nhng riêng dòng họ Phan ở Đông Thành nổi danh trong lịch sử ở phơng diện võ công, các nhân tài của dòng họ đã xuất hiện đúng lúc: đó là khi lịch sử yêu cầu những võ tớng để dẹp giặc và ổ
Trang 1Lời cảm ơn
Hoàn thành luận văn cũng chính là lời cảm ơn chân thành nhất của tác giả tới PGS Hoàng Văn Lân vì sự hớng dẫn trực tiếp, giúp đỡ tận tình của thầy trong suốt thời gian qua Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Trọng Văn cùng các thầy, cô giáo ở khoa sau đại học, khoa Lịch sử – Trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu
Và cũng qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hội đồng gia tộc họ Phan, đặc biệt là các bác trong họ nh bác Phan Bá Đồng, Phan Tơng, Phan Hoằng Nậm, thầy giáo Phan Văn Tam, thầy giáo Phan Huy Thạch, Th viện Nghệ An, Th viện Đại học Vinh, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An, UBND huyện Yên Thành đã cung cấp tài liệu giúp tác…giả hoàn thành luận văn
Tác giả cũng đặc biệt cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Vinh, ngày 6 tháng 1năm 2007
Tác giả
Phan Thị Hoài
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu
I Lý do chọn đề tài 5
II Lịch sử vấn đề 4
III Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài 8
IV Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 9
V Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn 11
VI Bố cục luận văn 12
Nội dung Chơng I Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Phan trên đất Đông Thành (Yên Thành Nghệ An) từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX– 1.1 Vài nét về mảnh đất và con ngời Đông Thành (Yên Thành – Nghệ An) 13
1.1.1 Hình thành địa danh 13
1.1.2 Địa hình và điều kiện tự nhiên 13
1.1.3 Truyền thống văn hoá của c dân Yên Thành 15
1.2 Quá trình phát triển của dòng họ Phan trên đất Đông Thành từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX 22
1.2.1 Dòng họ Phan định c trên đất Đông Thành 22
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Phan trên đất Đông Thành từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX 26
Chơng II Những đóng góp của dòng họ Phan ở Đông Thành (Yên Thành Nghệ an) – đối với lịch sử dân tộc từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX 2.1 Thời trung đại 36
Trang 32.1.1 Thời Lê 36
2.1.1.1 Thời Lê Thái Tổ ( Lê Lợi) 36
2.1.1.2 Thời Lê Trung Hng 46
2.1.2 Thời Tây Sơn 71
2.2 Thời cận hiện đại 73
2.2.1 Cuối thế kỷ XIX 73
2.2.2 Đầu thế kỷ XX 75
2.2.3 Giai đoạn từ 1930 đến 1945 78
2.2.4 Giai đoạn từ 1945 đến 1975 81
2.2.5 Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỷ XX 83
Chơng III Truyền thống văn hoá của dòng họ Phan 3.1 Truyền thống võ công 85
3.2 Truyền thống khoa bảng 91
3.3 Từ đờng, lăng mộ 95
3.3.1 Từ đờng 95
3.3.2 Lăng mộ 102
3.3.3 Giá trị lịch sử, nghệ thuật văn hoá 106
Kết luận 108
Tài liệu tham khảo 112
Phụ lục I 115
Phụ lục II 117
Phụ lục III 121
Phụ lục IV 124
Phụ lục V 128
Phụ lục VI 133
Trang 4và anh hùng của dòng họ cần đợc làm sáng tỏ để thế hệ con cháu đợc tự hào về
tổ tiên mình, trên cơ sở đó từng bớc học tập và phát huy
1.2 Ngày nay khi đất nớc thống nhất, thì nhu cầu hớng về cội nguồn của con ngời ngày càng lớn Do đó nghiên cứu, tìm hiểu về dòng họ một mặt thể hiện đạo lý “ uống nớc nhớ nguồn” Đồng thời thông qua quá trình nghiên cứu, truyền thống văn hoá dòng họ, của dân tộc từng bớc đợc khẳng định
1.3 Dòng họ Phan ở Đông Thành (Yên Thành – Nghệ An) có nguồn gốc từ Hoằng Hoá, Thanh Hóa, di c đến Yên Thành vào cuối thế kỷ XIV Trải qua hơn 600 năm lịch sử với 23 đời, đến nay con cháu họ Phan có mặt hầu khắp huyện Yên Thành và ở nhiều nơi khắc
Trong thực tế, dòng họ này có nhiều đóng góp lớn trong lịch sử dân tộc, cống híên nhiều nhân tài cho đất nớc, đặc biết ở thời kỳ Lê Trung Hng Do đó nghiên cứu về dòng họ Phan ở Đông Thành (Yên Thành – Nghệ An) giúp chúng ta nhận thức đúng đắn hơn về gia tộc, cộng đồng và mối quan hệ giữa các dòng họ Trên cơ sở đó phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực, góp phần củng cố mối đoàn kết toàn dân
Trang 51.4 Dòng họ là một hiện tợng lịch sử nên có sản sinh, có vinh thăng, có suy thoái, thậm chí có khi không còn tồn tại nữa Nhng cũng có những dòng họ
đợc cả vùng hay cả nớc biết đến, thờng những dòng họ này có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc và thờng có những nhân vật “tiêu biểu” ở Đông Thành, nhân vật tiêu biểu của họ Bạch là trại trạng nguyên Bạch Liêu, của họ Hồ là Hồ Tông Thốc, của họ Phan là chánh sứ Bái Dơng Hầu –Phan Vân, Phan Cảnh Quang, Phan Công Tích Các nhân vật tiêu biểu của những dòng họ trên có khi
là anh hùng dân tộc, có khi là danh tớng
Các nhân vật đó xuất hiện trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, điều kiện xã hội khác nhau Nhng họ là niềm tự hào của dân tộc, của dòng họ, của ngời trong họ, mỗi khi nhớ về cội nguồn là nhớ tới nhân vật đột khởi đó, cá nhân đó
đã trở thành nhân vật lịch sử Đề tài này cũng nhằm xác định một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Phan ở Đông Thành với những đóng góp cụ thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc từ thế kỷ XV đến thể kỷ XX
1.5 Trong lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử văn hoá dòng họ nói riêng,
có rất nhiều dòng họ nổi danh về truyền thống khoa bảng, nh họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Chơng – Nghệ An, họ Hồ ở Quỳnh Lu – Nghệ An nhng riêng dòng
họ Phan ở Đông Thành nổi danh trong lịch sử ở phơng diện võ công, các nhân tài của dòng họ đã xuất hiện đúng lúc: đó là khi lịch sử yêu cầu những võ tớng
để dẹp giặc và ổn định đất nớc Trải qua nhiều thế kỷ, dòng họ này đã tham gia vào những biến động của đất nớc Nghiên cứu về dòng họ là việc hết sức cần thiết nhằm khẳng định những đóng góp to lớn của các thế hệ tổ tiên, ông cha trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ dân tộc
II Lịch sử vấn đề
Trở về cội nguồn, với dòng họ đã và đang trở thành vấn đề lớn đối với ngời Việt Nam Hiện nay, vấn đề đó đang đợc giới nghiên cứu trong cả nớc
Trang 6chẽ với vận mệnh của đất nớc nh vậy Lịch sử Việt Nam trớc đây phải chép theo triều đại, tức là chép theo dòng họ, từ họ Khúc đến họ Nguyễn Sự suy thịnh của các dòng họ này đã viết cho Việt Nam những trang sử bi hùng, đó là sự thật rất hùng hồn Khi vận mệnh của đất nớc tuỳ thuộc vào các dòng họ thì ở một làng, một khu vực, uy tín của các dòng họ cũng làm nên tiếng tăm, vinh dự cho làng, cho khu vực đó Làng hay khu vực đợc ngời ta biết đến nhiều, là do ở đó có những dòng họ đã có đóng góp gì cho xóm làng, cho đất nớc, mà sự thực thì các dòng họ này có truyền thống hiển nhiên, không chỉ nổi lên nhất thời mà đợc tiếp nối từ đời này qua đời khác Chính vì vậy, mỗi dòng họ đều xứng đáng cho một công trình nghiên cứu công phu
Mặt khác, trong thời gian gần đây, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế
tự chủ ở nông thôn, vấn đề dòng họ đợc nhiều ngời nhắc đến Việc tu bổ, xây dựng lại nhà thờ, xây dựng lại miếu mộ, tìm lại mối liên hệ dòng họ qua gia phả hoặc qua những thông tin khác, dịch thuật sắc phong, gia phả đợc nhiều dòng
họ quan tâm đến
Nghệ An là đất địa linh nhân kiệt, có nhiều anh hùng dân tộc, nhiều danh nhân, nhiều phong trào nổi tiếng đợc biết đến từ xứ Nghệ anh hùng Đó là quê hơng của Hồ Chủ tịch, của Phan Bội Châu và của rất nhiều ngời Việt Nam yêu nớc khác Các dòng họ ở Nghệ An nói chung và dòng họ Phan ở Đông Thành nói riêng đã có hàng trăm năm lịch sử Nhng trớc và sau cách mạng tháng Tám
đến nay cha có công trình nào nghiên cứu về quá trình phát triển “Dòng họ Phan ở đất Đông Thành từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX ”
Trên thực tế, con cháu hội đồng gia tộc họ Phan và một số nhà khoa học
đã có bài viết về dòng họ Phan này, nhng chỉ đề cập đến những khía cạnh riêng
lẻ, cụ thể có một số bài viết nh sau:
Trong “Hoan châu ký” của Nguyễn Cảnh Thị, NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội - 1988, đã tái hiện lại dấu ấn lịch sử của mảnh đất Nghệ Tĩnh (Hoan
Trang 7Châu tơng đơng với Nghệ Tĩnh ngày nay) Đặc biệt, sách còn đề cập đến rất nhiều nhân vật trong sự nghiệp phò Lê diệt Mạc, trong số đó có cá nhân
Phan Công Tích
Trong cuốn “Danh nhân Nghệ An”, NXB Nghệ An – 1998, có đề cập
đến vị thuỷ tổ của họ Phan, đó là Phan Vân ở cuối thế kỷ thứ XIV đầu thế kỷ thứ XV
Trong “Lịch sử huyện Yên Thành” tập I , NXB Nghệ An, do Ngô Đức Tiến làm chủ biên, đã đề cập đến tiểu sử và sự nghiệp cách mạng của Bái Dơng Hầu - Phan Vân
Trong cuốn “Họ Phan trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” tác giả Phan Tơng, NXB Văn hoá Thông tin, đã trình bày sơ lợc những nét khái quát về dòng họ Phan ở Đông Thành
Trong “đại việt Sử ký Toàn th ” (Bản kỷ tục biên)”, xuất bản 1967, tác giả Ngô Sỹ Liên có chép một vài sự kiện liên quan đến nhân vật lịch sử mà theo gia phả và sắc phong thì nhân vật ấy chính là Phan Cảnh Quang
Ngoài những tác phẩm đã xuất bản liên quan đến đề tài chúng tôi nghiên cứu, còn có những bài viết đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo mà chúng tôi
đã tiếp cận đợc nh sau:
Tập “Kỷ yếu toạ đàm khoa học về di tích Phan Vân” của Sở Văn hoá Thông tin Nghệ An tổ chức vào năm 2000
“Một số luận cứ khoa học nêu lên mối quan hệ kháng chiến giữa ông
Phan Vân và Nguyễn Chích trong công cuộc chống giặc ngoại xâm” của Phan
Tơng
Bài “Tiếp tục khẳng định di tích lịch sử Phan Vân” của PGS Hoàng Văn Lân
Bài “Những chứng cứ bổ sung tìm hiếu thêm về thành tích sự nghiệp
của Bái Dơng hầu Phan Vân– ” của Phan Tơng
Trang 8Bài “Góp phần tìm hiểu một số nhân vật lịch sử đầu thế kỷ thứ XVI, qua
t liệu địa phơng” do Nguyễn Đức Nhuệ và Nguyễn Hữu Tâm trình bày trong
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 (324), năm 2002 của Viện Sử học
Tất cả những bài viết trên đã đề cập đến đóng góp của dòng họ Phan trong lịch sử dân tộc Nhng các bài viết chủ yếu nhấn mạnh về ba nhân vật : Phan Vân, Phan Cảnh Quang, Phan Công Tích, và còn mang tính riêng lẻ, chứ cha đi sâu nghiên cứu tổng thể quá trình phát triển của dòng họ và những đóng góp của cả dòng họ đối với sự nghiệp giữ nớc và xây dựng đất nớc
Thực tế đó đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đối với chúng tôi là cần phải đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống hơn về dòng họ Phan ở Đông Thành để góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc
III Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài 3.1 Phạm vi nghiên cứu
Dựa vào tài liệu hiện có và khả năng của bản thân, chúng tôi đặt ra phạm
vi nghiên cứu của đề tài “Dòng họ Phan ở đất Đông Thành từ thế kỷ XV đến
thế kỷ XX”
3.2 Nhiệm vụ khoa học của đề tài:
Trên cơ sở nhận thức đợc tầm quan trọng của việc nghiên cứu dòng họ
đối với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, luận văn chúng tôi tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Phan ở Đông Thành từ thế kỷ XV đến thế
Trang 9IV Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tham khảo và nghiên cứu các nguồn tài liệu sau:
4.1.1 Tài liệu gốc:
* Về tài liệu gốc: Chúng tôi đã tham khảo các bộ chính sử nh: “Đại Việt
Sử ký Toàn th ” của Ngô Sỹ Liên, “Đại Việt Sử ký tục biên”, “Việt sử thông
giám cơng mục”, “Đại Nam nhất thống chí”, “Lịch triều hiến chơng loại
4.1.2 Tài liệu nghiên cứu:
Một số tài liệu mà chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu gồm:
“Nghệ An Kí” của Bùi Dơng Lịch, “Lịch sử Việt Nam” của Trơng Hữu Quýnh,
“An Tĩnh cổ lục” của H Le Breton
4.1.3 Các tài liệu khác
Ngoài những tài liệu trên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu sau:
“Danh nhân Nghệ An” của NXB Nghệ An, năm 1998, “Việt Nam những
sự kiện lịch sử” của Viện Sử học, “Lịch sử văn hoá dòng họ Nguyễn Sỹ ở Thanh Chơng Nghệ An từ thế kỷ XV đến nay” của tác giả Văn Nam Thắng.
Đồng thời chúng tôi còn tham khảo các tài liệu, kỉ hội thảo, một số bài báo và một số tài liệu chép tay nh : Kỉ yếu hội thảo khoa học về văn hoá các
dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến lợc con ngời Việt Nam đầu
Trang 10Lịch sử, số 5 (năm 2002) và bài viết của giáo s Hoàng Văn Lân cùng các cá
nhân trong dòng tộc nh Phan Ngọc, Phan Tơng
4.1.4 Tài liệu điền dã:
Để tăng thêm sự phong phú về tài liệu cho quá tình nghiên cứu, chúng tôi còn tìm hiểu, đi thực tế về nhà thờ họ Phan nhiều lần, tiến hành ghi chép và chụp lại các sắc phong, câu đối, hoành phi để làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu
Đồng thời, chúng tôi còn gặp gỡ trao đổi với những ngời lớn tuổi trong dòng họ nh: Trởng họ Phan Bá Đồng, trởng nhánh Phan Hoằng thiện, Phan Hoằng Lam
So sánh đối chiếu, gia phả, sắc phong, bia kí với chính sử, từ đó để đánh giá, phân tích và nêu lên mối quan hệ chặt chẽ, sự tác động qua lại giữa dòng họ Phan đối với quê hơng đất nớc
Trang 11V Đóng góp khoa học, giá trị thực tiễn của luận văn.
5.1 Đóng góp khoa học
Với sự cố gắng cao nhất của tác giả, luận văn sẽ giới thiệu và cung cấp cho độc giả quá trình hình thành, phát triển của dòng họ Phan trên đất Đông Thành (Yên Thành NA), giúp cho ngời đọc hiểu rõ hơn về một dòng họ có trên
- Đồng thời, hoàn thành luận văn cũng là góp phần nhỏ làm phong phú thêm nguồn t liệu và bộ sử địa phơng
5.2 Giá trị thực tiễn.
Hiện nay, xu thế chung của thế giới là tiến hành hội nhập quốc tế về nhiều mặt Việt Nam không tách khỏi guồng quay hoà nhập đó Hơn nữa, đất n-
ớc đang gặt hái đợc nhiều thành tựu to lớn của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá Do đó, việc giữ gìn bản sắc dân tộc là điều hết sức cằn thiết Chúng ta hoà nhập chứ không hoà tan Cho nên, việc tìm về cội nguồn, để phát huy hơn nữa truyền thống “uống nớc nhớ nguồn” của con ngời ngày càng trở nên thiết thực
Trên thực tế thì nhiều địa phơng, dòng họ đã bỏ thời gian, công sức để tìm tòi, khôi phục lại đền thờ, lăng mộ, gia phả Nhng bên cạnh đó, cũng không ít ngời đã lợi dụng mối quan hệ họ hàng để kiếm chác, cầu vinh, kéo bè, chia phái làm mất đoàn kết trong thôn xóm Hiện tợng “một ngời làm quan cả
họ đợc nhờ” vẫn còn phổ biến Từ thực tế trên, luận văn góp phần phát huy mặt tích cực, xoá bỏ những tiêu cực nhằm hớng tới phát huy truyền thống tốt đẹp,
Trang 12xây dựng khối đoàn kết toàn dân, xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, xã hội văn minh hiện đại.
Đồng thời luận văn còn góp phần vào việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy di sản
văn hoá dòng họ, góp phần xây dựng đát nớc ngày càng giàu đẹp và đậm
Trang 13d từ Tây sang Đông quá dài, mà bề ngang thì hẹp nên chia lại theo chiều Nam, Bắc Huyện Đông Thành ở phía Đông, huyện Yên Thành ở phía Tây đều thuộc Phủ Diễn Châu Hiện nay, Yên Thành có một thị trấn và 37 xã.
1.1.2 Địa hình và điều kiện tự nhiên
* Địa hình
Yên Thành nằm về phía Đông Bắc tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh
55 km về phía Bắc Chiều Bắc Nam từ Hòn Sơng, giáp Quỳnh Lu ở phía Bắc
đến Tràng Sơn giáp Nghi Lộc, ở phía Nam dài gần 40 km thuộc 18055' đến
19012' vĩ độ Bắc Chiều Đông từ thôn Ngọc Sơn làng Đại Độ đến làng Tràng Thịnh ở phía Tây thuộc 105011' đến 105034' độ kinh Đông với chiều dài 35 km
Phía Đông giáp huyện Diễn Châu, phía Tây giáp huyện Nghĩa Đàn và Tân Kỳ Phía Bắc giáp huyện Diễn Châu và Quỳnh Lu, phía Nam giáp huyện
Trang 14Với tổng diện tích 56.204 ha, trong đó đất canh tác chiếm 29%, huyện Yên Thành giống nh hình lòng chảo không cân Ba phía Bắc, Tây, Nam là đồi trọc, duy chỉ có phía Đông là đồng bằng trũng, giáp với Diễn Châu Nơi cao nhất là núi Vàng Tâm, ở phía Bắc Quỳ Lăng, cao 544m, nơi sâu nhất là vùng trũng sông Cầu Bà, âm 0,6 m so với mực nớc biển Với vùng đất trũng ở phía
Đông tạo nên diện tích trồng lúa lớn cho cả huyện Yên Thành đợc mệnh danh
là vựa lúa lớn của tỉnh Nghệ An Câu ca dao:
"Hết nớc thì có nớc nguồnHết gạo thì có gạo buôn Đông Thành"
đã phần nào nói lên đặc điểm đó
Tuy nhiên, đồng bằng Yên Thành có độ nghiêng lớn, mặt cắt dài nên quá trình mài mòn rửa trôi nhanh, cho nên đất ở đây kém phần màu mỡ so với đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ
Núi đồi chiếm gần hết diện tích đất đai, hầu hết là rừng núi thấp, nhng lại
có độ nghiêng lớn Trớc đây khu vực này có thảm rừng xanh bao phủ, có nhiều loại gỗ quý nh lim, sến, gụ, dổi, vàng tâm cũng nh nhiều động vật quý hiếm khác Nhng hiện nay rừng đang từng bớc bị biến thành đồi trọc, chủ yếu là rừng tái sinh
* Khí hậu
Thời tiết và khí hậu ở Yên Thành tơng đối phức tạp, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Lợng bức xạ mặt trời quanh năm cao, nhiệt độ trung bình hàng năm 230C, lợng ma trung bình hàng năm lớn, tập trung vào các tháng cuối mùa hạ, thờng có những cơn bão lớn kèm theo, làm thiệt hại không những của cải mà cả tính mạng con ngời Lịch sử đã ghi lại những trận bão lũ ghê gớm nh cơn lũ tháng Tám năm Nhâm Thìn (1842), năm Bính Ngọ (1846)
Nắng nóng cũng không rải đều quanh năm mà tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7 Mùa hè có gió nồm từ biển thổi vào và gió Tây Nam từ dãy Trờng Sơn thổi sang Gió Tây Nam rất khô nóng làm cho lợng hơi nớc bốc nhanh,
Trang 15đồng thời khô hạn Nhiệt độ trung bình mùa hè 350C, có ngày lên đến 390C, khi cha có hệ thống nông giang và hồ đập, những đợt nắng nóng kéo dài gây tác hại rất lớn đến mùa màng và sức khoẻ con ngời Mùa đông, gió mùa Đông Bắc xâm nhập vào, nhiệt độ hạ đột ngột tạo nên sự khô hanh, có khi đem theo cả ma dầm trong nhiều ngày.
Điều kiện tự nhiên nh vậy ảnh hởng đến tập quán tính cách của ngời dân Yên Thành, đồng thời ngời dân nơi đây cũng đổ biết bao mồ hôi, nớc mắt để khai thác, tạo lập nên một vùng đất giàu đẹp, một phần máu thịt của giang sơn cẩm tú Việt Nam
1.1.3 Truyền thống văn hoá của dân Yên Thành
* Con ngời
Lịch sử Yên Thành gắn liền với lịch sử Nghệ An và lịch sử Việt Nam Trên mảnh đất này, trong suốt bề dày lịch sử thiên nhiên và con ngời luôn gắn
bó hoà quyện vào nhau
"Non nớc Hoan Châu đẹp tuyệt vờiSinh ra trung nghĩa biết bao ngời" (30, 21)Toàn bộ phong tục tập quán của c dân Yên Thành đợc phản ánh trong cuốn "Đại nam nhất thống chí" nh sau:
"Đất xấu - dân nghèo, tập tục cần kiệm Nhà nông chăm chỉ ruộng nơng, học trò a chuộng học hành”
C dân Yên Thành ngày xa không đông lắm, tuyệt đại bộ phận là nông dân chân lấm tay bùn, ở đây không có các tuyến giao thông chính đi qua nên nghề thủ công nghiệp và buôn bán còn chậm phát triển, cuộc sống trong các làng xã mang tính tự cung tự cấp khép kín, rất thuận lợi cho công cuộc đánh giặc giữ làng, và khai thác đất đai ở phạm vi nhỏ nhng lại trì trệ chậm thích ứng với mọi biến động của xã hội
Tuy cuộc sống chật vật, khó khăn do thiên nhiên khắc nghiệt và sự đàn
Trang 16ời dân Yên Thành vẫn luôn ra sức xây dựng cho mình cuộc sống yêu đời, lạc quan, hoà đồng với tất cả mọi ngời Nhân dân Yên Thành vào những ngày nông nhàn thờng tổ chức các trò chơi mang tính dân gian nh chơi đánh đu, chọi gà,
đấu vật…
Ngoài ra, những ngời nông dân suốt ngày chân lấm tay bùn đó còn là tác giả của một vùng văn hoá dân gian khá đặc sắc với tục ngữ, câu đố, chuyện tranh, chuyện cổ tích Vào dịp ngày mùa, những ph… ờng gặt thuê từ các huyện bạn đến Yên Thành đem theo bao lời ví, điệu hò của các vùng quê Nghệ Tĩnh pha trộn, hoà nhập vào các làn điệu của Yên Thành làm cho nơi đây trở thành nơi giao lu của những ngọn nguồn văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Yên Thành từ lâu nổi tiếng là đất học, dẫu nghèo đói nhng ai cũng muốn cho con dăm ba chữ để làm ngời Nơi đây là quê hơng của nhiều nhà văn hay chữ tốt, khí tiết, hào hoa phong nhã Nhân dân đã nuôi dỡng chăm sóc nhiều
học trò u tú đậu đạt cao trong các kỳ thi Theo "Nghệ An đăng khoa lục" từ
thời Trần đến thời Nguyễn, ở Yên Thành có 18 vị đại khoa, trong đó có 4 trạng nguyên, 3 thám hoa, 2 hoàng giáp, 5 tiến sỹ, 4 phó bảng Đó là trại trạng nguyên Bạch Liệu, vị trạng nguyên đầu tiên của Nghệ An Hồ Tông Thốc, Hà Tông Đốn, Hồ Tông Thành, Hồ Doãn Văn, Nguyễn Văn Bính, Lê Văn Học, Phan Duy Thực, Trần Đăng Dũng, Phan Tất Thông, Nguyễn Hng Công, Nguyễn Hữu Đạo, Trần Trọng Xuân, Luyện Tông Hàn, Phan Dỡng Hạo, Lê Doãn Nhã, Trần Đình Phong, Phan Võ
Làng xã nào cũng giành một phần ruộng công để làm học điền, nhiều làng xã mang đậm truyền thống hiếu học của quê hơng nh Yên Mã, Tràng Thành, Yên Nhân Đó chính là niềm tự hào của nhân dân Yên Thành.…
Thời gian trôi đi không thể quay lại, nhng lịch sử vẫn còn đó những tấm gơng cùng nhân dân chống giặc, nh phó bảng Lê Doãn Nhã, Chu Trạc Cũng…
có ngời về quê dạy học, làm thơ thức tỉnh lòng yêu nớc của nhân dân nh "Nam
quốc tỉnh mê ca" của tú tài Lê Liễu
Trang 17Một truyền thống quý báu khác của nhân dân Yên Thành đó là chuộng tín nghĩa, hiếu khách, kính trọng ngời già cả, biết ơn với những ngời có công với họ hàng làng nớc, những ngời có công khai khẩn đất hoang, chiêu dân lập
ấp, hoặc có công văn võ với dân, với nớc cũng đợc nhân dân quý trọng tôn làm Thành hoàng, làm đền thờ để thờ cúng
* Về tôn giáo: C dân Yên Thành thờ cúng cả đạo Nho lẫn đạo Phật Đạo Nho tuy đợc du nhập vào Yên Thành muộn hơn đạo Phật nhng ảnh hởng của nó
đối với tâm lý, tập quán, lối sống của nhân dân rất lớn Nề nếp sinh hoạt kiểu gia trởng đã tồn tại dai dẳng suốt mấy thế kỷ dới chế độ phong kiến nh trọng nam khinh nữ, quan niệm môn đăng hộ đối, con gái không đợc tham gia việc làng việc nớc Chỉ đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, những tập tục lạc hậu này mới bị phá bỏ dần, nhng trầm tích lắng đọng của nó vẫn còn vơng vấn mãi trong thói quen nếp sống mãi tới sau này
“Cùng với nhân dân Nghệ Tĩnh, c dân Yên Thành đã góp phần tạo dựng truyền thống tốt đẹp của con ngời Việt Nam, mang bản sắc riêng của một vùng quê: Yêu quê hơng đậm đà tha thiết, đoàn kết tơng thân tơng ái, cần cù chịu khó, tiết kiệm, thuần hậu, chất phác, thẳng thắn, thật thà, nghĩa tình trong cuộc sống.” (30, 32)
Một số dòng ho lớn: Yên Thành là nơi hội tụ nhiều dòng họ lớn, các dòng họ
ở đây dù có nguồn gốc bản địa hay tứ bắc quốc tới, dù tới Yên Thành bởi lý do gì, thì trong quá trình định c và phát triển, các dòng họ đó đã hoà quyện với nhân dân bản địa ở đây, cùng cải tạo tự nhiên chống thú dữ, xây dựng xóm làng thành vùng quê trù phú và mang đậm nét văn hoá riêng của quê lúa Yên Thành
Trên mảnh đất Yên Thành, ngoài dòng họ Phan mà chúng tôi tập trung nghiên cứu trong đề tài này thì còn có rất nhiều dòng họ lớn khác Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ xin giới thiệu khái quát một số dòng họ sau: Họ Chu, họ Phan Tất, họ Trần
Trang 18Theo gia phả, dòng họ Chu có nguồn gốc từ phơng Bắc, khi đất nớc có biến động, tổ họ Chu bấy giờ đã chạy đến c trú tại làng Long Ân tổng Hoàng Tràng, phủ Diễn Châu nay là xã Diễn Thờng - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An Ngời đó chính là tổ Hồng Nguyên tiên sinh đời thứ I.
Do bối cảnh đất nớc loạn li, thù trong giặc ngoài, cuối đời hậu Lê, chế độ phong kiến suy tàn Do vậy, các tập đoàn phong kiến nổi dậy "tranh bá đồ v-
ơng", gây nên cảnh chiến tranh liên miên, làm cho dân tình hết sức khốn khổ
Trớc bối cảnh đó, đức thuỷ tổ họ Chu đã cùng với dân làng quyết ra đi lập nghiệp Ngài đến vùng La Thành, sau này là Tràng Thành, cùng với dân làng khai hoang, mở rộng diện tích trồng trọt, nhờ thế mà đời sống nhân dân khấm khá lên nhiều Do có công trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm , nên thuỷ tổ họ Chu đã đợc vua Thành Thái, Duy Tân và Khải Định phong 3 đạo sắc
Vua Khải Định phong Bản thành hoàng Đến đời vua Thành Thái thứ 15
và đời vua Duy Tân, gia tặng Bản cảnh triều cơ Chu Yêm tớng công, chính trực
tối linh tôn thần, tớc phong Dực bảo trung hng linh phù tôn thần hiện nay họ
Chu có 4 nhánh:
Nhánh I: Thờ ông Chu Thờng Xuyên,
Nhánh II: Thờ ông Chu Thờng Giai,
Nhánh III: Thờ ông Chu Thờng Quang,
Nhánh IV: Thờ ông Chu Thờng Võ
Trang 19Vị triệu tổ họ này là Phan Tất Diễn, là quan ngự sử trung thừa, dới triều vua Lê, định c tại xã Hạ Thành, huyện Đông Thành - phủ Diễn Châu (tức là xã Hoa Thành - huyện Yên Thành) vào khoảng cuối thế kỷ 14 (1380 - 1400) Từ
đó đến nay đã gần 600 năm với 24 thế hệ từ đức thủy tổ đến con cháu đơng đại
Hiện nay, họ có 7 chi lớn với 756 hộ, có 2 chi đầu, đời thứ 9 chuyển cvào huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), một chi đời thứ 11 chuyển c đi Nam Thành (Yên Thành), đến đời thứ 13 từ Nam Thành chuyển c một chi sang Thanh Chơng (Nghệ An) Đây là dòng họ có nhiều đóng góp cho quê hơng đất nớc qua các thế hệ, cụ thể:
Đời 1: Cụ tổ Phan Tất Hiển làm quan ngự sử trung thừa
Đời 2: Cụ tổ Phan Thế Hào làm hiệu uý
Đời 3: Cụ tổ Phan Tất Kinh làm huyện sứ, Toàn Mỹ hầu
Đời 4: Cụ tổ Phan Tất Hiền làm tuần kiểm sứ, Tứ Nghĩa hầu
Đời 5: Cụ Phan Tất Hạnh làm bộ đại thần, Đờng Lộc hầu
Đời 6: Cụ Phan Tất Lợng làm quan huấn đạo
Đời 7: Cụ Phan Tất Thông đậu thám hoa, làm Binh bộ hậu thị lang, Hoà
Mỹ hầu
Đời 8: Cụ Phan Tất Đạo, quốc tử giám sinh, đậu tam trờng, làm Hàn lâm
viện kiểm thảo, thăng thụ tri huyện Hng Nguyên.
Đời 9: Cụ Phan Tất Cẩn, khâm sai tớng công
Đời 10: Cụ Phan Hng Đạo (chi Hà Tĩnh), quốc tử giám sinh, tiến sỹ đặc tiền kim tử, Vinh Lộc đại phu, Công bộ tử thị lang, thăng Lại bộ thị lang, Thọ Lĩnh hầu, truy phong Thọ quận công
Tóm lại dòng họ Phan Tất có đóng góp rất nhiều trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc Để khẳng định và tôn vinh truyền thống quý báu đó của dòng họ, Bộ Văn hoá Thông tin, Quyết định số 188 QĐ/VH ngày 13/02/1995, công nhận phần mộ đền thờ Phan Tất Thông là di tích lịch sử văn
Trang 20- Họ Trần:
Pháp Độ Công tức Trần Quốc Huy là thuỷ tổ của dòng họ này, sinh năm
1424 tại làng Tức Mặc, Thiên Trờng (Nam Định) Gặp cảnh đất nớc bất yên,
ông đã cùng con trai thứ ba vào xứ thôn Phì Cam, Mã Lai còn gọi là Vịnh Thành (Yên Thành ngày nay), ông định c và lập ấp ở đây
Theo gia phả, tính đến nay dòng họ Pháp Độ đã có trên 20 đời, hậu duệ
đông đúc với khoảng 200 chi họ, trải rộng khắp miền Bắc Trung Bộ, không kể con cháu lu tán khắp đất nớc và ở nớc ngoài cũng khá đông
Điều đặc biệt là hậu duệ của ngài rất vẻ vang, đời đời hiển đạt Nhiều vị
là khai quốc công thần đời Lê Trung Hng, nhiều vị là anh hùng danh tớng, danh nhân, nhiều vị đến khi đã qua đời còn tiếp tục đợc truy phong, đúng với câu
"Sinh vi tớng, tử vi thần"
Thời cận đại, con cháu tham gia các phong trào yêu nớc, nh phong trào Cần Vơng của nghĩa quân Phan Đình Phùng Thời hiện đại có một số vị là lão…thành cách mạng, là tớng lĩnh cao cấp của Đảng, Nhà nớc, quân đội, một số là anh hùng, cụ thể nh sau:
Khai quốc công thần họ Phan đời Lê Trung Hng:
+ Phụ quốc thợng tớng quân, Phú quận công Trần Thọ
+ Phụ quốc thợng tớng quân, Kiêm Lê hầu Trần Văn Ngạn
+ Phụ quốc thợng tớng quân, thái bảo Đông quận công, truy tặng Dực Vận đại vơng tuấn kiệt, cùng con trởng lai quận công, ba con thứ là tớc hầu
+ Thiếu phó bồi tụng, Liên quận công Trần Đăng Dinh, truy tặng Dực Vận đại vơng, trung đẳng phúc thần, cùng 16 con trai tập ấm Hoàng Tín đại phu, trong đó có chín vị tớc hầu, hai vị tớc tử do công lao tự mình, con gái ngài
có bảy ngời là mệnh phụ phu nhân, một ngời là thái phi vợ Trịnh Bính, con cháu
đời đời tiếp theo có rất nhiều vị tớc hầu, không thể kể ra hết đợc
Mặt khác, dòng họ Trần còn là dòng họ khoa bảng
Các nhà khoa bảng họ Phantiêu biểu thời Lê:
Trang 21+ Trần Văn Hanh: Phó bảng.
+ Trần Danh Định: Phó bảng, ở Thọ Xuân (Thanh Hoá)
+ Trần Danh Thục : Hơng cống, tri huyện Thiên Lộc
+ Trần Khiêm: Thủ hơng cống - tổng đốc Thanh Hoá
+ Trần Đàn: Thái học sinh, Thái bộc tự khanh
+ Trần Danh Hiến: Tiến sỹ
+ Trần Doãn Lơng: Hơng cống
+ Trần Huy Phác: Tiến sỹ
+ Trần Đăng Dũng:Giải nguyên, nhiều lần đỗ khoa thi hoành từ
Các nhân tài họ Phan tiêu biểu vào thời Nguyễn:
+ Trần Phổ: Giải nguyên tri huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi, phụ thân của Trần Phú, Tổng Bí th đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dơng
+ Trần Đăng Thục: 2 lần đỗ tú tài (tú tài kép)
+ Trần Nguyên Trinh: Phó bảng, tứ thủ Thanh Hoá
+ Trần Đình Phong: Tiến sỹ, một danh nhân, từng là thầy học của một loạt danh nhân: Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Sắc, Đặng Nguyên Cần, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Phạm Liễu, Trần Quý Cáp…
Một số nhân vật họ Phan tiêu biểu:
Chỉ xin nêu một số nhân vật tiêu biểu:
+ Trần Phú: Tổng Bí th đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dơng.+ Trần Văn Cung: Thành viên Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.+ Trần Phúc: Lão thành cách mạng thời Xô viết Nghệ Tĩnh
+ Trần Văn Thuỵ: Lão thành cách mạng thời Xô viết Nghệ Tĩnh, đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam
+ Trần Phồn: Thiếu tớng, Giám đốc Sở Công an Nghệ An
Trang 22Ngoài ra, dòng họ còn có 4 bà mẹ Việt Nam anh hùng thời kháng chiến chống Pháp, Mỹ.
1.2 Quá trình phát triển của dòng họ Phan trên đất Đông Thành từ thế kỷ
đi phiêu tán khắp nơi, chạy vào các điền trang "làm nô cho các thế gia" Lực ợng đó càng giúp cho bọn quý tộc nhà Trần có điều kiện mở mang thêm điền trang
l-Nh vậy, ở nớc ta ruộng đất là t liệu sản xuất duy nhất của nhân dân, nhng dần dần rơi hết vào bọn quý tộc, cha có lúc nào ruộng t với chế độ điền trang lại phát triển mạnh mẽ nh ở thời Trần Thiên tai càng nhiều, cộng với sự thiếu quan tâm của chính quyền Nhà nớc làm cho tỷ lệ dân nghèo ngày càng đông, họ bỏ làng đi phiêu tán, tha phơng cầu thực trở thành nông dân phiêu tán Lực lợng này đã đợc thu hút vào các điền trang (và bọn quý tộc Trần là ngời trực tiếp bóc lột họ) là lực lợng khổ cực nhất, bị dồn đuổi vào bớc đờng cùng Đó chính là nguyên nhân làm dấy lên phong trào khởi nghĩa của nông nô và nô tỳ Những cuộc khởi nghĩa cuối đời Trần phản ánh cụ thể nhất sức sản xuất của xã hội bị giai cấp quý tộc nhà Trần kìm hãm và phá hoại nghiêm trọng Đây chính là biểu hiện của sự bất lực, suy yếu của Nhà nớc quân chủ quý tộc Trần
Mặt khác, sự suy yếu của Nhà nớc quân chủ quý tộc Trần còn đợc biểu hiện ở chỗ Nhà nớc bất lực trớc cuộc xâm lợc của ngời nớc ngoài, chẳng hạn
Trang 23quân Chiêm Thành 3 lần tấn công kinh đô Thăng Long nhng nhà Trần đều bó tay…
Từ thực tế trên, chứng tỏ Nhà nớc quân chủ quý tộc Trần không còn đủ khả năng điều hành đất nớc theo chế độ quân chủ quý tộc nữa Yêu cầu đặt ra là phải cải cách để đa đất nớc thoát khỏi tình trạng khủng hoảng Trớc đòi hỏi đó của lịch sử, năm 1394, Hồ Quý Ly đã bức vua Trần nhờng ngôi, lập ra triều đại
Hồ (2/1400 đến đầu 1407)
Một số ngời đã không thể chấp nhận điều đó, vì ngời ta cho rằng, Hồ Quý Ly đã làm việc không "hợp lẽ ở đời" Đó là tội "khi quân phạm thợng" Trong xã hội cũ, hành động đó không thể tha thứ đợc Do vậy, họ đã không ủng
hộ cuộc cải cách của ông, mặc cho công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly đã chứng tỏ ông đã nhận thức đợc nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng cuối
đời Trần, một số ngời đã bỏ đi, vào vùng đất Hoan Châu sinh sống
So với vùng đất từ Thanh Hoá trở ra châu thổ Sông Hồng, vùng đất Châu Hoan này cha đợc khai phá trọn vẹn ở đây, vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ
XV, đất đai còn hoang hoá nhiều Do đó, những con ngời từ xa vào Châu Hoan khai phá và chờ thời cơ để biểu thị thái độ với thời cuộc, trong số những ngời đó
Trang 24ở lại Phủ Lý thuộc huyện Đông Sơn (Thanh Hoá), lánh vào xã Tiền Thành Châu Hoan, yên c ở đó, nơi ông ở vì thế gọi là thôn Chánh Sứ.
Căn cứ đối chiếu các t liệu chính sử thì ông Phan Vân có thể là con ông Phan Nghĩa Ông Phan Nghĩa làm tu sử (biên soạn quốc sử)
Tháng 10 năm Tân Hợi, vua Trần Nghệ Tông lấy ông làm lang trung bộ
Lễ Năm Quý Hợi Xơng Phù thứ 7 (1383), vua Chiêm Thành sang đánh ta, đã chiếm đóng kinh thành Thăng Long, vua tôi nhà Trần phải dời sang đóng ở núi Lam Kha (tức núi Phật Tích ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh)
Thợng Hoàng Nghệ Tông sai Phan Nghĩa và hai triều quan thay phiên nhau dạy vua (tức là Trần Đế Hiện) học Cuối năm ấy, giặc Chiêm Thành rút về, vua và các triều quan lại quay về Thăn Long
Lúc này Hồ Quý Ly đã nắm hết quyền bính trong tay, đợc Thợng Hoàng Nghệ Tông tin dùng, nên ra vào triều không kiêng nề gì ai Tháng 8 năm 1388, vua Trần Đế Hiện cùng Thái úy Ngạc và một số triều quan cận thần tìm cách trừ khử Hồ Quý Ly, không ngờ mu ấy lại bại lộ do nữ tỳ Vơng Nhữ Mai dò nghe đ-
ợc bèn về báo cáo với cha là Vơng Nhữ Chu (một vị quan thân với Hồ Quý Ly)
đã báo lại cho Hồ Quý Ly biết Hồ Quý Ly bèn tìm cách dèm pha, nói xấu nhà vua và tâu với Thợng hoàng Nghệ Tông, Thợng hoàng Nghệ Tông nghe theo bèn hạ chức vua xuống làm Linh Đức vơng, lập ngời con khác tên là Ngang mới
12 tuổi lên thay, đó chính là vua Thuận Tông Vua Trần Đế Hiện bị đa xuống phủ Thái Đờng rồi bị Hồ Quý Ly sai ngời treo cổ chết, năm đó vua 26 tuổi, sử gọi là Trần Phế Đế
Các triều quan theo nhà vua đều bị Hồ Quý Ly giết hại Phan Nghĩa nắm bắt đợc tin ấy liền cùng ngời con thứ hai chạy trốn, vào ẩn náu tại huyện La Sơn, một nơi hẻo lánh ở Hà Tĩnh, tại thôn Cẩm Trang Cũng do đó, cả gia đình Phan Vân đã theo ông vào ẩn c ở làng Phủ Lý, tức làng Bối Lý, một làng xa vắng phía tây huyện Đông Sơn (Thanh Hoá), nơi ông đã ở trớc đó với nhiệm vụ chánh sứ doanh điền
Trang 25Sau khi Hồ Quý Ly dời đô vào thành Tây Giai (Thanh Hoá), lại tiếp tục giết vua Trần Thuận Tông thì xảy ra một vụ mu sát Hồ Quý Ly ở hội thề Đốn Sơn vào năm Kỷ Mão (1399) nhng sự việc bại lộ, bị Hồ Quý Ly phát hiện, lập tức Hồ Quý Ly bắt giết các triều quan và gia nhân 370 ngời, truy lùng những ngời chống đối liên quan Một không khí khủng bố, ra đờng gặp nhau không dám chào hỏi.
Từ Phủ Lý, ông Phan Vân phải đa vợ con trốn vào Hoan Châu (Nghệ An), xã Tiền Thành (1400) và gây dựng sự nghiệp ở đây Dòng họ Phan ở đất
Đông Thành cũng bắt đầu từ đó
Họ Phan định c trên đất Đông Thành (Yên Thành) tính từ thuỷ tổ Phan Vân đến nay hơn 600 năm Cho dù quê gốc không phải ở Đông Thành, nhng
ông Phan Vân đã cùng với nhân dân bản địa ở đây chăm lo khai khẩn đất hoang
để phát triển và mở mang dòng họ của mình làm phong phú thêm truyền thống văn hoá dân tộc
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Phan trên đất Đông Thành từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX
Với lịch sử hơn 600 năm, trải qua nhiều thế hệ con cháu cho đến ngày nay, dòng họ Phan đã lan toả ra hầu hết các huyện trên đất Nghệ An và nhiều tỉnh thành trong cả nớc Hơn 600 năm đó, đất nớc đã trải qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, từ Lê Lợi dẹp tan sự thống trị của nhà Minh, gây dựng nền độc lập, đến đại thắng mùa Xuân 1975, nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam ra đời, từng bớc đi lên trên con đờng đổi mới
Cùng với sự phát triển của đất nớc, dòng họ Phan cũng có nhiều biến đổi, nhng là sự biến đổi theo chiều hớng tốt đẹp Con cháu ngày một đông, các chi ngày một nhiều
Cho đến nay dòng họ Phan có tất cả 42 chi trải qua 23 đời với tổng số hộ khoảng 7000 hộ ở Yên Thành Theo gia phả họ Phan Quận (nhánh trởng) ở xã
Trang 26gia phả họ Phan Hoằng ở làng Hào Kiệt xã Vĩnh Thành do nhóm su tầm và nghiên cứu gồm Phan Ngọc, Phan Hoằng Kiểu, Phan Hoằng Nậm biên soạn vào tháng 2/1998, trong khoảng thời gian từ 1398 đến thế kỷ 20 dòng họ Phan đã trải qua 23 đời và có đến ba nhà thờ lớn ở Yên Thành.
Nh vậy, từ vị thuỷ tổ Bái Dơng hầu Phan Vân, dòng họ Phan đã trải qua hơn 600 năm phát triển thành nhiều chi nhánh lớn nhỏ, từ đất Kẻ Rộc lan ra các huyện, các tỉnh khác Lớp hậu duệ của Ngài Phan Vân, đời này đời khác đều sống xứng đáng với vị thuỷ tổ của mình
Dựa vào gia phả và những tài liệu khác, chúng tôi có thể nêu lên sự phát triển của dòng họ Phan qua các đời nh sau:
Đời thứ nhất:
Thuỷ tổ của dòng họ là ông Phan Vân, di c từ Hoằng Hoá (Thanh Hoá) vào xã Tiền Thành (nay là Bắc Thành - Yên Thành - Nghệ An) Vào cuối thế kỷ XIV (1398), trong thời kỳ nhà Hồ đang tranh ngôi đoạt quyền thay thế nhà Trần Ông vào định c đây và tổ chức khai khẩn đất hoang, sống cuộc đời nông dân thuần phác Sau này, khi Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa, nhất là ở thời điểm nghĩa quân chuyển hớng chiến lợc, lấy Nghệ An làm "đất đứng chân" thì Phan Vân đã có công rất lớn trong việc ủng hộ quân lơng cho nghĩa quân
Đời thứ 2:
Phan Cảnh Huân (con trởng), Phan Cảnh Hựu (con thứ hai), Phan Cảnh
Điều (con thứ ba - mất sớm), Phan Nguyên (con thứ t) đều là con thuỷ tổ Phan Vân Trừ Phan Cảnh Điều (mất sớm), còn lại ba ngời con trai của Phan Vân đều noi theo gơng cha ra sức đắp đập, khai hoang chiêu dân, lập ấp, phát triển xóm làng trù phú …
Đời thứ 3:
Tuy thuỷ tổ Phan Vân sinh hạ đợc 4 ngời con trai, nhng Phan Cảnh Điều mất sớm, còn Phan Cảnh Hựu cùng với hậu duệ của ông về sau nh thế nào không rõ, tộc phả họ Phan đại tôn ở Bắc Thành chỉ ghi toàn gọn nh sau: "Phan
Trang 27Cảnh Hựu di c đến xã Đào Lâm, không rõ huyện nào", vì thế hiện nay cha tìm
ra đợc
Do đó, đến đời thứ ba, dòng họ này đợc tách ra làm hai nhánh:
Nhánh trởng: Nhánh của ông Phan Cảnh Huân, trong quá trình khai
hoang lập ấp, chú tâm phát triển nông nghiệp, nhng do bị loạn sơn thú tàn phá hoa màu nên đã chuyển xuống xã Hạ Thành (nay là xã Hoa Thành - Yên Thành) định c và sinh sống ở đây Ông sinh hạ đợc ba ngời con trai: ngời con
đầu Phan Cảnh Thung (mất sớm); Phan Cảnh Tùng (con cháu chuyển ra Bắc) ở lại Hạ Thành chỉ có Phan Cảnh Củng và vợ ông là Thân Thị Nhiệm
Nhánh thứ: Nhánh của Phan Nguyên cùng với hậu duệ của ông Phan
Nguyên là con út của thuỷ tổ Bái Dơng hầu Phan Vân, lấy vợ và sinh đợc 4 ngời con trai
Con trai trởng: Phan Thúc Hơng
Con thứ 2: Phan Thúc Khởi
Con thứ 3: Phan Thúc Cử
Con thứ 4: Phan Thúc Trí
Nhánh thứ này về sau chuyển xuống giáp Tờng Lai, làng Hào Kiệt, xã Vĩnh Thành Ngời chủ trơng di chuyển là Phan Thúc Trí (con thứ t ông Phan Nguyên, và là cháu nội của Bái Dơng hầu Phan Vân) Vì thế Phan Thúc Trí đợc xem là thuỷ tổ họ Phan Hoằng ở làng Hào Kiệt
Đời thứ 4:
Nhánh trởng:
Lấy Phan Đội con trai duy nhất của ông Phan Cảnh Củng làm đại diện Phan Đội sinh đợc 2 ngời con trai đó là Phan Đạo và Phan Văn Đẩu và hai ngời con gái
Nhánh thứ:
Lấy Phan Thúc Tợng, tên thuỵ là Yên tâm tịch quan tử xuất phái t chi,
Trang 28ghi "Quý nam Phan Thúc Trí sinh Thúc Tợng di c đến xã Thái Xá thôn Hào Kiệt" Ông Phan Thúc Tợng là cháu nội bốn đời của Bái Dơng hầu Phan Vân
Ông sinh ra và lớn lên tại thôn Chánh sứ, xã Tiền Thành, năm Hồng Đức thứ 5 (1474), cùng cha là Phan Thúc Trí di c đến xã Thái Xá khai cơ lập nghiệp, xây dựng cơ sở kinh tế mới, lập nên thôn Kẽ Cạt, nay làng Hào Kiệt - xã Vịnh Thành - Yên Thành Kế thừa sự nghiệp của cha, quản lý cơ sở kinh tế mới tại thôn Kẽ Cạt, xã Thái Xá cũ
Phan Thúc Tợng sinh đợc sáu ngời con cả trai lẫn gái, con trai trởng Phan Thúc Hà, còn năm ngời em của ông Hoà không thấy ghi rõ tên, đã tìm cả ở hai tập thế phổ họ Phan Bắc Thành và họ Phan Hào Kiệt nhng không thấy ghi chép gì về năm ngời em của ông Hoà
Đời thứ 5:
Nhánh trởng:
Lấy Phan Văn Đẩu, con trai thứ 2 của ông Phan Đội, làm đại diện Ông
bà sinh đợc hai ngời con trai là Phan Cảnh Mỹ và Phan Chính Nghị, cùng với hai ngời con gái là Thị Heo và Thị Lân
Đời thứ 6:
Nhánh trởng:
Lấy Phan Chính Nghị, con trai thứ 2 của ông Phan Văn Đẩu, làm đại diện Ông Phan Chính Nghị theo nghiệp tổ tiên, vẫn tiếp tục cày cấy trồng trọt trên phần ruộng đất ở cánh đồng Ây, ông bà còn lên đó làm nhà để ở, ông sinh
Trang 29đợc ba ngời con trai: Phan Cảnh Thanh và Phan Cảnh Khánh (mất sớm), còn lại Phan Bá Chiêu.
Nhánh thứ:
Lấy Phan Duy Địch, con trai trởng của Phan Thúc Hoà làm đại diện, ông sinh hạ đợc ngời con trai độc nhất, lớn lên lại có lòng yêu nớc, có công lao lớn trong sự nghiệp phò Lê diệt Mạc, cứu dân cứu nớc là Phan Hoằng Thanh Để ghi nhận công sinh thành của thân phụ sinh ra Phan Hoằng Thanh, triều đình nhà Lê đã phong tặng Phan Duy Địch tớc Diên Khánh hầu, ban tên thuỵ là Huệ công
Ngày 15 tháng 6 năm Giáp Thìn, vua Lê Huyền Tông, Mục Hoàng Đế niên hiệu cảnh trị thứ 2 (1664) phong tặng sắc rồng cho Phan Duy Địch
ông chở không lấy tiền, có khi nghỉ qua đêm ăn uống vẫn phục vụ chu đáo Đã
ba năm, để trả ơn cho Phan Bá Chiêu, ông thầy địa lý đã chỉ cho ba phần đất có một cát huyệt để đời sau con cháu phát phúc làm quan to Câu chuyện phong thuỷ làm địa lý cất mộ, lựa chọn chỗ đất tốt để bảo vệ xơng cốt của ngời đã khuất, là thể hiện tình cảm giữa ngời sống với ngời đã mất, nhng nói nhờ đó mà kết phát làm quan, đậu cao tớng giỏi thì không có một cơ sở khoa học nào cả Nhng câu chuyện đợc xem nh lời giải thích cho sự trởng thành và lớn mạnh của dòng họ Phan ở Đông Thành từ đời thứ 8 trở đi, đặc biệt là về phơng diện võ quan
Trang 30Ông Phan Bá Chiêu lấy vợ họ Nguyễn, sinh đợc hai ngời con trai: Sùng Quân công Phan Cảnh Quang và Dơng Lĩnh hầu Phan Đức Quảng.
Nhánh thứ:
Lấy Phan Hoằng Thanh, con trai duy nhất của Phan Duy Địch, làm đại diện Nhờ phúc ấm tổ tiên, lớn lên thân thể cờng tráng, ham mê luyện tập võ nghệ Là ngời có chí khí nên đã sớm trở thành một võ công vô địch, sinh thời giữa lúc họ Mạc cớp ngôi nhà Lê, gây nội chiến đa đất nớc vào cảnh lâm nguy,
ông đã tình nguyện ra đi, lên đờng phò vua giúp nớc Ông sinh hạ đợc 11 ngời con, trong đó có năm con trai:
Phan Hoằng Tích (con trởng), con thứ hai là Phan Hoằng Kỷ, thứ ba là Phan Hoằng Tá, thứ t là Phan Hoằng Cơng, thứ năm là Phan Hoằng Ngang
Sáu ngời con gái gồm: Trởng nữ Phan Thị Ngọc Lu, con gái thứ hai Phan Thị Ngọc Thiêm, thứ ba Phan Thị Ngọc Minh, thứ t Phan Thị Ngọc Khuê, thứ năm Phan Thị Ngọc Mỹ, thứ sáu Phan Thị Ngọc Quỳnh
Phan Cảnh Quang sinh hạ đợc 9 ngời con trai và 8 ngời con gái nh sau:
9 ngời con trai:
Tuyền quận công: Phan Cảnh Huy
Nghĩa quận công: Phan Cảnh Lan
Cờng quận công: Phan Cảnh Thông
Tuấn Nghĩa hầu: Phan Cảnh Thọ
Thắng Lộc hầu: Phan Cảnh Diệu
Trang 31Hà Lý hầu: Phan Cảnh Đại.
Vệ Xuyên hầu: Phan Cảnh Thắng
Diên Hoa hầu: Phan Cảnh Long
Thạch Lâm hầu: Phan Cảnh Diễn
8 ngời con gái gồm:
Phan Thị Ngọc Châu, Phan Thị Ngọc Hoa, Phan Thị Ngọc Uyển, Phan Thị Ngọc Yến, Phan Thị Ngọc Phú, Phan Thị Ngọc Hơng, Phan Thị Ngọc Phong, Phan Thị Ngọc Kỹ
Nhánh thứ:
Lấy Phan Công Tích, là con trởng của thái phó Thuỵ quận công Phan Hoằng Thanh và bà Đặng Thị Ngọc Quế, làm đại diện Phan Công Tích là cháu nội tám đời của thuỷ tổ Bái Dơng hầu Phan Vân, sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống võ nghệ lại có lòng yêu nớc, có phong thái hùng vĩ, có sức mạnh hơn ngời Tập III sách "Đại Nam nhất thống chí" trang 176 đã viết
"Phan Công Tích ngời xã Hào Kiệt - huyện Đông Thành trong đời Thống Nguyên, Nguỵ Mạc tiến quyền, ông cùng ba em Kỷ, Cơng, Tự ứng nghĩa phò
Lê, đại thu tiên tổ, bản triều Trang Tông lập làm vua, vì có công nên đợc phong
là Bá quận công
Ông sinh hạ đợc 7 ngời con (6 trai 1 gái) nh sau:
Con trởng: Kể quận công - Phan Ngan
Con thứ 2: Quỳnh quận công - Không rõ tên
Con thứ 3: Triều Xuyên hầu - Phan Hoằng Luận
Con thứ 4: Tô quận công - Phan Hoằng Tuỳ
Con thứ 5: Hoằng Khang hầu - Phan Hoằng Thông
Con thứ 6: Yên Phúc hầu - Không rõ tên
Trang 32Đời thứ 9:
Nhánh trởng:
Lấy Phan Cảnh Huy, con trai trởng của Phan Cảnh Quang làm đại diện Phan Cảnh Huy làm đô chỉ huy vệ Kim Ngô, có nhiệm vụ bảo vệ triều đình, ông sinh hạ đợc 9 trai và 3 gái, đó là:
Phan Cảnh Tộ, Phan Cảnh Kiên, Phan Cảnh Sức, Phan Cảnh Sỹ, Phan Cảnh Tiền, Phan Cảnh Đức, Phan Cảnh Khôi, Phan Cảnh Ngôn, Phan Cảnh Ngữ, Phan Thị Ngọc Tháp, Phan Thị Kim, Phan Thị Huệ
Sau khi ông mất đợc gia phong Toàn quận công
Nhánh thứ:
Lấy Phan Hoằng Tự, con trởng của thái bảo Vị quân công Phan Công Kỷ, làm đại diện Lớn lên noi gơng cha theo con đờng binh nghiệp, có công lao
đánh giặc trớc sau vẹn toàn, đợc triều đình nhà Lê tặng sắc phong Ông sinh hạ
đợc một con trai duy nhất là Lệ Thành hầu Phan Hoằng Kế
Trang 33Đời thứ 11:
Đến đời thứ 9, thứ 10, dòng họ Phan ở Đông Thành đã phát triển rộng khắp với hàng chục chi họ, hàng trăm hộ lớn nhỏ sinh sống ở nhiều vùng khác nhau
Ông sinh hạ đợc 5 ngời con trai và 2 ngời con gái gồm:
Trởng nam: Phan Hoằng Duyên, Hoằng Duyên sinh đợc Hoằng Triển.Thứ nam: Phan Hoằng Tú, Hoằng Tú sinh Hoằng Diễn
Thứ 3: Phan Hoằng Trình, sinh Phan Hoằng Ngu
Thứ 4: Phan Hoằng Tục, Hoằng Tục sinh Hoằng Thục
Thứ 5: Phan Hoằng Cảo, Hoằng Cảo sinh Hoằng Thống
Con gái: Phan Thị Phơng và Phan Thị Lài
Từ đời thứ 11 đến đời thứ 23, con cháu các chi họ Phan đều phát triển mạnh và sinh sống ở nhiều tỉnh trong cả nớc, con cháu học rộng tài cao, phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ, đã có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trải qua hơn 600 năm lịch sử, kể từ ngày thuỷ tổ Phan Vân rời Hoằng
Trang 34họ lớn, con cháu ngày càng phát triển phồn thịnh, có truyền thống hiếu học, tinh thần yêu nớc.
Các thế hệ họ Phan ngày càng tô điểm thêm truyền thống văn hoá tốt đẹp
đó của cha ông
Trang 352.1 Thời trung đại
2.1.1 Thời Lê
2.1.1.1 Thời Lê Thái Tổ (Lê Lợi)
Thuỷ tổ Phan Vân là ngời nổi bật nhất trong thời kỳ này Ông là ngời nông dân thuần phác, sống bình dị nh bao ngời nông dân khác ở quê hơng Đông Thành, nhng ông đã có công trong việc chiêu dân lập ấp, mở rộng đất canh tác
và đặc biệt có thành tích lớn trong việc ủng hộ quân lơng, góp phần tạo nên thắng lợi đối với cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Minh của Lê Lợi
Nh ta đã biết cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, tình hình chính trị xã hội của đất nớc hết sức rối ren Chính quyền trung ơng mục ruỗng thối nát, không còn đảm đơng đúng vai trò của ngời đứng đầu đất nớc, nhân dân phải sống cuộc sống phiêu bạt lầm than Bên ngoài giặc ngoại xâm nhiều lần tiến đánh Thăng Long (ba lần giặc Chiêm Thành tiến đánh Thăng Long) Bên trong, các thế lực
ra sức tranh quyền đoạt chức, mu bá đồ vơng (tranh nhau ngôi vị thiên tử) Năm
1400, Hồ Quý Ly bức vua Trần nhờng ngôi và lập nên triều đại Hồ (1400 - 1407)
Trang 36Trớc và sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly một mặt ra sức thực hiện cải cách
để đa đất nớc thoát khỏi cơn khủng hoảng, nhng đồng thời cũng thẳng tay trừng trị những ngời chống đối liên quan Nội dung của những cải cách mà Hồ Quý
Ly đa ra chứng tỏ ông đã nắm đợc căn bệnh của đất nớc, và ở một chừng mực nào đó thì đã đa ra giải pháp kịp thời Nhng hành động "bức" vua nhờng ngôi và sát hại triều thần thì không hợp với "đạo lý ở đời” nên ông giành đợc rất ít thiện cảm từ phía nhân dân Một số ngời đã không chấp nhận điều đó, nên không hợp tác với nhà Hồ mà bỏ đi xứ khác làm ăn, chờ thời cơ để biểu thị thái độ, trong
Từ Phủ Lý, ông Phan Vân phải đa vợ con gia đình trốn vào Hoan Châu (Nghệ An) - xã Tiền Thành (1400) Lúc đầu ông vào ở làng Nội, phía Kẻ Duỗi, Tiên Hồ Nhng về sau, ông chiêu dân lập ấp, khai thác vùng đất còn hoang rậm
ở phía Kẻ Rục Ông tổ chức đắp đập Bành Thang, là con đập lớn nối hai chân núi, chặn nớc khe suối chảy về, với sức chứa rất lớn tạo nguồn nớc tới cho ruộng các cánh đồng phía dới Dần dần số ruộng đất khai thác đợc nớc sinh thuỷ phát triển đến 600 mẫu (theo tộc phả), về sau số dân c các nơi về tập trung ngày càng đông
Năm Đinh Hợi (1407), giặc Minh sang đánh nớc ta, tiêu diệt triều đại nhà
Hồ Phan Vân vẫn ẩn thân cày ruộng nhng ngầm chí đánh giặc cứu nớc, chuẩn
bị quân lơng Ngoài khu vực xã Tiền Thành, ông khai phá vùng đất xung quanh
Trang 37Lèn Voi (Tợng Sơn), phía Tây hòn Trang, giao cho con cả là Phan Cảnh Huân
đảm trách Vùng này sau bị loạn sơn thú, hổ báo quấy phá, bắt ngời và súc vật, nên ông Phan Cảnh Huân phải dời xuống ở vùng Sông Dinh xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành – Yên Thành – Nghệ An)
Ngoài ra Phan Vân còn tơng tác ruộng thu hè các xứ với nhiều mẫu ở vùng Đồng Thông, Thuần Vĩ, giáp gần dãy núi phía Tây, số ruộng này lu giữ cho đến đời Phan Đẩu mới đem bán phần lớn cho họ Trần ở Hơng Thọ Nh vậy với số đất hai vùng khai thác, ông đã lập các kho dự trữ ở Thung Buồng, Cồn Kho để chờ chân chúa phục vụ Thung buồng là khu vực hẻo lánh ở phía Tây lèn Đồng Mai, Cồn Kho ở phía Tây Nam Bàu Trang, những tên gọi này đến nay vẫn còn đợc gọi
“Đại Việt sử ký toàn th” của Ngô Sỹ Liên cho biết rằng, tới năm Giáp Thìn (1424), sau sáu năm hoạt động ở Lam Sơn và miền Tây Thanh Hóa, quân khởi nghĩa khi thắng khi bại, nhng không mở rộng đợc phạm vi hoạt động xuống đồng bằng, khó khăn về quân số cũng nh về quân luơng ngày càng tăng, vì quân Minh đã lập đợc quyền thống trị và bao vây chặt chẽ nghĩa quân
Trong tình thế đó, tháng 10 năm 1424, Lê Lợi hội họp ch tớng bàn kế sách tiến thủ Tớng Nguyễn Chích đề xuất phơng án “Nghệ An là nơi hiểm yếu,
đất rộng, ngời nhiều Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên hiểu rõ tình thế Nay ta hãy đánh lấy thành Trà Long rồi hạ thành Nghệ An làm chỗ đứng chân rồi dựa vào nhân lực, tài lực ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”
Nguyễn Chích vốn là một thủ lĩnh nghĩa quân, trớc khi hội quân theo Lê Lợi, đã từng cầm đầu đạo nghĩa binh hoạt động ở vùng Nông Cống và theo đ-ờng sơn cớc ra vào vùng Nghệ An nên rất am hiểu tình hình con ngời và địa thế Nghệ An Vì vậy, hội đồng tớng lĩnh của Lê Lợi đã tán thành phơng án chiến l-
ợc của ông
Trang 38Lúc bấy giờ Phan Vân với t cách là giám sinh Quốc tử giám và chức chánh sứ nhà Trần, vì bất hợp tác với chính quyền quân Minh, vào ẩn c khai khẩn ruộng đất ở xã Tiến Thành, trên lãnh thổ Đông Thành, đã đợc gần 20 năm,
rõ ràng là nhân vật có tiếng trong vùng nằm trên đờng sơn cớc ít nhất cũng có phơng diện làm tăng thêm “nhân lực và tài lực đất ấy” nh chữ dùng của Nguyễn Chích Từ đó, ta có thể giả thiết rằng, tớng Nguyễn Chích đã có giao dịch với Phan Vân trong vấn đề quốc sự Và phơng án chiến lợc mở đầu bằng việc tấn công thành Trà Lân không phải không có cơ sở thực tế
ở đây, ta chú ý rằng thành Trà Lân mà Nguyễn Chích đề nghị lấy làm mũi đột kích đầu tiên để chiếm Nghệ An làm “chỗ đứng chân” ấy vốn ở vị trí
đầu huyện Đông Thành Từ Thung Buồng, Cồn Kho, Đồng Chỉ huy lên bến trại Lạt theo đờng bộ rồi lại từ bến trại Lạt xuôi dòng 10 km đờng thủy của sông Con là lên tới Trà Lân, vị trí quan trọng của quân Minh án ngữ đờng sơn cớc Tháng 11 năm Giáp Thìn (1424), đại quân Lam Sơn theo đờng sơn cớc từ miền Tây Thanh Hóa tiến vào đánh thành Trà Lân (sau đổi thành Trà Long, vì kiêng húy vua Lê Thánh Tông) ở Con Cuông Thành này rất kiên cố, do Cầm Bành chỉ huy
Nh trên đã nói, Con Cuông là vùng giáp địa đầu huyện Đông Thành ở phía Tây, Cầm Bành đóng cửa thành cổ thủ chờ viện binh Nghĩa quân vua Lê bao vây thành Trà Lân từ tháng 11/1424 Đợc tin Phan Vân liền hởng ứng cuộc bao vây của nghĩa quân Lê Lợi Ông liền chuyển lơng thực từ Thung Buồng, Cồn Kho lên giúp nghĩa quân bao vây Thành Trà Lân suốt 2 tháng (tháng 11 - 12/1424) Đây là một chiến tích rất lớn Mặc dù không nêu rõ nhng cuốn “Lịch
sử chế độ phong kiến” đã cho ta biết "Nhân dân địa phơng nhiệt liệt hởng ứng
nghĩa binh và giúp đỡ nghĩa binh bao vây thành Trà Lân" (4, 70) Trong sự kiện này chính sử triều đình không chép cụ thể nhng lại có truyền thuyết nói rằng:
"Chánh sứ Phan Vân đã cho chở quân lơng đi từ Thung Buồng, Cồn Kho cung ứng cho nghĩa binh Lam Sơn, ngày đêm bao vây thành Tên những địa điểm, di
Trang 39tích nh "Buồng" trong "Thung Buồng" "Kho" trong "Cồn Kho” còn đợc giữ lại tới ngày nay, cho phép ta nhận ra cái mà truyền thuyết đã phản ánh.
Suốt trong hai tháng 11 và 12 mùa đông năm Giáp Thìn (1424), đoàn vận tải quân lơng đi theo đờng núi qua Truông Dong lên đến Trại Lạt (Phợng Kỳ) rồi dong thuyền xuôi theo dòng nớc sông Hiếu xuống tận Trà Lân Cần chú ý rằng, vùng Con Cuông xa và vùng phụ cận Trà Lân đầu thế kỷ XV là địa bàn c trú của các dân tộc thiểu số, lơng thực, thóc gạo không có nhiều Việc cung ứng quân lơng của Phan Vân có tác dụng gần nh quyết định cho việc bao vây hạ thành Trà Lân, cứ điểm quan trọng của quân Minh nằm trên đờng sơn cớc để khống chế các thành trì ở phía biển là Thành Nghệ An ở Rú Thành và Thành Trài (Diễn Châu)
Hiện nay ở miếu thờ Phan Vân, mặc dầu đã trải qua nhiều thế kỷ, nhng vẫn còn giữ đợc đôi câu đối khẳng định sự tích đó của ông:
"Sáu trăm mẫu hng thịnh đợc kế lâu dài, quân lơng là chiến tích
Mấy ngàn dân lạc nghiệp nên sống yên vui, phong tục thật thuần hậu”
Mấy chữ "quân lơng là thành tích chiến công" trong vế phải của câu đối
đã nêu rõ cống hiến của Phan Vân trong sự nghiệp chống giặc Minh khi lập miếu thờ ông
Để hiểu ý nghĩa "quân lơng là chiến tích" mà cha ông ta xa đã đánh giá công lao của Phan Vân trong khởi nghĩa Lam Sơn, ngày nay chúng ta cần lu ý rằng: Thuở xa, sự nghiệp bảo vệ đất nớc và giải phóng dân tộc bao giờ cũng
đồng thời đòi hỏi cả hai đại sự đặt gọn trong hai chữ "binh" (quân đội) và
"l-ơng" (hậu cần lơng thảo) Vì vậy, ngay từ đầu theo “Lam Sơn thực lục" các tớng
lĩnh trong nghĩa quân Lam Sơn đã đợc phân công theo 7 lĩnh vực Trách nhiệm
và nhiệm vụ thứ 7 gọi là "t quốc sử" thì việc tổ chức hậu cần lơng thảo gọi là "t lơng quốc sự" với đầy đủ ý nghĩa "thực túc binh cờng" chứ hoàn toàn không phải là thành tích ủng hộ quân lơng
Trang 40Cuối tháng Chạp năm Giáp Thìn (1424), thành Trà Lân đợc giải phóng Nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục thực thi phơng án chiến lợc của Nguyễn Chích và
dự tính kế hoạch phá tan hệ thống thành luỹ quân Minh dọc sông Lam từ thành Trà Lân xuống thẳng thành Nghệ An rất kiên cố do Phơng Chính đóng giữ Lê Lợi dự tính phải đánh lâu dài mới hạ đợc thành Sau trận Bộc Bố (1/1425), đại quân Lam Sơn tách ra làm 2 bộ phận Một bộ phận bao xây chặt thành Nghệ An
và thành Trài (Diễn Châu) Còn một bộ phận do Trần Nguyên Hãn chỉ huy thì kéo vào vợt đèo Ngang, giải phóng Tân Bình - Thuận Hoá Với tầm nhìn chiến lợc này xuất hiện một vấn đề lớn: Trong khi đại quân từ thành Trà Lân đánh xuống vây hãm thành Nghệ An thì quân Minh rất có thể từ thành Trài (Diễn Thành) đánh lớn và tấn công thẳng vào sờn bên trái đại quân Lam Sơn, trong khi đó các võ tớng mu lợc đều phải trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng Tân Bình - Thuận Hoá, vây hãm thành Nghệ An và thành Trài Do đó, Lê Lợi đã giao cho Phan Vân hai nhiệm vụ:
Một là: "Thừa tuỳ phái lập đồn điền", tức nhiệm vụ quân lơng, tiếp tục khẩn hoang để cung ứng quân lơng cho đại quân Lam Sơn vây thành Nghệ An dài ngày và sau đó, trong khi đại quân Lam Sơn theo đờng sơn cớc kéo ra đánh thành Tây Đô (Thanh Hoá) thì quân lơng phải có đủ để chở đi cung ứng theo đ-ờng thuỷ (tức kênh nhà Lê)
Thứ hai: Nhiệm vụ "sơn phòng" tức giữ vững vùng núi phía Đông đờng sơn cớc (tức phía Tây Yên Thành ngày nay) để phòng quân Minh đánh tập hậu vào sờn bên trái nghĩa quân đang trùng trùng kéo xuống bao vây chặt thành Nghệ An và thách tớng Phơng Chính mở cửa thành dàn trận quyết chiến
Với nhiệm vụ "sơn phòng" này, Phan Vân đợc lệnh lập “Sở chỉ huy”
"Đồng chỉ huy" tại nơi ông ở tức xã Tiền Thành xa thời đầu thế kỷ XV
Những việc đó chính sử triều đình không ghi chép hết đợc, nhng may mắn cho thời đại chúng ta là có vị quan giữ chức "hàn lâm viện thị giảng" (tức chức quan văn, học vấn uyên bác cổ kim, đợc vào kinh giảng kinh sách cho