Ví dụ như: đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Đà Nẵng cần tổ chức những buổi tọa tàm, hội thảo về bảo vệ môi trường; đối với Tăng ni, Phật tử, cần tìm hiểu thêm giáo lý và tíc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA QUỐC TẾ HỌC
-
NGUYỄN THIỆN CHÂN
PHẬT GIÁO VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Đà Nẵng – Năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS LƯU QUÝ KHƯƠNG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THIỆN CHÂN Lớp : 16CNĐPH02
Đà Nẵng – Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ những nội dung đã được tham khảo có kèm theo nguồn trích dẫn, luận văn này không bao gồm một phần hoặc toàn bộ nội dung của bất kỳ một công trình nào đã được công
bố để nhận một văn bằng hay học vị ở bất kỳ một cơ sở đào tạo nào khác
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nhằm tìm hiểu những quan điểm của Phật giáo về môi trường và bảo vệ môi trường, nghiên cứu trường hợp tại Đà Nẵng Kết quả từ việc nghiên cứu lý thuyết đưa ra một số quan điểm Phật giáo về môi trường: Thuyết Duyên khởi, Y chánh bất nhị và mọi chúng sinh đều bình đẳng; một số hành động bảo vệ môi trường theo quan điểm Phật giáo: bảo vệ mạng sống sinh vật, sống hài hòa với thiên nhiên, tri túc thiểu dục, ăn chay, trồng cây xanh Dữ liệu từ khảo sát định tính, định lượng được xử lí và đưa vào phần vai trò và thực trạng hoạt động bảo vệ môi trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Đà Nẵng Kết quả cho thấy những hoạt động bảo vệ môi trường được phân loại vào hai mục chính: tái tạo, xây dựng môi trường sinh thái và xây dựng nếp sống thân thiện với môi trường Vai trò của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Đà Nẵng trong việc truyền thông và giáo dục được thể hiện thông qua các buổi thuyết pháp, ngoài ra còn có sách, báo giấy, báo mạng và mạng xã hội,.v.v Tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng hiệu quả bảo vệ môi trường Ví dụ như: đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố
Đà Nẵng cần tổ chức những buổi tọa tàm, hội thảo về bảo vệ môi trường; đối với Tăng ni, Phật tử, cần tìm hiểu thêm giáo lý và tích cực tham gia trồng cây xanh, thu gom rác thải; đối với người dân Đà Nẵng, cần tiếp thu những giá trị tốt đẹp trong Phật giáo để cùng chung tay bảo vệ môi trường
Trang 5ABSTRACT
The paper attempted to investigate the Buddhist views on the environment and environmental protection, case study of Da Nang city The theoretical research resulted in some Buddhist views on the environment including the Dependent Origination, the Nonduality between human and environment, all sentient beings are equal; Some actions to protect the environment from the Buddhist perspective are to protect the life of creatures, to live in harmony with nature, to reduce desire and content with any condition, to be vegetarian and to plant trees Qualitative and quantitative data collected from surveys was processed and discussed in the chapter
of the current status of environmental protection activities in Danang City and the role of Buddhist Sangha of Viet Nam in Da Nang The results showed that environmental protection activities in Da Nang were classified into two main categories: regenerating ecological environment and forming environmentally friendly lifestyle The Buddhist Sangha of Viet Nam in Da Nang City played an important role in the communication and education about environmental protection through verbal Dharma lectures, in addition to paper books, online newspapers and social networks, etc The author put forward some proposals to increase the effectiveness of environmental protection For example, for the Buddhist Sangha of Viet Nam in Da Nang City, organize meetings, seminars on environmental protection; For monks and nuns and Buddhists, learn more about the Dharma and actively participate in planting trees, collecting waste; For Da Nang people, learn the good values in Buddhism to collectively protect the environment
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
-1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7
-1.1.1 Trong kinh sách Phật giáo 7
-1.1.2 Tại Việt Nam 8
-1.1.3 Nước ngoài 9
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CẦN YẾU 10
1.2.1 Môi trường 10
1.2.2 Bảo vệ môi trường 12
1.2.3 Phật giáo 14
-1.2.4 Giáo hội Phật giáo Việt Nam - 15 -
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 17
2.1 QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ MÔI TRƯỜNG 17
2.1.1 Thuyết Duyên khởi và Y chánh bất nhị 17
2.1.2 Mọi chúng sinh đều bình đẳng 18
-2.2 NHỮNG HÀNH ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THEO PHẬT GIÁO - 19 2.2.1 Bảo vệ mạng sống sinh vật 19
2.2.2 Sống hài hòa với thiên nhiên 20
2.2.3 Tri túc thiểu dục (biết đủ và hạn chế ham muốn) 21
2.2.4 Ăn chay 22
2.2.5 Trồng cây xanh 23
-CHƯƠNG 3: VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 24
3.1 TÌNH HÌNH MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 24
Trang 73.1.1 Vấn đề rác thải 24
3.1.2 Vấn đề nước thải 25
3.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu 25
3.1.4 Tình hình khai thác tài nguyên rừng 26
3.1.5 Tình hình khai thác tài nguyên khoáng sản 27
-3.2 NHẬN THỨC CỦA PHẬT TỬ VỀ TÌNH HÌNH MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 27
3.2.1 Về mức độ ô nhiễm môi trường tại thành phố Đà Nẵng 27
3.2.2 Về những vấn đề môi trường nổi bật tại thành phố Đà Nẵng 28
-3.3 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG 29
-3.3.1 Một số thành tựu về hoạt động bảo vệ môi trường của GHPGVN thành phố Đà Nẵng 29
-3.3.2 Một số hạn chế trong việc bảo vệ môi trường của GHPGVN thành phố Đà Nẵng 37
-3.4 VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG VIỆC TRUYÊN TRUYỀN VÀ GIÁO DỤC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI ĐÀ NẴNG 39
-3.4.1 Trong việc truyền thông nhằm nâng cao nhận thức Tăng ni, Phật tử về bảo vệ môi trường 39
3.4.2 Trong việc giáo dục về bảo vệ môi trường 43
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 57
Trang 8-DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Hiệu quả hoạt động tuyên truyền BVMT của
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
3.1 Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường tại Đà
Trang 10- 1 -
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay môi trường đang là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của nhân loại Môi trường tự nhiên có một ý nghĩa to lớn và vô cùng quan trọng đối với con người Con người không thể tồn tại khi tách khỏi môi trường tự nhiên Tuy nhiên, ngày nay môi trường sống của con người đang bị tàn phá nghiêm trọng Nhân loại đang phải đối mặt với những thảm họa như ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn nước ngầm, đất đai xói mòn, sa mạc hóa, biến đổi khí hậu và mất cân bằng sinh thái…
Những hậu quả của việc tàn phá môi trường đang đưa cuộc sống của loài người đến gần hơn với những hiểm họa của sự diệt vong Những cơn bão lũ, những trận động đất, sóng thần, lốc xoáy đều để lại những hậu quả khôn lường, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn con người, chưa kể tài sản, nhà cửa bị hủy hoại Những điều đó buộc con người phải thay đổi nhận thức và quan điểm về vấn đề môi trường, các quốc gia, các tổ chức và toàn xã hội đang nỗ lực để tìm ra những giải pháp thích hợp đối phó với vấn đề môi trường Phật giáo cũng không nằm ngoài số
đó khi thực hiện và đưa ra những giải pháp để góp phần cải thiện vấn đề môi trường
Phật giáo là tôn giáo đem đến cho nhân loại những giá trị về sự “bình đẳng”,
“từ bi”, “trí tuệ”, hướng con người sống thiện, sống hòa đồng và tôn trọng tự nhiên Vậy, Phật giáo có những giáo lý nào có thể góp phần thay đổi nhận thức con người
về môi trường? Trên cơ sở những giáo lý đó, Giáo hội, Tăng ni, Phật tử đã có những hành động thực tiễn nào giúp bảo vệ môi trường? Để làm rõ các vấn đề trên, đề tài này nghiên cứu trường hợp tại thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung bộ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên và cả nước; là đầu mối giao thông rất quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường
Trang 11Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tâm linh của người
Đà Nẵng Các hoạt động lễ hội được tổ chức thường xuyên lễ hội như Quán Thế
Âm, Đại lễ Phật đản, Lễ Vu Lan… Đặc biệt, Lễ hội Quán Thế Âm có quy mô tương đối lớn, làm nên nét riêng tại Đà Nẵng Phật giáo còn có ảnh hưởng, tác động về mặt văn hóa, du lịch tâm linh, thể hiện khá rõ qua các chùa Phật giáo, trong đó đáng chú ý là các chùa cổ như Tam Thai, Linh Ứng – Bãi Bụt, An Long, Pháp Lâm…Bên cạnh đó, Phật giáo còn có những đóng góp thực tế trong lĩnh vực môi trường Vậy đối với vấn đề bảo vệ môi trường, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Đà Nẵng đã triển khai những hoạt động cụ thể nào và tác động đến cộng đồng như thế nào?
Với những lí do trên, người nghiên cứu chọn “Phật giáo và vấn đề bảo vệ
môi trường: nghiên cứu trường hợp tại Đà Nẵng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
đại học, ngành Đông phương học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những quan điểm Phật giáo về môi trường và những hành động theo chánh pháp để bảo vệ môi trường, đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ môi trường của GHPGVN ĐN để thấy được sự áp dụng giáo lý Phật trong thực tiễn Từ
đó, đề tài đưa ra những khuyến nghị nhằm giúp tạo ra môi trường bền vững cho sự phát triển của Đà Nẵng nói riêng và của cả nước nói chung trong điều kiện Việt
Trang 12- 3 -
Nam là một trong mười quốc gia trên toàn cầu chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu
- Tìm hiểu những quan điểm của Phật giáo về môi trường và bảo vệ môi trường
- Phân tích thực trạng những hoạt động bảo vệ môi trường của Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng từ đó rút ra những điểm tích cực để phát huy và những điểm hạn chế cần khắc phục
- Trên cơ sở giáo lý Phật giáo về môi trường và thực tiễn hoạt động bảo vệ môi trường của Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số hàm ý hành động thiết thực để bảo vệ môi trường nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu góp phần gìn giữ môi trường xanh – sạch – đẹp, bền vững tạo điều kiện để phát triển thành phố Đà Nẵng
3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: người nghiên cứu đã khảo sát hoạt động bảo vệ môi trường của 3 chùa tại thành phố Đà Nẵng: chùa Linh Ứng – Sơn Trà (nơi tập trung nhiều khách du lịch), chùa Quán Thế Âm – Ngũ Hành Sơn (nơi tổ chức lễ hội Quan Thế Âm Đà Nẵng), chùa Bàu Sen – Cẩm Lệ (Phật giáo thành phố đã xây dựng mô hình điểm bảo vệ môi trường tại đây)
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu những môi trường tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của con người gồm: rừng, nguồn nước, không khí
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Phật giáo có những quan điểm và biện pháp thực hành nào liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường?
Trang 13- 4 -
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Đà Nẵng đã có vai trò và những hoạt động thực tiễn nào trong việc tuyên truyền và giáo dục ý thức cho Tăng ni, Phật tử về môi trường và bảo vệ môi trường tại thành phố Đà Nẵng?
- Cần làm gì để nâng cao ý thức và đẩy mạnh những hoạt động bảo vệ môi trường trong cộng đồng Phật tử và người dân thành phố Đà Nẵng?
5 Đóng góp của luận văn
- Đề tài cung cấp những kiến thức cơ bản, những quan điểm của Phật giáo về môi trường cũng như những hoạt động bảo vệ môi trường
- Đem đến một góc nhìn mới về mối liên hệ giữa con người và môi trường nhằm thay đổi nhận thức và hành động để con người sống hòa hợp với thiên nhiên
và cùng chung tay bảo vệ môi trường
- Từ việc phân tích, đánh giá các hoạt động bảo vệ môi trường ở một số chùa ở
Đà Nẵng, phát huy những mặt tích cực và nhân rộng cho các chùa trên toàn thành phố, góp phần hạn chế những tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lụt,.v.v…
- Kết quả là nguồn tham khảo cho những nghiên cứu liên quan đến Phật giáo
và bảo vệ môi trường sau này
6 Thiết kế nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: tập hợp những quan điểm về bảo
vệ môi trường của Phật giáo, mối tương quan giữa giáo lí Phật giáo và môi trường
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu để biết được những hoạt động cụ thể nhằm bảo vệ môi trường của GHPGVN ĐN
Đối tượng được khảo sát bằng bảng hỏi: Phật tử
Đối tượng khảo sát qua phỏng vấn: Tăng ni, một số người có chức sắc trong các cơ sở Phật giáo tại TPĐN (chùa, tịnh xá)
Trang 14- 5 -
Phát phiếu khảo sát cho 63 Phật tử trên địa bàn TP Đà Nẵng
Phỏng vấn 9 Tăng ni, chức sắc tại 3 cơ sở Phật giáo được chọn trên địa bàn
TP Đà Nẵng
Thu thập dữ liệu từ hai nguồn như sau:
Bảng câu hỏi: gồm 11 câu hỏi đóng Nội dung các câu hỏi về nhận thức của Phật tử về vấn đề bảo vệ môi trường gồm mức độ hiểu biết về các vấn đề môi trường tại địa phương, việc tham gia những buổi thuyết giảng liên quan đến vấn đề môi trường, sự thay đổi nhận thức và hành động sau khi nghe giảng, những hoạt động cụ thể, lí do tham gia những hoạt động bảo vệ môi trường do chùa tổ chức
Bảng câu hỏi phỏng vấn gồm 5 câu dành cho Tăng ni, những người có chức sắc để tăng độ chính xác và tin cậy đồng thời tìm hiểu quan điểm của người được phỏng vấn về những vấn đề liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường của GHPGVN ĐN
Dữ liệu thu được từ bảng hỏi được tính phần trăm và biểu diễn trên bảng, biểu đồ để cung cấp thông tin định lượng về nhận thức của Phật tử về vấn đề bảo vệ môi trường trong chương 3
Thông tin thu được từ phỏng vấn được mã hóa thành dạng văn bản và làm luận cứ cho chương 3 của luận văn
7 Cấu trúc tổng quát của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương này sẽ tóm lược lịch sử vấn đề nghiên cứu trong kinh sách Phật giáo
và của học giả trong và ngoài nước, đồng thời, nêu một số khái niệm chính trong đề
Trang 15- 6 -
tài bao gồm môi trường, bảo vệ môi trường, Phật giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Chương 2: Quan điểm của Phật giáo về môi trường và bảo vệ môi trường
Chương này sẽ trình bày những quan điểm của Phật giáo liên quan đến môi trường và những hành động theo Phật giáo để bảo vệ môi trường
Chương 3: Vai trò và thực trạng hoạt động bảo vệ môi trường của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Đà Nẵng
Chương này nêu nhận thức của Phật tử về tình hình môi trường tại TP Đà Nẵng, thực trạng bảo vệ môi trường, những thành tựu và hạn chế đối với việc bảo
vệ môi trường của GHPGVN ĐN, đồng thời nêu vai trò của GHPGVN ĐN trong việc tuyên truyền và giáo dục Tăng ni, Phật tử Đà Nẵng về bảo vệ môi trường
Trang 16- 7 -
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Trong kinh sách Phật giáo
Trong Đại tạng kinh Việt Nam, Năm bộ Nikaya, Đức Phật nhắc đến vấn đề bảo vệ môi trường nhưng nằm rải rác ở một số phần của các bộ kinh Tinh thần tôn trọng môi trường được thể hiện qua lối sống của chính Đức Phật Hàng ngày, Ngài
tu tập, hành thiền hay thuyết pháp ở trong rừng núi, sống gần gũi, hòa mình với thiên nhiên
Trong những bộ kinh như: kinh Pháp cú, kinh Từ bi, kinh Địa Tạng, kinh Phạm Võng,… Đức Phật đều có những phần hàm ý nói đến môi trường và bảo vệ môi trường Ví dụ, trong kinh Pháp cú [4], Ngài lấy thiên nhiên làm điểm tựa để tu tập:
“Như đất, không sân hận
Như trụ đá, kiên trì
Như hồ, không bùn nhơ
Vị ấy không luân hồi.” [4, tr 50]
Hay trong kinh Từ bi [6], quan điểm của Đức Phật đối với muôn loài được thể hiện trong đoạn kinh sau:
“Nguyện cho tất cả sinh vật trên Trái Đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài
ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh Nguyện cho đừng loại nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn Như một bà mẹ đang đem
Trang 17- 8 -
thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối
xử với tất cả mọi loài” [6, tr 12]
Ngoài ra, những triết lý được đúc kết và rút ra từ những lời dạy của Phật được ghi chép trong kinh điển như triết lý Duyên khởi, Nhân quả, sự bình đẳng trong sinh tồn của con người, vạn vật là nền tảng cho mối quan hệ biện chứng không thể tách rời giữa môi trường tự nhiên với con người Lối sống “vô lượng tâm” (từ, bi, hỷ, xả), “ngũ giới”, “thập thiện”, loại bỏ “tam độc” (tham, sân, si),
“thiểu dục tri túc” (biết đủ và hạn chế ham muốn), v.v… là những yêu cầu cơ bản, thể hiện sự tôn trọng, bảo vệ chúng sinh, góp phần trực tiếp bảo vệ môi trường
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Trong cuốn Quan điểm Phật giáo về cách mạng công nghiệp 4.0 và môi
trường bền vững [18], những quan điểm trong lý thuyết Phật giáo như thuyết Duyên
khởi, Nhân quả được viện dẫn để giải thích cho mối liên hệ giữa con người và tự nhiên Công trình này cũng nêu lên một số thực trạng chung của môi trường trong thời đại ngày nay và liên hệ đến những triết lí Phật giáo nhằm đưa ra những giải pháp cho vấn đề môi trường
Các tác giả Hoàng Thúc Lân và Nguyễn Thị Huệ [19] đã đưa ra một khái niệm tương đối mới “thực hiện công bằng môi trường” là đảm bảo sự bình đẳng trong việc hưởng thụ cũng như chia sẻ trách nhiệm rủi ro từ môi trường trong điều kiện BĐKH, giải quyết những vấn nạn của ô nhiễm môi trường Các tác giả cũng nêu ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức Phật giáo trong thực hiện bình đẳng môi trường ở Việt Nam hiện nay
Thiền sư Thích Nhất Hạnh [7] đã đưa ra những giới luật, những bản kinh để làm minh chứng cho mối quan hệ giữa con người với môi sinh Thiền sư luôn nhắc nhở rằng mỗi người đã từng là đá, là mây, là cây lá Thiền sư khuyên nhủ chúng ta sống có chánh niệm để trang trải tình thương đến muôn loài, trên tinh thần đó thiết lập những giá trị đạo đức làm căn bản cho hạnh phúc con người trong hiện tại và gìn giữ môi trường trong lành cho thế hệ mai sau
Trang 18- 9 -
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam cho ra đời cuốn sách Phật giáo vùng
Mê Công - Ý thức môi trường và toàn cầu hóa [20] Cuốn sách đã cho người đọc
biết được tầm quan trọng của nguồn nước và con sông đối với người miền Tây như thế nào Đặt ra nhiều vấn đề ô nhiễm cũng như biến đổi khí hậu hiện nay thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam phải làm thế nào Cuốn sách đã chỉ ra những hoạt động cụ thể như: muốn thanh lọc nguồn nước trước tiên phải thanh lọc thân tâm, hay giảm cường độ tiêu thụ vật chất, sử dụng tài nguyên hiệu quả và không chất thải Cuốn sách bàn đến những hoạt động bảo vệ môi trường sống xung quanh chúng ta
1.1.3 Nghiên cứu ngoài nước
Tập sách Phật giáo và Môi trường [5] do Đại đức Thích Nhuận Đạt dịch và
chú giải không những nói đến môi trường toàn cầu mà còn nói đến sự liên hệ giữa con người đối với môi trường Giáo lý Duyên khởi của đạo Phật được vận dụng để giải thích cho sự hiện hữu của mọi sinh vật trên Trái Đất Tiếp theo, các tác giả đã đưa ra những nhận định, phân tích và biện luận về nguyên nhân gốc rễ của tình trạng con người tự phá hủy môi trường sống của chính mình, từ đó chỉ ra các giải pháp đi kèm
Trong cuốn Đạo Phật và sinh thái học tầng sâu (A manual for Buddhism and
deep ecology) [24], Henning đã dùng phương pháp diễn dịch để giúp người đọc từng bước hiểu được mối liên hệ giữa đạo Phật và sinh thái học tầng sâu Những triết lý như Vô thường, Nhân quả, Nghiệp báo là trọng tâm trong việc thực hành đạo Phật và ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của con người đối với thế giới Cuốn sách tập trung vào quan điểm của Phật về “Một thế giới” (One world) nơi mọi loài sinh sống, xem Trái Đất là một cộng đồng có liên hệ chặt chẽ đến mọi cuộc sống Cuối cùng nêu lên sự đóng góp của các tổ chức Phật giáo về môi trường, môi sinh điển hình như Ái hữu Phật tử cho hòa bình (Buddhist Peace Fellowship), Mạng lưới Phật giáo dấn thân quốc tế (the International Network of Engaged Buddhists)
Qua lịch sử vấn đề nghiên cứu, ta có thể thấy thái độ tôn trọng thiên nhiên và
ý thức bảo vệ môi trường luôn được Đức Phật đề cao và khuyên dạy đệ tử, tinh thần
Trang 19- 10 -
này được ghi chép lại trong vài phần của nhiều kinh điển, không tập trung ở một bộ kinh nào nhất định Sau này, các tác phẩm nghiên cứu và viết về đề tài Phật giáo và vấn đề bảo vệ môi trường đa phần là những bài viết ngắn trong sách, báo, tạp chí hay những bài tham luận trong các cuộc hội nghị, hội thảo, đại hội của Phật giáo về vấn đề môi trường Thường những bài này tác giả trình bày chung về môi trường hiện nay và đưa ra những lý thuyết Phật giáo nhưng chưa đi sâu tìm hiểu một trường hợp cụ thể ở địa phương Do đó, đây cũng là thách thức cho người nghiên cứu khi tìm hiểu, phân tích hoạt động bảo vệ môi trường trường hợp Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CẦN YẾU
Báo cáo toàn cầu năm 2000 của chương trình môi trường Liên hợp Quốc (UNEP) [12, tr 6], công bố 1982 đã nêu ra định nghĩa môi trường sau đây: “Theo tự
nghĩa, môi trường là những vật thể vật lí và sinh học bao quanh loài người… Mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa các cá thể con người với môi trường bị xoá nhoà đi.”
Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981 [12, tr.6], môi trường được hiểu
là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh
Trang 20có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [14]
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho
ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Ðó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình,
tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất
cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu, môi trường được đề cập ở đây là môi trường tự nhiên
Trang 21- 12 -
1.2.2 Bảo vệ môi trường
Theo điều 3 luật Bảo vệ môi trường do Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa 13 ban hành năm 2014 [14]
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
Điều 4: Nguyên tắc bảo vệ môi trường bao gồm:
1 Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
2 Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành
3 Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải
4 Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia
5 Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch
sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
6 Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
7 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường
8 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Trang 22- 13 -
Điều 6 Những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích
1 Truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học
2 Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
3 Giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải
4 Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ô-dôn
5 Đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường; sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường
6 Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường
7 Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường; thực hiện kiểm toán môi trường; tín dụng xanh; đầu tư xanh
8 Bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường
9 Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư thân thiện với môi trường
10 Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư
11 Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường
12 Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; thực hiện hợp tác công tư về bảo vệ môi trường
Trang 23- 14 -
1.2.3 Phật giáo
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học [21], Phật giáo hay Đạo Phật
là tôn giáo ra đời ở Ấn Độ thế kỉ thứ VI trước công nguyên, do Thích Ca Mâu Ni sáng lập
Phật giáo dạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng cuộc sống tốt đẹp yên vui trong hiện tại Đạo Phật không công nhận có một đấng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoạ cho ai mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân - Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc
và làm việc ác thì phải chịu báo ứng Đạo Phật một tôn giáo đề cao sự bình đẳng Đức Phật đã từng nói: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn” [26]
Giáo lý cơ bản của Phật giáo có 2 vấn đề quan trọng là Lý Nhân duyên và
Tứ diệu đế (Bốn chân lý) [8] Nhân duyên là một định lý, theo đó mọi sự vật trong vũ trụ đều có nhân duyên phối hợp với nhau mà thành, khi nhân duyên đã hết
sự vật ấy sẽ không còn Bốn chân lý giải thích bản chất của sự khổ trong luân hồi, nguyên nhân của sự khổ, và làm thế nào để giải trừ đau khổ Ai cũng có thể trở thành Phật nếu người đó tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn bản ngã
và thế giới xung quanh do đó được giải thoát Khi đã vượt qua sự vô minh con người được giải thoát và trở thành Phật
Giáo luật Phật giáo [8] gồm những điều quy định nhằm duy trì tổ chức tăng đoàn, hướng mọi người tới chân - thiện - mỹ, phát triển hạnh từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, biết làm lành lánh dữ để đạt tới giác ngộ và giải thoát Cốt lõi của giáo luật Phật giáo là “Ngũ giới” và “Thập thiện”
- Ngũ giới là 5 giới cấm:
+ Không sát sinh;
+ Không nói sai sự thật;
+ Không tà dâm;
Trang 24- 15 -
+ Không trộm cắp;
+ Không uống rượu
- Thập thiện là mười điều thiện nên làm, trong đó:
+ Ba điều thiện về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; + Bốn điều thiện về khẩu: không nói dối, không nói hai chiều, không nói điều ác, không nói thêu dệt;
+ Ba điều thiện về ý: không tham lam, không giận dữ, không tà kiến
Thực hiện năm giới cấm và mười điều thiện giúp con người sống tốt hơn, tạo nên một xã hội lành mạnh Trong đó, giới không sát sinh ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường tự nhiên, giới này không những răn dạy con người không sát hại mà còn biết tôn trọng và bảo vệ những sinh mạng sống khác
1.2.4 Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Giáo hội Phật giáo Việt Nam là Giáo hội Phật giáo duy nhất được Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập sau Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ Nhất tổ chức tại Tùng lâm Quán Sứ, Hà Nội vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 nhằm thống nhất tất cả sinh hoạt Phật giáo của Tăng ni, Phật tử Việt Nam
Tại Lời nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, GHPGVN đã khẳng định: Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam đặt trên nguyên tắc: “Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, tuy nhiên, các truyền thống hệ phái và phương tiện tu hành đúng chính pháp vẫn được duy trì”, và xác định “Phương châm hoạt động của GHPGVN là: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, “GHPGVN là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước” Hiến chương GHPGVN đã khẳng định: "Mục đích của GHPGVN là điều hoà, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để
Trang 26- 17 -
CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG
2.1 QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ MÔI TRƯỜNG
2.1.1 Thuyết Duyên khởi và Y chánh bất nhị
Những khái niệm về thiên nhiên và môi trường được tìm thấy ở học thuyết Duyên khởi trong Phật giáo Duyên khởi: tiếng Pali là “Paticcsamuppàda” Dịch là “tùy thuộc phát sinh”, nương theo các duyên mà sinh Thuyết Duyên khởi cũng được gọi là Nhân duyên sinh, vì bao gồm 12 thành phần nên cũng có tên khác
là Thập nhị nhân duyên, là một trong những giáo lý quan trọng nhất của đạo Phật Thuyết này chỉ rõ là mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố Mọi sự vật hiện tượng bằng cách nào đó được kết nối với nhau Bởi vậy, tất cả nguyên tắc thuộc tính
đa dạng sinh học và sự cộng sinh của thiên nhiên và sinh vật là quan trọng nhất
để duy trì thế giới chúng ta Trong Kinh Phật Tự Thuyết thuộc kinh Tiểu bộ [2] Đức Phật nói:
“Vì cái này có, cái kia có
Vì cái này sinh, cái kia sinh
Vì cái này không, cái kia không
Vì cái này diệt, cái kia diệt ” [2, tr 291]
Khái niệm Y Chánh bất nhị (hay Y Chính bất nhị) do Sư Trạm Nhiên 782), Tổ thứ sáu của Thiên Thai Tông Trung Quốc đề xuất Theo đó con người và môi trường vốn có mối quan hệ chặt chẽ nhất trí với nhau không thể tách rời, tương tự với tư tưởng Thiên Nhân hợp nhất của Trung Quốc cổ đại, và cũng
(711-giống như nhận định của Engels (1820-1895) trong tác phẩm Biện chứng của tự
Trang 27- 18 -
nhiên: “… Bản thân chúng ta, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới
tự nhiên…” [5, tr 64] Y Chánh tức Y báo và Chánh báo Y báo là chỗ nương tựa của loài người, “y” có nghĩa nương, “báo” là đáp lại hay nói một cách dễ hiểu Y báo
là những yếu tố thuộc về môi trường, cảnh vật xung quanh con người; Chánh báo là thuộc về con người Cả hai có quan hệ mật thiết với nhau, hễ Y báo (môi trường) bị hủy hoại thì Chánh báo cũng không thể tồn tại Đồng thời, nếu muốn có được môi trường tốt thì cũng phải xây dựng một Chánh báo tốt Đó chính là việc mỗi người phải biết sống sao cho văn minh đạo đức cả về mặt vật chất và tinh thần
Hai thuyết Duyên khởi và Y Chánh bất nhị giải thích hiện tượng của thiên nhiên và loài người theo quan điểm Phật giáo, từ đó ta thấy được con người là một loại sinh mệnh giữa tất cả những sinh mệnh khác, được nối kết với nhau rất phức tạp trong mạng lưới bao la của những mối quan hệ
Thuyết “Tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật” cho rằng không chỉ con người, động vật mà ngay cả cỏ cây, gạch đá cũng có Phật tính Với tư tưởng này, Phật giáo khẳng định tất cả chúng sinh đều bình đẳng Và thế giới này không được tạo ra để cho riêng loài người thụ hưởng lợi ích Không có loài nào sinh ra để phục
vụ cho loài khác mà chỉ là do bản năng sinh tồn mà có sự “ăn” lẫn nhau Tuy nhiên, nếu loài người hiểu được lời dạy của Đức Phật về sự bình đẳng thì sẽ tôn trọng sự sống và hạn chế việc khai thác những loài chúng sinh khác để phục vụ lợi ích cá nhân
1 Trong kinh Lăng Nghiêm, trang 256, Phật đã chia chúng sinh làm 12 loài: Loài sinh từ trứng (Noãn sinh), loài sinh bằng thai (Thai sinh), loài sinh ở dưới đất do ẩm ướt như côn trùng (Thấp sinh), loại bỏ bản chất cũ mà sinh ra hình chất mới như bông lúa hóa sâu, gạo hóa mọt, cỏ mục hóa đom đóm (Hóa sinh), loài
có sắc (hình tướng), loài không sắc (ma, quỷ, thần, phi nhân, chư thiên), loài có tưởng (người), loài không có tưởng (gỗ, đá, kim loại), loài chẳng phải có sắc, loài chẳng phải không sắc, loài chẳng phải có tưởng, và loài chẳng phải không tưởng
Trang 28- 19 -
Tinh thần tôn trọng sự sống, yêu mến thiên nhiên, đề cao sự bình đẳng giữa các loài sống là những giá trị của Phật giáo được đón nhận cho vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay Trong khi những tôn giáo Nhất thần2 xem các loài sống khác như
là những phần thưởng được ban tặng để phục vụ cho con người, dẫn đến sự “lưỡng phân”, phân chia con người và những loài sống khác như là hai phần đối lập, thì cái nhìn của Phật giáo về con người và môi trường được xem là một tôn giáo có thái độ thân thiện đối với môi trường [5, tr 90]
2.2 NHỮNG HÀNH ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THEO PHẬT GIÁO
2.2.1 Bảo vệ mạng sống sinh vật
Vì thấu rõ mối tương quan chặt chẽ của muôn loài trên quả địa cầu này, Đức Phật đã dạy chúng ta bảo vệ sự sống của muôn loài, không được hủy diệt bất cứ loài nào Một bài kệ trong kinh Pháp cú nói rõ điều này: “Tất cả chúng sinh sợ bạo lực, tất cả chúng sinh sợ cái chết, tất cả chúng sinh yêu quý sự sống, tất cả chúng sinh hãy đặt mình trong vị trí của người khác, để không thích giết và không còn giết, không tán đồng sự giết” [4, tr 91]
Đức Phật khuyên những người Phật tử3 giữ gìn năm giới, trong đó giới sát sinh là giới đầu tiên Việc bảo vệ mạng sống của những loài khác cũng chính là bảo
vệ mạnh sống của bản thân mỗi người Theo luật Nhân quả, Đức Phật chỉ ra rằng việc sát sinh dẫn đến mạng sống ngắn ngủi hoặc gặp những điều tai ách, không chỉ trong đời này mà có thể ở những đời sau Bên cạnh đó, hạn chế tối đa việc sát hại sinh mạng từ động vật lớn cho đến những loài vật nhỏ sẽ giúp nuôi dưỡng tâm từ bi,
2 Nhất thần hay Độc thần giáo là niềm tin vào sự tồn tại của một Đấng tối cao duy nhất và có uy quyền phổ quát, hay là tin vào sự duy nhất của Thượng đế
3 Phật tử là những người đã quy y Tam bảo tức là quy về nương tựa ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng, giữ gìn năm giới, sống đời sống đạo đức theo tinh thần Phật dạy
Trang 29- 20 -
bác ái và bớt dần những tập khí hung dữ tiềm tàng trong mỗi người Khi hiểu được
ý nghĩa của giới sát sinh thì bất kỳ người nào thực hiện đều được hưởng lợi ích cho chính mình, không chỉ riêng những người theo đạo Phật, và lợi ích đó sẽ nhân rộng cho mọi loài trên hành tinh này
Không chỉ ngừng hành động sát hại động vật khác mà còn cho những loài vật
bị giam cầm, có nguy cơ bị sát hại, cơ hội được sống, được tự do Tục phóng sinh (thả chim, cá,… bị bắt về lại môi trường tự nhiên), được coi là sự phát triển
từ giới cấm giết hại động vật Tại thời Đức Phật, có một dụng cụ chuyên dùng gọi là
“phóng sinh khí” để người tu hành tránh được việc sát hại các loài sinh vật nhỏ khó thấy khi lấy nước dùng, bằng cách lọc qua rồi đem chúng thả về với sông suối ao
hồ
2.2.2 Sống hài hòa với thiên nhiên
Thực tế, vào thời của Đức Phật, bảo vệ môi trường sinh thái chưa trở thành vấn đề như ngày nay, thế nhưng Đức Phật với sự thông tuệ và lòng từ bi cứu khổ của Ngài, Ngài đã hướng dẫn con người thực thi nếp sống hài hòa với thiên nhiên Ngài luôn ca ngợi và xem núi rừng là nơi trú ẩn lý tưởng cho những vị xuất gia hành đạo: “Làng mạc hay rừng núi, Thung lũng hay đồi cao, La hán trú chỗ nào Đất ấy thật khả ái” [4, tr 73], hay: “Khả ái hay núi rừng, Chỗ người phàm không
ưa Vị ly tham ưa thích, Vì không tìm dục lạc” [4, tr 98-99]
Ngày nay ta có thể thấy nhiều ngôi chùa được xây trong lòng thành phố để dễ dàng cho người dân đến chiêm bái và học hỏi Phật pháp Tuy nhiên, cũng có những ngôi chùa, thiền viện ẩn mình trong núi rừng, cách biệt với sự ồn ào, náo nhiệt, tạo nên không gian yên tĩnh Những ngôi chùa với khu rừng thiền cây cối xanh tươi, ao
hồ sạch đẹp, không khí trong lành cùng với nếp sống an bình là nơi khách thập phương thường tìm đến để cảm nhận sự thanh thản trong tâm hồn Có thể nói, những đồi núi, rừng thiền của chùa chiền là lá phổi trong sạch của Trái Đất, một trong những yếu tố vô cùng thiết yếu cho việc bảo vệ môi trường sinh thái trong thời đại nhiều ô nhiễm hiện nay
Trang 30- 21 -
Sống hài hòa với thiên nhiên còn thể hiện ở việc thuận theo sự biến đổi các mùa mà có những thay đổi cho phù hợp Theo giáo luật của Phật giáo, hàng năm, chúng đệ tử xuất gia có ba tháng an cư kiết hạ tập trung tại một nơi, trau dồi giáo lý, kiểm chứng lại quá trình tu tập của mỗi Tăng ni Theo lịch Ấn Độ xưa, ba tháng an
cư trùng vào mùa mưa nên việc hạn chế đi lại vào những ngày này cũng là để tránh
vô tình sát hại những loài vật nhỏ bé như các sâu bọ, côn trùng Ngày nay, tại Việt Nam, các tu sĩ không di chuyển trong rừng hay trên đường đất như thời Đức Phật nên hạn chế được việc giẫm đạp lên côn trùng sinh sôi vào mùa mưa nhưng Tăng ni vẫn giữ truyền thống an cư vào mùa hạ để trau dồi giáo lý và vẫn nhắc nhở về ý nghĩa ban đầu của việc an cư để cùng tăng trưởng lòng từ đối với mọi loài
2.2.3 Biết đủ và hạn chế ham muốn
Theo quan điểm Phật giáo sự hủy hoại môi sinh, ô nhiễm môi trường là hậu quả của sự tham lam, muốn hưởng lợi bằng cách khai thác thiên nhiên quá mức Vì vậy để tiết chế những ham muốn không cần thiết, trong Đại tạng kinh, Trung bộ II, Đức Phật đã thực hiện và khuyên dạy 5 pháp khiến cho chúng đệ tử phải tôn trọng
và nương vào để tu tập Năm pháp ấy là: “Ăn ít, biết đủ loại y; biết đủ món ăn; biết
đủ với bất cứ sàng tọa; sống viễn ly” [3, tr 33] Cũng có nghĩa là Đức Phật dạy chúng đệ tử pháp thiểu dục và tri túc, để không hại mình mà còn lợi ích cho chúng sinh
Những giáo lý của Phật giáo có thể áp dụng vào ngay cuộc sống hiện tại bằng cách kiềm chế tâm tham lam, tiêu thụ ở mức vừa đủ, và thực hành lối sống giản dị Đó là cách sống hiểu biết và có trách nhiệm, hạn chế tâm vị kỷ, không vì làm lợi cho riêng mình mà gây tổn hại đến người khác, đến các sinh vật khác Không phá hủy môi sinh, không khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, chỉ khai thác những gì thiết yếu và khai thác có mức độ để tự nhiên có thời gian tái tạo, để những thế hệ kế tiếp có thể tiếp tục khai thác và hưởng lợi từ tự nhiên
Trang 31- 22 -
2.2.4 Ăn chay 4
Đoạn trích sau đây trong kinh Lăng già là một trong những lý do Phật đưa ra
về việc không nên ăn thịt:
“Đại Huệ! Ta có khi phương tiện nói Giá Pháp, cho ăn năm thứ tịnh nhục5hoặc là mười thứ, nay ở Kinh này xóa bỏ tất cả phương tiện, bất cứ lúc nào, chủng loại nào, phàm thuộc loài thịt chúng sinh, thảy đều đoạn đứt Đại Huệ! Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác còn chẳng ăn phi thời6 và tạp thực7, huống là ăn cá thịt ư? Tự không ăn cũng chẳng bảo người khác ăn Dùng tâm Đại bi dẫn đầu, xem tất
cả chúng sinh như con một của mình, do đó chẳng ăn thịt con” [9, tr 103]
Sau này, Phật giáo chia thành Nam tông và Bắc tông Phật giáo Nam tông vẫn tuân thủ năm tịnh nhục Phật giáo Bắc tông phát triển và đề ra vấn đề ăn chay cho Tăng ni, Phật tử Ngoài tác dụng nhằm thanh tịnh thân tâm, tăng trưởng lòng từ
bi, việc thực hành ăn chay cũng đem lại những tác dụng thiết thực cho vấn đề môi trường, giúp cải tạo và cân bằng môi trường sống
Vào năm 2006, báo cáo của Liên Hợp Quốc kết luận việc sản xuất và tiêu thụ thịt góp phần làm biến đổi khí hậu qua quá trình tạo chất khí gây hiệu ứng nhà kính của nền công nghệ chăn nuôi gia súc Tháng 8 năm 2008, tiến sĩ Rajendra Pachauri, Chủ tịch Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC, người đã thay mặt Ủy ban nhận giải thưởng Nobel đã lên tiếng khuyên người ta nên ăn ít thịt để
4 Ăn chay là ăn những thực phẩm thuần thực vật, không ăn thịt cá và các gia vị cay nồng như hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu
5 năm thứ tịnh nhục là năm thứ thịt thanh tịnh bao gồm thịt ăn mà không thấy người giết, thịt ăn mà không nghe tiếng con vật bị giết kêu, thịt ăn mà không nghi ngờ người ta giết cho mình, thịt con thú tự chết, thịt con thú khác ăn còn dư
6 Ăn phi thời: ăn sau giờ Ngọ (12h)
7 Tạp thực: ăn tạp
Trang 32- 23 -
góp phần vào việc bảo vệ môi trường và chống lại biến đổi khí hậu Ông đưa ra những số liệu gây bất ngờ là một người ăn chay trong 70 năm sẽ giảm được 100 tấn khí CO2 thải ra không khí và chỉ cần ăn chay mỗi tuần một ngày thì một người dân châu Âu có thể làm giảm đi 170 kg CO2 trong một năm Chính tiến sĩ Pachauri
đã ăn chay 10 năm và cho là đã giảm được 12 tấn CO2 [27]
2.2.5 Trồng cây xanh
Đức Phật có rất nhiều lời dạy liên quan đến việc trồng cây bảo vệ môi trường Trong kinh Tăng chi bộ, Ngài dạy rằng: “Trồng cây cho ta bóng mát, ngoài việc thanh lọc không khí, nó còn bảo tồn Trái Đất, đó là điều lợi lạc cho tất cả mọi người và cho cả bản thân ta” [1, tr 202] Hoặc trong một đoạn kinh khác dạy rằng:
“Một Tỳ kheo trồng ba loại cây: cây ăn trái, cây cho hoa và cây cho lá để cúng dường Tam bảo thì sẽ ân hưởng sự gia trì và sẽ không phạm tội” [1, tr 205], hoặc:
“Có năm loại cây mà một người không được chặt, đó là cây bồ đề, cây thuốc, những cây lớn mọc bên đường, cây trong rừng xứ lạnh và cây đa” [1, tr 301]
Một ví dụ điển hình là đất nước Phật giáo Bhutan nổi tiếng là một quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới, thông qua chỉ số hạnh phúc quốc gia (đo chất lượng cuộc sống của người dân) Phật giáo đã được xem là quốc giáo của Bhutan từ thế kỷ thứ VIII Trong suốt khoảng thời gian ấy, Phật giáo góp phần lớn trong việc định hình nên lối sống, văn hóa cũng như quản trị nhà nước Chính sách phát triển của quốc gia này lấy trọng tâm là sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sống Theo luật Bhutan, 60% diện tích đất nước phải được phủ xanh Hiện nay cả đất nước này có đến 75% diện tích được phủ cây xanh Và năm 2015, 100 người Bhutan đã tự nguyện tham gia thiết lập Kỷ lục Guinness Thế giới trong việc trồng 49.672 cây xanh trong một giờ đồng hồ [25]
Trang 33- 24 -
CHƯƠNG 3
VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1 TÌNH HÌNH MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Năm 2008, UBND TP Đà Nẵng ban hành Quyết định triển khai Đề án “Đà Nẵng - Thành phố môi trường” với mục tiêu đến năm 2020 các yêu cầu về chất lượng môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí trên toàn thành phố được bảo đảm, tạo sự an toàn về sức khỏe và môi trường cho người dân, du khách Sau 10 năm triển khai, Đà Nẵng đã đạt được 7/10 tiêu chí của Đề án như chỉ
số ô nhiễm không khí; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch tại nội thành đạt 97,8%; tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được xử lý đạt 61%; tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các quận nội thành đạt 95%; độ ồn tại các khu vực; diện tích không gian xanh đô thị bình quân trên người đạt trên 6-8m2/người [28]
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển “nóng” đang khiến cho thành phố phải đối diện với nhiều bất cập như sự gia tăng dân số cùng với hệ lụy từ phát triển du lịch – dịch vụ, sự suy giảm tài nguyên và thách thức về biến đổi khí hậu Các tiêu chí chưa đạt gồm tỷ lệ chất lượng nước tại các khu vực sông, ven biển, nước ngầm; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt phân loại và tái chế, hạn chế sử dụng túi nilon khó phân hủy và rác thải nhựa; tỷ lệ các nhà máy kiểm soát ô nhiễm không khí.v.v…
3.1.1 Vấn đề rác thải
Theo thống kê của Sở TN&MT TP Đà Nẵng trong báo cáo Tình hình quản
lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn TP Đà Nẵng năm 2019 [28], mỗi ngày,
thành phố phát sinh hơn 1.100 tấn rác thải Dự kiến, từ năm 2020 - 2025, phát sinh hơn 1.800 tấn/ngày; giai đoạn năm 2025 - 2030, hơn 2.400 tấn/ngày và hơn 3.000 tấn/ngày trong thời gian từ năm 2030 - 2040
Trang 34- 25 -
Những con số cảnh báo trên cho thấy, đô thị Đà Nẵng đang đối mặt với nhiều
áp lực về vấn đề rác thải trong tương lai Với 5 trạm trung chuyển đang hoạt động gồm Lê Thanh Nghị, Chợ Đầu Mối, Nguyễn Đức Trung, Hòa An, Hòa Thọ, công suất hoạt động trung bình 72 tấn/ngày, toàn thành phố có 133 điểm tập kết thùng, trung chuyển rác tạm thời Tuy vậy, tình trạng vệ sinh môi trường tại các điểm tập kết hiện nay chưa được giải quyết tốt Cả thành phố hiện chỉ có 1 Khu Xử lý chất thải Khánh Sơn
3.1.2 Vấn đề nước thải
Bên cạnh rác, nước thải cũng là vấn đề “nóng” của TP Đà Nẵng hiện nay, ông Tô Văn Hùng, Giám đốc Sở TN&MT cho rằng, hệ thống thu gom nước thải quá tải tại một số khu vực phát triển nhanh; khu vực nông thôn phần lớn chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải Trong khi đó, hệ thống thoát nước mưa chung với thoát nước thải nên tồn tại tình trạng nước thải tràn ra biển (55 cửa xả ra sông, biển) [36]
Ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng nhận xét: [36] “TP Đà Nẵng đang gặp rắc rối về môi trường, vấn đề xử lý nước thải Hiện nay, khu vực bãi biển là một bài toán đau đầu Khi có những cơn mưa dù nhỏ, khu vực ven biển rất hôi Hệ thống thu gom và xử lý đang quá tải Chúng ta không thể chậm hơn được nên nhà thầu cần đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành nhà máy xử lý nước thải cũng như hệ thống thu gom”
Bên cạnh đó, các trạm xử lý nước thải đô thị cũ, công nghệ lạc hậu, kết cấu
bể, thiết bị cũ, xuống cấp nên tỷ lệ thu gom đạt khoảng 60%, tỷ lệ nước thải xử lý đạt 42% Vì thế, sự cố thường xuyên xảy ra, có phản ánh do ô nhiễm Các hệ thống
bố trí gần khu dân cư, không đảm bảo khoảng cách ly vệ sinh
3.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu
Là thành phố ven biển, Đà Nẵng đang đối mặt tình trạng nước biển dâng ngày càng diễn biến phức tạp do tác động của biến đổi khí hậu Những năm gần
Trang 35- 26 -
đây, tình hình bờ biển bị xâm thực ở Đà Nẵng xảy ra nhiều hơn Sự đe dọa của mực nước biển dâng lên các khu dân cư và cơ sở hạ tầng dọc bờ biển là thường xuyên hơn Mặt khác, với vị trí nằm ở hạ lưu sông Vu Gia – Thu Bồn khiến Đà Nẵng trở thành một trong những thành phố dễ bị tổn thương nhất trước những tác động của ngập lụt, đặc biệt là trong bối cảnh BĐKH hiện nay [31]
Các chuyên gia dự đoán đến năm 2030 tác động của biến đổi khí hậu sẽ làm cho các khu đô thị mới bị ngập sau nước sâu từ 1-1,5 m, và dự kiến năm 2100, Đà Nẵng sẽ mất khoảng 4,1% diện tích đất Theo các chuyên gia về BĐKH, nguy cơ lũ lụt nghiêm trọng đang ngày càng gia tăng, tình trạng xói mòn bờ biển và bão lũ sẽ ngày càng khốc liệt hơn, nhiều nguy cơ sạt lở đất phá vỡ hệ thống đường bộ [31]
3.1.4 Tình hình khai thác tài nguyên rừng
Kể từ khi Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của thành phố đi vào hoạt động từ năm 2017 đến nay, thành phố thực hiện trồng mới và chăm sóc 186 ha rừng đặc dụng, phòng hộ thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác Nhờ tăng diện tích rừng trồng, tăng diện tích rừng tự nhiên tái sinh phục hồi và không để xảy ra mất rừng do phá rừng, cháy rừng nên tỷ lệ che phủ rừng của Đà Nẵng đã tăng lên hơn 45,5%, cao hơn bình quân chung của cả nước 4% Hiện thành phố đang có 43.705 ha rừng tự nhiên và 18.947 ha rừng trồng [29]
Tuy nhiên vẫn còn những hành vi khai thác tài nguyên rừng trái phép Cụ thể, Sơn Trà có diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 3.609,3 ha; trong đó rừng đặc dụng là 2.536,7 ha, độ che phủ đạt 58,74% Trên bán đảo có một số tuyến đường giao thông và điểm dừng chân nằm ngay trong vùng lõi của rừng đặc dụng, chính vì vậy một số người lợi dụng tham quan trên bán đảo để thực hiện hành vi khai thác lâm sản, bẫy bắt động vật hoang dã trái phép Bên cạnh đó, việc có nhiều người lên bán đảo Sơn Trà ngắm cảnh, chụp hình gây ảnh hưởng đến hoạt động sinh trưởng của loài Voọc Có nhiều loài quen với sự xuất hiện của con người nên mất đi tập tính tự nhiên dẫn đến dễ bị săn bắt