Tuy các di tích lịch sử – văn văn hoá trên địa bàn huyện Đô Lơng đã đợc sự chú ý, quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, song cha có một côngtrình nghiên cứu nào nêu một cách tổng thể
Trang 11.3 Lịch sử phát triển và truyền thống văn hoá 14
Chơng 2: Một số di tích lịch sử - văn hoá ở huyện Đô Lơng
2.1 Khái luận chung về các di tích lịch sử - văn hoá 20
2.2 Khái quát về di tích lịch sử - văn hoá huyện Đô Lơng 23
2.3 Một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở huyện Đô Lơng 25
3.2.3 Giá trị văn hoá tâm linh và cố kết cộng đồng 66
bảng quy ớc chữ cái viết tắt
UBND : Uỷ ban nhân dânVHTT : Văn hoá thông tinNXB : Nhà xuất bảnLS-VH : Lịch sử - văn hoá
LS-CM : Lịch sử - cách mạng
Trang 2LSKTNT : Lịch sử kiến trúc nghệ thuậtTHCS : Trung học cơ sở
TP.Vinh : Thành phố VinhKHXH : Khoa học xã hội
mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Nớc Việt Nam đã có bề dày hàng ngàn năm lịch sử Đó là lịch sử đấutranh không ngừng để dựng nớc và giữ nớc Qua hàng chục thế kỷ mọi thứkhông chỉ ở nớc ta mà trên tất cả hành tinh đều thay đổi Để quay về quákhứ, diễn tả lại quá khứ thì các nguồn sử liệu về vật chất và tinh thần hiệncòn lu giữ và tồn tại đóng vai trò quan trọng nhất
Trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, các di tích lịch sửvăn hoá nh đền, đình, chùa, miếu, nhà thờ họ là một bộ phận của di sản vănhoá vật chất do nhân dân lao động sáng tạo ra Mặt khác gắn liền với nó lànhững sự tích, truyền thuyết, tín ngỡng, tôn giáo liên quan đến sự thành tạo
và tồn tại của các di tích trong tiến trình lịch sử Chính vì thế các di tích lịch
sử văn hoá giữ vai trò quan trọng trong việc phục dựng lại quá khứ Bởi thếkhi nghiên cứu về một kinh thành cổ, nhà sử học Phan Thuận An đã nói rằng:
“Những thành phố văn hoá đều cúi nhìn quá khứ của mình trên những di tích Chính là nhờ biết nhìn các di tích bằng đôi mắt chăm chú, con ngời có thể sống lại chuỗi thời gian xa xăm đầy những biến cố kỳ lạ đã dệt thành tấm vải vĩnh hằng của hiện hữu gọi là lịch sử ” [1;301]
Trang 3Nh vậy qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các di tích lịch sử văn hoá thìngời ta có thể nhìn thấu phần nào đợc những gì thuộc về quá khứ của dân tộc
và của từng địa phơng
Nghệ An xa nay vẫn đợc coi là mảnh đất trọng yếu có vị trí chiến lợcliên quan đến sự phát triển của quốc gia dân tộc Trong các thời kỳ phongkiến nơi đây trở thành điểm nóng tranh giành của các thế lực Đứng vững
chân ở Nghệ An thì có thể làm nên những công trạng lớn, bởi “Nghệ An có
địa thế rộng rãi, chính là đất xung yếu giữa Nam và Bắc Núi cao thì có Hồng Lĩnh, Kim Nhan, là trấn mạch của một phơng Sông lớn có sông Lam, sông La quanh co trăm dặm, phong thổ trong hậu núi cao sông sâu thực là một tỉnh lớn có vị trí chiến lợc” [9;186]
Trong các cuộc chiến tranh mà Pháp, Mỹ gây ra sau này, Nghệ Ancũng trở thành một trong những mảnh đất nóng của bom đạn Do lịch sử xứNghệ đầy sự biến động nh vậy nên trên mảnh đất này đã xuất hiện bao bậcanh hùng hào kiệt có công trạng lớn đối với lịch sử dân tộc Những nhân vậtlịch sử đó đã đợc chính quyền các triều đại phong kiến và nhân dân lập các
đền thờ, miếu thờ để ghi công họ Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có gần
1000 di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh đã phản ánh lịch sử hàohùng và mảnh đất địa linh nhân kiệt của xứ Nghệ Nghiên cứu hệ thống các
di tích này sẽ giúp chúng ta có các nhìn cụ thể về lịch sử của tỉnh nhà trongcác thời kỳ lịch sử, qua đó góp phần thấy rõ đợc quá khứ lịch sử dân tộc
Muốn làm đợc điều đó, phải đi từ cái nhỏ đến cái lớn Việc trớc tiên đó
là tìm hiểu thật kỹ các di tích của từng địa phơng Trên cơ sở đó có cái nhìntổng thể
Đô Lơng là một huyện có vị trí khá đặc biệt trong tỉnh Nghệ An Lịch
sử Đô Lơng gắn liền với lịch sử của xứ Nghệ Nơi đây hiện cũng còn hơn 50
di tích lịch sử các loại đang tồn tại Chính vì thế việc tìm hiểu các di tích này
là việc làm rất quan trọng để hiểu hơn về lịch sử của huyện, của tỉnh và củanớc nhà
Nhận thấy rõ việc tìm hiểu, nghiên cứu về các di tích lịch sử văn hoá,
mà đặc biệt là trên địa phơng mình sinh sống, tôi mạnh dạn tìm tòi, suy nghĩ,thâm nhập thực tế để tìm hiểu về các di tích trên địa bàn toàn huyện để làm
đề tài cho khoá luận tốt nghiệp Đề tài của tôi là: “Tìm hiểu một số di tích
Lịch sử - văn hoá ở huyện Đô Lơng tỉnh Nghệ An” Đây cũng là một đóng
Trang 4góp nhỏ bé để tìm hiểu truyền thống văn hoá của quê hơng, đồng thời là mộthoạt động nhỏ bé, thiết thực để chào mừng năm du lịch Nghệ An 2005.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Văn hoá tâm linh, tín ngỡng là một cái gì đó rất thiêng liêng nhngcũng rất gần gũi đối với cuộc sống chúng ta Có thể nói nơi con ngời ta hớngtới nhiều nhất về mặt tín ngỡng, tôn giáo là các di tích lịch sử văn hoá (đền,chùa, miếu mạo…) Các di tích này trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần cho) Các di tích này trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần chongời dân và cũng trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học
Cuốn hồ sơ di tích đền Quả Sơn do sở VHTT tỉnh Nghệ An lập năm
1999; Tác phẩm Đền Quả Sơn sự tích - đền miếu - lễ hội“ ” của Hoàng Hữu
Yên, Nxb Nghệ An 2001; Hội thảo Uy Minh V“ ơng Lý Nhật Quang với Nghệ An” do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn phối hợp với UBND
tỉnh Nghệ An tổ chức đầu năm 2002 và một số bài viết trong các tạp chí vănhoá Nghệ An …) Các di tích này trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần chođã nêu một cách khá đầy đủ, chi tiết và làm sáng tỏ nhiềuvấn đề liên quan đến Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang, ngôi đền Quả Sơn và lễhội diễn ra tại nơi đây
Cuốn hồ sơ di tích nhà thờ họ Nguyễn Cảnh ở xã Tràng Sơn do sở
VHTT Nghệ An lập năm 1992; Địa chỉ lễ hội “ ” – văn Nxb Nghệ An 2001; Kỷ
yếu Văn hoá truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ“ ” – văn Nxb KHXH Hà Nội
năm 1997; Tác phẩm Nghệ An di tích danh thắng“ ” Nxb Nghệ an 2001;Tạp chí văn hoá Nghệ An cũng có một số bài viết, đặc biệt là của tác giảTrần Minh Siêu…) Các di tích này trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần cho đã cho chúng ta nhìn một cách tổng quan về đền thờNguyễn Cảnh Hoan ở xã Tràng Sơn và các hoạt động văn hoá liên quan đến
di tích
Cuốn hồ sơ di tích đền Đức Hoàng ở xã Yên Sơn do sở VHTT Nghệ
An lập năm 1995; Một số thần tích trong Tục thờ thần và thần tích Nghệ“
An” của Ninh Viết Giao đã nêu một số mặt liên quan đến nhân vật Lê Trang
Tông và những vấn đề liên quan đến di tích nh kiến trúc, điêu khắc, lễ hội
Ngoài ra còn có một số cuốn hồ sơ do sở VHTT Nghệ An lập về đềnthờ Thái Bá Du ở xã Yên Sơn, đình Lơng Sơn ở xã Bắc Sơn…) Các di tích này trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần chocho ta biết thêm
về một số mặt của các di tích
Tuy các di tích lịch sử – văn văn hoá trên địa bàn huyện Đô Lơng đã đợc
sự chú ý, quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, song cha có một côngtrình nghiên cứu nào nêu một cách tổng thể về hệ thống các di tích, về đặc
Trang 5Đó là một điều đáng tiếc Mặc dù vậy những công trình đã nêu trên cũng đãtrở thành những nguồn sử liệu đáng quý trong việc tìm hiểu, nghiên cứu vềcác di tích – văn danh thắng trên địa bàn toàn huyện.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng: các di tích lịch sử – văn văn hoá trên địa bàn huyện Đô
L-ơng trên các mặt nh lịch sử di tích, kiến trúc, điêu khắc, lễ hội và các hoạt
động văn hoá khác lên quan ở các di tích lịch sử – văn văn hoá
3.2 Giới hạn: đi sâu tìm hiểu về các di tích lịch sử văn hoá đã đợc xếp
hạng của Bộ văn hoá thông tin nh đền Quả Sơn, Đền Đức Hoàng, Đền thờNguyễn Cảnh Hoan và một số di tích khác trên địa bàn huyện Đô Lơng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Trong đề tài này sẽ tiến hành với các nhiệm vụ sau:
- Khái quát về tự nhiên, xã hội, con ngời và lịch sử, văn hoá huyện ĐôLơng Qua đó thấy đợc nền tảng tạo nên các di tích
- Tiến hành làm sáng tỏ một số mặt nh: nguồn gốc xây dựng; quá trình
tu bổ; kiến trúc, điêu khắc; tế lễ, lễ hội của một số di tích đã đợc xếp hạng
- Rút ra những đặc điểm chung và riêng của các di tích lịch sử - vănhoá cũng nh việc rút ra những giá trị của các di tích Qua đó nêu đợc hiệntrạng và giải pháp bảo vệ, phát triển
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Chủ yếu lấy từ các tài liệu đã nêu ở phần lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thực hiện đề tài thành công sẽ đem lại những hiểu biết về mảnh đất
Đô Lơng và phần nào đóng góp rất lớn cho công tác bảo tồn, bảo tàng di tíchcũng nh đối với sự phát triển của huyện Đô Lơng Điều đó thể hiện trên cácmặt:
Thứ nhất: Làm nổi rõ những nhân tố làm nền tảng để tạo nên hệ thống
di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Mối liên hệ về nhân vật đợc thờ tự,
về nghệ thuật kiến trúc điêu khắc, về các hoạt động văn hoá liên quan đến ditích
Trang 6Thứ hai: Phân tích đợc giá trị, ý nghĩa của các di tích lịch sử văn hoá,
qua đó làm rõ hiện trạng và đề xuất những biện pháp nhằm tu tạo và bảo vệ
di tích Điều này sẽ góp phần đóng góp những ý kiến để Sở văn hoá thôngtin, Phòng văn hoá thông tin phối hợp với nhân dân địa phơng để bảo vệ, sửdụng có hiệu quả
Thứ ba: Cầm cuốn khoá luận của tôi trên tay, mọi ngời có thể đi tham
quan các di tích đã đợc nghiên cứu Nó nh một ngời bạn đồng hành và là
ng-ời hớng dẫn du lịch hữu hiệu cho du khách Công trình nghiên cứu này sẽgóp phần hớng dẫn du khách thập phơng về với mảnh đất Đô Lơng trong năm
du lịch Nghệ An 2005
7 Bố cục của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, phần nội dung của khoáluận bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát về tự nhiên, xã hội, con ngời và lịch sử – văn văn hoá huyện Đô Lơng.
Chơng 2: Một số di tích lịch sử - văn hoá ở huyện Đô Lơng
Chơng 3:Đặc điểm, giá trị và một số vấn đề sử dụng các di tích lịch
sử - văn hoá ở Đô Lơng
Trang 7nội dung
Chơng 1:
khái quát về tự nhiên, xã hội, con ngời và lịch sử văn hoá huyện Đô L– văn hoá huyện Đô L ơng
1.1 Điều kiện địa lý – văn tự nhiên
“Về Đô Lơng đi ngợc sông Lờng, mà nghe câu hò hết giận rồi
th-ơng ” lời mở đầu bài hát Mời bạn về Đô L“ ơng” của nhạc sĩ Phan Thanh
Chơng nh lời mời đầy trìu mến của con ngời Đô Lơng và trong đó cũng đã ẩnchứa việc phác thảo về con đờng đến với mảnh đất thân yêu này Cứ ngợcdòng Lam từ Cửa Hội Thống chắc chắn bạn sẽ về với Đô Lơng
Đô Lơng xa có tên gọi dân gian là Lờng, hiện nay những địa danh gắnvới chữ Lờng vẫn còn tồn tại nh Sông Lờng, Chợ Lờng, Đò Lờng Mỗi thời
kỳ lịch sử, từng triều đại phong kiến khác nhau thì có tên gọi hành chínhkhác nhau Chính vì thế Đô Lơng cũng đã trở thành vùng đất của nhiều tên
gọi khác nhau: Từ xa x“ a là đất Đô Giao, đời Ngô thuộc Cửu Đức, đời Đờng
là Hàm Hoan, đời Tiền Lê là đất của Hoan Đờng, đời Trần, Hồ là Kệ Giang,
đời Lê thuộc huyện Thạch Đờng, sau là đất của huyện Nam Đờng Năm Minh Mệnh thứ 21 (1940) nhà Nguyễn cắt 4 tổng của huyện Nam Đờng và 2 tổng của huyện Thanh Chơng lập ra huyện Lơng Sơn do phủ Anh Sơn kiêm
lý Đến đời Thành Thái mới đổi thành phủ Anh Sơn Tháng 4 năm 1963 theo quyết định của thủ tớng chính phủ số 32-CP (19/4/1963), Anh Sơn đợc tách thành 2 huyện là Anh Sơn và Đô Lơng Đô Lơng bao gồm các tổng: Bạch Hà, Thuần Trung, Yên Lăng, Đô Lơng và một phần Đặng Sơn” [19 ;2] Ngày nay
Đô Lơng gồm 31 xã và 1 thị trấn (thị trấn Đô Lơng)
Xét về vị trí địa lý, nếu dựa vào địa hình, địa mạo, dân c và đờng ranh
giới có sẵn, theo GS.Nguyễn Đổng Chi trong “Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh” đã chia Nghệ Tĩnh thành 7 khu vực Trong đó khu vực III gồm“
các huyện nằm hai bên bờ sông Lam nh Anh Sơn, Đô Lơng, Thanh Chơng, Nam Đàn, Hng Nguyên và Thành phố Vinh ” [3 ; 47]
Đô Lơng là huyện trung tâm của tỉnh Nghệ An, nằm về phía Tây Bắccủa thành phố Vinh Bao bọc xung quanh là các huyện bạn bao gồm: phía
Đông Nam là huyện Nam Đàn, Nghi Lộc; phía Bắc giáp ranh huyện Yên
Trang 8Thành; phía Tây Bắc giáp Tân Kỳ, Anh Sơn; phía Nam giáp huyện ThanhChơng.
Xét trong tổng thể chung các huyện theo đờng 7A thì ta thấy rằng ĐôLơng nằm ở vị trí trung chuyển từ các huyện miền núi (Kỳ Sơn, Con Cuông,Tơng Dơng, Anh Sơn) xuống các huyện đồng bằng ven biển (Yên Thành,Quỳnh Lu, Diễn Châu)
Từ thành phố Vinh, về với Đô Lơng có thể đi cả đờng bộ lẫn đờng thuỷ
Về đờng bộ thì có thể ngợc Quốc lộ 1A ra Hà Nội, đến thị trấn Diễn Châu rẽtrái theo Quốc lộ 7 khoảng 30km; con đờng bộ nữa có thể đi là từ TP.Vinhtheo tỉnh lộ 15A, 15B qua Hng Nguyên – văn Nam Đàn – văn Thanh Chơng sẽ về
đến Đô Lơng Còn theo đờng thuỷ có thể ngợc dòng sông Lam từ cầu BếnThuỷ, đi khoảng 80km cũng sẽ đến Đô Lơng.Xét trong hệ thống mạng lới giao
thông thì có thể coi Đô Lơng ở vị trí nh là một cái “dúm vó” của tỉnh nhà, từ
mọi hớng có thể vào Đô Lơng một cách dễ dàng
Về đất đai tự nhiên, Đô Lơng rộng khoảng 335,74km2, trong đó đồinúi và trung du chiếm 2/3 diện tích Địa hình của huyện nghiêng dần về phía
Đông Diện tích đất trồng trọt đợc phân bố trên các vùng bán sơn địa, ven bãisông Lam và các vùng kinh tế mới Vùng rừng đồi và trung du của huyện
nằm xen kẽ nhau và chủ yếu là “vòng ngoài”., nơi tiếp giáp với các huyện
bạn Nhìn chung về đất đai ở Đô Lơng khá màu mỡ, đặc biệt là các khu vựcven sông Điều đó rất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp Còn các rừng
đồi rất thuận tiện cho việc trồng các cây công nghiệp ngắn ngày Trong cấutạo địa chất thuở mới hình thành, các dãy núi ở Đô Lơng cũng đã kiến tạo,biến đổi mạnh tạo thành những hang động và thiên nhiên mới lạ
ở Đô Lơng, con sông Lam chảy qua địa bàn huyện với chiều dàikhoảng 20km là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt, đặcbiệt là chiến lợc phát triển kinh tế – văn xã hội của cả vùng Con sông Lam qua
đoạn huyện Đô Lơng đợc ngời dân ở đây gọi là sông Lờng Nó là đầu mốigiao thông quan trọng nối liền giữa Đô Lơng với các huyện khác Đồng thờicon sông này với việc chia 2 miền tả ngạn, hàng năm bồi đắp lợng phù sa rấtlớn nên là một lợi thế trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp cho huyện.Con sông còn là nơi cung cấp tới tiêu và dự trữ lợng nớc rất lớn để phục vụcho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, con sông L-ờng cũng đặt ra những vấn đề bức thiết hàng năm đó là việc đắp đê phòng lụt,
Trang 9Về khí hậu, cũng giống nh tỉnh Nghệ An và khu vực miền Trung, ĐôLơng nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, nắng lắm, ma nhiều, độ ẩmcao và bức xạ lớn Vào mùa hè cũng giống nh toàn khu vực Bắc Miền Trung,
đặc biệt là vào tháng 6 - 7 phải hứng chịu những đợt gió phơn Tây Nam (màdân ta hay gọi là gió Lào) cực kỳ oi bức Vào những thời gian đó, ở Đô Lơngcũng là một trong những nơi luôn báo động ở tình trạng nguy hiểm về cháyrừng
Nhìn chung về tự nhiên ở Đô Lơng có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế – văn xã hội Tuy nhiên khó khăn do thiên nhiên đặt ra vớingời dân ở đây cũng không phải là ít Để chống chọi với nó, từ xa xa con ng-
ời Đô Lơng đã biết đoàn kết cùng chung sức chinh phục thiên nhiên nh đắp
đê, xây đập, đào sông, mơng máng Mà thể hiện rõ nhất là trên địa bàn toànhuyện có hơn 10km đê điều, 57 hồ đập lớn nhỏ và hàng trăm trạm bơm n ớc
Đập Bara đợc xây dựng từ thời Pháp thuộc nổi tiếng khắp cả khu vực ĐôngDơng nay vẫn còn nguyên giá trị Hệ thống bơm nớc Văn Tràng có công suấttới cho gần 2.500ha
Sự đa dạng, phong phú của điều kiện tự nhiên đã tạo nên những nét đặcthù riêng trong sự phát triển kinh tế cũng nh xã hội, con ngời Đô Lơng
1.2.Xã hội, con ngời Đô Lơng
Huyện Đô Lơng hiện nay có khoảng 20 vạn dân (khoảng 7% dân sốtoàn tỉnh) Nếu nh trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An “có 6 dân tộc anh em sinhsống là Kinh, Thái, Thổ, Khơmú, H’Mông và Ơđu” [17; 15] thì nét rất riêng
ở Đô Lơng là tuyệt đại đa số đều ngời dân tộc Kinh Lý giải về việc tại sao ở
Đô Lơng không có ngời dân tộc thiểu số sinh sống, theo tôi phải chăng do vềmặt địa hình, Đô Lơng là huyện trung du và đồng bằng nên không thích hợpvới cuộc sống của các dân tộc thiểu số Việc xứ Bạch Ngọc ngay từ thời nhà
Lý từng là trấn sở của cả vùng đất rộng lớn Nghệ An phải chăng cũng là mộttrong lý do Ngời Kinh đến đây sinh sống, khai khẩn đất đai và đã đẩy cácdân tộc thiểu số lên vùng cao Để lý giải vấn đề này cần có sự tham gia củacác nhà khoa học, đặc biệt là ngành dân tộc học
Về nguồn gốc con ngời Đô Lơng thì đã có từ rất xa xa Các tài liệukhảo cổ học phát hiện các di cốt hoá thạch ở các vùng lân cận Đô Lơng nhDùng, Rạng (Thanh Chơng), Tân Kỳ, Diễn Châu, Nghĩa Đàn đã khẳng địnhrằng cách đây 20 vạn năm đã có ngời nguyên thuỷ sinh sống Con ngời Đô L-
ơng cũng xuất hiện vào trong bối cảnh chung đó
Trang 10Xét về tính cách của con ngời xứ Nghệ nói chung, theo GS.Nguyễn
Đổng Chi con ngời nơi đây có một số nét tính cách riêng biệt, đó là:
1- “Rất giàu lý tởng, lý tởng vơn tới đích cao, vợt lên thực tại”.
2- “Chất trung kiên Trung kiên ở đây là sự chất phác, là tính chân thực, là khí tiết bền bỉ của những tâm hồn tha thiết với quê hơng, với dòng
họ, với nghề nghiệp, không vì một biến cố nào mà để lộ ra những dao động”
3- “Sự khắc khổ trong sinh hoạt ” [3 ;76]
Đó là 3 đặc điểm điển hình thể hiện rõ con ngời xứ Nghệ và khi giaotiếp với ngời xứ Nghệ, ngời khác tỉnh họ nhận ra một cái gì đó rất khác, sở dĩ
nh vậy là do “bên cạnh những nét khô khan, khắc khổ, ngời ta còn dễ bắt gặp nét bớng bỉnh ngang tàn trong con ngời xứ Nghệ” [3; 77]
Con ngời Đô Lơng mang đầy đủ những đặc điểm trên của con ngời xứNghệ Tuy nhiên cũng phải thấy rằng từ xa xa con ngời Đô Lơng còn mang
một số nét tính cách riêng biệt khác Sự ngố ngáo, đáo để“ ” có từ thuở trớc và
trong dân gian thờng có câu: “Kẻ Treo mổ mèo lấy cá Thuần Trung, Bụt Đà, Bạch Hà, Long Thái, Thợng Thọ vác mõ đi rao, vác sào đi đâm, vác mâm đi chấn, vác mấn (váy) đi trùm” [3;134] (Kẻ Treo, Thuần Trung, Bụt Đà, Bạch
Hà, Long Thái, Thợng Thọ là những địa danh ở Đô Lơng)
Hay nh dân gian vẫn thờng hay có câu nói cửa miệng mỗi khi nghĩ về
con gái Đô Lơng: “Trai Cát Ngạn, gái Đô Lơng” hay “Gái Phờng Lờng, trai Phờng Liễu” Theo dân gian những câu nói đó đều phản ánh sự đanh đá, chua
ngoa của ngời con gái Đô Lơng Mỗi khi nhắc đến con gái Đô Lơng tôi linhcảm ngời đời vẫn có một cái gì khang khác trong cử chỉ, thái độ của họ.Những điều họ nghĩ về sự táo tợn, đanh đá về con gái vùng này không phải làkhông có cơ sở Tuy nhiên xét về góc độ khác ngời con gái Đô Lơng không
quá đáng nh dân gian vẫn thờng nói đâu, họ không đến nỗi nh “Gái phờng
Đông, đập nhông van trời” đâu Theo ông Trần Doãn Hùng – văn trởng phòng VHTT huyện Đô Lơng thì ngày x“ a do xuất phát từ việc con gái Đô Lơng
đẹp nổi tiếng nên ngời đời mới gán ghép sánh cùng với trai Cát Ngạn – văn những con ngời đầy bản lĩnh và khoẻ mạnh” Trong cuộc sống khổ cực, bơn
chải với cái ăn, cái mặc, ngời con gái Đô Lơng không muốn lép vế so vớicánh nam nhi nên họ rất giàu ý chí vơn lên, rất giàu nghị lực, bởi thế từ cửchỉ, hành động của họ rất kiên quyết, mạnh bạo Dẫu thế khi về nhà họ vẫn lànhững ngời vợ, ngời mẹ dịu hiền, đảm đang chăm lo cho cuộc sống gia đình
Trang 11Đô Lơng từ xa xa cũng đã nổi danh là mảnh đất hiếu học Quan niệm
về việc học hành của ngời dân ở đây rất đơn giản và rõ ràng: trớc là học đểbiết, để hiểu đạo lý làm ngời, sau nữa là học để giúp đời, giúp nớc Vì thế ởmảnh đất này những nhà nho thời xa xa đã nổi tiếng về sự khảng khái, chí h-ớng, hào hiệp và trọng khí tiết Nơi đây còn lu danh những dòng họ nổi tiếng
về truyền thống học vấn nh dòng học Nguyễn Cảnh, dòng họ Thái Ngô, dòng
họ Thái Đắc, dòng họ Nguyễn Duy
Xét về kinh tế thì ở Đô Lơng nghề nông vẫn là chủ yếu Hình ảnh
“chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” vẫn là phổ biến ở nơi đây.Tuy nhiên do
tự nhiên u đãi, đặc biệt là con sông Lam đã tạo nên 2 bờ tả, ngạn những bãiphù sa màu mỡ rất thích hợp cho ngô, khoai, lạc Bởi thế xét về lơng thực,thực phẩm Đô Lơng rất sung túc Trong dân gian xa nay vẫn có câu:
Muốn ăn khoai sọ chấm đ
Xuống đây mà ngợc Đò Lờng cùng anh
Đò Lờng bến nớc trong xanh Gạo ngon lụa tốt bến thành ngợc xuôi ”
Hay nh:
Bao giờ Bến Thuỷ hết dầu
Đô Lơng hết gạo anh hết cầu duyên em
Những ngành nghề thủ công ở Đô Lơng cũng rất phát triển Các nghề nhmộc, rèn, đan lát, gạch ngói, gốm đóng góp một phần không nhỏ tới việc
ổn định cuộc sống ngời dân nơi đây Những sản phẩm thủ công nghiệp ở ĐôLơng xa nay đã nổi tiếng trong dân gian:
Ai qua Ph
“ ợng Kỷ Tràng Sơn Gạch vôi nghề cũ đâu hơn chốn này ”
Nh vậy ta có thể thấy rằng Đô Lơng từ lâu đã là một huyện có nền kinh tế khá phát triển và xã hội ổn định Điều đó đã phần nào tạo nên những nét riêng trong truyền thống văn hoá
1.3 Lịch sử phát triển và truyền thống văn hoá
1.3.1 Lịch sử phát triển
Lịch sử Đô Lơng gắn chặt với lịch sử Nghệ An, xứ sở mà bao đời nay
vẫn đợc coi là “lá chắn”., “phên dậu” có ảnh hởng rất lớn tới sự tồn vong,
phát triển của lịch sử dân tộc
Buổi đầu nớc ta giành đợc độc lập tự chủ, dới vơng triều Lý danh xngNghệ An đợc ra đời (năm 2005 Nghệ An kỷ niệm 975 năm danh xng Nghệ
Trang 12An, 1030 - 2005) Nơi đây đợc triều đình phong kiến cực kỳ chú ý và coitrọng, bởi đây là nơi thờng xuyên phải đối chọi với nạn giặc ngoại xâm từLão Qua (Lào), Chiêm Thành từ phía Nam Bởi vậy vua Lý đã phải cửnhững ngời thân tộc vào Nghệ An để cai quản Năm Tân Tỵ Càn Phù Hữu
Đạo thứ t (1041), vua Lý Thái Tông xuống chiếu cho Uy Minh Hầu Lý NhậtQuang, là con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ vào làm tri châu Nghệ An.Sau khi khảo sát địa lý, địa hình và ý kiến của quần thần, Tri Châu Lý NhậtQuang đã chọn vùng Bạch Đờng (nay là 3 xã Ngọc Sơn, Lam Sơn và BồiSơn) làm thủ phủ đặt bản doanh Nh vậy Đô Lơng từng là bản doanh cả mộtvùng rộng lớn cả ba châu Hoan - Diễn - ái (nay tơng đơng là Nghệ An, HàTĩnh và một phần Thanh Hoá) Điều đó nói lên rằng mảnh đất Đô Lơng từ xa
xa đã đợc nhìn nhận với một vị trí chiến lợc hết sức quan trọng Từ hậu
ph-ơng vững chắc Nghệ An, mà bộ máy lãnh đạo, nơi tập trung quân, lph-ơng chủyếu ở Bạch Ngọc (Đô Lơng), nhà Lý đã lần lợt mở các cuộc tấn công chinhphạt các vơng triều phía nam và liên tiếp giành thắng lợi
Với vị trí chiến lợc, địa hình hiểm yếu và con ngời nổi tiếng về lòngnhân nghĩa, Đô Lơng trở thành nơi “đứng chân” và “trú chân” của các vị anh
hùng hào kiệt “Có thể nói trong suốt chiều dài lịch sử, từ thế kỷ XI đến nay, không có một cuộc nổi dậy nào của nhân dân Nghệ An chống lại cờng bạo
để giữ gìn độc lập chủ quyền cho dân tộc mà không có sự đóng góp to lớn về nhiều mặt của nhân dân Đô Lơng” [19; 5] Những thắng lợi vang dội của
nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo ở các trận Bồ Đằng, Trà Lân (ConCuông) làm cho giặc Minh “khiếp vỡ mật” có sự hậu thuẫn rất lớn về quân,lơng của nhân dân Đô Lơng Đến thời Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn phântranh từ thế kỷ XVI trở đi Nghệ An là vùng “đất căn bản” nên trở thành điểm
tranh giành của các bên và “nhân dân Đô Lơng cũng đã đứng dậy tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật Sau khi thất bại ở Đàng Ngoài ông chạy bùng Trấn Ninh thổi bùng ngọn lửa đấu tranh từ Kỳ Sơn đến Đô Lơng ” [ 19;5]
Từ sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta, triều đình phongkiến nhà Nguyễn từng bớc đầu hàng giặc, thế nhng nhân dân ta vẫn tiến hànhcác cuộc đấu tranh chống Pháp rất quyết liệt Trong phong trào Cần Vơng, ở
Đô Lơng có cuộc khởi nghĩa của tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành (xã ĐôngSơn nay) khởi xớng lãnh đạo đã quy tụ đợc đông đảo lực lợng tham gia, cuộc
Trang 13(Diễn Châu), Lê Doãn Nhã (Yên Thành) lãnh đạo, tạo thành một vùng căn cứrộng lớn.
Trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm gần đây Đô Lơngcũng là một trong những địa bàn trọng điểm chịu sự dày xéo của bom đạn.Nhân dân nơi đây lại có tinh thần cách mạng lớn nên Đô Lơng đã trở thànhmột trong những ngọn cờ đầu của phong trào cách mạng 1930-1931; Đô L-
ơng cũng là một trong ba nơi cùng với Bắc Sơn và Nam Kỳ đã nổ những phátsúng đầu tiên báo hiệu một thời kỳ cách mạng mới trong kháng chiến chốngPháp (đó là binh biến Đô Lơng ngày 13.1.1941; khởi nghĩa Bắc Sơn22.9.1940 và khởi nghĩa Nam Kỳ 23.11.1941)
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Đô L“ ơng có hơn 84 vạn
l-ợt ngời tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu Nhân dân nơi đây đã ủng hộ
713 chỉ vàng, 1745 ngôi nhà 3885 tấn thóc, 6,6 tỷ đồng tiền mặt Tổng chi viện cho chiến trờng lên đến 38,24 tỷ đồng Đô Lơng còn bổ sung 19.053 thanh niên quân thờng trực ” [20; 6] Do Đô Lơng có vị trí chiến lợc nên nơi
đây cũng hứng chịu hàng vạn tấn bom đạn, đặc biệt là ở địa bàn cầu Đô Lơng,
Đập Ba Ra, tuyến đờng 15A Chính sự kiên cờng chiến đấu của quân dân nơi
đây mà nay huyện Đô Lơng đã đợc nhà nớc phong tặng danh hiệu “Anh hùng
Lật lại trang sử trong buổi đầu nớc ta dành đợc độc lập tự chủ Từ thờinhà Lý, khi hoàng tử Lý Nhật Quang đợc giao vào Nghệ An làm tri châu,Bạch Ngọc đợc chọn làm lỵ sở đóng bản doanh Đặt trong bối cảnh lịch sử xã
hội Đại Việt lúc đó thì tôi thiết nghĩ: phải chăng Bạch Ngọc (Đô Lơng) hồi
đó là xứ sở của Phật giáo ?
Ta biết rằng trong lịch sử dân tộc, thời đại Lý – văn Trần xuất hiện hiện ợng độc đáo tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Đạo cùng song song tồn tạihoà bình), nhng Phật giáo đợc lấy làm quốc giáo Ông vua tổ của nhà Lý là
t-Lý Công Uẩn ít ra cũng là con nuôi của một vị s (s Vạn Hạnh) và nhờ nơngvào cửa phật mới thành tài Khi làm vua ông đã cho xây dựng hàng loạt chùa
Trang 14chiền để thờ tự Các thái tử, hoàng tử cũng đợc vua Lý Thái Tổ cho ở nhữngngôi chùa để hiểu biết sâu sát hơn mọi việc của dân Chẳng hạn nh vua choxây chùa Long Đức ở ngoài thành cho hoàng tử Phật Mã (anh của Lý NhậtQuang ở) Vì thế mà khi Lý Phật Mã lên ngôi đã chú trọng phát triển kinh tế
dân tộc, dạy cung nữ biết thêu dệt gấm vóc“ ” Hay nh cháu của Lý NhậtQuang là vua Lý Thánh Tông cũng nổi tiếng trong lịch sử là một vị vua có
lòng nhân ái đối với dân “yêu dân nh con, thờng thi hành chính sách khoan dung khi xử kiện, thấy dân trong ngục cơm không đủ no, chăn áo không đủ
ấm vua lấy làm thơng xót” [ 7; 261].
Từ những minh chứng trên thì thử hỏi tại sao Lý Nhật Quang cũng làdòng dõi quý tộc mà lại không chăm lo coi trọng Phật giáo? Theo ông
Nguyễn Đức Kiếm - Trởng phòng bảo tồn, bảo tàng Nghệ An thì: “xứ Bạch Ngọc xa kia là một trong những trung tâm Phật giáo của Nghệ An”., và tôi
cũng đồng tình với ý kiến đó Những chứng tích nay còn để lại nh Chùa BàBụt, Chùa Nhân Bồi, Chùa Nhân Trung có lịch sử từ thời Lý nay vẫn còn
nh những minh chứng nói lên điều đó
Đến thời nhà Lê Trung Hng, khi cuộc chiến tranh Lê - Mạc sắp đếnhồi kết thúc, các tớng thần xuất xứ từ Đô Lơng đã tìm về cội nguồn để xây
dựng bản doanh Theo sách Hoan Châu ký chép: “vào đời Lê Thế Tông năm
ất Mão (1615), Quảng Phú hầu Nguyễn Cảnh Hà và công chúa Trịnh Thị Ngọc Thanh đã chọn ngày làm tháng tốt, tìm gỗ tốt gần đấy, gọi thợ tới trùng
tu chùa trên núi Bụt Đà (nay thuộc xã Đà Sơn - Đô Lơng), tiêu tốn không biết bao nhiêu mà kể, sửa chữa cam lộ thợng điện ba gian, tiền đờng bảy gian, tả vu ba gian, am bên phải ba gian và tam quan có gác ba gian Chùa
tu sửa xong lại tạc nhiều tợng phật để thờ [18; 227] Chùa Bụt Đà nay không
còn nữa, nhng ở trên núi Già ở Đà Sơn còn có những dấu tích của chùa ở dớimép chân núi còn có miếu Động Đà Điều đó nói lên rằng từ xa mảnh đất ĐôLơng đã rất đợc coi trọng và chính những t tởng tốt đẹp của Phật giáo đã ănsâu vào tâm thức con ngời nơi đây
Nhân nói về tôn giáo ở Đô Lơng, tôi xin phác qua đôi nét về công giáo
ở nơi đây Toàn huyện hiện nay có khoảng 8000 ngời theo Thiên chúa giáo(4% dân số toàn huyện) Tất cả có 4 xứ 24 họ với 1.426hộ Bốn xứ đó là xứ
Lu Mỹ ở Trù Sơn bao gồm 6 họ với 596 hộ – văn có lịch sử ra đời từ năm 1890.Nơi đây còn có một dòng tu Mến Thánh giá với 42 nữ tu; xứ Thanh Tân ở
Trang 15Hiến Sơn gồm 6 họ với 243 hộ; xứ Sơn La ở Xuân Sơn có 5 dòng họ với 277hộ; xứ Bột Đà ở Đà Sơn gồm 5 dòng họ với 310 hộ.
Hoạt động của công giáo ở Đô Lơng nói nh ông Lê Thái Nhung – vănchuyên viên phụ trách tôn giáo của huyện đã dùng một chữ rất khái quát đó
là tơng đối “thuần” Lơng, giáo sống một cách hoà thuận, chan hoà cùng
nhau ra sức xây dựng gia đình ấm no, làng xóm vui vẻ và cùng nhau phấn
đấu huyện vững mạnh
Trong đời sống tinh thần, có thể nói rằng truyền thống tốt đẹp nhất vềvăn hoá của nhân dân Đô Lơng đó là đạo lý uống nớc nhớ nguồn, coi trọngquá khứ Mặc dù qua thời gian bào mòn, chiến tranh tàn phá nhng các di tíchthuộc về tín ngỡng của tổ tiên vẫn còn dấu tích và đợc bảo vệ rất chu đáo.Ngày nay đất nớc đợc hoà bình, đời sống đợc nâng cao thì con ngời ở nơi đâylại đặc biệt coi trọng truyền thống văn hoá Đợc sự chỉ đạo, giúp đỡ của Sởvăn hoá thông tin tỉnh Nghệ An, phòng văn hoá thông tin đã phối hợp vớiBan văn hoá các xã và nhân dân các vùng tổ chức tái tạo, tu bổ lại các di tíchlịch sử văn hoá Những di tích nh Đền Quả Sơn, Đền thờ Nguyễn Cảnh Hoan,
Đền Đức Hoàng, Đền thờ Thái Bá Du, chùa Bà Bụt, chùa Phúc Mỹ đã và
đang đợc khôi phục trở lại Tại các di tích này trở thành những điểm hội tụcủa ngời địa phơng và khách thập phơng về đây để tởng nhớ về quá khứ hàohùng của dân tộc Những ngày sóc vọng, ngày rằm, mồng 1 hay lễ tiết tạinhững nơi này khói hơng nghi ngút Đặc biệt ở nhiều di tích đã gắn liền vớicác lễ hội truyền thống diễn tả lại công lao của các vị tiên tổ Có thể nói rằngcác di tích lịch sử - văn hoá này nh một sợi dây vô hình về tâm linh gắn kếtcác thành viên trong toàn huyện trở thành một khối đoàn kết cộng đồng cósức mạnh vô địch không có gì có thể phá vỡ đợc
Trong thời đại ngày nay, khi đất nớc đang đổi mới đạt đợc nhiều thànhtựu thì ở các địa phơng, các dòng họ là điểm hội tụ để thi đua phát triển Các
họ đều ra sức xây dựng họ văn hoá, làng văn hoá Theo thống kê của huyệnnăm 2004 thì có hơn 150 dòng họ đạt danh hiệu dòng họ văn hoá cấp xã,huyện, thị Trong đó có 8 dòng họ đợc UBND huyện tặng cờ và công nhậndòng họ văn hoá cấp huyện, có nhiều dòng họ đạt dòng họ văn hoá cấp tỉnh,dòng họ đạt danh hiệu văn hoá cấp quốc gia
Trên đây là tất cả những đặc điểm cơ bản nhất về Đô Lơng Những
điều kiện tự nhiên, xã hội, con ngời, lịch sử đó đã có tác động rất lớn, tạo nên
Trang 16nét rất riêng về văn hoá ở nơi đây Và đặc biệt thể hiện ở những di tích lịch
sử - văn hoá còn tồn tại trên mảnh đất này
Chơng 2
Một số Di tích lịch sử văn hoá – văn hoá huyện Đô L
ở huyện Đô Lơng 2.1 Khái luận chung về di tích lịch sử – văn văn hoá
Theo tác giả Hồ Hữu Thới trong “Nghệ An di tích danh thắng” giảithích:
Trang 17- Di tích khảo cổ là những di khảo cổ lu giữ những dấu tích về quá khứ
hình thành, phát triển của ngời Việt cổ trên đất nớc ta Di tích này bao gồm:hang động, gò đồi, bãi đất
- Di tích lịch sử, di tích cách mạng là nơi lu niệm, tởng nhớ các nhân
vật lịch sử, các anh hùng dân tộc trong các cuộc kháng chiến Đặc biệt di tíchcách mạng gắn liền với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng cộng sản
- Di tích kiến trúc nghệ thuật là những công trình văn hoá có kiến trúc
cổ, đẹp, trong đó có những nét chạm trổ, hoa văn, điêu khắc điển hình chomột thời đại
- Di tích danh thắng là những khu vực thiên nhiên có cảnh quan đẹp
nổi tiếng có giá trị văn hoá do thiên nhiên sắp đặt, bài trí bao gồm núi non,hang động, rừng cây, biển cả làm say mê lòng ngời.[14; 20]
Còn thế nào đợc gọi là di tích lịch sử - văn hoá:
-Theo tác giả Nguyễn Đăng Duy trong “bảo tồn di tích lịch sử - văn
hoá” thì: Đ “ ợc gọi là di tích lịch sử – văn văn hoá vì chúng đ ợc tạo ra do con ngời (tập thể hay cá nhân) hoạt động sáng tạo lịch sử, con ngời hoạt động văn hoá mà hình thành nên Văn hoá ở đây bao gồm cả văn hoá vật chất, văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần” [ 4; 11].
-Theo Trần Minh Siêu và Lê Tùng Dơng trong “Nghệ An di tích danh
thắng” thì “Di tích lịch sử văn hoá là không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hay cá nhân con ngời hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [14 ; 7].
Theo pháp lệnh về việc bảo vệ di tích – văn danh thắng do Hội đồng nhànớc CHXHCN Việt Nam do Chủ tịch Trờng Chinh ký ngày 31/3/1984 chỉ rõ:
“Di tích lịch sử – văn văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị về lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng nh
có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá xã hội” [15; 4].
Theo Nghị định số 288 của Hội đồng bộ trởng ban hành ngày21/12/1985 nói rõ hơn về những di tích lịch sử – văn văn hoá bao gồm:
- Những di tích, di chỉ có liên quan đến sự phát triển lịch sử dựng nớc
và giữ nớc của dân tộc, sự phát triển văn hoá xã hội Việt Nam
- Những di tích và di chỉ phản ánh nguồn gốc loài ngời và các dân tộc
ở Việt Nam, phản ánh nền văn minh vật chất và tinh thần thời cổ, trung đại
Trang 18- Những di tích có liên quan đến cuộc đời hoạt động và sáng tạo củacác anh hùng dân tộc, các nhà hoạt động chính trị, các nhà hoạt động khoahọc, văn học nghệ thuật lỗi lạc.
- Những công trình kiến trúc, điêu khắc, các tác phẩm nghệ thuật, các
t liệu lu trữ ở th viện, các tiêu bản, vật mẫu, các bộ su tập có liên quan đến sựphát triển lịch sử văn hoá dân tộc
Nh vậy qua các ý kiến của các nhà văn hoá học, qua luật bảo vệ di tích– văn danh thắng của Chính phủ đều thống nhất ở điểm chung đó là: di tích lịch
sử – văn văn hoá là những công trình sáng tạo của con ngời trong quá khứ, nóliên quan đến những sự kiện lịch sử lớn của dân tộc, nó tồn tại đến ngày nay
và để lại những giá trị lịch sử, giá trị văn hoá to lớn, phản ánh từng thời kỳcủa lịch sử dân tộc
2.1.2 Các thành phần cấu tạo nên di tích
Xét về hình thức bên ngoài và cấu tạo tự nhiên bên trong, căn cứ quy
định về công tác bảo tồn, bảo tàng thì những di tích lịch sử - văn hoá lànhững vật thể có thể nhìn thấy đợc, sờ thấy đợc (có kích thớc, hình dạng) đợcgắn với các sự kiện, nhân vật tiêu biểu của lịch sử dân tộc, lịch sử nhân loại
có 2 dạng di tích: di tích bất động sản và di tích động sản
- Di tích bất động sản là loại di tích, vật thể lớn cất giữ tại chỗ gắn với
một cảnh quan nhất định xung quanh, có thể trong di tích có những động sản.Dạng này thờng là các công trình kiến trúc xây dựng cố định nh đình, chùa,
đền, miếu và các hiện vật cố định trong đó nh bia đá, cổng tam quan, longngai, hơng án
- Di tích động sản là loại di tích, vật thể có thể chuyển dời, thờng đợc
su tầm tập trung bảo quản, giới thiệu Ví nh các cuốn gia phả, sắc phong, đaokiếm
Xét về thành phần cấu tạo ta thấy các di tích lịch sử văn hoá bao gồm cácthành phần sau:
- Bản thân kiến trúc vật thể: đền, chùa, miếu và các đồ thờ tự
- Môi trờng thiên nhiên và kiến trúc bao quanh di tích nh sông, núi, ao,
hồ, cây cối
- Các di sản văn hoá phi vật thể diễn ra trong môi trờng di tích nh lễhội, cúng tế, sinh hoạt văn hoá khác
Trang 19Các di tích lịch sử văn hoá đều tồn tại ở dạng vật thể nên thành phầncấu tạo có thể bằng: chất liệu vô cơ (gạch, đá, vôi, cát ) chất liệu hữu cơ (gỗ,tre, nứa, giấy ) hay hỗn hợp giữa hữu cơ và vô cơ.
2.2 Khái quát về di tích lịch sử – văn văn hoá ở Đô L ơng
Hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá ở Đô Lơng đợc sinh ra và nuôi ỡng bằng những tín ngỡng, đạo lý và phong tục truyền thống của dân tộc nên
d-có sức sống và sức lan toả mãnh liệt Mặc dù qua bao thăng trầm của lịch sửsong các di tích lịch sử – văn văn hoá vẫn tồn tại, vẫn đợc lu giữ bởi những néttruyền thống của buổi đầu xây dựng
Theo quyết định của UBND tỉnh Nghệ An về việc phân cấp quản lýcác di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh số 1306/QĐ-UB ngày 12/4/1997thì ở Nghệ An có 725 di tích – văn danh thắng, trong đó có 103 di tích – văn danhthắng đợc trung ơng xếp hạng và công nhận là di tích quốc gia, 13 di tích đợcUBND tỉnh ra quyết định đăng ký bảo vệ Trong nền cảnh chung ấy thì ở ĐôLơng có tới hơn 50 di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh, trong đó
có 9 di tích đợc Bộ văn hoá thông tin cấp bằng xếp hạng, có 1 di tích đợcUBND tỉnh Nghệ An ra quyết định đăng ký bảo vệ (đền Quả Sơn), số còn lại
đang có kế hoạch lập hồ sơ trình Trung ơng xếp hạng
Nhìn trong tổng thể của hệ thống các di tích lịch sử văn hoá và danhlam thắng cảnh toàn tỉnh Nghệ An thì di tích – văn danh thắng Đô Lơng chiếmmột vị trí khá khiêm tốn Thế nhng về giá trị lịch sử – văn văn hoá thì cũngkhông thua kém gì ở xứ Nghệ xa nay nổi tiếng với 4 di tích đợc coi là linhthiêng và đẹp nhất: “Cờn, Quả, Bạch Mã, Chiêu Trng” thì Đô Lơng đã đónggóp ngôi đền Quả Sơn nổi tiếng thờ Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang Trongtổng thể 13 di tích toàn tỉnh đợc UBND tỉnh đăng ký bảo vệ thì ở Đô Lơng cómột di tích
Nói về địa bàn phân bố các di tích lịch sử văn hoá ở huyện Đô Lơngthì ta thấy rằng thờng nổi lên một số cụm di tích, chẳng hạn nh cụm di tíchthuộc xã Văn Tràng xa (nay là xã Yên Sơn) có tới 3 di tích đó là Đền ĐứcHoàng thờ vua Lê Trang Tông; đền thờ Chân quận công Thái Bá Du, chùaPhúc Mỹ Còn dọc theo bờ Lam giang, đặc biệt là xứ Bạch Ngọc xa (nay làNgọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn) cũng đã tập trung tới 2/3 di tích, đó là đền QuảSơn thờ Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang; chùa Bà Bụt gắn với sự tích ngời cócông giúp đỡ Lý Nhật Quang; đình Thợng Giáp; đình Nhân Trung, đình PhúcHậu và đi xuôi gần cầu Bara thì đó là di tích đền thờ Thái phó Tấn Quốc
Trang 20Công Nguyễn Cảnh Hoan Nh vậy ta thấy rằng các di tích thờng nằm ởnhững vùng đất thuận tiện về giao thông và trớc đây đã có bề dày về lịch sử
và văn hoá Ngoài ra còn có một số di tích nằm rải rác ở các khu vực khácnhau nh Đình Lơng Sơn ở xã Bắc Sơn; miếu Bụt Đà ở xã Đà Sơn; Truông Bồn
ở Mỹ Sơn; Truông Cồn Đọi ở xã Đà Sơn
Nói về lịch sử của các di tích lịch sử - văn hoá ở huyện Đô Lơng thì đã
có một bề dày hàng thế kỷ Đáng chú ý là di tích đền Quả Sơn và chùa BàBụt đợc xây dựng từ thời nhà Lý cách nay đã ngót gần chục thế kỷ Một số ditích khác đợc xây dựng vào thời hậu Lê, và có 3 di tích đã đợc xếp hạng ditích lịch sử văn hoá cấp quốc gia đợc xây dựng cùng thời Lê và gắn liền với
sự phục hng của nhà Hậu Lê (1533-1788) đó là Đền Đức Hoàng; Đền thờTấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan và đền thờ Chân quận công Thái Bá Du.Còn đa phần các di tích khác chủ yếu đợc xây dựng cuối Lê - đầu Nguyễn.Qua thời gian phần lớn các di tích đã đợc xây dựng hoặc tu bổ lại hoàn toàn.Tuy vậy những nét cổ xa của các di tích vẫn đợc lu giữ Hiện nay trongkhông khí quay về cội nguồn, tại các di tích các lễ hội cổ truyền đang từng b-
ớc đợc phục hồi lại Để thấy rõ hơn về các di tích lịch sử – văn văn hoá ở Đô
L-ơng, chúng ta đi sâu tìm hiểu một số di tích tiêu biểu đã đợc Bộ VHTT xếphạng, đó là đền Quả Sơn, Đền thờ Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan, đền
Đức Hoàng
2.3 Một số di tích lịch sử – văn văn hoá tiêu biểu ở Đô L ơng
2.3.1 Đền Quả Sơn
2.3.1.1 Nguồn gốc xây dựng
Xa nay trong dân gian thờng có câu ca tụng rằng: nhất Cờn, nhì Quả,“
tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trng” Đó là bốn ngôi đền đợc coi là đẹp nhất và linh
thiêng nhất xứ Nghệ (Đền Cờn ở xã Quỳnh Phơng - Quỳnh Lu - Nghệ Anthờ “Tứ vị thánh nơng”.; Đền Bạch Mã ở xã Võ Liệt - Thanh Chơng - Nghệ
An thờ danh tớng Phan Đà; Đền Chiêu Trng ở xã Thạch Kim Thạch Hà
-Hà Tĩnh thờ danh tớng Lê Khôi)
Đền Quả Sơn ở xã Bồi Sơn - huyện Đô Lơng - tỉnh Nghệ An là đền thờchính thờ hoàng tử thứ 8 con vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) là Uy Minh V-
ơng Lý Nhật Quang Ngoài ra đền còn là nơi để thờ Đông Chinh Vơng, DựcThánh Vơng đều là các hoàng tử của vua Lý Thái Tổ
Trang 21Sở dĩ đền có tên gọi là đền Quả Sơn là do đền nằm ở dới chân núi Quả(Quả Sơn là một hòn núi hình tròn, không cao lắm và diện tích không lớnlắm – văn nó trông giống nh một mâm quả) Đền còn có tên nôm là Đền Mợu,vì Mợu là gọi chệch của tên Làng Miếu Đờng, xã Bạch Ngọc xa, sau đổithành làng Tập Phúc, xã Bạch Ngọc.
Về nhân vật đợc thờ trong đền Quả Sơn thì có ít tài liệu để lại Tuynhiên qua nhiều nguồn t liệu khác nhau, đặc biệt là cuộc hội thảo khoa học
về “Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang với Nghệ An” do trung tâm khoa học xãhội và nhân văn quốc gia phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức vào đầunăm 2002 thì những nét về cuộc đời, sự nghiệp và công lao của vị tri châuNghệ An này đã đợc làm sáng tỏ
Qua cuộc hội thảo này các nhà khoa học hàng đầu của đất nớc bằngnhiều dẫn chứng sử học đã thống nhất rằng: Lý Nhật Quang là hoàng tử thứ 8của vua Lý Thái Tổ, năm sinh của Ngài không nói rõ Chỉ áng chừng Ngàisống vào khoảng đầu thế kỷ XI Lúc nhỏ ông đã là một ngời thông minh,hiếu học, trí cao tài rộng và có lòng yêu nớc thơng dân
Nhà Lý đợc thành lập, việc dời đô từ Hoa L (Ninh Bình) ra ThăngLong (Hà Nội) năm 1010 là một sự kiện lịch sử trọng đại tạo nên bớc ngặtcho lịch sử dân tộc Đất nớc kể từ ngày dành đợc độc lập tự chủ (từ năm938) đến thời nhà Lý là một bớc phát triển vợt bậc Vơng triều Lý đã ra sứcphát triển đất nớc và rất quan tâm đến việc trấn an biên thuỳ Các con emthân tộc của Vua Lý Thái Tổ đợc điều đi trấn giữ các vùng trọng yếu giápranh với các nớc
Năm 1039 Lý Nhật Quang đợc vua anh là Lý Thái Tông cử vào trôngcoi việc tô thuế ở vùng đất Nghệ An Thời đó Nghệ An là vùng đất biên ải,cực nam của quốc gia Đại Việt Đây là vùng đất âm u, hoang vắng, tha dân,nhiều thú dữ Hơn nữa lại tiếp giáp với những nớc nh Chiêm Thành, Lão Qua(Lào) và dới nữa là Chân Lạp Các vơng triều này đang ngày đêm lâm le đedoạn tấn công vào vùng đất Nghệ An để mở rộng lãnh thổ Với vị trí quantrọng nh vậy, Nghệ An trở thành vùng đất đợc sự quan tâm hàng đầu về phíaNam của các chính quyền phong kiến
Đợc giao nhiệm vụ ở một vùng đất đầy khó khăn và phức tạp nh vậy,thế nhng với sự thông thái của mình Lý Nhật Quang đã từng bớc ổn định đợcdân chúng và khai khẩn đất đai phát triển kinh tế “Sách Việt Điện U linh
tập” chép: “Năm Càn Phù Hữu Đạo thứ nhất (1039), đợc chọn làm việc tô
Trang 22thuế ở Nghệ An giữ chức mấy năm, sợi tơ, sợi tóc của dân không hề xâm phạm, nổi tiếng liêm trực Nhà vua càng yêu mến, ban cho hiệu là Uy Minh thái tử, giao cho việc quân dân ở Châu ấy” [ 23;42]
Đến năm 1041 Lý Nhật Quang đợc vua Lý Thái Tông xuống chiếu cử
làm Tri châu Nghệ An với tớc phong “Uy Minh Hầu” với trọng trách nặng nề
đứng đầu vùng Hoan - Diễn, Lý Nhật Quang đã thể hiện đợc bản lĩnh, tàinăng của mình trên tất cả mọi lĩnh vực Ông tích cực đi đây đi đó, khuyếnkhích nhân dân khai khẩn đất hoang, mở rộng sản xuất, hoà giải mọi sự bất
đồng trong dân chúng Nhật Quang còn cho mở mang xây dựng nhiều đồntrại, quân binh, tích luỹ đợc nhiều lơng thực, vũ khí, làm nên một hậu phơnghết sức to lớn và vững chắc cho các cuộc thân chinh của nhà Lý đi đánhchiếm các vơng quốc phía Nam để mở rộng lãnh thổ Năm 1044 Lý TháiTông thân chinh đi đánh chiếm thành Trớc đó Thái Tông đã sai Lý NhậtQuang lập bản doanh Uy Minh Hầu đã lập một bản doanh gọi là trại Bà Hoàthuộc xã Đờng Hoà, huyện Ngọc Sơn (nay thuộc Tĩnh Gia – văn Thanh Hoá)
Trại đợc xây dựng kiên cố “4 mặt đào hầm sâu, đắp luỹ cao, ở trong trai đất rộng có thể chứa đợc ba, bốn vạn quân, kho tàng tiền lơng đủ dùng 3 năm”.
[ 23; 42] Đến khi vua đi đánh Chiêm Thành, thế thắng lừng lẫy, vua ChiêmSạ Đẩu bị chém đầu Tháng 8 năm đó nhà vua khải hoàn về tới hành doanh ởNghệ An, thấy Nhật Quang lo liệu việc công đầy đủ, có nhiều công lớn nênvua Lý Thái Tổ đã trao cho cai quản một lộ ấy, thăng lên tớc Vơng, trao cho
quyền “Tiết việt” (nghĩa là có quyền tối cao ở vùng đất châu Nghệ An, kể cả
việc phong tớc các quần thần cũng đợc tự mình quyết định mà cha cần bẩmbáo với vua)
Đợc giao làm tri châu Nghệ An, cai quản cả một vùng rộng lớn HoanDiễn xa (nay thuộc một phần Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh), Lý NhậtQuang sau khi đi thăm dò địa thế đã chọn vùng đất Bạch Đờng (sau đổi thànhBạch Ngọc) làm phủ lỵ, thủ phủ đóng bản doanh của mình
Bạch Đờng nằm về phía tả ngạn sông Lam, là điểm tiếp chuyển giữa
hai vùng miền núi trung du và đồng bằng của vùng “Từ đây có thể xuôi theo
đờng thuỷ ra biển Đông, lên tận biên giới phía Tây hay vạch đờng bộ đến Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, men theo các huyện đồng bằng Quỳnh Lu, Diễn Châu, Yên Thành Đứng chân tại phủ lỵ này có thể kiểm soát đợc cả vùng Thợng du và vùng đồng bằng Lúc thuận lợi thì phát huy thế mạnh khống chế miền ngợc, làm chủ miền xuôi Lúc khó khăn thì về đây thủ hiểm Sông rộng,
Trang 23núi cao, khe sâu, rừng rậm, lèn đá chập chùng là những bức thành thiên nhiên lý tởng cho một căn cứ địa, một an toàn khu của nhiều thời kỳ lịch sử giữ nớc tại xứ Nghệ” [ 23;29] Với vị thế ấy ta thấy rằng Lý Tri châu có một
tầm nhìn chiến lợc và có ý xây dựng trấn sở lâu dài
Với vai trò là ngời cai quản thần dân“ ” của vùng Hoan Diễn Lý Trichâu Nghệ An đã ban hành nhiều chính sách tiến bộ và trực tiếp chỉ đạo việc
ổn định và phát triển toàn vùng Ông đã mở đ“ ợc 5 châu, 20 trại, 56 sách (có lẽ Châu ở đây đợc coi nh là phủ, huyện ?) khai khẩn mở mang các vùng Con Cuông, Kỳ Sơn, Tân Kỳ, Yên Thành (nay) Ông còn khuyến khích nông dân trồng lúa, nuôi tằm dệt lụa, nuôi trâu, bò, ngựa động viên nhân dân các vùng ven biển, ven sông đóng thuyền đánh cá, lu thông buôn bán giữa các vùng ” [22; 16] Những việc làm đó đã làm cho nhân dân trong vùng
theo ông rất đông, họ hăng hái làm ăn, đoàn kết một lòng Các bọn cớp bócquấy nhiễu trong vùng không dám hoạt động nữa Mọi ngời gọi Ngài là TriệuCông - vị quan nổi tiếng thơng dân thời cổ đại Trung Quốc Chuyện cũng kểrằng hồi đó ở Ô Châu (Thừa Thiên ngày nay) bọn cớp phá thờng đến cớp phávùng Kỳ Hoà (Kỳ Anh – văn Hà Tĩnh nay) Lý Nhật Quang đem quân vào thìbọn cớp không còn thấy hơi tiếng gì nữa Hay nh ở vơng quốc Chăm Pa, cácthế lực giặc giã của các địa phơng đã nổi dậy không quy thuận vua Chăm.Vua Chăm đã phải nhờ sự giúp đỡ của Tri châu Nghệ An Lý Nhật Quang đã
đem quân vào đóng núi Thị Nại (nay là Bình Định), các quan quân địa phơngChăm pa bèn nghe theo và quy phục vua Chăm (Vì thế mà còn có núi TamToà ở Bình Định) Tất cả những việc làm đó của Lý Tri châu đã khiến chotình hình xã hội trong vùng đợc ổn định, nhân dân cả châu an c lạc nghiệp
Đến thời Thánh Tông, niên hiệu Long Thuỵ Thái Bình tam niên (1056)Tri châu Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang từ chức Tơng truyền rằng sau khiVơng dẹp yên các giặc Ô Kiệt, Lý Cát, có kẻ nói với vua rằng Vơng làm việcchuyên quyền tự ý dùng quân đánh dẹp Nhà vua lấy làm ngờ vực thế là V-
ơng bèn từ chức Nghe tin Ngài giản chức “nhân dân trong châu vịn vào
c-ơng ngựa mà khóc nh khóc cha mẹ mất” [23; 20 ]
Công lao của Uy Minh Vơng đối với vùng đất Hoan Diễn rất to lớn Sự
tích Quả Sơn linh từ ghi: “Ngài ở Châu 19 năm, trừng trị bọn gian, khen ởng ngời lành, khai khẩn đất hoang, chiêu mộ lu dân Bọn vô lại phải im hơi, ngời dân về với vơng đợc yên nghiệp Ngày thờng qua lại vùng này, vùng khác, dạy nghề làm ruộng, chăn tằm, trồng cây cối, nuôi gia súc, có nhiều
Trang 24th-chính sách có lợi cho dân, làm cho dân đoàn kết Có ngời đến kiện tụng thì Ngài lấy liêm sỉ, lễ nghĩa giảng dạy cho tự giác ngộ, ai nấy đều cảm hoá không bàn đến kiện cáo nữa” [ 23 ;30]
Năm sau, vào năm 1057 Lý Nhật Quang qua đời Về cái chết của ôngcòn có nhiều truyền thuyết dân gian khác nhau Sau khi Lý Tri Châu qua đời,nhân dân xứ Nghệ khắp nơi lập đền thờ ông và tôn ông lên Thành Hoànglàng Hiện nay trên đất Nghệ An và Hà Tĩnh có hơn 40 ngôi đền thờ ông.Trong đó ngôi đền chính là ở núi Quả Sơn – văn xã Bồi Sơn – văn huyện Đô Lơng
Để tởng lệ công lao của vị danh tớng, danh thần kiệt xuất, đồng thờilàm tăng thêm hào quang cho vơng triều mình, các triều đại đã lần lợt giaphong tớc cho Lý Nhật Quang
- Triều Lý: gia phong “Uy Minh Hầu” lên “Uy Minh Vơng”.
- Triều Trần: Lần lợt gia phong đến Uy Minh dũng liệt hiển trung tá“
thánh phu hựu Đại Vơng”
- Triều Lê: Lê Thánh Tông phong tặng: Tam toà quốc chủ Th“ ợng đẳng thần”.
- Lê Hiển Tông phong tặng: Hiển linh hộ quốc hồng huân Đại V“ ơng”.
- Triều Nguyễn phong tặng: “Thợng đẳng thần”.
- Nhân dân suy tôn: Thợng, thợng, thợng đẳng thần.
2.3.1.2 Tổng quan về kiến trúc đền Quả Sơn:
Đền Quả Sơn đợc toạ lạc trên một vùng đất có phong cảnh rất “ngoạn
mục” Phía trớc mặt đền là dòng sông Lam đang uốn mình ngày đêm gợn
sóng đa những dòng nớc xanh biếc đi qua Phía sau đền là ngọn núi Quả Sơnkhông cao lắm Xét về thuật phong thuỷ thì đây quả là một địa thế cực kỳ tốt,
đầu tựa núi mà chân đạp nớc Đứng trên đỉnh núi Quả Sơn phóng tầm mắt ra
xa về phía tây thì rõ nét đỉnh lèn Kim Nhan hùng vỹ thờng toả ánh hào quangvào các buổi chiều tà; ngoảnh xuống phía Nam thấy các ngọn núi Cấm, núiNguộc, những lèn đá thẳng đứng đỏ lửa vào các buổi hè nóng bức Con đờngLiên Hơng từ đầu xã chạy ven bãi phù sa các làng thoáng rộng, đợc viền haihàng cau qua trớc cửa đền, vợt 2 con hói nối liền với tỉnh lộ 15 nối liền giữa
Đô Lơng lên Tân Kỳ Quả thực cảnh sơn thuỷ hữu tình ở đây thật đẹp, mà
tr-ớc đây học giả H.L.Breton ngời Pháp qua đây đã chép rằng: “Tôi đã đi nhiều, thấy nhiều nhng cha có nơi nào tôi thấy thích thú nh ở nơi đây ” [ 2; 233]
Để tơng xứng với vai trò và công lao của danh tớng, danh thần khai
Trang 25đã cho xây dựng, trùng tu và nâng cấp nhiều lần và ngày càng đẹp và linhthiêng hơn.
Bao vây xung quanh ngôi đền là bức tờng đợc xây bằng gạch để bảo
vệ Nền và sân trong, sân ngoài đều đợc lát gạch bát tràng Đợc bố trí theokiểu chữ môn ( ) Đi từ ngoài vào ta sẽ lần lợt bắt gặp các hạng mục sau:
* Cổng tam quan:
Con đờng Liên Hơng rộng khoảng 4-5m là khoảng cách từ dòng sôngLam đến cổng đền Quả Sơn ở chính giữa đền, phía ngoài cùng đi vào ta sẽbắt gặp bốn cột quyết cao lớn uy nghi mà trên bốn cột đều có tợng nghêchầu Từ 4 cột quyết đó tạo thành 3 cửa để vào đền Hai cột giữa cao vút tạothành cổng chính (chỉ mở vào ngày đại lễ) Trên 2 cột quyết có khắc đôi câu
đối:
Thánh trạch uông d
Thần công nguy ngật Hội sơn cao”.
(Nghĩa là: Ơn trạch của Đức thánh tràn đầy thăm thẳm dòng Lam
Công lao của Thần cao ngất, vời vợi núi Hội)
Hai phía hai bên của hai cột quyết lớn là hai cổng tả hữu nhỏ hơn đợc
mở hàng ngày
Bớc qua cổng tam quan là quần thể các công trình: ngôi miếu nhỏ thờthổ thần ở bên hữu, bên tả dựng nhà thuyền dài 7 gian lợp ngói để bảo quảnhai chiếc thuyền rồng lớn chứa đủ 40 thuỷ thủ
Tiếp đến là ngôi nhà gồm 3 gian (cũng gọi là nhà tam quan), gian giữa
là cửa chính vào đền, hai gian hai bên đặt hai con ngựa trên cỗ xe lớn vớikích thớc nh ngựa thật, quay đầu vào giữa, bên trái là con bạch, bên phải làcon tía
* Nhà hoả và nhà canh:
Qua nhà tam quan phía hai bên là nhà hoả (bên tả) và nhà canh (bênhữu) Nhà hoả gồm ba gian hai chái làm nơi chuẩn bị lễ vật và cỗ bàn trongnhững kỳ tế lễ Còn nhà canh gồm năm gian đối diện với nhà hoả làm nơi hộihọp quan viên chức sắc trong xã
* Lầu ca vũ:
Đây là một ngôi nhà bốn mái, cột cao, không có tờng vây, diện tíchrộng và thoáng Phía trớc vào hạ điện đặt một chiếc hơng án lớn bày ngũ sự,thất sự Trớc hơng án là bái đờng trải chiếu hoa, hai bên tả hữu bái đờng đềucắm các thứ binh khí cổ nh giáo, mác, siêu, phạng, phủ, bát xà mâu Nơi đây
Trang 26thờng là nơi để phờng hát chầu văn biểu diễn trong các ngày đại lễ Tại haicột quyết phía trớc ngoảnh ra tam quan có đôi câu đối:
là nơi thiên hoá vàng mã hàng ngày do khách đến tiến cúng Còn nhà bia bêntrong có dựng một tấm bia đá ghi lệnh chỉ của Đại nguyên suý chởng quốcchính thợng s Tây Đô Vơng Tấm bia nay vẫn còn nguyên ở vị trí cũ
* Hai toà tả và hữu:
Hai bên của lầu ca vũ là hai dãy nhà ba gian hai chái Toà bên phải thờ
Đông Chinh Vơng, Toà bên hữu thờ Dực thánh vơng (Đông Chinh Vơng vàDực Thánh Vơng đều là con của Lý Thái Tổ, anh ruột của Lý Nhật Quang đ-
ợc vua cho làm phụ tá giúp sức cùng Lý Nhật Quang cai trị châu Nghệ An).Hai toà nhà này y hệt nhau Gian giữa có bàn thờ tam cấp đặt ngai vị, ngũ sự,thất sự, tàn lọng, phía trớc là chiếc hơng án lớn Hai gian 2 bên đặt 1 chiếctrống và 1 chiếc chiêng lớn Tại 2 chái của mỗi toà tả, hữu đều đặt hai chiếcrơng lớn bằng gỗ tốt, nơi cất giữ bảo quản, vải võ của các cây lọng, võng, tàn,quạt và các đồ khăn tráo của quân thuỷ bộ
* Ba toà chính điện:
Ba toà này đợc nối với nhau, kiến trúc theo kiểu chữ công (I) Nhà hạ
điện gồm 3 gian hai chái ở gian giữa đặt chiếc hơng án, phía trớc có 2 mànvóc có tàn, quạt vây che, 2 bên hơng án về trớc có hai con hạc đóng lớn đứngchầu trên lng rùa Hai gian 2 bên đặt 2 bộ bàn thờ trên đó bày hai bộ ngự sự,thất sự, đài trảm và một số đồ tế khí khác Bên tả cũng nh bên hữu sát bàn thờ
là vị trí của 2 con hạc gỗ lớn đặt trên lng rùa và bánh xe lăn tức trực Gầnchân 2 con hạc là 2 chiếc bục gỗ, nơi các cụ thủ từ quỳ gối, đọc sớ tấu khi cóngời đến tiến lễ Nơi đây còn treo chiếc chiêng nhỏ và trống nhỏ để khi dâng
Trang 27Quả Sơn chung cổ tối hình từ”.
(Nghĩa là: Ngọn cờ khổn Châu Hoan, đất lu lại lòng u ái đến nay trên đỉnh núi Quả, ngôi đền rất mực linh thiêng từ xa)
Nhà trung điện gồm 3 gian, thợng ốc gian trong nối với hậu cung vàthợng ốc gian ngoài nối với hạ điện Gian trong đặt chiếc sập ngự, trên đóbày các đồ tế khí nh đài trản, ngũ sự, thất sự, gơm vàng, mâm bạc Hai gianngoài đặt chiếc liệu long đình lớn cũng sơn son thếp vàng, che phủ bởi màntrớng và 4 chiếc quạt thêu hình rồng, phợng phía trớc kiệu là một tấm mànbằng vàng treo từ xà nhà rủ xuống tận nền gạch
Nhà thợng điện hay hậu cung đợc thiết kế theo kiểu long đình, toàn bộphận mái đặt trên 4 cái cột lớn và cao, 4 góc có 4 chiếc bẩy giao vào cộtchạm khắc hình đầu rồng, 4 phía lại có 8 cái cột ngắn đặt trên xà ngang đấuvới cột cái, 4 góc xây cột quyết đổ lẫy bẩy Ba phía vách ghép bằng ván limnhất đố nhất bản – văn sàn cũng lát bằng ván gỗ tốt Vách quyết sơn màu, có vẽhình tứ linh
Trong hậu cung có đặt di tợng của Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang ợng ngồi trên ngai thờ, hai tay bắt quyết để ngửa trên hai đầu gối, dáng ngồikhoan thai, khuôn mặt hiền từ Tợng đợc sơn son thếp vàng với tỷ lệ 1/1.Hiện nay tợng vẫn còn nguyên vẹn, màu sơn son thếp vàng còn tơi sáng Chỉ
T-đến ngày lễ trọng, nhân dân và du khách mới đợc chiêm bái dung nhan Ngài
Ngôi đền có lịch sử ngót gần mời thế kỷ, qua nhiều lần trùng tu, sửachữa lại làm cho toà đền thêm uy nghi và hoành tráng Đến những năm1951– văn 1953, sau nhiều thất bại nặng nề khắp các chiến trờng, bọn giặc Pháp
đã phản ứng điên cuồng và man rợ Ngôi đền Quả đã bị những đợt bom đạncủa máy bay Pháp huỷ diệt, san phẳng, (duy chỉ còn tấm bia đá còn nguyên
vị trí) May thay di tợng và các đồ tế khí của ngôi đền đã đợc nhân dân địaphơng cất giữ, bảo quản
Vào giữa thập kỷ 90, huyện Đô Lơng đã cùng phối hợp với ban lãnh
đạo và nhân dân xã Bồi Sơn tổ chức hội thảo về Đền Quả Sơn Năm 1996, batoà Thợng, Hạ điện đã đợc cất dựng lại đúng trên nền cũ Đầu xuân 1997, ditợng và các đồ tế khí đã đợc nhân dân tổ chức trọng thể lễ nghinh giá hồicung Sau khi lập hồ sơ đệ trình lên Bộ Văn hoá thông tin nghiên cứu đếnngày 12/2/1999 Bộ văn hoá thông tin đã quyết định cấp bằng di tích lịch sử
- văn hoá quốc gia cho đền Quả Sơn
2.3.1.3 Tế tự và lễ hội:
Trang 28ở Đền Quả Sơn hàng năm (sau đó là 3 năm 2 khoá) có 2 kỳ lễ hộichính mang đậm bản sắc lễ hội cổ truyền của xứ Nghệ.
Kỳ lễ hội thứ nhất đợc tổ chức vào hai ngày 16 và 17 tháng 12 âm lịch.Tơng truyền đây là dịp nhân dân vùng Bạch Ngọc tổ chức lễ tế kỷ niệm ngàymất của Lý Nhật Quang Trong kỳ lễ hội này nặng về phần lễ nhiều hơn Từsáng 15/12 các thân hào trong xã và hai đội thị lập tiến hành lễ “mộc dục”.(tắm cho di tợng), lễ “trải áo” (thay áo cũ), sau đó khoác áo mới vào di tợng
Sáng 16/12 quan viên, chức sắc làm lễ cáo yết tại chính điện Tối 16làm lễ tiên thờng Ban nội tự đến trực suốt đêm chuẩn bị lễ vật để dâng cúnggồm có: cỗ tam sinh (bò, lợn, dê) và làm rất nhiều bánh (bánh dày, bánh ch-ng) để chuẩn bị cho ngày chính tế
Sáng ngày 17, ngày lễ đợc áp dụng nghi thức trọng thể và đầy đủ nhất.Các chủ tế, bồi tế thờng là những ngời thuộc quan chức của triều đình hoặcnhững ngời có chức danh trong xã hội Tất cả đều bận lễ phục nh áo thũng,
đội mũ có đai, thêu hoa, chân đi hia
Sau phần lễ là phần hội, chủ yếu là một buổi diễn văn nghệ hát bội dophờng hát bội huyện Thanh Chơng tổ chức hát xớng suốt đêm ở phía ngoàinhà ca vũ của đền Quả
Lễ hội thứ hai có quy mô lớn và hấp dẫn hơn cả đợc tổ chức vào hai
ngày 21 và 21 tháng Giêng âm lịch Tục truyền gọi là lễ Hạ linh“ ”., hay thờng
gọi là lễ tạ ơn Bà Bụt“ ” hay lễ hội mừng xuân “ ” Không gian của lễ hội diễn
ra rất rộng suốt trên đờng nối liền giữa đền Quả Sơn và chùa Bà Bụt khoảng3km
Phần lễ của lễ hội bao gồm:
- Lễ Khai quang, tẩy uế“ ” đợc tổ chức vào sáng ngày 19/1 Lễ nàymang ý nghĩa dọn dẹp vệ sinh trong, ngoài khu di tích, lau chùi đồ tế khí
Trong dịp này còn làm lễ mộc dục“ ” (tắm cho di tợng) và lễ “trai áo” (thay
áo mới cho di tợng)
- Lễ “yết cáo” đợc tổ chức vào đêm 19/1, mang ý nghĩa báo cáo với
các vị thần linh, kính thỉnh ch vị về dự lễ hội
- Lễ chính tế“ ” tức lễ tế thần Uy Minh Vơng, đợc tổ chức vào giờ
Chính Tý đêm 19 rạng 20 Nhân dân địa phơng còn gọi đây là lễ “xuất thần ”
Về phần hội, điểm trung tâm và đặc sắc nhất của lễ hội đền Quả Sơn là
đám rớc kiệu Uy Minh Vơng Lý Nhật Quang vào hai ngày 20 và 21/1 thờng
Trang 29Lễ rớc ngợc :
Sau khi đã chuẩn bị mọi thứ đã xong xuôi vào ngày 19, sáng ngày 20sau khi đã tổ chức tế lễ và lễ xuất thần xong, di tợng của Lý Nhật Quang đợc
đa ra kiệu rồng Lúc này hai đội quân thuỷ, bộ đều đã tập trung đầy đủ trớc
đền thờ Đội “dân binh” phù giá rất đông đảo, trong trang phục chỉnh tề đã
đ-ợc quy định lần lợt dàn lên mặt đờng từ cửa đến Động Ngự Sáu chiếcthuyền rồng xếp hàng ngang trớc bến, mũi quay vào chính điện Hai đội
“chính binh” tợng trng cho hai cánh quân bộ triển khai hình thành hàng dài
hai bên lầu ca vũ, mặt hớng vào chính điện chờ lệnh Đứng đầu mỗi đội làviên suất đội, mình mặc võ phục, đầu đội mũ cỗ quan xa, lng đeo kiếm bạc,chân đi hia, giữa cổ đeo một cái tù và bằng sừng sơn dơng nạm bạc, tay cầmchiếc trống tửu cổ (tức trống lệnh) Sau viên suất đội là chín thị vệ mặc áolính bằng nỉ đổ, cạp xanh, lng thắt khăn trắng, cầm gơm tay co Khoảng hơn
20 đội viên khác đều mặc áo dài đen, đầu bịt khăn xanh, lng thắt khăn đỏ,quần trắng cuốn xà cạp, chia nhau vác giáo, mác, gơm đao, bát xà mâu vànhiều thứ binh cổ khác Mỗi đội còn có một ngời mang một ống loa đồnglớn
Vào giờ Dần, từ trong lầu ca vũ, nơi đặt kiệu Long Đình, lá cờ “mao tiết” và 4 lá cờ “nghiêu túc” tiến ra giữa sân chỉ lên phía trớc ra lệnh duyệt
binh Hiệu trống lệnh từ hai cánh quân dõng dạc nổi lên Cánh tả tiến sangphía hữu thành một vòng ngoài, khép kín từ cửa chính điện đến tam quan.Cùng lúc cánh hữu tiến sang phía tả thành một vòng tròn khép kín ngợc chiềuvới cánh tả Khởi đầu hai cánh quân đều tiến từ từ, sau nhanh dần vòngquanh sân đền Giáo mác, gơm đao nhấp nhô trên vai, từng bớc chân rầm rập,tiếng trống, tiếng hoà vang dội náo động cả khu đền, làm sống lại khí thế hàohùng thuở nào của Lý tri châu đi đánh giặc dẹp loạn khi đã lộn quân đủ 3vòng, cánh quân tả tiến ra cửa tả, cánh quân hữu tiến ra cửa hữu tạo thành haihàng dọc Phía sau đội chính là đội “dân binh” tạo nên một đội quân hùnghậu Riêng kiệu Đức Thánh Lý Nhật Quang theo cửa chính từ từ tiến rangoài, theo sau là xe ngựa, voi, cờ, quạt sau khi kết thúc lễ duyệt bộ binh,tất cả cùng tiến quân hớng về chùa Bà Bụt
Dẫn đầu đoàn quân rớc bộ là 20 lá cờ rồng dàn thành hàng đôi cán dàimàu ngũ sắc Tiếp đến là lá cờ đại hình vuông, mỗi cạnh dài độ 3,5m, xung
quanh có các đờng viền xanh, vàng, trắng, đỏ ở giữa thêu 4 chữ “Thợng ợng thợng đẳng” rất lớn Cột cờ đại bằng gỗ sơn son màu đỏ đặt trên cỗ xe gỗ
Trang 30th-có 6 ngời đẩy Tiếp sau là đôi hạc đồng, hạc đứng trên lng rùa cũng đợc đặttrên một cỗ xe và có ngời đẩy Tiếp sau là dàn trống chiêng, rồi đến đôi ngựabằng gỗ màu tía và màu bạch, trên lng thắng yên cơng, dới cổ đeo lục lạcbằng đồng cùng đặt trên bánh xe lăn, có 4 ngời kéo và đẩy, một ngời chelọng vàng và một ngời rung lạc ngựa Chiếc trống đại đặt trên giá có bánh lăn
4 ngời kéo và đẩy, 1 ngời cầm dùi điểm nhịp theo bớc chân ngựa chiến Tiếpsau là một hơng án lớn có ngời khiêng, trên hơng án bày biện l hơng Đi sauhơng án là một lá cờ đại cùng đặt trên xe đẩy, lá cờ bằng vải nỉ đỏ, viền chỉ
vàng, 2 mặt của lá cờ có thêu 2 dòng chữ: “Bảo quốc hộ dân” và “tham thiên toản hoá ” Tiếp sau là chiếc sập ngự trên đặt đài trảm và các đồ ngũ sự do 8ngời khiêng và 4 ngời luân phiên nhau cầm hai cây tàn che sập ngự tiến sát lá
cờ Tiếp đó là phờng bát âm có đầy đủ các loại nhạc cụ dân tộc vừa đi vừa tấn
lên những bản nhạc du dơng sùng kính Sau đó là “kiệu long đình” và hai lá
cờ thêu dòng chữ “khâm sai” rớc di tợng đức thánh Lý Nhật Quang Đội thị
vệ gồm 16 ngời thay nhau khiêng kiệu, cùng hành tiến hai bên kiệu là tàn
lọng Tiếp sau kiệu là hai đội “dân binh” và “chính binh” tay cầm đủ các loại
vũ khí cổ Xen giữa là các loại cờ quạt với đủ màu sắc
Trong quá trình hành quân của đám rớc từ đền Quả Sơn, lên chùa BàBụt chừng 3km thì khi đi qua các đình làng Thanh Xuân, Nhân Bồi, PhúcHậu, Nhân Trung, Trạc Thanh kiệu rớc Đức Thánh đều dừng lại chốc lát đểquan viên chức sắc và dân các làng đó làm lễ bái tạ Lần kiệu dừng lại lâunhất là tại Động Đỏ (Động Ngự), tơng truyền lúc còn sống Lý Nhật Quangthờng đến đây duyệt đội thuỷ binh
ở dới dòng Lam sáu chiếc thuyền rồng (hai thuyền bơi và bốn thuyềnchèo) rẽ sóng xếp thành hình chữ nhật hớng lên kiệu Đức Thánh Một tiếngpháo lệnh nổ ran, tiếng loa đồng vang vọng, tiếng chiêng trống giục giã, độithuyền chiến triển khai theo kế hoạch đã định qua y vòng trên quãng sôngrộng, đi ba vòng thuận, ba vòng nghịch (lộn quân) Sông Lam dậy sóng, sáuchiếc thuyền đua nhau lớt trên mặt nớc từ chậm đến nhanh làm cho khôngkhí của lễ hội rất náo nhiệt
Sau khi lễ duyệt thuỷ binh kết thúc, đoàn thuyền rồng lại dàn theohàng dọc ngợc dòng lên bến chùa Bà Bụt Lúc này trên bờ đoàn quânbộ cũng
đã dàn xong đội hình và cùng đồng hành tiến về chùa Bà Bụt Tất cả mọi ng
-ời đều háo hức tiến về phía trớc
Trang 31Khoảng đến đầu giờ Ngọ ngày 20/1 thì hai đoàn thủy bộ cùng lúc đếnchùa Bà Bụt Đội thuyền rồng quay mũi vào bến, đội quân bộ dàn xungquanh chu vi chùa Kiệu Đức Thánh đợc đa hẳn vào sân chùa, quay mặt vàochùa Chiêng, trống, nao bạt, các nhạc khí của phờng bát âm đồng nhịp ngânvang trong giờ phút thiêng liêng của lễ tạ ơn trang trọng Cùng lúc, tiếng gõ
mõ, tụng kinh trầm bổng trớc bàn thờ Phật nh thấm sâu vào lòng ngời
Sau khi làm lễ tạ ơn Bà Bụt xong, kiệu Đức thánh đợc rớc về nghỉ qua
đêm tại Hành cung đã đợc chuẩn bị trớc ngoài khu vực chùa trên một vùng
đất rộng Hành cung đợc trang hoàng lộng lẫy, chăng đèn, cờ, hoa, tân lọng,
cờ xí…) Các di tích này trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần choCả buổi chiều 20, trên sân dới bến nhà chùa hội tụ những trò chơi dângian đầy sức hấp dẫn nh đánh đu, hội vật, đánh cờ ngời, đua bơi chải Đến
đêm trong chùa thì tụng kinh và niệm phật, trong cung thì hát chầu văn, hát
ca trù, biểu diễn văn nghệ
Lễ rớc xuôi:
Vào sáng 21/1, sau khi làm lễ bái tạ xong xuôi tại chùa Bà Bụt đoànquân thuỷ, bộ là tổ chức lễ duyệt quân để chuẩn bị rớc về xuôi Chiêng trốnglại nổi lên rộn ràng và các cánh quấn lại tiến hành các bớc nh rớc ngợc đểxuôi về đền quả Quả Sơn Lúc này đội thuỷ quân cho thuyền hớng vào bến tr-
ớc đền Đội quân binh và chính binh đứng thành hai hàng ở ngoài cổng đền
Đội thị vệ rớc di tợng Đức Thánh vào đền Sau khi di tợng đợc rớc vào đền,toàn dân và các chức sắc làm lễ yên vị cho Đức thánh Chiều 21/1 âm lịch lễhội hoàn tất
Việc tổ chức lễ hội đền Quả Sơn là một sự thể hiện sinh động củatruyền thống uống nớc nhớ nguồn, nhằm tôn vinh những ngời có công vớidân với nớc Đây cũng là lễ hội ngày xuân làm sống động tinh thần và nếpsống lành mạnh, đẹp đẽ của ngời dân Đô Lơng nói riêng Ngoài ra lễ hội còn
là dịp nghỉ ngơi, giải trí và mở rộng giao lu, nhất là nam thanh nữ tú bốn
ph-ơng tụ hội để thừa hởng hph-ơng vị ngaỳ xuân và tuổi trẻ
Ngày nay khi ngôi đền đang đợc xây dựng thêm và tu bổ để cho giốngvới quy mô và vị trí của ngôi đền hồi xa, theo chủ trơng của Đảng và Nhà n-
ớc, khuyến khích khôi phục lễ hội cổ truyền đền Quả Sơn đã đợc khôi phụclại Vào ngày 20/1 âm lịch năm ất Dậu (2005) vừa qua, lễ hội đền Quả Sơn
đã diễn ra với quy mô và nội dung rất phong phú Những sinh hoạt văn hoátrong lễ hội truyền thống đang từng bớc phục dựng lại Tuy nhiên do điềukiện về kinh phí và phơng pháp tổ chức, trong lễ hội đền Quả Sơn vừa rồi lễ
Trang 32rớc kiệu Đức thánh lên chùa Bà Bụt chỉ diễn ra trong một ngày 20/1, và
“Buổi sáng rớc ngợc, buổi chiều rớc xuôi” thay cho “20 rớc ngợc, 21 rớc xuôi” của thủa ban đầu Mặc dù vậy lễ hội đền Quả Sơn đã rất thành công và
thu hút đông đảo thành viên tham gia Theo thống kê của ban văn hoá Đô
L-ơng thì có khoảng 15.000 ngời tham gia lễ hội đền Quả năm 2005 vừa rồi
2.3.2 Đền thờ Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan.
2.3.2.1 Lịch sử xây dựng và nhân vật đợc thờ tự
Đền thờ Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan ở xã Tràng Sơn – văn huyện
Đô Lơng hay còn gọi là nhà thờ họ Nguyễn Cảnh chi nhánh Đô Lơng Ngôi
đền này lúc đầu đợc triều đình nhà Lê cho xây dựng để thờ Thái phó Tấnquốc công Nguyễn Cảnh Hoan – văn một vị tớng có tài đã góp nhiều công sứccho việc khôi phục triều Lê Trung Hng (1533-1788) Ngôi đền đợc lập theochiếu của triều đình năm Hoằng Định thứ hai (1602)
Nói về Võ tớng Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan, qua “Hoan Châu ký”.của Nguyễn Cảnh Thị; Gia phả họ Nguyễn Cảnh ở Đô Lơng và một số bài viếtkhác thì ta thấy rằng: Cảnh Hoan sinh năm Tân Tỵ (1521), ông là con thứ haicủa Phúc Khánh quận công Nguyễn Cảnh Huy và bà Thái Thị quê ở Đô Lơng
Theo sách “Hoan Châu ký” chép: “Lúc mới sinh ra Hoan có dạng mạo khôi ngô tuấn tú, lớn lên cơng minh, trí dũng, chuyên tâm thao lợc, xem rộng binh th, tinh thông thiên văn địa lý, sùng chuộng bùa pháp, kỳ tài bí thuật vốn sẵn thiên bẩm, mong gặp thánh chúa để thoả chí giúp đời” [18;72].
Cảnh Hoan sinh vào thời đất nớc loạn li, chiến tranh Lê - Mạc và cácthế lực phong kiến nổi lên, giặc giã nổi lên rất nhiều Từ nhỏ Cảnh Hoan đãtheo cha rèn luyện văn võ Năm 14 tuổi đã thi đậu Hơng Cống của nhà Lê (t-
ơng đơng cử nhân nay), 15 tuổi theo cha cầm gơng tiễu trừ giặp cớp, 16 tuổitheo cha cùng bốn anh em ruột lên Sầm Na (Lào) yết kiến vua Lê Trang
Tông Thấy uy dũng, mu toàn, Cảnh Hoan đợc vua Lê phong chức “Dơng ờng hầu”
đ-Lúc đầu Cảnh Hoan là tớng dới sự chỉ huy của Hng quốc công NguyễnKim Nhng đến khi Nguyễn Kim qua đời thì Cảnh Hoan đợc thống lĩnh độiquân thuỷ bộ của mình và luôn luôn là tớng tiên phong trong các trận đánh.Suốt 40 năm phò Lê diệt Mạc, chăm lo xây dựng quân đội và tổ chức chiến
đấu, Cảnh Hoan đã chỉ huy hơn 50 trận đánh lớn nhỏ khác nhau và phần lớn
đều giành thắng lợi trớc quân giặc Mạc Với những chiến công của mình,
Trang 33Tấn quận công - Thái bảo Tấn quận công và đặc biệt hơn nữa là Cảnh
Hoan đợc chúa Trịnh tin yêu và ban cho họ của Chúa, lấy tên Trịnh Mô.
Năm 1576 trong đợt hành quân ra thành Tây Đô từ Nghệ An, CảnhHoan đã bị trúng kế của giặc Mạc, hơn nữa bị nội phản nên ông đã bị tớnggiặc là Nguyễn Quyện bắt sống Sau khi dụ dỗ, mua chuộc mãi không đợc,quân Mạc đã bức hại ông vào ngày 16/9/1576 Cảnh Hoan qua đời thọ 57tuổi
Cảm kích trớc tấm lòng trung nghĩa của một vị tớng, tớng giặc là NguyễnQuyện đã sắm quan tài và trả thi thể Cảnh Hoan về cho nhà Lê - Trịnh Triều
đình Lê - Trịnh đã nghỉ ba ngày không thiết triều để làm lễ quốc tang cho Tấnquận công Trịnh Mô Trong buổi lễ an táng, triều đình nhà Lê gia phong cho
Cảnh Hoan là: “Cố hiệp mu công thần đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Binh bộ thợng th Tấn quốc công, ban tên thuỵ là Hùng Nghị” [18;146].
Năm 1602, tởng nhớ trớc công lao của Cảnh Hoan, triều Lê phong
thêm cho Tấn quốc công là: “Hùng nghị khuông tế trạch dân đại vơng xếp vào bậc trung đẳng thần, hơng hoả ngàn năm, cúng tế muôn thủa” và xuống
chiếu cho lập đền thờ ở cạnh dòng Lam giang
Là một vị tớng có tài thao lợc, đồng thời là một nhà văn hoá, một nhàtinh thông kim cổ Thái phó Tấn quận công Nguyễn Cảnh Hoan đã có những
đóng góp rất to lớn trong việc phục hồi lại triều Lê Trung Hng Sự nghiệpphục hng của triều Lê cha hoàn toàn thắng lợi thì Cảnh Hoan đã qua đời Thếnhng Cảnh Hoan đã làm tấm gơng sáng soi rọi cho các bậc con cháu trongdòng họ Chính vì thế mà các con cháu của ông đều trở thành những vị tớngtài tiếp tục sự nghiệp phò Lê diệt Mạc Bốn thế hệ tiếp theo là con, cháu và
chắt của Cảnh Hoan đều trở thành những vị quận công tiêu biểu tạo nên “bốn
lớp trung cần” cho truyền thống dòng họ Nguyễn Cảnh.
Năm 1664 sau khi Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế qua đời đợc sáunăm (Cảnh Quế là cháu bốn đời của Cảnh Hoan), thấy công lao của các vị t-ớng lĩnh họ Nguyễn Cảnh là rất lớn, triều đình nhà Lê lại ra sắc lệnh lấy đềnthờ Thái phó Tấn quận công Nguyễn Cảnh Hoan làm đền thờ chung cho cảbốn vị Quận công tiêu biểu cho dòng họ Nguyễn Cảnh, đó là:
1 Thái phó Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan (1521-1576)
2 Thái bảo Th quận công Nguyễn Cảnh Kiên (1543-1619)
3 Thắng quận công Nguyễn Cảnh Hà (1583-1645)
4 Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế (1599-1658).