Nếu có đợc một bản ghi thuật tóm tắt giới thiệu về mặt niên đại và sự kiệnliên quan đến việc hng tạo và trùng tu, đặc điểm kiến trúc điêu khắc, hành trạng sự tích của các đối tợng thờ cú
Trang 1Trên nền bức tranh lịch sử đầy biến động đó, hòa cùng với sự phong phú cả
về đời sống vật chất và tinh thần của ngời dân nơi đây, thì những công trình kiếntrúc nh đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ là không thể thiếu đợc Những côngtrình này không chỉ đợc các triều đại phong kiến suy tôn mà ngay cả trong thôncùng ngõ hẻm, từng ngời dân đều muốn đợc lập lên để thờ phụng và đáp ứng nhucầu tâm linh trong sâu thẳm con ngời mình
Chúng ta biết, chúng ta sống không phải vì quá khứ, nhng ta lại sống trênnền tảng của quá khứ, quá khứ của ngày hôm nay là tiền đề cho ngày mai Đấycũng chính là mối quan hệ giữa truyền thống và hiện tại, các di tích lịch sử và vănhóa nh đình, đền, chùa, miếu là một phần nhỏ trong di sản văn hóa do nhân dânlao động sáng tạo ra Bởi vậy mà chúng ta mỗi con ngời thực sống trong đất nớcViệt Nam ngoài sự tôn kính và tự hào ra, phải tự ý thức đợc trách nhiệm của mìnhkhi đứng trớc một ngôi đền, ngôi chùa, hay một ngôi đình
Huyện Thọ Xuân - vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa hàngnghìn năm Trong suốt thời gian ấy thật khó để xác định một cách chính xác cóbao nhiêu ngôi đền, đình, chùa, miếu, hay nhà thờ họ đã từng đợc xây dựng vàtồn tại Nếu có đợc một bản ghi thuật tóm tắt giới thiệu về mặt niên đại và sự kiệnliên quan đến việc hng tạo và trùng tu, đặc điểm kiến trúc điêu khắc, hành trạng
sự tích của các đối tợng thờ cúng, tiểu sử các vị trụ trì cùng với những lễ hội, lễtục, truyền thuyết, phong tục dân gian liên quan thì điều đó tạo đợc điều kiệnthuận lợi cho những ngời làm công tác quản lí mà cũng đáp ứng đợc yêu cầu củanhững ngời quan tâm tìm hiểu, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa nớc nhà
Bởi những lí do trên mà chúng tôi đã không ngần ngại khi chọn đề tài “Tìmhiểu một số di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa” làmkhóa luận tốt nghiệp, mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu vùng
Trang 2đất địa linh nhân kiệt này cũng nh nguồn gốc hình thành, kiến trúc và lễ hội ở một
số di tích lịch sử văn hóa địa phơng
2 lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đây là một đề tài không còn mới, ở những khóa học trớc đã có những sinhviên đề cập tới, với nhiều công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau nh:
Trong cuốn “Di tích và danh thắng Thanh Hóa” NXB Thanh Hóa - 2007 đã
có nghiên cứu chùa Linh Cảnh (chùa Bái) về những lần chùa đợc trùng tu tôn tạo.Trong cuốn “D địa chí huyện Thọ Xuân”, đã đề cập đến quê hơng - thân thế sựnghiệp của Thức Quốc Công Nguyễn Nhữ Lãm
Bên cạnh những tác phẩm trên, những di tích lịch sử văn hóa ở huyện ThọXuân còn đợc đề cập tản mạn trong một số công trình nghiên cứu khác và trongcác bài tạp chí, bài viết tay của nhiều ngời làm công tác quản lý di tích lịch sử vănhóa ở các thôn, xã
Tuy nhiên những tác phẩm trên mới chỉ đề cập đến một di tích hoặc mộtmảng của di tích, nh trong cuốn “Di tích và danh thắng Thanh Hóa”, mới chỉ đềcập đến nguồn gốc và quá trình trùng tu tôn tạo của chùa Linh Cảnh, hay trongcuốn “D địa chí huyện Thọ Xuân” cũng chỉ mới đề cập đến thân thế sự nghiệpcủa Thức Quốc Công Nguyễn Nhữ Lãm mà thôi Đặc biệt là về ngôi đình làng H-
ơng Nhợng mới chỉ có một số nhà làm công tác quản lí di tích văn hóa ở thôn, xã
đề cập sơ sài Mặc dù vậy, những tác phẩm nghiên cứu này đã giúp chúng tôi tiếpcận và là cơ sở để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra Mong muốnhoàn thành đề tài này, để góp một phàn nhỏ làm rõ hơn về quá
trình hình thành, kiến trúc nghệ thuật và các hoạt động lễ hội của một số di tíchlịch sử - văn hóa ở huyện Thọ Xuân nh chùa Linh Cảnh, đền thờ và lăng mộNguyễn Nhữ Lãm, đình làng Hơng Nhợng
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Thọ Xuântỉnh Thanh Hóa”, nhằm trình bày một cách có hệ thống về chùa Linh Cảnh, đềnthờ và lăng mộ Nguyễn Nhữ Lãm, đình làng Hơng Nhợng để phần nào hiểu hơn
về một vùng đất Thọ Xuân Đặc biệt là hiểu thêm về lối kiến trúc nghệ thuật,
đồng thời góp phần bảo vệ và giữ gìn các di tích lịch sử - văn hóa
Với mục tiêu đó của đề tài, khóa luận trớc tiên đề cập khái quát điều kiện
tự nhiên, dân c, truyền thống lịch sử - văn hóa huyện Thọ Xuân Trọng tâmnghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu về nguồn gốc xây dựng, nghệ thuật kiếntrúc điêu khắc, hoạt động lễ hội của chùa Linh Cảnh, đền thờ và lăng mộ Nguyễn
Trang 3Nhữ Lãm, đình làng Hơng Nhợng, để thấy đợc giá trị và công tác bảo tồn của các
di tích lịch sử - văn hóa này
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu nghiên cứu nhiều tài liệu cóliên quan, cùng với thực tế điền dã nhằm tiếp cận các di tích, một phần là để đốichiếu với các nguồn tài liệu đã có, mặt khác là tìm hiểu thêm những đặc điểmmới Hoàn thành đề tài này ngoài phơng pháp thực tế điền dã, chúng tôi còn kếthợp với nhiều phơng pháp khác nh thu thập tài liệu, đối chiếu so sánh để rút ra cáichung và cái riêng, đặc điểm nghệ thuật kiến trúc điêu khắc trong mỗi di tích vàcủa các di tích với nhau
5 Bố cục khóa luận
Bố cục khóa luận gồm 3 chơng, không kể phần mở đầu, kết luận danh mụctài liệu tham khảo, mục lục
Chơng 1: Khái quát chung về huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Chơng 2: Một số di tích lịch sử - văn hóa huyện Thọ Xuân
Chơng 3: Lễ hội truyền thống và việc phát huy giá trị văn hóa
B nội dung chơng 1 khái quát chung về huyện thọ xuân
1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Đối sách trên bản đồ huyện Thọ Xuân đơng đại với sử cũ còn lu lại, thì vùng
đất Thọ Xuân ngày nay vốn là thổ địa của huyện Lôi Dơng thuộc phủ Thọ Xuân(ở năm Minh Mệnh thứ 2) và một phần huyện Lơng Giang (sau này thuộc huyệnThụy Nguyên) bao gồm 4 tổng: Phú Hà, Quảng Phi, An Trờng và Thủ Cốc thuộcphủ Thiệu Hóa (năm Gia Long thứ 14 - 1815)
Dới thời Lê sơ, tên huyện Thọ Xuân đã xuất hiện trong cơ cấu tổ chức hànhchính Điều này đợc minh chứng rằng, vào năm Quang Thuận thứ 7 (1466) nhằmtăng cờng sự thống nhất bộ máy hành chính, Lê Thánh Tông chia cả nớc ra làm
12 đạo thừa tuyên và một phủ Trung Đô Đổi lộ thành phủ, đổi trấn làm châu,Thanh Hóa thời kì này gồm 4 phủ, 16 huyện, 4 châu và tới năm Quang Thuận thứ
10 (1469), Thanh Hóa thừa tuyên bao gồm 4 phủ: phủ Thiệu Thiên (8 huyện):
Đông Sơn, Lôi Dơng, Yên Định, Vĩnh Ninh, Bình Giang, Lơng Giang, Cẩm Thủy,Thạch Thành; phủ Hà Trung (4 huyện): Tống Giang, Hoằng Hóa, Nga Giang,Thuận Hựu; phủ Tĩnh Ninh (gồm 3 huyện): Nông Cống, Quảng Xơng, Ngọc Sơn;
Trang 4phủ Thanh Đô (1 huyện và 4 châu): huyện Thọ Xuân, châu Quan Da, châu LangChánh, châu Tằm, châu Sầm Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi phủ Thành Đôlàm phủ Thọ Xuân sau này cũng đợc lấy đặt tên cho huyện Thọ Xuân.
Từ tỉnh thành đi về phía tây nam 41 dặm là tới phủ Thọ Xuân, đông tây cáchnhau 106 dặm (170,556km), nam bắc cách nhau 34 dặm (54,706km), phía đông
đến địa giới Đông Sơn phủ Thiệu Hóa địa giới huyện Nông Cống phủ Tĩnh Gia 25dặm (40,225km), phía tây đến địa giới huyện Quế Phong, phủ Quỳ Châu tỉnhNghệ An 81 dặm (130,329km) phía nam đến địa giới huyện Nông Cống và địagiới huyện Quế Phong 30 dặm (48,27km), phía bắc đến lâm phận thuộc địa giớihai huyện Thụy Nguyên và Cẩm Thủy 4 dặm Nguyên là đất của Ailao, đời Lý,
đời Trần mới khai thác; cuối đời Trần là đất trấn Thanh Đô, thời thuộc Minh có lẽ
là đất biên giới của Châu Quỳ thuộc Thanh Hóa thừa tuyên, lãnh một huyện (ThọXuân) và 4 châu (Quan Da, Lang Chánh, Tàm Châu và sầm Châu); đầu đời GiaLong vẫn theo tên phủ cũ, lãnh 1 huyện 3 châu (bớt Sầm Châu); năm Minh Mệnhthứ hai đổi tên hiện nay [11;83]
Huyện Thọ Xuân nằm về phía tây bắc thành phố Thanh Hóa với tọa độ địa lý
19050’ - 20000’ vĩ độ bắc và 105025’ - 105035’ kinh độ đông Phía bắc - tây bắcgiáp huyện Ngọc Lặc và một phần nhỏ huyện Cẩm Thủy, phía nam giáp huyệnTriệu Sơn, phía tây giáp huyện Thờng Xuân, phía đông - bắc giáp huyện Yên
Định, đông - đông nam giáp huyện Thiệu Hóa
Mặc dù đã cắt đi 13 xã để thành lập huyện mới Triệu Sơn hồi năm 1964,
nh-ng cho đến nay Thọ xuân vẫn là một tronh-ng số hai huyện lớn của khu vực đồnh-ngbằng Thanh Hóa
Theo số liệu điều tra năm 2005 thì tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện
là 30.035,58 ha trong đó gồm:
- Đất nông nghiệp: 18221,58ha chiếm 60,63% diện tích tự nhiênhuyện
- Đất lâm nghiệp: 2122,32 ha chiếm 7,06%
- Đất chuyên dùng: 4446,83 ha chiếm 14,86%
- Đất phi nông nghiệp: 8808,15ha chiếm 19,32%
- Đất sông suối và mặt nớc chuyên dùng: 1468,36 ha chiếm 4,88%
- Đất cha sử dụng 3015, 90ha chiếm 10,04%
Hiện nay toàn huyện có 38 xã và 3 thị trấn, năm đơn vị đợc công nhận xãmiền núi là Xuân Thắng, Xuân Phú, Thọ Lâm, Quảng Phú và Xuân Châu Dân sốcủa huyện tính đến năm 2004 là 235.392 ngời thuộc 3 dân tộc chính: kinh, mờng
và thái cùng sống hòa thuận bên nhau.[11;19]
Trang 5ở vào vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miền núi, lại có dòngsông Chu - con sông lớn thứ hai của tỉnh đi qua từ đầu huyện đến cuối huyện, rồisân bay quân sự Sao Vàng, đờng Hồ Chí Minh và quốc lộ 47 chạy qua, Thọ Xuân
đã thực sự trở thành một vùng đất mở ra thuận lợi cho việc hội nhập, giao lu vớitất cả vùng miền trong và ngoài tỉnh Từ Thọ Xuân cũng có đờng đi tắt qua TriệuSơn - Nh Xuân để vào Nghệ An, rồi từ Thọ Xuân có thể đi qua đất bạn Lào theotuyến đờng đi Thờng Xuân - Bác Mọt hoặc đi Ngọc Lặc - Lang Chánh - Bá Thớc -Quan Hóa để sang tỉnh Hủa Phàn Từ Thọ Xuân cũng có thể đi đợc đến tỉnh HòaBình theo con đờng qua Ngọc Lặc - Cẩm Thủy và đến tỉnh Ninh Bình theo con đ-ờng Yên Định - Vĩnh Lộc đi phố Cát (Thạch Thành) Nếu theo đờng sông Chugặp sông Mã ở ngã ba Giàng (Thiệu Hóa), chúng ta có thể đến đợc hầu khắp cácvùng trong, ngoài tỉnh
Từ thành phố Thanh Hóa, theo đờng 47 đến huyện lị Thọ Xuân chỉ có36km Từ Thọ Xuân lên biên giới Na Mèo gần 150km và ra Hà Nội theo đờng
1.1.2 Điều kiện tự nhiên:
* Địa hình
Thọ Xuân là huyện đồng bằng nối liền trung du với miền núi, và có thểchia thành 2 dạng địa hình cơ bản là vùng trung du đồi núi thấp và vùng đồngbằng rộng lớn tiêu biểu là xứ Thanh
Nhìn toàn cục, ta thấy rõ địa hình của Thọ Xuân nghiêng dần từ tây bắcxuống đông nam Đây cũng là đặc điểm chung của nhiều vùng, nhiều khu vựctrong tỉnh Thanh Hóa Đến các điểm giáp ranh với các huyện miền núi nh ThờngXuân (ở phía tây) và Ngọc Lặc (ở phía bắc), chúng ta tuyệt nhiên không bắt gặpnhững đồi núi cao từ 500 - 1500m, từ đây chỉ còn các đồi núi thấp, nơi cao nhấtkhông quá 250m, và chủ yếu từ 150m trở xuống Từ 20m trở đi đã là vùng đồngbằng rộng lớn tiêu biểu nh xứ Thanh, đó là vùng đồng bằng sông chu nổi tiếngvới cánh đồng Ba chọ của “mời hai xứ Láng” và cánh đồng của “mời tám xứNeo” rộng rãi và mênh mông biển lúa mà các huyện đồng bằng khác trong tỉnhcũng ít nơi so đợc
Trang 6Do địa hình nghiêng dốc từ tây bắc xuống đông nam nên tất cả các sông,suối, khe tự nhiên cũng đều chảy hớng đó Vì vậy khi đến xã Xuân Phúc ở phíatây huyện - giáp danh với huyện Thờng Xuân và huyện Triệu Sơn chúng ta thấymột hiện tợng đặc biệt nh:
Hơn nửa diện tích ở đây (gồm làng Sung, làng Pheo, làng Ba Ngọc và làngBài) cao hơn Thờng Xuân nên nớc chảy về Thờng Xuân (ở Luận Thành, XuânCao) Nhân dân bảo đó là hiện tợng nớc chảy ngợc nhng thực ra đó là hiện tợng n-
ớc chảy theo độ dốc từ tây xuống bắc theo quy luật của hớng núi đồi ở Thanh Hóanói chung
Gần nửa diện tích (gồm các làng Bàn Lai, Cữa Tráo, Đá Dúng, ĐồngLuồng, Đồng Cốc, Đồng Tro) thì nớc lại chảy xuôi theo hớng đông nam
Chính vì có những hiện tợng nớc “chảy ngợc”, “chảy xuôi” ấy mà dân gian
ở đây mới có câu ngạn ngữ “chung đinh chung mờng nhng không chung nớc”(chung đinh tức là chung ngời)
Có thể nói địa hình của Thọ Xuân tuy cũng có một số điểm bất cập nhngnhìn chung không đến nỗi phức tạp, đa dạng nh các vùng núi cao khác
Do tiếp nối với vùng núi phía tây Thanh Hóa và lại thuộc vào châu thổ sôngChu - sông Mã, nên bất kể ai cũng có thể thấy rõ đợc sự khác biệt của hai vùng
địa hình ở Thọ Xuân đó là: vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng
Vùng bán sơn địa (hay còn gọi là vùng trung du) đợc trải rộng từ tây bắcxuống đông nam, bao gồm 11 xã, 2 thị trấn với bình độ phân bố từ (+20m) đến(+150m), vùng này chiếm 53% diện tích đất đai của toàn huyện và đợc chia thànhhai tiểu vùng khác nhau: Vùng đồi núi thấp bao quanh phía bắc của huyện vàvùng đồi núi thấp bao quanh vùng phía tây nam của huyện
Vùng đồng bằng bao gồm 27 xã và 1 thị trấn về hai phía tả ngạn và hữungạn sông Chu có cao trình phân bố từ (+6m) đến (+17m) Diện tích tự nhiên củavùng này chiếm 50% diện tích đất đai của toàn huyện, vùng này có thể chia thànhhai tiểu vùng là: Vùng đồng bằng hữu ngạn sông Chu và vùng đồng bằng tả ngạnsông Chu.[11;20]
Nhìn chung vùng bán sơn địa của Thọ Xuân hầu hết là những đồi thấp chạyliền mạch nhấp nhô nh bát úp, nhiều chỗ bằng phẳng nên rất thích hợp cho việctrồng các loại cây công nghiệp, cây lâm nghiệp và cây ăn quả khác Còn vùng
đồng bằng mặc dù có những điểm bất cập (nh địa hình có độ dốc cao lại bị chiacắt, bằng phẳng không đều ) nhng khu vực đồng bằng của Thọ Xuân (cả vùnghữu ngạn và tả ngạn sông Chu) vẫn là vùng trọng điểm lúa số một, số hai của tỉnhThanh Hóa
Trang 7địa Từ phía tây bắc của huyện, các đồi làn sóng xuất hiện nh bát úp lẫn nhau, cóchỗ lại khá bằng phẳng Xuống quá nửa về phía đông nam, tiếp giáp với khu đồngbằng thuần túy, độ cao so với mực nớc biển là 20 - 150m Duy nhất chỉ có núiChẩu (tức núi Chủa hay núi Chúa mà tên chữ đợc gọi là Chủ Sơn) là cao trên200m.
Trong tất cả những xã có núi đồi của huyện, ngoài những đặc điểm chungmỗi xã lại có những nét riêng về hình thể đến tên gọi khác nhau Chính những nétriêng đó đã tạo nên sự đa dạng và phong phú của vùng bán sơn địa Thọ Xuân
Khi chép về các núi trong tỉnh, sách “Đại Nam nhất thống chí” có nêu rấtnhiều các núi danh thắng tiêu biểu, nhng ở huyện Lôi Dơng (phía hữu ngạn sôngChu của Thọ Xuân nay) chỉ đợc giới thiệu duy nhất có một núi danh thắng làngọn núi Chủ Sơn (hay còn gọi là núi Chẩu, núi Chủa, núi Chúa) Sách viết: “ChủSơn: ở xã Thủy Chú huyện Lôi Dơng, núi không cao lắm nhng đẹp đẽ đáng yêu,
là chỗ quê hơng của Lê Thái Tổ, nay có đền miếu ở đây” [19;264]
Vì là núi đá, nên sắc núi thờng đổ màu đậm nhạt xanh, tím khác nhau vàobuổi sáng, tra, chiều, tối Đây quả là một danh thắng độc đáo của vùng trung du
đồi núi thấp huyện Thọ Xuân Từ phía điện Lam Kinh, hoặc từ rất nhiều vị trítrong huyện nhìn đến, ngọn Chủ Sơn hiện ra thật lung linh, bề thế Và đây chính
là một danh sơn đáng tự hào của huyện Thọ Xuân nói riêng và xứ Thanh nóichung
Núi Lam Sơn (hay còn gọi là núi Dầu) hiện nay thuộc địa phận quản lí củathị trấn Lam Sơn, còn trớc đó của xã Xuân Lam Thời Trần - Hồ núi này thuộc địaphận xã Lơng Giang (phía tả ngạn sông Chu), còn từ Lê - Nguyễn là địa phậnhuyện Thụy Nguyên Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Núi Lam Sơn lại cótên nữa là Du Sơn, ở cách huyện Thụy Nguyên 52 dặm (83,668km) về phía tâynam, mạch núi từ phía tây - bắc qua sông Lơng kéo đến, núi đá chỗ lên xuống v-
ơn ra đất bằng, nổi vọt lên một ngọn núi đất, dới núi là nhà cũ của Lê Thái Tổ, Lê
Trang 8sử chép rằng ông tổ ba đời của Lê Thái Tổ tên húy là Hối, ngời huyện Nga Lạitừng đến Lam Sơn, thấy nhiều chim bay lợn nh dáng nhiều ngời tụ họp”, ông nói
“ chỗ này tất là đất tốt” bèn dời nhà đến đây Sau Thái Tổ làm vua, mới lấy đấtnày làm kinh, cách đây 4,5 dặm có một gò đất gọi là “phật hoàng” là mộ tổ củanhà Lê Năm Hồng Đức thứ 22, Lê Thánh Tông thăm Lam Sơn, có Hàn Lâm Việnhiệu lí là Dơng Trực Nguyên phong mệnh họa th, có câu rằng:
“Lam Sơn chỉ xích thiên nam vọng
Vạn cổ nguy nguy sáng nghiệp công”
Nghĩa là: “núi Lam Sơn gang tấc là giang sơn của nớc nam, công đức gâydựng cơ nghiệp vời vời trải muôn đời”, tức là núi này, trên địa bàn huyện ThọXuân do cấu trúc địa hình là bán sơn địa nên ngoài núi Chủ Sơn núi Lam Sơn còn
có các núi đồi khác ở các xã nh: xã Xuân Quang, xã Xuân Sơn, xã Xuân Hng, xãThọ Lâm, xã Thọ Xơng, thị trấn Lam Sơn, thị trấn Sao Vàng, xã Xuân Bái, xãXuân Thắng, xã Xuân Phú, xã Xuân Lam, xã Xuân Thiên, xã Thọ Minh, xã XuânChâu, xã Thọ Lập, xã Quảng Phú Với số lợng lớn núi đồi đợc phân bố ở các xãnêu trên, chúng ta thấy huyện Thọ Xuân sẽ càng mạnh giàu khi biết khai thác mộtcách tối đa nguồn tài nguyên này
* Đất đai - thổ nhỡng
Thọ Xuân là huyện đồng bằng châu thổ sông Chu - sông Mã, tiếp giáp vớivùng trung du miền núi, cũng nh các huyện khác trong tỉnh nh Yên Định, VĩnhLộc, Triệu Sơn đất đai của huyện Thọ Xuân đợc hình thành một cách rõ rệt trênsản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu chất tích tụ từ tác động của sông -biển Các loại đá mẹ và mẫu chất hình thành đất của Thọ Xuân bao gồm:
- Đá gabro thuộc nhóm mác - mabazo xâm nhập, phân phối rải rác ở nôngtrờng Sao Vàng, Thọ Lâm
- Đá phiến: phân bố tập trung ở nông trờng Sao Vàng, Xuân Phú, XuânThắng, Thọ Lâm, Xuân Lam, Xuân Châu, Xuân Thiên, Quảng Phú
- Đá vôi ở Mục Sơn, nông trờng Sao Vàng, Xuân Thắng, Xuân Châu, BáiThợng
- Sản phẩm dốc tụ của các loại đá phiến, cát kết, gabro tập trung ở vùng venchân đồi và vùng bán sơn địa
- Phù sa cổ phân bố ở địa hình bằng, lợn sóng Thành phần chủ yếu là sétpha limon, nhiều nơi ở sâu hàng chục mét có lẫn đá cuội
- Phù sa mới sông chu chảy qua vùng núi mácma axit nh granit, riolit mangphù sa có chứa ít keo sét canxi, magie bồi đắp nên đồng bằng huyện Thọ Xuân
Trang 9Theo điều tra nông hóa thổ nhỡng diện tích 26.260,65ha (năm 2000), đất
đai của Thọ Xuân có thể chia thành 4 nhóm chính:
Nhóm đất xám agrsols (có diện tích 8.931,2ha), nhóm phù sa Fluvials (códiện tích 15.893,2ha), nhóm đất đỏ - Fersalsols (diện tích 809,1ha), nhóm đấtmỏng - leptools (diện tích 627,3 ha)
Mặc dù chia ra các vùng thổ nhỡng khác nhau, nhng nhìn khái quát tổngthể thì có thể thấy rõ ở Thọ Xuân có hai vùng đất đai chính, đó là vùng đất rộng +bãi và vùng đất đồi Riêng vùng đất rộng + bãi đã chiếm tới 2/3 tổng diện tích tựnhiên của toàn huyện Đây là vùng trọng điểm lúa và màu tiêu biểu trong cáchuyện đồng bằng tỉnh Thanh Hóa Vùng đất đồi chỉ chiếm 1/4 diện tích tập trung
ở các xã phía tây và phía bắc của huyện, là vùng đất có điều kiện trồng các câycông nghiệp ngắn ngày, dài ngày và trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp [11;26]
* Rừng
Là huyện có hơn 50% diện tích đất đồi núi thấp có bình độ phân bố từ(+15m) đến (+50m) thuộc vùng trung du sông Chu, có điều kiện đất đai, khí hậuthuận lợi cho nên xa kia rừng tự nhiên ở Thọ Xuân gần nh phủ kín khắp các vùng
địa hình tây bắc - đông nam huyện
Không đâu xa từ thời Lê Sơ (thế kỉ XV) trong sách “D địa chí”, NguyễnTrãi đã viết: “Thọ Xuân có da hổ, báo, tê, voi” Điều đó chứng tỏ vùng đồi núicủa Thọ Xuân (bao gồm cả miền Thờng Xuân, Lang Chánh bây giờ), vẫn là vùngrừng già rộng lớn của miền tây Thanh Hóa Vì vậy ngay cả vùng Thọ Minh,truyền thuyết dân gian ở đây vẫn nói nhiều đến chuyện dân làng xa kia thờngxuyên bị voi, cọp về tàn phá nh sự tích về đồi ông Điền (hay còn gọi là đồi ôngMời), có nêu câu chuyện về một ông tổ họ Phạm (làng Yên Lợc) đã có công hạgục 10 con voi dữ để bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân làng, hay chuyện huấnluyện và buộc voi ở gốc cây lim to xã Xuân Thắng, rồi các chuyện đuổi đánh thúdữ ở nhiều làng Tất cả đều khẳng định trong thế kỉ XV, rừng của Thọ Xuân cònbạt ngàn, hoang rậm, cho nên mới có nhiều thú dữ đến nh vậy Tơng truyền, LêVăn Linh - một công thần trong khởi nghĩa Lam Sơn, quê làng Hải Lịch (nay làxã Thọ Hải) từng làm bài văn đuổi hổ nổi tiếng Trớc cách mạng tháng 8, hổ dữvẫn còn xuất hiện ở khu vực Mã Hùm, Sao Vàng, Phúc Bồi
Ngày nay thế rừng tự nhiên, nhân dân trồng các loại cây ăn quả, hoa màu,sắn, ngô và trồng rừng nhân tạo Đặc biệt là những cánh rừng thuộc khu di tíchLam Kinh với nhiều loại cây quý đang tiếp tục đợc mở rộng
* Khí hậu
Trang 10Là vùng tiếp giáp giữa hai miền khí hậu của đồng bằng bắc bộ và khu Bốn
cũ và sự nối tiếp giữa đồng bằng và trung du miền núi nên trong mặt bằng chung,miền khí hậu của huyện Thọ Xuân vẫn là nền khí hậu của khu vực nhiệt đới giómùa Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “thánggiêng và tháng hai, gió đông bắc, khí trời hơi lạnh; tháng ba và tháng bốn, gió
đông nam, khí nóng bắt đầu sinh; tháng năm và tháng sáu, gió nồm thổi mạnh,phần nhiều nóng nực; tháng bảy và tháng tám, thờng có gió tây nam; thỉnh thoảng
ma rào hoặc ma lũ, hoặc có bão lớn; khoảng thu sang đông, sau khi sấm rạt thờng
có gió lạnh hoặc ma dầm, lại hay có bão nhỏ (tục ngữ có câu “tháng chín bão rơi,tháng mời bão cả”); tháng mời một và tháng mời hai gió bắc, trời rét, cuối tiết đạihàn, khí trời đã sang xuân, sấm bắt đầu dậy” [19;242] Ngoài những yếu tốchung, khí hậu ở đây vẫn còn những nét riêng biệt, nhiệt độ không khí bình quânhàng năm là 23,4oC, lợng ma bình quân hàng năm là 1911,2 mm, độ ẩm khôngkhí bình quân năm là 68%/năm, lợng bốc hơi bình quân 788,0mm/năm
Sơng mù thờng xuất hiện trong mùa đông và mùa xuân, những năm rétnhiều thờng xuất hiện sơng muối Hằng năm ở Thọ Xuân vẫn có hai mùa gió thay
đổi rõ rệt, đó là:
- Mùa đông thờng có gió mùa đông bắc rét và hanh (thổi từ tháng 9 nămtrớc đến tháng 3 năm sau)
- Mùa hè thờng có gió mùa đông nam (từ tháng 4 đến tháng 8), đa hơi nớc
từ biển vào, tạo ra sự mát mẻ hoặc ma Ngoài ra trong mùa này còn có gió tâynam (mà dân gian còn gọi là gió Lào), cũng thờng hay xuất hiện (từ tháng 5 đếntháng 7) gây ra tình trạng nóng và khô hạn Gió này thờng kéo dài từ 12 đến 15ngày, chia nhiều đợt trung bình mỗi đợt từ 2 - 3 ngày, dài hơn đến 5 - 6 ngày, gây
ảnh hởng rất nhiều đến canh tác và sinh hoạt.[11;36]
Qua những số liệu đặc trng trên, chúng ta có thể rút ra nhận xét chung rằngkhí hậu của Thọ Xuân cũng là khí hậu của một mùa đông giá lạnh, khô và mộtmùa hè ma nhiều có bão lụt kèm theo
Nếu so với khí hậu của đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa nói chung, ThọXuân nói riêng, ma bão xuất hiện muộn hơn khoảng trên dới 1 tháng Mùa đôngrét và ma phùn cũng thờng tới muộn hơn và kết thúc lại sớm hơn ít ngày Nhiệt độmùa đông bình quân thờng cao hơn Bắc Bộ từ 0,5 - 10C
Nh vậy tính chất xen kẽ giữa hai mùa khô lạnh và nóng ẩm ma nhiều diễn
ra rất rõ rệt trong huyện Thọ Xuân nói chung, nhng ở mỗi tiểu vùng khí hậu nhvùng bán sơn địa - trung du đồi núi và vùng đồng bằng thuần túy lại có những nét
Trang 11khác biệt, chênh lệch nhau ở mức độ nhất định (cả về nhiệt độ, lợng ma, độ ẩm,gió, sơng ).
Đặc điểm này chẳng những ảnh hởng rất nhiều đến tính chất thời vụ và sinh
lí của cây trồng mà còn ảnh hởng tới cả đất Về mùa nóng ẩm ma nhiều, một số
đất nhẹ ở địa hình cao, hay đất đồi núi dốc ở 11 xã phía tây nam và bắc, đông bắc
sẽ bị xói mòn rửa trôi nhiều chất dinh dỡng và keo đất Còn những vùng trũngthấp sẽ bị ngập úng, gây ra hiện tợng yếm khí thiếu oxi trong đất, về mùa hanhkhô, nớc bốc hơi mạnh, chân đất cao dễ bị khô hạn, tạo điều kiện cho sự hìnhthành các kết von, đá ong trong đất
Tuy khí hậu của Thọ Xuân cũng có những bất cập, nhng nhìn chung là vẫnrất thuận lợi cho việc phát triển canh tác nông - lâm nghiệp nói chung
* Sông ngòi
Thọ Xuân có một hệ thống sông ngòi, khe, suối, hón rất phong phú,quanh năm có nớc, tiêu biểu có sông Chu, sông Cầu Chày Đây là hai con sông cótầm quan trọng và ảnh hởng tới nhiều mặt trong huyện Thọ Xuân Cũng bởi chínhsông Chu đã tạo ra cho Thọ Xuân một khu vực đồng bằng phù sa mới tiêu biểu vàrộng lớn vào loại bậc nhất của xứ Thanh trong suốt hàng ngàn năm lịch sử Trong
bề dày thời gian, chiều sâu lịch sử dòng sông đã trở thành con đờng đa các dòng
họ và dòng ngời từ các phơng trời trong, ngoài xứ Thanh về đây khai phá, lậpnghiệp dựng nên làng, nên xóm ở khắp vùng địa hình từ lúc còn hoang sơ Chínhdòng sông này cũng đã tạo ra sự giao lu, hội nhập với các vùng miền khác mộtcách thuận lợi Vì thế mà vùng đất này cứ đời nối đời phát triển liên tục, nhanhchóng thành một vùng quê giàu, đẹp của xứ Thanh
Bàn về sông Lơng - sông Chu sách “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sửquán triều Nguyễn biên soạn chép: “sông Lơng ở cách huyện Thụy Nguyên 10dặm về phía tây, có ba nguồn: Một nguồn từ sông Cao thuộc huyện Lang Chánhchảy đến, một nguồn từ sông Đạt thuộc huyện Thờng Xuân chảy đến, một nguồn
từ sông Âm thuộc châu Quan Hóa chảy đến; vì thế mà nớc nhiều và sâu rộng,chảy qua địa phân hai huyện Lôi Dơng và Thụy Nguyên, đến Lam Sơn lại tụ lạilàm Tây Hồ, lại chảy về phía đông hơn trăm dặm, đến núi Bàng Trình hợp vớisông Mã và chảy ra biển Những cái tên sông Lam, sông Phủ, sông Lỗ đều là tênriêng của sông này”.[19;266]
Còn với sông Cầu Chày, tuy là con sông nhỏ nhng trong quá trình vận độngcủa mình, sông Cầu Chày cũng làm tròn sứ mệnh khi cung cấp một lợng phù sakhông nhỏ cho vùng đất cũ nhiều xã phía tả ngạn sông Chu huyện Thọ Xuân
Trang 12Dòng sông này còn là con đờng thông thơng dễ dàng ra sông Mã hoặc ngợc lênvùng núi Ngọc Lặc cũng rất gần
“Đại Nam nhất thống chí”, đã có đoạn chép về sông Cầu Chày nh sau:
“Sông Ngọc Chùy: Tục gọi là sông Cầu Chày ở cách huyện Thụy Nguyên haidặm rỡi về phía bắc; nguồn từ địa phận châu Lang Chánh, chảy qua địa phận haihuyện Yên Định và Thụy Nguyên đổ vào sông Mã Nớc sông thờng đứng, có ch-ớng khí, ngạn ngữ nói: “sông Cầu Chày chó lội đứt đuôi”, ý nói rất độc
ở sông Cầu Chày lại gắn với một truyền thuyết chặt đứt đuôi chó để cứu LêLợi và nhóm nghĩa quân lúc giặc Minh truy đuổi do mu trí của một ngời dân địaphơng lúc đó, nhờ thế mà Lê Lợi và nhóm nghĩa quân đã không bị rơi vào taygiặc
Ngoài ra trên địa bàn huyện Thọ Xuân còn có các sông khác nh: sôngHoàng Giang (hay còn gọi là sông nhà Lê), sông Hón Lù, sông Dừa, sông Trê(hay còn gọi là Khe Trê), sông (Hón) khác Với hệ thống sông ngòi phong phú đãcung cấp cho các đồng bằng huyện Thọ Xuân lợng phù xa màu mỡ và giao thôngbằng đờng thủy
Bên cạnh sự thuận lợi trên, sông suối và nguồn nớc tự nhiên nói chung củaThọ Xuân cũng gây ra những khó khăn, bất cập Vì hệ thống sông phân bố không
đều, lòng sông lại hẹp, ngắn, dốc và uốn khúc hơi nhiều, do đó về mùa ma, nớc dễtập trung nhanh, gây úng lụt cục bộ trên diện rộng nh sông Hoàng và sông CầuChày Về mùa cạn, mức nớc thấp nhất ở các sông cách mặt đất từ 5 - 10m, làmcho việc bơm nớc rất khó khăn Mặc dù vậy nếu biết khai thác, sử dụng và cấu tạohợp lí, khoa học thì lợi ích mang lại cho huyện Thọ Xuân còn to lớn hơn nhiều
1.2 Xã hội
Nếu nh thiên nhiên đã ban tặng cho huyện Thọ Xuân sự màu mỡ của đất
đai, tài nguyên khoáng sản để phát triển kinh tế, văn hóa Tuy nhiên cũng gâykhông ít khó khăn nh khí hậu khắc nghiệt, lụt bão, hạn hán chính thử thách đó
đã hun đúc nên phẩm chất kiên cờng, thông minh sáng tạo của ngời Thọ Xuân
Bởi điều kiện tự nhiên đó đã cho phép Thọ Xuân phát triển một nghề nôngnghiệp phong phú sản vật, đa dạng ngành nghề cùng với một số nghề thủ công cổtruyền
Thời dựng nớc Thọ Xuân thuộc vùng đất bộ Cửu Chân trong đất nớc củacác vua Hùng
Đến đầu công nguyên Thọ Xuân thuộc vùng đất vô biên Thời kì này c dântrên đất Thọ Xuân so với vùng sông Mã còn tha thớt nhng đã xuất hiện những đơn
vị c trú tiền thân của làng xã đó là những kẻ, những chiềng, những chợ kẻ Căng
Trang 13(xã Thọ Nguyên); kẻ Neo (Bắc Lơng); kẻ Sập (Xuân Lập); kẻ Mía (Thọ Diên); kẻMía Mng (Xuân Tân); kẻ Đầm (Xuân Thiên); kẻ Thạc (Xuân Lại); kẻ Chóng (ThọMinh); kẻ Cây (Nam Cai, Tây Hồ); kẻ Dệ (Xuân Lai)
Tìm hiểu các tụ điểm dân c, chúng ta dễ dàng nhận thấy: C dân Thọ Xuân
đã tích cực khai thác vùng đồng bằng sông Chu để sản xuất nông nghiệp
Thời Hán thuộc (111 trớc CN đến năm 210) theo sách “Đất nớc Việt Namqua các đời” của Đào Duy Anh thì Thọ Xuân thuộc t Phố, thời gian này, ThọXuân (T Phố) đã đón nhận những nhóm c dân ở vùng phát tích của Hai Bà Trng bịquân Nam Hán khủng bố di c vào Đó là một phần dân c dân thủy cơ Bái Thợnggồm nhiều làng mang tên Kẻ Quân, Kẻ Vu, Kẻ Bộc, Kẻ Ghi có nguồn gốc từvùng Tây Vu
Thời thuộc Tùy - Đờng (581 - 905) miền đất thọ Xuân thuộc huyện DiPhong, rồi thuộc huyện Thờng Lâm
Sách “Đại Nam nhất thống chí” cho biết từ thời Trần về trớc Thọ Xuân cótên gọi là huyện Cổ Lôi thuộc trấn Thanh Đô Đến thời Trần sau công trình “HàPhong” của nhà nớc, những con đê sông Mã, sông Chu đợc đắp và hằng năm bồitrúc kiên cố nên công cuộc trị thủy và giao thông đã ổn định Phải chăng đây làthời kì c dân Thọ Xuân đã đông đúc nh phơng ngôn truyền lại: “mời hai xứ Láng,mời tám xứ Neo” “Mời hai xứ Láng” nay thuộc xã Xuân Hòa và Xuân Trờng.Riêng Xuân Trờng gồm 6 Láng (làng): láng Trang, láng Thợng Vôi, Láng sở,láng Trung, Láng Đông và Láng Hạ
Thời thuộc Minh, Thọ Xuân mang tên huyện Cổ Lôi thuộc phủ Thanh Hóa.Nhà Minh lại nhập huyện Cổ Lôi với Lơng Giang (Ngọc Lặc ngày nay)
Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), vua Lê Lợi xóa bỏ các đơn vị hànhchính thời Minh, chia cả nớc thành 5 đạo, Thọ Xuân thuộc đạo Hải Tây
Đời Lê (Quang Thuận thứ 7 (1466)), Thọ Xuân có tên là Lôi Dơng trựcthuộc phủ Thiệu Thiên (sau đổi thành phủ Thiệu Hóa vào năm 1815 ở đời GiaLong)
Phủ Thọ Xuân xuất hiện khi vua Minh Mệnh chia trấn Thanh Đô thànhnhiều châu phủ, trong đó có phủ Thọ Xuân vào năm 1821
Từ năm 1826, huyện Lôi Dơng, Thụy Nguyên tách khỏi phủ Thiệu Hóa đểnhập vào phủ Thọ Xuân Cũng thời Minh Mệnh đổi Lôi Dơng thành phủ ThọXuân (tên Lôi Dơng không còn)
Lỵ sở phủ Thọ Xuân trớc năm 1985 (thời Thành Thái) đóng ở Thịnh Mỹ.Sau năm 1895 dời lỵ sở đến Xuân Phố (làng Xuân Phả xã Xuân Trờng Ngày nay)
Trang 14Đến trớc cách mạng tháng 8 năm 1945, Thọ Xuân gồm 11 tổng, 180 thôn,làng; 24 xóm bản Các tổng là: Bái Đô, Mục Sơn, Diên Hào, Yên Thạnh, Tam Lộ,Nam Dơng, Bất Nạo, Phú Hà, Quảng Yên, Thợng Cốc (Cốc Thợng) Đơn vị hànhchính từ phủ đến làng, xã có bộ máy hành chính bao gồm: Tri phủ (ở phủ), Chánhphó tổng (ở tổng), làng xã do bộ máy lý hơng cai quản.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, phủ Thọ Xuân đổi thành huyện ThọXuân Năm 1946, cắt 4 xã Thọ Trờng, Xuân Vinh, Xuân Tân, Xuân Minh và làngTrung Lập thuộc huyện Thiệu Hóa đa về Thọ Xuân Do đó đến năm 1946, ThọXuân có 22 xã lớn, 196 thôn làng và 24 xóm bản
Năm 1954, Thọ Xuân lại tách các xã lớn thành 54 xã và 190 thôn, 24 xóm.Năm 1964 theo quyết định của Quốc Hội và chính phủ dân chủ cộng hòa,
13 xã phía nam của huyện Thọ Xuân nhập cùng 20 xã của huyện Nông Cống đểthành lập huyện Triệu Sơn Đó là các xã Thọ Ngọc, Thọ Cờng, Thọ Tiến, ThọDân, Thọ Thế, Thọ Phú, Thọ Vực, Thọ Binh, Thọ Sơn, Xuân Thịnh, Xuân Lộc,Xuân Thọ Đồng thời cắt 4 xã phía tây Thọ Xuân nhập về Thờng Xuân là xã XuânDơng, Thọ Thanh, Xuân Cẩm, Xuân Cao
Hiện nay huyện Thọ Xuân gồm 38 xã, 3 thị trấn (Thị trấn huyện lị thànhlập 9- 2- 1965, thị trấn Nông Trờng Sao Vàng thành lập 8- 3- 1967, thị trấn LamSơn thành lập 7- 2- 1991) 5 đơn vị đợc công nhận xã miền núi là: Xuân Thắng,Xuân Phú, Xuân Lâm, Quảng Phú, Xuân Châu Dân số của huyện tính đến năm
2004 là 235.392 ngời (trong đó 115.207 nam và 120.185 nữ) thuộc ba dân tộckinh, mờng thái cùng chung sống hòa thuận bên nhau.[11;109]
Trong quá trình lịch sử lâu dài từ hết đời này sang đời khác, các cộng đồngdân c của Thọ Xuân cứ nối tiếp nhau khai phá đất đai dựng nên làng xóm, biếnnhững vùng đất hoang rậm, sình lầy và cao thấp không đều thành những cánh
đồng trồng lúa hoặc nơng sắn, nơng ngô và bãi màu xanh tốt Để đấu tranh sinhtồn con ngời cũng biết dựa vào thiên nhiên mà canh tác và làm ra của cải vật chất
Và khi thiên nhiên mang đến những hiểm họa thì con ngời cũng tìm cách chế ngự
và chinh phục bằng mọi giá Chính vì vậy mà từ vùng đồi núi trung du đến toàn
bộ vùng đồng bằng châu thổ sông Chu, trên địa bàn huyện chỗ nào cũng có dấu
ấn hoạt động của con ngời trong cuộc chiến vật lộn gian khổ để chiến thắng thiênnhiên
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Truyền thống lịch sử
Thọ Xuân vùng đất gắn bó máu thịt với tổ quốc Việt Nam, từ xa xa ThọXuân không chỉ đợc cả nớc biết đến nh một trong những nơi có lịch sử phát triển
Trang 15lâu đời mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiên lịch sử sôi động, phong phú và hiểnhách Có thể thấy trên bức tranh toàn cảnh những dấu vết hoạt động của ngời cổ
xa trong nền văn hóa Sơn Vi từ buổi đầu khởi thủy của sự hình thành nền vănminh dân tộc: văn minh Đông Sơn tơng đơng thời kì Hùng Vơng dựng nớc Sauthời kì của An Dơng Vơng ngắn ngủi là 1000 năm đô hộ của phong kiến phơngBắc, rồi khoảng 1000 năm trớc chế độ của nhà nớc phong kiến quân chủ ViệtNam trong đó có 80 năm đô hộ của thực dân Pháp Trong khoảng thời gian đóhuyện Thọ Xuân đã tỏ rõ truyền thống yêu nớc và đấu tranh kiên cờng bất khuấtcủa mình
Ngay từ thời kì Bắc thuộc, tuy không trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩaHai Bà Trng lãnh đạo nhng đất Thọ Xuân đã sẵn sàng đón nhận những con ngờicủa vùng đất Tây vu vào lánh nạn, tránh sự khủng bố của kẻ thù Chứng tích làmột vệt làng mang tên kẻ Quân, kẻ Vu, kẻ Bộc, kẻ Ghi c trú tại Bái Thợng
Bà Triệu (năm 248) lập căn cứ ở núi Na nằm ở phía nam huyện Thọ Xuântiến hành khởi nghĩa chống quân xâm lợc nhà Ngô Cuộc chiến đấu đã lan rộngkhắp Giao Chỉ, Cửu Đức, Nhật Nam Sử cũ ghi: những ngời tham gia khởi nghĩa
là những “dân Man”, hẳn trong số “dân Man” đó không ít những ngời con vôdanh của Thọ Xuân đã đứng dới cờ của Bà Triệu đánh đuổi bọn cớp nớc nh câu cadao còn truyện tụng nói lên không khí đầu quân đánh giặc:
“Túi Gấm cho lẫn túi hồng
Trêm Trầu cánh phợng cho chồng ra quân”.
Rồi tới khởi nghĩa Lý Bí với sự hình thành nhà nớc Vạn Xuân Tiêu biểu là:
Điềm Ngọc Lộ ngời châu Lam Sơn (Châu ái), đã tham gia cuộc khởi nghĩa Lý Bíngay từ buổi đầu Ông đã có công đánh thắng hai viên tớng nhà Lơng là NgụyKhắc Uy và Ngụy Khắc Hùng Hai viên tớng này làm lang phụ đáo ái Châu đãtham gia chống lại Lý Bí năm 542 và đã bị Điềm Ngọc Lộ, một tớng của Lý Bítiêu diệt.[1;82]
Thế kỷ X, ngời con u tú của làng quê Kẻ Sập (sách Khả Lập, rồi TrungLập, nay thuộc xã Xuân Lập) Lê Hoàn đã cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn “12 xứquân”, dẹp giặc Chiêm Thành, đánh tan quân Tống và trở thành một vị vua anhminh của nớc Đại Cổ Việt Ông không những là nhà quân sự tài năng mà còn lànhà kinh tế, nhà ngoại giao xuất chúng
Thế kỷ XIII - thời Trần, Thọ Xuân cùng với cả xứ Thanh là căn cứ vữngchắc để cả nớc hớng tới, tổ chức những cuộc phản công quyết liệt đuổi quânNguyên ra khỏi bờ cõi
Trang 16Thế kỷ XV khi toàn bộ miền Bắc Đại Việt đã bị giặc Minh chiếm đóng(1407 - 1427), thì tại núi rừng miền tây Thọ Xuân, Lê Lợi đã dựa vào vùng quêLam Sơn và lòng dân giơng cao ngọn cờ khởi nghĩa.
Năm 1407 cuộc kháng chiến chống Minh do nhà Hồ lãnh đạo thất bại, sau
đó là hàng loạt cuộc nổi dậy của nhân dân ta ở vùng Từ Liêm, ngoại vi vùng
Đông Quan phối hợp với nghĩa quân Trần Giãn Định, Trần Tùng Quang (1408 1409), Hoàng Cự Liêm ở Quảng Oai - Ba Vì (1409), Lê Nhị ở Thanh Oai tuynhiên những cuộc khởi nghĩa này ở vùng Đông Quan rất khó duy trì hoạt động.Trong tình hình bố trí lực lợng của quân Minh lúc bấy giờ, những cuộc khởi nghĩariêng lẽ tự nó giành thắng lợi và cũng có điều kiện xây dựng căn cứ để phát triểnthành chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô toàn quốc Một xu thế tất yếu đã đợcxác lập trên con đờng giải phóng dân tộc là phải bằng sức mạnh đoàn kết đấutranh của nhân dân toàn nớc, tiến hành một cuộc đấu tranh cứu nớc rộng lớn
-Lúc này Lê Lợi với tài trí hơn ngời đã chứng kiến cảnh mất nớc, nhân dânlầm than và quyết nuôi chí giết giặc cứu nớc Lê Lợi đã (chuyên tâm đọc sáchthao lợc, dốc sạch của cải, đãi khách khứa rất hậu, đón mời kẻ trốn tránh, thu nạp
kẻ chống đối nhà Minh, ngấm ngầm giấu những kẻ mu trí”
Đầu năm Bính Thân (1416), Lê Lợi và 18 ngời bạn thân tín nhất cùng tâmhuyết chí hớng, làm lễ thề kết nghĩa anh em, nguyện sống chết “chung sức đồnglòng chống giữ địa phơng để trong cõi đợc yên” Đó là hội thề Lũng Nhai lịch sử -
đặt cơ sở cho sự hình thành một tổ chức lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.Tại đây trớc thần linh sông núi, 18 ngời hiền kiệt cùng Lê Lợi tuyên đọc lời thề
“Niên hiệu Thiên Khánh thứ nhất năm Bính Thân tháng 2 qua ngày KỹMão là ngày Sóc, đến ngày 12 là Canh Dần
Phụ đạo lộ Khả Lam nớc An Nam là Lê Lợi cùng Lê Lai, Lê Thân, Lê Văn
An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trơng Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hng, Lê Ninh, LêHiển, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lu Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lam,Trơng Chiến kinh đan lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng Hạo thiên thợng đế Hậu thổhoàng địa và các tôn linh bậc thợng, trung hạ, coi sông núi ở các xứ nớc ta
Có kẻ băng đảng xâm chiếm nớc ta, qua cửa quan làm hại nên Lê Lợi cùng
Lê Lai đến Trơng Chiến, 19 ngời chung sức đồng lòng giữ gìn đất nớc làm choxóm làng đợc ăn ở yên lành Thề sống chết cùng nhau, không giám quên lời thềson sắc
“Tôi cúi xin trời đất và các vị thần linh chứng giám, ban cho trăm phúc,
đến thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều đợc yên vui hởng lộctrời ”[1;36]
Trang 17Ngày mùng hai tháng một năm Mậu Tuất (7- 2- 1418) tại núi rừng LamSơn, Lê Lợi tự xng là Bình Định Vơng đã cùng với nghĩa quân dựng cờ khởinghĩa truyền hịch kêu gọi nhân dân khắp nơi cùng đứng lên giết giặc cứu nớc.Qua việc chọn Lam Sơn làm căn cứ chứng tỏ nhãn quan quân sự của Lam Sơn
động chủ Lê Lợi rất tinh tờng Nghĩa quân đóng ở Lam Sơn có thể xuống miền
đồng bằng hoặc có thể di chuyển lên miền thợng lu sông Mã, khi cần thiết có thểrút lên miền Tây dựa vào thế rừng núi để bảo toàn lực lợng
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử
đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XV Từ hội thề Lũng Nhai với 19 ngờinăm 1416 đến đầu 1418 lực lợng nghĩa quân đã tập hợp thành một đội ngũ đông
đảo Lực lợng ban đầu của nghĩa quan gồm 51 tớng văn, tớng võ: Lê Khang, LêLuân, Lê Nanh, Lê Sao, Lê Lễ, Lê Hiên, Lê Nhữ Hổ, Lê Lộng, Lê Cố, Trịnh Lỗi,Trịnh Hối, Lê Thọ, Lê Bồi, Lê Lý, Lê Xa Lôi, Lê Khắc Phục, Lê Định, Lê Lãng,
Lê Vấn, Lê Lan, Lê Cuống, Lê Hữu, Lê Độ, Lê Khiêm, Lê Trinh, Lê Lâm, Lu
Đàm, Lê Nghiệm, Lê Văn Giáo, Trần Vận, Trần Xng, Lê Cách Thọ, Phạm Lung,Phạm Liễu, Lê Nhữ Lãm, Lê Khả Lãng, Võ Nghi, Trịnh Vô, Lu Hoạn, Trần Hốt,
Đỗ Bí, Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Lê Văn An là hình ảnh thu nhỏ của khối đại
đoàn kết dân tộc
dới sự lãnh đạo của Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa Lam sơn đã trở thành cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc với sự ủng hộ của toàn dân để rồi đi đến thắng lợi,hoàn toàn giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của giặc Minh vào năm 1428
Chiến công vĩ đại đó của nhân dân Thọ Xuân đã góp phần không nhỏ Sốcông thần cứu nớc trong khởi nghĩa Lam Sơn quê Thọ Xuân phải kể tới hàng chục
nh Lê Thận, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Lê Sác và hàng ngàn ngời dân thuở đó
đã xung phong vào đạo quân cứu nớc
Nếu nh ở thế kỷ X, Ngô Quyền đợc coi là “tổ trung hng thứ nhất”, thì sauNgô Quyền ở thế kỷ XV Lê Lợi xứng đáng với danh hiệu “tổ trung hng thứ hai”trong lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc
Thọ Xuân cũng là nơi có hoạt động quân sự thời Lê - Mạc thể kỷ XVI,cũng là mảnh đất trung tâm chính trị - quân sự thời Lê - Trịnh - Nguyễn
Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, chúng đã phải đơng đầu với
sự chống trả quyết liệt của dân tộc ta đặc biệt là phong trào “Cần Vơng” chốngPháp Tuy không phải là vùng đất xây dng căn cứ chính của nghĩa quân “Cần V-
ơng” nh ở Ba Đình (Nga Sơn), Mă Cao (Yên Định), Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc)
nh-ng tronh-ng mọi cuộc chiến đấu chốnh-ng thù diễn ra trên đất Thọ Xuân hoặc vùnh-ng kếcận luôn đợc nhân dân ủng hộ Đó là trận đánh đồn Pháp ở Bái Thợng đêm 8-11-
Trang 181885 do Hà Văn Mao dẫn đầu 1000 nghĩa quân, nhân dân Thọ Xuân đã tham gianghĩa quân và tích cực phục vụ chiến đấu Giữa năm 1886, thực hiện quyết địnhhội nghị của các sỹ phu yêu nớc của Thanh Hóa ở Bồng Trung (Vĩnh Lộc), một
bộ phận nghĩa quân ở Thuần Hậu (Thọ Xuân) đã tham gia chiến đấu ở căn cứ Ba
Đình, tiêu biểu là Quản Chơng, Đỗ Huy Phơng cùng con là Đỗ Huy Ven, Đỗ ThịVức
Căn cứ Mã Cao nằm cạnh sông Cầu Chày thuộc khu vực Đa Ngọc (xã YênGiang, Yên Định) tiếp giáp với 4 huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Thiệu Hóa, ThọXuân Trong đó có nhiều cứ điểm nằm trên đất Thọ Xuân nh: Thung Voi (naythuộc xã Xuân Tiến), Thung Khoai (nay thuộc xã Quãng Phú), khu vực tổng ThửCốc đã trở thành hậu phơng của căn cứ Mã Cao Sau khi căn cứ Ba Đình thất thủ(21- 1- 1887) thực dân Pháp tập trung đánh phá căn cứ Mã Cao Để bảo vệ toàn
bộ lực lợng nghĩa quân an toàn rút khỏi Mã Cao, quân và dân Thọ Xuân tại hai cứ
điểm Thung Voi và Thung Khoai đã dũng cảm chiến đấu cầm cự với giặc và bấtngờ rút lui mau lẹ
Chiến đợc Mã Cao quân Pháp xây dựng nhiều đồn binh ở đây trong đó có
đồn Yên Lợc (Thọ Minh), Phúc Địa Kẻ thù đã tấn công dã man nhằm khuất phụcnhân dân, nhng chúng đã nhầm, kết hợp với nghĩa quân Hùng Lĩnh (do lãnh tụTống Duy Tân lãnh đạo), nhân dân Thọ Xuân đã tổ chức đánh Vạn Lại vào ngày30- 11- 1889 Thừa thắng đến ngày 2- 2- 1889, nghĩa quân đánh đồn Yên Lợc gâycho giặc nhiều tổn hại rồi nhanh chóng rút về Vạn Lại, tản vào rừng tránh giặc.Quân thù điên cuồng khủng bố nhân dân quanh vùng Yên Lợc Vạn Lại đã cungcấp lơng thực nuôi nghĩa quân Tiêu biểu là gia đình ông Trịnh Ngọc Lễ, Mai Thị
Điểm (làng Thử Cốc)
Không chịu khuất phục, nhân dân Thọ Xuân cùng nghĩa quân Hùng Lĩnh
đã xây dựng lại công sự tại Yên Lãng (xã Xuân Yên hiện nay) dọc theo tả ngạnsông Chu để chống giặc Song cuộc chiến đấu kiên cờng của nghĩa quân HùngLĩnh đã chấm dứt vào năm 1892 Phong trào “Cần Vơng” chuyển lên khu vựcmiền núi Nhiều ngời Thọ Xuân đã xung vào đội nghĩa quân của thủ lĩnh Cầm BáThớc ở Thờng Xuân Trong đó có nhân dân làng Mía (ở Thọ Diên), quê vợ CầnBá Thớc Phong trào “Cần Vơng” chống pháp trong cả nớc, cũng nh ở Thanh Hóa
bị quân thù đàn áp đẫm máu và thất bại Nhng nh theo một quy luật đấu tranh,phong trào này bị dập tắt, phong trào khác lại vùng dậy Nhân dân Thanh Hóa nóichung, nhân dân Thọ Xuân nói riêng lại tiếp tục hởng ứng các phong trào đấutranh giải phóng dân tộc theo khuynh hớng t tởng của Phan Bội Châu, Phan Chu
Trang 19Trinh, Nguyễn Thái Học lãnh đạo, góp phần vào thắng lợi chung của nhân dântrong cả nớc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc.
1.3.2 Truyền thống văn hóa
Thọ Xuân vùng đất của sự giao lu, bởi nơi đây có đủ điều kiện địa lí tựnhiên để thu hút dân c nhiều miền đất khác tìm đến lập nghiệp Cũng chính điềunày mà Thọ Xuân trở thành điểm hội tụ nhiều sắc thái văn hóa dân tộc Song nềntảng cơ bản là nét văn hóa bản địa
ở thế kỷ X, đã nổi lên 3 gơng mặt tiêu biểu đó là Lê Hoàn, Tống Văn Mẫn,Trình Minh, họ đều có xuất thân từ quê hơng Trung Lập - Xuân Lập Bên cạnh đócũng phải kể đến các nhân vật nh Lê Quan Sát ở kẻ Mía (Xuân Tân), bố nuôi LêHoàn ở kẻ Sập (Xuân Lập) để sau này hình thành cụm di tích văn hóa lịch sử thờcúng Lê Hoàn, Lê Quan Sát vào ngày 8 tháng 3 (Âm lịch) hàng năm
Khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, diện mạo văn hóa Thọ Xuân càngthêm khởi sắc Cụm di tích lịch sử mang phong cách Đại Việt đã ra đời, đó là khu
di tích lịch sử Lam Kinh, cùng với hệ thống truyền thuyết về khởi nghĩa Lam Sơn
và Lê Lợi, rồi những cuộc biểu diễn văn nghệ vào thời Lê Thái Tổ mừng nhà vua
về Lam Kinh Đó là điệu Rí Ren , trò Xuân Phả Biểu diễn nh một hoạt cảnh cóhóa trang, đeo mặt nạ, xếp xắp nhân vật đội hình theo kịch bản Đây thực sự lànét sinh hoạt văn hóa có giá trị văn hóa nhiều mặt về nghệ thuật diễn xớng, đónggóp cho kho tàng văn hóa cổ truyền của dân tộc
Khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thọ Xuân đã đóng góp cho xứ Thanh và đấtnớc một kho truyện dân gian quý giá, mở đầu bằng huyền thoại trao gơm, kếtthúc bằng huyền thoại trả gơm Văn học dân gian thời khởi nghĩa Lam Sơn đãkhắc họa hình tợng ngời anh hùng Lê Lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mộtcách đậm nét
Không những văn học dân gian phát triển mà đi cùng với nó thì nhiều tácphẩm văn học lớn cũng ra đời nh “Lam Sơn Thực Lục” của Lê Lợi theo thể hồi kí.Tiếp theo là những tác phẩm của Lê Thánh Tông - nhà vua - nhà thơ - nhà văn vớinhiều tập thơ chữ Hán, chữ Nôm kì tài: “Lam sơn lơng thủy phú” dài gần 400 câu
và bộ luật Hồng Đức Lê Hoàng Dục (Thọ Hải), Lê Quyển (Hơng Lam Sơn) cũng
để lại một số tác phẩm dài gần 400 câu
Thời Lê ngoài kiến trúc đồ sộ Lam Kinh, số lợng đền, nghè, lăng mộ để thờcác vị công thần nhà Lê cũng xuất hiện nhiều Đó là các đền thờ: Lê Văn An (ThọLâm), lăng Trần Lựu, Lê Sao (Xuân Thiên), Lê Văn Minh (Thọ Hải), đền tớngquân Nguyễn Nhữ Lãm (Thọ Diên).v.v
Trang 20Thời Lê Trung Hng kinh để Vạn Lại, An Trờng (Yên Trờng) đã để lại dấutích một xu thế văn hóa tìm về cội nguồn dân tộc Đó là nghệ thuật khắc trên gỗ,
đá, đồng, đất nung
Đến thời Lê Hoàn (tại Xuân Lập) do Thanh Đô Vơng Trịnh Tráng ra chỉlệnh mở rộng tu bổ vào năm 1626 gồm 13 gian, kiến trúc kiểu chữ công là côngtrình kiến trúc ở thế kỉ XVII còn tơng đối hoàn chỉnh với hình tợng “rồng ổ” làbiểu tợng đặc sắc tính nhân gian trong nghệ thuật trang trí
Năm 1587, giáo sỹ Tây Ban Nha ORDONEF.CEVALLOS đến Thanh Hóatruyền đạo đã yết kiến vua Lê Trang Tông ở Yên Trờng, Công chúa Mai Hoa chịgái vua Lê Thái Tông đã theo đạo và mang tên thánh là FLORA MRIA Bên cạnhtín ngỡng thờ cúng tổ tiên, phật giáo, nho giáo xuất hiện thêm thiên chúa giáo vàmột loạt nhà thờ đợc xây dựng theo kiến trúc phơng Tây ở Phúc Địa, Xuân Trờng,Quần Ngọc (Thọ Lâm), Quãng ích (Xuân Thiên), Hữu Lễ (Thọ Xơng), Bích Ph-
Vào thời Lê xứ Thanh có 46 ngời đỗ đại khoa thì Thọ Xuân Có 3 vị Tuykhông đỗ đạt nhng số lợng danh sĩ khá đông, nhiều ngời học rộng tài cao nh LêLợi, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Lê Hoàng Dục Chính Lê Lợi - vị anh hùng dântộc đã nêu cao việc “thực học”, “chuộng học” để có trí thức phục hng dân tộc:
“cách chuộng học, kén tài đầy đủ thực là thời kì mở đầu cho nền thịnh trí muôn
đời” Thân Nhân Trung, Lê Văn Linh (Thọ Hải) là nhà nho nổi tiếng, hiểu biếtrộng Ông từng viết bài văn: “Đuổi hổ” nổi tiếng sau chiến thắng giặc Minh, ông
đợc vua Lê Thái Tổ giao cùng Nguyễn Trãi xây dựng việc học, học trò gọi LêVăn Linh là thầy Mai Trãi và Nguyễn Trãi gọi là ức Trai
Thời Lê Trung Hng khoa thi đầu tiên đợc mở là chế khóa (thi hội) ở hànhcung Yên Trờng (năm 1554 - đời Lê Trung Tông), Thời Lê - Trịnh, Thọ Xuân có
6 vị tiến sĩ
Trang 21Dới thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), trờng Thọ Xuân đợc xâydựng bên cạnh phủ lỵ Tuy thi cử phiền hà nhng học trò Thọ Xuân đã có 15 ngời
đỗ đạt ở các kì thi, trong đó có một vị đậu đại khoa Cho đến nay với hệ thống ờng học từ địa phơng đến trung ơng đã tạo điều kiện cho con em trong huyện đợchọc hành, thi cử và đỗ đạt Điều đó chứng tỏ rằng nhân dân Thọ Xuân dù trongbất kì hoàn cảnh nào cũng rất hiếu học Nó đã đúc kết thành truyền thống hiếuhọc của huyện Thọ Xuân
Chơng 2 Một số di tích lịch sử - văn hóa huyện thọ xuân
2.1 Khái quát về di tích lịch sử - văn hóa huyện Thọ Xuân
Trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, các di tích lịch sử vănhóa nh đền, miếu, đình, chùa, lăng tẩm, nhà thờ họ… là một bộ phận của di sảnvăn hóa do nhân dân sáng tạo ra Mặt khác, gắn liền với nó là những sự tích,truyền thuyết, tín ngỡng, tôn giáo v.v… liên quan đến sự tạo thành và tồn tại củacác di tích lịch sử Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công,Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 (ngày 23- 11- 1945) đặt các côngtrình kiến trúc đền, miếu, đình, chùa dới sự bảo trợ của nhà nớc Ba mơi chín nămsau, ngày 31- 3- 1984, Hội đồng Nhà nớc ban hành pháp lệnh Bảo vệ và Sử dụngcác Di tích lịch sử Văn hóa và Danh lam thắng cảnh, trong đó xác định: Di tíchlịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tácphẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng nh có giá trị văn hóa kháchoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”
Và “Mọi di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đều đợc nhà nớc bảovệ”.[11;589]
Trang 22Huyện Thọ Xuân vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa hàngnghìn năm Trong thời gian ấy, thật khó xác định chính xác có bao nhiêu ngôi
đền, đình, chùa, miếu, nhà thờ họ… đã từng tồn tại Nếu mỗi ngôi đền, đình,chùa… này đều có một bản ghi thuật tóm tắt để giới thiệu về mặt niên đại và sựkiện liên quan đến việc hng tạo, trùng tu, đặc điểm kiến trúc, điêu khắc, hànhtrạng sự tích của các đối tợng thờ cúng, tiểu sử các vị s trụ trì cùng với những lễhội, lễ tục, truyền thuyết, phong tuc dân gian liên quan.v.v… thì điều đó tạo đợc
điều kiện cần thiết cho những ngời làm công tác quản lý di tích, mà cũng đáp ứng
đợc yêu cầu của những ngời quan tâm tìm hiểu, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóacủa nớc nhà
Từ những năm 80 của thế kỷ trớc, với sự phục hng và phát triển của vănhóa dân tộc, trên lĩnh vực bảo tồn các di sẳn văn hóa vật thể ở Thọ Xuân đợc điềutra, nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học để xếp hạng và trùng tu tôn tạo các di tích lịch
sử văn hóa và cách mạng đợc diễn ra mạnh mẽ Nhng để có một công trình tồnghợp về các di tích giúp mọi ngời có thể tra cứu đợc thì cha có
Dù sao với những t liệu hiện có, cùng với quá trình tìm hiểu nghiên cứu củacác nhà khoa học từ trớc tới nay, chúng ta cũng đã phần nào khái quát và xác định
đợc các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thọ Xuân
Có thể nói, huyện thọ Xuân là một vùng đất quy tụ đợc nhiều di tích lịch sửvăn hóa, nó phân bố ở khắp các xã trong huyện, hầu nh xã nào cũng có ít nhấtmột vài di tích đợc xếp hạng cấp tỉnh, tiêu biểu nh: Thị trấn Thọ Xuân, Thị trấnLam Sơn, Thị trấn Sao Vàng, Xuân Khánh, Thọ Nguyên, Xuân Thành, HạnhPhúc, Xuân Phong, Thọ Lộc, Thọ Hải, Tây Hồ, Xuân Giang, Xuân Quang, XuânSơn, Thọ Diên, Thọ Lâm, Xuân Bái, Xuân Lam, Xuân Thiên, Thọ Minh, XuânTiến, Phú Yên, Xuân Yên, Xuân Lập, Xuân Minh, Xuân Tân…
“D địa chí huyện Thọ Xuân” có thống kê lại số lợng các di tích lịch sử vănhóa tiêu biểu của huyện nh sau: Về đền có 49 ngôi, chùa 56 ngôi, đình 85 ngôi,miếu 4 ngôi, điện 18 ngôi, phủ 6 ngôi, bia 11 tấm, lăng tẩm có 20 lăng, nghè có
29 ngôi, nhà thờ họ 9 ngôi, nhà thờ thiên chúa giáo 7 ngôi, di tích khảo cổ có 1 ditích, văn chỉ và võ có 10, di tích lịch sử có 2 địa điểm, di tích cách mạng có 4 địa
điểm, di tích thắng cảnh có 1 địa điểm.[11;610]
Trong đó tiêu biểu nh: đền An Lạc, đền Hải Mao, chùa Hng Quốc, đềnNgọc Sắc Công Chúa, đền Hiến Từ Hoàng Thái Hậu, đền Hiến Nhân, đền DuTiên, điện Càn Long, đền thờ Lê Văn An, đền thờ và lăng mộ Nguyễn Nhữ Lãm,
đình làng Hơng Nhợng, chùa Linh cảnh, đình làng Hội Hiền, đền thờ Bà Am,
Trang 23chùa Tạu (Hồi Long Tự), đình làng Giữa, nhà thờ Thiên Chúa giáo xứ Hữu Lễ,
đền thờ Lê Đại Hành, Kinh đô Vạn Lại - Yên Trờng, khu di tích Lam Kinh…
Di tích, bản thân chúng mang ý nghĩa tín ngỡng vợt lên ý nghĩa tín ngỡngthờ cúng bình thờng Chúng ta có thể thấy những di tích kỷ niệm các nhân vật cócông với dân với nớc đã trở thành những “pho sử lộ thiên”, có tác dụng sâu sắctrong việc động viên, giáo dục tinh thần yêu nớc của nhân dân ta từ thế hệ nàysang thế hệ khác
2.2 Chùa Linh Cảnh
2.2.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình trùng tu tôn tạo
Chùa Linh Cảnh còn có tên gọi là chùa Bái, thuộc xã Xuân Bái, huyện ThọXuân, tỉnh Thanh Hóa Nằm cách trung tâm khu di tích lịch sử Lam Kinh khoảng4km về phía Tây Nam
Xuân Bái dới thời Hậu Lê thuộc trang Bái Đô, huyện Lôi Dơng ThờiNguyễn nơi đây thuộc xã Bái Thợng, tổng Bái Đô, phủ Thọ Xuân
Là vùng đất cổ nằm bên hữu ngạn sông Chu (Lơng Giang), một đầu mốigiao thông đờng thủy quan trọng trong những năm Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩachống giặc Minh xâm lợc Đây cũng là nơi chuyển tiếp từ vùng đồng bằng lênmiền núi của tỉnh Thanh Hóa nên rất thuận lợi cho việc giao thơng
Chùa Linh Cảnh, dân làng thờng gọi là chùa Bái có tự bao giờ thì cha aitruyền lại gốc tích nhng khi ngôi chùa cũ đang còn và đang có s trụ trì, hỏi các cụgià làng trong thôn xã, các cụ nói: Từ khi ngôi chùa tranh tre nứa lá tọa lạc nơi
đây, dới gốc cây đa cổ thụ ngày nay Khi đó con đờng 47 chạy qua trớc cửa chùacòn là một con đờng đất nhỏ
Lịch sử của làng Bái Thợng đã có từ xa xa từ thời Hậu Lê (Lê Lợi), Bái ợng xã, Bái Đô trang Vì vậy ngôi chùa này chắc chắn đã có từ đời Lê; Qua cáctriều đại ngôi chùa làng vẫn tồn tại
Th-Đến năm Bảo Đại thứ 14 (1939) còn ghi ở Thợng Lơng Phủ Mẫu: “Hoàngtriều Bảo Đại thập tứ niên, tuế thứ Kỷ Mão, niên thập nhật nguyệt, thập thất nhật
tu ký thụ trụ Thợng Lơng Đại Cát”
Cũng trong thời gian này, các Phật tử trong tổng đã cùng nhân dân dới sựxớng xuất của s cụ Đàm Viết Thi, Pháp danh là Thích Nhân Tâm, khi ấy là trụ trìchùa Đầm (Quảng Phúc Tự, nay thuộc xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnhThanh Hóa), cùng với sự ủng hộ và công đức của nhân dân địa phơng, khách thậpphơng trong tỉnh để xây dựng chùa
Từ khi có chùa xây dựng lợp ngói, chùa đã có một vị S trụ trì là ThíchThanh Nhuận và một chú tiểu là Vũ Quang Tráng, đến năm 1943 chú tiểu Vũ
Trang 24Quang Tráng đã đợc thụ giới tùy theo (lên s ông), thay thế cho s Thích ThanhNhuận đợc cử đi trụ trì chùa khác.
Năm 1947, khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ (20- 12- 1947), tất cả nhàcửa của Bái Thợng đều san bằng (tiêu thổ kháng chiến), nhng ngôi chùa và phủMẫu vẫn còn để lại đến năm 1951 Giặc Pháp ném bom đập nớc Bái Thợng, máybay Pháp bắn đạn vào hồi chùa làm sạt lở một phần phủ Mẫu, khi đó chùa là nơihội họp của dân quân du kích Bái Thợng
Đến năm 1957, chùa tuy còn nhng vì chiến tranh, nhân dân tản c nên việc
đi lễ chùa cũng mai một dần và sự thờ cúng của nhà chùa cũng không đợc duy trì
nh trớc
Cho đến giữa thập kỷ 60 (1965 - 1966), máy bay đế quốc Mỹ bắn phá miềnBắc, oanh tạc đập nớc Bái Thợng và các trận địa phòng không máy bay của nớc
ta Trong đó chùa cũng là một mục tiêu bắn phá Một lần nữa chùa lại bị bắn phá
h hại nặng Chính quyền và nhân dân địa phơng phải giải hạ chùa, chuyển tất cả ợng phật sang phủ Mẫu để thờ phụng
t-“Tuy vậy móng của chùa vẫn còn nguyên vẹn” - vào tháng 11- 1989, Sởvăn hóa thông tin tỉnh Thanh Hóa đã cấp bằng chứng nhận đền và chùa xã XuânBái là di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật (cấp tỉnh)
Năm 1995, theo nguyện vọng của Hội Phật tử và nhân dân toàn xã đề nghị
Đảng ủy và UBND xã Xuân Bái, có tờ trình đề nghị lên các cấp và đợc UBNDhuyện Thọ Xuân, Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, Sở văn hóa thông tin tỉnh Thanh Hóaduyệt cho phép xây dựng lại ngôi chùa trên nền móng cũ
Từ đó cho đến nay Ban Hộ Tự cùng Ban quản lý di tích xã đa vào hoạt
động tín ngỡng, phục vụ lễ bái và hành đạo của các Phật tử và nhân dân trongvùng cũng nh đón quý khách thập phơng đến thăm quan chim ngỡng lễ bái Ngàymùng 8- 10- 2000 Ban tôn giáo UBND tỉnh, Ban trị sự Giáo Hội Phật Giáo tỉnhThanh Hóa đã đồng ý và ra quyết định bổ nhiệm Đại Đức Thich Tâm Minh về trụtrì chùa Linh Cảnh
2.2.2 Đặc điểm kiến trúc và hệ thống thờ tự
2.2.2.1 Tổng quan về chùa
Chùa Linh Cảnh còn có tên là Linh Cảnh Tự, một trong những cảnh đẹp nỗitiếng lâu đời của vùng quê Bái Thợng, đợc tọa lạc ở một vị thế rất đẹp, trên mộtmô đất cao, mặt ngoảnh về hớng Bắc và ẩn mình dới gốc cây đa cổ thụ Đã không
ít ngời ca tụng về vẽ đẹp nơi cửa chùa nh trong bài thơ “cảnh đẹp chùa LinhCảnh” của Nguyễn Cờng Phú đã cho chúng ta thấy:
“ Linh Cảnh ẩn mình dới bóng đa,
Trang 25Chuông chiều vang vọng tiếng ngân xa,
Cong cong mái ngói rồng khoe sắc
Lớp lớp thiền môn khách lại qua
Đài sen nghi ngút hơng thơm tỏa
đời, còn danh truyền mãi mãi, triều vua Bảo Đại, Đinh Sửu trời thu, ThiềnTăng phấn chấn ngào ngạt khói hơng, lòng ngời sùng tín, đạo Phật bao la, ứngdụng rộng ra, mặt trớc nguy nga, điện đài tráng lệ, nóc hiên mây liền, ẩn hiệnchập chờn, phúc quả đoàn viên, rộng lớn nhân duyên, xin ghi công đức, khắcvào bia đá, trờng tồn thiên ức vạn niên
Đi từ ngoài vào ta gặp cổng tam quan xây dựng lại năm Bảo Đại thứ 14(1939), trên nền móng cũ theo kiểu thợng gác chuông hạ tam quan, với hai cộtnanh hai bên mỗi cột cao 6,8m, cửa chính của cổng tam quan cao 2,5m, rộng2,25m Hai bên là hai cửa phụ mỗi cửa rộng 1,25m
Gác chuông cao 3m, rộng 2,25m đợc đỡ bởi bốn cột đồng trụ ở cửa chính củacổng tam quan Quả chuông treo trên gác chuông đợc đúc năm Bảo Đại thứ 6(1931) với đờng kính là 0,6m, cao 1,2m nặng 80kg Cổng tam quan đợc trùng tunhiều lần và lần gần đây nhất là vào năm 2001
Tiếp đến là sân chùa rộng 300m2 với chiều dài 30m, rộng 10m Trớc đây sân látbằng gạch bát hiện nay sân đợc láng bằng xi măng
Ngôi nhà Chính điện cùng với Chùa đợc trùng tu tôn tạo lại vào năm 1996,xây dựng theo kiến trúc chữ đinh (J), mặt hớng về phía Bắc, gồm có tiền đờng vàthợng điện (hậu cung) Nằm song song với ngôi nhà Chính điện phía bên tả ngạn
là ngôi nhà thờ Tổ, mặt hớng về phía ngôi nhà chính điện (hớng Tây), phía bênhữu là ngôi nhà Mẫu
Đờng sau nhà Chính điện là nhà khách, nơi ở của các tăng ni phật tử vàkhuôn viên chùa
Trang 262.2.2.1.1 Đặc điểm kiến trúc và thờ tự phần tiền đờng ngôi nhà chính điện
Năm Bảo Đại thứ 14 (1939), với sự xớng xuất của S Cụ Đàm Viết Thi phápdanh Thích Nguyên Tâm cùng với sự ủng hộ của các Phật tử trong tổng (xã bâygiờ), nhân dân, khách thập phơng trong tỉnh (còn bia) đã xây dựng ngôi chùa mớitrên nền đất cũ Ngôi chùa đợc xây 5 gian theo hình chữ đinh (năm gian tiền đờng
và một gian thợng điện), để thờ Phật khá khang trang, các cột, xà, kèo, cửa đềubằng gỗ lim Đờng kính cột 0,40m, hai bên hồi chùa nhô ra là hai tấm bia ghi tênnhững ngời công đức, cạnh phía trớc là hai cột nanh cao
Qua quá trình thăng trầm lịch sử dân tộc, ngôi nhà chính điện cùng vớichùa đợc trùng tu lại vào năm 1996 và tồn tại cho tới ngày nay
Tiền đờng là một ngôi nhà gồm 3 gian, rộng 7m, dài 9m có diện tích 63m2,với 6 mái gồm 4 mái dới và 2 mái trên, mái đợc lợp bằng ngói mũi, dầm và xà đ-
ợc làm bằng bê tông cốt thép, các vì kèo trốn đợc làm theo kiểu mái vòm bê tông
Gian bên phải thờ hữu Hộ Pháp (ông thiện) và Đức ông Tợng thần HộPháp cao 2,3m, tay phải cầm ngọc minh châu, tay trái chống nạnh Tợng Đức ôngngồi theo thế song thất trong khám, đầu đội mũ cánh chuồn, phía ngoài khám haibên là tợng Kim Đồng và Ngọc Nữ đang chấp tay niệm phật, bên dới là một banthờ với hệ thống thờ tự khá phức tạp gồm có một đĩnh hơng đặt ở chính giữa banthờ, tiếp đến là mâm bồng hai bên mâm bồng là hai cặp chân đèn nến và hạc đứngchầu bằng đồng, ngoài ra còn nhiều đồ thờ khác
Gian bên trái thờ thần Hộ Pháp (ông ác) và Thánh Tăng Thần Hộ Pháp taytrái cầm núi Tu Di, tay phải chống nạnh, tợng cao 2,3m Tợng Thánh Tăng cũngngồi trong khám, theo thế song thất Hệ thống thờ tự cũng giống nh ban thờ tợng
Đức ông
2.2.2.1.2 Đặc điểm kiến trúc và thờ tự phần thợng điện ngôi nhà chính điện
Thợng điện (Hậu cung) là ngôi nhà gồm 3 gian, xây theo kiểu hình chữ
đinh, rộng 5m, dài 6m với diện tích là 30m2, tờng hồi bít đốc
Hệ thống ban thờ phần thợng điện đợc chia làm 6 cấp:
Cấp trên cùng, giáp nóc mái là nơi đặt tợng Tam Thế đang trong t thế thiền
định
Cấp thứ 2 là tợng Thích Ca chuyển pháp trong t thế thiền định, tợng cao3m, tay phải bắt ấn chuyển pháp luân tức đang thuyết pháp để giáo hóa chúngsinh
Trang 27Cấp thứ 3 là tợng Di Đà tam tôn ngồi chính giữa đang bắt ấn thiền định,bên phải là tợng quan âm tay phải cầm hoa sen, bên trái là tợng Thế Chí cao 1,2mtay trái cầm ngọc nh ý, mình mặc áo cà sa buông hờ vai trái.
Cấp th 4 là tợng Quan âm chuẩn đề (Phật nghìn tay nghìn mắt), hai bên làKim Đồng và Ngọc Nữ đang bê kinh sách
Cấp thứ 5, ở giữa là tòa cửu long (Phật sơ sinh có 9 rồng đang phun nớctắm cho Phật), mô tả một trẻ sơ sinh đang đứng trên đài, một tay chỉ lên trời, mộttay chỉ xuống đất với ý rằng: Trên trời dới đất chỉ có Phật là tôn quý, tợng cao1,2m Hai bên có tợng Văn Thù đang cỡi voi trắng, tay trái cầm hoa sen ở bênphải và Phổ Hiền bên trái đang cỡi Lân, tay phải cầm hoa sen
Cấp thứ 6 là nơi đặt hơng án, với một mâm bồng và một l hơng bằng đồngkhá to, hai bên mân bồng là cặp chân đèn nến cao 47cm, hai bên l hơng là hai conhạc đứng chầu cao 43cm, ngoài ra còn có nhiều đồ thờ bằng sành sứ nh lộc bình
to 1 cặp, chóe đựng nớc 1 cặp…
Phía dới hơng án là một bệ tụng kinh
2.2.2.2 Đặc điểm kiến trúc và thờ tự ngôi nhà thờ Tổ
* Kiến trúc
Nhà thờ Tổ nằm phía tay trái, song song với ngôi nhà Chính điện và cũng
đợc xây dựng vào khoảng thời gian dựng lại ngôi nhà chính điện Gồm 3 gian 2trái, ba gian giữa đợc thông với nhau là nơi chính để thờ Phơng Trợng, hai bên
đầu hồi là phòng tăng
Với kết cấu 6 vì, các vì đợc làm bằng gỗ, nâng đỡ các vì chủ yếu là các bứcvách đợc xây bằng gạch và vôi Chỉ duy nhất ở gian giữa (gian thứ 3) có hai cộtcái nâng đỡ vì 3 và vì 4, giữa hai vì này có xà hạ, xà thợng, hai quá giang đốixứng chui đầu vào hai cột Chính bởi lối kết cấu này đã tạo cho ngôi nhà thờ Tổ
có đợc một bộ khung vững chắc và khá cao thoáng
Cấp thứ 2 cũng thờ ba vị, ngồi chính giữa là Tổ Thích Thanh Kiểm, hai bên
là hai vị Tiền tổ và Hậu tổ, phía dới ba vị có hai mâm bồng một thấp một cao vàmột cặp chân đèn nến đồng, ở chính giữa là một án hơng
Cấp thứ 3 thực chất là một sập thờ, có bài trí một bát hơng khá to, hai bên
là hai cặp chân đèn nến bằng đồng và chóe đựng nớc
Trang 28Phía trớc l hơng lại là một sập thờ nhỏ, với cách bài trí nh ở cấp 3 nhng đồthờ đợc thu nhỏ hơn.
Phía trên ban thờ có một bức đại tự ghi dòng chữ: “Trung quang tổ ấn”, với
ý nghĩa: xây dựng tôn tạo và phát sáng theo gơng của tổ
2.2.2.3 Đặc điểm kiến trúc và thờ tự ngôi nhà thờ Mẫu
2.2.2.3.1.Đặc điểm kiến trúc và thờ tự phần tiền đờng ngôi nhà Mẫu
* Đặc điểm kiến trúc
Đây là ngôi nhà gần nh còn nguyên vẹn duy nhất trong chùa Linh Cảnh.Mặc dù qua thời gian thăng trầm của lịch sử, không gian tấp nập của Hợp tác xã.Hơn thế nữa là những làn bom đạn của quân thù rãi xuống vùng đất này, nơi đợcxem là đô thị sầm uất, cửa ngõ của xứ Thanh
Ban đầu nhà thờ Mẫu đợc xây dựng theo kiểu chữ nhị (=), bao gồm tiền ờng và hậu cung Năm Bảo Đại thứ 14 (1939) tiếp tục đợc trùng tu, đến năm 1989lại đợc tu sữa lại cùng với chùa Hiện nay nhà Mẫu đợc xây dựng theo kiểu chữ
đ-đinh (J), bao gồm tiền đờng, trung đờng và hậu cung, mặt ngoảnh về hớng Bắc
Trớc nhà thờ Mẫu là một khoảng sân rộng 11m, dài 14m với tổng diện tích
là 154m2 Hai bên có miếu Thánh Cậu và Tiên Cô tọa lạc, hai ngôi miếu này đ ợcxây dựng giống nhau cả về kích thớc lẫn kiến trúc, miếu đợc xây là một hìnhvuông chiều dài rộng mỗi cạnh là 1,10m x 4, cao khoảng hơn 3m, đợc đặt trênmột chân đá tảng hình vuông Về mái, với 2 tầng mỗi tầng 4 mái, mỗi góc của 4mái đều đợc uốn cong hình đuôi rồng Phía trong lầu là tợng Thánh Cậu và TiênCô, tợng Thánh Cậu chân phải vắt ngang gối trái, tợng Tiên Cô ngồi theo thế songthất, tợng cao 0,52m Phía ngoài mỗi miếu đều có câu đối khắc hai bên
Miếu Thánh Cậu: “Tứ phủ quyền hành tòng thánh giá
Vạn linh tạc cách thị tiên xa”.
Miếu Tiên Cô: “Phụng nghi mẫu mệnh nơng nhi tử
Phóng trợng tiên uy ngọc nữ cô”.
Phần Tiền đờng hiện nay đã đợc trùng tu lại nhiều lần nhng vẫn giữ nguyên
đợc bộ khung gỗ xa Là ngôi nhà 3 gian dài 11m, rộng 10m với tổng diện tích110m2 tờng hồi bít đốc, với kết cấu gồm 4 bộ vì kèo, hai quá giang, 2 hàng cột cái
và 4 hàng cột quân, mỗi hàng cột đều có 4 trụ cột, tổng cộng là 24 cột
Vì kèo đợc cấu kết theo kiểu chồng rờng kẻ bẩy, các con rờng đợc trồnglên nhau bằng các cấu hình hoa sen Mái đợc làm theo kiểu trồng diêm cổ với 4mái đợc lợp bằng ngói mũi trang trí hình hoa sen
Theo chiều dọc, ở hàng cột quân thứ nhất cách giọt lệ 0,50m, với nhiệm vụnâng đỡ xà hạ, khoảng cách giữa các cột của hàng cột quân thứ nhất cũng có sự
Trang 29khác nhau: cột 1 và cột 2, cột 3 và cột 4 đều cách nhau 2,8m, riêng cột thứ 2 vàcột thứ 3, nâng đỡ vì 2 và vì 3 tạo nên gian giữa nên có khoảng cách rộng hơn là3,4m (tính từ chân đế cột), ở các hàng cột tiếp theo cũng có khoảng cách nh vậy.
Tới hàng cột quân thứ 2, theo chiều ngang cách hàng cột quân thứ nhất1,2m, nhiệm vụ là nâng đỡ xà trung, cùng với hệ thống cánh cửa hàng cột nàyngăn tiền đờng ra làm hai phần: phần ngoài và phần tiền đờng bên trong Với 3cửa ra vào, mỗi cửa có 4 cánh, trên mỗi cánh cửa lại đợc chia làm 3 phần đợcchạm khắc hoa văn rất đẹp mắt:
Phần trên là các con song tiện tròn đứng cách đều nhau, tạo ra sự thôngthoáng và hút ánh sáng vào cho ngôi nhà thờ Mẫu
Phần dới là những bức phù điêu chạm khắc chìm, nổi trên cánh cửa, vớihình thức biểu đạt hình tợng khá đa dạng nh có cánh chạm khắc nguyên hình conrồng đang uốn lợn trên vòm mây, có cánh chạm cảnh trúc hóa long, có cánh lạichạm cảnh mai điểu và ngay cả hình hoa văn lá lật đơn giản cũng đợc biểu đạt…
Điểm nối giữa các song cửa và phần dới là một hình vuông, bao quanh mộthình tròn đợc chạm chìm sâu, phía trong hình tròn có hình hoa sen nổi nhô lên,một biểu tợng của nhà phật và cũng là quan niệm về nhân sinh quan (trời tròn đấtvuông), không những vậy nó còn biểu thị cho tín ngỡng phồn thực của ngời Việt
Tiếp đến là hàng cột cái thứ 3, theo chiều ngang cách hàng cột quân thứ 2
là 0,8m, với nhiệm vụ nâng đỡ xà thợng
ở hàng cột cái thứ 4 cách hàng cột cái thứ 3 là 2,2m, cách hàng cột quânthứ 5 là 0,8m, cùng với nhiệm vụ nâng đỡ xà thợng
Hàng cột quân thứ 6 cách hàng cột quân thứ 5 là 0,6m
Do đợc tu sửa lại không ít lần cùng với những biến cố của thời gian nênnhiều hoa văn và với lối kiến trúc xa đã không còn đợc lu giữ lại nguyên trạngban đầu Điểm nổi bật của ngôi nhà thờ Mẫu là vẫn giữ đợc bộ khung gỗ mà thôi
* Hệ thống thờ tự
Gian giữa, với hệ thống ban thờ chính đợc chia làm ba cấp:
Cấp thứ nhất là cấp thờ ba vị khai quốc công thần thời Hậu Lê: Lê Triện,
Lê Giáo và Lê Đằng
- Lê Triện (? - 1427)
Ông là ngời trang Bái Đô, huyện Lôi Dơng (nay là làng Bái Đô, xã XuânBái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) Do lập đợc công lớn trong cuộc khángchiến chống giặc Minh nên đợc phong quốc tính họ Lê
Sau khi dẹp song giặc Minh, Bình Định Vơng Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế,năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), xét công ban thởng Lê Triện đợc truy phong
Trang 30Nhập nội t mã Trong 35 ngời khai quốc công thần Lũng Nhai đợc nhà vua ghivào sách để trong rơng vàng, Lê Triện đứng thứ 13 sau Lê Lễ Năm Quang Thuậnthứ nhất (1460) vì con là Lê Lăng có công cùng Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệmgiết bọn Phạm Đồn, Phạm Ban, phế truất Nghi Dân đa vua Lê Thánh Tông lên, LêTriện đợc truy phong Hữu tớng quốc, đến năm Hồng Đức thứ 15 là Thái Bảo Kỳquận công về sau lại đợc gia phong là Tây Kỳ Vơng.[8;174]
“Nhất bạch nhị thập ngủ niên”.
Đứng hàng thứ nhất khai quốc công thần (trong số 125 vị khai quốc côngthần)
Lớp thứ 2 thờ long ngai và bốn vị Thành hoàng
Lớp 3 là nơi đặt hơng án, ở chính giữa có một l hơng đồng, hai bên là haicặp chân đèn nến và hạc chầu, ngoài ra còn có bốn mân bồng để hai bên của l h-
ơng, hai cặp chóe và lộc bình to bằng xứ
Hai bên của ban thờ là hai cặp câu đối khắc trên gỗ đợc sơn son thiếp vàngtreo trên 2 cột cái hàng thứ t và hai cột quân hàng thứ năm, trên cùng có bức đại
tự ghi:
Phiên âm: “Thợng đẳng lũy gia phong
Nghĩa là: Nhiều lần gia phong thợng đẳng.
Gian số 1 thờ Mẫu Thợng Ngàn ngồi trong khám ở thế song thất, hai bênngoài khám là Kim Đồng và Ngọc Nữ Dới khám là một sập thờ với hệ thống đồthờ tự không mấy phức tạp, chỉ có một mâm bồng, một cặp chân đèn nến, một cặphạc đồng đứng chầu và một đôi chóe Phía trên là bức đại tự ghi:
Phiên âm: “Hách trạc thanh linh”
Nghĩa là: Tiếng thiêng lừng lẫy.
Trang 31Gian số 3 thờ Đức Thánh Trần cũng ngồi trong khám theo thế song thất,
đầu đội mũ kim khôi, bên dới là một sập thờ, cách bài trí đồ thờ cũng tựa nh banthờ mẫu Thợng Ngàn Trên cùng có bức đại tự ghi:
Phiên âm: “Trần triều hiển hách”
Nghĩa là: Hiển hách triều Trần.
2.2.2.3.2 Đặc điểm kiến trúc và thờ tự phần trung đờng ngôi nhà thờ mẫu
* Đặc điểm kiến trúc
Là ngôi nhà dài 6m, rộng 5m đợc chia làm hai phần, với kết cấu bởi 4 vì 3gian Vì 1 nối liền với hàng cột quân thứ 6 của ngôi nhà Tiền đờng, vì 3 và vì 4tạo nên một gian bên trong hay còn gọi là cung cấm (Hậu cung) Trung đờng đợcthông với Tiền đờng bởi 2 cửa đi hai bên, ngoài ra ngôi nhà Trung đờng còn có 2lối đi ra hai hành lang trái và phải
Nếu nh, ở ngôi nhà Tiền đờng hai mái thoải về hớng Bắc và hớng Nam, thì
ở ngôi nhà Trung đờng hai mái lại thoải về hớng Đông và Tây Tuy nhiên haiphần mái này lại đợc gắn kết với nhau, tạo thành một sự khép kín không khe hở
* Hệ thống thờ tự
Ban thờ ngôi nhà Trung đờng đợc chia làm 3 cấp
Cấp trên cùng (cấp 1) là nơi thờ Ngọc Hoàng ngồi trong thế song thất, đầu
đội mũ Bình Thiên, hai tay cầm thẻ bài giơ trớc ngực Hai bên là Nam Tào và Bắc
Đẩu cũng ngồi theo thế song thất
Cấp thứ 2 là cấp thờ Ngũ vị Quan ông đang ngồi trong t thế song thất, đầu
đội mũ cánh chuồn, khuôn mặt mỗi ngời một vẻ Ngời thì nghiêm nghị, ngời thìmắt quắc lên, ngời đang mỉm cời…
Cấp 3 là một sập thờ với cách bài trí cũng không khác mấy so với ban thờ ởngôi nhà Tiền đờng, điều đang chú ý ở hệ thống thờ tự ngôi Trung đờng là bên d-
ới sập thờ có một hang động, thờ ngũ hổ và phía trên vách trái và phải có hai conrắn một xanh, một trắng dài khoảng 5m đang nghe đầu ghé mắt xuống ban thờ
2.2.2.3.3 Đặc điểm kiến trúc và thờ tự phần hậu cung ngôi nhà mẫu
Phần Hậu cung thực chất là gian thứ 3, đợc tạo thành bởi vì 3 và vì 4, thôngvới Trung đờng bởi hai cửa vào song song với hai lối đi ra phần nhà Tiền đờng,hai cánh cửa này luôn luôn đợc khép kín chỉ những ngày lễ tiết mới đợc mở
Phần Hậu cung là nơi thờ tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu ợng Ngàn, Mẫu Thoải Cung) Hai bên là chầu Quỳnh đang bê kinh sách và chầuQuế bê tiên tửu đứng hầu Ba pho tợng Thánh Mẫu ngồi trên bệ cửa khám thờ,
Trang 32miệng mỉm cời, mắt nhìn xuôi, ngời ngồi giữa mặc áo đỏ tợng trng cho mẫu ợng Thiên, tợng phía bên phải mặc áo trắng tợng trng cho Thoải Cung (MẫuThoải), tợng bên trái mặc áo xanh tợng trng cho mẫu Thợng Ngàn Ba pho tợng
Th-có kích thớc bằng nhau và chiều cao là 0,85m
Nhìn chung tợng ở đây đa dạng và phong phú về loại hình, tợng đợc tạo táctrong giai đoạn từ thế kỷ XV - XX, các tợng đều đợc làm bằng gỗ mít và sơn sonthiếp vàng
Chùa tọa lạc ở một vị trí, trớc mặt là sông, lại nằm ngay trên trục đờngQuốc lộ 45, nơi giao thơng giữa vùng đồng bằng với các huyện miền núi của tỉnhThanh Hóa Chùa Linh Cảnh là di tích có nhiều giá trị về mặt lịch sử - văn hóa,tín ngỡng tôn giáo, một nét văn hóa của ngời Phơng Đông nói chung và ngời ViệtNam nói riêng Đây cũng là trung tâm tôn giáo, tín ngỡng của ngời dân quanhvùng đất này
2.2.3 Các hiện vật lịch sử, đồ thờ trong di tích
Chùa Linh Cảnh, là ngôi chùa không chỉ còn lu giữ lại đợc khá nhiều hiệnvật lịch sử mà hệ thống thờ tự trong chùa cũng đợc trang bày khá phong phú:
- Bia đá thời Nguyễn có 5 bia, một bia cao 80x1,2m, bốn bia còn lại cao40x60cm
- Chuông đồng lớn nặng 500kg, chuông đồng nhỏ có 4 quả nặng 50kg
- Chân đèn nến đồng có 30 chân, trong đó có 10 chân cao 85cm, 10 châncao 65cm, 10 chân cao 35cm
- Hạc đồng có 4 cặp, hai cặp cao 45cm, hai cặp cao 35cm
- L hơng đồng có 8 l, trong đó có 4 l cao 65cm, hai l cao 35cm…
- Bát hơng bằng đá 2 cái, bát hơng đồng to 2 cái, nhỏ 2 cái
- Tợng thích ca 1 pho cao 3m, tợng di đà 1 pho cao 1,2m
- Tợng quan âm - thế chí 2 pho cao 1m, tợng chuẩn đề 1 pho cao 1,5m
- Tòa cửu long 1 pho cao 1,2m
- Tợng đức ông 1 pho cao 1,2m
- Tợng đức thánh 1 pho cao 1,2m
- Tợng tam tòa thánh mẫu 3 pho cao 85cm
- Tợng chầu quỳnh - quế 2 pho cao 40cm
- Tợng ngọc hoàng 1 pho cao 1,5m
- Tợng nam tào - bắc đẩu 2 pho, tợng ngũ vị tôn quan 5 pho,
tợng khai quốc công thần 3 pho, đều cao 1,2m
- Có 4 long ngai và bài vị, cao 80cm
Trang 33- Tợng đức thánh trần 1 pho cao 1m
- Tợng chúa thợng ngàn 1 pho cao 1m
- Tợng di đà tiếp dẫn 1 pho cao 1,5m
- Tợng quan âm và địa tạng 2 pho cao 1,2m
- Tợng quan âm ngoài trời 1 pho cao 2m
- Sắc phong thời Nguyễn có 3 sắc
- Hòm sắc có 4 hòm
Qua hệ thống các hiện vật lịch sử và đồ thờ tự hiện có trong chùa, đã chochúng ta hiểu thêm về nguồn gốc hình thành chùa và sức sống mãnh liệt của vănhóa tâm linh
2.3 Đền thờ và lăng mộ Nguyễn Nhữ Lãm
2.3.1 Nguồn gốc lịch sử
Năm Thiệu Bình thứ 4 (1437), ngày 25 tháng 5 Nguyễn Nhữ Lãm mất, ông
đã đợc truy phong Nhập nội Thái Bảo Nhà vua đã sắc dụ cho con cháu dòng họ
và các làng lân cận an táng lập đền thờ và lăng mộ ở chính quê hơng ông
Năm Thiệu Bình thứ 6 (1439), đền thờ và lăng mộ Nguyễn Nhữ Lãm đợccất dựng ở ven bờ sông Chu, đợc trùng tu lại lần thứ nhất vào năm 1576 niên hiệuQuang Hng
Tháng 12 năm 1946 tiếp tục đợc tôn tạo lại, khi đó đền thờ và lăng mộ vẫnnằm ở ven bờ sông Chu
Đến năm 1990, đền thờ Nguyễn Nhữ Lãm đợc di chuyển vào làng Thịnh
Mỹ, cũng trong năm này đền thờ vinh dự đợc công nhận là di tích lịch sử văn hóacấp tỉnh Năm 2000, đã hoàn thành xây dựng và khánh thành đền, đồng thời vớiquyết định của Bộ văn hóa Thông tin ngày 28 tháng 7 năm 2000 thì đền thờNguyễn Nhữ Lãm đã đợc công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
Với quyết định phân bổ kinh phí của tỉnh ngày mùng 4 tháng 6 năm 2006,Chính quyền xã cùng với nhân dân đã cho sửa chữa và tôn tạo lại đền thờ và lăng
mộ vào tháng 12 năm 2006, tức ngày mùng 9 tháng 10 năm Bính Tuất đến ngày
28 tháng 10 hoàn tất công tác sửa chữa và tôn tạo
Từ đó đền thờ và lăng mộ đợc đa vào hoạt động tế lễ và tổ chức hội hè hàngnăm
2.3.2 Nhân vật thờ tự
Nguyễn Nhữ Lãm, ngời xã Văn Xá, huyện Thanh Liêm, phủ Lý Nhân trấnSơn Nam nay thuộc tỉnh Hà Nam Bố là Nguyễn Công Thân cuối đời Trần Cháncảnh nên về quê vợ là Lê Thị Lịch - một ngời đàn bà hiền thục đợc mọi ngời yêu