Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tôi đặt ra cho mình các nhiệm vụ sau đây: a Làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"theo
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
VÕ THỊ THU HÀ
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN – THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
Kon Tum, tháng 05 năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN – THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết: 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu: 3
5 Kết cấu đề tài: 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM 5 1.1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VKSND TỈNH KON TUM 5
1.1.1.Khái quát về tỉnh Kon Tum 5
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của VKSND tỉnh Kon Tum 5
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VKSND TỈNH KON TUM 6
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của VKSND tỉnh Kon Tum 6
1.2.2.Các chức danh tư pháp trong VKSND tỉnh Kon Tum: 6
1.2.3 Cơ cấu tổ chức của VKSND tỉnh Kon Tum 6
KẾT CHƯƠNG 1 8
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI LỪA ĐẢO TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 9
2.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
2.1.1 Khái niệm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9
2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9
2.2 PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC 12
2.2.1 So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 12
2.2.2 So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng: 13
2.3 CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 14
2.3.1 Phải chịu hình phạt: 14
2.3.2 Các biện pháp tư pháp: 16
2.3.3 Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt: 17
2.4 QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT 18
2.4.1 Chuẩn bị phạm tội: 18
2.4.2 Phạm tội chưa đạt 18
Trang 42.4.3 Đồng phạm 19
2.4.4 Xóa án tích: 21
2.4.5 Đương nhiên được xóa án tích: 21
KẾT CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM 24
KIẾN NGHỊ TOÀN DIỆN 24
3.1 THỰC TRẠNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 24
3.2 NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN PHẠM TỘI CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 27
3.2.1 Những nguyên nhân và điều kiện về kinh tế xã hội 28
3.2.2 Những nguyên nhân và điều kiện về tổ chức quản lý nhà nước, quản lý xã hội và quản lý con người 28
3.2.3 Những nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật 30
3.2.4 Những nguyên nhân từ việc tuyên truyền và giáo dục pháp luật 31
3.2.5 Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 32
3.3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 33
3.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng 33
3.3.2 Các biện pháp đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 37
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM 41
KẾT CHƯƠNG 3 42
KẾT LUẬN 43 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PHIẾU CHẤM QUÁ TRÌNH THỰC TẬP NĂM 4
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT DẠNG VIẾT TẮT DẠNG ĐẦY ĐỦ
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết:
Tài sản và quyền sở hữu về tài sản là một trong những quyền quan trọng, thân thiết nhất của con người và luôn chiếm được sự quan tâm đặc biệt của các nhà lập pháp của bất kỳ quốc gia nào Trong các hình thái xã hội khác nhau, Nhà nước đều sử dụng các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của con người và hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của con người đều bị áp dụng những hình thức trách nhiệm pháp lý nhất định như: Trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm hoàn trả vật, tài sản trong pháp luật dân
sự hay điều tra, truy tố, xét xử một người khi họ có hành vi xâm phạm quyền sở hữu ở mức độ nghiêm trọng Thông qua việc đánh giá coi hành vi xâm phạm quyền sở hữu của con người là tội phạm và áp dụng đối với người phạm tội một hình phạt, Nhà nước luôn
thể hiện thái độ đấu tranh không khoan nhượng đối với loại hành vi này
Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước ta đã ban hành Hiến phápvà các đạo luật khác để ghi nhận, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân, trong đó các quy định của pháp luật hình sự giữ vai trò quan trọng Theo cách hiểu hiện nay "Quyền sở hữu là một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành
để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định của pháp luật" Như vậy sau quyền được sống, quyền được tự do thì quyền sở hữu có một vai trò to lớn đốivới đời sống con người Tiếp theo các văn bản pháp lý trước đó, Hiến pháp 1992 -văn bản pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất đều ghi nhận:
Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chếthị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng
Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sựđã giành hẳn một chương quy định các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV Bộ luật hình sự) gồm từ Điều 133 đến Điều
145 trong đó Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự Trước đó, trong Bộ luật hình sự1985, vì đề cao sở hữu tập thể, sở hữu Nhà nước nên các nhà lập pháp thời kỳ này đã tách thành hai chương riêng: Chương các tội xâm phạm tài sản sở hữu xã hội chủ nghĩa và chương các tội xâm phạm sở hữu của công dân với các đặc điểm pháp lý hành vikhông có gì khác nhau, có chăng chỉ khác nhau về mức hình phạt áp dụng và một vài tình tiết định khung tăng nặng
Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quyền sở hữu là một quyền thiêngliêng và được hiến định Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định:
1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh
tế khác
2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ
Trang 83 Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường
Quyền sở hữu đối với tài sản là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ Chế độ sở hữu là một trong những vấn đề quan trọng được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật, trong
đó có biện pháp pháp luật hình sự thể hiện kiên quyết ý chí quyền lực nhà nước trong việc xử lý các hành vi pháp luật đối với chế độ sở hữu Trong số các tội xâm phạm sở hữu, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, tội phạm này xảy ra khá phổ biến, đây là một trong những tội xâm phạm sở hữu có diễn biến phức tạp, xảy ra thường xuyên và ngày càng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Có những vụ án số giá trị tài sản bị chiếm đoạt có khi lên đến hàng chục tỉ đồng Nhiều trường hợp lợi dụng việc giao kết hợp đồng đầu tư, hợp đồng vay vốn hoặc sử dụng công nghệ khoa học tiên tiến về vi tính, tin học để làm thẻ tín dụng giả, tìm kiếm mật mã số tài khoản của người khác, tổ chức trên game trên mạng… nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản Từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị rất lớn, có những vụ lên đến hàng chục tỷ đồng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh trật tự của đất nước Trong đó, địa bàn tỉnh Kon Tum không phải là ngoại lệ
Kon Tum là một tỉnh nằm ở khu vực Tây Nguyên, là một cửa ngõ quốc tế với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế Cùng với đó là tình trạng lao động nhập cư tăng đột biến trong thời gian qua, làm cho tình hình an ninh trật tự
xã hội bị tác động lớn Tình hình tội phạm nhóm xâm phạm sở hữu nói chung, đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Kon Tum ngày càng gia tăng cả
về số vụ và mức độ hành vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của cá nhân và tổ chức xã hội Trước tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tác động tiêu cực trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, cũng như trước sự đòi hỏi mới của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Những năm qua cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật của nước ta, các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh Kon Tum đã tích cực đấu tranh nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm sở hữu và cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, với diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, các cơ quan tiến hành tố tụng của tỉnh Kon Tum đã nỗ lực nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định như: chưa kịp thời, chưa toàn diện và từ đó mới chỉ đáp ứng phần nào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Việc nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới một góc nhìn thực tiễn tại địa phương không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng của công tác định tội danh và quyết định hình phạt, hiệu quả phòng chống tội phạm nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định này trong Pháp luật hình sự
Việt Nam Chính vì vậy, tôi đã chọn: “Pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản – Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Kon Tum” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình
Trang 9
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu của đề tài: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và thực trạng tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum để đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm này
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tôi đặt ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:
a) Làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 và có sự so sánh tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan để làm rõ thêm cách nhận biết các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này
b) Phân tích thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử loại tội này tại tỉnh Kon Tum trong thời gian vừa qua để thấy được các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến tình hình tội phạm này
c) Phân tích làm sáng tỏ tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên cơ sở gắn với đặc điểm của tỉnh Kon Tum đồng thời chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc đấu tranh, phòng, chống tội phạm này tại tỉnh Kon Tum d) Đưa ra các giải pháp đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Kon Tum và đưa ra những kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến tội danh này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1.Đối tượng nghiên cứu:
Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phân tích tình hình và diễn biến của tội phạm để rút ra những điểm thành công cũng như thiếu sót trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Kon Tum, phân tích, nguyên nhân và điều kiện cũng như các giải pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm này
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và diễn biến tội phạm trên địa bàn Kon Tum giai đoạn 2014 -
2020
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn góp phần tích cực làm phong phú thêm lý luận và cơ sở thực tiễn trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Để giải quyết những vấn đề đặt ra, đề tài sửa dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, nghiên cứu so sánh, thống kê, nghiên cứu tài liệu
Phương pháp phân tích và so sánh, phân tích các quy định pháp luật hiện hành Phương pháp thống kê các số liệu của kết quả tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành TAND và VKSND tỉnh Kon Tum
Trang 10Phương pháp phân tích tổng hợp: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã khái quát lại tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Kon Tum, nguyên nhân, các giải pháp Qua
đó, nghiên cứu các tài liệu trên sách báo, giáo trình luật, tạp trí luật học, internet… Phương pháp nghiên cứu tài liệu
5 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, danhmục tài liệu tham khảo, nội dung của báo cáo gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Kon Tum
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum – một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
1.1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VKSND TỈNH KON TUM 1.1.1.Khái quát về tỉnh Kon Tum
Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao Nam Trung Bộ, phía Tây giáp nước Cộng hoà
Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, với chiều dài biên giới khoảng 260
km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Nam giáp tỉnh Gia Lai; có đường QL14 nối với các tỉnh Tây Nguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Attapeu (Lào) Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế về phía Tây Ngoài ra, Kon Tum có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái Kon Tum là đầu mối giao lưu kinh tế của cả vùng duyên hải miền Trung và cả nước
Kon Tum có tiềm năng về thuỷ điện vào loại lớn nhất cả nước (2.790 MW) Ngoài các công trình thuỷ điện đã và đang xây dựng Kon Tum còn có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ Hiện nay, có rất nhiều nhà đầu tư đang điều tra, khảo sát các công trình thuỷ điện trên địa bàn Với việc đầu tư các công trình thủy điện hiện nay, trong tương lai, Kon Tum có thể sẽ là một trung tâm điều phối nguồn điện quan trọng của cả nước thông qua đường dây 500 KV
Bên cạnh đó, Kon Tum có diện tích nông nghiệp và có khả năng nông - lâm nghiệp bình quân vào loại cao so với cả nước, đất đai địa hình sinh thái đa dạng, có khả năng hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp rộng lớn, nhất là cây nguyên liệu giấy… Kon Tum còn là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên mang nét nguyên sơ, các khu rừng nguyên sinh, di tích đường mòn Hồ Chí Minh, di tích lịch sử chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh, ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei,… đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của VKSND tỉnh Kon Tum
Kon Tum là một tỉnh nằm ở phía bắc cao nguyên Gia Lai - Kon Tum, phần lớn địa
hơn 507.800 người, địa bàn hoạt động rộng, dân cư thưa thớt, điều kiện đi lại còn khó khăn có huyện cách thành phố 150km (huyện IaH’Drai), trình độ văn hóa còn thấp đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, chưa được phát triển Trước tình hình phát triển của xã hội cũng như của đất nước, để góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của nhân dân, bảo
vệ trước mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật Ngày 21/8/1991 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quyết ký ban hành quyết định số 88/QĐ-VKS-TCCB trên
cơ sở tách từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum về việc thành lập VKSND tỉnh Kon Tum Trước yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), theo lộ trình cải cách tư pháp đến năm 2020 5 VKSND tỉnh Kon Tum luôn đổi mới đáp ứng phù hợp với nhiệm vụ, môi trường làm việc, đảm bảo
Trang 12trang thiết bị phương tiện làm việc đầy đủ, hiện đại, phù hợp cho hoạt động điều tra, đáp ứng với yêu cầu đổi mới và yêu cầu hội nhập quốc tế như: Đảm bảo về trụ sở làm việc riêng, có phòng tiếp dân, phòng nghiệp vụ, kho lưu trữ, nhà ở tập thể cho cán bộ, nhà khách; thiết bị kỹ thuật, công cụ hỗ trợ (máy ghi âm, ghi hình, điện thoại, vi tính, máy in, máy fax ); phương tiện đi lại để phục vụ cho hoạt động điều tra xác minh, sẵn sàng đáp ứng trong trường hợp cùng một lúc phải tiến hành điều tra nhiều vụ án, kiểm tra xác minh nhiều tố giác, tin báo về tội phạm trên nhiều địa bàn khác nhau; có kế hoạch kinh phí dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động điều tra Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Kon Tum đối với các cơ quan, ban ngành của tỉnh Kon Tum, trong
đó có VKSND tỉnh Kon Tum đã triển khai phòng, chống tội phạm và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân tiến hành kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự kịp thời và đúng pháp luật, hạn chế các tội phạm xảy
ra trên địa bàn tỉnh Kon Tum Viện kiển sát nhân dân tỉnh Kon Tum: + Địa chỉ: số 190 đường Trần Phú, phường Trường Chinh, Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum + Số điện
thoại: 0603.864802 + Fax: 0603.862975 + Email: vkskontum@vksndtc.gov.vn
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VKSND TỈNH KON TUM
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của VKSND tỉnh Kon Tum
VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
1.2.2.Các chức danh tƣ pháp trong VKSND tỉnh Kon Tum:
a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp;
b) Kiểm sát viên: Có 4 ngạch Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm sát viên cao cấp; Kiểm sát viên trung cấp; Kiểm sát viên sơ cấp;
c) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra;
d) Điều tra viên: có 3 ngạch Điều tra viên: Điều tra viên cao cấp; Điều tra viên trung cấp; Điều tra viên sơ cấp;
đ) Kiểm tra viên: có 3 ngạch Kiểm tra viên: Kiểm tra viên cao cấp; Kiểm tra viên chính; Kiểm tra viên
1.2.3 Cơ cấu tổ chức của VKSND tỉnh Kon Tum
VKSND tỉnh Kon Tum là Cơ quan có dự toán kinh phí độc lập, có quyết định thành lập, có con dấu và tài khoản riêng, có biên chế riêng Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát
có Ban lãnh đạo và bộ máy giúp việc Ban lãnh đạo viện gồm có 01 Viện trưởng, 02 Phó Viện trưởng
Trang 13Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước cuả VKSND tỉnh kon tum
Lãnh đạo VKSND tỉnh Kon Tum
21 Đơn vị trực thuộc VKSND tỉnh Kon Tum
Phòng kiểm sát và giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong hoạt động tư pháp (ký hiệu
VKSND huyện Kon Plông
VKSND huyện Sa Thầy
VKSND huyện Ngọc Hồ
VKSND huyện IaH’drai
VKSND huyện Tu Mơ Rông
Phòng Thống kê tội phạm và Công
nghệ thông tin (ký hiệu là TK)
Trang 14KẾT CHƯƠNG 1
Sự thành lập của Ngành Kiểm sát đã đánh dấu bước phát triển của việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tại địa phương VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND tỉnh Kon Tum là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của VKSND tối cao
Trang 15CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI LỪA ĐẢO TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM
ĐOẠT TÀI SẢN
2.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1.1 Khái niệm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm quyền sở hữu phổ biến nhất hiện nay Theo điều 174, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đó là: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối
chiếm đoạt tài sản của người khác…”
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động khiến người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay nên tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội
2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Điều 174 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
(1) Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ
2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
(2) Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến
07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c)Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này
(3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15
năm:
Trang 16a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
(4) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến
20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp
(5) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000
đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
b Các yếu tố cấu thành của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội phạm
Về hành vi khách quan: (1) Hành vi của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc đó, người bị hại
không biết được có hành vi gian dối
(2) Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật nhưng làm cho người bị lừa dối tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội Việc đưa ra thông tin giả có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động, bằng hình ảnh…hoặc kết hợp bằng nhiều cách thức khác nhau Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của tội phạm rất tinh vi, tội phạm thường thực hiện hành vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị hại và thường người bị hại không biết hoặc biết những thông tin không chính xác về tội phạm
Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ
sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà khi phân tích các dấu hiệu khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một số quan điểm cho rằng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hành vi khách quan là hành vi
“gian dối” và hành vi “chiếm đoạt”, nói như thế cũng không phải là không có căn cứ Tuy
nhiên, điều luật quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của
người khác…” nên không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi khách quan được vì
thủ đoạn chính là phương thức để đạt mục đích mà biểu hiện của thủ đoạn gian dối lại bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể khác mà người phạm tội thực hiện hành vi đó nhằm đánh lừa người khác
Trang 17Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý của chủ thể, mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại
Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp, ngay thẳng rồi mới có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội phạm khác như tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Thực tế
việc chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội thường căn cứ vào tài sản thực
có, tình trạng tài chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp với lời khai nhận của người phạm tội như thế nào Thông thường trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh nợ nần do thua cờ, bạc, lô đề, kinh doanh…, không có khả năng trả nợ cho chủ nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản
Mặt khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước,
cơ quan, tổ chức, cá nhân Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản, bao gồm vật, tiền Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng thể hiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa lấy được tài sản
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Mặt chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự Theo quy định tại điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi Tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này
Trang 182.2 PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC
Qua phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chúng ta thấy đặc trưng nổi bật của tội lừa đảo là bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Song trong thực tiễn, nhận thức thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản không phải trường hợp nào cũng rõ ràng và thống nhất Nhiều tội phạm cũng có những hành vi gian dối như lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa dối khách hàng … Vì vậy cần thiết phải phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm này
2.2.1 So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản quy định tại Điều 175 BLHS 2015
Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các yếu tố khách thể, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm so với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở mặt khách quan Do vậy chỉ cần phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở mặt khách quan mà chủ yếu là thông qua hình thức hợp đồng mà có sự gian dối
Trước hết, ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mặt khách quan thể hiện ở 2 nhóm hành vi sau:
Một là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đã đến thời hạn trả lại và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả
Hai là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Hợp đồng trong tội lạm dụng tín nhiệm là hợp đồng đúng đắn, ngay thẳng Ở thời điểm kí kết hợp đồng, người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt tài sản Chỉ sau đó, khi đến thời hạn nhất định hoặc thời hạn phải trả lại tài sản mới có ý định không trả lại hoặc
sử dụng tài sản vào những mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn … nhằm chiếm đoạt tài sản Như vậy, mục đích chiếm đoạt nảy sinh sau khi đã nhận được tài sản trên cơ sở hợp đồng
Để thực hiện ý định chiếm đoạt, người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể có hành vi gian dối như giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản… nhưng hành vi gian dối này chỉ để che giấu hành vi chiếm đoạt Hành vi gian dối không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
Trang 19sản Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác như
bỏ trốn hay cố ý chây ỳ, không trả lại tài sản…
Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện việc ký kết hợp đồng Việc ký kết hợp đồng thực chất là phương thức
để chiếm đoạt tài sản Hợp đồng này là hoàn toàn giả tạo nhằm tạo lòng tin để người bị hại giao tài sản Khi người phạm tội nhận được tài sản từ hợp đồng cũng là thời điểm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành Hành vi ký kết hợp đồng giả tạo là hành vi lừa dối
và hành vi nhận tài sản là hành vi chiếm đoạt được Hành vi gian dối của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cơ sở quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội 7 nên hành vi gian dối là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Như vậy, việc xem xét người đó phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải xem xét đến những căn cứ chứng minh người phạm tội ban đầu trước khi ký kết hợp đồng đã có ý định chiếm đoạt tài sản hay chưa và đặc biệt hợp đồng được ký kết là hoàn toàn ngay thẳng hay gian dối Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin sẵn có của người có tài sản Còn người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin do hành
vi gian dối tạo ra
2.2.2 So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng:
Tội lừa dối khách hàng là hành vi tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, người phạm tội biết rõ hành vi lừa dối khách hàng của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm Được quy định cụ thể trong điều 198 bộ luật hình sự
Khách nhau:
- Mô tả tội phạm: Tội lừa dối khách hàng là hành vi tội phạm được thực hiện do lỗi
cố ý, người phạm tội biết rõ hành vi lừa dối khách hàng của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội mà người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản
lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó
- Khách thể: Tội lừa dối khách hàng là trật tự kinh doanh xã hội chủ nghĩa và lợi ích của người tiêu dung còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của người khác
Trang 20- Hành vi trong mặt khách quan: Tội lừa dối khách hàng là gian dối trong các lĩnh vực mua, bán bằng thủ đoạn cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo mặt hàng để lấy tiền của khách hàng còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin tưởng vào sự gian dối mà trao tài sản cho người phạm tội
- Chủ thể: Tội lừa dối khách hàng là những người làm nghề mua, bán hàng còn tội lừa lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào
- Hình phạt cao nhất: đối với tội lừa dối khách hàng hình phạt cao nhất là phạt tù từ
1 năm đến 5 năm còn ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hình phạt cao nhất là tù chung thân
Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn so với tội lừa dối khách hàng Tuy có nhiều điểm tương đồng, song hai tội danh này lại có
nhiều điểm khác nhau để phân biệt như trên
2.3 CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.3.1 Phải chịu hình phạt:
Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, được thực hiện trong bản án kết tội của Tòa án, áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong Luật hình sự Vì vậy trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước hết thể hiện qua các khung hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Điều 174 BLHS 2015 quy định bốn khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và được sắp xếp theo trật tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc, đó là khung hình phạt cơ bản, khung tăng nặng thứ nhất, khung tăng nặng thứ hai
và khung tăng nặng thứ ba
Khung 1: Khoản 1 Điều 174 BLHS 2015 quy định chế tài lựa chọn giữa hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể
bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi thỏa mãn một trong các trường hợp sau: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ
Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như các căn cứ pháp lý khác để đưa ra hình phạt hợp lý, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 36 BLHS), nếu người phạm tội có ít hoặc không có tình tiết giảm nhẹ thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị phạt từ 6 tháng đến 03 năm tù
Trang 21Khung 2: Quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt Trong đó:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức là các trường hợp: người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, công tác (chức vụ, quyền hạn) của mình trong các cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác; người tuy không có chức vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội…nhưng đã lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt là trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối có tính chất tinh vi như giả danh một cơ quan, tổ chức nào đó không có thật để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách giả mạo con dấu, giả mạo đăng ký,
bố trí trụ sở làm việc giả để giao dịch, thuê tài sản để rút tiền…
- Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng là trường hợp có từ 2 người trở lên cố ý cùng tham gia phạm tội và có sự thống nhất với nhau về ý chí, có sự câu kết chặt chẽ trong quá tình phạm tội, trong đó có một hoặc một số người thực hành và có thể có người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức; Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là có từ 5 lần trở lên phạm tội, trong đó có lần đã bị xét xử nhưng chưa được xóa án tích, hoặc chưa lần nào vị xét xử và chưa lần phạm tội nào hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, và người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của các lần phạm tội làm nguồn sống chính
Khung 3: Quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Lợi dụng hoàn cảnh thiên tai, dịch bệnh để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tình tiết này được áp dụng không phụ thuộc vào phạm vi, mức độ của thiên tai, dịch bệnh hoặc tính chất, mức độ của những khó khan của xã hội trong tình trạng thiên tai, dịch bệnh
Khung 4: Quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, trong
đó tình trạng chiến tranh là trạng thái xã hội đặc biệt của đất nước được tuyên bố trong thời gian trước khi nước nhà bị xâm lược cho tới khi hành đọng xâm lược đó được chấm dứt trên thực tế, còn tình trạng khẩn cấp về quốc phòng là trạng thái xã hội của đất nước khi có nguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành động vũ trang xâm lược hoặc bạo loạn nhưng chưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh, mức độ nguy hiểm của
Trang 22hành vi trong trường hợp này phụ thuộc vào tính chất của hoàn cảnh chiến tranh, tính chất mức độ của tình trạng khẩn cấp
Hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 174 BLHS là người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Như vậy so với quy định tại Điều 139 BLHS năm 2009 thì quy định tại Điều 174 BLHS 2015 có một số điểm mới sau đây:
- Thứ nhất, về yếu tố cấu thành tội phạm thì đồng thời với việc bổ sung hai tình tiết định tội (điểm c và d khoản 1), BLHS không quy định hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới 2.000.000 đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây
- Thứ hai, bỏ tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, bổ sung tình tiết “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản
- Thứ ba, bỏ tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, bổ sung tình tiết “Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản
- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nhằm loại bỏ những điều kiện vật chất của tội phạm, góp phần cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm, ổn định và đảm bảo trật tự xã hội Vật và tiền trực tiếp liên quan tới tội phạm là vật hoặc tiền
là công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm hoặc thông qua việc thực hiện tội phạm mà có, hoặc do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có, hoặc là vật Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ mua bán
- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại nhằm khôi phục lại tình trạng sở hữu ban đầu trước khi tội phạm xảy ra Đây là biện pháp tư pháp buộc người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Trong trường hợp làm cho tài sản bị chiếm đoạt giảm giá trị thì bên cạnh việc trả lại tài sản còn phải bồi thường trị giá tài sản bị thiệt hại Nếu vì lý do nào đó mà tài sản bị chiếm đoạt đã thất lạc hoặc không còn nữa thì người phạm tội phải bồi thường toàn bộ trị giá tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Trong trường hợp người phạm tội sử dụng trái phép tài sản của người khác vào hành vi phạm tội mà làm hỏng hoặc mất tài sản đó thì cũng phải buộc sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
Trang 23- Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được Bộ luật hình sự quy định áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nhằm phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho xã hội do những người này gây ra Đối với người phạm tội khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng khi bị kết án hoặc khi đang chấp hành hình phạt đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ, sau khi khỏi bệnh có thể họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc phải tiếp tục chấp hành hình phạt Đây là biện pháp tư pháp mang tính nhân đạo, tạo điều kiện cho người bệnh được chữa bệnh tại cơ sở chữa bệnh chuyên khoa, trong trường hợp không cần thiết có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người dùng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho người khác tin tưởng để chiếm đoạt tài sản, như vậy khi phạm tội họ không thể là người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, vì vậy biện pháp bắt buộc chữa bệnh chỉ do Tòa án áp dụng khi họ bị kết án hoặc khi họ đang chấp hành hình phạt mà phát sinh bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi Việc áp dụng biện pháp tư pháp này phải căn cứ vào kết luận của hội đồng giám định pháp y
2.3.3 Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt:
"Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà người đó đã phạm" "Miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện"
Điều 27, 29, 60, 62 BLHS quy định những trường hợp được miễn trách nhiệm hình
sự và miễn chấp hành hình phạt Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng được áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu miễn chấp hành hình phạt theo quy định của những điều luật trên Ngoài ra việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự còn được áp dụng trong trường hợp được đặc xá, đại xá hoặc trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, hoặc trong trường hợp do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (Điều 27 BLHS 2015)
Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, người được miễn trách nhiệm hình sự vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự, hành chính, dân sự hoặc lao động hay biện pháp kỷ luật khác
Trang 242.4 QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT
2.4.1 Chuẩn bị phạm tội:
"Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó"
Trong quá trình chuẩn bị phạm tội, đối tượng tác động của tội phạm chưa bị biến đổi tình trạng ban đầu, quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm chưa bị xâm hại, nhưng việc chuẩn bị phạm tội là tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm, nó hợp thành một thể thống nhất với hành vi phạm tội, khách thể bị xâm hại như thế nào cũng 12 phụ thuộc vào quá trình chuẩn bị phạm tội Do đó có những hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội cũng phải chịu chế tài nghiêm khắc của luật hình sự
Điều 14 BLHS quy định: “ Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm…”
So với quy định chuẩn bị phạm tội tại Điều 17 BLHS 1999 cho thấy quy định chuẩn
bị phạm tội tại Điều 14 BLHS 2015 có ba điểm mới là: Thứ nhất, Bộ luật bổ sung hành vi
“thành lập, tham gia nhóm tội phạm “ vào định nghĩa khái niệm chuẩn bị phạm tội; Thứ hai, Bộ luật giới hạn và quy định hành vi chuẩn bị phạm những tội cụ thể phải chịu trách nhiệm hình sự; Thứ ba, Bộ luật cũng giới hạn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm một số tội cụ thể (02 tội)
Từ đó xác định đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ta chỉ xem xét các tình tiết thuộc điểm a khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình
sự Căn cứ vào các tình tiết đó xác định: Người mới có hành vi chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì đã bị phát hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này ở giai đoạn chuẩn bị nếu tài sản có ý định chiếm đoạt có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên (theo các điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự)
Và trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội cũng như đường lối xử
lý cũng khác so với trường hợp đã thực hiện hành vi phạm tội, Điều 57 Bộ luật hình sự
2015 quy định: “Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”
Trang 25từ quy định “không thực hiện được đến cùng” có nghĩa là người phạm tội có mục đích thực hiện tội phạm và mong muốn hậu quả xảy ra có thể khẳng định tội chưa đạt chỉ có thể xảy ra đối với những tội có lỗi cố ý trực tiếp Phạm tội chưa đạt có những đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất: Người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm Đây là đặc điểm phân biệt phạm tội chưa đạt với chuẩn bị phạm tội Đã bắt đầu thực hiện tội phạm thể hiện: Người phạm tội đã thực hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm Trong một số trường hợp đặc biệt, hành vi không thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm nhưng nó rất gần và có mối quan hệ chặt chễ với hành vi đó, khó
có thể tách rời nên cũng được coi là đã bắt đầu thực hiện tội phạm
Đặc điểm thứ hai: Người phạm tội không thực hiện được tội phạm tới cùng, nghĩa là hành vi đã thực hiện chưa thỏa mãn các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm Những trường hợp hành vi phạm tội chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm có thể xảy ra như người phạm tội đã thực hiện được hành vi quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm có thể xảy ra như người phạm tội đã thực hiện được hành vi quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm (hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm và cũng là hậu quả mà người phạm tội mong muốn)
Đặc điểm thứ ba: Nguyên nhân của việc không thực hiện được phạm tội tới cùng (tội phạm chưa hoàn thành) là vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội
Có nghĩa là bản thân người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng, nhưng tội phạm không hoàn thành được là do những cản trở khách quan
Trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội chưa đạt Điều 15 BLHS quy định: “Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt” Phạm tội chưa đạt do nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nên mọi trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào loại tội là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng Đây là điểm khác so với trường hợp chuẩn bị phạm tội bởi so với chuẩn bị phạm tội thì phạm tội chưa đạt nguy hiểm hơn Sự nguy hiểm này thể hiện ở chỗ người phạm tội chưa đạt đã thực hiện tội phạm, khách thể đã bị xâm hại … do đó về mức độ trách nhiệm hình sự, phạm tội chưa đạt bị xử phạt nặng hơn
2.4.3 Đồng phạm
Điều 17 BLHS 2015 quy định: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố
ý cùng thực hiện một tội phạm" Như vậy đồng phạm là trường hợp phạm tội có ít nhất từ hai người trở lên cùng tham gia Những người này có thể tham gia vào tội phạm với các hành vi sau:
- Hành vi thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm (người thực hành)
- Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (người tổ chức)
- Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (người xúi giục)
Trang 26- Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (người giúp sức)
Trong vụ đồng phạm có thể có cả bốn loại người đồng phạm trên, cũng có thể chỉ
có một loại người thực hành Những hành vi của các đồng phạm là sự liên kết thống nhất
hỗ trợ cho nhau, cùng gây ra hậu quả
Do đó những người thực hiện hành vi đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều phải chịu trách nhiệm hình sự chung về tội phạm đã thực hiện Tuy nhiên, mỗi đồng phạm thực hiện những hành vi khác nhau, tính nguy hiểm cho xã hội của những hành vi đó là khác nhau, nên việc xác định trách nhiệm hình sự đối với từng đồng phạm
là khác nhau Điều này thể hiện ở nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 17 BLHS 2015 có thể xác định đồng phạm phải
có những dấu hiệu khách quan và chủ quan sau:
- Về mặt khách quan: Có 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm; Những người này phải cùng thực hiện tội phạm cố ý
- Về mặt chủ quan: Căn cứ quy định “Đồng phạm là trường hợp hai người trở lên cố
ý cùng thực hiện một tội phạm” có thể khẳng định về mặt chủ quan đồng hạm đòi hỏi lỗi của những người đồng phạm là lỗi cố ý Hai người trở lên cùng vô ý phạm tội thì không phải là đồng phạm, nếu chịu trách nhiệm hình sự thì những người vô ý cùng phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự như trường hợp phạm tội riêng lẻ Đối với những tội quy định mục đích phạm tội là dấu hiệu của tội phạm, đồng phạm những tội này ngoài lỗi cố
ý còn đòi hỏi những người đồng phạm phải có mục đích phạm tội Lỗi cố ý của những người đồng phạm được thể hiện về lí trí thì mỗi người đồng phạm đều nhận thức rõ hành
vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời cũng nhận thức (biết) được người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Nếu chỉ biết mình chỉ có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình thì không phải là “cố ý cùng” và do vậy không phải là đồng phạm Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả mà họ đã thấy trước xảy ra Điều này có nghĩa lỗi những người đồng phạm có thể là lỗi cố ý trực tiếp và cũng có thể là lỗi cố ý gián tiếp Tuy nhiên, từ thực tiễn xét xử cho thấy những người đồng phạm thường thực hiện những tội có lỗi cố ý trực tiếp có thể suy ra lỗi của những người đồng phạm thường là lỗi cố ý trực tiếp
Điều 3 BLHS 2015 quy định “… Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn
để phạm tội; Người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo,tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra…”
Tôi đã phân tích các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên cơ sở bám sát các quy định của BLHS, phân tích hình phạt chính, hình phạt