12 Chương I: Qúa trình hình thành và phát triển của dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn - Thanh Hóa từ thế kỷ thứ I năm 037 sau công nguyên đến đầu thế kỷ XXI.. Những đóng góp của dòng họ Mai
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn cũng chính là lời cảm ơn chân thành nhất của tác giảtới PGS Hoàng văn Lân, PGS-TS Nguyễn Trọng Văn vì sự hướng dẫn trựctiếp, giúp đỡ tận tình của các thầy trong suốt thời gian qua đồng thời tác giảcung xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô ở khoa sau đại học, khoa lịch sử -Trường Đại Học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trìnhnghiên cứu
Cũng qua đây tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hội đồng gia tộc họMai Đức, đặc biệt là các ông trong họ như: ông Mai Đức Tịch, Mai ĐứcToại, Mai Đức Lắm; Thư viện Đại Học Vinh, bảo tàng Thanh Hóa, Ủy bannhân dân huyện Nga Sơn…đã cung cấp tài liệu giúp tác giả hoàn thành luậnvăn
Tác giả cũng đặc biệt cảm ơn tới gia đình, bạn bè,đồng nghiệp, đã quantâm giúp đỡ suốt thời gian qua
Vinh, ngày 4 tháng 01 năm 2011
Tác giả:
Mai Văn Bang
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu……… 5
I Lý do chọn đề tài ……… ………….…… 5
II Lịch sử vấnđề……… 6
III Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài……… ……….… 8
IV Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu……… 9
V Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn ……… ……… 11
VI.Bố cục luận văn……… ….…… 12
Chương I: Qúa trình hình thành và phát triển của dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn - Thanh Hóa từ thế kỷ thứ I (năm 037 sau công nguyên) đến đầu thế kỷ XXI. 1.1 Vài nét về mảnh đất và con người Nga Sơn……… ….……….…… 13
1.1.1 Địa danh Nga Sơn qua các thời kỳ……… ……… … 13
1.1.2 Địa hình và điều kiện tự nhiên……… ……….…… 14
1.1.3 Truyền thống văn hóa của cư dân Nga Sơn………… ……….….… 15
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn từ thế kỷ thứ I (năm 037 sau công nguyên) đến đầu thế kỷ XXI … 21
1.2.1 Dòng họ Mai Đức định cư trên đất Nga Sơn……… …… 21
1.2.2 Sự phát triển của dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn từ thế kỷ thứ I (năm 037 sau công nguyên) đến đầu thế kỷ XXI……… … 23
Chương II Những đóng góp của dòng họ Mai Đức đối với lịch sử dân tộc từ thế kỷ thứ I (năm 037 sau công nguyên) đến đầu thế kỷ XXI. 2 Thời Đông Hán (thế kỷ I) đến thế kỷ XVIII……….… 28
2.1 Thời Đông Hán (thế kỷ I) trước khi tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng………31
2.2.1 Thời Hai Bà Trưng……….…….……….….…… 33
Trang 32.1.2 Thời Lý - Trần - Lê Trung Hưng……….… …… 43
2.1.3 Thời Tây Sơn……….….….…… 50
2.2 Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI……… …… … …51
2.2.1 Cuối thể kỷ XIX……….……… ….…… 53
2.2.2 Đầu thế kỷ XX……… ….……… …… 55
2.2.3 Giai đoạn 1930-1945……… …….……56
2.2.4 Giai đoạn 1945-1975……….……….….….… ….57
2.2.5 Giai đoạn 1975 đến đầu thế kỷ XXI……….… … 58
Chương III Truyền thống văn hóa của dòng họ Mai Đức 3.1 Truyền thống võ công……… ….….… ….… 60
3.2 Truyền thống khoa bảng……… ………….……63
3.3 Từ đường, lăng mộ, lễ hội……… …….… … 66
3.3.1 Từ đường……… …… ….……….66
3.3.2 Lăng mộ……… ……….… … ….……76
3.3.3 Lễ hội……….…….…….…….… …… 76
3.3.4 Giá trị lịch sử nghệ thuật văn hóa……… ….…….……81
Kết luận:……… ………….…… 83
Tài liệu tham khảo……….……… ………….…… 86
Phụ lục I: Văn bia……… …… 90
Phụ lục II: Hình ảnh về dòng họ Mai Đức……… …… …95
Phụ lục III Danh sách con cháu có trình độ trung cấp đến sau đại học …98
Trang 4
MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1 Các dòng họ ở Thanh Hóa vốn có truyền thống cần cù lao động và
đoàn kết theo tinh thần tương thân tương ái, có ý chí mạnh mẽ và thông minh,
đã từng sát cánh bên nhau trong các cuộc đấu tranh oanh liệt để bảo vệ Tổquốc, quê hương, xóm làng Trong các dòng họ đó có dòng họ Mai Đức ởNga Sơn, Thanh Hóa Trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 037 sau côngnguyên đến đầu thế kỷ XXI đã giúp sức người, sức của để bảo vệ cho chínhnghĩa, cho công bằng xã hội, truyền thống yêu nước và anh hùng của dòng họcần được làm sáng tỏ để các thế hệ con cháu được tự hào về tổ tiên mình, trên
cơ sở đó để tôn trọng, học tập và phát huy
1.2 Ngày nay khi Đất nước thống nhất, nhu cầu hướng về cội nguồn
của con người ngày càng lớn Do đó nghiên cứu tìm hiểu về dòng họ một mặtthể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Đồng thời thông qua đó việc nghiêncứu truyền thống văn hóa dòng họ của dòng tộc từng bước được khẳng định
1.3 Dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn có nguồn gốc ở xã Phú Cốc
huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (nay thuộc huyện Vụ Bản,Nam Định) đến năm 037 sau Công nguyên di cư đến đất Nga Sơn, trải quahơn hai nghìn năm lịch sử do gia phả bị gián đoạn nhiều nên chỉ lập được 16đời, đến nay con cháu họ Mai Đức tập trung chủ yếu ở trong huyện và ởnhiều nơi khác
Trong thực tế dòng họ này có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc,cống hiến nhiều nhân tài cho đất nước Đặc biệt là thời kỳ trước và sau khởinghĩa của Hai Bà Trưng Do đó nghiên cứu về dòng họ Mai Đức ở đất NgaSơn giúp chúng ta nhận thức đúng đắn hơn về gia tộc, cộng đồng và mối
Trang 5quan hệ giữa các dòng họ Trên cơ sở đó phát huy những mặt tích cực, hạnchế những mặt tiêu cực, góp phần củng cố mối đoàn kết toàn dân.
1.4 Dòng họ là một hiện tượng lịch sử nên có sản sinh, có vinh thăng,
có suy thoái, thậm chí có khi không còn tồn tại Nhưng cũng có những dòng
họ, được cả vùng hoặc cả nước biết đến Thường những dòng họ này cónhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc và thường có những nhân vật tiêu biểu, ởđất Nga Sơn tiêu biểu có thủy tổ họ Mai văn, tự là Phúc Đức là quan Thái úy
võ quan cao cấp thời Lê Trung Hưng; đại tướng đại vương Trịnh Minh người
đó công mộ dân binh và dẫn đường cho vua Trần đánh giặc; Của họ Mai Thế
là Mai Anh Tuấn Các nhân vật đó xuất hiện trong các thời kỳ lịch sử khácnhau, điều kiện xã hội khác nhau.Nhưng đó là niềm tự hào của dân tộc, củadòng họ, của người trong họ, mỗi khi nhớ về cội nguồn là nhớ tới nhân vậtkhởi thủy đó, cá nhân đó trở thành nhân vật lịch sử….Đề tài này cũng nhằmxác định một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn,Thanh Hóa với những đóng góp cụ thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệđất nước từ năm 037 sau Công nguyên đến đầu thế kỷ XXI
1.5 Lịch sử Dân tộc nói chung và lịch sử dòng họ nói riêng có nhiều
dòng họ nổi danh võ công như họ Lê ở Thọ Xuân –Thanh Hóa, họ NguyễnGia Miêu ở Hà Trung - Thanh Hóa, Họ Mai Đức ở Nga Sơn nổi danh tronglịch sử ở phương diện võ công Trải qua nhiều thế kỷ, dòng họ này đã thamgia vào những biến động của Đất nước Nghiên cứu về dòng họ là việc hếtsức cần thiết nhằm khẳng định những đóng góp to lớn của các thế hệ tổ tiên,ông cha trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia dân tộc
Trang 6liệt, có khi bi hùng, đó là sự thật lịch sử rất hùng hồn khi vận mệnh của đấtnước tùy thuộc vào các dòng họ ở một làng xã, một khu vực, uy tín của cácdòng họ cũng đem lại tiếng tăm, vinh dự cho làng, cho khu vực đó Làng haykhu vực làm cho người ta biết đến nhiều là do, ở đó có những dòng họ đóđóng góp cho xóm làng, cho đất nước Thực sự nhờ các dòng họ này, cótruyền thống hiển hách Không chỉ nổi tiếng nhất thời, mà còn qua đời nàyqua đời khác Chính vì vậy mỗi dòng họ, đều xứng đáng cho một công trìnhnghiên cứu công phu
Mặt khác thời gian gần đây, gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ ởnông thôn Vấn đề dòng họ được nhiều người nhắc đến, việc tu bổ, xây dựnglại nhà thờ, xây lại miếu mộ Tìm lại mối liên hệ dòng họ qua gia phả, quacác thông tin khác, dịch thuật sắc phong, gia phả nhiều dòng họ được quantâm
Thanh hóa là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nhiều anh hùng dân tộc, nhiềuphong trào nổi tiếng được biết đến từ xứ Thanh Quê hương của Bà Triệu,của vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn), Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và còn rất nhiềungười yêu nước Việt Nam khác Các dòng họ ở Thanh Hóa nói chung, dòng
họ Mai Đức ở Nga Sơn nói riêng đã có hơn hai nghìn năm lịch sử Nhưngtrước cách mạng tháng tám, đến nay chưa có công trình nào nói về quá trìnhphát triển “dòng họ Mai đức ở Nga Sơn từ năm 037 sau công nguyên đến đầuthế kỷ XXI”
Trong thực tế con cháu trong hội đồng gia tộc, dòng họ Mai Đức và một
số nhà khoa học đó có bài viết về dòng họ Mai Đức Nhưng chỉ đề cập riêng
lẻ Cụ thể có một số bài viết như sau:
Trong cuốn “Danh Nhân Thanh Hóa’’ của nhà xuất bản Thanh Hoá năm
1989, có đề cập đến cuộc khởi nghĩa do bà Lê Thị Hoa thuộc dòng họ MaiĐức Trước khi tham gia cuộc khởi nghĩa do hai Bà Trưng lãnh đạo năm 40(sau công nguyên), của tác giả Hoàng Tuấn Phổ
Trang 7Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Nga Sơn”, tập 1 do nhà xuất bảnchính trị quốc gia của tác giả Trịnh Nhu (chủ biên), tác giả đã đề cập đến thânthế và sự nghiệp của nữ tướng
Trong cuốn “Nữ Tướng Thời Hai Bà Trưng” của nhà xuất bản thanh niênnăm 2001 của Bùi Thiết cũng đó đề cập nhiều thông tin quý đến nữ tướng LêThị Hoa
Trong “Tìm hiểu dòng họ Việt Nam” tác giả Mai Văn Hoa, đã trình bàynhững nét khái quát chính về dòng họ Mai Đức ở Nga Sơn
Trong cuốn “Trưng Vương và các Nữ Tướng” của tác giả Vũ Thanh Sơn,
do nhà xuất bản phụ nữ (2009) Đã cung cấp nhiều tư liệu quý, mới đượcphát hiện của nữ tướng Lê Thị Hoa Về con cháu trong dòng họ: Mai ĐứcTân có bài “Lê Thị Hoa - thủy tổ” dòng họ Mai Tất cả những cuốn sách vàbài viết trên đã đề cập đến, đóng góp của dòng họ Mai Đức đối với lịch sửdân tộc Nhưng các bài viết chỉ chủ yếu nhấn mạnh đến các nhân vật, Bà nữtướng Lê Thị Hoa, bốn người con trai của bà: Mai Đạt, Mai Thỏa, Mai An vàMai Trí, còn mang tính riêng lẻ Chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu tổng thểquá trình phát triển của dòng họ và những đóng góp của dòng họ, đối vớiquốc gia dân tộc Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước từ thực tế đó đặt rayêu cầu, nhiệm vụ đối với chúng tôi Phải đi sâu nghiên cứu, một cách toàndiện hơn về dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn Để góp phần giữ gìn và pháthuy truyền thống của dân tộc
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ KHOA HỌC CỦA
ĐỀ TÀI:
3.1 Phạm vi nghiên cứu:
Dựa vào tài liệu hiện có và khả năng nghiên cứu của bản thân , chúngtôi đặt ra phạm vi nghiên cứu của đề tài “Dòng Họ Mai Đức ở đất Nga Sơn từthế kỷ I (năm 037 sau công nguyên) đến đần thế kỷ XXI”
3.2 Nhiệm vụ khoa học của đề tài:
Trang 8Trên cơ sở nhận thức được, tầm quan trọng của việc nghiên cứu dòng
họ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Luận vănchúng tôi, tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Nghiên cứu tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống về quá trìnhhình thành và phát triển của dòng họ Mai Đức ở Nga Sơn từ năm 037 saucông nguyên đến đầu thế kỷ XXI
Từ những đóng góp chung, của dòng họ đối với quốc gia dân tộc Trên
cơ sở đó chúng tôi tập trung đi sâu vào, tìm hiểu các nhân vật tiêu biểu trongdòng họ đó là Bà nữ tướng Lê thị Hoa và bốn người con trai Tả Hữu TiềnPhong tứ dực tướng công ( Mai Đạt, Mai Thỏa, Mai An, Mai trí )
IV NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4.1 Nguồn tài liệu :
Trong quá trình thực tiễn đề tài, chúng tôi tham khảo và nghiên cứu cácnguồn tài liệu sau:
Tài liệu gốc:
Chúng tôi tham khảo các tài liệu chính sử “ Đại Việt Sử Ký ToànThư” của Ngô Sĩ Liên (tập2) do Đào Duy Anh và Cao Huy Du dịch; Quốc sửquán triều Nguyễn “Việt Sử Thông Giám Cương Mục” (tập 18); Quốc sửquán triều Nguyễn “ Đại Nam Thống Nhất Chí” (tập1,2) Loại gia phả gồmcó: “ Mai Tộc Thủy Tổ Phả Lục Bia” (tức bia ghi gia phả thủy tổ họ Mai), giaphả thế hệ chi 4 dòng họ Mai Đức (họ cả) Ngoài ra chúng tôi còn tham khảocác đạo dụ, sắc phong, câu đối trong nhà thờ họ Mai Đức của Bà nữ tướng Lêthị Hoa và bốn ông tả hữu tiền phong tứ dực tướng công (Mai Đạt, MaiThỏa, Mai An và Mai Trí) Tại đền thờ họ Mai Đức và đền thờ nữ tướng Lêthị Hoa (ở làng Ngũ Kiên - xã Nga Thiện)
4.1.1 Tài liệu nghiên cứu:
Trang 9Một số tài liệu mà chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu như
“ Địa Chí Thanh Hóa” của nhà xuất bản Thanh Hóa “ Lịch Sử Việt Nam”tập1 của Trương Hữu Quýnh, nhà xuất bản Giáo dục
Các tài liệu khác:
Ngoài các tài liệu trên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn thamkhảo một số tài liệu sau: “Danh nhân Thanh Hóa” của tác giả Hoàng TuấnPhổ do nhà xuất bản Thanh Hóa năm 1989 “Việt Nam các sự kiện” của viện
sử học “Lê thị Hoa – Thủy Tổ” dòng họ Mai của Mai Đức Tân trên tạp chídân tộc và thời đại ngày 16/9/2002 Ngoài ra còn có các loại sách như “ NữTướng thời Hai Bà Trưng” của tác giả Bùi Thiết nhà xuất bản thanh niên năm
2001 Cuốn “Trưng Vương và các Nữ tướng” của tác giả Vũ Thanh Sơn, nhàxuất bản phụ nữ năm 2009 “ Nữ tướng thời Trưng Vương – Lê Thị Hoa nữtướng” của tác giả Nguyễn Khắc Xương Cuốn “Nữ tướng Việt Nam” củatác giả Tạ Hữu Yên nhà xuất bản quân đội nhân dân năm 1991
Tài liệu điền giã:
Để tăng thêm sự phong phú trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còntìm hiểu, đi thực tế về nhà thờ họ Mai Đức Đền thờ nữ tướng Lê thị Hoa,nhiều lần ghi chép và chụp lại các sắc phong câu đối, hoành phi để làm cơ sởcho quá trình nghiên cứu Đồng thời chúng tôi còn gặp gỡ trao đổi với nhữngngười lớn tuổi trong họ như: Trưởng họ ông Mai Đức Hưu, ông Mai ĐứcLam người giữ nhà thờ, ông Mai Đức Tịch người đã dịch gia phả và văn bia,các ông khác như ông Mai Đức Bơn, Mai đức Toại, Mai Đức Lắm …
4.1.2 Sưu tầm tài liệu:
Để có nguồn tư liệu trên, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tích lũy saochép tư liệu ở thư viện trường Đại Học Vinh, thư viện và bảo tàng tỉnh ThanhHóa, Viện Hán Nôm Rập chép bia ký, hoành phi câu đối, gia phả bằng chữ
Trang 10Hán, sao chép và chụp lại các sắc phong, nghiên cứu thực địa tại nhà thờ họ,đền thờ, lăng mộ ở xã Nga Thiện, Nga Sơn, Thanh Hóa
4.1.3 Xử lý số liệu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sữ dụng phương pháp duyvật biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic để trình bày mộtcách có hệ thống, cụ thể quá trình hình thành và phát triển của dòng họ MaiĐức ở Nga Sơn, cũng như đóng góp của dòng họ này trong thời gian từ thế
kỷ I sau công nguyên đến đầu thế kỷ XXI
So sánh đối chiếu gia phả các sắc phong văn bia với chính sử để từ đó đánhgiá và phân tích, nêu lên mối liên hệ chặt chẽ, sự tác động qua lại giữa dòng
họ Mai Đức đối với quê hương đất nước
V ĐÓNG GÓP KHOA HỌC, GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN:
5.1 Đóng góp khoa học:
Với sự cố gắng cao nhất của tác giả, luận văn sẽ giới thiệu và cung cấpcho độc giả quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Mai Đức trên đấtNga Sơn, giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về một dòng họ có nguồn gốc hơnhai nghìn năm lịch sử
Qua đó góp phần giáo dục tư tưởng nguồn cội, phát huy được truyềnthống quý báu của gia đình và dòng họ
Qua nghiên cứu về dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn góp phần làm sáng
tỏ, một số nhân vật trong dòng họ Mà lịch sử đã bỏ sót hoặc chỉ nhắc tới sơsài
Đồng thời hoàn thành luận văn cũng, góp phần nhỏ bé và phong phúthêm nguồn tư liệu vào bộ lịch sử địa phương
Giá trị thực tiễn:
Hiện nay xu thế thế giới, là hội nhập quốc tế về mọi mặt Việt Namkhông thể tách rời xu thế hòa nhập đó, hơn nữa đất nước đang gặt hái được
Trang 11những thành công hết sức to lớn của sự nghiêp Công nghiêp hóa - Hiện đạihóa đất nước Do đó việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, là điều hết sức cầnthiết Chúng ta hòa nhập, chứ không hòa tan Cho nên việc tìm về nguồn cội,
để phát huy hơn nữa truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người ViệtNam ngày càng trở nên cần thiết và thiết thực hơn bao giờ hết
Trên thực tế ở nhiều địa phương, các dòng họ đã bỏ thời gian, công sức,tiền của để tìm tòi khôi phục lại đền thờ, lăng mộ gia phả… Nhưng bên cạnh
đó cũng không ít người lợi dụng mối quan hệ họ hàng để kiếm chác, cầu vinhkéo bè cánh, chia bè phái làm mất đoàn kết Hiện tượng “ một người làmquan cả họ được nhờ” vẫn còn phổ biến…Từ thực tế trên luận văn góp phầnphát huy mặt tích cực, xóa bỏ mặt hạn chế những măt tiêu cực nhằm hướngtới phát huy truyền thống tốt đẹp, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, xây dựnggia đình văn hóa, làng văn hóa, xã hội văn minh đất nước giàu mạnh
Đồng thời luận văn còn góp phần vào việc giữ gìn bảo tồn và phát huy disản văn hóa dòng họ Đóng góp xây dựng đất nước, ngày càng giàu mạnh vàđậm đà bản sắc dân tộc
Mặt khác luận văn còn giá trị thực tiễn cho, thế hệ trẻ nét đẹp truyềnthống của dòng họ và biết hướng về nguồn cội tổ tiên
vi BỐ CỤC LUẬN VĂN:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Mai Đức trên đất Nga Sơn - Thanh Hóa từ (năm 037 sau công nguyên) đến đầu thế kỷ 21
Chương 2: Những đóng góp của dòng họ Mai Đức ở Nga Thanh Hóa đối với lịch sử dân tộc từ năm 037 sau công nguyên đến đầu thế kỷ 21
Chương 3: Văn hóa truyền thống dòng họ Mai Đức ở Nga Sơn.
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ MAI ĐỨC TRÊN ĐẤT NGA SƠN - THANH HÓA
TỪ (NĂM 037 SAU CÔNG NGUYÊN) ĐẾN ĐẦU THÊ KỶ XXI.
1.1 VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI NGA SƠN :
1.1.1 Địa danh Nga Sơn qua các thời kỳ:
Đầu công nguyên vùng đất Nga Sơn ngày nay thuộc địa hạt huyện Vô
Thiết, quận Cửu Chân Trong suốt chiều dài lịch sử của chế độ phong kiến,địa giới, tên gọi của huyện đã thay đổi nhiều lần qua các thời kỳ lịch sử theosách “Đại Nam thống nhất chí”chép: “Huyện Nga Sơn” Đông - Tây cáchnhau 21 dặm, Nam - Bắc cách nhau 21 dặm, phía đông đến biển 5 dặm, phíatây giáp huyện Vĩnh Lộc 16 dặm phía nam đến địa giới huyện Hậu Lộc 6dặm, phía bắc địa giới huyện Yên Mô và huyện Phụng Hóa, tỉnh Ninh Bình
15 dặm
Từ đời Trần trở về trước gọi là Chi Nga hoặc Nga Lạc, Thời thuộc Minh
do Aí Châu lệ vào phủ Thanh Hóa, đời Quang Thuận gọi là Nga Giang, đổi lệvào phủ Hà Trung sau lại đổi tên hiệu này Bản triều vẫn giữ như thế nămThiệu Trị thứ 3 bỏ chức tri huyện do phủ kiêm lý, trước lãnh 7 tổng, nămMinh Mạng thứ 19 tách lấy tổng Thần Phù cho vào huyện Yên Mô tỉnh NinhBình, nay lãnh 6 tổng, 102 xã thôn trang Từ năm 1838 (từ Minh Mạng thứ19) địa danh Nga Sơn được thay thế cho địa danh cũ và tồn tại cho đến ngàynay” [36, 200]
Cho đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, huyện Nga Sơn vẫn thuộcphủ Hà Trung Năm 1977 hai huyện Nga Sơn và Hà Trung sáp nhập vào nhau
Trang 13gọi là huyện Trung Sơn Đến ngày 30/8/1982 hội đồng bộ trưởng lại ra quyếtđịnh số 148 - HĐBT cho huyện Trung Sơn tách thành hai huyện Nga Sơn vàhuyện Hà Trung như ngày nay Hiện nay huyện Nga Sơn có 27 xã và thịtrấn’’[ 7,25]
1.1.2 Địa hình và điều kiện tự nhiên:
Địa hình:
Nga Sơn nằm ở phía bắc tỉnh Thanh Hóa, cách khoảng 60km, là huyệnven biển, phía bắc giáp với huyện Kim Sơn của tỉnh Ninh Bình, phía namgiáp với huyện Hậu Lộc, tây giáp với huyện Hà Trung và phía đông giáp vớibiển đông Là huyện nằm ở phía đông bắc của tỉnh Thanh Hóa “có tọa độ địa
lý 19056’ 30s đến 200 3’ 45s vĩ bắc đến 1050 34’ 34s đến 1060 3’ 10s
kinh đông
Với tổng diện tích tự nhiên là 14.632 ha ,trên bản đồ hành chính hình dángNga Sơn gần giống lá cờ đuôi nheo mà cạnh huyền chạy theo hướng đôngbắc- tây nam , kéo dài từ Nga Điền, qua phần tiếp giáp với biển xuống NgaThạch ” [23, 120]
Nga Sơn nằm giữa hai con sông Hoạt và sông Báo văn chảy qua huyện dài
12 km, sông Lèn của hệ thống sông Mã chạy qua huyện dài 11km, tổng lưulượng của các sông vào mùa mưa lên tới 1.720 m 3/s Nhưng mùa cạn chỉcòn 20 m3/s, trong kháng chiến giữ nước trước đây con sông Hoạt là đườnggiao thông thủy rất quan trọng Bờ biển Nga Sơn dài 11km, có nhiều giá trịkinh tế cao liên quan đến nông nghiệp trồng trọt ven biển với nghề trồng cói,dệt chiếu truyền thống từ lâu trong ý nghĩ của người Việt Nam, nhắc đến NgaSơn là nhắc đến chiếu cói nổi tiếng [23, 125]
“Ai về mua vại hương canh
Ai lên mình giử cho anh với nàng
Chiếu Nga Sơn gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông ”
Trang 14Bờ biển Nga Sơn có tốc độ bồi tụ khá nhanh, từ năm 1960 đến năm 1994diện tích tăng lên hàng nghàn héc ta do việc mở rộng diện tích quai đê lấnbiển.Ở phía bắc từ Nga Thiện, Nga Giáp đến Nga Phú là phần cuối của dãyTam Điệp được chia thành hai dãy Một bên là dãy Thần Phù, một bên là dãyThiết Giáp dài 8,3km, độ cao trung bình là 100m Đây là nơi quần tụ củanhiều danh lam thắng cảnh với các truyền thuyết của cha ông trong buổi đầukhai thiên lập địa, xây dựng quê hương như Mai An Tiêm, động Từ Thức, biathần trên núi cao… [6, 237] Từ ngàn xưa Thần phù là cửa biển nổi tiếng vềcảnh đẹp, nhưng cũng rất nguy hiểm cho thuyền bè qua lại muốn đi từ bắcvào trung được thì phải qua đây điều này thể hiện qua thơ của Hồ NguyênTrừng trong bài thơ “áp lảng chân nhân” có đoạn :
“Lênh đênh qua cửa Thần
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm” Cảnh trời mây nước thần phù đã làm nao lòng biết bao tao nhân mặckhách Thần phù có trong bài thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Ngạn, vua LêThánh Tông, Ngô Thi Sĩ…Trong di sản của Nguyễn Trãi có hai bài thơ củaông về cửa biển này đó là các bài “quá thần phù hải khẩu” và “thần phù hảikhẩu” đó là những tiềm năng du lịch quý báu của huyện Nga Sơn
Khí hậu :
Do địa lý mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu hải dương mang đặc trưng
và tính chuyển giữa đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Nắng lắm mưanhiều rét sớm và chịu tác động trực tiếp của bãi biển theo mùa hàng nămnhiệt độ trung bình, các ngày từ 230 đến 260 lượng mưa trung bình là 1.540
mm Lượng bốc hơi là 808 mm, độ ẩm không khí là 84%, điều kiện của khíhậu Nga Sơn thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với nhiều chủng loạicây, sinh vật phong phú Điều kiện tự nhiên như vậy ảnh hưởng đến tập quántính cách của con người Nga Sơn Đồng thời ở nơi đây cũng đổ biết bao côngsức mồ hôi, nước mắt để khai khẩn đất hoang, tạo nên vùng đất giàu đẹp, mộtphần của giang sơn gấm vóc Việt Nam
Trang 151.1.3 Truyền thống văn hóa của cư dân Nga Sơn:
Con người:
Lịch sử Nga Sơn gắn liền với lịch sử Thanh Hóa và lịch sử Việt namtrên mảnh đất này trong suốt bề dày lịch sử thiên nhiên và con người luôngắn bó hòa quyện vào nhau
Là huyện địa đầu của tỉnh Thanh Hóa, có vị trí vừa là tụ điểm, vừa là sựnối tiếp trong giao lưu Bắc – Trung nên từ lâu trong lịch sử Nga Sơn đã cónền văn hóa mang nhiều sắc thái đặc trưng địa lý – văn hóa ảnh hưởng đếndáng dấp, tính cách, giọng nói của con người Nga Sơn
Lễ hội là một trong những hoạt động văn hóa tinh thần chủ yếu của conngười Nga Sơn dưới thời phong kiến, trong những ngày lễ hội trai gái traocho nhau những lời ca tiếng hát, những câu hò trữ tình tình yêu đôi lứa vàchính chàng Từ Thức vì đi dự lễ hội mẫu đơn mới gặp tiên nữ Giáng Hương Trong sách “ Thanh Hóa quan phong’’ cụ Vương Duy Trinh đã sưu tầmmột số lời hát ở huyện Nga Sơn đến nay đã thất truyền như sau :
“ Nay mừng hải yến Hà Thành
muôn dân thiên hạ thái bình âu ca
miền Thanh Hóa, huyện Nga ta
cỏ cây thang mộc, quốc gia triều đình
bốn phương bể lặng tăm kinh
muôn dân thiên hạ thái bình âu ca …”
Nga Sơn từ lâu nổi tiếng là đất học, dẫu nghèo nhưng ai cũng muốn cho con học dăm ba chữ để làm người, đó là truyền thống hiếu học của người NgaSơn có 7 vị đỗ đạt khoa đó là: 1 Thám hoa: Mai Anh Tuấn: 6 tiến sỹ đó là cácông: Mai Thế Chuẩn, Mai Duy Trinh, Mai Thế Uông, Mai Hữu Dụng, Mai Thế Trịnh và Nguyễn Giới Trong đó sử sách xưa nhắc nhiều đến nhất là Mai Thế Chuẩn và Mai Anh Tuấn :[36, 30]
Ở nhiều làng xã cũng giành một phần ruộng công để làm học điền, nhiềulàng xã mang đậm truyền thống hiếu học của quê hương như ở Nga Thạch,
Trang 16Nga Mỹ, Nga Văn…Nơi đây cũng chứng kiến nhiều cuộc đấu tranh chốngngoại xâm như : Đại tướng đại vương Trịnh Minh đời Trần đã tham gia cùngvới vua Trần chống quân xâm lược lần thứ 2 (1285), trong đó có cuộc khởinghĩa tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Ba Đình, sự đóng góp của nhân dânNga Sơn là vô cùng to lớn.
Một truyền thống quý báu khác của nhân dân Nga Sơn là chuộng tín nghĩahiếu khách kính trọng người già cả, biết ơn những người có công với họ hàngvới quốc gia dân tộc Những người có công khai khẩn đất hoang, chiêu dânlập ấp hoặc có công văn võ với dân với nước cũng được nhân dân tôn kínhlàm thành hoàng làng, làm đền thờ cúng
Về tôn giáo:
Cư dân Nga Sơn thờ cúng cả đạo Nho lẫn đạo Phật nhưng ảnh hưởng
của nó đối với lối sống, tâm lý, tập quán của nhân dân rất lớn, đạo ThiênChúa (đạo cơ đốc) là tôn giáo lốn thứ 2 sau đạo phật, số lượng đồng bào theođạo thiên chúa ở huyện Nga Sơn khá lớn trên thực tế sinh hoạt đạo ThiênChúa ở Nga sơn gắn liền với trung tâm thiên chúa giáo Phát Diệm, ngàynay” Nga sơn có 21 vạn giáo dân sinh sống trên 10 xã với 7 nhà thờ xứ, 44 họđạo ”[3,25]
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòng bào giáo dân ở huyệnNga sơn đã sống “kính chúa yêu nước”, “tốt đời đẹp đạo”, có nhiều đóng gópcho quê hương cũng như nhiều vùng khác, người Nga Sơn còn thờ cúng các
vị thần , các anh hùng dân tộc, thờ cúng tổ tiên điều đó thể hiện môt trongnhững nét truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”
Một số dòng họ tiêu biểu:
Nga sơn là vùng đất sinh sống của nhiều dòng họ lớn, các dòng này dù
có nguồn gốc khác nhau dù là bản địa hay từ nơi khác đến, dù với lý do gì thìquá trình định cư và phát triển, các dòng họ đã hòa nhập với cư dân bản địa,cùng nhau cải tạo tự nhiên, chống thiên tai địch họa tạo thành những xómlàng trù phú, trên đất Nga Sơn ngoài dòng họ Mai Đức mà chúng tôi đã đề
Trang 17cập trong qúa trình nghiên cứu của đề tài này thì còn nhiều dòng họ kháctrong khuôn khổ cho phép chúng tôi giới thiệu khái quát một số dòng họ tiêubiểu như: họ Mai Thế, họ Lê Quang, họ Mai Đức.
Họ Mai Thế:
Dòng họ Mai Thế (còn được gọi là Mai Quan Tộc), ở làng Hậu Trạch xãNga Thạch Thời Lê Trung Hưng (có 31 người làm quan lớn trong triều) cónhiều công trạng được sử sách ghi chép nhiều vì thế gia phả và nhà thờ đạitôn còn được gọi là Mai Quan Tộc
Do gia phả bị thất truyền nên lấy cụ Mai Thế Châu làm thủy tổ cho đếnnay truyền được 15 đời, dù gia phả đất đoạn, ta vẫn biết trước đó ở thời Tiền
Lê có cụ Mai Thế Hùng quê gốc ở Nga Sơn đến định cư ở xã Nga Thạch đãtheo Lê Hoàn đánh giặc được phong là Đô Đốc Thủy Binh, cháu nội Mai ThếNam được vua Lý phong tước quận công, phiêu kị đại tướng quân
Ở đời trần có ông Mai Thế Phụ giỏi thiên văn được vua trần phong cho làmhướng đạo theo đường biển tiến vào phía Nam đánh Chiêm Thành Con traiông Mai Thế Tần được vua Trần phong chức Giáo Đầu Cấm Vệ Quân chính
vì gia phả không được ghi chép đầy đủ nên lấy cụ Mai Thế Châu làm thủytổ
Đời 1: Cụ thủy tổ Mai Thế Châu được phong tước Toàn Quận Công, khoathi võ đứng tên bảng vàng nên được vua phong tước mới Quận Công, chứcThái Bảo
Đời 2: Cụ tổ Mai Thế Huân tước Mậu Quận Công
Đời 3: Cụ tổ Mai Nghiêm Đạt được vua Lê Trang Tông phong TướcKhuê Quận công ba thế thế hệ đồng triều cùng đánh Mạc, ở đời thứ 3 có bàMai Thị Ngọc Tiến vợ Trịnh Cối sau được phong trung đẳng thần, gia phongthượng đẳng tôn thần, Vua tặng bà câu đối “công tại vương gia, ân tại kỷ sinh
vi quốc mẫu, tử vi thần”
Trang 18Đời thứ 4: Cụ tổ Mai Thế Chuẩn, đỗ tiến sỹ (1731) sau đổi sang nghạchquan võ làm chức Hữu Điểm Phủ Sự, tòng làm đốc trấn Cao Bằng, LạngSơn
Đời thứ 5: Cụ tổ Mai Thế Uông đỗ tiến sĩ Ngự Bình Chương Sự, tước LãXuyên Hầu
Đời thứ 6: Cụ Mai Thế Trinh làm quan tri phủ Tước Tử
Đời thứ 7 : Cụ Mai Thế Trịnh làm quan hàn lâm viện thị giảng học sĩ Đời thứ 8: Cụ Mai Anh Tuấn (tên thật Mai Thế Tuấn ) ông đỗ đầu thihương, thi hội, thi đình được vua Thiệu Trị tặng cho danh hiệu: Tam Khôi(tức ba lần đỗ đầu )
Ông được bổ nhiệm qua các chức: Hàn lâm viện trước tác, Thị độc học sĩ,
Án sát tỉnh Lạng Sơn
Khi thực dân pháp xâm lược nước ta Ông đã 17 lần dâng sớ can ngăn vua
Tự Đức không cắt đất và hiến kế đánh giặc Không được vua và triều đìnhnghe theo, đến lá sớ thứ 18 Ông đã đem gián vào chỗ ngồi của Vua Nhà Vuacho là ông có lời lẽ bất kính xúc phạm đến triều đình, nên đã cho Ông lên làm
Án Sát Lạng Sơn “ tháng 8 năm 1885, ông đem quân đi dẹp giặc Thanh( Trung Quốc ) ở Thất Sơn bị hi sinh, khi Ông mất được tặng hàn lâm việntrực học sĩ liệt thờ ở đền Trung Nghĩa ( ở Huế )’’[36,284] Tóm lại dòng họMai Thế đã có nhiều đóng góp, trong công cuộc xây dựng và phát triển đấtnước
Để khẳng định và tôn vinh truyền thống quý báu của dòng họ, nhân vậtlịch sử
Bộ văn hóa thông tin đã có quyết định 190 QĐ/VH, ngày 15/12/1997 côngnhận đền thờ Mai Anh Tuấn, là di tích văn hóa cấp quốc gia
Dòng họ Mai Đức:
Với ông thủy tổ là Mai Đức Lương quê quán ở Hồng Kỳ- Nghệ An di cưđến Nga Sơn Sinh thời Ông theo nghề buôn bán vào khoảng năm 1670-1700
Trang 19Ông đến làng Mật Kỳ - Xã Nga Trường, thấy phong cảnh tươi tốt Dân cưsống hòa thuận, nên đã ở lại đó lập nghiệp
Dòng họ này đã phát triển, được 15 đời gồm các đời sau:
Đời 1: Cụ thủy tổ Mai Đức Lương
Đời 2 : Cụ tổ Mai Đức Toàn, làm quan Đô Úy thời Lê Trung Hưng
Đời 3 : Cụ Mai Công Bính, biệt hiệu là “ kỳ uyên tiên sinh’’ Đỗ tú tài thời
Lê Trung Hưng
Đời 4: Cụ Mai Đình Chiểu thi, đỗ Cử Nhân đời vua Lê Hiến Tông (vuaCảnh Hưng 1740 – 1786) Làm quan Tri Huyện Thúy Vân (Quỳ Hợp - NghệAn)
Đời 5: Cụ Mai Huy Thuần, ngành trưởng thi đổ Hương Cống Làm giámsinh quốc tử giám, thời Lê Trung Hưng Sang thời vua Quang Toản ( vươngtriều Tây Sơn ) 1793 -1802 Ông được thăng chức: Binh bộ tả thị lang
Nhánh thứ: Cụ Mai Đức Độ, làm quan binh bộ tả thị lang - công thânlang tư thị cẩn tín
Hiện nay trong nhà thờ họ vẫn còn nhiều đạo sắc, sắc phong của các triềuđại phong kiến, cho các con cháu dòng họ Mai Đức Tiêu biểu của cụ MaiĐình Chiểu đời vua Cảnh Hưng 1769 Đặc biệt là sắc phong của cụ Mai HuyĐường, đời vua Cảnh Thịnh (vương triều Tây Sơn) năm 1796, xin được tạmphiên âm như sau: “Mai Huy đường pha hữu văn học ứng
Tài chuẩn thăng binh bộ tả thị lang ngã hầu
Khả gia hiển tộc trung đại phu binh bộ tả thị lang
Đường lĩnh hầu phụng thủ công vụ thường kỳ
Thận ưu tư dĩ vĩnh trung dự”
Cảnh Thịnh năm thứ 4(1796) tháng 11, ngày 25
Dịch nghĩa:
“Ông Mai Huy Đường, giỏi về văn học
Được phong tả thị lang ngã hầu binh bộ,
Được hưởng lộc trung đại phu binh bộ,
Trang 20Ông lĩnh hầu chăm lo công vụ cẩn trọng, được hưởng danh dự suốt đời” Ngày 6, tháng 11 năm Cảnh Thịnh thứ 4 - năm 1796.
Dòng họ này hiện nay hiện có hơn 300 hộ Trong đó có 4 chi, con cháu
có nhiều người đỗ đạt và thành danh là cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nướchoặc trưởng thành trong quân đội Tiêu biểu như tiến sĩ Mai Đức Hồng làm ở
bộ giao thông vận tải, các đại tá như Mai Văn Hùng, Mai Hồng Bàng …Dòng họ Lê Quang
Dòng họ Lê Quang hiện, không rõ nguồn gốc từ đâu đến Chỉ biết ôngthủy tổ là Lê Phúc Địch Vào năm 1740 đến định cư ở, xã Nga Trường(huyện Nga Nơn ) Đến nay đã gần được 300 năm, phát triển 10 đời với 250
hộ
Đời 1: Cụ thủy tổ Lê Phúc Địch
Đời 2: Cụ tổ Lê Phúc Ngạn.đỗ cử nhân
Đời thứ 3: Cụ tổ Lê Văn Đức
Đời 4: Cụ Lê Hồng Sơn
Đời thứ 5: Cụ Lê Văn Chiến, làm quan tri huyện
Đời thứ 6: Cụ Lê Hồng Thắng
Cho đến nay con cháu dòng họ này đã, phát triển ra khắp mọi miền đấtnước Chủ yếu vẫn là ở xã Nga Trường, có nhiều người giữ các chức vụ caocấp của Đảng và Nhà nước tiêu biểu như:
Ông Lê Quang Thương, làm đến chức phó ban tổ chức trung ương (đãnghỉ hưu)
Bà Lê Thị Hương, cán bộ nguồn thứ trưởng bộ công an sắp tới
Ông Lê Văn Quang phó chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Nga Sơn,ngoài racòn có nhiều người là thương binh, liệt sỹ
1.2.Quá trình phát triển của dòng họ Mai Đức trên đất Nga Sơn từ thế kỷ I (năm 037 sau công nguyên) đến đầu thế kỷ 21:
1.2.1 Dòng họ Mai Đức định cư trên đất Nga Sơn:
Trang 21Dưới ách thống trị của nhà Đông Hán ở thế kỷ I (sau công nguyên ),đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ Đặc biệt là kể, từ năm 34 đời vuaQuang Vũ, niên hiệu Kiến Võ thứ 10 Tô Định sang thay Tích Quang làmthái thú quận Giao Chỉ.
Tô Định đã thi hành nhiều, chính sách tàn bạo như “chúng bắt nhữngngười chống đối lại chính quyền đô hộ đóng cọc trói ba người chụm đầu vàonhau, đặt nồi gaọ lên rồi nổi lửa nấu cơm, khi cơm chín, da thịt những ngườibất hạnh thành than”[25, 34]
Chúng hành hình kiểu man rợ khung khiếp này, ở các phiên chợ để uy hiếptinh thần đấu tranh của người Việt
Thái thú Giao Chỉ lúc bấy giờ là Tô Định, thấy ông Mai Tiến nhà giàu Lại
có uy tín trong nhân dân, vợ ông là bà Lê Thị Hoa Tuy đã ba con nhưng vôcùng xinh đẹp, nên đã giao cho ông một chức quan ở châu Gia Lâm để dễ bềkhống chế Sau nhiều lần từ chối không được, Ông đành phải nhận, để tránh
sự nghi ngờ của giặc Tuy làm quan với nhà Đông Hán, nhưng ông vẫn bímật liên lạc với các anh hùng hào kiệt.Để chờ đợi thời cơ để nổi dậy chốnglại giặc Đông Hán
Trước cảnh thống khổ của người dân bị giặc áp bức Làm quan được 3năm, trong lòng đầy căm tức Ông xin từ quan về quê ở làng Phú Cốc, huyệnThiên Bản Cùng với bạn bè cùng chí hướng đi săn bắn trong, vùng núi lâncận và có ý định tìm nơi để xây dựng căn cứ chống quân ngoại bang
Một hôm đi thăm miếu, thừa tướng Lã Gia ở núi Gôi Cảm khái trước tấmlòng trung dũng, của thần chống Đông Hán Ông Mai Tiến đã viết lên váchnúi, một bài thơ như sau :
Phiên âm:
“Ngân ấm tâm bất cải
kháng Hán thị hào hùng chí tồn Nam Việt tráng trung dũng bảng sơn cao”[25,40]
Trang 22Dịch nghĩa:
“Ấn bạc lòng không đổichống Hán tỏ hào hùng chí khỏe giữ gìn Nam Việtlòng trung sánh núi cao”
Quân do thám nhà Đông Hán đem những việc gần đây của ông Mai Tiến cóhành vi chống lại chính quyền đô hộ và sao lại bài thơ trên miếu Lã thầnbáo về phủ đô hộ cho Tô Định biết Tô Đinh đã bắt ông Mai Tiến về phủ đô
hộ và giết ông, trước khi bị bắt đi, ông đã nhắn lại với vợ của mình rằng “hãynuôi các con trai chúng ta khôn lớn và nuôi dạy chúng hoàn thành chí lớn củachúng ta”[25, 42]
Ngày đoạn tang chồng cũng, là ngày bà Lê Thị Hoa tế cờ khởi nghĩa Sốngười theo về hưởng ứng rất đông lên đến vài nghìn người Sau những trậnchiến đấu ác liệt, nghĩa quân bị thương vong nặng Căn cứ Thượng Linh trơtrọi giữa cánh đồng ,bốn phía kẻ địch bao vây cô lập Quả nhiên sau một thờigian cầm cự, nghĩa quân dần núng thế, quân số mười phần còn một
Trước tình hình như vậy bộ chỉ huy nghĩa quân, đã quyết định rút lui Đểbảo toàn lưc lượng và chuẩn bị tìm nơi xây dụng căn cứ mới Ông Đô Quân
là thuộc tướng của bà đã đưa ra kế sách rút lui về phía bắc quận Cửu chân,nơi trước đây ông Mai An Tiêm, đã bị vua cha cho đi đầy ở nơi đây
Họ Mai Đức định cư, trên đất Nga Sơn Tính từ Bà Nữ tướng Lê Thị Hoa
và bốn người con trai, đến nay đã hơn hai nghìn năm, (theo như bản ngọc phảcủa Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính lập vào năm 1557 và Quản giám báchthần tri điện hùng lĩnh thiếu khanh sao lại bản chính vào năm 1736) Cho dùkhông phải gốc Nga Sơn, nhưng bà và bốn người con trai đã cùng với nghĩaquân đi cùng chăm lo khai khẩn, mộ người khai hoang Để phát triển và mởmang dòng họ mình, làm phong phú thêm truyền thống dân tộc
1.2.2: Sự phát triển của dòng họ Mai Đức ở đất Nga Sơn từ năm037đến đầu thế kỷ 21:
Trang 23Với lịch sử hơn hai nghìn năm, trải qua nhiều thế hệ cho đến nay Dòng họMai Đức đã phát triển rộng ra khắp nước, hơn hai nghìn năm đó với Nhữngthăng trầm và biến cố của lịch sử Dân tộc Từ khi Nữ tướng Lê Thị Hoa vàbốn người con trai, di cư vào đất Nga Sơn.
Cùng với sự phát triển của đất nước, dòng họ Mai Đức cũng có nhiều biếnđổi Nhưng sự biến đổi đó theo hướng tốt đẹp, con cháu ngày càng một đôngđúc, các chi nhánh ngày càng nhiều Do gia phả chưa được lập, mãi đến thờivua Tự Đức ( nhà Nguyễn) ông Mai Đức Sâm mới lập gia phả ghi chi thứ 4dòng dõi ông Mai Trí Mặc dù bà Lê Thị Hoa, đã sinh 4 người con trai Saukhi cuộc khởi nghĩa Hai bà trưng thất bại vào năm 43 Hai người con trai đầu
là các ông Mai Đạt và Mai Thỏa đã đi vaò phía nam Cho đến nay vẫn chưa
rõ, tung tích được bao nhiêu đời Còn ở lại quê Yên Nội vốn là thực ấp củagia đình họ có hai người em út là các ông Mai An và ông Mai Trí Gia phảchi thứ 3 dòng dõi ông Mai An, không được bảo quản chu đáo nên đã bị thấttruyền Hiện nay con cháu nhánh này còn hơn 500, hộ ở làng Ngũ Kiên vàmột phần làng Trung Điền ( xã Nga Trường ) Con chaú cũng có hơn 200 hộ
do ông Mai Đình Vơn là trưởng họ
Còn chi 4 dòng dõi ông Mai Trí, đến trước ông Tự Phúc Thuận đời thứ 3
có hơn 1000 năm Không rõ có bao nhiêu đời, gia phả từ đây mới thấy ghichép lại lại rõ ràng Cho đến nay dòng họ Mai Đức, có gần 10 chi lớn nhỏ đãtrải qua 16 đời Có hơn 800 hộ ( tập trung chủ yếu ở làng ngũ kiên xã ngathiện và một phần xã nga trường )
Dựa vào văn bia, được lập vào đời vua Tự Đức (1871) và gia phả củadòng họ còn được lưu giữ Chúng tôi có thể nêu lên, sự phát triển của dòng
họ Mai Đức qua các đời như sau;
Đời thứ 1: Ông thủy tổ Mai Tiến làm quan ở huyện Gia Lâm, đã bị TôĐịnh sát hại
Vợ ông bà Nữ tướng Lê Thị Hoa (thời hai Bà Trưng), vua Trưng Trắc đãphong tên hiệu cho bà là Từ Thiện, phong tặng danh hiệu “Phu Nhân” Di cư
Trang 24từ thôn Thượng Linh, xã Cảo Linh, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng( nay là xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ) Sau khi khởi nghĩa ởquê nhà thất bại Vào khoảng năm 037 (sau công nguyên), dù đã đánh thắngnhiều trận Nhưng lúc bấy giờ thế cô, lực mỏng Lại bị địch đang rất mạnh,bao vây tứ phía.
Bà đã rút lui chiến lược, về phía bắc quận Cửu Chân,vùng đất Nga Sơnngày nay, và đã định cư ở lại đây Tổ chức khai hoang, nhưng vẫn khôngquên mối thù với Tô Định đã giết chết chồng bà là ông Mai Tiến và quyếttâm nuôi dạy các con nên người để “trả thù nhà đền nợ nước”
Năm 40 khi hai bà Trưng, phất cờ khởi nghĩa Mẹ con bà đều theo TrưngTrắc giao cho bà LêThị Hoa, cai quản đội nữ binh Các con bà được xung vàođội tả hữu tiền phong Bà nữ tướng Lê Thị Hoa, sinh được bốn người contrai gồm các ông:
1 Trưởng nam: Ông Mai Đạt
2 Thứ nam: Ông Mai Thỏa
3 Thứ nam: Ông Mai An
4 Thứ nam: Ông Mai Trí
Mẹ con bà được các vua nhà Nguyễn, sắc phong thần là “Dực Bảo TrungHưng Linh Phù Chi Thần” Gồm vua Duy Tân, vua Thành Thái, vua KhảiĐịnh (trước đây có nhiều sắc phong của các triều đại trước, nhưng đã bị thấttruyền nên không khảo được)
Hiện có chi 3 dòng dõi ông Mai An, một nhánh ở làng Ngũ Kiên (xã NgaThiện) và một nhánh ở làng Trung Điền (xã Nga Trường ).Gia phả đã, khôngcòn cho nên rất khó có thể tra cứu được Chỉ có nhánh ở làng Trung Điền,chỉ thấy có một số nhân vật là đỗ Cử Nhân được nhắc đến còn lưu trong dòng
họ Như các ông Mai Văn Đàn, đỗ Cử Nhân đờì vua Dục Đức, Ông Mai VănYên đỗ Cử nhân và làm quan ở huyện Hậu Lộc
Trang 25Đời thứ 2: Lấy ông Mai Trí thuộc chi thứ 4, Ông sinh hạ được bao nhiêucon cháu, đến nay không được biết đến Gia phả đến đây, mới thấy ghi chép
rõ ràng Nên lấy ông Tự Phúc Thuận, làm đời thứ 3
Đời thứ 3: Ông Tự Phúc Thuận
Đời thứ 4: Ông Tự Phúc Dung , tên húy là Mai Đúc Quý, Ông sinh hạđược 4 người con trai và bốn người con gái:
Trưởng nam: Ông Tự Phúc Sủng
Thứ nam: Ông Tự Phúc Lý
Thứ nam: Ông Tự Phúc Hương
Thứ nam: Ông Tự Phúc Khoan
Đời thứ 5: Ông Tự Phúc Sủng, tên húy là Mai Đức Ninh Ông sinh hạđược 4 người con trai:
Trưởng nam: Ông Tự Phúc Biền
Thứ nam: Ông Tự Phúc Thiệu
Thứ nam: Ông Tự Phúc Quang
Thứ nam: Ông Tự Phúc Nam
Đời tứ 6: Ông Tự Phúc Quang, tên húy là Mai Đức Nghi Ông sinh hạđược 2 nam và 4 nữ:
Trưởng nam: Ông Tự Đạo Đăng, tên húy là Mai Đức Huân
Thứ nam: Ông Tự Phúc Nhân, tên húy là Mai Đức Nhiễm
Đời thứ 7: Ông Tự Phúc Nhân, tên húy là Mai Đức Nhiễm Ông sinh hạđược, 4 người con trai và 2 con gái:
Trưởng nam: Ông Tự Phúc Ngọc, tên húy là Mai Đức Bảo
Thứ nam: Ông Tự Phúc Chiêu, tên húy là Mai Đức Sâm, khởi chi nhà ôngLẫm
Thứ nam: Ông Tự Phúc Nhã, tên húy là Mai Đức Miêu, khởi chi nhà ôngMai Đức Luông
Thứ nam: Ông Tự Phúc Miêu, tên húy là Mai Đức Trị, khởi chi nhà ôngMai Đức Tắn
Trang 26Đời thứ 8: Ông Tự Phúc Ngọc, tên húy là Mai Đức Ngọc Ông sinh hạđược 6 người con trai và một ngươi con gái:
Trưởng nam: Ông Mai Đức Hựu
Thứ nam: Ông Mai Đức Thiệu
Thứ nam: Ông Mai Đức Tá
Thứ nam: Ông Mai Đức Ngoạn
Thứ nam: Ông Mai Trân
Thứ nam: Ông Mai Hoàn
Đời thứ 10: Ông Mai Đức Thiệu, ông sinh hạ được 2 người con trai: Trưởng nam: Ông Mai Đức Siêu
Thứ nam: Ông Mai Đức Mậu
Đời thứ 10: Ông Mai Đức Siêu, Ông sinh hạ được 6 nam và 4 nữ:
Trưởng nam: Ông Mai Đức Khiêm
Thứ nam: Ông Mai Đức Tốn
Thứ nam: Ông Mai Đức Nhạ
Thứ nam: Ông Mai Đức Cự
Thứ nam: Ông Mai Đức Ấp
Thứ nam: Ông Mai Đức Đa
Đời thứ 11: Ông Mai Đức Đa, ông sinh hạ được 2 nam và 2 nữ:
Trưởng nam: Ông Mai Đức Tịch
Thứ nam: Ông Mai Đúc Lâm
Đời thứ 12: Ông Mai Đức Tịch, sinh hạ được 5 người con trai và mộtnữ:
Trưởng nam: Mai Đức Liên
Thứ nam: Mai Đức Thanh
Thứ nam: Mai Đức Bang
Thứ nam: Mai Chính Đông
Thứ nam: Mai Đại Dương
Trang 27Kể từ đời thứ 12 trở đi con cháu, dòng họ Mai Đức phát triển mạnh vàsinh sống trong cả nước Con cháu học rộng tài cao, phát huy được truyềnthống tốt đẹp của dòng họ Có nhiều đóng góp to lớn, trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc.
Trải qua hơn hai nghìn năm lịch sử, kể từ khi nữ tướng Lê Thị Hoa rờihuyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định vào Nga Sơn, Thanh Hóa sinh sống Dòng họMai Đức, đã trở thành một dòng họ lớn Cho dù đến nay đã bị thất lạc rấtnhiều Các chi các nhánh phát triển ra khắp nước, con cháu ngày càng pháttriển Có nhiều truyền thống hiếu học, tinh thần yêu nước Các thế hệ dòng họMai Đức, ngày càng tổ điểm thêm truyền thống văn hóa tốt đẹp của tổ tiên
để lại
CHƯƠNG II: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA DÒNG HỌ MAI ĐỨC
Ở NGA SƠN ĐỐI VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC TỪ THẾ KỶ I ( NĂM 37) ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XXI:
Lịch sử phát triển của dòng họ Mai Đức, gắn liền với sự phát triển củalịch dân tộc Trải qua hơn 2000 năm dòng họ Mai Đức, đã đóng góp to lớnđối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Nhiều con cháu, đã hysinh cả đời mình cho đất nước vẽ vang
2.1 Từ thời Đông Hán thế kỷ I đến thế kỷ XVIII:
2.1.1 Thời kỳ Đông Hán (thế kỷ I), trước khi tham gia khởi nghĩa Hai
Bà Trưng:
Thời kỳ này nữ tướng Lê Thị Hoa là người nổi bật Là thiếu phụ bốncon, nhan sắc tuyệt trần, giỏi văn chương, võ nghệ, hiếu thuận với bố mẹchồng Khi chồng bà ông Mai Tiến bị sát hại, Bà đã đứng lên khởi nghĩa,cùng với người em gái của chồng là Mai Lan, cũng một trang nữ lưu anh kiệt
đi chiêu mộ nghĩa quân Ngoài ra trong hàng tướng lĩnh nghĩa quân, có cáctướng lĩnh tài giỏi như Đô Quân, Trần Đạo, đều quê ở Thượng linh Ngày bà
Trang 28Lê Thị Hoa, khởi nghĩa dân quanh vùng về tham gia, ủng hộ cả về lực lượnggạo thóc, trâu bò.
Trước khí thế của quân ta số người theo về ngày một đông Thái thú TôĐịnh muốn chiêu an Bà, vì biết Bà có nhan sắc mặn mà Vừa thúc ép vừa đedọa bắt bà làm tì thiếp, bà Hoa than rằng “thà làm ma chinh phụ, còn hơn làngười phụ bạc ” [39,2]
Bà đã bán hết gia sản quyết tâm, chống Tô Định đến cùng Dựa vào địa thếcủa làng Thượng Linh, ở giữa cánh đồng Nghĩa quân đã đắp nhiều thành lũy,nối với bờ tre quanh làng Tạo thành một tường rào kiên cố, lại đào các conhào rộng bao quanh con đường vào làng Cổng án ngữ cổng làng được đắpbằng đất, ở ngoài ghép đá Trên có vọng gác, để dễ quan sát xung quanh Trong thời gian này nữ tướng Lê thị Hoa, đã phát động nhân dân khôngnộp thuế không đi lính cho giặc Trói bắt những quan lại địa phương, làm taysai cho giặc hãm hại nhân dân Cả một vùng đồng bằng rộng lớn, sục sôihưởng ứng lời kêu gọi khởi nghĩa của nữ tướng Lê Thị Hoa Khi quân ĐôngHán ào ạt tràn vào căn cứ Thượng Linh chúng đã bị đánh bật trở lại Quanhững trận giao tranh ác liệt với quân ta Địch phải rút lui, để tránh tiêu diệthoàn toàn
Những trận chiến đấu tiếp theo, nghĩa quân đã giáng cho quân thù nhiềuphen khiếp đảm Trước tình hình đó, kẻ địch đã thay đổi kế sách Biết khôngthể nào thắng được bằng chiến đấu trực diện, để đàn áp ngay cuộc khởi nghĩanày Chúng đã theo kế đã dùng kế từng, áp dụng đối với các cuộc khởi nghĩa
là vây ráp và cô lập Đóng đồn trên các đường giao thông, mở nhiều cuộc đàn
áp vào những làng lân cận mà chúng cho rằng có liên hệ với Thượng Linh.Mặt khác tăng cường bóc lột tô thuế và bắt các nhà giàu trong huyện phảiđóng góp lương thực để nuôi binh Để triệt nguồn tiếp tế, của nghĩa quân.Đồng thời đánh cầm chừng, cho nghĩa quân mệt mỏi, chán nản Những chínhsách của kẻ thù, căn cứ Thượng Linh ngày càng bị thu hẹp địa bàn Phải liêntiếp mở những trận đánh để giãn vong vây Nhiều tướng lĩnh tài giỏi đã bị hy
Trang 29sinh, quân số ngày càng bị suy giảm Số quân còn lại thì ốm yếu vì kiệt sức,
số quân đi chiêu mộ được thì quá ít so với số bị thương vong cần được thaythế để duy trì chiến đấu
Trong lúc này thì kẻ địch, lại nhận được viện binh tăng cường Liên tiếp
mở các trận đánh vào căn cứ Nghĩa quân gặp phải một khó khăn nữa, là khilúa vừa bắt đầu chín Quân giặc được tung về gặt lúa ở các thửa xa với tầmbắn, chúng còn cho ngựa vào quần lúa Để có lương thực ăn nghĩa quânThượng Linh phải mở cổng ra ứng chiến với địch Giành giật với chúng từng
bó lúa, máu nghĩa quân và máu giặc đổ khắp cánh đồng Thượng Linh Vì thếngày nay vẫn còn có tên là cánh “ Đồng Mã”
Lợi dụng tình hình đó tướng giặc cho quân tràn vào làng qua cổng lớnhòng, đánh sập hoàn toàn sở chỉ huy của nghĩa quân Nữ tướng Lê Thị Hoa
đã cùng vơí quân sĩ chiến đấu rất anh dũng Quân Đông Hán bị thiệt hai nặng
nề, nên buộc phải rút khỏi làng Sau trận chiến đấu này tuy căn cứ vẫn đượcgiữ vững, nhưng quân ta cũng bị tổn thât lớn, lúa bị mất gần hết
Căn cứ Thượng Linh trơ troị giữa cánh đồng, bốn phía kẻ thù bao vây đếnnghẹt thở Đứng trước tình hình ngày cầng nguy cấp như vậy nữ tướng LêThị Hoa đã họp bàn với các tướng lĩnh đầu não Sau khi phân tích tình hìnhđịch ta hiện tại, để bảo toàn lượng chờ thời cơ duy trì cuộc khởi nghĩa Ông
Đô Quân người lão bộc trung thành của gia đình bà Lê Thị Hoa Đã nêu raphương án rút lui về động Hoa Lư Sau đó tìm đường vào Cửu Chân, theonhư bản ngọc phả do đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn (năm 1557), vàgia phả họ Mai Đức chép: sau khi vượt đèo Ba Dội (đèo Tam Điệp ngày nay),đến đầu huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, gặp phải trời mưa to, năm mẹ con bàHoa vào trú tạm ở một cái lều ven đường Năm người do mệt mỏi mà đã ngủthiếp đi, bà Hoa thấy một vị tướng thần từ trên trời giáng xuống, trước mặtnăm mẹ con mà đọc rằng: “bây giờ hãy tìm đến Yên Nội mà ở, rồi sau sẽ báođược thù nhà và mẹ con đều nổi tiếng thơm” [39,2]
Trang 30Khi mẹ con thức dậy đi hỏi thăm thì quả có trang Yên Nội, ở đây họ đãbắt đầu cuộc sống mới.
Như vậy có thể thấy rằng trong lúc cả quốc gia dân tộc, đang bị chìmđắm trong ách đô hộ của ngoại bang Chính bà Lê Thị Hoa đã phất cờ nổidậy chống quân thù, là một người phụ nữ yêu nước thương dân sâu sắc Nợnước thù nhà gánh nặng đè lên vai người phụ nữ ngoài 30 tuổi Phải chăngchính bà là người phụ nữ đầu tiên của dân tộc ta, đứng lên khởi nghĩa chốngquân Đông Hán Khi mà chúng đã ăn sâu bén dễ ở nước ta, hằng trăm nămtrời do đó công lao của bà đối với quốc gia dân tộc, cần được nhìn nhận chothỏa đáng Trước khi tham gia khởi nghĩa hai bà trưng bà Lê Thị Hoa, đã nổidậy chống quân đô hộ Đông Hán, trên quê hương Thượng Linh, vẫn cònnhững địa danh gắn với những nơi đã từng diễn ra các cuộc chiến đấu củanghĩa quân Do Bà lãnh đạo với quân Đông Hán, (tất cả đều thuộc huyện VụBản – tỉnh Nam Định)
2.1.2 Thời kỳ khởi nghĩa Hai Bà Trưng:
Khi đến vùng đất mới bát ngát chân trời,cỏ cây xanh tốt, từng đàn chimtung bay múa lượn Phía đông biển cả bao la, là nơi xưa kia ông Mai AnTiêm đã vâng mệnh cha đi đày.Ở đó có vùng đất bể nối với đảo, phía bắc cómột dãy núi đá vôi chaỵ từ miền tây xuống, như để ngăn cắt Cửu Chân vớiQuận Giao Chỉ Khi tìm đến đầu trang Yên Nội, có khoảng 100 mẫu đất, câycối sầm uất ở giữa có khoảng đất đai bằng phẳng độ mấy sào Năm mẹ con bà
đã dựng tạm một ngôi nhà tranh để ở rồi thuê người khai khẩn được hơnmột năm được mấy chục mẫu đất Bà Hoa gọi người họ Lê ở Thượng Linh ,
họ Mai ở Phú Cốc vào nhập cư được khoảng mấy chục nhà Bà Lê Thị Hoamột mặt khuyên dân chăm chỉ làm ăn trồng gai dệt vải Mặt khác cũng lựachọn, những thanh niên trai tráng khỏe mạnh luyện tập võ nghệ Chờ đợi thời
cơ, tiếp tục nổi dậy
Những đội quân khai hoang do những người tin cẩn của bà phụ trách Khu
hạ do ông Đô Quân được phân công khai hoang lập làng Hiện nay đền thờ
Trang 31ông vẫn còn ở làng Mỹ Thịnh (xã Nga Thiện) Đồng thời ông cũng là thủy tổcủa dòng họ Mai Thế (ở xã Nga Thiện) Khi ông mất được phong là thái đôthượng đẳng phúc thần thành hoàng làng làng Mỹ Thịnh Trước kia có ngôiđình được xây dựng vào năm 1840, đình gồm năm gian, có hậu cung theokiến trúc thời nguyễn Trên nóc có hình “lưỡng long trầu nguyệt’’ “Đình thờthành hoàng làng là thái Đô Quân thượng đẳng thần Bên cạnh có phủ thờđức thánh mẫu Lê Thị Hoa”[ 5, 25].
Ngoài ra còn có các đội khai hoang của hai ông An Trạch và Cung Mang,sau khi đến vùng đất Yên Nội bà Lê Thị Hoa Cho hai ông mỗi người dẫn 50người về phía bắc trang Yên Nội để khai phá đất hoang lập ấp Ông Đô Trạchđưa người khai phá từ làng Mỹ Thịnh đến đầu đường thông đặt tên là TrangYên Nội, còn ông Đô Thống Cung Mang khai phá từ đường Thông, đườngHang ra đến dãy núi Tam Điệp, của biển Thần Phù, đặt tên là làng Nồi, bởilàng có nghề làm nồi nổi tiếng rất phát triển Khi hai ông mất để tưởng nhớcông đức của các ông nhân dân đã lập đền thờ và tôn làm thành hoàng làng
và lập miếu thờ ông Đô Thống An Trạch được lập ở phía nam đường Hanggọi là nghè ngoài, còn Đô Thống Cung Mang được thờ ở đình ngoài
Đình thờ làng Tri Thiện (xã Nga Thiện ), nay đang thờ hai vị là thànhhoàng làng của làng An Trạch Tôn Thần, Cung Mang Tôn Thần và Từ ThiệnPhu Nhân Tôn Thần (bà nữ tướng Lê Thị Hoa) Lúc này những nghĩa quân,cùng với người em chồng của bà Lê Thị Hoa cũng đã về trang Yên Nội
Bà Hoa đã cho người con thứ 3 là ông Mai An, lên khai phá vùng đấtTrung Điền (thuộc xã Nga Trường) Ông là thành hoàng làng của làng TrungĐiền Từ xưa đến nay giữa làng Trung Điền và làng Ngũ Kiên (Yên Nộitrước đây),con cháu không được lấy nhau Vì cùng xuất phát cùng một nguồngốc con cháu bà nữ tướng Lê Thị Hoa Đến ngày giỗ bà Hoa (vào ngày 25tháng 2 âm lịch hàng năm)
Để nhớ công ơn tổ tiên đã sinh thành và mở đất con cháu về tề tựu rấtđông vui tấp nập Song song với công việc khai phá đất hoang Những người
Trang 32đàn ông trẻ tuổi không quên luyện tập võ nghệ, trai gái ưng nhau được phéplấy nhau Ông Đô Quân là thầy dậy võ của bốn người con trai bà Lê Thị Hoa,giờ họ đã lớn khôn, khỏe mạnh và họ đều thông minh hơn người Bà Lê ThịHoa đã cho lập các đội quân phiên chế đầy đủ đội ngũ chỉnh tề để chuẩn bịkhởi nghĩa Bà đã sai người đi thị sát các vùng lân cận, theo dõi tình hình kẻđịch ở vùng dồng bằng và lân cận nận thấy thế giặc còn mạnh, đồn lũy xâydựng ở các nơi, nhiều làng mạc bị đốt phá, người dân bị chết chóc tangthưong.Cho nên mọi công việc xây lực lượng và căn cứ đều phải hết sức bímật Bà Hoa đã phái các đội quân đi các nơi, thuộc vùng đất Cửu Chân Kíchđộng lòng yêu nước căm thù giặc , để nhân dân hưởng ứng khi khởi nghĩa nổra[42, 25] Khi cuộc khởi nghĩa, do hai Bà Trưng lãnh đạo Lúc naỳ mâuthuẫn giữa các tầng lớp nhân dân Giao Chỉ với Tô Định, với chính quyền đô
hộ ngày càng sâu sắc Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra lẻ tẻ như ở Kinh Môn(Hải Dương ), Đông Triều (Quảng Ninh), Duyên Hà (Thái Bình), Bắc Giang,Nam Định,…[34, 45] Do các quý tộc bản địa lãnh đạo, nhưng tất cả cáccuộc khởi nghĩa đều bị dìm trong bể máu
Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em, con lạc tướng Mê Linh (VĩnhPhúc), thuộc dòng dõi “Họ Hùng” Mẹ hai bà là bà Man Thiện ( tức bà TrầnThị Đoan ), thuộc dòng dõi quý tộc quý tộc bản địa có ý thức bất khuất và tựchủ Sử của nhà Hán chép, thì Trưng Trắc là người “rất hùng dũng có canđảm và rất dũng lược”[34,46] Bà rất có sức khỏe và trí khôn, chồng bà ôngThi Sách con lạc tướng Chu Diên (ở Hà Tây ), mối quan hệ giữa hai gia đìnhquý tộc càng tăng thêm uy tín cho hai Bà Trưng, khiến cho Tô Định theo dõi
và chú ý
Chính vì vậy Tô Định đã bắt và giết chết ông Thi Sách (ở điểm này xét vềhoàn cảnh, giữa bà Lê Thị Hoa và Trưng Trắc có cùng cảnh ngộ) Mặc dùvậy với sự cổ vũ và giúp đỡ của bà Man Thiện, của nhiều quan lang, phụ đạo,của nhân dân quanh vùng Trưng Trắc vẫn cùng với em hô hào khởi nghĩa
Trang 33Đầu năm 40 cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo nổ ra ở Hát Môn(cửa Sông Hát, huyện Phúc Thọ – tỉnh Hà Tây cũ).
Khi cờ nghĩa được phất lên, liền được nhân dân khắp nơi nhiệt liệt hưởngúng “Trưng Trắc hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố
và 65 thành trì ở lĩnh ngoại đều hưởng ứng ”[ 36, 45]
“Nghàn tây nổi áng phong trần
ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên”
(đại nam quốc sử diễn ca).
Trong cuộc khởi nghĩa này rất có nhiều người tham gia và trở thành nhữngtướng lĩnh của Hai Bà Trưng như Bà Thiều Hoa, Lê Chân,Vũ Thục Nương,Man Thiện, Đào Kỳ, Lê Thị Hoa…Hai Bà Trưng còn liên lạc và phối hợp vớicuộc đấu tranh vũ trang ở các địa phương đang hoạt động độc lập Nhờ vậylực lượng của nghĩa quân tăng mạnh Cả nước đã đứng dậy, theo Hai BàTrưng khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã chỉ huy quân, tiến đánh quận thành GiaoChỉ là quận lớn nhất thủ phủ đầu não của chính quyền Đông Hán ở nướcta.Tô Định đã hoảng sợ bỏ thành trì chạy về phương bắc Cuộc khởi nghĩatoàn thắng lợi, cả bốn Quận Giao Chỉ, Hợp Phố, Cửu Chân, Nhật Nam chínhquyền đô hộ bị lật đổ; Nền độc lập tự chủ của quốc gia dân tộc đã dược khôiphục lại
Theo lệnh của bà Trưng Trắc, bà Trưng Nhị và ông Đô Dương(cũng làngười quận Cửu Chân), đã đến gặp gỡ bàn bạc với bà Lê Thị Hoa Do biếtđược Bà Hoa cũng là một người không đội trời chung với kẻ thù Vì thếnăm mẹ con bà, đã đi theo Bà Trưng Trắc đã giao cho, bà Hoa trông coi đội
nữ binh và năm ngư ời con trai đều được phong là Tả Hữu Tiền Phong TướngQuân Theo sự phân công của hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Thị Hoa đã cùngvới các con trai phất cờ khởi nghĩa ở huyện Nga Sơn Bà Hoa cũng đã pháicác con đi mộ binh,” Mai Đạt qua Dư Phong, Đô Bàng chiêu mộ các tùtrưởng, các động Mường và tìm bắt voi Mai Thỏa vào Hàm Hoan Mai Anvào các huyện Dư Phát, Tư Phố, Mai Trí đi các huyện xung quanh”[40,25] số
Trang 34quân tuyển mộ được rất nhiều, voi ngựa quân lương đều chuẩn bị sẵn đểkhởi nghĩa, rút kinh nghiệm trước đây cho nên lần này Bà Hoa đã chuẩn bịthật chu đáo ,chính vì lẽ đó cuộc khởi nghĩa do Bà phát động ở Nga Sơn Đãphối hợp chặt chẽ với các khu vực khác do được chuẩn bị từ trước, nên lôicuốn được cả quận Cửu Chân tham gia nổi dậy.
Cùng lúc đó Bà Hoa đã cử thuộc tướng của mình về Hát Môn yết kiến Hai
Bà Trưng, đã biểu dương công lao của bà Lê Thị Hoa cùng các tướng sỹ đãbền bỉ chống quân Đông Hán, trong nhiều năm trời, trước toàn quân BàTrưng đã ra lệnh cho nữ tướng Lê Thị Hoa sau khi đánh tan giặc ở Nga Sơn
và Cửu Chân, lập tức vượt đèo Ba Đội (đèo Tam Điệp) Tiến ra hội quâncùng đánh quận Giao Chỉ Trước sức mạnh to lớn của quân ta các thành trìcủa kẻ thù đã bị đánh tan Quận Giao Chỉ dinh lũy cuối cùng của thái thú TôĐịnh Lúc này các cánh quân khác do các tướng chỉ huy như Đào Kỳ, LêChân, Thiều Hoa, Thánh Thiên cũng đồng loạt tiến đánh các thành khác quângiặc, vì thế trong mấy ngày chủ tướng Trưng Trắc đã thu phục được 65 thànhtrì nghĩa quân và nhân dân chỉ tiếc là đã để cho tên Tô Định đã chạy thoát.Nhưng việc lớn nhất là ách nô dịch sau mấy trăm năm bị quân Đông Hán ápbức cùng cực đã được cởi bỏ Hàng nghàn quân giặc bị bắt, hoặc xin hàng.Trưng Chúa cho phép các tướng toàn quyền giết hoặc tha Trong những tên tùbinh và hàng binh của bà Hoa, có tên Ma Lỗ là thuộc hạ tin cẩn của Tô Định.Các con trai bà Hoa đã bắt được hắn khi tiến vào quận Cửu Chân và địnhđem ra làm lễ tế cha để thay cho tên Tô Định đã chạy thoát về nước Bà Hoa
đã không bằng lòng, cho hắn được ở lại và cho y cùng với con trai Mai Ankhai phá vùng đất mới Do có công lao lớn cho nên khi chết Ma Lỗ đã đượcnhân dân làng Trung Điền (xã Nga Trường ) thờ phụng được tôn là Ma LỗĐại Vương và hàng năm nhân dân vùng này vẫn hương khói chu đáo
Chính điều đó đã thể hiện, được tấm lòng nhân đạo cao cả của Bà Hoa đốivới kẻ thù của dân tộc , đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại Đó
là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, hàng nghàn năm lịch sử để lại, trong
Trang 35những ngày đầu dựng nước và giữ nước của quốc gia dân tộc Được các lạctướng ,các tầng lớp nhân dân và quý tộc ủng hộ suy tôn Trưng Trắc lên ngôicùng với em là Trưng Nhị xưng là Trưng Nữ Vương Bắt tay vào xây dựngchính quyền độc lập, tự chủ Lấy kinh đô Mê Linh, phong chức tước chonhững người có công lao lớn đối với quốc gia dân tộc.
Bà Trần Thị Đoan (mẹ của Hai Bà Trưng), được phong là Man Thái Hậu
Nữ tướng Lê Chân, được phong làm Thánh Chân Công Chúa Nữ tướngThiều Hoa, được phong là Công Chúa Đông Quân Tướng Quân Nữ tướngThánh Thiên, được phong là Thánh Thiên Công Chúa Nữ tướng Vũ ThụcNương, được phong là Bát Nàn Công Chúa
Tổ chức triều đình tự chủ của Hai Bà Trưng tuy còn sơ sài Hiện chưa tìmthất tài liệu nào, mô tả về tổ chức và hoạt động của nhà nước tự chủ dướithời Hai Bà Trưng Nhưng điều đó có thẻ khẳng định, được là một chínhquyền độc lập thoát ly hoàn toàn với chính quyền Đông Hán
“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta ”
(Đại Nam quốc sử diễn ca ).
Còn riêng đối với bà Lê Thị Hoa và các con trai, không nhận chức tướcđịa vị Họ đã có công rất lớn trong việc tuyển mộ nghĩa quân và hô hào dânchúng đứng dậy khởi nghĩa,giải phóng toàn bộ Cửu Chân Sau đó ra hội quân
và một trong những cánh quân quan trọng, trong đánh quận thành Giao Chỉ.Sau khi khởi nghĩa thắng lợi mẹ con bà, chỉ xin vua Trưng cho khu đất gồmmấy chục nhà ở trang Yên Nội và không nhận chức tước được phong.VuaTrưng đã phê chuẩn và cho mẹ con bà được hưởng cả thực ấp ở huyện NgaSơn.Được miễn thuế khóa, binh dịch, năm mẹ con bái tạ vua Trưng về trangYên Nội Tiếp tục khai khẩn đất đai, lập nên các làng mới ở Nga Sơn, những
họ trong làng đều tôn họ Mai là trưởng [39, 1]
Như vậy nữ tướng Lê Thị Hoa không những là vị tướng xuất sắc văn võtoàn tài Người có công đầu, trong việc mở đất Nga Sơn Ngày nay sử sách
Trang 36còn ghi chép đầu công nguyên vùng Nga Sơn, gần cửa biển Thần Phù (vùngYên Mô - tỉnh Ninh Bình) đã được khai phá Bên cạnh đó bà còn sinh ranhững người con trai dòng họ Mai Đức, một dòng họ có từ rất sớm trong lịch
sử dân tộc Như tư liệu trong đôi câu đối trong nhà thờ họ Mai Đức như sau: Phiên âm:
“Bình tức nữ nhi, dinh tức tướng Tộc vi thủy tổ ấp vi thần”
“Bà Hoa là người nhân từ giỏi dậy con cái “bèn ban là Từ Thiện và tặngphong Phu Nhân, sai sứ thần về chọn đất tốt làm lễ an táng cho Bà và lậpmiếu thờ ngay trước nơi Bà ở để nhân dân thờ phụng”[39,2] , (trước có ngôiđền thờ Bà nhưng đến năm 1960 đã bị phá đi để làm trụ sở hợp tác xã nôngnghiệp) Mộ Bà được cất đơn sơ tại phía tây khu dân cư gọi là Bãi Sở Diệntích khoảng 2 sào bắc bộ, phía trước có cây đa lớn không biết được trồng từbao giờ Qua đó có thể thấy Bà Lê Thị Hoa là người có đầy đủ đức tính “côngdung ngôn hạnh”, có tầm nhìn xa trông rộng Quan tâm sâu sắc đến nỗi thốngkhổ của nhân dân, người có công rất lớn trong việc mở đất Đôi câu đối trongnhà thờ họ Mai Đức đã thể hiện điều này
Phiên âm:
“Bản chi bách thế, diệc hữu lợi tai
Oanh liệt nhất thiên hạ, đương như thị nhĩ”
Trang 37Dịch nghĩa:
“Họ này hàng trăm năm đều được hưởng lợi lộc
Oanh liệt nhất thiên hạ, đó là việc đã rõ ràng”
Đối với lịch sử dân tộc, Bà là người đã đi đầu trong cuộc chống lại quân
đô hộ Đông Hán Ngay cả đối với Trưng Chúa cũng phải kính nể và cho là
“bậc tiền bối ” Dẫu là người dưới quyền, nhưng cũng là người có nhiềunăm đương đầu với quân đô hộ cũng là bậc nữ lưu tuấn kiệt không thua kém
ai trong thiên hạ Không biế t có từ bao giời đã có câu đối bất hủ viết về Bà” Phiên âm:
“ Thề báo Tô cừu, thanh bắc khấu
Nghĩa phù Trưng Chủ , phục Nam bang.”
“Sơ cư Hán Đế, lai thiên cổ
Liệt tiết Trưng Vương, hạ nhất nhân”
Dịch nghĩa:
“Từ thời vua Hán, chưa từng thấy
Oanh liệt nhất Trưng Vương, dưới có một người”
Để tương nhớ công lao của Bà, trong việc khai quốc Các triều đại phongkiến Việt Nam đã truy tặng cho bà rất nhiều sắc phong, cùng với bốn ngườicon trai của Bà, rất nhiều sắc phong theo như những người giữ đền thờ BàHoa và nhà thờ họ Mai Đức bà có 11 sắc phong tính từ thời Lê Trung Hưng.Chắc chắn các triều đại trước còn có nhiều, sắc phong cho bà Nhưng hiệnnay chỉ còn giữ được 4 sắc phong của bà thời Nguyễn và 3 sắc phong của 4con trai bà Ngoài ra còn có hai bản ngọc phả của nữ tướng Lê Thị Hoa vào
Trang 38tháng 10 mùa đông năm Hồng Phúc thứ nhất (1557) do đông các đại học sĩthần Nguyễn Bính soạn.
Bản ngọc phả thứ 2 được lập vào tháng 12 mùa đông năm Vĩnh Hựu thứ 2(1736), do quản giám bách thần tri điện hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiềnsao lại dựa trên nguyên bản chính Dựa trên hai bản ngọc phả đó vào ngày 9tháng 9 năm Tân Mùi niên hiệu vua Tự Đức thứ 24 (năm 1871), người trongtộc là tú tài Mai Trân thừa tả, đã thuê người thợ đá cùng huyện, xã Yên Khoái
là Mai Hữu Huyền khắc bia để nêu lại sự việc trên
Nội dung văn bia, nêu lên những vấn đề chính:
Thứ 1: Tóm tắt lịch sử nước ta từ thời Hùng Vương, đến khởi nghĩaHai Bà Trưng
Thứ 2: Sự gian tham tàn bạo ngược của Tô Định cầm đầu bộ máy caitrị nước ta thời Đông Hán Nỗi cùng cực của nhân dân ta dưới ách đô hộ củachúng
Thứ 3: Quê hương bản quán của họ Lê và họ Mai, nguyên nhân di cư
và khai phá ra vùng đất Nga Sơn của họ
Thứ 4: Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo Các dòng họ Lê,
họ Mai ở Nga Sơn đã đi đầu tham gia khởi nghĩa trả thù nhà, đền nợ nước
Thứ 5: Lòng yêu quê hương ,yêu lao động, sáng tạo từ bỏ quan tướctrở về làm dân thường, làm ăn sinh sống của mẹ con Bà Lê Thị Hoa và nghĩaquân ở Nga Sơn
Văn bia gồm hai mặt khổ 0,97- 1,10, 43 dòng mỗi dòng từ 9 chữ đến
38 chữ Cả thẩy có 1600 chữ, chữ chân phương dễ đọc Hiện đang được dựngtrước nhà thờ họ Mai Đức (ở làng Ngũ Kiên – xã Nga Thiện) Mặt khác cònlưu giữu được các sắc phong phong kiến đã phong tặng cho bà Hoa và cáccon trai của bà
Các sắc phong của bà Lê Thị Hoa:
Đạo sắc thứ 1:
Trang 39Sắc: Thanh Hóa tỉnh, Nga Sơn huyện,Yên Nội xã Ngũ Kiên thônphụng sự: từ Thiện Phu Nhân chi thần, trứ hướng lai vị hiếu dư phong tứ kim
vô thừa
Cánh mệnh miên niệm thần hưu trứ phong vi dực bảo trưng hưng linhphù chi thần chuẩn nhưng cựu phụng sự thần kỳ hựu, bảo ngã Lê Thị Khâmtai
Thành Thái, thập tam niên nhị nguyệt, thập ngũ nhật tuế bảo
Dịch nghĩa:
Sắc cho tỉnh Thanh Hóa, huyện Nga Sơn, xã Yên Nội, hai thôn NgũKiên phụng thờ thần Từ Thiện Phu Nhân; từ trước tới nay chưa từng có nayphong là dực bảo trung hưng linh phù chi thần, theo như sắc phong để thờphụng như cũ thần Lê Thị Kính thay
Thành Thái Năm thứ 13 (1902), tháng 2, ngày 15
Đạo sắc thứ 2:
Sắc: Thanh Hóa tỉnh, Nga Sơn huyện, Ngũ Kiên thôn, Mai Trưởnggiáp phụng sự Từ Thiện Phu Nhân chi thần nậm trước linh ứng, hướng lai vịhữu dự phong tứ kim vô thừa
Cánh mệnh miên niệm thần hữu, trứ phong vi dực bảo trung hưng linhphù chi thần.Chuẩn y cựu phụng sự thần kỳ tương hựu bảo ngã Lê Thị Khâmtai
Duy Tân, nguyên niên, cửu nguyệt, nhị thập ngũ nhật
Dịch nghĩa:
Sắc: tỉnh Thanh Hóa, huyện Nga Sơn, thôn Ngũ Kiên Mai Trưởng tộc(Mai trưởng giáp ) phụng thờ Thần Từ Thiện đã từng nêu cao kinh ứng, từtrước đến nay chưa từng có
Nay phong là dực bảo trung hưng linh phù chi thần, theo sắc phong đểthờ thần Lê Thị như cũ Kính thay
Duy Tân, năm thứ nhất (1907 ), tháng 9, ngày 25
Đạo sắc thứ 3:
Trang 40Sắc: Thanh Hóa tỉnh, Nga Sơn huyện,Ngũ Kiên thôn, Mai Trưởng giápphụng sự dực bảo trung hưng linh phù Từ Thiện Phu Nhân chi thần, tiếtkinh ban cấp sắc phong chuẩn kỳ phụng sự Duy Tân nguyên niên tấn quangđại lễ kinh ban bảo chiếu ân lễ phong trật đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chíquốc khánh tự điển Khâm tai.
Duy Tân, tam niên, bát nguyệt thập nhất nhật
Khải Định, cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật
Khải Định Năm thứ 9( năm 1925 ), tháng 7, ngày 25