn tù binh GiaoChỉ bị ép buộc vào đàn áp Cửu Chân Do lực lượng quá chênh lệch, Chu
Bá rút vào rừng, định tiếp tục tấn công Lư Phong tướng Đô Dương buộcphải đầu hàng
Sau khi cha con họ Khúc khôi phục được quyền tự chủ cho đất nướcvào đầu thế kỷ X nhà Nam Hán lại đưa quân tướng sang nhằm xóa bỏnhững thành quả mà nhân dân ta đã giành được Tại Dương Xá (nay là làngGiàng, xã Thiệu Dương), Dương Đình Nghệ- một tướng cũ của họ Khúc đã
Trang 20xây dựng một trung tâm kháng chiến của cả nước, ra sức chiêu mộ nhân tài,ngày đêm luyện tập võ nghệ Ông đã công khai nuôi 3000 nghĩa sĩ, tích trữlương thực khí giới để chuẩn bị tấn công chiếm lại thành Đại La Tháng 3năm 931, từ Dương Xá ông đã quyết định chiếm lấy Thủ Phủ Giao Châugiành được thắng lợi, Dương Đình Nghệ vẫn xưng là Tiết Độ Sứ, cử NgôQuyền coi Châu Ái và Đinh Công Trứ làm Thử Sử Châu Hoan Sự nghệpcủa Dương Đình Nghệ được khái quát trong đôi câu đối ở đền thờ ông:
“Dương tam thiên nghĩa tử sĩ phục thù, hằng hằng kinh khí.
Chướng bát vạn hùng sư nhi xuất chiến, lăm lăm uy danh”
(Nuôi ba ngàn con nuôi chí mạnh khôn cùng
Cầm 8 vạn quân mạnh ra trận oai danh lừng lẫy).
Tháng 4 năm 937, Kiều Công Tiễn giết hại Dương Đình Nghệ, cầucứu nhà Nam Hán để hòng giữ được địa vị của mình Mùa đông năm 938,
từ Châu Ái, Ngô Quyền cùng Dương Tam Kha- con trai của Dương ĐìnhNghệ và nhiều tướng khác tiến ra Đại La giết Kiều Công Tiễn rồi đánh tanquân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, bỏ chức Tiết độ sứ xưng là NgôVương Quyền
Cuối triều Ngô đất nước rơi vào cảnh thập nhị sứ quân Trong bốicảnh ấy Đinh Bộ Lĩnh đã dần dần đánh dẹp được các sứ quân Ông đã đếnlàng Đông Lỗ (Thiệu Long) yết kiến Dương Tam Kha và được họ Dương
gả em gái là Dương Vân Nga làm vợ, ở trong Phùng Cầu (Thiệu Thịnh) cóhơn 70 trai tráng thuộc bốn họ Lê, Trịnh, Đào, Nguyễn đã tham gia vào độquân dẹp loạn của ông Một số tướng lĩnh tài ba như Lê Hoàn cũng sớm sátcánh với Đinh Bộ Lĩnh
Lê Hoàn quê ở làng Trung Lập, huyện Thụy Nguyên (còn gọi là kẻSập hoặc sách Khả Lập, nay thuộc xã Xuân Lập- Thọ Xuân) Trong hàngngũ tướng lĩnh của Đinh Bộ Lĩnh, ông “ tỏ ra phóng khoáng, có chí lớn
Trang 21Tiên Hoàng khen là người trí dũng, chắc thế nào cũng làm được việc, bèngiao cho cai quản hai nghìn quân sĩ” [13;220], sau được coi làm thập đạotướng quân Khi biến loạn năm 979 xảy ra, cha con Đinh Tiên Hoàng bịgiết hại, Lê Hoàn được cử làm nhiếp chính giúp vua nhỏ dẹp loạn ĐinhĐiền- Nguyễn Bặc, cảm phục trước tài năng, đức độ của ông, tháng 8- 980,Thái hậu Dương Vân Nga sai người lấy áo long cổn khoác lên người LêHoàn, mời Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế và bà trở thành Hoàng hậu của ông.
Sau khi lên ngôi, mùa xuân năm 981, “vua tự làm tướng đi chặngiặc”, đánh tan quân tướng ở Tây Kết, Bình Lỗ, Bạch Đằng; buộc chúngphải từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta Sự nghiệp của ông đã được nhà sửhọc Lê Văn Hưu tóm tắt: “Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc,tóm quân Biện- Phùng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ chạy đầy vàinăm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhàDương cũng không hơn được”.[13; 222]
Thời Trần trên đất Thiệu Hóa có các tấm gương yêu nước thươngdân, tiêu biểu là:
Lê Quát tự là Bá Đạt, hiệu là Mai Phong, học trò của Chu Vân An.Khi nhỏ ông rời quê hương Phủ Lý (Thiệu Trung) lên theo học ở ThăngLong, thi đậu Thái học sinh, được làm đến Bộc Xạ Năm 1366, vua Trần
Dụ Tông sai ông duyệt sổ hộ tịch ở Thanh Hóa Ông vốn chuộng chínhhọc, ghét dị đoan, do có tài về văn học mà thăng tiến, nổi tiếng ngang với
Phạm Sư Mạnh, thời bấy giờ người ta khen “ Lê, Phạm”
Lê Giốc ( còn gọi là Giác)- con trai Lê Quát, làm Tuyên phủ sứ
Nghệ An đời Trần Duệ Tông Khi ấy nhà vua thân chinh cầm quân đi đánhChiêm Thành, bị chết trận (1377), Ngự câu vương là Húc đầu hàng giặc, vàđược chúng đưa về Nghệ An tiến xưng ngôi hiệu, trong tình thế bị giặc épquỳ lạy Lê Giốc nổi giận nói: “Ta là đại thần nước lớn, lễ nào lại lạy bọn
Trang 22tiểu man chúng bay!” Ông mắng nhiếc giặc không tiếc lời, cuối cùng bị
chúng giết hại Về sau ông được triều đình ban tước “Mạ tặc trung vũ hầu”
Khi nhà Minh đô hộ nước ta, trên mảnh đất Lương Giang- ThụyNguyên, ngoài người anh hùng dân tộc Lê Lợi dấy nghĩa trên đất LamSơn, tấm gương Lê Lai cứu chúa cùng hàng chục vị khai quốc công thầnkhác trong đó tiêu biểu là Đinh Lễ vốn quê ở sách Thúy Luân (nay thuộcThiệu Hưng- Thiệu Hóa), cháu ngoại của Bình Định vương Lê Lợi, đượcban quốc tính nên còn gọi là Lê Lễ Ông là một danh tướng chống Minh,
đã từng cùng Lê Sát, Phạm Vân lập công lớn ở ải Khả Lưu bắt được đô tưChâu Kiệt, chém tướng tiên phong Hoàng Thành, được thăng chức TưKhông rồi đem quân đánh úp Tây Đô Năm 1425, ông phụ binh đoạtthuyền lương của giặc do Trương Hoàng điều khiển lập công lớn Năm
1426 đem quân đánh Tốt Động phá được giặc Minh, chém thượng thưTrần Hiệp và nội quan Lý Lương, thu nhiều chiến lợi phẩm Ông bị giặcbắt được ở Mai Đông (Thanh Trì- Hà Nội), không chịu khuất phục màchết, được liệt vào bậc khai quốc công thần
Trần Lựu vốn quê ở Lỗ Tự (nay thuộc Thiệu Quang- Thiệu Hóa), cócha từng giúp nhà hậu Trần công Minh và hy sinh anh dũng Ông tham giakhởi nghĩa Lam Sơn từ buổi hội thề Lũng Nhai, được giao trọng trách chỉhuy đội quân Thiết Đột, hoạt động ở Nghệ An, nổi tiếng với nhiều trậnđánh lớn Cuối năm 1426, ông cùng Lê Bôi, Trịnh Khả giải phóng HồngChâu, Bắc Giang, Lạng Sơn, Lạng Giang; sau đó lập chiến công hạng nhấttrong trận Mã Yên chặn đánh viện binh Liễu Thăng Sau Trần Lựu đượcphong Trấn viễn đại tướng quân Ông và con trai là Trần Lan được liệt vàobậc khai quốc công thần, hiện còn đền thờ ở Lỗ Tự
Dưới thời Lê, địa phương còn tự hào bởi tấm gương của nhà trí thứcNguyễn Quán Nho- vị quan thanh liêm mà nhất mực vì dân vì nước
Trang 23Yêu nước tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất là truyền thốngtốt đẹp của dân tộc nói chung và của người dân Thiệu Hóa nói riêng, nóđược hun đúc tôi luyện trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và pháttriển của đất nước Mỗi khi đất nước đứng trước họa ngoại xâm tinh thần
ấy lại trỗi dậy và đặc biệt được phát huy cao độ qua hai cuộc kháng chiếnchống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX
Hòa cùng không khí cả nước đánh giặc, trong 9 năm kháng chiếnchống Thực dân Pháp, Thiệu Hóa đã huy động hàng ngàn con em tìnhnguyện đi bộ đội, dân công… ở mọi lĩnh vực , làm gì, ở đâu anh em cũngđều hoàn thành tốt nhiệm vụ Theo thống kê cả huyện có 1117 người thoát
ly, 2727 bộ đội chủ lực, 303 bộ đội địa phương, 3.123 dân quân du kích và4.261 tự vệ chiến đấu Trong số đã có người anh dũng chiến đấu hy sinhhoặc để lại phần xương máu ở chiến trường.[1; 185]
Trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ cũng như bao vùng quêMiền Bắc khác Thiệu Hóa tích cực đẩy mạnh các phong trào thi đua “Mỗingười làm việc bằng hai, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thóckhông thiếu một cân, quân không thiếu một người” hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ Hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến cùng Miền Nam đánhthắng giặc Mỹ xâm lược giải phóng Miến Mam thống nhất đất nước Chỉtính riêng trong 10 năm từ 1965-1975, năm nào Thiệu Hóa cũng hoànthành vượt chỉ tiêu đóng góp lương thực mỗi năm từ 5000-7000 tấn, cácnăm 1972, 1974 đóng góp cao nhất là 11.200tấn thóc/năm, không kể hàngchục ngàn tấn thực phẩm, rau xanh các loại, hàng triệu ngày công lao độngđược huy động để đảm bảo giao thông vận tải thời chiến…[1; 265]
Những đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Thiệu Hóa trong 2 khángchiến đã được ghi nhận bằng phần thưởng cao quý Chỉ tính riêng cuộckháng chiến chống Thực dân Pháp toàn huyện được Chủ tịch nước và
Trang 24Chính Phủ tặng thưởng: 797 Huân chương kháng chiến hạng Hai và hạng
Ba, 2.033 Huy chương, 1.556 Bằng khen, 12.807 Giấy khen Đặc biệt cótới hàng trăm gia đình được nhận Bằng có công với nước…
Những phần thưởng cao quý đó đã động viên, cổ vũ Đảng bộ vànhân dân Thiệu Hóa tích cực xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.Đăc biệt trong giai đoạn hiện nay nhân dân Thiệu Hóa đang cùng nhân cảnước tích cực đẩy mạnh quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa để thựchiện mục tiêu “dân giàu , nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và vănminh”
1.3.2 Truyền thống văn hóa
Trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam, Thiệu Hóa đã hòa chungvào dòng chảy của quốc gia, dân tộc Tuy nhiên trải qua quá trình đấu tranhvới thiên tai, địch họa để sinh tồn, bảo vệ và xây dựng quê hương, đấtnước, bao lớp người trên mảnh đất Thiệu Hóa đã sáng tạo nên biết bao giátrị văn hóa đặc sắc mang đậm dấu ấn, đặc trưng của địa phương
Nói đến Thiệu Hóa người ta nghĩ ngay đến sông Chu- núi Đọ, nơicách đây khoảng 30- 40 vạn năm vào thời đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Sơn
Vi, đã có con người sinh sống Đồng thời Thiệu Hóa cũng được biết đếnvới tư cách là nơi đã tìm thấy những hiện vật tiêu biểu cho văn hóa vật chấtthuộc nền văn hóa Đông Sơn (niên đại) Hiện nay di chỉ khảo cổ núi Đọ (xãThiệu Tân) và di chỉ khảo cổ ở Thiệu Dương đã trở thành di tích- lịch sửnổi tiếng không chỉ riêng Thiệu Hóa mà còn của cả nước nói chung
Mặt khác những phát hiện khảo cổ ở Thiệu Dương đã chứng minhThiệu Hóa xưa kia là địa bàn cư trú của người Việt Cổ Và từ đầu côngnguyên đến thế kỉ thứ X, lớp cư dân cùng bao quanh vùng Tư Phố đã cóđiều kiện tiếp xúc và thu nhận được từ nền văn hóa Hán nhiều tinh hoa đểtạo ra một ngôn ngữ Việt đồng bằng có nhiều dị biệt so với tiếng việt do
Trang 25lớp cư dân ở vùng thượng du đang tồn giữ Từ môi trường sinh thái, điềukiện xã hội đã dẫn đến sự phân chia tiếng Việt cổ thành hai nhánh Kinh-Mường, Lương Giang- Thụy Nguyên là một địa bàn chứng kiến quá trìnhbiến đổi ấy.
Thiệu Hóa là vùng đất xưa kia có truyền thống khoa cử Theo thống
kê, vào thời kỳ phong kiến cả huyện Thiệu Hóa có 29 nhà khoa bảng trongtổng số 210 vị của cả tỉnh Thanh Hóa, riêng xã Thiệu Trung đã có tới 8 vị,trong số đó trước hết phải kể đến những người con ưu tú nhất, tiêu biểunhất cho lớp trí thức Thiệu Hóa lúc bấy giờ, đó là:
Bảng nhãn Lê Văn Hưu, người xã Thiệu Trung, đậu bảng nhãn khoaĐinh Mùi (năm 1247), đời vua Trần Thái Tông Năm “Nhâm Thân ThiệuLong thứ 15 (năm 1272) Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu
Lê Văn Hưu thay lệnh vua soạn “Đại Việt sử ký” từ Triệu Vũ Đế đến LýChiêu Hoàng gồm 30 quyển, dâng lên vua xuống chiếu khen ngợi” [9;].Với công lao đó, ông xứng đáng là “ đại thủ bút đời Trần và ông tổ của nền
Hiện nay, truyền thống hiếu học vẫn được nhân dân Thiệu Hóa giữgìn và phát huy Toàn bộ 31 xã đều có hệ thống trường lớp từ cấp mẫugiáo, cấp Tiểu học, cấp THCS và cấp THPT Trong huyện ngoài hàng ngànngười có trình độ Đại học, Cao đẳng, còn có hàng chục người đạt học vị
Trang 26phó tiến sỹ, tiến sỹ ở trong và ngoài nước Các làng Văn Hà, Phùng Cầu,Phủ Lý vẫn tiếp nối được truyền thống cử nghiệp ngày xưa.
Thời Lý- Trần khi Đạo Phật trở thành quốc giáo, đây cũng là thời kỳPhật giáo rất thịnh hành ở Thiệu Hóa, để đáp ứng nhu cầu về tâm linh củadân chúng, một số chùa chiền ở đây được tu bổ, mở rộng, tiêu biểu là chùaHương Nghiêm Theo Kiến ni sơn Hương Nghiêm từ bi dựng tháng giêngnăm 1125 thì có nhiều khả năng chùa được xây dựng từ trước thế kỷ X Vìkhi Lê Đại Hành đi tuần du đến Ngũ Huyên Giang thấy chùa chiền đổ nát,liền cho xây đắp tu bổ lại Dưới thời nhà Lý nhiều lần được sửa sang, tu bổlại
Ngoài chùa Hương Nghiêm kể trên ở Thiệu Hóa còn có một số chùanổi tiếng khác, đó là chùa Đại Khánh còn gọi là chùa Vồm, ở làng Vồm- xãThiệu Khánh, chùa Thái Bình (xã Thiệu Hợp), chùa Doanh Xá (nay thuộcđất hiện Đông Sơn), chùa Báo Ân…
Thiên Chúa giáo truyền vào Thiệu Hóa từ thế kỷ XIX, chủ yếu ở cáclàng dọc đôi bờ sông Chu, nay thuộc các xã Thiệu Thịnh, Thiệu Vũ và một
số hộ lẻ ở xã Thiệu Thành và 2 nhà thờ với 1726 giáo dân (năm 1999).Trong sự nghiệp cách mạng và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mĩ cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng bào theoThiên chúa giáo ở Thiệu Hóa đã có nhiều đóng góp, hi sinh về của cải vàtính mạng tích cực tham gia xây dựng quê hương giàu đẹp
Ở Thiệu Hoá có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong các làng xóm, dùlớn hay nhỏ, dòng họ nào cũng giữ truyền thống tưởng nhớ đến công lao tổtiên và những bậc tiền bối có công với quê hương, đất nước Đây là một mỹtục đáng khích lệ vì trải qua bao nhiêu năm tháng đó đã trở thành một tínngưỡng dân gian, cũng như bao làng quê ở Việt Nam, xưa kia ở Thiệu Hoáhầu như ở làng nào cũng có đền miếu, phủ nghè để quanh năm hương khói
Trang 27Nhiều đền thờ ở địa phương đã trở thành quốc miếu như đền thờ DươngĐình Nghệ ở Thiệu Dương, đền Lê Đại Hành ở Trung Lập, đền Lê VănHưu ở Thiệu Trung, đền Nguyễn Quán Nho ở Thị trấn Vạn Hà Bên cạnh
đó là hàng chục đền miếu khác thờ các nhân thần, nhiên thần ở Mật Vật(Mật Thôn, Kim Hoạch- xã Thiệu Phúc), Vạn Hà (Kiến Hưng- Thị TrấnVạn Hà̀)
Nơi đây hội hè, đình đám ra đời sớm và có nhiều nét độc đáo, hầuhết ở các làng đều có trò diễn Trò Ngô với ba phường Ngô ở Bằng Trình(xã Thiệu Hợp), Chí Cường (xã Thiệu Quang) và làng Chuộc (xã ThiệuTiến) nằm trong hệ trò Văn Vương đến nay vẫn còn câu "thứ nhất pháoNgò, thứ nhì trò Chuộc" Lại có hát chèo chái, múa đèn, chạy chữ ở xãThiệu Quang Làng Chuộc còn có nghề múa rối cổ diễn lại tích Lê Lợiđánh giặc, Lê Lợi chém Liễu Thăng, Đào viên kết nghĩa, Phụng Nghi đình.Nhiều làng xóm khác ở Thiệu Hoá đều lập ra phường hát tuồng, hát chèohoạt động thường xuyên
Kho tàng ca dao, tục ngữ của Thiệu Hoá thực sự là một tài sản vô giácủa nền văn học dân gian Việt Nam Vùng đất đầy những khắc nghiệtnhưng cũng chứa đựng biết bao tình cảm thân thương, núi cao, sông rộng,nhà tranh, cầu gỗ… tất cả đi vào ca dao như những cung bậc trữ tình
Bên cạnh đó, ở Thiệu Hoá còn có áng truyện Nôm đặc sắc, đó làtruyện "Phương Hoa" do cử nhân Nguyễn Văn Duyên, người làng ĐoánQuyết (xã Thiệu Phúc) sáng tác vào khoảng giữa thế kỷ XIX cũng lấy nhâncốt từ trong dân gian: Phương Hoa- con gái viên quan ngự sử Trần Diên,quê ở Lôi Dương và Cảnh Yên- con trai quan thượng thư Trương Đái, quê
ở Thuần Lộc trải qua bao tang tóc và oan trái, gia đình mới được minh oan,sum họp Truyện "Phương Hoa" là một áng truyện Nôm khá phổ cập vàđược nhân dân địa phương rất trân trọng
Trang 28Tóm lại, Thiệu Hoá là một trong những cái nôi của người Việt Cổ,với truyền thống văn hoá đặc sắc, truyền thống chống giặc ngoại xâm kiêncường đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt và các bậc khai quốc côngthần được lưu danh ngàn đời, mãi mãi là niềm tự hào của mỗi chúng ta
Trang 29CHƯƠNG 2 CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HOÁ Ở HUYỆN THIỆU HOÁ-
THANH HÓA
2.1 Khái quát chung
Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 (ngày 23-11-1945) đặt các công trìnhkiến trúc đền, miếu, đình, chùa dưới sự bảo trợ của nhà nước Ba mươi chínnăm sau, ngày 31-3-1984 Hội đồng Nhà nước ban hành pháp lệnh Bảo vệ
và Sử dụng các Di tích lịch sử Văn hóa Và Danh lam thắng cảnh, trong đóxác định: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm,
đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũngnhư có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đế́n những sự kiện lịch sử,quá trình phát triển văn hoá, xã hội” Và “Mọi di tích lịch sử- văn hoá vàdanh lam thắng cảnh đều được Nhà nước bảo vệ".[11; 589]
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Việt Nam
đã có bước khởi sắc trên mọi mặt, nhất là nền văn hoá dân tộc đã đượcphục hưng và có bước phát triển vượt bậc Trong những năm gần đây cùngvới sự phát triển của kinh tế thì nhiệm vụ “xây dựng phát huy một nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc đân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại” [24; 55] được Đảng và Nhà nước ta đưa lên hàng đầu Trong đóviệc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc rất được coi trọng
Trên nền tảng chung ấy, công tác điều tra, nghiên cứu lập hồ sơ khoahọc để xếp hạng và trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử- văn hoá́ và cách mạngdiễn ra mạnh mẽ Thiệu Hoá cũng không nằm ngoài bối cảnh chung ấy, tuynhiên cho đến hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu tổng
Trang 30hợp về các di tích lịch sử- văn hoá của huyện Thiệu Hoá để mọi người cóthể tra cứu dễ dàng khi cần thiết.
Dù sao với những tư liệu hiện có từ các công trình nghiên cứu củacác nhà nghiên cứu, cùng các ghi chép của những người làm công tác quản
lý, bảo vệ các di tích, đặc biệt là các cuộc khảo sát, thống kê của Phòng vănhoá thông tin- thể thao và du lịch huyện Thiệu Hoá từ trước đến nay, chúng
ta phần nào có cái nhìn khái quát cũng như xác định một cách cụ thể về các
di tích lịch sử- văn hoá ở huyện Thiệu Hoá
Có thể nói huyện Thiệu Hoá là một vùng đất quy tụ nhiều di tích lịchsử- văn hoá, cho đến hiện nay (đầu năm 2010) theo số liệu thống kê củaPhòng văn hóa thông tin- thể thao và du lịch Thiệu Hóa, trên địa bàn toànhuyện Thiệu Hóa có tới hàng trăm di tích lịch sử- văn hóa phân bố ở hầukhắp các xã trong huyện với các loại hình phong phú như: đền, chùa, đình,miếu, điện, phủ, văn bia, lăng mộ, nhà thờ họ, nhà thờ thiên chúa giáo, văn
từ bia ký, di chỉ khảo cổ học, di tích lịch sử cách mạng… trong đó có 38 ditích được xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia, cấp tỉnh, (gồm có
9 ngôi đình, 14 ngôi đền, 3 ngôi chùa, 2 văn bia, 2 di chỉ khảo cổ học, 2 từđường, 1 nhà thờ họ, 5 di tích lịch sử cách mạng) Ngoài ra còn 7 di tíchkhác đang tiếp tục đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh
Có rất nhiều xã có ít nhất một vài di tích đã được xếp hạng cấp tỉnhtiêu biểu như Thiệu Vũ, Thiệu Khánh, Thiệu Ngọc, Thiệu Tiền, ThiệuGiao, Thiệu Quang, Thiệu Châu, Thiệu Minh, Thiệu Phúc…đặc biệt ở Thịtrấn Vạn Hà, xã Thiệu Dương, Thiệu Trung, Thiệu Toán đã có di tích xếphạng quốc gia
Các di tích lịch sử- văn hóa tiêu biểu như: di chỉ khảo cổ học ThiệuDương, đền thờ Dương Đình Nghệ (xã Thiệu Trung), đền thờ NguyễnQuán Nho, đền thờ Đinh Lễ (Thị trấn Vạn Hà), cụm di tích cách mạng
Trang 31Thiệu Toán (xã Thiệu Toán), chùa Vồm (xã thiệu Khánh), đình làng ThanhDương (xã Thiệu Khánh), đình làng Cam Vỹ (xã Thiệu Vũ)…
2.2 Một số di tích tiêu biểu
2.2.1 Chùa Vồm
2.2.1.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình trùng tu tôn tạo
Chùa Vồm còn có tên là chùa Đại Hùng thuộc địa phận làng ĐạiKhánh (làng Vồm), xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa,nằm chếch về phía Tây- Tây bắc cách Thành phố Thanh Hóa 7; 8km
Nằm ở vị trí liền kề với khu vực Ngã Ba Đầu (nơi hợp lưu của 2 consông lớn của xứ Thanh là sông Mã và sông Chu), cho nên từ những nămđầu công nguyên và trong suốt cả 1000 năm Bắc thuộc cũng như cả ngànnăm giành và giữ quyền độc lập tự chủ cho đất nước, vùng từ Đại Khánh-Vồm đến làng Giàng, Đông Sơn, Hàm Rồng đã sớm trở thành một trungtâm kinh tế, chính trị và thương mại của xứ Thanh xưa kia Các nhà nghiêncứu lịch sử và khảo cổ đều đoán định vùng đất Thành Tư Phố- lị sở củaQuận Cửu Chân thời Bắc thuộc nằm chính khu vực này đây, chính vùngtam giác hạ lưu châu thổ sông Mã, sông Chu này đã là nơi hội tụ, chứngkiến biết bao biến động sục sôi của lịch sử dân tộc trên đất xứ Thanh
Sở dĩ Chùa có tên gọi là “chùa Vồm” vì nó được dựng ngay dướichân núi Vồm- ngọn núi gắn với câu chuyện dân gian về một nhân vật cótên là “ông Vồm”, vốn là con của người đàn bà ở vùng sông nước cuốinguồn sông Sủ (nay là sông Chu) với vị Thần tướng của Long Vương, cósức khỏe phi thường, chỉ cần một tay ông có thể nâng bổng một chiếcthuyền buồm lớn, có thể cõng trên lưng cả một quả núi trên lưng như tacõng một bó củi Vì muốn tìm mộ cha dưới lòng sông, ông đi về hướng TâyBắc gánh đá để lấp sông Bước chân của ông rải dài dọc theo triên sông Sủ,gánh đá của ông rơi rải rác dọc đường, một hòn đắp thành núi Vân, một
Trang 32hòn đắp thành núi Mấu, hòn nhỏ rơi xuống tạo thành núi Là Khi về đếncon sông Sủ chẳng may gãy đòn gánh, đá rơi xuống phía hữu đắp thành núiVồm, đá rơi xuống phía tả đắp thành núi Trịnh (hai quả núi đá nằm songsong ở hai xã Thiệu Khánh, Thiệu Hợp ngày nay) Công việc lấp sông tìm
mộ cha không thành, ông uất ức tựa vào núi và hóa thành đá, lõm vào váchnúi nên có tên gọi la núi Vồm.[17; 22]
Tên núi Vồm cũng gợi ra cái cảm giác về khối núi to lớn, bao trùm,phổng phao, nổi cộm và bật dậy giữa vùng sông nước mênh mông này Đốivới các nhà thông thái và hiền triết xưa thì dựa vào thế núi đồ sộ và hìnhthù đặc biệt của nó mà đặt tên là “Bàn A Sơn” (tên do Ngô Thì Sĩ đặt năm1766), gắn với thắng cảnh thắng cảnh Bàn A Sơn đã được nhắc đến tronglịch sử
Chính sử xưa nhất có đề cập đến chùa Vồm có lẽ là sách “Đại Namnhất thống chí” của Quốc sử quáo triều Nguyễn Theo sách “Đại Nam nhấtthống chí” thì chùa Vồm hay “Chùa Đại Hùng: ở xã Đại Khánh huyệnĐông Sơn, nhân đá núi Bàn A làm tường chùa, ở giữa khắc tượng lớn,không rõ có từ đời nào, phía trước chùa có bia đá, dựng từ đời Lê QuangThuận, văn bia bị rêu phủ mờ, phía sau chùa có bình phong đá, có khăc bachữ lớn “Sa lung biển”, do Trần Tiến là đô ngự sử đời Lê khắc và một bàithơ nay vẫn còn.”[18; 295]
Qua đôi dòng thông tin ngắn ngủi ta có thể xác định chùa Vồm đượcxây dựng vào đời hậu Lê dưới thời vua Lê Quang Thuận
Từ năm 1954 trở về trước chùa Vồm có vị sư phúc trị sự Từ năm1955- 1967 chùa có vị tu tại gia tôn đạo tên là Cảo ở thôn 5 xã ThiệuKhánh Từ năm 1968-1981 vị sư Đàm Hồ được hội Phật giáo Tỉnh điều vềchùa Sau khi vị sư này mất chùa ít được trông coi bảo quản thêm vào đó là
sự tàn phá từ bom đạn của giặc Mỹ nên ngôi chùa bị xuống cấp nghiêm
Trang 33trọng, riêng ngôi nhà thờ Mẫu cạnh chùa đã bị bom đạn phá hủy hoàn toànnăm 1972.
Từ năm 1989 đến nay, sau khi có quyết định của UBND, Sở Văn hóathông tin tỉnh Thanh Hóa cho phép trùng tu tôn, tôn tạo; nhân dân trong xã
và du khách thập phương ủng hộ, Ban quản lý di tích chùa Vồm đã tiếnhành xây mới lại một số hạng mục công trình trong khuôn viên chùa như:năm 1990 xây mới khu nhà khách và nhà Tổ, năm 1992 trùng tu Tam quan
và cầu bán nguyệt, trong đợt trùng tu diễn ra vào các năm 1993-1994,1994-1995 chùa dựng thêm tòa sơn trang, bổ xung thêm một số đồ thờ tựnhư: lư hương, tượng thờ, bát hương…vì vậy chùa đã khôi phục lại phầnnào diện mạo xưa và ngày càng khang trang đảm bảo tốt để khách thậpphương đến dâng hương lễ Phật
Kể từ khi ra đời cho đến nay chùa Vồm là nơi thờ Phật, nhưng ở đây
tu theo pháp môn Thiền Tông của Phật Hoàng Trần Nhân Tông được Hòathượng Thích Thanh từ khai sáng Vì dòng tu là Thiền nên phương pháp tu
là ăn chay, ngồi Thiền Ngồi Thiền tứ là vứt bỏ những phiền muộn để đạtđến tâm thanh tịnh, an lạc cũng có nghĩa là tập trung mọi trí tuệ, mọi suynghĩ để tự mình tìm ra chân lý Thiền Tông đề cao cái tâm, tâm là NiếtBàn, là Phật Tu theo Thiền Tông đòi hỏi rất nhiều công phu và trí tuệ TrầnNhân Tông nói về Thiền như sau:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên Đói đến thì ăn mệt ngủ liền Trong nhà có báu thôi tìm kiếm Đối cảnh vô tâm chứ hỏi Thiền
Như vậy ngồi thiền là con đường dẫn các nhà tu hành thoát khỏi cõitrần tục để đi vào chốn tịnh giới Chỉ khi tĩnh tâm, giác ngộ giáo lý của
Trang 34Phật thỡ khi đú con người mới thực sự đắc đạo Đõy là ngụi chựa tu theodũng tu chớnh tụng mà trải cựng thời gian cũn lưu giữ được đến ngày nay.
2.2.1.2 Đặc điểm kiờ́n trúc và hệ thống thờ tự.
* Đặc điểm kiờ́n trúc
Chùa Đại Hùng là một ngôi chùa cổ nổi tiếng vừa là điểm thắngcảnh, đồng thời cũng là một công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị vềnhiều phơng diện Mặc dù đã trải qua hơn 500 năm với biết bao biến cốthăng trầm của lịch sử và thời tiết khắc nghiệt, với quy mô diện mạo hiệncòn, chùa vẫn là một di sản vô giá cần đợc bảo vệ và phát huy để đáp ứngnhu cầu tín ngỡng của ngời dân và hấp dẫn khách du lịch
Căn cứ theo tập lí lịch di tích chùa Vồm của bảo tàng tỉnh ThanhHóa Chùa Vồm có quy mô kiến trúc nghệ thuật nh sau:
Chùa Vồm (chùa Đại Hùng) thuộc loại quy mô kiến trúc khá bề thế
Từ bên ngoài đi vào là hệ thống tờng và cổng tam quan, vào tiếp nữa là hồbán nguyệt và chiếc cầu cong bắc qua hồ Qua cầu là đến sân chùa Qua sânchùa rộng, lên chùa phải qua 7 bậc Nội thất của chùa đợc bài trí rất côngphu và mỹ quan
Chùa gồm có tiền đờng, trung đờng và hậu cung, đây là loại kiến trúctheo kiểu tiền nhất hậu đinh
Tiền đờng của chùa gồm 5 gian, 2 trái với kiểu mái cong (gồm 4mái), gian giữa rộng 3,45m Hai gian bên, mỗi bên rộng 2,30m, hai giantiếp mỗi gian rộng 1,75m và hai gian cuối (tức hai gian trái) mỗi gian rộng1,55m Khoảng cách từ cột cái đến cột cái là 0,45m, đờng kính cột quân là0,30m Tảng đá kê chân cột có hai loại kích thớc, một loại 0,55 x 0,55m,một loại 0,45 x 0,45m
Trung đờng của chùa có kích thớc dài 6,45m, rộng 6,80m, đợc làm
theo địa hình vách núi và đợc chia thành 3 gian (gian giữa rộng 3,45m, haigian bên mỗi gian rộng 1,20m)
Hậu cung chùa dựa hẳn vào vách núi, rộng 3,45m, vào sâu chỉ có
0,85m là đến vách Vách đá đợc đục chạm trực tiếp thành một pho tợngPhật A Di Đà (theo dạng phù điêu nổi chứ không phải dạng tợng tròn) T-ợng này có ích thớc khá lớn, rộng 3,20m, cao 6m Đây là pho tợng đợc đúctrực tiếp ở vách núi có kích thớc lớn nhất từ trớc tới nay ở Việt Nam Pho t-
Trang 35ợng Phật A Di Đà đã trở thành một pho tợng vô giá- một tác phẩm nghệthuật điêu khắc độc đáo, rất nổi tiếng của chùa Vồm
Nói chung quy mô, kiến trúc của chùa Vồm có cấu tạo rộng, hẹp vàosâu vào sát vách núi nh đã nêu trên là một thực tế vì toàn bộ công trình đềudựa vào địa hình của chân và vách núi để làm Vì vậy dứng ngoài nhìn vào,chúng ta có cảm tởng nh chùa nằm lọt trong lòng động của núi Sách sử môtả ở chân núi Vồm có động nhỏ chính là ở chỗ này đây Hiện nay vẫn cócửa để đi vào động
Chùa Vồm làm theo kiểu mái cong, các tàu mái có tác dụng làm chokiến trúc ngôi chùa mềm mại, uyển chuyển và bay bổng trong không gian ởchân sờn núi Bờ nóc đợc trang trí hình mặt nguyệt
Kết cấu vì kèo của chùa là sự kết hợp giữa giá chiêng, kẻ chuyền vàchồng rờng Các vì kèo liên kết với nhau bằng đờng xà thợng và xà hạ, tạothành bộ khung vững chắc để đỡ toàn bộ phần mái Đặc biệt trong cácthành phần cấu trúc giữa xà thợng, xà hạ và hiên chùa là các bức ván nong(hầu hết đợc chạm trổ hoa sen, hoa cúc, vân mây, rồng phợng, rùa ngậmhoa sen…)
Nghệ thuật trang trí trên các mảng chạm khắc mang phong cách thời
Lê (thế kỉ XVII- XVIII) Qua kiến trúc hiện còn, chúng ta nhận thấy có cảphong cách Lê và Nguyễn lẫn lộn ở nhiều chi tiết trang trí Điều đó chứng
tỏ rằng từ lúc ra đời đến nay chùa Vồm chắc chắn đã nhiều lần tu sửa vànâng cấp
Ở phía sau bên phải chùa vẫn còn tấm bia của vua Lê Hiến Tông vàmột số bút tích cùng một số bút tháp đá (tức xá lị) có 4 mái (tất cả đều bằng
đá), đỉnh tháp đội hoa sen Bệ chân của tháp nh toà sen và làm giật cấp cả 4mặt
Hai bên sân chùa là nhà tổ và nhà tiếp khách mới đợc xây dựng laitheo khiểu nhà cấp bốn mỗi dãy nhà gồm có 3 gian Trên lng chừng núiVồm, theo sờn núi đi lên còn có một miếu nhỏ thờ sơn thần Nếu trèo lên
đó để nhìn xuống chùa rộng ra nữa thì sẽ thấy toàn bộ cảnh trí nơi đây chỉtrong tầm mắt
* Đặc điểm thờ tự
- Ngụi chớnh điện
Trang 36Hậu cung: Ở vị trí cao nhất là bức tượng Phật A Di Đà (cao 6m, rộng3,1m) được khắc trực tiếp vào vách đá theo kiểu phù điêu rất bề thế, tượngtrong tư thế ngồi thiền, hai bàn tay để ngửa dưới đùi các ngón tay đan càivào nhau.Dưới chân tượng Phật A Di Đà là tượng Phật Thích Ca (bên phải)
và tượng Phật Quan Âm (bên trái) cao 95cm đặt ở hai bên, thấp hơn mộtbậc là tượng 2 Bà Hậu cao 74cm, bên phải trong tư thế ngồi thiền tay để ởđùi, lòng bàn tay ngửa, bên trái trong tư thế chắp tay cầu nguyện Trước 2bức tượng Phật Thích Ca và tượng Phật Quan Âm là 1 bát hương cổ bằng
đá cao 58cm, đường kính 54cm, cạnh bát hương cổ là 2 chân đèn nến đặtcân đối 2 bên
Trung đường gồm 3 gian với 1 gian chính 2 gian bên, gian bên (bêntrái) là bàn thờ Phật Mẫu, tượng Phật Mẫu cao 55cm đặt trong phủ, đượcbiểu tượng bởi một phủ thờ bằng ngỗ, phía trước là mặt kính Dưới phủ thờđặt một bát hương bằng sứ
Tiền đường gồm 5 gian 2 trái, án ngữ ở hai lối tả, hữu của tiền đường
là 2 pho tượng Hộ Pháp cao khoảng 3m, 1 vị tay cầm long đao (bên phải),
1 vị tay cầm tháp bút hông đeo thanh gươm Đường tu của các vị đã đắcđạo nên được giữ chức trông coi trước Tam Bảo
Ở gian chính giữa đặt một bệ thờ Tam Bảo, có đối tượng thờ tự phứctạp được chia thành 3 cấp như sau:
Cấp 1: ở vị trí chính giữa là tượng Phật Thích Ca cao 105cm, trong
tư thế thiền định trên đài sen Cạnh tượng Phật Thích Ca là tượng Phật DiLặc (bên phải) cao 90 cm với dáng vẻ vui tươi thoải mái tay phải túm vạt
áo, tay trái cầm chuỗi tràng hạt màu đen Tượng Phật Bà nghìn tay nghìnmắt cao 94cm
Cấp 2: chính giữa là Tòa Cửu Long, cao 105cm có hình dáng củalong ngai tạc hình 9 con rồng cuộn vào nhau, bên trong là tượng Đức Phật
Trang 37sơ sinh 1 tay chỉ lên trời, 1 tay chỉ xuống đất Cạnh Tòa Cửu Long là tượngĐịa Tạng Bồ Tát, cao 105 cm (bên phải) và tượng Phật Quan Âm Bồ Tát(bên trái), cao 105cm sứ màu trắng ở tư thế đứng, tay phải cầm hạt ngọc,tay trái cầm lọ nước Cam Lộ đê cứu độ chúng sinh.
Cấp 3: ở giữa là bát hương bằng đồng có đường kính 35cm, cao34cm.Cạnh bát hương bằng đồng là đôi chân nến bằng đồng cao 44 cm đặtcân đối ở 2 bên, trước chân nến là 1 bộ mõ và chuông đồng để dùng trongkhi tế lễ hoặc niệm kinh Phật
Gian bên phải của tiền đường là bàn thờ Quan Âm Thị Kính, với 1tượng Quan Âm Thị Kính ngồi trên tảng đá hình đỉnh núi, cao 82 cm, dướichân tượng là 1 bát hương bằng sứ cao 14cm, dường kính 10cm Gian bêntrái đặt bàn thờ Đức Thánh Hiền, với 1 pho tượng Đức Thánh Hiền cao95cm, dưới chân tượng là 1 bát hương sứ cao 26 cm, đường kính 27cm
Ở gian chái bên phải đặt bàn thờ Đức Ông Trên bàn thờ đặt tượngĐức Ông cao 108cm và 1 bát hương bằnh sứ cao 26cm, đường kính 27cm.Cạnh bát hương là đôi chân nến bằng gỗ cao 44cm đặt ở 2 bên
Ở gian chái bên trái, phía trong đặt bàn thờ Ngài Thổ Địa, trên bànthờ đặt 1 pho tượng Ngài Thổ Địa cao 114cm, dưới chân tượng là báthương cổ bằng đá, cao 25 cm, đường kính 27 cm, cạnh bát hương đá là dôichân nến bằng gỗ cao 44 cm đặt cân đối hai bên
Phía ngoài là bàn thờ thần Thành Hoàng được đặt trên một sập thờ
có kích thước cao 72 cm, rộng 75 cm, dài 148 cm Ở vị trí cao nhất là longngai và bài vị của thần Thành Hoàng, dưới long ngai là bát hương bằng sứ,cạnh bát hương là đôi hạc nhỏ bằng đồng cao 44 cm Dưới chân sập thờ làđôi hạc lớn cao 3m chầu ở hai bên
- Nhà tổ
Trang 38Gian giữa là bàn thờ tổ sư Đạt Ma đặt trên bệ thờ cao 119 cm, rộng
69 cm, dài 169 cm Ở vị trí cao nhất là bức chân dung tổ sư Đạt Ma trong
tư thế bước đi, vai quải 1 gậy dài đầu gậy buộc 1 hồ lô đượng rược Dướibức chân dung là pho tượng nhỏ bằng gỗ của tổ sư Đạt Ma (mô phỏng theohình của bức chân dung), cạnh tượng Đạt Ma là di ảnh của sư ĐàmThanh(sư trụ trì chùa trước kia), phía trước là bát hương bằng sứ cao 26
cm, đường kính 27 cm, một đôi chân nến bằng gỗ cao 44 cm đặt hai bên
Gian bên trái là bàn thờ Gia tiên- để các gia đình đến cúng cơm chaycho người thân mới qua đời để linh hồn được siêu thoát, ở chính giữa làlong ngai cao 112 cm, rộng 47 cm, có hình đôi rồng chầu vòng tròn âmdương đăng đối hai bên, trước long ngai là một bát hương bằng sứ cao 17
cm, đường kính 20 cm, cạnh bát hương là đôi hạc nhỏ bằng đồng cao 62
cm chầu ở hai bên
Gian bên phải đặt bàn thờ cụ Lê Thị Mão gồm ảnh chân dung của cụ,
lọ đựng tro cốt màu trắng để ở vị trí sát tường, phía trước ảnh thờ là mộtbát hương sứ cao 1o cm, đường kính 14 cm
2.2.1.3 Các hiện vật lịch sử, đồ thờ trong di tích
- 1 pho tượng Phật A Di Đà bằng đá có kích thước rộng 3,1m, cao 6,0m
- 1 pho tượng Phật Bà nghìn tay nghìn mắt cao 94cm
- 1 pho tượng Phật Quan Âm Bồ Tát cao 105cm
- 1 pho tượng Văn Thù Bồ Tát cao 95cm
- 1 pho tượng Đức Thánh Hiền cao 95cm
- 1 pho tượng Phật Mẫu cao 55cm
- 1 pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 105cm
- 1 pho tượng Ngài Thổ Địa cao 114 cm
- 1 pho tượng Phật Di Lặc cao 90 cm
Trang 39- 1 pho tượng Quan Âm Thị Kính cao 82 cm
- 1 Tòa Cửu Long sơ sinh cao 105 cm
- 1 pho tượng Địa Tạng Bồ Tát cao 105 cm
- 2 pho tượng Bà Hậu cao 74 cm
- 2 quả chuông đồng nặng 64kg
- 2 bát hương cổ bằng đá, 1 bát có đường kính 54cm, cao 58cm, 1 bát cao25cm, đường kính 27cm
- 1 bát hương bằng đồng cao 34cm, đường kính 35cm
- 4 đôi hạc, 3 đôi bằng đồng cao 64cm, 1 đôi bằng gỗ cao 3m
- 6 đôi chân nến bằng gỗ cao 44 cm
- 2 đôi lục bình bằng gốm, 1 đôi cao 155cm, 1 dôi cao 135cm
- 11 bát hương bằng sứ…
2.2.2 Đền thờ và lăng mộ Nguyễn Quán Nho.
2.2.2.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình trùng tu tôn tạo
Năm Vĩnh thịnh thứ bảy- đời vua Lê Dụ Tông ( năm 1708, tức ngày12/08 năm Mậu Tý), Nguyễn Quán Nho mất, nghi lễ an táng được ban theonghi lễ triều đình, được gia phong tước Quận công, phong là phúc thần giaocho con cháu dòng họ Nguyễn Quán và nhân dân địa phương an táng rồilập đền thờ, xây lăng mộ ở tại quê hương của ông, để đời đời thờ phụng
Tuy nhiên đó cũng là những gì mà sử sách nhắc đến sự ra đời khu ditích đề̀n thờ và lăng mộ Nguyễn Quán Nho Bởi lẽ thời gian cụ thể xây cất,cũng như quá trình trùng tu tôn tạo ngôi đền và khu lăng mộ Nguyễn Quán
Trang 40Nho thời xưa không được ghi chép trong sử sách, gia phả dòng họ NguyễnQuán, có chăng chỉ là chút ít thông tin do ông Nguyễn Quán Quyền (chitrưởng đời thứ 16 họ Nguyễn Quán ở Thị trấn Vạn Hà, đồng thời cũng làngười trông coi hương hoả cho đền thờ, lăng mộ Nguyễn Quán Nho) vàmột số ít vị cao niên trong làng kể lại trong một đợt hỏa hoạn ngôi đền thờcủa ông đã bị thiêu dụi nhưng do điều kiện khó khăn nên chưa thể xâydựng lại to đep như xưa mà chỉ dựng tạm một ngôi nhà nhỏ để thờ tự.
Dưới thời vua Thành Thái, năm 1891 một vị quan tên Nguyễn TháiHữu về làm tri phủ ở Thụy Nhuyên thấy cảnh đền thờ của ông quá sơ sàichưa xứng tầm với công lao của ông trước kia đã kêu gọi nhân dân quyêngóp tiền của, công sức xây lại đền có quy mô rất lớn, gồm hai dãy nhàTrung đường ba gian, Chính tẩm năm gian (hiện nay vẫn còn tấm bia đá cóniên đại năm 1891 ghi lại danh sách những người đã công đức cho đền)
Trong thời kỳ “bài phong”- năm 1968, ngôi đền đã bị phá dỡ, cạnhphần đất của Đền thờ trước kia người ta đã cho xây kho Hợp tác của thôn
Từ năm 1989, sau khi có quyết định của UBND, Sở Văn hóa thôngtin tỉnh Thanh Hóa cho phép trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử- văn hóa,
sự hỗ trợ của chính quyền xã Thiệu Hưng (nay là Thị trấn Vạn Hà) concháu dòng họ Nguyễn Quán đã xây lại ngôi nhà 3 gian ở cạnh nhà thờ họNguyễn Quán để lấy nơi nhang khói cho ông
Năm 1993 lăng mộ Nguyễn Quán Nho được sửa sang và xây khungbao xung quanh, cũng năm đó Đền thờ và lăng mộ Nguyễn Quán Nho đượccông nhận là Di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia
Năm 1999 được sự quan tâm của nhà nước, ngôi Tiền đường 3 gianđược xây mới, theo thiết kế của Bảo tồn Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, nhưng
do UBND Thị trấn quản lý thi công, với tổng quyết toán công trình là