1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dòng họ và quan hệ dòng họ ở làng cổ bôn (xã đông thanh huyện đông sơn tỉnh thanh hoá)

55 619 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dòng họ và quan hệ dòng họ ở làng cổ bôn (xã đông thanh, huyện đông sơn, tỉnh thanh hoá)
Tác giả Phạm Thị Huyền
Người hướng dẫn Lê Đức Thảo
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 188,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình làm Khóa luận, tôi đã đợc sự hớng dẫn tận tình của thầy Lê Đức Thảo - Giáo viên khoa Lịch sử, trờng Đại học Vinh, Ban Biên soạn và Nghiên cứu lịch sử, Sở Văn hóa - Thông

Trang 1

TrƯờng đại học Vinh Khoa lịch sử

ề &

ẹ Phạm Thị Huyền

Dòng họ và quan hệ dòng họ ở

làng cổ bôn

(Xã Đông Thanh, Huyện Đông Sơn,Tỉnh Thanh Hoá)

khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

giáo viên hớng dẫn : Lê Đức Thảo

vinh, 5/2005

Lời cảm ơn

Trang 2

Với thời gian và khả năng có hạn của một sinh viên trên bớc

đờng tập sự nghiên cứu khoa học, Khóa luận này chắc chắn còn có những vấn đề cần phải bổ sung hoàn chỉnh Tôi rất mong nhận đợc

sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử của độc giả và các bạn sinh viên khoa Lịch Sử.

Trong quá trình làm Khóa luận, tôi đã đợc sự hớng dẫn tận tình của thầy Lê Đức Thảo - Giáo viên khoa Lịch sử, trờng Đại học Vinh, Ban Biên soạn và Nghiên cứu lịch sử, Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa, các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, ủy ban nhân dân,

đồng thời tôi cũng đợc Ban văn hóa - lịch sử và một số gia đình ởng Họ, trởng Tộc ở xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành Khóa luận này

tr-Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với sự giúp đỡ đó

3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài 5

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 6

B- Nội dung

Trang 3

Trong tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc của dân tộc,

từ thuở vua Hùng với truyền thuyết “ Bánh trng – bánh dày” tợng trng cho trời

- đất để con cháu nối đời nhau dựng nghiệp đến thời đại Hồ Chí Minh đã viếtnên biết bao bản hùng ca, ca ngợi lòng yêu nớc nồng nàn, chí khí tự lực, tự cờngcủa dân tộc trong suốt cả cuộc trờng chinh giữ nớc chống kẻ thù xâm lợc vàtrong lao động dựng xây đất nớc, đã tạo nên tinh thần Việt Nam, truyền thốngViệt Nam Tinh thần đó không chỉ thấm đợm lòng nhân văn cao cả yêu nớc th-

ơng nòi mà còn tạo nên nền văn hoá Việt Nam đậm đã bản sắc dân tộc Nhờ đó

mà dân tộc Việt Nam đã vợt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, thử thách và hysinh để tồn tại và phát triển

Trang 4

Trong nền văn hóa truyền thống đó dòng họ và quan hệ dòng họ đã bồi

đắp nên bản sắc dân tộc Trong lịch sử, các dòng họ trên đất nớc Việt Nam đã

có nhiều đóng góp ở mức độ khác nhau đối với công cuộc xây dựng bảo vệ tổquốc, đã sáng tạo nên những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô giá Vàdòng họ còn là chiếc nôi sinh ra những nhân tài cho đất nớc Vì vậy, việc nghiêncứu về dòng họ và những vấn đề xung quanh dòng họ nh mối quan hệ trongdòng họ, mối quan hệ giữa các dòng họ ấy với nhau, cũng nh việc phân địnhloại hình hệ thống thân tộc của ngời Việt có ý nghĩa rất to lớn trong việc giữgìn phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Từ đó rút ra đợc những bài học quíbáu để giáo dục, đào tạo và bồi dỡng nhân tài cho đất nớc và góp phần xây dựng

"nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc".

Trong lịch sử, Xứ Thanh đợc xem là một trong những cái nôi của văn hóadân tộc,đIều đó đợc thể hiện ở nền văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đa Bút… và đây và đâycũng là nơi có nhiều làng cổ hình thành từ lâu đời nh kẻ Chè, Kẻ Dị, Nhạn ThápTrang Làng cổ Thanh Hóa vừa có nét chung của làng quê Việt Nam, vừa cónét đặc trng của Thanh Hóa Làng Cổ Bôn là một làng điển hình của làng XứThanh

Việc nghiên cứu dòng họ với t cách là một trong những thiết chế cơ bản

trong xã hội truyền thống Việt Nam, cũng nh việc nghiên cứu về dòng họ và

quan hệ dòng họ ở làng Cổ Bôn đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết.

Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1986), đặc biệt là từ khi cókhoán 10 (1988), hộ nông dân đợc coi là một đơn vị kinh tế tự chủ, nhiều mốiquan hệ, đăc biệt là mối quan hệ làng xã bị chìm trong thời kỳ hợp tác hóa, đã

đợc phục hng trở lại Đến nay, tại các vùng nông thôn trên khắp cả nớc ta, nhiều

dòng họ đã khôi phục lại đền thờ, miếu mạo, lăng mộ, gia phả khơi dậy truyềnthống dân tộc, thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên Tuy nhiên không tránh khỏinhững hạn chế nh tranh giành quyền lực, đất đai gây mất trật tự, đoàn kết giữacác họ tộc dẫn đến những mâu thuẫn trong làng xã

Vì vậy việc nghiên cứu dòng họ và mối quan hệ dòng họ ở làng Cổ Bôn

có ý nghĩa to lớn nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, góp phầncủng cố khối đại đoàn kết toàn dân

Trang 5

Đợc sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo khoa Lịch Sử, trờng Đại học Vinh,

tôi đã chọn đề tài Dòng họ và mối quan hệ dòng họ ở làng Cổ Bôn nay thuộc

xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa làm khóa luận tốt nghiệp, với

hy vọng tìm hiểu về các dòng họ ở Cổ Bôn và những đóng góp của các dòng họtrong suốt quá trìng lịch sử dân tộc Đồng thời qua đó tìm hiểu sâu hơn về vùng

đất Cổ Bôn trên quê hơng xứ Thanh

2- lịch sử vấn đề:

Nghiên cứu dòng họ và quan hệ dòng họ là một đề tài khó, nhng nó có

sức hấp dẫn và lý thú đòi hỏi sự bền bỉ và công phu Trong xu thế trở về cộinguồn ngày nay, đợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc, nhiều địa phơng đã tổchức hội thảo về lịch sử văn hóa dòng họ, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã cónhững công trình nghiên cứu về dòng họ nổi tiếng nh: họ Hồ ở Quỳnh Lu ; họNguyễn ở Nam Đàn, Nghệ An ; họ Lê, họ Trịnh ở Thanh Hóa Việc nghiêncứu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở một làng nh Cổ Bôn thì hầu nh cha đợc đềcập đến Vì vậy nguồn t liệu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở Cổ Bôn còn tảnmạn, chủ yếu là nguồn t liệu su tầm tại địa phơng bao gồm:

-Những lý lịch di tích văn hoá Cổ Bôn (Đông Thanh) đây là tập lý lịch ditích về từ đờng dòng họ, di tích về các đền thờ những ngời có công với nớc,những ngời đỗ đạt cao ở Cổ Bôn

- Làng cổ truyền Việt Nam do Vũ Ngọc Khánh chủ biên NXB Thanh Niên

đã khái quát về các làng cổ truyền ở Việt Nam và Cổ Bôn là một trong nhữnglàng nh thế

- Khảo sát văn hoá truyền thống Đông Sơn nxb KHXH 1998 Đây làcuốn sách nói về các nghề truyền thống, ca dao, tục ngữ, phong tục tập quán,các nhân vật nổi tiếng của vùng đất Đông Sơn

-Một số gia phả của các dòng họ nh họ Lê, họ La, họ Nguyễn… và đây

Ngoài ra còn có tham khảo một số công trình sau:

- Cuốn'' Việt Nam văn hóa sử cơng'' của Đào Duy Anh SG 1951

Trang 6

- ''Cơ cấu tổ chức của Làng Việt cổ truyền Bắc Bộ'' của Trần Từ NXBKHXH Hà Nội 1984

- Một số công trình nghiên cứu về làng - xã của Giáo s Phan Đại Doãn

- Kỷ yếu hội thảo văn hoá làng Thanh Hoá- sở văn hoá thông tin-1990

Và một số các tài liệu thông sử khác có liên quan đến đề tài nh: LịchTriều Hiến Chơng Loại Chí, Đại Việt Sử Ký Toàn Th, Đại Nam Nhất ThốngChí … và đây

Các tài liệu trên đã có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứudòng họ trên cả nớc nói chung và ở Cổ Bôn nói riêng đối với sự phát triển của

đất nớc, của dân tộc Từ đó đặt ra nhiệm vụ là cần phải trực tiếp đi sâu nghiêncứu một cách toàn diện hơn, có hệ thống hơn về dòng họ và quan hệ dòng họ ở

Cổ Bôn để để giúp chúng ta thấy đợc sự đóng góp của các dòng họ ở Cổ Bôntrong quá trình lịch sử cũng nh truyền thống văn hoá của dân tộc

3-Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài.

3.1.Phạm vi :

Dựa vào cơ sở tài liệu hiện có và qua quá trình khảo sát thực địa tại địa

phơng, phạm vi nghiên cứu là vấn đề Dòng họ và quan hệ dòng họ của ngời Việt

ở làng Cổ Bôn, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

3.2 Nhiệm vụ :

Đề tài chủ yếu nghiên cứu về các dòng họ và mối quan hệ dòng họ.Những đóng góp của các dòng họ đã làm nên một làng Cổ Bôn “địa linh nhânkiệt” của xứ Thanh Truyền thống văn hoá của làng Cổ Bôn xa nay đã đợc cácthế hệ tiếp nối và phát huy.Vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôimuốn đề cập đến một số vấn đề sau:

-Tìm hiểu toàn diện và có hệ thống quá trình hình thành và phát triển củacác dòng họ ở Cổ Bôn, thấy đợc vai trò của dòng họ trong quá trình xây dựng vàphát triển của làng xã nói chung và làng Cổ Bôn nói riêng

- Góp phần tìm hiểu về dòng họ và các mối quan hệ dòng họ ở Cổ Bôn

Trang 7

- Từ đó giúp chúng ta hiểu biết tốt hơn về vốn văn hóa truyền thống củalàng Cổ Bôn.

- Bớc đầu nêu lên những đóng góp của các dòng họ trong việc quản lýlàng, xã trong giai đoạn hiện nay ở Cổ Bôn

4-Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu.

-T liệu gốc.

Nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở Cổ Bôn, chúng tôi đã xửdụng các t liệu điều tra ở làng Cổ Bôn, gia phả các dòng họ, lý lịch các di tíchlịch sử - văn hóa nh: đền thờ dòng họ Cao, từ đờng dòng họ La, nhà thờ họNguyễn và các sắc phong, văn bia, câu đối, hoành phi, hơng ớc, câu đối … và đâytrongcác từ đờng dòng họ ở Cổ Bôn, các tài liệu chép tay đợc lu giữ ở các từ đờngdòng họ, ngoài ra còn có các tài liệu địa chí ở Thanh Hoá và các tài liệu có liênquan

-Tài liệu tham khảo.

Bên cạnh các nguồn tài liệu gốc chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu

khác nh : Đại Việt Sử Ký Toàn Th, Gia phả khảo luận và thực hành của Dã Lam

Nguyễn Dức Dụ; Việt Nam văn hóa sử cơng của Đào Duy Anh; lịch sử ViệtNam của Trơng Hữu Quýnh; Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ củaTrần Từ; Làng cổ truyền Việt Nam do Vũ Ngọc Khánh chủ biên, tài liệu của cácnhà nghiên cứu địa phơng và trung ơng

Ngoài nguồn tài liệu trên, tôi còn sử dụng các tài liệu công cụ để tra cứu

nh : Từ điển các nhân vật Việt Nam của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn BáThế, Từ điển xã hội học, tham khảo cuốn Các nhà Khoa Bảng Việt Nam 1075-

1919

-Tài liệu điền dã.

Sau nhiều lần nghiên cứu thực địa tại địa phơng chúng tôi đã khảo sát hầuhết các từ đờng, đền thờ dòng họ ở Cổ Bôn, đã tìm hiểu, ghi chép và gặp gỡ,

Trang 8

phỏng vấn các cụ cao tuổi của các dòng họ của làng để tìm hiểu nghiên cứu vềdòng họ và mối quan hệ dòng họ ở Cổ Bôn.

4.2 Phơng pháp nghiên cứu.

Để có thêm đợc những nguồn tài liệu, chúng tôi còn tiến hành su tầm,

tích lũy tài liệu ở th viện và bảo tàng tổng hợp; rập chép bia kí, hoành phi, câu

đối, gia phả chữ Hán Sao chép và chụp ảnh các sắc phong, sử dụng các phơngpháp phỏng vấn, điều tra xã hội học, nghiên cứu thực địa tại các đền thờ, từ đ-ờng các dòng họ ở Cổ Bôn

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã vận dụng phơng pháp lịch sử vàphơng pháp lôgic để trình bày quá trình hình thành dòng họ và phát triển dòng

họ ở Cổ Bôn So sánh, đối chiếu gia phả, bia kí với chính sử Từ đó, đánh giá,phân tích tổng hợp mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa các dòng họ và thiếtchế làng xã ở Cổ Bôn

5- Đóng góp của đề tài.

5.1 Đóng góp khoa học.

Khóa luận sẽ cung cấp và giới thiệu về các dòng họ và quá trình phát triểncủa một số dòng họ lớn trên đất Cổ Bôn, làm cho ngời đọc hiểu hơn về nhữngdòng họ lớn ở Cổ Bôn với những nét văn hóa truyền thống quý báu, góp phầngiáo dục đạo đức, t tởng nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc ở ngay chính quêhơng mình

Nghiên cứu dòng họ và quan hệ dòng họ ở Cổ Bôn còn góp phần làmsáng tỏ thêm những sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sử ở Cổ Bôn trong quákhứ mà chính sử nhắc đến một cách không đầy đủ

Khóa luận sẽ làm phong phú thêm bộ sử của địa phơng và hy vọng trởthành nguồn t liệu để góp phần vào nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội vàcon ngời xứ Thanh, cũng nh đáp ứng đợc phần nào trong việc dạy học môn lịch

sử địa phơng trong các trờng phổ thông ở Cổ Bôn

Trang 9

Ngoài ra, đề tài còn góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc,khôi phục văn hóa truyền thống làng xã, đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH nôngnghiệp nông thôn.

6-Bố cục của đề tài

Trang 10

B Nội dung Chơng 1: làng Cổ Bôn.

1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội làng Cổ Bôn.

đồi 0,25ha Dân số hiện nay (đến ngày 30-6-2004) là 6529 nghìn ngời

Cổ Bôn nằm ở trung tâm huyện Đông Sơn và cũng gần nh là trung tâm

của vùng đồng bằng châu thổ sông Mã, nằm trong vùng địa linh nhân kiệt của

Xứ Thanh, xung quanh làng là những vùng đất với những làng văn hoá, làng võ,làng nghề, những trung tâm sinh hoạt văn hoá phật giáo nổi tiếng

Phía Bắc của làng là dòng sông Chu, với những cảnh trên bến dới thuyềntấp nập Những làng nh làng Go, làng Phú, làng Hồng đợc mọi ngời biết đến với

lễ hội đua thuyền trên sông vào những dịp đầu xuân Ca dao vùng này đã ghi lạiquang cảnh tấp nập của lễ hội này:

"Năm làng bắt lái chèo bơi

Chèo từ làng Phú tới nơi làng Hồng

Nớc lên cho cánh chim tung

Năm làng năm lá cờ chung cột lèo" [12;366 ]

Dọc theo bờ Nam dòng sông Chu có nhiều di tích lịch sử tôn giáo nổitiếng, trong đó chùa Vồm - một trong những trung tâm phật giáo của vùng, với

Trang 11

pho tợng phật cao 9 mét đợc tạc vào vách núi đá ven sông, đã đợc nhà nớc côngnhận là di tích lịch sử văn hóa.

Cùng ở phía Bắc, cách Cổ Bôn không xa là làng Vạn Hà, quê hơng của vị

tể tớng Nguyễn Quán Nho - ngời đã để lại nhiều tấm gơng về trí thông minh,

hiếu học và đức độ Nhân dân trong vùng vẫn còn truyền tụng mãi câu ca "Tể

t-ớng Vãn Hà thiên hạ âu ca" nh vừa để ngợi ca tài đức của ông, vừa để giáo dục

truyền thống cho thế hệ trẻ ngày nay

Phía Tây, qua cánh đồng làng là Kẻ Dị, Kẻ Chè, nơi có nghề thủ công đúc

đồng nổi tiếng và cũng là quê hơng của nhà sử học đầu tiên của nớc Việt Nam:

Lê Văn Hu, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và dùi mài kinh sử Kẻ Chè, Kẻ Dị còn là

quê hơng của Bộc Xạ Lê Lơng - một "mạnh thờng quân’’ở thế kỷ X, Ngời đã

từng có công giúp Lê Hoàn phá Tống, mở mang vùng đất Cửu Chân

Phía nam của Làng là đất Viên Khê (nay thuộc xã Đông Anh) - quê hơngcủa Nguyễn Mộng Tuân, một trong những nhà nho lớn thời Lê Và đây cũng làtrung tâm sinh hoạt văn hóa của cả vùng đồng bằng châu thổ sông Mã Các kỳ

lễ hội, diễn trò theo định kỳ hằng năm, nơi đây là điểm hẹn của du khách thậpphơng Ngời dân nơi đây vẫn rất tự hào với lễ hội của vùng này:

"Năm năm một khóa trò lề

Lấy chồng hàng Tổng thì về mà coi

Ba năm một khóa trò chơi

Đông, Tây, Nam, Bắc xin mời về đây." [ 16; 216 ]

Phía Đông, cách làng Cổ Bôn một đỗi ruộng sâu là quê hơng của ThiềuThốn (nay thuộc Đông Tiến - Đông Sơn), vị dũng tớng thời Trần Ông cũng là

ông tổ của dòng họ Thiều ở Cổ Bôn Trong "Đại Việt sử ký toàn th" đã ghi nhận

ông là ngời có công giữ yên vùng biên giới Phía Bắc và vỗ về binh lính nơi biên

ải

Làng Cổ Bôn có hai con sông chảy qua đó là Phồn Giang hay còn gọi làKênh Nhà Lê và Nông Giang là nguồn cung cấp nớc chủ yếu tới tiêu cho đồngruộng, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông đờng thủy

Trang 12

Từ Kênh Nhà Lê, thuyền bè ở Cổ Bôn có thể ngợc dòng ra sông Chu,sông Mã để lên vùng rừng núi thợng nguồn hoặc xuôi dòng ra biển cả vào Nghệ

An hoặc đến các miền đất khác Cũng từ Cổ Bôn theo dòng Nông giang thuyền

bè qua lại đa gỗ, luồng, nứa và các lâm sản khác từ Bái Thợng về xuôi buôn bán

và rồi lại vận chuyển nông, hải sản ngợc lên

Giao thông đờng bộ qua Cổ Bôn là những tuyến đờng liên hơng, liênhuyện từ Giàng (xã Thiệu Dơng, huyện Thiệu Hóa) qua Thiệu Giao về làngQuỳnh Đôi gặp quốc lộ 45 ở Phố Bôn Từ đây, theo quốc lộ 45 để đi đến cáchuyện miền nuí hoặc xuôi về thành phố Thanh Hóa, trung tâm văn hóa, kinh tế

và chính trị của cả tỉnh

Ngoài quốc lộ 45 chạy qua trung tâm Cổ Bôn dài 2km còn có hệ thống ờng liên thôn, liên xã đã và đang đợc mở rộng phục vụ thiết thực cho sự nghiệpphát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của ngời dân Cổ Bôn Hệ thống kênh mơngtới tiêu cả xã dài 10 km là điều kiện thuận lợi để ngành nông nghiệp đủ sứcchống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt nắng lắm, ma nhiều, thực hiện thâmcanh, tăng vụ

đ-Với điều kiện tự nhiên thuận lợi nh vậy, đã cho phép Cổ Bôn phát triểnnghề trồng lúa nớc, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, phát triển nghề nuôitrồng thủy sản nớc ngọt Tuy vậy, Cổ Bôn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới giómùa nên thiên nhiên cũng gây không ít khó khăn nh bão lụt, hạn hán Đâycũng chính là thử thách với ngời dân Cổ Bôn Điều đó đặt ra cho những ngờilãnh đạo, quản lý phải biết phát huy thế mạnh và khắc phục khó khăn để đa CổBôn - Đông Thanh vững bớc đi lên

1.1.2 Đời sống kinh tế- xã hội của ngời dân Cổ Bôn.

Cổ Bôn là vùng đồng bằng nên địa hình khá ổn định, ít đồi núi C dân Cổ

Bôn xa, nay sống quanh đờng liên hơng, liên huyện là quốc lộ 45 và dọc theodòng Phồn Giang- kênh đào Nhà Lê chạy qua làng Cổ Bôn Đó là con sông gắnliền với những cuộc tuần du của các ông hoàng, bà chúa Tơng truyền PhồnGiang xa kia nớc rất trong, có mùi và vị tinh khiết Có lần Thái hậu nhà Trần(1225- 1400) khi vãn cảnh du xuân đến bến sông Phồn, thấy nớc sông trong,thơm và xem đó nh một sự kì lạ, Thái hậu cho rằng phải có một vị thần nào đó

Trang 13

cai quản đoạn sông này Vì vậy Bà cho lập đền thờ Thần ở đây và cho tu sửa lạiquai đê trớc đây đã bị sụt lở Đồng thời, Bà còn cho xây dựng một giếng đá bêncạnh để lấy nớc thờ cúng Hiện nay giếng này vẫn còn và đợc ngời dân gọi là

'Giếng Hà thơm''.

Bên cạnh dòng Phồn Giang đã đi vào truyền thuyết còn có dòng NôngGiang, cũng là một dòng sông có nguồn nớc mát là nơi cung cấp nớc cho c dân

Đồng thời dòng sông này còn làm tăng thêm vẻ đẹp cho cảnh quan nơi đây

Nhờ có vị trí thuận lợi về mặt địa lý, khí hậu cộng thêm con ngời Cổ Bônthuần hậu đã làm cho vùng đất này trở thành một vùng đất trù phú của cả huyện

Đông Sơn ở Cổ Bôn còn lu truyền mãi bài thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây:

''Đất Trang Bôn hữu tình sơn thủy Núi Quỳnh Đôi nh lũy trờng thành Bốn mùa hoa trái xanh tơi

Sông Bôn uốn khúc vây quanh trớc làng Cảnh đẹp nhất dới giang, trên chợ Việc giao thông thủy lợi trên đờng Ngời trông cảnh cũng yêu thơng Cảnh trông ngời cũng vấn vơng tơ lòng.'' [16;312 ]

Mặc dù là một làng cổ nhng Cổ Bôn lại rất khác với các làng cổ truyềnthống khác Làng không có lũy tre bao bọc ngăn cách đờng làng, không có điếmcanh cổng làng sáng chiều gõ mõ, mà làng nh đợc mọc lên ở giữa những cánh

đồng màu mỡ phì nhiêu, bốn mùa đơm hoa, kết trái Giữa làng là những con

đ-ờng liên hơng, liên huyện chạy qua nên Cổ Bôn trở thành một kiểu làng ''mở''.

Do nằm trên vùng đất khá bằng phẳng, lại có hai con sông chảy qua địa phậncủa làng nên địa chất nơi đây không có nhiều biến động Vì vậy đất đai ở CổBôn đợc bồi đắp bởi phù sa, cho nên mùa màng cây cối trong vùng lúc nào cũngxanh tơi, mùa nào thức nấy tạo cho đời sống kinh tế của c dân nơi đây thêmphồn thịnh

Trang 14

Nh vậy Cổ Bôn có đầy đủ các yếu tố của một vùng đất để phát triển kinh

tế đa ngành, có sông, có núi, có cảnh quan thiên nhiên tơi đẹp, có đời sống vănhóa truyền thống đặc trng một vùng nông thôn đất Việt

Trải qua hàng ngàn năm xây dựng và phát triển đất nớc, nhân dân Cổ

Bôn đã hun đúc nên truyền thống quý báu: Đó là lòng dũng cảm trong đấu tranhchống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc thân yêu - Đó là tinh thần lao động cần

cù, sáng tạo, vợt khó vơn lên, dám nghĩ, dám làm trong xây dựng kinh tế Bêncạnh nghề làm ruộng có từ buổi đầu lập ấp, dựng làng, thì nhiều nghề mới cũng

đợc hình thành nh : các nghề mộc, mây tre, đan lát, nghề hàng xáo, làm bún,chế biến nông sản, xây cất, nghề hàng mã, nghề rèn, nghề thầy thuốc Trongmột gia đình ở Cổ Bôn có thể có tất cả các nhân khẩu vừa làm nông nghiệp, làmthủ công lại vừa buôn bán Cũng có gia đình thì ngời này làm nghề nông, ngờikia làm thủ công nghiệp, ngời khác buôn bán nhng lại hội tụ trong một gia đìnhnông nghiệp

Từ đó Cổ Bôn sớm trở thành một cơ sở giao lu buôn bán nối liền Cổ Bônvới các trung tâm kinh tế, chính trị trong và ngoài tỉnh Chợ Cổ Bôn ra đời rấtsớm và chí ít đến cuối thế kỷ XV đã trở thành một chợ lớn ở trong vùng Mặthàng chính của ngời Cổ Bôn buôn bán ở chợ làng là the, lụa và các sản vật của

quê hơng:

''Buôn bông là xã Làng Đà Dệt cửi trong nhà là xã Bến Quan Nấu rợu có xã làng Chan ”… [16;329] [16;329]

Thành phần tham gia thơng nghiệp chợ làng Cổ Bôn bao gồm: Một số

ngời buôn bán chuyên nghiệp có lều có quán nh hàng xén, hàng vải, hàng thịt,hàng cá, hàng lơng thực, thực phẩm chế biến; Một số là nông dân chạy chợ, th-ờng xuất hiện vào dịp nông nhàn hoặc từ những nhà đông ngời thừa nhân lực vànhững ngời tiểu nông đem các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủ công đi trao

đổi buôn bán Qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, nghề buôn bán ở Cổ Bôn

đã trở thành thành phần kinh tế quan trọng của làng Chợ đã tác động sâu sắcnhiều mặt trong đời sống và biến Cổ Bôn với kết cấu độc đáo là làng và chợ làmmột Vào các ngày phiên chợ, làng Cổ Bôn có dáng dấp nh một thị trấn sầm uất

Trang 15

Mặc dù có sự đan xen nh vậy nhng các nghề ở Cổ Bôn không bị coi lànghề phụ nh ở nhiều nơi khác ở đây nghề nào tham gia vào thì đều đợc coi lànghề chính Trong một cơ cấu kinh tế và phơng thức tổ chức sản xuất, gia đình

là một tế bào kinh tế hỗn hợp và làng là cộng đồng kinh tế liên kết các hỗn hợp

đó lại với nhau Vì lẽ đó tính ''phờng hội'' trong các ngành nghề ở Cổ Bôn thì thấp nhng ''tính làng'' lại rất cao Nhu cầu sản xuất trao đổi đã buộc ngời dân Cổ

Bôn phải hớng ngoại và chính sách ''hớng ngoại'' là một nét đặc sắc trong cấutrúc làng Cổ Bôn

Có thể nói, với điều kiện tự nhiên phong phú, cùng với sự đa dạng trongcác ngành nghề đã làm cho cuộc sống của ngời dân nơi đây ngày càng khởi sắc

1.2 Truyền thống lịch sử và văn hoá làng Cổ Bôn.

1.2.1.Truyền thống lịch sử làng.

Là một làng quê văn hiến, đất học, có nhiều ngời đỗ đạt cao, nhiều nhà

nho đức nghiệp, nơi Lê Văn Hu dùi mài kinh sử để trở thành nhà Sử học lớnnhất của đất nớc Nơi có nhiều di tích lịch sử, văn hóa đợc xếp hạng cấp quốcgia và cấp tỉnh

Nhiều tài liệu lịch sử cho biết, Cổ Bôn là một làng quê có lịch sử pháttriển lâu đời Những dấu ấn văn hóa vật chất còn lại cho thấy từ khi châu thổsông Mã vừa mới kiến tạo, con ngời đã chinh phục khai phá vùng đất này, cho

đến thời các vua Hùng dựng nớc, nơi đây đã hình thành làng cổ Sự biến đổi tênlàng từ Bồ Lồ Trang thời Trần, Tứ xã Bôn thời Lê rồi Kẻ Bôn - Cổ Bôn ngàynay đã phản ánh sự phát triển của làng qua các thời kỳ đó

Ngời Cổ Bôn xa và nay rất đỗi tự hào về làng quê mình Ca dao xứ Thanh

đã xếp vùng đất Cổ Bôn là nơi "Đệ nhất trấn Thanh Hoa"

Trang 16

thành và phát triển từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn cách ngày nay hơn 2000 năm.Trên một doi đất cách làng mấy trăm mét tại cánh đồng xã Đông Tiến, các nhàkhảo cổ đã phát hiện ra một số dấu vết của hai khu làng cổ tồn tại từ tr ớc khi cóvăn hóa Đông Sơn và cả sau khi văn hóa Hán bành trớng ở đây Trong địa phậncác làng thuộc đất Cổ Bôn xa vẫn còn tìm thấy khá nhiều dấu tích của văn hóa

Đông Sơn và cả văn hóa Hán Lịch sử địa phơng không ghi chép về làng cổ nơi

đây nhng dòng lịch sử dân gian và lịch sử các dòng họ còn ghi chép truyền đờitrong các gia phả cho thấy: Trong các thời kì từ thời Lý- Trần- Lê mà đặc biệt làthời Lý, làng Cổ Bôn là một trong những làng nổi tiếng của xứ Thanh vì đâykhông chỉ là một làng có truyền thống khoa bảng mà còn là nơi luôn diễn ra cáctrò diễn dân gian nổi tiếng nh : trò Thuỷ, trò Hoà lan, trò Tiên Cuội… và đâymà ngời tathờng gọi là trò Bôn

Không rõ những ngời bổ những nhát cuốc đầu tiên dựng làng xa kia ở CổBôn đã gọi làng là gì, nhng tên làng xa nhất đợc ghi trong gia phả dòng họNguyễn ở làng Phúc Triền thì vùng đất Cổ Bôn ngày nay, xa kia có tên gọi là Bồ

Lồ Trang Bên cạnh Bồ Lồ Trang là Nhạn Tháp Trang Đơn vị ''Trang'' hiện còn

lu giữ trong các tên làng cổ ở một số nơi quanh vùng đất Cổ Bôn

Đến thời Lê, Bồ Lồ Trang đợc đổi thành Cổ Bôn (hay Kẻ Bôn) và đợcnhắc đến nhiều trong ca dao dân ca ở đây cùng với các địa danh mang tên Cổ,

Kẻ trong khu vực Chẳng hạn nh bài ca dao:

''Em là con gái Kẻ Bôn

Đi bán trầu miếng nuôi chồng đi thi

Ba năm chồng đỗ kinh kỳ Chàng đi ngựa tía thiếp đi võng đào'' .[16;107 ]

Đến thời Nguyễn, Cổ Bôn thuộc tổng Thạch Khê gồm có 4 xã ( gọi là Tứxã Bôn) Đó là: xã Phúc Thọ - Phúc Triền, xã Ngọc Bôi- Kim Bôi, xã Ngọc Đôi-Ngọc Tích, xã Quỳnh Bôi Thời gian sau Ngọc Bôi tách ra thành một làng nữatên gọi là làng Cần và dinh trại Chấn quốc Bộc xạ Lê Lơng, đợc dân đến khaikhẩn lập nên làng Kiệm.Đến nay làng Cổ Bôn thuộc xã Đông Thanh, huyện

Trang 17

Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Xã Đông Thanh đã chia Cổ Bôn thành 12 thôn đặt

từ thôn 1 đến thôn 12

Ngời dân Cổ Bôn từ xa đến nay rất tự hào về làng quê của mình, một làngquê có bề dày truyền thống lịch sử với nhiều nhân vật nổi tiếng từng làm quantrong triều nh: Thời nhà Trần làng đã gắn bó với thời niên thiếu của nhà sử học

Lê Văn Hu và ở đây còn truyền tụng rất nhiều giaithoại về ông, có một giaithoại kể rằng : một lần con gái thầy đồ họ Nguyễn phơi đậu trên sân thấy Lê văn

Hu mãi nhìn không chú tâm vào bài học, thầy đồ đã ra một câu đối bắt Lê Văn

Hu đối Vế đối thầy ra là: “Sân trớc đậu, sân sau đậu, ngời muốn đậu ta cho

1.2.2 Sự hình thành văn hoá làng.

Làng Cổ Bôn, ngay từ khi thành lập, ngoài tế bào gia đình là đơn vị cơbản, huyết hệ đợc coi là thành tố quyết định sự tồn tại của làng Mặc dù hệthống hành chính của làng Việt không thông qua họ tộc, nhng họ tộc lại quy

định năng lực vị trí các cá nhân thành viên trong hệ thống làng xã Các đơn vịkhai khẩn mảnh đất Cổ Bôn, khi tạo dựng làng đã dựa vào một dòng họ lớn có

công đức nh họ Nguyễn, họ Lê, họ Thiều, họ Cao (Theo tài liệu Điền Dã do

ông La Khắc Thiệu cung cấp) Những dòng họ này đã khai phá đất Cổ Bôn và

xây dựng Cổ Bôn thành một làng trù phú Tại đây có đền thờ Đế Thích gắn liềnvới chuyện kể dân gian Ông Tiên cao cờ (đánh cờ tớng giỏi), ông luôn luônchăm lo cho đời sống ngời dân, đợc ngời dân Cổ Bôn phong làm Thần Hoàngcủa làng và lập đền thờ Ngày nay đền thờ Đế Thích vẫn còn, nằm trong địaphận làng Ngọc Tích Đền Đế Thích còn có tên gọi khác là Nghè Cả Hàng năm,nhân ngày lễ hội (18-8), ngời dân trong làng và du khách thờng đến đây tế lễ,diễn trò và vui văn nghệ

Trang 18

Mặt khác, con ngời Cổ Bôn lại hiền hòa nhân hậu, trọng nghĩa và mếnkhách, họ không phân biệt sang hèn, giữa ngời bản địa với dân ngụ c Bởi vậy,

có rất nhiều ngời đã đến Cổ Bôn sinh cơ lập nghiệp nh họ Lu ở Viên Khê

-Đông Anh đến từ thế kỷ XIV, họ La ở Bái Hà - Hoa Lộc (Hậu Lộc) đã về CổBôn từ thế kỷ XVI Dần dần làng Cổ Bôn dung nạp thêm vào cộng đồng cuảmình các nhóm dân c thuộc các họ khác nhau nh họ Phạm, họ Bùi, họ Trần, họHồ Tuy từ các nguồn nhập c khác nhau, nhng họ đã cùng sống đoàn kết, tơngthân tơng ái để cùng xây dựng nên quê hơng Cổ Bôn giầu đẹp Và chính yếu tố

đa dân c ấy, đã làm tăng thêm tinh thần thợng võ , tính nhân văn sâu sắc và ý chívơn lên của nhân dân Cổ Bôn trong suốt quá trình phát triển của làng

- Từ xa Cổ Bôn là nơi có nhiều ngời đỗ đạt cao, nhiều nhà nho nổi tiếng

đợc lu danh sử sách "Đông Sơn Tứ Bôn, Hoằng Hóa Lỡng Bột" là câu thành ngữ

nói về những địa phơng nổi tiếng văn vật của Xứ Thanh

Trên vùng đất Cổ Bôn xa có rất nhiều thầy học giỏi Từ thời Trần đã nổitiếng với ngời thầy học họ Nguyễn, không rõ ông tên gì chỉ biết trong gia phảdòng họ của nhà sử học nổi tiếng Lê Văn Hu cho biết: Thửơ nhỏ ông đã nhiềunăm dùi mài kinh sử tại nhà thầy học họ Nguyễn ở Cổ Bôn Nhờ sự kèm cặp,dạy dỗ của ngời thầy đức độ có học vấn uyên thâm, nên Lê Văn Hu đã đỗ tiến sĩvào năm 18 tuổi dới triều vua Trần Thái Tông (1217) Quý mến ngời học tròthông minh, ứng đối giỏi, thầy học đã gả con gái cho Lê Văn Hu Đến nay vẫncòn lu truyền một số giai thoại về tài ứng đối của ông trong thời kỳ đèn sách ở

Con trai của Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Khải là ngời mu lợc đợc phong

đến Binh Bộ Thợng Th và là bậc Quốc lão tham dự triều chính Cháu nội

Trang 19

Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Văn Lễ cũng đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Dần(1602) đời vua Lê Thánh Tông.

Cùng với dòng họ Nguyễn, các dòng họ khác ở Cổ Bôn nh họ Lê Khả, họCao, họ Thiều đều có nhiều ngời đỗ đạt cao, chỉ trong 25 năm đầu thế kỉ XVIIriêng ở Cổ Bôn đã có tới 5 vị đỗ Tiến sĩ, Hoàng giáp, Thám hoa Truyền thống

đỗ đạt của đất Cổ Bôn đã góp phần làm cho Cổ Bôn trở thành "đất học" của xứThanh

Tiếp nối truyền thống hiếu học của cha ông, con cháu Cổ Bôn ngày naykhông ngừng học tập, phát huy những thuyền thống tốt đẹp đó Hiện nay trongmỗi dòng họ, dòng tộc ở Cổ Bôn đều có nhiều ngơì đỗ đạt cao, chẳng hạn nhdòng họ Lê khả có tới 45 ngời, dòng họ Thiều có 25 ngời, dòng họ La có 56 ng-

ời đại học, 9 tiến sĩ và thạc sỹ Tại xã Đông Thanh hiện nay có 1 trờng mần non,

1 trờng tiểu học và 1 trờng trung học, số lợng học sinh tiểu học, trung học khá

đông đảo Theo báo cáo tổng kết công tác phát triển kinh tế - xã hội của UBNDxã Đông Thanh năm 2004, số học sinh khối mần non có 180 cháu, khối họcsinh tiểu học có 613 em, khối trung học phổ thông có 582 em Việc giáo dục,

đào tạo đã đợc thờng xuyên chú trọng đến việc nâng cao dạy và học, đa nhiệm

vụ giáo dục trở thành ý thức trách nhiệm của toàn dân Xã đã đầu t xây dựng cơ

sở vật chất cho 3 trờng đảm bảo khang trang, sạch đẹp Trờng tiểu học Cổ Bôn

Đông Thanh với 80 năm xây dựng và phát triển là một trong những trờng cótruyền thống học tốt, dạy giỏi ở Thanh Hóa Hàng năm có trên 20 cháu thi đậuvào các trờng đại học, cao đẳng trong cả nớc [3]

Nh vậy, ngời dân Cổ Bôn ngày nay không chỉ tiếp nối đợc truyền thốnghiếu học của cha ông mà còn phát huy truyền thống đó để xây dựng quê hơng,

đất nớc Qua 2 năm thực hiện xây dựng nếp sống mới theo Chỉ thị 27 của BộChính trị, xã đã có 703 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa cấp huyện, 19gia đình văn hóa cấp tỉnh, chiếm 44,2% Hiện nay, cả xã đã khai trơng 4 làngvăn hóa, trong đó làng Ngọc Tích đợc công nhận làng văn hóa cấp tỉnh, làngCần đợc công nhận cấp huyện, làng Quỳnh Đôi và làng Kim Bôi mới khai trơnglàng văn hóa cấp huyện

- Là một làng quê có lịch sử lâu đời, Cổ Bôn là nơi có nhiều di tích lịch sửvăn hóa nổi tiếng Nhiều di tích lịch sử văn hóa ở Cổ Bôn đã đợc xếp hạng cấp

Trang 20

quốc gia và cấp tỉnh Cho tới nay đã có 8 di tích lịch sử văn hóa đợc xếp hạng,trong đó có một di tích đợc xếp hạng quốc gia và 7 di tích đợc xếp hạng cấptỉnh Các di tích lịch sử này đã tạo nên chiều sâu văn hóa cho một vùng đất giàutruyền thống

Tiêu biểu nhất là di tích lịch sử đền thờ Nguyễn Văn Nghi Đây là khu ditích của một dòng họ nổi tiếng ở Cổ Bôn Khu di tích này đợc xây dựng năm

1617 dới triều vua Kính Tông, đến năm 1628 con trai Nguyễn Văn Nghi làNguyễn Khải đã mở rộng quy mô và đến đời cháu của Nguyễn Văn Nghi thì ditích đợc hoàn chỉnh dới đời vua Lê Nhân Tông Quần thể kiến trúc này bao gồmnhững kiến trúc quy mô, bề thế nhng đặc sắc nhất là tổ hợp các công trình nghệthuật bằng đá: bia đá, giếng đá, ngựa đá, voi đá, rồng đá từ loại đá quý đợc khaithác ở núi Nhồi Các nghệ nhân dân gian đã tạo nên những tác phẩm điêu khắc

đá tinh xảo Các nhà nghiên cứu đã xếp các tác phẩm điêu khắc đá ở

đây vào loại những tác phẩm điêu khắc điển hình cho nghệ thuật điêukhắc dân gian thế kỷ XVII Các tác phẩm điêu khắc này đã tạo nên một điểmtham quan du lịch hấp dẫn trên hành trình du lịch xứ Thanh

Ngoài các công trình kiến trúc lịch sử văn hóa đã đợc nhà nớc công nhận,

ở Cổ Bôn còn nhiều di tích lịch sử văn hóa mang đậm nét riêng của một làngquê vùng châu thổ sông Mã

- Một nét độc đáo tạo nên dấu ấn riêng của văn hoá phi vật thể ở Cổ Bôn

là hệ thống trò diễn dân gian mà ngời Thanh Hóa vẫn gọi là trò Bôn Theo kếtquả điều tra, nghiên cứu văn hóa dân gian, cho biết làng Cổ Bôn là một trungtâm diễn xớng dân gian ở châu thổ sông Mã, trong đó nổi bật nhất là hệ thốngngũ trò Ngũ trò gồm 5 trò diễn dân gian: trò tiên cuội, trò Hoà Lan, trò Ngô, tròThủy và trò Lăng Ba Khúc Đây là các trò diễn dân gian có nội dung phong phúvới các hình thức diễn xớng độc đáo Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đãkhẳng định vai trò của các trò diễn dân gian ở Cổ Bôn trong làng nghệ thuật dângian truyền thống

Đối với làng Cổ Bôn xa, việc diễn trò là việc hệ trọng Làng dành hẳnmột khu đất rộng (nền áng) làm nơi diễn trò Trong dịp hội làng mà làng muốndiễn trò thì Quan Viên phải trình với Nha Môn, Nha Môn phải trình với Văn Tr-

Trang 21

ởng và Văn Trởng phải trình với Hội Đồng Hơng Lão bàn bạc rồi mới quyết

định cho diễn trò Ca dao vùng Bôn đã ghi lại cảnh vui vẻ của làng khi diễn trò:

Nay mừng mở hội vui thay Bốn dân hội lệ vào ngày tháng giêng Tha vào đã đợc phong niên

Quan viên, Hơng Lão định tiền chữ "Trung"

Gái, trai, già, trẻ hòa đồng

Ai ai thì cũng một lòng âu ca [ 16; 214 ]

Để lu giữ các trò diễn truyền lại cho con cháu, làng đã cho khắc vào ván

gỗ toàn bộ văn bản trò diễn và trang phục trình diễn Các khóa diễn ở đây đợcnhân dân rất yêu thích nên đợc ngời dân Cổ Bôn tham gia hởng ứng rất nhiệttình từ việc đóng áng cho đến việc tập luyện, diễn trò Nhiều ngời đóng trò đãtrở thành nghệ nhân, tên gọi gắn liền với con trò Nhiều đoạn ca, lời hát của tròtrở thành đồng dao phổ biến trong vùng Các dịp diễn trò thu hút đông đảo ngờidân trong vùng đến tham dự Cho đến ngày nay, mặc dù có bị mai một nhngphần lớn trò diễn ở Cổ Bôn xa vẫn còn đơc lu truyền Không những thế, nét vănhóa dân gian đặc sắc trong sinh hoạt văn hóa truyền thống nơi đây còn đang đợckhai thác, bảo tồn và phát huy trong việc xây dựng làng văn hóa mới ngày nay

Bên cạnh trò diễn dân gian, Cổ Bôn xa vẫn còn nhiều phong tục khác nh:Tục giỗ chung, tục thờ Thành Hoàng, lễ cầu ma hay vẫn gọi là ''Đảo vũ'', tụccúng cơm mới, lễ Hạ Điền, Thợng Điền, tục thờ cúng tổ tiên, tục khảo thí, tụckhảo rể Hiện nay, những phong tục ấy có bị mai một đi, chỉ còn giữ lại tục thờcúng tổ tiên Nhng dù sao đó cũng là nét đẹp và đặc trng của một làng quê nôngnghiệp ở Việt Nam

Ngoài ra, trong nền văn học dân gian, Cổ Bôn đã để lại nhiều thơ ca, hò

vè, ca dao lu truyền đến tận ngày nay Qua đó, chúng ta cũng biết đợc mộtphần nào về cuộc sống, con ngời và truyền thống lịch sử của ngời dân Cổ Bôn

Trang 22

ợc các cuộc gặp gỡ thờng niên để tởng niệm tổ tiên trên phạm vi toàn quốc Tổchức UNESCO Việt Nam đã lập ra câu lạc bộ các dòng tộc, đợc những dòng họ

ở nhiều địa phơng hởng ứng Tất cả các biểu hiện đó đã nói tới sự ''phục hng'',''chấn hng'' dòng họ trong xã hội Việt Nam hiện nay

Trên lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, việc một số nhà nghiên cứu đisâu tìm hiểu dòng họ nh một hiện tợng lịch sử, xã hội và văn hóa đặc thù củacác dân tộc ở nớc ta và đã đợc báo cáo tại các hội thảo khoa học chuyên đề Ví

nh hội thảo khoa học về các dòng họ văn hiến ở Hà Nội (1996) Hội thảo vềdòng họ Nguyễn Xí ở Nghệ An (1997) và hội thảo khoa học '' văn hóa các dòng

họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến lợc con ngời Việt Nam đầu thế kỷXXI'' do hội Văn nghệ dân gian, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trờng cùngBan Dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An phối hợp với Viện nghiên cứuvăn hóa dân gian Việt Nam tổ chức

Vậy, dòng họ là gì? Bản chất của dòng họ ra sao? Tác động của dòng

họ trong đời sống sinh hoạt hiện nay nh thế nào?.

Theo Trần Từ: Tổ chức ''Họ'' không phải là cái ''Đại gia đình phụ quyền''của các t tởng cổ điển mà ''Họ'' có thể đợc xem là một dạng đặc biệt của ''gia

đình mở rộng'' [28;41] Vậy ''gia đình mở rộng'' ở đây là cái gì?

Gia đình mở rộng là một tập hợp nhiều gia đình hạt nhân hoặc gia đìnhnhỏ cùng chung tổ tiên nhng không nhất thiết cùng chung sống dới một máinhà

Còn theo quan niệm của Giáo s, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh: “Dòng họ là mộtthực thể xã hội mang tính phổ quát của loài ngời Nó hình thành trên cơ sở quan

hệ huyết thống của một quần thể ngời nhất định, thể hiện qua ý niệm về dòng

Trang 23

dõi từ một ông tổ chung Do vậy, dòng họ là một thực thể vừa mang tính sinhhọc vừa mang tính xã hội” [13; 46]

Giáo s Phan Văn Các quan niệm: Dòng họ là một hiện tợng lịch sử - xãhội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại ý thức về dòng họ là dấu hiệuquan trọng đánh dấu bớc phát triển của xã hội loài ngời từ mông muội đến vănminh [13; 59 ]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Dòng họ là một hiện tợnglịch sử xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của loài ngời Nói đến dòng họ là nói

đến những ngòi cùng huyết thống, huyết hệ, có cùng chung tổ tiên

Dòng họ, khi xã hội phân chia thành giai cấp và nhà nớc đã tiêu vong thìdòng họ với t cách là sự liên tục giữa ông cha và con cháu vẫn tồn tại Với cácdân tộc ở nớc ta thì dòng họ là tập hợp các gia đình có cùng huyết thống Một sốdân tộc nh ngời Việt, ngời H'mông khởi thủy mỗi gia tộc c trú thành các làngriêng nh: Ngô xá, Dơng xá, Lu xá Sau nhiều biến động về dân c, hiện nayphần lớn các làng đều có nhiều dòng họ, tuy nhiên vẫn có các dòng họ lớn Dovậy gia tộc, dòng họ tồn tại gắn chặt với làng xã, hòa vào và tạo dựng nên mốiquan hệ làng - xã theo kiểu ''trong họ - ngoài làng''

Theo quan hệ huyết thống, dòng họ còn có thể mở rộng với cả tộc ngời vàcả quốc gia với các ý niệm và biểu tợng '' đồng bào'', ''con rồng cháu tiên'',''tháng tám giỗ cha tháng ba giỗ mụ'', nghi lễ giỗ Tổ Hùng Vơng vào ngày mùng

10 tháng3 hàng năm Nh vậy, huyết thống, gia tộc, dòng họ đồng nghĩa với ýniệm cội nguồn, ''uống nớc nhớ nguồn'', ''tổ tông'', lòng yêu nớc và ý thức cộng

đất nớc và giáo dục truyền thống cho con cháu

ở nớc ta từng tồn tại các dòng họ văn hiến với các nhân vật kiệt xuất, đãmang lại niềm tự hào cho gia đình, dòng tộc, làng xã và cả quốc gia Do vậy văn

Trang 24

hóa dòng họ còn đồng nghĩa với sự đa dạng văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc,một nhân tố động lực thúc đẩy sự phát triển văn hóa và xã hội Việt Nam.

2.1.2 Các dòng họ chính ở Cổ Bôn.

Quá trình khảo sát các dòng họ ở Cổ Bôn, chúng tôi thấy có khoảng gần

30 dòng họ lớn nhỏ cùng chung sống đoàn kết, yêu thơng và đùm bọc lẫn nhau,cùng nhau ý thức đợc vai trò, trách nhiệm của họ tộc mình với làng xóm vàtrong việc thực hiện quy ớc làng xã, chủ trơng đờng lối của Đảng, hiến pháp,luật pháp Nhà nớc nhằm xây dựng quê hơng, đất nớc ngày càng giàu đẹp

Trong 30 dòng họ ấy, bên cạnh các dòng họ gốc ở Cổ Bôn nh họ Nguyễn,

họ Cao, họ Lê thì còn có các dòng họ từ nơi khác đến nh dòng họ Lu từ Bái

Hà đến và sau này còn nhiều dòng họ khác đến c trú nh họ Trần, họ Bùi, họPhạm, họ Hồ, họ Trơng Sự hội nhập một loạt các họ tộc đó đã làm cho c dân

Cổ Bôn thêm đông đúc và pha loãng dần yếu tố huyết hệ, làm cho quan hệ hànhchính của làng đậm nét hơn quan hệ huyết hệ Trong số các dòng họ cùng chungsống trên vùng đất Cổ Bôn thì có khoảng gần 10 họ lớn nh họ Nguyễn, họ Lê,

họ Thiều, họ Cao, họ Lu, họ La, họ Đỗ

2.1.2.1 Họ Nguyễn.

Họ Nguyễn là họ lớn nhất ở Cổ Bôn, có truyền thống khoa bảng từ xa đếnnay Vì thế họ Nguyễn đã đợc xếp vào hàng dòng dõi '' Danh gia thế phiệt'' vớinhững tên tuổi nổi tiếng nh: thầy đồ họ Nguyễn, Nguyễn Văn Nghi, NguyễnKhải, rồi Nguyễn Trừng, Nguyễn Trí Hòa Hiện nay, họ Nguyễn ở Cổ Bôn đợcchia làm hai dòng họ lớn đó là dòng họ Nguyễn ở thôn Phúc Triền và dòng họNguyễn ở thôn Ngọc Tích

- Dòng họ Nguyễn ở thôn Kim Bôi

Đây là dòng họ đã tồn tại lâu đời ở Kim Bôi Dòng họ này đã có nhiềucông lao đóng góp lớn đối với vùng đất Cổ Bôn ngay từ khi sơ khai lập ấp, lậplàng Nhng cho đến đời Nguyễn Hồ thì dòng họ này mới phát tích mạnh mẽ chonhững đời sau

Nguyễn Hồ là Khai Quốc Công Thần của triều Lê Sơ, là ngời có nhiềucông trạng lớn nên đợc Vua phong tớc Đại T Minh Nguyễn Hồ là cao tổ của

Trang 25

Nguyễn văn Nghi Ông nội Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Uyên làm tri huyện và

đợc phong chức Thái Bảo Đến Nguyễn Văn Nghi thì dòng tộc này phát triểnrực rỡ nhất

Nguyễn văn Nghi là ngời nổi tiếng thông minh, học giỏi, đỗ cao Ông đỗ

Đệ nhất Giáp chế khoa, khoa thi năm Giáp Dần (1554) đời vua Lê Trung Tông,

và “đợc giao nhiều trọng trách: Hàn Lâm Viện, Đông các Đại học sĩ, Tả Thịlang bộ Binh, rồi bộ Lại… và đâyvà làm thầy dạy của hai Vua: Lê Anh Tông và Lê ThếTông” [32; 116] Theo nhà sử học Phan Huy Chú trong ''Lịch triều hiến chơngloại chí'' đã xếp Nguyễn văn Nghi vào danh sách các “Nhà nho đức nghiệp cùngvới các nhà nho danh tiếng khác nh: Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Vũ Quỳnh,Nguyễn Bỉnh Khiêm khi chết ông đợc vua Lê phong là Phúc Thần”.[ 4; 231]

Tiếp nối dòng tộc của mình, Nguyễn Khải con của Nguyễn văn Nghi làngời mu lợc, có công lớn với đất nớc nên đợc sử sách ghi chép nhiều về ông.Trong ''Đại Việt sử kí toàn th '' có ghi: “Tháng 12 năm Hoàng Định thứ 2 (1602)sai Đăng Quận Công Nguyễn Khải đem quân đánh dẹp các địa phơng ở SơnNam, Kinh Bắc Đến tháng 2 năm sau mới trở về Vào tháng 2 niên hiệu ĐứcLong thứ 4 (1632) Sai bọn lễ bộ thiếu úy Lan Quận Công Nguyễn Thực cầmphù tiết mang sách vàng, ấn bạc phong Tả Tiệp quân dinh Thái phó Sùng QuậnCông Trịnh Kiều làm khai sứ tiết chế thủy bộ chu dinh kiêm tổng nội ngoại lạicho bọn Thái Bảo phụ quận công Nguyễn Hắc và Binh Bộ Thợng Th Thái Bảo

Đăng Quận Công Nguyễn Khải làm Thái Phó Tháng 3 ngày 10 niên hiệu ĐứcLong thứ 4 (1632) có nguyệt thực Cho bọn Lễ bộ thợng th Nguyễn Thực Binh

Bộ Thợng Th Nguyễn Khải đến lấy danh nghĩa là Quốc lão tham dự triều chính”[7; 236-239]

Theo sách “Võ tớng Thanh Hóa trong lịch sử” ( nxb, Quân đội Nhândân ) thì Nguyễn Khải lại có tên là: Nguyễn Danh Khải ông có công trải quanhiều trận đánh để bảo vệ kinh thành Vạn Đại, ông đều xung trận trớc tiên, nêugơng sáng cho binh sĩ Có lẽ trong các tớng, ông có danh hiệu dài nhất gồm 19chữ " Hiệp Mu Dơng Võ Công thần, Trung quân Đô đốc, Phủ Tả Đô đốc, Phó t-ớng Đăng Quận Công "

Trang 26

Với công lao to lớn đó, nhân dân đã xem ông là bậc đại thần đức độ, cócông lớn với xã tắc nên đợc nhân dân mến mộ kính phục, ca tụng tiếng thơmtruyền lại cho muôn đời sau.

Đến đời cháu của Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Văn Lễ là nhà khoa bảng

đỗ đạt cao, ông đỗ Hoàng Giáp khoa Nhâm Dần (1602) đời vua Lê Kính Tông,

ông làm tới chức Hàn Lâm viện hiệu lý tớc nam

mộ binh vào giữ kinh thành đợc trao chức Quân Cơ Trấn oai Sau khi nhàNguyễn đánh đổ Tây Sơn vào năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Trí Hòa đợc saiquản Tri Thuận chính châu các việc quân dân Một thời gian sau ông đợc nhậnchức Hiệp Trấn các xứ Tuyên Quang, Sơn Nam, Hải Dơng Trong thời gianlàm quan ông là một ngời yêu mến nhân dân, đặc biệt có công đắp đê

Kiêm Thành ngăn biển, cho nhân dân khai phá đất đai sinh sống Khi

đựơc sai đến giám Tri các xứ Thái Nguyên, Đông Triều, đúc tiền kẽm, ông dâng

sớ xin thôi việc ở trấn để khai mỏ chì ở Đông Triều và mỏ chì ở Thái Nguyên,hàng năm nộp thuế đầy đủ Cũng Theo ''Đại Nam nhất Thống Chí'' thì “mùaxuân năm Mậu Dần (1818) ông bị bệnh khi cha trổ hết tài trí của mình , đếnngày 19/10 Ông mất ở Hải Dơng thọ 63 tuổi Khi mất, ông đợc phong tặng là

Đoan Nhã Công Thần, Thông Chơng Đại Phu, T Chính Thơng Khanh” [8;281]

Qua những tài liệu tìm thấy ở Cổ Bôn và chính sử cho thấy dòng họNguyễn ở Phúc Triền là dòng họ không chỉ nổi tiếng về khoa bảng văn võ song

Trang 27

toàn mà còn nổi tiếng về tài năng, đức độ đáng để cho con cháu đời sau phải tônkính và học tập.

tế lễ của ngời dân Cổ Bôn, của dòng tộc khi ông mất Khi khảo sát đền thờNguyễn Trừng tại xón Cần chúng tôi còn đợc biết có hai sắc phong, một của

ông Nguyễn Lạm làm đốc lơng ở huyện Quảng Xơng thời Tây Sơn khi QuangTrung tiến quân ra Thăng Long đại phá quân Thanh, và một của Nguyễn Giámlàm tri huyện nhng không rõ thời nào

Ngày nay, con cháu của dòng tộc họ Nguyễn ở Cổ Bôn không chỉ tự hào

về dòng họ mình mà còn luôn luôn ý thức phải phát huy đợc truyền thống của

tổ tiên, nhất là trong công cuộc xây dựng đất nớc hiện nay

2.1.2.2 Họ La.

Họ La là một dòng họ nổi tiếng tồn tại lâu đời trên đất nớc ta Thủy tổcủa dòng họ La là La Viện đợc phong tặng ấp Lãng Chân Nhân Theo Hồ

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

I- Các nhà khoa bảng ở cổ bôn - Dòng họ và quan hệ dòng họ ở làng cổ bôn (xã đông thanh   huyện đông sơn   tỉnh thanh hoá)
c nhà khoa bảng ở cổ bôn (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w