1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về đăng ký khai sinh – thực tiễn tại uỷ ban nhân dân xã dun, huyện chư sê, tỉnh gia lai

58 83 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Đăng Ký Khai Sinh – Thực Tiễn Tại Uỷ Ban Nhân Dân Xã Dun, Huyện Chư Sê, Tỉnh Gia Lai
Tác giả Ngô Thị Nhật Linh
Người hướng dẫn Châu Thị Ngọc Tuyết
Trường học Đại học Đà Nẵng Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum
Thể loại báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giấy khai sinh được hiểu là một chứng thư hộ tịch quan trọng đầu tiên được cấp ngay sau khi ra đời, tồn tại của cá nhân để xác định các thông tin nhân thân cơ bản đầu tiên của một cá nh

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

NGÔ THỊ NHẬT LINH

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH THỰC TIỄN TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ DUN,

HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

Kon Tum, tháng 5 năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH THỰC TIỄN TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ DUN,

HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: CHÂU THỊ NGỌC TUYẾT

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGÔ THỊ NHẬT LINH

LỚP : K11LK1

MSSV : 17152380107052

Kon Tum, tháng 5 năm 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trường Phân hiệu Đại học Đà

Nẵng tại Kon Tum đã trang bị cho em những kiến thức bổ ích về chuyên môn nghiệp vụ,

đó cũng là hành trang để sau này em phục vụ công việc của mình được tốt hơn

Chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn: Châu Thị Ngọc Tuyết đã tạo điều kiện

hướng dẫn tận tình để em có thêm những kiến thức trong quá trình học tập và xây dựng

bài Báo cáo thực tập của mình

Kính chúc sức khỏe và cảm ơn sự quan tâm của lãnh đạo, cán bộ công chức Phòng

Cơ chế một cửa tại Uỷ ban Nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã tạo điều

kiện, cung cấp cho em những số liệu cụ thể và xác thực để em có cơ sở hoàn chỉnh bài

báo cáo thực tập của mình

Riêng bản thân em nhìn nhận đợt thực tập này là cơ hội vô cùng bổ ích để em vẫn

dụng được các kỹ năng thực hành cơ bản vào nhiệm vụ chuyên môn của mình và học hỏi

được nhiều kinh nghiệm thực tế cho bản thân Đồng thời cũng giúp em nhận ra được

điểm mạnh và điểm yếu của bản thân để từ đó rút ra cho mình những phương hướng phấn

đấu hoàn thiện hơn

Trong quá trình thực tập cũng như là trong quá trình làm bài báo cáo khó tránh khỏi

sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh

nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em

rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh

nghiệm

Em xin chân thành cảm ơn! Xã Dun, tháng 06 năm 2021

Sinh viên thực hiện

Ngô Thị Nhật Linh

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ DUN, HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 3

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI TẠI ĐỊA BÀN XÃ DUN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 3

1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC, BIÊN CHẾ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ DUN, HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 4

1.3 KHÁI QUÁT VỀ BỘ PHẬN MỘT CỬA TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ DUN, HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 5

1.3.1 Giới thiệu về Bộ phận một cửa tại Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 5

1.3.2 Nhiệm vụ của Bộ phận một cửa tại Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 5

1.4 NHỮNG CÔNG VIỆC ĐÃ THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ DUN, HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 5

KẾT CHƯƠNG 1 7

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH - THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 8

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH 8

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về khai sinh và đăng ký khai sinh 8

2.1.2 Đặc điểm của hoạt động đăng ký khai sinh 8

2.1.3 Vai trò ý nghĩa của đăng ký khai sinh 9

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH 11

2.2.1 Thẩm quyền đăng ký khai sinh 11

2.2.2 Nội dung đăng ký khai sinh 12

2.2.3 Trách nhiệm đăng ký khai sinh 20

2.2.4 Thủ tục đăng ký khai sinh 21

2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc đăng ký khai sinh 27

Trang 5

2.3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH THEO PHÁP LUẬT TẠI XÃ DUN, HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI – KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 29

2.3.1 Thực tiễn đăng ký khai sinh tại xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 29 2.3.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện việc áp dụng quy định pháp luật về đăng ký khai

sinh 40

KẾT CHƯƠNG 2 46 KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ĐKKS Đăng ký khai sinh

2 HĐND Hội đồng nhân dân

3 UBND Ủy ban nhân dân

4 GKS Giấy khai sinh

5 CCCD Căn cước công dân

6 UBMTTQ Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc

7 KVBG Khu vực biên giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê kết quả đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã

Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 30

Bảng 2.2

Bảng thống kê kết quả xác định họ, dân tộc của trẻ khi đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

32

Bảng 2.3 Bảng thống kê kết quả về người đi đăng ký khai sinh cho trẻ tại

Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 34

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

Sơ đồ 1.1 Cơ cấu, tổ chức Ủy ban nhân dân xã Dun 5

Tên danh mục hình vẽ Hình 2.1 Mô hình thực hiện quản lý HOTICH.VN tại UBND xã Dun,

huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 35

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền

cơ bản của con người hay không Chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang

nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Vì vậy,

từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa đến nay Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền con người cho mọi người dân

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày

02 tháng 09 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế

giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền

tự do”

Như vậy, thông qua khẳng định giá trị của một dân tộc là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh quyền con người chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc Một trong những quyền quan trọng đầu tiên của con người là quyền được khai sinh bởi vì quyền được khai sinh là cơ sở điều kiện để thực hiện các quyền cơ bản khác như quyền có họ tên, có quốc tịch, có bản sắc riêng, quyền được biết cha mẹ mình là ai Có thể nói, quyền được khai sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi con người là một cá nhân riêng biệt, một chủ thể độc lập, một công dân bình đẳng với mọi công dân khác

Để có thể thực hiện việc đăng ký khai sinh theo trình tự, đúng thẩm quyền, đúng thủ tục pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa ra các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hơn đó là Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều

và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Đây chính là cơ sở pháp lý để công dân thực hiện các quyền nhân thân và từ đó nhà nước thực hiện sự quản lý đối với công dân

Thực tế cho thấy, cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, thì công tác thực hiện pháp luật về đăng ký khai sinh tại địa bàn xã Dun thuộc khu vực Tây Nguyên có số dân tộc thiểu số chiếm đa số gặp nhiều khó khăn Tình trạng cơ quan, tổ chức, đoàn thể khó xác định đúng thông tin cơ bản như: họ tên, năm sinh, dân tộc, nơi sinh, Sự phối hợp chưa tương đối nhịp nhàng giữa các cơ quan hữu quan với người trong việc giải quyết những sai sót hồ sơ, giấy tờ cá nhân Công tác tuyên truyền, phổ biến, trợ giúp pháp lý về đăng ký hộ tịch chưa sâu rộng chưa truyền đạt được tới tận địa phương ở các nơi vùng sâu vùng xa Việc bất đồng ngôn ngữ giữa Nhà nước và người dân…Vì vâỵ, cần tìm hiểu rõ ràng các quy định pháp luật về đăng ký khai sinh và thực trạng thực hiện các quy định này trong thực tiễn để khắc phục những hạn chế còn tồn tại

Đây cũng là lý do luận chứng cho việc tôi quyết định chọn đề tài “Pháp luật về

đăng ký khai sinh – thực tiễn tại Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai” làm đề tài Báo cáo Tốt nghiệp Cử nhân Luật học tại trường Phân hiệu Đại học Đà

Nẵng tại KonTum

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ rõ ràng một cách có hệ thống về các quy định về đăng ký khai sinh theo Luật Hộ tịch năm 2014 và việc áp dụng quy định này trong thực tiễn trên địa bàn xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Từ đó, xác định những bất cập khó khăn trong quá trình thực hiện đăng ký khai sinh từ những đánh giá đó để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định Luật Hộ tịch năm

2014 về đăng ký khai sinh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định pháp luật về đăng ký khai sinh và thực tiễn áp dụng đăng ký khai sinh theo pháp luật về hộ tịch hiện nay từ thực tiễn tại địa bàn

xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Phạm vi nghiên cứu của đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ các quy định pháp luật

và thực tiễn về đăng ký khai sinh gồm các nội dung: Thẩm quyền đăng ký khai sinh (Điều 13 Luật Hộ tịch năm 2014), Nội dung đăng ký khai sinh (Điều 14 Luật Hộ tịch năm 2014), Trách nhiệm đăng ký khai sinh (Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014), Thủ tục đăng ký khai sinh (Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014) Từ những phân tích, làm rõ các yếu

tố ảnh hưởng đến khó khăn trong quá trình thực hiện Đề tài nghiên cứu thực tiễn đăng ký khai sinh trên phạm vi địa bàn xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong thời gian 03 tháng từ ngày 22/02/2021 đến 14/5/2021 Vì thời gian nghiên cứu đề tài còn hạn chế được triển khai trên quy mô của một đề tài thực tập Do vậy, việc tìm ra hướng phát triển còn gặp nhiều khó khăn cũng như việc tiếp cận các nguồn tài liệu còn hạn chế

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp so sánh,…Ngoài ra, còn một số phương pháp khác cũng được áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp chuyên gia và những số liệu thống kê, tổng kết hằng năm trong các báo cáo của Bộ phận một cửa tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp này được vận dụng một cách linh hoạt và đan xen lẫn nhau

để tạo ra kết quả nghiên cứu

5 Bố cục của đề tài

Ngoài các phần lời cảm ơn, mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục các bảng, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì báo cáo này gồm có nội dung như sau: Chương 1: Tổng quan về Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Chương 2: Tổng quan về đăng ký khai sinh và quy định của pháp luật về đăng ký

khai sinh - thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện

Trang 11

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ DUN, HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH

GIA LAI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI TẠI ĐỊA BÀN XÃ DUN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

Chư Sê là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Gia Lai, Việt Nam Chư Sê cách thành phố Pleiku 36 kilomet về phía Bắc Quốc lộ 14 nối ngã ba Chư Sê với các tỉnh gồm Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra từ ngã ba Chư Sê cũng có thể đi theo quốc lộ 25 đến thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Huyện Chư

Sê có diện tích tự nhiên 643 km2 Mật độ dân số năm 2019 là 110.300 người Huyện Chư

Sê có 15 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc bao gồm: thị trấn Chư Sê và 14 xã gồm Al

Bá, Bar Măih, Bờ Ngoong, Chư Pưng, Dun, HBông, Ia Blang, Ia Glai, Ia Hlốp, Ia Ko, Ia Pal, Ia Tiêm, Kông Htok

Trong đó xã Dun là một xã thuộc huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Xã Dun được thành lập vào năm 1980, là xã thuộc vùng II của huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Xã Dun nằm cách trung tâm huyện Chư Sê khoảng 3,5 km về hướng Đông Bắc, Xã Dun có diện tích 19,94

km2, dân số năm 1999 là 3.463 người và mật độ dân số đạt 174 người/km2 Gồm 3 dân tộc chính sinh sống là: dân tộc Kinh, dân tộc Gia Rai và dân tộc Ba Na Toàn xã có 07 thôn, làng trong đó có 01 thôn người kinh, 06 làng đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có

01 làng đặc biệt khó khăn Dân số toàn xã có 1081 hộ và 4669 nhân khẩu

Là một xã thuộc vùng đất Tây Nguyên nổi tiếng với những mảnh đất đất đỏ bazan

Xã Dun chủ yếu là trồng rất nhiều cây công nghiệp như: cà phê, tiêu, cao su, điều và lúa

Xã Dun là một xã thuần nông, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu chiếm tỷ lệ trên 90% có nguồn lao động dồi dào, vì vậy luôn luôn đảm bảo lực lượng sản xuất tại chỗ để phát triển nền kinh tế của xã Ngoài thế mạnh cây công nghiệp, trong những năm qua, huyện

đã chủ động phát triển ngành chăn nuôi cả về quy mô và chất lượng (tổng đàn gia súc 8.973 con) Đặc biệt có nhiều trang trại chăn nuôi từ 100 con đến 500 con gia súc

Với những thuận lợi, xã cách trung tâm huyện không xa, đường giao thông đi lại thuận lợi, giúp thuận tiện giao lưu kinh tế - văn hóa xã hội giữa các xã khác trên địa bàn huyện, đất đai màu mỡ, giúp nền kinh tế xã nhà triển không ngừng Hơn nữa năm 2012

xã Dun được Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê đưa vào Kế hoạch đầu tư xây dựng xã đạt chuẩn theo mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới, đến nay xã đã hoàn thành 19/19 tiêu chí Nông thôn mới Vì vậy, xã Dun được quan tâm đầu tư xây dựng điện, đường, trường trạm, cũng như cơ sở vật chất hạ tầng được nâng cao, ngày càng thể hiện rõ vai trò trung tâm chính trị - kinh tế xã hội của huyện

Bên cạnh những thuận lợi, xã Dun còn gặp một số hạn chế là: Cơ cấu nông nghiệp chuyển đổi còn chậm, tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp thấp; tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi còn nguy cơ tái phát Công nghiệp chế biến ở các vùng nông thôn phát triển chậm, quy mô nhỏ, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch còn hạn chế

Trang 12

thư thường trực, và một đồng chí Phó Bí thư

Thường trực HĐND xã hiện nay bao gồm: Một Chủ tịch HĐND và một Phó chủ tịch HĐND

Ủy ban nhân dân xã hiện nay bao gồm: Một Chủ tịch UBND: phụ trách chung khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển KT- XH của xã, xây dựng cơ bản Phó chủ tịch UBND có 01 đồng chí: phụ trách khối kinh tế, nông lâm nghiệp, giao thông, đất đai

và Tài nguyên- môi trường và phụ trách Khối văn hóa- xã hội, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác

Ủy viên UBND có 02 đồng chí: Một Ủy viên phụ trách Công an (Trưởng Công an)

và một Ủy viên phụ trách quân sự (Chỉ huy trưởng Quân sự)

Công chức UBND thị trấn gồm các chức danh sau đây: Hai công chức Văn phòng - Thống kê; Một công chức Tài chính - Kế toán; Hai công chức Địa chính- Nông nghiệp- Xây dựng và môi trường; Hai công chức Văn hóa - xã hội; Hai công chức Tư pháp- Hộ tịch

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên bao gồm các chức danh sau: Một Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã; Một Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã; Một Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam xã; Một Chủ tịch Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam xã; Một Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam xã

Sơ đồ 1.1 Cơ cấu, tổ chức Ủy ban nhân dân xã Dun

Trang 13

Về cơ cấu tổ chức Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai gồm tổng

số cán bộ xã Dun là 37 cán bộ trong đó cán bộ chuyên trách là 10 cán bộ, công chức 10 cán bộ, cán bộ bán chuyên trách 16 cán bộ (cán bộ nữ 11 người, cán bộ người Đồng bào dân tộc thiểu số 08 người) Trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp là 18 người (Đại học:

04 cán bộ, đang học Đại học: 02 cán bộ, Cao đẳng: 02 cán bộ, trung cấp chuyên môn: 10 cán bộ) Tổng số cán bộ thôn, làng: 90 cán bộ trong đó Cán bộ là người DTTS: 38 cán

Bộ phận một cửa có địa chỉ trụ sở tại: Làng Greo Pết, xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Bộ phận một cửa xã Dun được phân bổ 2 cán bộ tư pháp có bằng trung cấp Luật, đến nay trên địa bàn thị trấn đã bố trí 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch Nhìn chung đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cơ bản ổn định, được đào tạo về chuyên môn, yêu nghề

có tinh thần trách nhiệm trong công việc, luôn tu dưỡng rèn luyện, hiện có 01 đồng chí đang theo học Đại học Hành chính tại chức và học văn bằng một

1.3.2 Nhiệm vụ của Bộ phận một cửa tại Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư

Sê, tỉnh Gia Lai

Bộ phận một cửa có những nhiệm vụ sau đây:

1 Tiếp công dân, tổ chức đến làm việc

2 Hướng dẫn công dân, tổ chức trong việc hoàn thiện thủ tục hành chính, giấy tờ, biểu mẫu theo quy định

3 Xử lý hồ sơ của công dân, tổ chức theo phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình Trường hợp hồ sơ của công dân, tổ chức có liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn khác thì chuyển cơ quan chuyên môn trực tiếp giải quyết

4 Nhận kết quả đã giải quyết, trả cho công dân, hướng dẫn công dân, tổ chức nộp phí, lệ phí theo quy định (nếu có)

1.4 GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ CÔNG VIỆC ĐÃ THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ DUN, HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

Trong quá trình thực tập tại Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai,

em được phân công thực tập tại Bộ phận một cửa, lĩnh vực Tư pháp – Hộ tịch và đã thực hiện các công việc sau:

Trang 14

Thực hiện thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch xác định dân tộc

Chứng thực chữ ký cho các giấy tờ, văn bản

Cấp bản sao trích lục hộ tịch

Làm công văn kiểm tra, xác minh đăng ký khai sinh về việc lưu trữ sổ hộ tịch tại địa phương

Trong suốt thời gian hơn hai tháng thực tập tại Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư

Sê, tỉnh Gia Lai được sự chỉ dẫn tận tình của tất cả các đồng chí ở Bộ phận một cửa em

đã học hỏi được nhiều điều bổ ích từ thực tiễn mang lại, không chỉ là những kiến thức lý luận, mà còn là những trải nghiệm thực tế thú vị hơn Hoàn thành tốt mọi công việc được giao Tiếp thu và học hỏi từ cán bộ hướng dẫn Làm việc tuân thủ đúng nội quy, quy chế của cơ quan

Trang 15

KẾT CHƯƠNG 1

Để quá trình thực tập mang lại hiệu quả cao, bản thân cần phải có một sự chuẩn bị tốt về kiến thức, ý thức và cơ sở thực tập, phát huy những mặt thuận lợi, khắc phục những khó khăn, đặc biệt là bản thân cần tự nổ lực phát huy khả năng bản thân hơn nữa Tại Ủy ban nhân dân xã Dun cùng với sự hỗ trợ tận tình về mọi mặt của cán bộ hướng dẫn thực tập nói riêng và toàn thể cơ quan nói chung, bản thân đã tiến bộ từng ngày Công việc thực tế tại cơ quan có nhiều vấn đề liên quan đến pháp luật, từ đó có cơ hội vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn Vì cơ quan đơn vị phụ trách quản lý tại địa bàn xã Dun với số lượng dân cư đông, khối lượng công việc nhiều nên gặp khó khăn trong quá trình xử lý hồ sơ, nhưng nhờ có sự giúp đỡ và phối hợp của cán bộ chuyên môn nên công việc vẫn được hoàn thành đùng tiến độ Bản thân đã tạo được mối quan hệ tốt với mọi người tại cơ quan thực tập, thật sự thích nghi và hội nhập vào môi trường làm việc, thực hiện công việc được giao với tinh thần trách nhiệm cao góp phần giữ vững chất lượng đào tạo và uy tin của trường, đạt được các mục tiêu do bản thân đề

ra và tích lũy được kinh nghiệm

Chương 1 là toàn bộ phần giới thiệu tìm hiểu về tổng quan về đặc điểm địa giới, tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa tại địa bàn xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Ngoaì

ra, cũng giới thiệu rõ hơn về cơ cấu và nhiệm vụ của Bộ phận một cửa tại Uỷ ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Trang 16

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về khai sinh và đăng ký khai sinh

a Khái niệm giấy khai sinh

Theo quy định tại Khoản 6 Điều 4 Luật Hộ Tịch năm 2014 thì “Giấy khai sinh là

văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh” Giấy khai sinh được hiểu là một chứng thư hộ tịch quan trọng đầu tiên được cấp

ngay sau khi ra đời, tồn tại của cá nhân để xác định các thông tin nhân thân cơ bản đầu tiên của một cá nhân như là họ và tên, năm sinh, giới tính, nơi sinh, quê quán, dân tộc, quốc tịch,… Nhằm xác định nguồn gốc cá nhân cụ thể, xác lập quyền, nghĩa vụ của một công dân và để phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác trong những trường hợp cần thiết

Ngoài ra Điều 6 Nghị định số 123/2015 (NĐ-CP) tiếp tục nêu rõ: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán, quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với GKS của người đó Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong GKS của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý

hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh

Từ những khẳng định trên đã thấy được tầm quan trọng của giấy khai sinh Nó chính là giấy tờ đầu tiên xác nhận quyền con người và nghĩa vụ đầu tiên khi được sinh ra Khi một cá nhân không có giấy khai sinh thì hiển nhiên rằng cá nhân đó không được công nhận, thừa nhận, không được đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân

b Khái niệm của đăng ký khai sinh

Đăng ký khai sinh có nghĩa là đăng kí sự kiện sinh cho đứa trẻ mới được sinh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là một trong những sự kiện hộ tịch để xác định cá nhân là thực thể của tự nhiên, của xã hội Đồng thời cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi thông tin nhận dạng cơ bản của người được đăng ký vào Sổ hộ tịch bao gồm: họ, chữ đệm và tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, quê quán, dân tộc, quốc tịch, số định danh

cá nhân của người được đăng ký khai sinh Ngoài ra còn thông tin của cha, mẹ của người được đăng ký khai bao gồm: họ, chữ đệm và tên, năm sinh, dân tộc, quốc tịch, nơi cư trú, ĐKKS phải được tiến hành trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày đứa trẻ được sinh ra

2.1.2 Đặc điểm của hoạt động đăng ký khai sinh

Thứ nhất, về chủ thể đăng ký khai sinh

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh Trường hợp đặc biệt có thể đăng kí khai sinh tại UBND cấp xã nơi người mẹ

Trang 17

đăng kí tạm trú Đối với trường hợp có yếu tố nước ngoài thì sẽ do UBND cấp huyện giải quyết theo luật quy định

Thứ hai, về đối tượng đăng ký khai sinh

Đăng ký khai sinh là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, tạo cơ sở pháp lý

để xác định tư cách công dân Qua đó, chính thức thiết lập mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước Đồng thời, là cơ sở pháp lý để cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

Thứ ba, về nội dung đăng ký khai sinh

Đăng ký khai sinh bao gồm những thông tin cơ bản của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quê quán, dân tộc, quốc tịch, số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên năm sinh, dân tộc, quốc tịch, nơi cư trú

2.1.3 Vai trò ý nghĩa của đăng ký khai sinh

Khai sinh là sự kiện hộ tịch xác định sự ra đời tồn tại của mỗi cá nhân, xác nhận cá nhân đó là một thực thể của tự nhiên, của xã hội Việc đăng ký khai sinh, cấp giấy khai sinh có ý nghĩa pháp lý đầu tiên của công dân cá nhân từ khi sinh ra cho đến chết Từ những thông tin như họ, chữ đệm và tên, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán là cơ sở pháp lý chứng minh quyền, nghĩa vụ của cá nhân đó trong các mối quan

hệ xã hội như quan hệ cha mẹ và con, các quyền về thừa kế, quyền đi học, bầu cử, ứng cử Các loại giấy tờ này có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân và có giá trị sử dụng toàn cầu

a Đối với công dân

Đăng ký khai sinh trước hết là một quyền quan trọng của trẻ em Theo Khoản 1

Điều 11 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã quy định: “Trẻ em có

quyền được khai sinh và có quốc tịch” Điều 7 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em

(được đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989) tiếp tục ghi

nhận: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau sinh ra” Sở dĩ pháp luật của Nhà

nước ta cũng như Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em đặc biệt quan tâm đến quyền ĐKKS của trẻ em

Như vậy, từ đăng ký khai sinh là cơ sở và bắt đầu sinh ra các quyền cơ bản khác của trẻ em Từ đó, các quyền này mới được thực hiện (Ví dụ như: quyền được có họ, tên, có quốc tịch; quyền được biết cha, mẹ mình là ai và được chính cha mẹ mình chăm sóc nuôi dưỡng Ngoài ra đăng ký khai sinh cũng là thủ tục cần thiết để trẻ em được hưởng các quyền về chăm sóc sức khỏe ban đầu, quyền về giáo dục…) Trẻ em không được đăng kí khai sinh thì khó tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu như: chăm sóc y tế, giáo dục, hỗ trợ pháp lí Không có GKS cũng đồng nghĩa với việc khước từ một số quyền của công dân: quyền bầu cử, ứng cử, quyền học tập,… Trẻ em không được khai sinh cũng rất dễ bị xâm hại và đối xử tệ, trở thành nạn nhân của nạn buôn bán người, mại dâm, cưỡng ép tảo hôn

Trang 18

Đăng ký khai sinh là quyền của mỗi người được pháp luật quốc tế ghi nhận, đồng thời cũng được ghi nhận trong pháp luật của quốc gia Đăng ký khai sinh có ý nghĩa quan trọng không chỉ riêng đối với trẻ em mà còn đối với bất kỳ cá nhân nào dù đã trưởng thành Mọi công dân đều được khai sinh bởi được khai sinh là được ghi nhận với tư cách công dân của một quốc gia, từ đó được hưởng các quyền của công dân và được Nhà nước bảo vệ với tư cách công dân Đăng ký khai sinh là sự ghi nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra Thông qua ĐKKS cá nhân được cấp Giấy khai sinh là cơ sở xác định nguồn gốc các mối quan hệ nhân thân, quan hệ gia đình, là một trong những chứng cứ pháp lý tạo ra sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa Nhà nước và công dân và có giá trị chứng minh đối với các mối quan hệ khác trong xã hội

Nếu không đăng ký khai sinh thì nói chung không có cơ sở pháp lý để phân biệt người (cá nhân) này với cá nhân khác Với các yếu tố để xác định tình trạng nhân thân của mõi cá nhân như: họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch,… Do

vậy, Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Cá nhân khi sinh ra có quyền được

khai sinh”

b Đối với Nhà nước

Nhà nước thực hiện đăng ký khai sinh là phương tiện thuận lợi cho hoạt động quản

lí toàn bộ dân cư trên địa bàn địa phương và cả nước Nhà nước quản lý con người, thống

kê được dân số, tình hình tăng dân số giúp Nhà nước có cơ sở hoạch định chính sách dân

số và kế hoạch hóa gia đình Như vậy, nhà nước có cơ sở khoa học để hoạch định để từ

đó có các chính sách, biện pháp, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, ổn định dân số, giáo dục, an ninh, quốc phòng, phù hợp đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mỗi cá nhân Ngoài

ra, phát sinh trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống người dân, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Từ đó có căn cứ để xác định tư cách công dân của cá nhân và xác định các điều kiện được hưởng các quyền: xác định tuổi được đi học, xác định tuổi được hưởng những phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, phát sinh quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực đặc biệt: quyền bầu cử, ứng cử của công dân, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước,… việc ĐKKS sẽ góp phần hỗ trợ hoạt động các cơ quan nhà nước trong việc xác định nhân thân của một người như độ tuổi, giới tính, cha mẹ , phục vụ cho các quan hệ khác như: dùng để xác định cha và mẹ đẻ của một cá nhân, giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp người chết không để lại di chúc, phân chia tài sản theo pháp luật, hay Giấy khai sinh dùng để hỗ trợ cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tuổi của một người để áp dụng chính sách trong tố tụng cho phù hợp

Đăng ký khai sinh cũng có ý nghĩa quan trọng trong đăng ký và quản lý hộ tịch nói chung Bởi vì, nếu không đăng ký khai sinh thì các hoạt động đăng ký hộ tịch tiếp theo trong cuộc đời mỗi con người như: đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi (nếu có), đăng ký giám hộ (nếu có), đăng ký tử sẽ không thực hiện được

Trang 19

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KHAI SINH

2.2.1 Thẩm quyền đăng ký khai sinh

a Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã

Theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 tại Điều 13 quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ khi cha và mẹ trẻ là công dân Việt Nam và cư trú tại Việt Nam Như vậy, khi cha hoặc mẹ của trẻ có thể đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người mẹ hoặc cha thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em Nếu như không xác định được nơi cư trú của người mẹ hoặc cha thì UBND cấp xã, nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh Trong trường hợp khác khi không thể xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha thì UBND cấp xã nơi mà trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh

Thẩm quyền đăng ký khai sinh của UBND cấp xã với những trường hợp trẻ đặc biệt sau:

Thứ nhất, đối với trường hợp trẻ em sinh ra bị bỏ rơi thì căn cứ Điều 14 của Nghị

định 123/2015/NĐ-CP thì UBND cấp xã nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi

Thứ hai, đối với trẻ chưa xác định được cha mẹ căn cứ vào Điều 15 tại Nghị định

123/2015/NĐ-CP quy định về đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ Cụ thể, UBND cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì UBND kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quyết theo quy định nêu trên; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống

Thứ ba, trẻ em sinh ra do mang thai hộ thì UBND cấp xã có thẩm quyền đăng ký

khai sinh căn cứ vào Điều 16 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định thì người yêu cầu đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch năm 2014

và văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ Phần khai về cha, mẹ của trẻ được xác định theo cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ

Thứ tư, Khi trẻ sinh được ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam

thường trú tại địa bàn xã đó có mẹ hoặc cha là công dân nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú thì theo Điều 17 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định UBND cấp xã ở khu vực biên giới có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ khi có yêu cầu đăng ký

Trang 20

Thứ năm, trường hợp người mẹ hoặc cha không có nơi đăng ký thường trú, thì việc

ĐKKS cho trẻ em được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi người mẹ hoặc cha đăng ký tạm trú Đối chiếu với định nghĩa nơi cư trú tại Điều 12 Luật Cư trú 2006, sửa đổi, bổ sung

2013 giải thích rõ, nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Chỗ ở hợp pháp của một người có thể là nhà ở, phương tiện hoặc địa điểm mà người này được phép sử dụng để cư trú thông qua việc thuê, mượn, ở nhờ…

Trong đó, nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú Thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ và đã đăng

ký thường trú Tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú

Theo quy định trên, việc đăng ký khai sinh đều được thực hiện tại nơi cư trú của cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ hoặc của trẻ Do đó, việc chỉ có sổ tạm trú của cha hoặc mẹ hoặc cha và mẹ sẽ không ảnh hưởng đến việc đăng ký khai sinh cho con Do đó, thủ tục khai sinh không chỉ được tiến hành tại nơi thường chú của cha hoặc mẹ trẻ mà còn có thể được thực hiện tại nơi cha hoặc mẹ trẻ tạm trú hoặc nơi thường xuyên sinh sống

Ngoài ra, khi trẻ em được sinh ra mà cha mẹ bị khuyết tật, ốm bệnh không thể đi

đăng ký khai sinh cho con hoặc cha mẹ bị bắt, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù mà không còn ông bà nội, ngoại và người thân thích khác hoặc những người này không có điều kiện đi đăng ký khai sinh cho trẻ thì theo Điều 24 Thông tư 04/2020/TT-BTP quy địnht thì UBND cấp xã tiến hành đăng ký khai sinh lưu động cho các trường hợp nêu trên

b Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện

Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký khai sinh theo Điều 35 Luật Hộ tịch năm 2014 cho các trường hợp sau:

Trẻ em khi sinh ra tại Việt Nam thuộc một trong các trường hợp: Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch; Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân Việt Nam đang định cư ở nước ngoài; Có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; Có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch

Trẻ em sinh ra ở nước ngoài, chưa được đăng ký khai sinh, về cư trú tại Việt Nam thuộc một trong các trường hợp: Có cha và mẹ là công dân Việt Nam; Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc nơi cư trú của người mẹ đều có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em thuộc trường hợp nêu trên

Như vậy, việc đăng ký khai sinh cho trẻ được tạo điều kiện thuận lợi để trẻ em nào sinh ra cũng được khai sinh kịp thời, đúng hạn Việc khai sinh cho trẻ là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của cha, mẹ người thân thích khác của trẻ

2.2.2 Nội dung đăng ký khai sinh

Quyền trẻ em là giá trị phổ quát của nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận Khi nhắc tới quyền trẻ em thì phải nhắc tới Công ước của Liên hợp quốc

Trang 21

về quyền trẻ em trong đó Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm

1990, tại Khoản 1 Điều 7 của Công ước quy định: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập

tức sau khi sinh ra và có quyền có họ tên, quyền có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc sau khi ra đời ”

Như vậy khi trẻ được sinh ra đã có được quyền nhân thân, dân sự cơ bản nhất được

cộng đồng quốc tế ghi nhận và đảm bảo Tại Khoản 2 Điều 7 của Công ước nêu rõ: “Các

Quốc gia thành viên phải bảo đảm việc thực hiện những quyền đó phù hợp với pháp luật quốc gia, với những nghĩa vụ của họ theo các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp mà nếu không làm như thế thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch” Các quốc gia thành viên thực hiện một cách nghiêm túc và bằng mọi biện pháp phù

hợp để đảm bảo trẻ đều được khai sinh và có quốc tịch

Riêng đối với nước ta tuy không phải là nước đầu tiên đề ra các vấn đề về quyền cơ bản của con người, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia sớm tiếp cận về quyền

con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh

ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền được sống, quyền sung sướng và quyền tự do”,

chính vì lẽ đó trẻ em ngay khi được sinh ra đều được khai sinh một cách bình đẳng Để hiện thực hóa quyền được khai sinh này pháp luật Việt Nam được quy định tại Khoản 1

Điều 30 của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh”

và Điều 13 của Luật Trẻ em năm 2016 cũng quy định: ‘Trẻ em có quyền được khai sinh,

khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật” Đồng thời, tại Khoản 1 Điều 6 Luật Hộ tịch năm 2014 tiếp tục khẳng

định: “Công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam có quyền,

nghĩa vụ đăng ký hộ tịch”

Thông tin của người được đăng ký khai sinh quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật Hộ

tịch năm 2014 quy định nội dung đăng ký khai sinh gồm: “Thông tin của người được

đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch; Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; Số định danh cá nhân của người

được đăng ký khai sinh.” Người có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh phải cung cấp

chính xác, đầy đủ, kịp thời các nội dung khai sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch được quy định Dưới đây là một số quy định về xác định nội dung đăng ký và các trường hợp đăng

ký khai sinh

a Xác định họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ dược xác định theo cha hay mẹ

Điều đầu tiên khi phân biệt cá nhân này với cá nhân khác là xác định được cá nhân

đó có Họ tên là gì? Dân tộc gì? Giới tính gì? Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định khi đăng ký khai sinh: Trẻ em được việc xác định họ, chữ đệm, tên của trẻ em theo thoả thuận của cha, mẹ và được thể hiện trong Tờ khai đăng

ký khai sinh Trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán Trường hợp chưa xác định được cha thì họ của trẻ được xác định

Trang 22

theo họ của mẹ Còn đối với xác định dân tộc của trẻ em tại Khoản 1 Điều 8 Bộ Luật dân

sự năm 2005 và Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định về quyền xác định dân tộc như sau: Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha và

mẹ khi hai người cùng một dân tộc Nếu trong trường hợp cha và mẹ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của trẻ được xác định là dân tộc của cha hoặc dân tộc của mẹ theo tập quán hoặc xác định theo văn bản thoả thuận của cha, mẹ thể hiện trong Tờ khai đăng

ký khai sinh Nếu như cả hai cha mẹ không có thỏa thuận thì dân tộc của trẻ được xác định theo tập quán, trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của trẻ được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn Trường hợp chưa xác định được cha thì dân tộc của trẻ được xác định theo dân tộc của mẹ và ngược lại khi không xác định được mẹ thì dân tộc của trẻ được xác định theo dân tộc của cha

b Xác định tên của trẻ

Trong văn hóa người Việt, đặt tên cho trẻ là một việc vô cùng quan trọng Có người đặt tên trẻ theo ý nghĩa, có người đặt tên trẻ theo trào lưu, có người lại đặt tên cho trẻ

theo phong thủy, thậm chí có người chọn cho trẻ những cái tên đơn giản để “dễ nuôi”

Tuy nhiên, đặt tên trẻ cho đúng luật thì không phải ai cũng để ý tới Pháp luật hiện hành ghi nhận mỗi cá nhân có quyền có họ, tên và họ, tên của một người được xác định theo

họ, tên khai sinh của người đó Nhưng việc cha, mẹ đặt tên cho trẻ như thế nào vẫn phải tuân theo một số quy định nhất định

Cụ thể, Điều 26 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân có quyền có họ,

tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có) Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó” Dưới đây là một số quy định của pháp luật hiện hành về việc đặt tên

cho trẻ

Thứ nhất, không được đặt tên xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người

khác: Tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định

Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về trường hợp nào thì được coi là xâm phạm đến quyền và lợi

ích hợp pháp của người khác

Thứ hai, đối với trẻ em có quốc tịch Việt Nam, tên của trẻ em bắt buộc phải bằng

tiếng Việt hoặc tiếng của các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam

Vẫn theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015 thì tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam Đây là quy định có tính nguyên tắc, nhằm giữ gìn, bảo tồn văn hoá, truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời xưa để lại Quy định này mới được đưa vào Bộ luật Dân sự 2015, trước đây thì Bộ luật Dân sự

2005 không quy định về điều này Do đó, trước khi Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực, vẫn

có rất nhiều người đặt tên cho con theo tên nước ngoài, như: Nguyễn Thị Kaylin, Đinh

Thị Marya, Nguyễn Katy,…

Thứ ba, không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ

Trang 23

Theo Khoản 3, Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ rõ thì những cái tên được đặt bằng

số, bằng một ký tự mà không phải là chữ như: Nguyễn Văn 1, Trịnh Thị @, sẽ không

được chấp nhận

Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ, bảo đảm quyền có họ tên của trẻ em

Công chức tư pháp – hộ tịch cần tuyên truyền, giải thích để cha mẹ nhận thức được rằng việc đặt tên, xác định họ cho con chính là nhằm bảo vệ, bảo đảm cho trẻ em thực thi quyền nhân thân, quyền dân sự của mình Đó là yêu cầu mang tính quốc gia và quốc tế, nên cha mẹ phải suy nghĩ kỹ càng trước khi đặt tên cho con, không nên chỉ xuất phát từ ý chí, mong muốn của riêng cá nhân cha mẹ

Việc đặt tên cho con khi đăng ký khai sinh chính là giúp cho trẻ em xác lập, thực hiện quyền, lợi ích, bổn phận của mình trên nguyên tắc tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (theo quy định Khoản 4 Điều 3 Bộ Luật dân sự 2015)

Thứ năm, mặc dù hiện nay pháp luật không quy định đối với dân tộc nào thì phải

đặt họ tên như thế nào, nhưng xuất phát từ yêu cầu tôn trọng, bảo vệ lợi ích, truyền thống, văn hoá dân tộc, công chức tư pháp – hộ tịch tăng cường tuyên truyền, giải thích, vận động để người dân hiểu rằng, việc xác định họ, đặt tên cho trẻ em cũng cần tính đến yếu

tố bảo đảm phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc và phản ánh được nét văn hoá đặc trưng của dân tộc kể cả yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng của người dân ở các vùng miền

Ngoài các trường hợp nêu trên, Bộ luật Dân sự 2015 không hạn chế độ dài của tên, tức cha mẹ có thể đặt tên con có một hoặc nhiều chữ

Như vậy, pháp luật hoàn toàn cho phép cha, mẹ hoặc người thân thích lựa chọn, đặt

tên cho con Chỉ cần tên đó không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và được đặt bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ thì đều hợp pháp, được pháp luật thừa nhận

c Xác định họ tên, dân tộc, quê quán cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ đẻ

Trong trường hợp đặc biệt này, việc xác định họ, tên của trẻ được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Một là, trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được

nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó

Hai là, trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được

nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ

sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng

Trang 24

Ba là, nếu trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha mẹ đẻ và được nhận làm con

nuôi, thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thoả thuận bằng văn bản của cha mẹ nuôi Nếu chỉ có một người nhận nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó

Ngoài ra việc xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh được quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định: Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; Căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; Nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị

bỏ rơi; Quê quán được xác định theo nơi sinh; Quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống

d Xác định cha mẹ cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ

Từ lâu, một trong những yếu tố để xác định cha mẹ với con là huyết thống Người phụ nữ mang thai sinh ra đứa trẻ thì hiển nhiên là mẹ của đứa trẻ Hiện tượng tự nhiên này tồn tại trong ý niệm xã hội, đạo đức của con người và được khẳng định về mặt luật pháp Nhưng đối với những cặp vợ chồng mắc vô sinh hiến muộn thì phương pháp mang thai hộ được hình thành để tạo điều kiện cho các vợ chồng này vẫn có khả năng được làm cha mẹ vẫn có được đứa con mang huyết thống của hai người Hiện tượng mang thai hộ hoàn toàn rất mới mẻ, không nằm trong khuôn mẫu tập quán, tình cảm, đạo đức truyền thống

Theo Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 khái niệm mang thai hộ được

hiểu “Là việc một người phụ nữ tự nguyện không vì mục đích thương mại giúp mang thai

hộ cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ thai trong ống nghiệm, sau đó được cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai, để người này mang thai và sinh con” Từ đó, việc mang thai hộ là một

phương pháp giúp rất nhiều gia đình được xác lập quan hệ cha mẹ con

Về vấn đề xác định cha mẹ cho con: Chúng ta có thể thấy, xét về mặt khoa học, thì mang thai hộ là việc lấy noãn của người vợ, và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó mới cấy vào trong tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai mà sinh con Do đó, con sinh ra là con của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ bởi đó là noãn và tinh trùng của cặp vợ chồng đó, đã được thụ tinh, rồi mới cấy vào tử cung của người khác, vì người mẹ không có khả năng mang thai hoặc nhiều lý

do khác

Con sinh ra sẽ có đặc điểm, hình dạng cũng như các yếu tố sinh học giống với bố,

mẹ (người nhờ mang thai), người mang thai hộ không phải là mẹ của đứa trẻ đó Đó là về mặt sinh học, còn về mặt Pháp luật, theo quy định của Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng đã có quy định về việc xác định cha, mẹ khi mang thai hộ như sau

Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì “Con sinh ra

trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra” Do đó, Pháp luật cũng đã thừa nhận con

Trang 25

sinh ra trong trường hợp mang thai hộ là con chung của vợ, chồng nhờ mang thai hộ, không phải con của người mang thai hộ Theo đó, vợ chồng người nhờ mang thai hộ là cha, mẹ của con được sinh ra dù họ không trực tiếp sinh ra đứa trẻ, đồng thời cũng có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ con như trong quy định chung của pháp luật

e Xác định quốc tịch cho trẻ có yếu tố nước ngoài

Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý giữa cá nhân đối với nhà nước nhất định được biểu trong các quyền và nghĩa vụ của người đó được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện

Do đó, việc khai sinh và xác định quốc tịch của con là vấn đề quan trọng trong lĩnh vực đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

Về quốc tịch của con được xác định theo quy định tại Điều 16 Luật Quốc tịch Việt

Nam 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014: “Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt

Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam” “Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha

mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ

em đó có quốc tịch Việt Nam”

Ngoài ra Khoản 2 Điều 7 Thông tư 04/2020/TT-BTP có quy định rằng việc cha, mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con khi đăng ký khai sinh, thì ngoài văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch của cha, mẹ còn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được lựa chọn quốc tịch về việc lựa chọn quốc tịch này có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó Nếu cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không xác nhận thì cơ quan đăng ký hộ tịch vẫn thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ, nhưng để trống phần ghi về quốc tịch trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh

Do đó, nếu trẻ được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cả cha và mẹ không có thỏa thuận về việc lựa chọn quốc tịch cho trẻ thì trẻ có quốc tịch Việt Nam Còn nếu trẻ được sinh ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, cha và mẹ phải có sự thỏa thuận bằng văn bản vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ về việc lựa chọn quốc tịch cho trẻ

f Đăng ký lại khai sinh

Ngoài các quy định về việc đăng ký khai sinh cho trẻ ngay sau khi sinh ra thì hiện nay có rất rất nhiều các trường hợp những người đã đăng ký khai sinh nhưng bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất, hư hỏng trong quá trình lưu giữ giấy tờ và sổ hộ tịch không còn lưu trữ thông tin Để công dân tiếp tục được xác lập các quyền, nghĩa vụ, các giao dịch dân sự… Theo đúng quy định của pháp luật thì việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện theo Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn

Điều kiện để công dân mất bản chính khai sinh để đăng ký lại được quy định tại Điều 24 Nghị định Nghị định 123/2015/NĐ-CP là công dân đã đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng sổ hộ tịch và bản chinh giấy tờ hộ tịch đã bị mất thì được đăng ký lại khai sinh

Trang 26

Như vậy, trường hợp đăng ký lại khai sinh chỉ được thực hiện khi có sự kiện là giấy

tờ bản chính đã bị mất

g Đăng ký lại khai sinh trong trường hợp đương sự không xuất trình được giấy

tờ chứng minh quan hệ cha mẹ con; bổ sung ngày tháng sinh trong trường hợp đăng

ký lại khai sinh mà giấy tờ xuất trình chỉ có năm sinh

Đối với trường hợp đương sự không xuất trình được giấy tờ chứng minh quan hệ cha mẹ con theo quy định tại khoản 4, Điều 9 Thông tư số 04/2020/TT-BTP về giấy tờ,

tài liệu là cơ sở để đăng ký lại khai sinh, quy định: “Trường hợp giấy tờ của người yêu

cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh”

Theo Thông tư số 42/2015/TT-BCA ngày 01/9/2015 của Bộ Công an quy định về công tác tàng thư hồ sơ hộ khẩu Theo đó, việc quản lý hồ sơ đăng ký thường trú và cung cấp thông tin của công dân trong tàng thư hồ sơ hộ khẩu là thuộc trách nhiệm của Công an cấp huyện

Do đó, trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp huyện phối hợp xác minh cung cấp thông tin là đúng theo quy định

Cũng theo quy định tại khoản 4, Điều 9 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định: “Trường

hợp cơ quan công an trả lời không có thông tin thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin của cha, mẹ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Thông tư này và xác định nội dung khai sinh theo văn bản cam đoan.”

Mặt khác, tại Điều 4 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định về việc giải quyết yêu

cầu đăng ký hộ tịch khi không xác nhận được kết quả xác minh, quy định: “Trường hợp

việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định tại khoản 4 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐCP và khoản 4 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Thông tư này, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định ”

Như vậy, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh tại cơ quan Công an có thẩm quyền mà không nhận được văn bản trả lời thì công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, phường, thị trấn có quyền tiếp tục thực hiện việc Đăng ký lại khai sinh theo quy định của pháp luật, đồng thời cho người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin cha, mẹ và giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả của việc cam đoan không đúng sự thật kết quả đăng ký hộ tịch nhận cha, mẹ, con sẽ bị hủy

Trường hợp đăng ký lại khai sinh cho người đã có hồ sơ, giấy tờ nhưng trong giấy

tờ đó không thể hiện được ngày, tháng sinh thì vận dụng quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 22 Thông tư số 15/2015/TT-BTP để xác định ngày, tháng sinh khi đăng ký lại khai sinh, cụ

Trang 27

thể như sau: Nếu không xác định được ngày sinh thì ghi ngày đầu tiên của tháng sinh Nếu không xác định được ngày, tháng sinh thì ghi ngày 01 tháng 01 của năm sinh

h Bổ sung ngày, tháng sinh trong Giấy khai sinh

Bổ sung hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cập nhật thông tin hộ tịch còn thiếu cho cá nhân đã được đăng ký Việc người yêu cầu bổ sung ngày, tháng trong Giấy khai sinh cho công dân Việt Nam cư trú tại Điều 18 Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định xác định ngày, tháng theo các trường hợp sau:

Trường hợp cá nhân đã được đăng ký khai sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Giấy khai sinh, Sổ đăng ký khai sinh không ghi ngày, tháng sinh thì được bổ sung ngày, tháng sinh theo Giấy chứng sinh hoặc văn bản xác nhận của cơ sở y tế nơi cá nhân sinh ra

Trường hợp không có Giấy chứng sinh, không có văn bản xác nhận của cơ sở y tế thì ngày, tháng sinh được xác định như sau:

Một là, đối với người có hồ sơ, giấy tờ cá nhân có ghi ngày, tháng sinh và đều thống

nhất về ngày, tháng sinh, thì xác định ngày, tháng sinh được bổ sung vào Giấy khai sinh theo ngày, tháng sinh đó

Hai là, trường hợp người có hồ sơ, giấy tờ cá nhân có ghi ngày, tháng sinh nhưng

trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân không thống nhất một ngày, tháng sinh thì xác định ngày, tháng sinh được bổ sung vào Giấy khai sinh theo ngày, tháng sinh trong hồ sơ, giấy tờ được cấp hoặc xác nhận hợp lệ đầu tiên

Đối với người không có hồ sơ, giấy tờ cá nhân hoặc hồ sơ, giấy tờ cá nhân không có ngày, tháng sinh thì cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch viết cam đoan về nội dung

bổ sung ngày, tháng sinh theo quy định

Trường hợp vẫn không xác định được ngày, tháng sinh thì ngày, tháng sinh được bổ sung vào Giấy khai sinh theo ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01 của năm sinh; trường hợp xác định được tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh là ngày 01 của tháng sinh

i Đăng ký khai sinh cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân

Trường hợp công dân Việt Nam cư trú trong nước chưa đăng ký khai sinh, nhưng

đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân, căn cứ vào Điều 8 Thông tư 04/2020/TT-BTP thì có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú đăng ký khai sinh trên cơ sở hồ sơ, giấy tờ cá nhân (bản chính hoặc bản sao hợp lệ) như: giấy tờ tùy thân, hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan

có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân; Sổ hộ khẩu; Sổ tạm trú; giấy tờ khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp để đăng ký khai sinh

Ngoài ra Điều 8 Thông tư 04/2020/TT-BTP còn quy đối với công dân người Việt Nam nhưng định cư tại nước ngoài chưa đăng ký khai sinh và có hồ sơ, giấy tờ cá nhân hợp lệ thì vẫn được đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện, khi đăng ký khai sinh thì nơi sinh sẽ được ghi tại Việt Nam

Trang 28

2.2.3 Trách nhiệm đăng ký khai sinh

Ngay sau khi được sinh ra, trẻ em có quyền được đăng ký khai sinh Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của những cá nhân, tổ chức

có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đăng ký khai sinh cho trẻ em Điều 15 Luật

Hộ tịch năm 2014 quy định quy định trách nhiệm của hai nhóm đối tượng phải đăng ký khai sinh cho trẻ em

Nhóm thứ nhất: Cha mẹ, ông bà hoặc người thân thích khác

Tại Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định trong thời gian 60 ng ngày

kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ

em Theo đó, người có trách nhiệm đầu tiên đăng ký khai sinh cho trẻ em là cha, mẹ của trẻ em Trường hợp cha, mẹ vì lý do khách quan, “bất khả kháng” không thể đi đăng ký khai sinh cho con được thì ông hoặc bà (bao gồm cả ông bà nội, ông bà ngoại) có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho cháu; nếu ông bà cũng không thể đi được, thì người thân thích khác có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho trẻ em

Người có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh nêu trên phải cung cấp chính xác, đầy

đủ, kịp thời các nội dung khai sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch, gồm: thông tin của người được đăng ký khai sinh (họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch); thông tin về cha, mẹ người được đăng ký khai sinh (họ, chữ đệm, tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú) Nếu không phải cha mẹ đi khai sinh cho con, thì người đi khai sinh phải thống nhất với cha mẹ của trẻ về những nội dung khai sinh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung này theo cam đoan trong

Tờ khai đăng ký khai sinh Ngoài ra, người đi khai sinh còn phải cung cấp giấy chứng sinh, nếu không có thì phải nộp văn bản người làm chứng xác nhận việc sinh, nếu còn không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan việc sinh Cuối cùng, đối với việc khai sinh cho trẻ mang thai hộ thì phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định

Nhóm thứ hai: Công chức Tư pháp – Hộ tịch

Đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký khai sinh cho trẻ em, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai sinh cho trẻ trên địa bàn trong thời hạn quy định và thực hiện đăng ký khai sinh lưu động khi có yêu cầu theo quy định

Theo đó, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải làm tròn nghĩa vụ đăng ký khai sinh của mình, phải hoàn toàn chủ động, tích cực tham mưu cho Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã trong đăng ký và quản lý hộ tịch, chấp hành mọi quy định pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện của người làm công tác hộ tịch, nghiêm túc thực hiện đúng trình tự, thủ tục đăng ký đối với mỗi loại việc hộ tịch và chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Ủy ban nhân dân đối với công tác hộ tịch tại địa bàn giúp bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của công dân

Trang 29

2.2.4 Thủ tục đăng ký khai sinh

a Thủ tục đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân cấp xã

Trong vòng thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng

ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em Người yêu cầu đăng ký khai sinh nộp hồ sơ tại

Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền Theo quy định Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014 nêu rõ: Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật

Sau khi nhận được hồ sơ đăng ký của người yêu cầu thì người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra ngay toàn bộ hồ sơ, đối chiếu thông tin trong Tờ khai và tính hợp lệ của giấy tờ trong hồ sơ do người yêu cầu nộp, xuất trình theo quy định tại Điều 3 Thông tư 04/2020/TT-BTP Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, người tiếp nhận hồ sơ viết giấy tiếp nhận, trong đó ghi rõ ngày, giờ trả kết quả; nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hoàn thiện thì hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn thiện theo quy định; trường hợp không thể bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì phải lập thành văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung, hoàn thiện, ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên của người tiếp nhận

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã Trường hợp Chủ tịch UBND cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp - hộ tịch cập nhật thông tin khai sinh theo hướng dẫn để lấy Số định danh cá nhân, ghi nội dung khai sinh vào Sổ đăng ký khai sinh, hướng dẫn người đi đăng ký khai sinh kiểm tra nội dung Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh, cùng người đi đăng ký khai sinh ký tên vào Sổ Chủ tịch UBND cấp xã ký 01 bản chính Giấy khai sinh cấp cho người được đăng ký khai sinh, số lượng bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu

Ngoài ra trường hợp quá thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha, mẹ, người thân thích không đăng ký đúng hạn cho trẻ, căn cứ Khoản 1 Điều 27 Nghị định 110/2013/NĐ-

CP quy định xử phạt hành chinh quy định về xử phạt vi phạm hành chính bổ trợ hành chính tư pháp, thì việc khai sinh quá hạn sẽ bị xử phạt với mức phạt là Cảnh cáo

b Thủ tục đăng ký khai sinh cho một số trường hợp đặc biệt

Trường hợp 1: Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi

Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, ngay sau khi phát hiện trẻ

bị bỏ rơi, người phát hiện phải ngay lập tức có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho UBND hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo

Ngày đăng: 24/08/2021, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Quốc hội (2014), Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
[6] Quốc hội (2014), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam số 56/2014/QH13 ban hành ngày 24 tháng 06 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam số 56/2014/QH13
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
[10] Uỷ ban nhân dân xã Dun (2015), Báo cáo số 50/BC-UBND ngày 01/12/2015 về tổng kết công tác tư pháp năm 2015, giai đoạn 2011 – 2015; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác tư pháp năm 2016, giai đoạn 2016 – 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 50/BC-UBND ngày 01/12/2015 về tổng kết công tác tư pháp năm 2015, giai đoạn 2011 – 2015; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác tư pháp năm 2016, giai đoạn 2016 – 2021
Tác giả: Uỷ ban nhân dân xã Dun
Năm: 2015
[11] Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, Báo cáo tổng kết Báo cáo thống kê kết quả đăng ký hộ tịch trên tại UBND xã Dun năm 2016, năm 2017, năm 2018, năm 2019 và năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Báo cáo thống kê kết quả đăng ký hộ tịch trên tại UBND xã Dun năm 2016, năm 2017, năm 2018, năm 2019 và năm 2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân xã Dun
Nhà XB: UBND xã Dun
Năm: 2020
[2] Quốc hội (2015), Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13 ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015 Khác
[3] Chính phủ (2015), Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Khác
[4] Công văn 709/HTQTCT-HT ngày 25/4/2016 của Cục Hộ tịch - Quốc tịch - Chứng thực Khác
[5] Quốc hội (2014), Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ban hành ngày 19 tháng 06 năm 2014 Khác
[7] Bộ Tư pháp (2005), Thông tư số 15/2015/TT-BTP ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tư pháp về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Khác
[8] Bộ Tư pháp (2020), Thông tư số 04/2020/TT-BTP ban hành ngày 28 tháng 05 năm 2020 của Bộ Tư pháp về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Khác
[9] Bộ Công an (2015), Thông tư số 42/2015/TT-BCA ban hành ngày 01 tháng 09 năm 2015 của Bộ Công an quy định về công tác tang thư hồ sơ hộ khẩu Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - Pháp luật về đăng ký khai sinh – thực tiễn tại uỷ ban nhân dân xã dun, huyện chư sê, tỉnh gia lai
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 7)
Bảng 2.1. Bảng thống kê kết quả đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  - Pháp luật về đăng ký khai sinh – thực tiễn tại uỷ ban nhân dân xã dun, huyện chư sê, tỉnh gia lai
Bảng 2.1. Bảng thống kê kết quả đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (Trang 38)
Bảng 2.2. Bảng thống kê kết quả xác định họ, dân tộc của trẻ khi đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  - Pháp luật về đăng ký khai sinh – thực tiễn tại uỷ ban nhân dân xã dun, huyện chư sê, tỉnh gia lai
Bảng 2.2. Bảng thống kê kết quả xác định họ, dân tộc của trẻ khi đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (Trang 40)
Bảng 2.3. Bảng thống kê kết quả về người đi đăng ký khai sinh cho trẻ tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  - Pháp luật về đăng ký khai sinh – thực tiễn tại uỷ ban nhân dân xã dun, huyện chư sê, tỉnh gia lai
Bảng 2.3. Bảng thống kê kết quả về người đi đăng ký khai sinh cho trẻ tại Ủy ban nhân dân xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (Trang 42)
Hình 2.1. Mô hình thực hiện quản lý HOTICH.VN tại UBND xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai  - Pháp luật về đăng ký khai sinh – thực tiễn tại uỷ ban nhân dân xã dun, huyện chư sê, tỉnh gia lai
Hình 2.1. Mô hình thực hiện quản lý HOTICH.VN tại UBND xã Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w