1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dòng họ hà công ở mường khô và lễ hội chùa mèo tại làng muỗng do xã điền trung huyện bá thước tỉnh thanh hoá

88 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dòng họ Hà Công ở Mường Khô và lễ hội chùa Mèo tại làng Muống Do xã Điền Trung huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Vũ Thị Hằng
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Trần Văn Thức
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 362,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua đó chúng ta không những góp phần tôn vinh những ngời cócông với nớc, với làng, tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp củacác lễ hội, mà còn góp phần vào việc bảo t

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

ooo

Vũ thị hằng

Dòng họ hà công ở mờng khô và lễ hội chùa

mèo Tại làng muỗng do – xã điền trung – huyện bá xã điền trung – xã điền trung – huyện bá huyện bá

thớc – xã điền trung – huyện bá tỉnh thanh hóa

Chuyên ngành lịch sử việt nam

Mã số : 60-22-54

Luận văn thạc sĩ lịch sử

Ngời hớng dẫn khoa học Tiến sĩ : Trần văn thức

Vinh – xã điền trung – huyện bá 2010

đỡ tôi trong quá trình su tầm và chỉnh lý t liệu

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Trần Văn Thức đã nhiệt tình hớng dẫntôi trong quá trình làm luận văn này

Trang 2

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 10 năm 2010

Tác giả

Vũ Thị Hằng

Mục lục

Tra

ng

Mở đầu 1

Chơng 1 khái quát vị trí địa lý, dân c và truyền thống lịch sử huyện bá thớc trớc cách mang tháng tám năm 1945………. 5

1.1 Vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên huyện Bá Thớc……… 5

1.2 Đặc điểm dân c, xã hội……… 9

1.3 Truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm……… 12

Chơng 2 Dòng họ hà công ở mờng khô với di tích chùa mèo…… 15

2.1 Vài nét về vùng Mờng Khô huyện Bá Thớc 15 2.2 Nguồn gốc dòng họ Hà Công ở Mờng Khô 21 2.3 Di tích Chùa Mèo ở làng Muỗng Do xã Điền Trung, huyện Bá Thớc, tỉnh Thanh Hoá……… 34

Chơng 3: lễ hội Chùa Mèo……… 52

3.1 Phần Lễ tại Chùa Mèo……… 52

3.2 Phần Hội tại Chùa Mèo……… 74

Kết luận……… 83

Tài liệu tham khảo………. 87

Phụ lục……… 89

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Thanh Hoá là tỉnh có ba phần t diện tích đồi núi và trung du, trên địa bàntỉnh có nhiều dân tộc chung sống lâu đời bao gồm: Kinh, Mờng, Dao, MôngKhơ Mú, tổng số ngời dân tộc trong tỉnh là 615.091 ngời (12/2005)

Mỗi dân tộc có đặc trng riêng về bản sắc văn hoá, có phong tục tập quánkhác nhau, nhng đều có chung là tình yêu quê hơng đất nớc và lòng trungthành với Cách mạng, các dân tộc ở Thanh Hóa đã có nhiều đóng góp cho sựnghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc

Hiện nay (2010) Thanh Hóa có gần 40 vạn ngời Mờng sống đan xen vớingời Kinh, ngời Thái và các dân tộc khác Vùng và đồi xứ Thanh là địa bàn ctrú chính của ngời Mờng Cho tới năm 1945 ở Thanh Hóa còn tới 51 Mờnglớn của ngời Mờng

Trong quá trình lập Mờng và xây dựng bảo vệ Tổ quốc, dân tộc Mờng đã

có nhiều đóng góp tích cực làm nên truyền thống lịch sử vẻ vang cho dòng họ

và bản Mờng, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc Trong đó phải kể đến dòng

họ Hà Công ở Mờng Khô huyện Bá Thớc tỉnh Thanh Hoá

Do vậy tôi chọn đề tài : Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M ờng Khô huyện Bá Thớc tỉnh Thanh Hoá” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học

Lịch sử của mình

Nghiên cứu lịch sử lễ hội thờ các danh nhân là điều hết sức bổ ích và lýthú Thông qua đó chúng ta không những góp phần tôn vinh những ngời cócông với nớc, với làng, tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp củacác lễ hội, mà còn góp phần vào việc bảo tồn văn hoá phi vật thể dân tộc theotinh thần “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MLuật di sản văn hoá” của Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam

Cũng qua việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ gópphần vào việc làm sáng tỏ thêm những đóng góp của dòng họ Hà Công ở M-ờng Khô trong quá trình lập mờng và bảo vệ đất nớc Bên cạnh đó góp phầnphục dựng lại lễ hội Chùa Mèo để phát huy những giá trị văn hoá phi vật thể,tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở hiện nay Những kết qủa đó

sẽ đóng góp cho việc nghiên cứu biên soạn lịch sử địa phơng, nghiên cứu danhnhân, tộc ngời và giáo dục truyền thống lịch sử – văn hoá cho các thể hệ maisau

Trang 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến thời điểm này (tháng 10 năm 2010 ) đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về ngời Mờng nói chung và văn hóa truyền thống Mờng nói riêng,nhng cha có một công trình chuyên khảo về lễ hội cổ truyền của ngời Mờng.Các ý kiến về lễ hội còn nhiều khác biệt

Nghiên cứu về ngời Mờng và dòng họ Hà Công cũng nh di tích, lễ hộiChùa Mèo đã đợc một số cơ quan chuyên môn, các nhà nghiên cứu trong tỉnhThanh Hóa đề cập đến nh:

Sách Kỷ yếu hội thảo khoa học Hà Văn Mao do UBND huyện Bá Thớc

xuất bản đã đề cập đến dòng họ Hà Công ở Mờng Khô, những đóng góp củadòng họ Hà Công trong quá trình lập Mờng và chống ngoại xâm qua các triều

Sách Lịch sử văn hoá tập 4 (1802 1930) của Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá Đã đề cập đến vai trò của Hà Văn Mao trong phong

trào Cần Vơng ở miền núi Thanh Hóa

Sách Danh nhân Thanh Hoá, tập 5 của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch

sử Thanh Hóa, xuất bản năm 2008 đã đề cập đến danh nhân Hà Văn Mao

Báo cáo kết quả khảo sát, nghiên cứu phục dựng lễ hội Mờng Khô dân tộc Mờng, xã Điền Trung, huyện Bá Thớc, tỉnh Thanh Hoá của Sở Văn hoá thể

thao và du lịch Thanh Hóa, tháng 12/2009 đã đề cập đến sự hình thành làngMuỗng Do, lịch sử di tích và lễ hội Chùa Mèo

Một số các nhà nghiên cứu trong Tỉnh, nh: Hoàng Anh Nhân, Vơng Anh,Cao Sơn Hải, Bùi Chí Hăng, Hà Nam Ning, Lê Xuân Kỳ, Phạm Thị Thi đã cónhiều công trình và bài nghiên cứu về dòng họ Hà Công, về nhân vật Hà CôngThái, Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt

Những công trình và những bài nghiên cứu trên đã đề cập một số vấn đềliên quan đến đề tài mà tôi lựa chọn Song cha có một công trình khảo tả thật đầy

đủ và chi tiết về nguồn gốc và những đóng góp của dòng họ Hà Công ở vùng ờng Khô xa, cũng nh lễ hội Chùa Mèo (từ phần lễ đến phần hội) trong tín ngỡngnhân nhân Mờng Khô Tuy nhiên với những nguồn t liệu đã có sẽ là cơ sở khoahọc quan trọng để giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

3 Nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Trang 5

3.1 Nhiệm vụ:

Luận văn nhằm giải quyết một số nội dung cơ bản sau:

- Làm sáng tỏ về quá trình hình thành vùng đất Mờng Khô và làngMuỗng Do, xã Điền Trung, huyện Bá Thớc

- Làm rõ nguồn gốc dòng họ Hà Công, cũng nh đóng góp của dòng họtrong quá trình lập Mờng và chống giặc ngoại xâm

- Ghi lại công trạng một số nhân vật tiêu biểu trong dòng học HàCông, có nhiều đóng góp trong các triều đại phong kiến đến tr ớc Cáchmạng tháng Tám năm 1945

- Tìm hiểu thêm về lịch sử chùa Mèo: Quá trình tu bổ tôn tạo qua cácthời kỳ và tình trạng hiện nay để góp phần vào việc tu bổ tôn tạo di tích

- Khảo sát văn hóa truyền thống trong lễ hội, đề xuất bảo lu một số loạihình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu

3.2 Đối tợng phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu dòng họ Hà Công, di tích và lễ hội chùa Mèo ởlàng Muỗng Do, huyện Bá Thớc Đồng thời khảo sát nghiên cứu một số xã lâncận có liên quan đến dòng họ Hà Công và tham gia lễ hội chùa Mèo

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

4.1 Nguồn t liệu

- Các tài liệu của các cơ quan nghiên cứu khoa học Trung ơng, các nhànghiên cứu trong tỉnh viết về ngời Mờng và văn hóa truyền thống của ngời M-ờng ở Thanh Hóa đợc lu trữ tại Th viện khoa học tổng hợp tỉnh Thanh Hóa,phòng t liệu Ban nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa, phòng nghiệp vụ Sở văn hóaThể thao và Du lịch Thanh Hóa, Ban dân tộc tỉnh Thanh Hóa …

- Tài liệu ghi theo lời kể và kết quả điều tra khảo sát, su tập ghi chép lại ở

địa phơng trong thời gian thực hiện đề tài

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

ở đề tài này tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu truyền thống, đặcbiệt quan trọng hơn cả là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc Kết hợp ph-

ơng pháp đối chứng, so sánh, phơng pháp thống kê, tổng hợp các t liệu khácnhau để xem xét quy mô của lễ hội và đóng góp của dòng họ Hà Công với cácdòng họ khác trong huyện Bá Thớc

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ về quá trình hình thành vùng đất, về nguồn gốccủa dòng họ Hà Công Đóng góp của dòng họ Hà Công đối với quê hơng đất nớc

Trang 6

- Dựng lại bức tranh lễ hội lịch sử chùa Mèo, góp phần tôn vinh danh nhân,bảo tồn phát huy giá trị và một số loại hình văn hoá nghệ thuật phi vật thể đặc sắc.

Chơng 2:Dòng họ Hà Công ở Mờng Khô và di tích chùa Mèo

Chơng 3: Lễ hội chùa Mèo

Chơng 1 Khái quát vị trí địa lý, dân c và truyền thống lịch sử huyện Bá Thớc trớc cách mạnh tháng tám năm 1945 1.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên huyện Bá Thớc

Bá Thớc là huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, cách tỉnh lỵ 108 km về phía Tây.Phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình và huyện Thạch Thành

Phía Đông giáp huyện Cẩm Thuỷ

Phía Nam giáp huyện Lang Chánh và Ngọc Lặc

Phía Tây giáp huyện Quan Hóa và Quan Sơn

Diện tích tự nhiên: 763,77 ha [11,9]

Dân số: 103.338 ngời [32,194] trong đó ngời Kinh là 5.525, ngời Thái là22.785 [11,9], ngời Mờng là 46.436 [32, 194]

Huyện Bá Thớc đợc thành lập năm 1925 (Khải Định năm thứ 10) Xa

đây là vùng rừng núi đại ngàn, có dấu vết của ngời nguyên thuỷ

Thời thuộc Hán là vùng đất thuộc huyện Vô Biên, rồi Cát Lung (thờithuộc Tề), Trờng Lâm thời thuộc Đờng Thời Lý là vùng đất thuộc huyện ĐôLung Thời Trần – Hồ là vùng đất thuộc huyện Lỗi Giang Thời thuộc Minh

là phần đất thuộc Lạc Thuỷ Thời Lê – Nguyễn, Bá Thớc là phần đất thuộchuyện Cẩm Thuỷ, phủ Thiệu Thiên

Đến đời Thành Thái, cắt 4 tổng: Cổ Lũng, Thiết ống, Sa Lung, Điền Lthuộc huyện Cẩm Thuỷ để ghép vào châu Lang Chánh và châu Quan Hoá.Năm Khải Định thứ 10 (1925), lại cắt 4 tổng trên để lập ra châu TânHoá Châu Tân Hoá gồm 30 xã và 221 chòm Năm 1943 chính quyền phongkiến chia châu Tân Hoá thành 2 phần: phần phía Đông là Điền L và Sa Lung

Trang 7

nhập vào Cẩm Thuỷ; phần phía Tây là Cổ Lũng và Thiết ống thành một bangthuộc châu Quan Hóa.

Sau tháng tám – 1945, bốn tổng cũ của châu Tân Hoá nhập lại vẫn lấytên là Châu Tân Hóa Lỵ sở đóng ở La Hán (xã Ban Công) Tháng 10/1945 dolấy tên Tân Hóa không phù hợp với mảnh đất với bề dày truyền thống này,nhân dân châu Tân Hóa đề nghị tỉnh đổi là Bá Thớc để tởng nhớ thủ lĩnh CầmBá Thớc trong phong trào Cần Vơng chống Pháp cuối thế kỷ XIX.[10,9]

Tháng 11 năm 1945 UBHC tỉnh quyết định đổi tên là Châu Bá Thớc.Tháng 3 năm 1948 thực hiện sắc lệnh số 148- SL của Chủ tịch Chính phủ nớcViệt Nam Dân chủ cộng hòa, đơn vị hành chính châu Bá Thớc đợc đổi sangcấp hành chính huyện Huyện Bá Thớc lúc đầu có 7 xã: Quốc Thành, VănNho, Thiết ống, Hồ Điền, Quý Lơng, Long Vân, Ban Công

Năm 1956 đã có quyết định chuyển xã Lũng Vân về Tân Lục tỉnh HoàBình Đến ngày 2/4/1964, theo quyết định số 107/NV của Bộ trởng Bộ Nội vụ,chia 5 xã của Huyện là Quý Lơng, Hồ Điền, Long Vân, Văn Nho và QuốcThành chia thành 18 xã, cũng trong năm 1964 chuyển Chòm Beo (xã LơngTrung), Chòm Dùng, Chòm Vốc (xã Điền L) về xã Cẩm Liên (huyện CẩmThuỷ)

Ngày 2 tháng 9 năm 1965, Bộ trởng Bộ nội vụ ra quyết định thành lập xãTân Lập Tháng 12 năm 1984 Hội đồng Bộ trởng ra quyết định chia xã Điền

L thành 2 xã là Điền L và Điền Trung [10,10]

Bá Thớc là một huyện vùng giữa của các huyện miền núi trong tỉnh.Toàn huyện có 23 xã, thị trấn trong đó: 10 xã vùng định canh định c, 13 xãvùng giữa và vùng thấp Qúa trình phân vùng định hớng sản xuất, đến naytoàn huyện đã hình thành 5 tiểu vùng: vùng Quý Lơng, Hồ Điền, Long Vân,Quốc Thành và vùng Mờng ống

Huyện Bá Thớc có dân tộc Kinh, dân tộc Mờng, dân tộc Thái sống xen

kẽ với nhau

Bá Thớc là một hợp điểm giao thông của khu vực Miền núi phía Tây Bắc

Xứ Thanh, có sông Mã chảy qua xuyên suốt huyện với chiều dài 40 km chiatách huyện Bá Thớc thành 2 lu vực với những đặc điểm hoàn toàn khác biệt.Phía tả ngạn (bờ Bắc sông Mã) là hệ thống núi đá vôi và rừng nguyên sinh tạonên khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông độc đáo và khu du lịch sinh thái vùng

Trang 8

Son - Bá - Mời của xã Lũng Cao, cụm Quốc Thành vùng cao của huyện BáThớc.

Đối lập với bờ tả ngạn - Phía hữu ngạn (bờ Nam Sông Mã) là vùng đồithoai thoải và vùng thung lũng ven sông Mã mở ra nh lòng chảo, lại uốn lợntheo thế sông, dáng núi thu hút hầu hết các dòng suối trong địa phận huyện BáThớc Những quả núi bạt ngàn nắng, gió là Đồi Lai Li – Lai Láng, nơi gắnvới truyền thuyết về “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mcây chu đá, lá chu đồng bông thau, quả thiếc”, núi MủngMờng, Núi Bộc, Núi Mộng, Đồi Muốn… là những dãy núi trẻ bồi đắp cho cácthung lũng thêm phần xanh tơi, trù phú Do đó, vùng thung lũng này tạo thànhcác bồn địa Mờng Ký, Mờng ống, Mờng Dổi, Mờng Khô (thung lũng Kỳ Tân,Văn Nho, Thiết ống, Điền Thợng, Điền Hạ, Điền Quang, Điền L)… rất thíchhợp cho việc trồng cây lúa nớc và các loại cây màu

Đất canh tác của Bá Thớc có 6.798 ha, trong đó đất trồng lúa là 3.786 ha

và đất trồng màu là 3.010ha [10,13] Có các loại đất chính là: Đất nâu đỏ vàngtrên đá vôi trồng đợc ngô, lạc, đậu, luồng; loại đỏ vàng trên đất sét thích hợpvới cây công nghiệp dài ngày và cây lâm nghiệp; loại đỏ vàng biến đổi đã làmthành các ruộng bậc thang trồng lúa từ lâu; loại đất đen (hiện nay cha đợc sửdụng) Vì vậy nền kinh tế của Bá Thớc chủ yếu là kinh tế lâm nghiệp kết hợpvới nông nghiệp, chăn nuôi và các nghề phụ khác

Trong sản xuất nông nghiệp, lúa vẫn là cây lơng thực chính Với khí hậu

ôn đới mát lành, đồng bào tập trung trồng lúa nớc Các cánh đồng màu mỡ ởLũng Cao, Lũng Niêm, Ban Công… đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng nh

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNếp đồng Cao, gạo thơm đồng Cốc” Ngoài việc trồng lúa, trên các thửaruộng bãi, nơng rẫy, bà con còn trồng ngô, nhất là sắn, đó cũng là những câylơng thực quan trọng ở Bá Thớc

Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, việc khai thác tài nguyên rừng và trồngrừng cũng sớm đợc phát triển Với diện tích rừng rộng gấp nhiều lần diện tích

đất nông nghiệp, tài nguyên rừng phong phú, đồng bào ngoài việc khai thác

gỗ, củi, luồng, nứa … đã chú ý đến trồng rừng Trớc đây với những hình thứcsản xuất đơn giản, đồng bào đã trồng đợc luồng tập trung của tỉnh Gỗ, luồng

đã trở thành hàng hóa, nguồn thu nhập chủ yếu của nhân dân

Chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi theo gia đình, nh ng là một nghềkhông thể thiếu đợc trong nền kinh tế của huyện Trớc đây chủ yếu làchăn nuôi: Bò, Trâu, Ngựa, Lợn Sau ngày có Đảng, đ ợc sự hớng dẫn cụthể của các cấp, chăn nuôi của huyện phát triển mạnh không những đại giasúc mà chăn nuôi gia cầm cũng phát triển

Trang 9

Đối với kinh tế thơng nghiệp ở Bá Thớc phát triển chậm hơn so với lâmnghiệp và nông nghiệp Trớc đây buôn bán chủ yếu là hình thức đổi hàng Saunày có sự giao lu kinh tế miền xuôi và miền núi đã hình thành các chợ và dầndần thơng nghiệp mới phát triển.

Tóm lại, với vị trí địa lý của huyện đã hình thành những đặc thù kinh tếriêng của mỗi vùng Đồng bào đã đúc kết lại rằng:

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MMuốn ăn cơm ngon vào Mô, Má

Muốn ăn cá ra bến Khô, AiMuốn thịt hoãng nai lên mờng Kỷ, ống” [10,14]

Sau ngày Đảng bộ huyện đợc thành lập, dới dự lãnh đạo của Đảng, nềnkinh tế của huyện đợc phục hồi từng bớc, cây lơng thực, trong đó cây lúa làchính đã đợc huyện chú ý nhiều hơn Song lúc này do trình độ canh tác củanhân dân còn thấp, cơ sở vật chất nghèo nàn lại thờng xuyên bị thiên tai đedọa, cho nên tình trạng sản xuất tự cấp tự túc trong các tầng lớp nhân dân vẫnchiếm vị trí chủ đạo

Tuyến đờng 217 nối các huyện đồng bằng đi Cẩm Thủy rồi qua địa phậnhuyện Bá Thớc để ngợc cửa khẩu Quốc Tế Na Mèo và quốc lộ 15A nối liền từNgọc Lặc, Lang Chánh lên hợp nhau tại Km số 0 Sông Mã trở thành mạchmáu giao thông quang trọng về đờng thuỷ của huyện vùng cao Bá Thớc

Hiện tại ngời Mờng sống ở vùng thấp dọc theo thung lũng sông Mã và

địa phận phía Đông, chỉ có một nhóm ngời Mờng Bi tự danh là Âu tá sống ởvùng cao Thành Sơn, Lũng Cao Ngời Mờng Bá Thớc thuộc nhóm Mờng trong(tức mờng Thanh Hóa), có đặc điểm riêng về tiếng nói, ăn mặc, phong tục tập

Trang 10

quán Mờng Ai, Mờng Ôống là những địa danh xuất hiện từ rất sớm, có têntrong truyền thuyết Mờng và Thái Mờng Ôống (tức mờng quê ngoại) và M-ờng Ai (tức mờng quê nội) đợc coi là quê gốc của Mờng Trong Ngời Mờng

đã định c với nghề làm lúa nớc lâu đời

Nơi trũng làm ruộngNơi bằng làm nơngNơi sờn dốc làm nhà mà ởTrong các nghề thủ công nổi lên nhất là nghề trồng dâu dệt thổ cẩmtrong các bản mờng Đầu váy của ngời Mờng Bá Thớc đợc dệt hoa văn tinh vitheo hoạ tiết của mình Việc ăn mặc, trang điểm đã làm cho phụ nữ Mờng BáThớc thon thả, dịu dàng Nét nổi bật của tính cách cộng đồng ngời Mờng BáThớc là cởi mở, khoáng đạt, trong sáng, thuỷ chung, khiêm tốn Nổi bật củavăn hóa dân gian Mờng Bá Thớc là hát xờng và truyện thơ “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNàng ờm” cóxuất xứ ở địa phơng và lễ hội chùa Mèo

Ngời Thái nh anh em sinh đôi cùng với ngời Mờng Ngời Thái Bá Thớcnằm trong cộng đồng Thái sông Mã Thanh Hóa mà các học giả phơng Tây gọi

là Thái Đỏ Ngời Thái dựng bản, khai ruộng làm rẫy ở đây từ rất lâu đời Họ từMờng Khoòng, Lau, Ký, phát tán đi nhiều nơi nh Mờng ét, Xiềng Khọ, MờngXôi (ở Lào), các huyện lân cận nh Lang Chánh, Thờng Xuân đến tận PhủQuỳ, Tơng Dơng (tỉnh Nghệ An)… Mối quan hệ giao lu rộng rãi là một néttiêu biểu của ngời Thái Bá Thớc Đồng bào Thái ngoài những kinh nghiệmlàm lúa nớc còn có kỹ thuật làm ruộng bậc thang, bắc máng, làm guồng đạt

đến trình độ kỹ thuật hoàn hảo

Ngời Kinh đến sinh sống ở Bá Thớc, họ đã đóng vai trò tích cực trongviệc cung cấp nông cụ và hàng hoá và phục vụ đời sống của tất cả mọi ngời.Ngay từ khi mới đến Bá Thớc, ngời Kinh đã có mối quan hệ gần gũi, gắn bó,chan hòa với các dân tộc

Ngoài ra còn có một số ít ngời Hoa và một số dân tộc khác sống xen c

Là nơi sinh tụ của nhiều dân tộc, nhng dù từ đâu tới, những ngời dânsống ở đất Bá Thớc vẫn một lòng thuỷ chung đoàn kết Qua hàng mấy thế kỷbền bỉ gắn bó, đồng bào các dân tộc đã giao lu kinh tế – văn hoá, bổ sung,tiếp nhận của nhau một cách tự giác, hài hoà Đó là con đờng duy nhất để đacác dân tộc trong huyện tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Về mặt quan hệ xã hội, trong thời kỳ Pháp thuộc thực dân Pháp duy trì ở đâyhai hình thức bóc lột là: Thực dân phong kiến và thổ ty lang đạo Nhân dân tronghuyện không những chịu sự thống trị của thực dân và chính quyền phong kiến mà

Trang 11

đối với đồng bào dân tộc nơi đây, sự thống trị của nhà lang, của thổ ty trong cácchòm, bản còn tàn ác hơn nhiều.

Vì thế trớc Cách mạng tháng Tám, tình hình chính trị trong mỗi tầng lớptrong xã hội Bá Thớc có biểu hiện sự phân hóa cụ thể

Một số thổ ty, lang đạo đợc thực dân Pháp nâng đỡ đã trở thành nhữngchúa sơn lâm Họ tuyên bố: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MKhi còn nhỏ là con mẹ, con cha, Đến lúc lớn cả

là con lang, con đạo” Tất cả ruộng đất, núi rừng, sông, suối, tài sản trên nhà,dới sân, trâu to, bò, lợn béo, gơm gài, súng tốt, xanh, nồi to đều thuộc quyềnquản lý của nhà lang Nhà ai có con gái lớn gả chồng bắt phải nộp cho nhàlang 1 con bò, 1 xanh 6, 1 khênh gạo ngon khoảng 30kg [10,18] Tầng lớp địachủ, phú nông đại bộ phận đều nằm trong bọn thổ ty lang đạo đang nắm giữchức vụ chánh tổng, lý trởng, hơng kiểm… Hàng năm chúng bắt mỗi làngphải làm cho các quan khoảng 3 ha rẫy Nông dân muốn làm rẫy phải cónhững khoản cống nạp hết sức nặng nề Đi đôi với việc tập trung ruộng đất,bọn thổ ty, lang đạo độc quyền khai thác lâm thổ sản và săn bắt thú Nhữngngời dân ở các chòm bản không may động đến bất cứ cái gì đều phải nộp vạcho làng, cho lang rất nặng Do vậy, mâu thuẫn giữa ông dan và thổ ty, lang

đạo, địa chủ, phú nông ngày một gay gắt Mặt khác nhiều địa chủ nhỏ do bị

địa chủ lớn kìm hãm nên cũng rất căm ghét thực dân phong kiến, sẵn sàng đitheo Cách mạng

Các tầng lớp nhân dân lao động, nền kinh tế ở Bá Thớc trớc Cáchmạng tháng Tám, thậm chí đến sau hòa bình lập lại (1945) vẫn nằm trongtình trạng lệ thuộc thiên nhiên, nghèo nàn và lạc hậu Cũng nh nhiều miềnquê khác trên đất nớc Việt Nam, ngời nông dân Bá Thớc vốn có truyềnthống cần cù trong lao động, đoàn kết trong đấu tranh Trong những thập kỷsống dới ách cai trị của thực dân, phong kiến họ vô cùng cực khổ Họ vừaphải đọ sức quyết liệt với thiên nhiên khắc nghiệt, vừa phải làm việc cựcnhọc, lại bị đánh đập tàn nhẫn, đói rét và bị đối xử khinh bỉ Do đó, mâuthuẫn giữa các tầng lớp nhân dân lao động chủ yếu là nông dân với địa chủphong kiến và bọn lang đạo càng trở nên sâu sắc Chính vì thế khi đ ợc ĐảngCộng sản giác ngộ Cách mạng, giai cấp nông dân bá Th ớc là lực lợng hùnghậu nhất trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm cũng nh chốngthiên tai khắc nghiệt

1.3 Truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời dựng nớc tới nay là lịch sử của một dântộc anh hùng, không ngừng chiến đấu kiên cờng, chinh phục thiên nhiên,

Trang 12

chiến thắng mọi kẻ thù để tồn tại và phát triển Cùng với cả dân tộc, huyện BáThớc vừa xây dựng cuộc sống vừa liên tục đấu tranh chống lại kẻ thù để gìngiữ mảnh đất thân yêu do mình tạo dựng nên.

Từ thế kỷ thứ X, qua sự tích chiếc ngai vàng bằng đá của vua Xăm, chúaXèo (xã Điền Hạ) và các đồ dùng tìm thấy đợc trong các gia đình còn in rõcác hoa văn trang trí thời Lý - Trần - Hồ … đã khẳng định sự gắn bó của cộng

đồng các dân tộc với Tổ quốc Việt Nam từ rất lâu đời

Đến thế kỷ XV, sau khi hội tụ những ngời tài giỏi trong cả nớc tại Khảlam (Lam Sơn ngày nay), năm 1420, Nguyễn Trãi dâng “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M Bình Ngô sách ” ởtrại ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, xã Điền L), Bình Định Vơng Lê Lợi chiến đấu

ở Thanh Hóa 6 năm, các trận đánh lớn, trong đó có trận Ba Lẫm, Kình Động(Vùng Cổ Lũng) và Đèo úng (Thiết ống), đồng bào các dân tộc tham gia khởinghĩa của nghĩa quân Lam Sơn rất đông, trận Kình Động, quân địch có tới 10vạn nhng vẫn bị quân ta đánh cho “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mhồn bay phách lạc” Tên của các vị khaiquốc công thần nhà Lê nh Lê Sát, Lê Ba, Lê Sa Lôi, Lê Sa Lung… ợc nhân đdân tôn trọng đặt tên cho các bản để ghi nhớ công ơn các vị Một số hào trởng

ở Mờng Khô, Mờng Lau, Mờng Khoòng đã đợc triều đình phong thởng côngtrạng nh Hà Thọ Lộc, Hà Lân đợc phong chức thái úy đời Lê và Hà Công Thái

đợc phong đến quận công đời Nguyễn

Khi thực dân Pháp đàn áp đợc cuộc khởi nghĩa Ba Đình ( Nga Sơn ),chúng bắt đầu tấn công lên miền Tây Thanh Hóa (1887) Hởng ứng chiếu CầnVơng, cai tổng Điền L là Hà Văn Mao có chí yêu nớc đợc hội đồng tớng lĩnhdới sự chủ toạ của Trần Xuân Soạn giao cho chức vụ tổng chỉ huy nghĩa quânmiền núi thuộc lu vực sông mã Hà Văn Mao ra sức liên kết, xây dựng lực l-ợng từ Mờng Khoòng đến Mã Cao - Eo Lê, phối hợp với Đinh Công Tráng,Cầm Bá Thớc để phân tán lực lợng địch, gây cho chúng những tổn thất nặng

nề Khi Mờng Khoòng bị rơi vào tay giặc, Hà Văn Mao uất khí tự vẫn, để lạitấm gơng yêu nớc “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MThà chết không chịu khuất phục quân thù” Tiếp tục cuộcchiến đấu, cai Nho (tức Hà Văn Nho ở tổng Thiết ống) lại dấy binh, phối hợpvới nghĩa quân Cầm Bá Thớc, năm 1891 cai Nho cử ngời đi đón Tống DuyTân về đóng tại thôn Nhân Kỷ, đã đánh tan 1 trung đoàn địch do Penơcanh chỉhuy tại đầm Ma Háng (xã văn Nho ngày nay) Cuối cùng do cha có một đờnglối cách mạng đúng nên các cuộc khởi nghĩa ở giai đoạn này đều bị thực dânPháp dìm trong biển máu Hà Văn Nho chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để

Trang 13

bảo vệ Tống Duy Tân, lãnh tụ phong trào Cần Vơng của Thanh Hóa tại HangDong (xã Thiết ống) [10,21].

Ngày 3 tháng 2 năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập Ngay từkhi mới ra đời, Đảng ta đã chỉ rõ: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M …Lực lợng tranh đấu của các dân tộcthiểu số là một lực lợng rất lớn… Phải nỗ lực tổ chức quần chúng lao động cácdân tộc ấy vào Đảng, Công hội, Nông hội, Phản đế liên minh… Cần tổ chức

và chỉ đạo công nông và các tầng lớp lao động khác trong các dân tộc thiểu sốbênh vực quyền lợi hàng ngày của họ Kịch liệt chống các sách lợc áp bức vàbóc lột của đế quốc, vua quan, các bọn lãnh tụ và bọn tù trởng, các quan lang,

lý hào trong các dân tộc thiểu số với những nhiệm vụ Cách mạng phản đế và

điền địa Đông Dơng …” [10,22]

Những t tởng Cách mạng của Đảng đợc truyền bá đến các tầng lớp nhândân lao động ở trong huyện, thức tỉnh tinh thần dân tộc, ý thức giai cấp của đại

đa số quần chúng đang rên xiết dới ách thống trị của đế quốc phong kiến.Nhân dân các dân tộc Thái, Mờng đã đấu tranh bằng các hình thức:

- Làm đơn kiện nhà Lang, buộc nhà Lang phải chia ruộng đất cho dân, tốcáo tham nhũng, bắt tri châu phải từ chức

- Không đợc bắt ngời đi phiên hầu, phục dịch nhà Lang

- Đợc tổ chức các hội nh “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M Hội Nhà phe ”, “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M Hội bạn ”…

- Đợc rớc thầy về dạy học …

Đến trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nơi đây tuy không có phongtrào Cách mạng mang tính nhân dân rộng lớn, song lẻ tẻ vẫn có những cuộc

đấu tranh tự phát của những ngời yêu nớc nh cuộc chống thuế ở Mờng Ký do

bà Giọ (cháu Cầm Bá Thớc) khởi xớng Cuộc đấu tranh chống đi phu do ôngCai tổng Thiết ống Hà Văn Quay chỉ huy Tổ chức Hội kín do Hà TriềuNguyệt (con trai Hà Văn Mao) cầm đầu… đã làm cho kẻ thù hoang mang, lo

sợ góp phần thuận lợi cho cuộc giành chính quyền trong Cách mạng thángTám ở huyện nhà

Từ một vùng đất có điều kiện thiên nhiên phong phú đa dạng, giàu tiềmnăng về kinh tế, có vị thế chiến lợc quan trọng của huyện miền Tây ThanhHóa và có một cộng đồng dân c đa dân tộc xuất hiện, ổn định và đoàn kết gắn

bó trong cộng đồng dân tộc của Tổ quốc Việt Nam yêu quý Trải qua hàngngàn năm lịch sử, nhân dân các dân tộc Bá Thớc bằng bàn tay lao động và ócsáng tạo của mình trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên cùng xã hội đểsinh tồn và phát triển, cũng nh trong cuộc chiến đấu chống ngoại bang xâm l-

Trang 14

ợc để bảo vệ quê hơng Qua cuộc chiến đấu trờng kỳ gian khổ và dũng cảm

ấy, lớp lớp cha anh trong huyện đã hun đúc nên những truyền thống lịch sử tốt

đẹp Đó là: Cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết trong cộng

đồng dân c và truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm… Những nét đặc trng

và những yếu tố hòa đồng ấy đã tạo nên một diện mạo Bá Thớc trong trang sửvàng của dân tộc Việt Nam anh hùng

Trang 15

Chơng 2 Dòng họ Hà công ở mờng khô với di tích chùa mèo

2.1 Vài nét về vùng Mờng Khô huyện Bá Thớc.

Nền văn hoá Mờng có thể không bắt nguồn từ văn minh Đông Sơn, nhnghẳn có một Lịch sử lâu dài, minh chứng là chế độ tù trởng đã ra đời và tồn tạitrong các thung lũng núi Mờng Chế độ tù trởng của xã hội Mờng khôngphân thành giai cấp, dù ranh giới giai cấp có phần mờ nhạt không rõ ràng nh ởnông thôn Việt Nam mà thành hai tầng lớp khép kín, không chuyển hoá lẫnnhau về mặt con ngời Trong xã hội Mờng nhà Lang tập hợp thành những tôngtộc phụ hệ chiếm lĩnh một Mờng Mỗi tông tộc nhà Lang tự phân biệt với cáctông tộc khác không chỉ bằng Mờng họ chiếm lĩnh mà còn bằng một tộc danhriêng

Xa kia Lang Cun đứng đầu một dòng tộc Mờng có của cải và quyền lựcrất lớn Lang Cun giống nh Trởng tộc, Trởng họ ngời Việt, Lang Đạo là conthứ đợc Lang Cun chia đất, chia Mờng, chia dân

Một số dòng họ Lang đạo nổi tiếng ở vùng Mờng là dòng họ Hà, Phạm,Trơng, Công, Cao, Quách, Nguyễn Đình

Lang đạo là ngời đầu Mờng đảm bảo trật tự trong vùng quản lý việc khaiphá các vùng đất hoang, lập nên làng xóm và tạo nên hệ thống mơng bai, dẫnthuỷ nhập điền Họ là những thủ lĩnh quân sự điều khiển “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mbinh Mờng” chốngxâm lăng, có ý thức quốc gia Việt Nam rõ ràng Rất nhiều lang đạo tham giacuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi Ngay cả Lê Lợi cũng đợc dân trongvùng gọi là Đạo Tram Lê Lai và nhiều tớng lĩnh của khởi nghĩa Lam Sơn xuấtthân từ Lang Đạo Phong trào Cần Vơng cuối thế kỷ XIX đợc các Lang đạo h-ởng ứng tích cực Hà Văn Mao một lang đạo ở Mờng Khô (Bá Thớc) trở thànhmột trong những lãnh tụ của nghĩa quân Nhiều lang đạo ở vùng Mờng đã tíchcực tham gia các cuộc khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở địaphơng và đi theo cách mạng đến trọn đời và có nhiều công lao trong việc “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mdìudắt đồng bào thợng du”

Tuy nhiên, ở một số vùng Mờng chế độ lang đạo rất hà khắc, nhân dân

có nhiều hình thức đấu tranh để chống lại nh ở các Mờng Đẹ (Thạch Thành)Mờng Phấm (Cẩm Thuỷ), Mờng Chẹ (Ngọc Lặc), Mờng Khô (Bá Thớc) cho

đến năm 1946 thì chế độ Lang đạo bị xoá bỏ

Tổ chức xã hội tộc ngời Mờng vận hành dựa trên thiết chế đặc biệt đốivới các Mờng

Trang 16

Mờng là một tổ chức xã hội tập hợp nhiều làng trên một lãnh thổ nhất

định và có thành phần dân c thuần nhất hoặc không thuần nhất Các Mờng củangời Mờng trớc đây có thể phân chia thành hai loại: Mờng lỡ (tơng đơng vớichâu huyện), Mờng nhỏ (tơng đơng với tổng xã)

Mờng là một cơ cấu tổ chức có chức năng chính quyền Mờng có vùng đấtriêng với ranh giới rõ ràng và vùng đất có tên là “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mđất Mờng” Mờng của ngờiMờng có các đơn vị cơ sở là các chòm (ngời phụ trách gọi là quan lang xãchòm) là cơ sở trung gian thay lang đôn đốc công việc trong Mờng Ngoài ratrong hệ thống Mờng còn có một chòm chèo (hay làng chèo) Thờng thì mộtMờng có từ 4 - 5 chòm chèo trở lên Chòm chèo có nhiệm vụ trông coi côngphục vụ việc vặt cho nhà Lang Trong Mờng còn có hệ thống ông Mo, ông ậu,

bà máy làm nhiệm vụ cúng ma, chữa bệnh, ông mối (ngời mai mối cho con trai,con gái thành vợ chồng) họ đều đợc nhà Lang chia ruộng

Bộ máy quản lý Mờng là tầng lớp thổ ty lang đạo Trong Mờng đất đai, đồnúi, sản vật, khe suối đều là của nhà lang, sau khi đã chia phần đất đai tàisản cho các quan lang, anh em thân cận nhà Lang, số đất còn lại ít ỏi đó mới

đem chia cho dân Mờng Hầu hết ngời trong Mờng phải làm ruộng cho nhàLang thu hoạch Khi săn đợc thú lớn (từ nai trở lên) phải biếu cố Mờng (bố

ông Mờng) một đùi sau và một mâm đầy đủ các bộ phận của con vật Khi gảcon gái đi lấy chồng phải có quà biếu quan lang xã chòm

Hệ thống tự quản Mờng tồn tại lâu dài trong Lịch sử Mãi đến đời nhàNguyễn triều đình phong kiến Trung ơng mới can thiệp sâu về mặt hành chínhvào các vùng đồng bào thiểu số miền núi, đặt các chức lu quan cho từng châu,bắt đầu sự quản lý của triều đình thông qua những quan lại ở ngời Kinh ở hầukhắp các vùng, ở các cấp dới Mờng hình thành nên các đơn vị nh sắc hay ngũ,các chức vụ hành chính trong bộ máy Mờng đổi thành tên gọi kỳ mục hìnhthành nên đơn vị hành chính cấp xã do lý trởng đứng đầu với ngời giúp việc làphó lý

Hai huyện Thạch Thành và Cẩm Thuỷ có chế độ lu quan thời MinhMạng còn các huyện khác thì muộn hơn

Khi thực dân Pháp thống trị nớc ta về cơ bản ngời Pháp vẫn duy trì thiếtchế hành chính mang tính tộc ngời của, ngời Mờng là các châu Mờng cácchức dịch các cấp ở Châu Mờng dần dần trở thành công chức Nhà nớc

Từ năm 1945 trở lại đây hệ thống quản lý Mờng đã bị giải thể thay bằng

hệ thống quản lý xã, huyện thống nhất trên phạm vị toàn quốc Từ đó dù

Trang 17

không tồn tại một cách chính thức nhng các đặc trng, các lề thói quản lý, cácgiá trị văn hoá của thiết chế Mờng vẫn tồn tại trong hệ thống mới xã, huyện.Mờng Khô xa kia nay thuộc các xã Điền Quang, Điền L, Điền Trunghuyện Bá Thớc, tỉnh Thanh Hóa.

Vùng đất Mờng Khô xa cũng chính là nơi sinh cơ lập nghiệp của giatộc họ Hà Công là một dòng họ lớn, có uy tín và thế mạnh tại M ờng Khô.Một trong những ngời nổi tiếng của Gia tộc Họ Hà (những công thần thời Lê,thời Nguyễn) nh: Hà Công Ngôn, Hà Công Ngoan, Hà Công Kinh, Hà CôngThái, Hà Công Cơ, Hà Công Ten, Hà Công Chấn, Hà Văn Mao, Hà TriềuNguyệt

Đặc biệt, trong đó có Hà Công Thái – Quận công thời Nguyễn và hậu dụêcủa ông là Hà Văn Mao và Hà Triều Nguyệt,… Một trong những thủ lĩnh trongphong trào Cần Vơng chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Tộc ngời Mờng chiếm đa số, chỉ có Mờng Khòng, Mờng Lau và Mờng

Kỷ là thuộc tộc ngời Thái Các tộc ngời Mờng sống tập trung ở vùng có cáccon sông suối chảy qua, địa hình tơng đối bằng phẳng Tộc ngời Thái sốngchủ yếu ở vùng núi cao, phía tây của huyện nh khu vực Pù Luông và Kỳ Tânngày nay

Mờng Khô hiện nay bao gồm các xã: Điền Quang, Điền L và ĐiềnTrung, gồm có 39 làng, nhìn chung các làng đều có điều kiện tự nhiên thuậnlợi, kinh tế xã hội phát triển, giao thông đi lại dễ dàng

Từ khi đất nớc ta giành độc lập, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhândân các dân tộc ở Mờng Khô cũng là nơi đi đầu các phong trào: Hợp tác xãhợp nhất Hồ Quang nêu gơng điển hình tiên tiến và phát triển Hợp tác xãnông lâm Điền L đã một thời nổi tiếng, sánh ngang với phong trào định cônglúc bấy giờ

Mờng Khô có truyền thống anh dũng bất khuất, trong đấu tranh chống ngoạixâm cần cù sáng tạo trong lao động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Năm 1972 cán bộ

và nhân dân Mờng Khô đã đợc Đảng và Nhà nớc ta chọn làm địa điểm tổ chức

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MHội nghị văn hóa toàn quốc” họp tại làng Cò Trúc, xã Điền Trung ngày nay Trongphong trào: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Mờng Khô đã khai trơngxây dựng đợc 26 làng văn hoá, 8 cơ quan trờng học, đã đợc các cấp công nhận danhhiệu làng văn hoá: cấp tỉnh 3 đơn vị, cấp huyện 13 đơn vị , 2 xã Điền Trung và ĐiềnQuang đã khai trơng xây dựng xã văn hóa [26,261] Đây là sự nỗ lực và quyết tâmlớn của cán bộ và nhân dân các xã Mờng Khô hôm nay

Trang 18

Quê hơng Mờng Khô đã có bề dày lịch sử Văn hóa truyền thống MờngKhô cũng đã đợc phát triển đa dạng, phong phú cùng với các Mờng kháctrong huyện Bá Thớc Song văn hóa truyền thống Mờng Khô có những nétriêng, độc đáo mà các Mờng khác không có, đó là: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mmúa hát chèo ma” (trong

đám tang của ngời Mờng Khô, các trò diễn thể hiện và tái hiện lại cuốc sốnglao động sản xuất, sự thợng võ của các dân tộc, mang đậm nét văn hóa tâmlinh của ngời Mờng xa Các trò diễn và hát nh: Đáng trống vông, múa kiếm,múa gậy chèo, hát chèo, đáng then, diễn tả sự tích một ông hai bà…)

Văn hoá truyền thống Mờng Khô là nơi khơi nguồn, là gốc của văn hoáViệt Mờng, các thầy cúng giỏi nhất, có uy tín nhất, có trình độ nhất, tập trung

ở Mờng Khô và Mờng Ai, sử thi “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mđẻ đất đẻ nớc” các câu chuyện cổ tích,truyền thuyết nh truyện: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNàng ờm”, truyện “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M Nàng Nga Hai Mối”, truyện

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNàng út lót”, truyện “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MÔng Thu Tha Thu Thiên” đợc truyền tụng qua nhiều thế

hệ ở Mờng Khô, Mờng Ai và các mờng lân cận

Đặc biệt Sử thi, các câu chuyện cổ tích, các sự tích đều đợc truyền miệng

và bằng vần thơ, ca mang đậm bản sắc ngời Mờng Chỉ có thầy cúng, thầy momới nhớ và đợc thể hiện qua các đám làm vía, mo kéo khi có ngời già cả, các

đám ma của ngời Mờng Các thầy cúng trớc kia cũng nh hiện nay họ chính làngời bảo lu, giữ gìn những nét văn hóa truyền thống lại qua các thế hệ maisau

Với truyền thống đấu tranh, xây dựng vẻ vang của ngời Mờng Khô cũng

nh những giá trị văn hóa giàu bản sắc đó Hôm nay chúng ta có dịp nhìn lạithực trạng văn hoá Mờng Khô trong việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.Mờng Khô hiện nay bao gồm các xã Điền L, Điền Quang, Điền Trung

Xã Điền L xa thuộc tông Điền L, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

có tên là Xã Hồ Điền Năm 1964 chia xã Hồ Điền thành 4 xã theo quyết định

số 107- NV của Bộ trởng Bộ nội vụ ngày 2 tháng 4 năm 1964, gồm Điền L,

Điền Quang, Điền Thợng, Điền Hạ (theo quyết định số 107-NV của Bộ trởng

bộ nội vụ) Sau khi chia xã Điền L thành 16 chòm: Don Đặc, Rè Bát, Giát,Rầm Tám, Cồ Vàn, Kéo, Mờng Do, Chiềng Lãm, Giềng Vơ, Trúc, Xong Chót,Triu, Ngán Xịa, Cộc và Điền L

Đến năm 1984 chia xã Điền L thành 2 xã Điền L và Điền Trung (theoquyết định số 163 – HĐBT của Hội đồng bộ trởng ngày 14 tháng 12 năm1984) Sau khi chia xã Điền L gồm có 9 chòm: Chót, Xi, Vỏ, Chiềng, Triu,

Đắc, Điền Lý (Zon), Điền Giảng (bát) và Chòm Song

Trang 19

Xã Điền L hiện nay gồm có các chòm sau: Chiềng Lãm Trên Cao, Zon(Điền Lý), Bát (Điền Giảng), Chòm Riềng, chòm Vỏ, Cong Song, Điền Tiến.Xã Điền L có các di tích lịch sử, văn hóa: đền, Bia, thờ Hà Văn Mao,

Đền Lũng, Chiềng Lẫm nơi xảy ra trận quyết chiến và là căn cứ của nghĩaquân Lam Sơn (1421 – 1423) [8,13]

Xã Điền Quang Xa thuộc Tổng Điền L Sau Cách mạng tháng Tám

năm 1945 có tên là xã Hồ Điền Năm 1964 xã Hồ Điền đ ợc chia thành 4xã là: Điền L, Điền Thợng, Điền Hạ và Điền Quang theo Quyết địnhsố107-NVcủa Bộ truởng Bộ nội vụ

Sau khi chia xã Điền Quang gồm có 13 chòm: Đào Khớc, Mớn, Cộ, Mời,Lũng, Un Trớm, Đồn Mớn, Mù Khò, ấm, Khà, Mý, Xê, Mít Muổng

Xã Điền Quang hiện nay gồm có các làng: Đào, ấm, Mợn, Cộ, Luyện,Mời, Un, Thứng, Khớc, Vàng Ví, Khò Mít, Quóc, Sê và làng Rống [8,15]

Xã Điền Trung xa thuộc tổng Điền L Sau Cách mạng tháng Tám năm

1945 có tên là Xã Hồ Điền Năm 1964 chia xã Hồ Điền thành 4 xã theo quyết

định số 107- NV của Bộ trởng Bộ nội vụ ngày 2/4/1964, gồm Điền L, ĐiềnQuang, Điền Thợng, Điền Hạ

Đến năm 1984 chia xã Điền L thành 2 xã là Điền L và Điền Trung (theoquyết định số 163 – HĐBT của Hội đồng bộ trởng ngày 12/12/1984)

Sau khi chia, xã Điền Trung gồm có 13 chòm sau: Cộc, Ngán, Muổng,

Cò, Vàn, Âm, Xịa, Điền Thái, Trúc, Kéo, Giát và Chòm Dầm [8,15]

Hiện nay xã Điền Trung gồm có các chòm: Cộc, Ngán, Do, Muổng, CunLáo, Kéo, Trúc, Zát, Đặc, Rầm, Tám và Chòm Xịa

Điền Trung là mảnh đất có cấu trúc địa hình thuận lợi cho các loại lâmsản nh cây luồng phát triển, nhờ đó rừng Điền Trung phát triển nhanh, mạnh

Đặc biệt, cây mía đỏ là một loại cây thơng phẩm đã góp phần lớn cho việc xóa

đói giảm nghèo của xã Điền Trung ngày nay

Là quê hơng sĩ phu yêu nớc Hà Văn Mao nên trên địa bàn xã có trờngTrung học Phổ thông đợc vinh dự mang tên Trờng Trung Học phổ thông HàVăn Mao Ngoài ra tại phờng Ba Đình, một phờng trung tâm của Thành phốThanh Hóa cũng có một phố mang tên phố Hà Văn Mao và Đờng Hà VănMao

2.2 Nguồn gốc dòng họ Hà Công ở Mờng Khô

Mờng Khô xa thuộc tổng Điền L châu Quan Hoá (gồm các xã khu vực

Hồ Điền thuộc huyện Bá Thớc ngày nay) là một vùng đông dân, trù phú, chủyếu là dân tộc Mờng có nhiều dòng họ cùng chung sống nh Trơng, Phạm, Bùi,

Trang 20

Cao, Hà… trong đó đông nhất là họ Hà Họ Hà ở đây có 2 dòng Một dòng là

Hà Văn thuộc tầng lớp dân thờng Dòng thứ hai thuộc tầng lớp lang đạo là HàCông, các đời của dòng họ Hà Công đợc thế tập làm trởng mờng Đơng thờingời ta gọi họ này là Lang Khôn còn ngời đang cầm quyền gọi là Ông Khô.Trong bài tế Chùa Mèo hàng năm vào 20 tháng 9 âm lịch, thời Hà CôngNguyệt (1876 - 1941), thầy mo mời các bậc linh thần đã từng làm Ông Khô, chatruyền con nối gồm các vị là: Hà Công Ngôn, Hà Công Ngoan, Hà Công Thái,

Hà Công Cơ, Hà Công Ten, Hà Công Chấn, Hà Công Kinh, Hà Văn Mao

Vậy Hà Văn Mao thuộc dòng họ Hà Công, chứ không phải Hà Văn Vì ngaycha đẻ là Hà Công Chấn và con đẻ là Công Nguyệt cũng đều lấy họ hà Công

Hà Văn Mao có tên ghi chép lại bây giờ có thể bắt nguồn từ nhiềunguyên nhân Trớc hết, theo tập quán địa phơng khi đang còn sống thì ngời đãthành niên và nhất là những ngời có địa vị xã hội không chấp nhận gọi tên tụccủa mình, ngời ta chỉ gọi tên ớc lệ Hà Văn Mao chỉ có thể gọi là Ông Khô,

ông Lớn, Ông Cai (cai tổng Điền L) hoặc cùng lắm là Cai Mao để phân biệtvới các cai khác Ông là một võ tớng không để lại một bút tích văn chơng nào.Bởi vậy cái tên Hà Văn Mao có thể do ngời viết tự liệu đặt cho ông, ta thấytrong phong trào Cần Vơng cũng có một số thủ lĩnh mang tên họ Hà Văn nh

Hà Văn Nho, Hà Văn Hụê…Tuy nhiên, cái tên này cũng có thể do ông chủ ý

đổi sang Hà Văn nhằm hoà đồng với quần chúng nhân dân, xoá đi mặc cảmgiai cấp để tập hợp quần chúng theo ngọn cờ yêu nớc chống Pháp Nh vây, HàVăn Mao thuộc dòng họ Hà Công, dòng họ đứng đầu cai quản Mờng Khô.Dòng họ này có các nhân vật nổi tiếng một thời nh cai tổng Hà Công Kinh,Phó tổng Hà Công Cơ, đặc biệt là Hà Công Thái có công đánh dẹp giặc XáKhoang và giắc cỏ ở biên giới Việt - Lào, đợc triều đình phong tớc quận công,

ăn lộc 36 trang trại từ Eo Lê, Cầu Xuông lên tận châu Quan Hóa Khi chết ông

đợc lập đền thờ, khắc bia lu truyền công đức Hiện nay hai tấm bia đá lớn (cao1.6m, rộng 0.8m, dày 0.15m) đang còn ở gần cầu Đại Lạn

Dòng họ Hà Công ở Điền L tuy có phát tích về đờng công danh nhngkhông phát triển về số lợng Hiện nay cũng chỉ quanh quẩn ở một số họ tronglàng Cọc Ngán, Chiềng Lẫm, Quang ấm… điều đó chứng tỏ dòng họ này xuấthiện muộn hơn các dòng họ khác trong cộng đồng dân c, phù hợp với các câuchuyện truyền miệng kể về sự đổi tên mờng Khả thành Mờng Khô

Qua điều tra, khảo sát và tham khảo tài liệu địa phơng chúng tôi thấydòng họ Hà Công ở Mờng Khô bắt nguồn từ dòng họ Hà Công ở MờngKhoòng

Trang 21

Mờng Khoòng là một Mờng lớn, nằm ở phía Tây Bắc huyện Bá Thớc,giáp giới tỉnh Hòa Bình, hiện nay thuộc 5 xã: Cổ Lũng, Lũng Cao, Thanh Lâm,Thanh Sơn, Lũng Niêm Trớc năm 1945, Mờng Khoòng thuộc tổng Cổ Lũngchâu Quan Hoá Đây là quê hơng lâu đời của đồng bào Thái, có một truyềnthống đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt còn lu giữ đợc nhiều sách chữ Thái cổ,viết về đề tài địa phơng nh truyện thơ Khăm Panh, kể chuyện lịch sử bản M-ờng… Đây cũng là vùng đất ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử từ thời Hậu Lê Trở vềsau Cổ Lũng là địa danh chiến thắng Kềnh Lộng đêm hai mơi tháng mời mộtnăm Tân Sửu (1421) của nghĩa quân Lam Sơn đáng úp quân Minh Khi Mạc

Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê (1527), Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm đã dựa vàoMờng Khoòng để xây dựng căn cứ phản công nhà Mạc Một ngời dân ở bảnDộc (xã Lũng Cao ngày nay) đã che dấu hai mẹ con Lê Duy Ninh (sau này xagiá về kinh là vua Lê Trang Tông (1533 - 1548), mở đầu thời vua Lê Trung H-ng) Ngời dân địa phơng gọi là Chu Chổm (có nghĩa là vua Trộm, tức là nuôitrộm nuôi dấu) Chu Chổm trở thành câu chuyện dân gian có nhiều dị bản còntồn tại đến ngày nay ở Mờng Khoòng hai cha con ông Hà Nhân Chính và HàThọ Hộc đã có công giúp chúa Trịnh – Nguyễn liên kết với các tù trởng M-ờng Hạ, Mờng Sang, Mờng La xây dựng lực lợng, phản công nhà Mạc thắnglợi Mờng Khoòng đợc phong công đầu, đợc thởng công “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M đại cán” Ông M-ờng Khoòng, đợc phong công tặng là Thái Uý, Lân quận Công (sách chữ tháigọi là Tạo uý Lân)

Đến cuối thế kỷ XVIII, khi quân Tây Sơn tiến ra Bắc “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MPhù Lê, diệtTrịnh” vào thời hợp tác xã nông nghiệp tập trung, tại bản Dộc còn tìm thấydấu vết quân Trịnh, trong đó có vài khẩu súng thần công

Nh vậy mối quan hệ giữa Mờng Khoòng với họ Trịnh, họ Nguyễn đã bắt

đầu sâu nặng từ thế kỷ thứ XVI Trong đó mối quan hệ giữa ông MờngKhoòng (họ Hà) với họ Trịnh rất sâu nặng Điển hình là ông Mờng Khoòng

Hà Thọ Lộc đi xuôi bị giết ở vùng Bồng Báo, nhà Trịnh đã làm ma, chôn cất

tử tế, giành cho vị trí trang trọng, uy nghi hơn mộ của bà chúa (mẹ Trịnh Sâm)(sách chữ Thái)

Họ Hà ở Mờng Khoòng cũng có hai dòng nh ở Mờng Khô là Hà Công và

Hà Văn Hà Văn tiếng Thái gọi là Khà Lặc là hậu duệ của dòng họ KhămPanh có quan hệ họ hàng với họ Hà ở Mờng Hạ (Mai Châu – Hòa Bình) HàCông – tiếng Thái gọi là Kha Khun hay còn gọi là Kha Quan Khun và Quan

đều có nghĩa là chỉ ngời có chức vụ xã hội Theo cách giải thích của ngời ờng Khoòng thì ông tổ của dòng họ này là Khun Ha hay Khun Kha, tức là

Trang 22

M-quan họ Hà Từ Khun Kha đổi ra thành Kha Khun dịch ra tiếng Việt gọi là HàCông Hà Công có nghĩa là họ Hà thuộc bậc công thần Vậy là ông tổ củadòng họ Hà Công là Khun Ha, một nhân vật trong truỵên thơ Khăm Panh, chacủa Khun ý Lân Đối chiếu với t liệu của ngời xứ Thanh do Lê Bá Chức sutầm thì Khun Ha là Hà Nhân Chính còn có tên gọi là Hà Thọ Lộc Hiện naycòn có bia đá và nền nhà phủ thờ ông Mờng Khoòng Hà Thọ Lộc ở ChiềngVang (Cổ Lũng) và La Hán (Ban Công).

Từ thời Khun Ha, Mờng Khoòng đã vơn tới cai quản Mờng Khô Khun

Ha lấy nàng Mờng Lát (huyện Mờng Lát ngày nay) sinh đợc 12 ngời con gồm

9 trai, 3 gái Chín ngời con trai chia nhau đi ăn đất các nơi

Khu ý Lân, con trai đầu ở Chiềng Vang

Khun Hao con trai thứ ở Poọng Lặn

Tạo Khun Hiếng về ở Chiêng Đồn

Con trai bốn về ở Đăm Đan

Khu Tao về ở Chiều Lau

Con thứ sáu Khun Páo về Mờng Kháy

Con thứ bảy khun Pẹp về Mờng Ai

Còn Khun Rè, khun Róng về Mờng Khô, Mờng ánh

Đến thời Khun ý Lân (Hà Thọ Hộc), ông phân con đi "ăn đất" các Mờng

nh sau: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M"Nhân Định lên ăn Poọng bản Bó, Hà Công Tiến ăn Mờng ở bản Lặn,

Hà Công Thành ăn đất làng Leo gọi là Lý – Sủn, Hà Thừa Chăng ăn đất bản

Đôn, ông Lơng ăn đất bản Cốc còn Tiêu Tai xuống ăn đất Đắm Đan MờngKhô, Mờng Khà” (sách chữ Thái bản kén)

Về đời sau, vẫn tiếp tục có ngời Mờng Khoòng chuyển con cháu xuốngkhai phá và cai quản Đắm Đan, Mờng Khà, Mờng Khô Bộ phận này đã hàonhập với cộng đồng bản địa và trở thành ngời Mờng Gần đây, trong nhữngnăm 60 của thế kỷ XIX vẫn còn một bộ phận Mờng Khoòng chuyển c xuống

nh ở làng Khà (ái Thợng), làng Cao xuống làng Triu hình thành Thôn TriuCao; Cổ Lũng xuống Điền Hạ hình thành thôn Thanh Điền, Thành Sơn xuống

Điền Thợng hình thành thôn Thợng Sơn…

Trờng hợp ông tổ họ Hà Công ở Điền L cũng nằm trong dòng di cchung từ Mờng Khoòng xuống Hiện nay chúng ta cha xác định đợc thờigian di chuyển, chỉ mới xác định đợc Làng Đắm là một chặng dừng chântrên đờng chuyển từ Mờng Khoòng xuống Mờng Khô

Chuyện dân gian ở làng Đắm và Mờng Khô kể rằng, có một thời kỳ ờng Khà (hay Mờng Khả do nói trệch âm) đã mạnh lên, muốn vợt mặt Mờng

Trang 23

M-Khoòng Làng Đắm cũng phải lệ thuộc Mờng Khả, ông Mờng Khả đóng ởChiềng Lẫm, dinh cơ bề thế Để thu phục đợc Mờng Khả, ông Mờng Khoòng

đã chọn một ngời con khôn ngoan sắc sảo cử đi cai quản vùng này Nhng đểgiữ hiếu với mẹ, ngời ta dùng dằng cha quyết Ông Mờng phải nhợng bộ, cho

mẹ đi theo và chia cho mẹ tài sản quý nhất là cái xanh đồng tám quai và dặn:hai mẹ con dùng xanh làm thuyền nếu xanh quẩn vào chổ nào thì đất ấy là đấtcha ông để lại

Đến Bãi Búng (vụng Đắm bây giờ), xanh bị đắm Một ngời dân họ Phạm

ở đây đa hai mẹ con và cả cái xanh đồng về nhà (ông này trở thành ông tổ xãAnh ở làng Đắm, còn họ Hà ở xã em) Ngời con trai Mờng Khoòng ở lại làmcon nuôi ông xã Đắm và thờng thay bố nuôi đi phục dịch nhà ông đạo MờngKhả Con gái ông Đạo Cai ở làng Đạo Ngán vừa ý, lấy chàng cho ở lại làm rể.Sẵn có ý định hai vợ chồng đến lập trại ở làng Triu để gần nhà Đạo Khả đanglụn bại, không có ngời xứng đáng kế nghiệp, hai vợ chồng chàng con nuôi xã

Đắm vận động các con cun, ông xã ủng hộ bầu mình lên làm trởng mờng, thaythế vị trí của nhà họ Khả

Năm ấy trời khô hạn Ông Đạo mới đặt lại tên Mờng là Mờng Khô vàchuyển Chiềng từ Chiềng Lẫm xuống làng Triu, gọi là Chiềng Triu mở đầu sựnghiệp dòng họ nhà Lang Khô tức dòng Hà Công ở Điền L

Tại làng Đắm có lễ hội thờ thần ở gò Cơm Mới rất đặc biệt Đây là lễ hộithờ thành hoàng làng Thần chủ là ông Chơng ít - Phó Chơng ít ngời có côngkhai phá dựng nên làng Đắm Lời cúng khấn bằng tiếng Mờng (chúng tôi đãghi âm dài khoảng một tiếng đồng hồ) kể về công đức của ông và bày tỏ công

ông bằng bể, nghĩa là bằng trời, trong lời cúng có đoạn :

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở M Nhớ ngày xa

Trang 24

Đất này đã vạc, rạc này đã yên

Ngài mới về Mờng Khô làm cun làm quan trong làng trông nớc.Ngài bớc vào cõi âm, ở bóng rừng xanh Đống Tràng”

Về hình thức, Làng Đắm là một làng của ngời Mờng nhng lễ hội này lạilàm theo hình thức của ngời Thái, đậm nét nhất là cỗ xôi cá, rợu cần và giảgạo (khua luống) Ông Phạm Văn Công, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dụcThanh Hoá, hồi 1950 làm trởng ban bình dân học vụ huyện Bá Thớc, đóng cơquan tại Làng Đắm đã ghi lại Lễ hội nh sau:

Hai mơi bảy tháng chạp ta

Lệ xa để lại ai mà dám quênMơng nhỏ đánh cá phải chen

Bỏ vại thì ít bỏ ven thì nhiều

Ước chừng khoảng bốn giờ chiềuLúc làng ra lệ rất nhiều trẻ con

Đứa thì chạy nhảy lon ton

Đứa bò lổm ngổm, đứa còn bú ngâmMột tháng mà chín chày đâm

Lác các khầm lại lác các khầm vang lênCái trống để ở một bên

Ông Cầu cầm lấy đánh lên một hồi

Ông Âu đội cái mũ bồiMiệng lẩm bẩm “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mmẹ tôi”, lầm rầmPhía trên mặt một cái mâm

Mời hai ốt cá bằng tầm bàn tay

Đũa cắm xung quanh cỗ xôi đầyMột vò rợu cái bằng nắm tay ông Cầu

…Chúng tôi thấy vậy cũng mừng

Lệ này có một không từng có hai”

Trong thực tế, làng Đắm mặc dù là làng chèo của Mờng Khô, nhng nhà

ông xã Đắm lại đợc nhà ông Lang Khô rất tôn trọng Mỗi khi tế chùa Mèo thìlấy giờ ông Xã Đắm đến nơi làm giờ đánh trống hiệu bắt đầu nghi lễ Ăn cỗ đ-

ợc ngồi mâm trên Lúc nhà Lang Khô có tang thì chỉ có hai con trâu của nhà

ông Xã Đắm và ông xã Khô đợc buộc ở cột cái thẳng với bàn thờ tổ tiên để

Trang 25

làm thủ tục cúng khấn trớc khi làm thịt đa lên mâm chính Hà Công Thợng(còn gọi là Đạo cót) anh cùng cha khác mẹ với Hà Công Thắng bị chết ở làng

Đắm, Hà Công Nguyệt là cha đẻ đã không mang thi hài về chôn ở Điền L màgiải thích rằng: Làng Đắm cũng là đất cha ông nhà nó

Qua những t liệu nói trên, chúng ta có cơ sở xác định đợc: Dòng họ HàCông ở Điền L có quan hệ nguồn gốc từ dòng họ Hà Công ở Mờng Khoòng

Ông Lang Khô đầu tiên là ông tổ dòng họ Hà Công ở Điền L đã có quá trình

di chuyển từ Mờng Khoòng xuống làng Đắm rồi chuyển tiếp đến Mờng Khô.Những t liệu dân gian và ghi chép ở địa phơng nói về vấn đề này cũng phù hợpvới ý thức tự nhiên của gia đình, dòng họ Hà Văn Mao khi tập hợp lực lợngkháng chiến đã liên kết vơí Hà Công Tú, thủ lĩnh Mờng Khoòng Hai ngời tựnhận là anh em họ Đến khi bị mắc mu Tần Sán xúi giục, hai anh em đánhnhau, gọi là “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mgiặc khô ông Khoòng”, làm cho lực lợng suy yếu đi, quân Phápthừa cơ tiến vào chiếm Mờng Khoòng và La Hán Nhận ra sai lầm “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mhuynh đệthơng tàn”, Hà Văn Mao đã hối tiếc dẫn đến tự sát, kết thúc phong trào do ônglãnh đạo Hà Công Thắng khi đóng đồn Cổ Lũng (năm 1948 - 1949) cũng th-ờng xuyên đến nhà Phủ Chiềng Vang, thờ ông Mờng Khoòng để cắm hơngcúng vái tổ tiên…

Nh vậy, chúng ta có thể kết luận đợc nguồn gốc dòng Hà Công bắtnguồn từ Mờng Khoòng, trong gia tộc Hà Công thuộc tầng lớp quý tộc trongthời kỳ phong kiến Đại Việt dới triều Lê - Nguyễn, một gia tộc có truyềnthống yêu nớc, tài năng thao lợc, võ nghệ cao cờng và có sự hoà đúc của nềnvăn hoá Thái - Mờng với giáo lý nho học Việt Nam Nguồn gốc này đã ảnh h-ởng mạnh mẽ đến phẩm chất, tính cách và phơng pháp hành động của ngời chỉhuy phong trào Cần Vơng ở miền núi Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX – Hà VănMao

Dòng họ Hà Công đã gắn liền với những biến cố lịch sử qua các triều

đại, (những công thần thời Lê, thời Nguyễn: Hà Công Ngôn, Hà CôngNgoan, Hà Công Kinh, Hà Công Thái, Hà Công Thái, Hà Công Cơ, HàCông Ten, Hà Công Chấn, Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt…) Đặc biệt,trong đó có những ngời nổi tiếng nh: Hà Công Thái (Ông nội của Hà VănMao), Hà Văn Mao (tức Hà Công Mao), Hà Triều Nguyệt (tức Hà CôngNguyệt) ở vùng Mờng Khô ngày nay vẫn còn câu nói:

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MBao giờ sấm dậy Mã Đà/ sông Mã hết nớc, họ Hà hết quan” [27]

Trang 26

Là câu nói truyền miệng chứng minh cho sự lớn mạnh của dòng họ HàCông qua các triều đại.

Sinh thời Hà Triều Nguyệt - con trai Hà Văn Mao rất tự hào về dòng họmình Khi xuôi bè trên Sông Mã xuống làng Tràng Lang xã Định Tiến (để làm

thành hoàng cho làng tế), ông cũng viết bài thơ Xuôi bè nh sau:

Một cánh bè xuôi rợp núi sôngGiang sơn rạng vẻ mặt anh hùngTrang ấp ngàn năm còn mãi mãiDòng thần cháu thánh với Vơng Công.[27]

Dòng họ Hà đã kết nghĩa anh em với dòng họ Nguyễn, họ Trịnh(Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm kết nghĩa với Hà Nhân Chính)

Hà Công Thái là quan lang Mờng đầu tiên ở huyện Bá Thớc đợc côngnhận là Công thần Trung hng của triều Nguyễn và là ngời đợc vua Minh Mệnhphong cho các chức vị cao nhất đối với một thổ tù Sau khi qua đời, các concủa Hà Công Thái tuy không đợc tập ấm các chức vị của cha, nhng vẫn làdòng họ nhà lang có thế lực ở Bá Thớc Khi đất nớc bị thực dân Pháp xâmchiếm, đã nổi lên một nhân vật xuất sắc là Hà Văn Mao [17,16]

Con cháu của Hộ quận công Hà Công Thái đã đợc Đại Nam thực lục

chép Hà Công Quỳnh, Hà Công Dân, Hà Công Đức, Hà Công Hồ [17,16].Con trởng Hà Công Quỳnh đã theo cha vào Huế chầu vua Minh Mệnh,rồi lại bệ kiến nhà vua ở trấn Thanh Hoa Cha chết, nhà vua cho Hà CôngQuỳnh là chánh trởng chi, thợng đạo Thanh Hoa trật tòng tứ phẩm, theo trấnsai phai [17,16] Nh vậy là Quỳnh không đợc nối chức cha, lãnh địa của Hộquận công không còn là lãnh địa riêng mà thuộc về trấn quản lý Khi trấn thầnxin cho Quỳnh nối chức cha, vua không cho mà dụ rằng: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MXa Hà Công Thái

có công trung hng cho nên sai quản lĩnh thợng đạo, cho đợc tuỳ nghi xử trí.Nay Thái đã chết, trẫm cho con là Quỳnh làm chánh trởng chi để giữ đất củamình cũng đủ đền công lao của cha rồi, vả tài của Quỳnh không bằng Thái tấtkhông thể khiến dân tình phục mà lại muốn nối hởng đất đai của cha đợc sao?Nên triệu hết tù trởng các sách mà tuyên bảo đức ý của triều đình, khiến chobiết ngày nay đã thuộc về trấn, các việc đều đợc đạt lên Việc quan hôn, tang

tế thì cứ cho theo phong tục, việc kiện cáo thì có việc của Nhà nớc Nhân chọnlấy ngời dân chúng mà tâu xin cho chia nhau mà cai trị dân Đó là việc biên c-

ơng quan trọng phải xếp đặt cho khéo chớ để lầm lỡ” [17,16]

Trang 27

Tháng 11 năm Quý mùi (1823) phó trởng chi thợng đạo Thanh Hoa là

Hà Công Quỳnh và cai cơ là Phạm Thúc Nho (con nuôi Công Thái) tâu xin

đến kinh yết kiến vua Khi đến vua cho mỗi ngời một cặp áp, yên ủi dụ rằng:

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mcha các ngời là Công Thái là trởng quan một đạo, danh vị không nhỏ thế mà

bị kẻ thù nó hại, cái cách tự vệ sao mà sơ hở thế! Nhng cũng là số mệnh thôi,vả cha ngơi trung thành mà bất đắc kỳ tử lại là điều trẫm không hiểu nên khinghe tin trẫm rất thơng tiếc, lập tức sai quan sở tại xét hỏi rất nghiêm May màbắt đợc tội nhân, không những cha các ngơi ở dới đất cũng đợc thân oan, màbọn ngơi cũng cởi mở đợc mối hận không bờ bến Nay bọn ngời tuy cha đợcquản hạt, các tù trởng nh cha nhng cũng có phần đất đai đều nên giữ gìn, trêntheo đức ý triều đình mà tuyên dụ cho các sách man thợng đạo, khiến chúng

tự yên họp, chớ làm bậy mà mắc tội lệ, nh thế bọn ngơi không làm mất thanhdanh của cha khi còn sống” [17,17]

Phạm Thúc Nho đợc cha nuôi cho "ăn đất" ở vùng Ngọc Lặc ngày nay,hậu duệ là Phạm Thúc Tiêu làm chi châu Ngọc Lặc, sau năm 1945 là đại biểuquốc hội, chủ tịch UBKCHC Miền Tây Thanh Hóa

Hà Công Quỳnh tính nết hiền hoà là con quận công nhng không đợc ởng chế độ tập ấm Hơn nữa ông đã chứng kiến cảnh chết thảm của cha nên

h-đành ôm hận “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Man phận thủ thờng” Với chức tổng ty Mờng Khô cho tới khiqua đời

Các ngời em của Hà Công Quỳnh là Hà Công Dân, Hà Công Đức, HàCông Hồ sau này lại nổi lên chống triều đình Nguyễn Đức bị giam ở Nghệ

An sau có ngời là Hà Công Dung bảo lãnh đợc ra tù đới tội lập công

Đến đời thứ ba lại xuất hiện một nhân vật nổi tiếng là Hà Văn Mao(1840 - 1847) Hà Văn Mao là con của Hà Công Quỳnh, nh vậy là cháu đíchtôn của hộ quận công Hà Công Thái Nhng theo một nhà nghiên cứu ở địa ph-

ơng thì Hà Công Thái có con là Hà Công Thuỷ, Công Thuỷ sinh ra Hà CôngQuang; Công Quang sinh ra Hà Công Chấn, Công Chấn sinh ra Hà Công Mao(Hà Văn Mao)

Hà Văn Mao từng giữ chức cai tổng Điền L Năm 1885, sau khi thực dânPháp mở chiến trờng ra Thanh Hóa ông đã kêu gọi tập hợp nghĩa binh và trởthành thủ lĩnh khởi nghĩa năm 1886, đáp lời kêu gọi “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MPhụng chiếu cần Vơng

đánh Pháp” [17,17] Ông tiếp tục mở rộng địa bàn hoạt động Trong cuộc gặpTôn Thất Thuyết (nhà lãnh đạo phe kháng chiến trong triều đình Huế) và

Trang 28

những ngời cầm đầu phong trào ở Thanh Hóa Ông đợc phong chức Tán lýquân vụ phụ trách phong trào ở miền núi

Ông cùng các nhà lãnh đạo phong trào Cần Vơng ở Thanh Hóa nh TrầnXuân Soạn, Phạm Bành, Đinh Công Tráng… đã xây dựng nhiều căn cứ quân

sự và mặc nhiên thành những ngời lãnh đạo chủ chốt của phong trào Cần

V-ơng trên địa bàn

Nói đến Hà Văn Mao trớc hết là nói đến một con ngời yêu nớc, thơngdân và căm thù giặc sâu sắc Ông đã để lại một tình cảm tốt đẹp trong lòngnhân dân Luôn luôn đợc ngời đời nhắc đến và ca tụng, không cam tâm làmtay sai cho giặc nh nhiều quan lại phong kiến đơng thời mà vợt lên tất cả ôngquyết không đội trời chung với kẻ thù Từ một cai tổng ông đã trở thành mộtthủ lĩnh đầy tâm huyết của cuộc khởi nghĩa

Khi giặc Pháp đặt chân lên đất Thanh Hóa, không hoảng sợ đầu hàng nhnhiều quan lại phong kiến khác, Hà Văn Mao đã biết nhìn xa trông rộng kêugọi tập hợp nghĩa binh đào hào đắp luỹ chuẩn bị đánh giặc Trong cuộc hànhquân bình định lên miền núi Thanh Hóa năm 1885, thực dân Pháp đã vấp phải sựkháng cự mãnh liệt, nghĩa quân của Hà Văn Mao đã gây cho chúng tổn thấtkhá nặng nề Đây cũng là cuộc kháng chiến nổ ra sớm nhất mở đầu cho cuộc

đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Hóa Nghĩa quân

Hà Văn Mao ngày càng lớn mạnh, nhân dân khắp vùng nghe tin ông ở đâu là

tổ chức quyên góp lơng thực và gửi con em theo ông kháng chiến Địa bàn của

ông không cố định, không bó hẹp trong địa bàn miền núi, mà luôn đợc mởrộng tới “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mchỗ nào có giặc là nơi đó có chiến trờng” ông luôn phối hợp với các

đội nghĩa binh trong tỉnh, phối hợp với các lãnh tụ của phong trào Cần Vơng

và các nhà lãnh đạo phong trào ở Thanh Hóa để tạo ra một thế trận liên hoàn.Vì vậy bằng vai trò và sự cống hiến của mình Hà Văn Mao đã trở thành mộttrong những nhà lãnh đạo xuất sắc của phong trào Cần Vơng ở Thanh Hóa,góp phần đa Thanh Hóa trở thành một ngọn cờ, một địa phơng có phong tràochống Pháp khá mạnh trong cả nớc, góp phần quan trọng làm lung lay nềnthống trị của thực dân Pháp trên đất nớc Việt Nam

Ông nằm lại trên một quả đồi mà ngày nay là nơi đặt trờng phổ thôngtrung học Hà Văn Mao Khi tơng quan lực lợng không còn đủ sức tiếp tụccuộc chiến đấu, ông tìm đến cái chết để khỏi rơi vào tay giặc vào một đêmkhông trăng, sao, ông dùng trúng kíp tự kết liễu đời mình

Trang 29

Hà Văn Mao có ngời con trai tài giỏi và dũng mãnh là Hà Triều Nguyệt(1872 – 1941) Khi cha mất Hà Triều Nguyệt mới 15 tuổi phải theo gia đìnhsống nhờ Cầm Bá Thớc Đợc một thời gian ông sang Trung Quốc cùng với ng-

ời vợ bé của Hà Văn Mao ở Trung Quốc, mấy năm đợc học hành chu đáocàng thấy nỗi nhục của ngời dân mất nớc trong lòng vẫn mang nặng mối thù

đế quốc mà cha truyền lại, năm 1899 Triều Nguyệt trở về Yên Thế theo nghĩaquân Đề Thám nhng chẳng bao lâu chiến khu Đề Thám vỡ, ông bị kết án 30năm tù lu đày ở Guyane (một thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ) Trong tù HàTriều Nguyệt ôn luyện vốn Hán học, học chữ Pháp, tập võ nghệ Năm 1915

ông đợc đa về an trí ở Huế Ngời Pháp thấy không thể dẹp đợc ý chí của ôngnên tìm cách lợi dụng để yên lòng dân thiểu số Vua Khải Định phong cho

ông chức tớc Lãnh binh nhng không có quân lính Uy tín của Hà Triều Nguyệtrất lớn, ngời Pháp phải chia châu Quan Hóa thành 2 châu, lập châu Tân Hóa

và giao cho ông làm tri châu Nhận chức tri châu từ năm 1925 ông giao durộng rãi, làm thơ đánh cờ nhng vẫn không nguôi chí lớn Khi ông qua đời năm

1941 ngời Pháp cũng giải thể châu Tân Hóa Ngời Pháp nh trút đợc gánh nặng[17,17-18]

Khi Triều Nguyệt còn sống dân vùng Chàng Lang đã thờ ông làm thànhhoàng sống của làng Hàng năm đến ngày sinh của ông dân làng mở hội, ôngngồi trên bè gỗ đem theo ngựa về đình làng để dân tế sống, lễ vật là một vò r-

ợu, một thủ lợn và mâm xôi Dân cúng xong ông dùng hết các lễ vật, ngủ bangày rồi cởi ngựa trở về nhà [17,18]

Hà Triều Nguyệt có hai con trai là Hà Công Thắng và Hà Công Dụ Trongthời gian ở Guyane, Triều Nguyệt còn có một ngời con gái lai là Yvone (ở Pháp).Yvone lấy chồng là một võ quan Pháp (cách đây mấy năm vẫn còn sống ở Mỹ và

đã gần 100 tuổi)

Con trai đầu của Lãnh Nguyệt là Hà Công Thắng Ông là ngời bất trị, coithờng tất cả Sau Cách mạng tháng Tám, Thắng đợc giao chỉ huy dân quân ởhuyện miền núi Thanh Hóa nhng lại phản bội cách mạng chạy vào vùng Pháptạm chiếm và chết vì bệnh dạ dày [17,18]

Hà Công Thắng có hai ngời con là Hà Công Minh và Hà Công Lạng

Hà Công Minh là con trai đầu của Hà Công Thắng đợc mặt trận Việt MinhCẩm Thuỷ đa vào trờng thiếu sinh quân ăn học tới khi khôn lớn Sau cải cáchruộng đất Hà Công Minh cùng một số ngời ở Mờng Điền và Mờng Cổ Lũng vợt

Trang 30

biên sang Lào rồi vào Nam theo Ngô Đình Diệm Hiện ông Minh sống ở Mỹ vàthờng xuyên có th từ về nhà về quê nhà Hà Công Lạng là con thứ của Hà CôngThắng làm công nhân ở nông trờng Thống Nhất Hiện nay đã nghỉ hu cùng vợcon sinh sống tại Cẩm Sơn huyện Cẩm Thuỷ

Hà Công Lạng có con trai là Hà Công Tuấn hiện ở quê nhà (xã Điền L huyện Bá Thớc) Hà Công Tuấn có con gái là Hà Thị L đang học Đại học

-Điểm lại đôi nét về dòng họ Hà Công của những danh nhân Hà CôngThái, Hà Văn Mao và lớp hậu duệ, ánh sáng và bóng tối chen nhau, có những

điều cha thực sự rõ ràng Song nổi bật là những đóng góp của các thế hệ vớiquá trình phát triển của đất nớc Có một điều lạ là Hộ quận công Hà CôngThái, dòng họ ít ngời phát đinh Đến nay chỉ có mơi gia đình mấy chục nămnay mới có ngời vào đại học

Hơn 200 trăm năm, từ ngày Hà Công Thái theo Nguyễn ánh Trung hngvơng Triều Nguyễn rồi cháu nội là Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt đánh Pháp,núi rừng Bá Thớc luôn biến động, hơn nửa thế kỷ nay yên ổn làm ăn

2.3 Di tích chùa Mèo ở làng Muỗng Do xã Điền Trung, huyện Bá Thớc, tỉnh Thanh Hóa.

2.3.1 Quá trình hình thành làng Muỗng Do, xã Điền Trung

Tơng truyền, đã lâu có một nhóm ngời Mờng trên đờng đi tìm đất dựngbản, lập mờng đã đến địa điểm Làng Muỗng Do bây giờ, trời đã xế chiều, lạithấm mệt nên họ dừng chân dựng lán trại nghỉ qua đêm dới một gốc cây cổthụ Sáng hôm sau, đoàn ngời chia thành hai nhóm, nhóm ở lại tiếp tục khámphá khu vực xung quanh, nhóm thứ hai tiếp tục tiến sâu thêm vào vùng rừngnúi rậm rạp…

Nhóm ngời ở lại sau khi khám phá thấy vùng đất này bằng phẳng tơng

đối, cây cối tốt tơi Họ phát hiện thấy một cây cổ thụ, cành lá xum xuê có rấtnhiều quả, tựa nh muỗng múc canh, hái vài quả ăn thử, quả xanh thì chua, quảchín lại ngọt bèn đặt tên là cây Muỗng Sau đó họ quyết định dừng lại dới gốccây dựng chòi rồi cùng nhau phát nơng rẫy để chọc lỗ tra hạt

Nhóm ngời đi sâu vào trong rừng, phát hiện thấy một mó nớc trong vắt,

họ nghĩ đó là do trời cho vì không phải đào cũng chẳng phải đắp cũng đủ nớc

ăn nên quyết định dừng lại

Năm tháng đi qua, bản làng ngày cành trở nên đông đúc, họ bèn bàn nhaulấy tên cây Muỗng và Mó nớc đặt cho làng là làng Muỗng và làng Do Cho mãitới sau này, hai làng sát nhập lại làm một nhng vẫn lấy tên hai làng cũ mà

Trang 31

thành tên gọi là làng Muỗng Do và giữ nguyên tên gọi Muỗng Do cho đếnngày nay vẫn không thay đổi.

Ngời dân làng Muỗng Do quần c trong một thung lũng phía hữu ngạnSông Mã, ven những chân ruộng lúa nớc mầu mỡ Địa hình thung lũng đợcbao bọc chung quanh bằng những dãy núi thấp bốn mùa xanh tơi trù phú.Làng Muỗng Do nay thuộc xã Điền Trung huyện Bá Thớc là mảnh đấtlành, nên đã có nhiều dòng họ nh Họ Hà, Họ Trơng, họ Bùi sinh cơ lập nghiệptrên mảnh đất này, làng có tổng số 158 hộ gia đình với 870 nhân khẩu Nhândân sống chủ yếu bằng nông - lâm nghiệp kết hợp Do áp dụng khoa học kỹ thuậtchuyển đổi cây trồng vật nuôi, làng Muỗng Do đã tăng mức thu nhập từ 4.500.000lên 5.000.000 đồng/ngời/năm Đến nay trong làng có 6 hộ gia đình có nhà kiên

cố (nhà cao tầng), 147 hộ gia đình có nhà bán kiên cố, 110 hộ có xe máy, 162

hộ có ti vi, 60% hộ gia đình có điện thoại Làng Muỗng Do có các đoàn thể

nh hội phụ nữ, cho đoàn thanh niên, ban mặt trận tổ quốc, chi hội cựu chiếnbinh và chi bộ với 20 đảng viên.[27,5]

Trong đời sống văn hóa tinh thần của ngời dân làng Muỗng Do nói riêng,Mờng Khô nói chung - có những mối dây liên kết về nề nếp sinh hoạt mangtính chất cộng đồng truyền thống của ngời Mờng vẫn còn bền chặt và đợc giữgìn cho đến ngày nay Nhng hệ thống các trò chơi, trò diễn dân gian truyềnthống của ngời Mờng Khô đến nay vẫn đợc duy trì và phát huy có hiệu quả,góp phần làm giàu thêm bản sắc của văn hóa dân tộc Mờng

Nếu ở vùng đồng bằng trù phú của xứ Thanh nổi tiếng với hệ thống cáctrò diễn khác nhau của ba vùng, miền nh: Hò Sông Mã, Dân ca Đông Anh vàcác trò Xuân Phả thì huyện Bá Thớc nói chung, Mờng Khô nói riêng, đặc biệt

là làng Muỗng Do cũng có những hình thức diễn xớng tổng hợp với các tròchơi, trò diễn khác nhau Trong các trò diễn ở đây, còn có nhiều trò diễn đặcsắc, mang đậm dấu ấn của những cách diễn xa còn xót lại, có những trò diễnnh: Phờng Bùa, trò Ma, Trống Dàm, Chọi gà, đốt pháo bông (Tột va); các tròdiễn mang tính chất nghi lễ nh: Pôồn Pôông, làm vía kéo xi…Đó chính là vốnvăn hóa truyền thống phong phú và đáng trân trọng mà làng Muỗng Do, đấtMờng Khô Bá Thớc còn lu giữ đợc cho tới ngày nay

Là một làng ngời Mờng có tổng số hộ 185 hộ gia đình quần c ven chânruộng lúa nớc bằng phẳng và mầu mỡ, ven đờng quốc lộ 217 nên rất thuậntiện cho việc sản xuất nông nghiệp và dịch vụ thơng nghiệp góp phần pháttriển kinh tế xoá đói giảm nghèo

Trang 32

Làng Muỗng Do có di tích lịch sử văn hóa là Chùa Mèo – nơi thờnhững ngời có công với nớc (những công thần thời Lê, thời Nguyễn: Hà CôngNgôn, Hà Công Ngoan, Hà Công Thái, Hà Công Cơ, Hà Công Ten, Hà CôngChấn, Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt…) Đặc biệt là các sĩ phu yêu nớc trongphong trào Cần Vơng và phong trào Văn Thân chống thực dân Pháp cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nh: Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt…

Xa kia lễ hội chùa Mèo ở làng Muỗng Do đợc coi là lễ hội của cả vùngMờng Khô

2.3.2 Di tích chùa Mèo

Truyền thuyết Mờng Khô kể lại rằng: Vào một năm nọ Mẹ ông LangKhô đi thăm con ở làng Triu chẳng may qua cánh rừng làng Trênh (nay thuộcxã ái Thợng) bị hổ vồ

Theo phong tục đất Mờng - con trai đi ở rể không đợc thờ mẹ tại nhà bố

vợ nên sau khi ngời mẹ bị hổ vồ chết, ông Lang Mờng Khô đã dựng một ngôi

đền gọi là Đền Cụ (hay còn gọi là nhà Thánh) để thờ mẹ Và cũng do từ vùngngời Thái (Mờng Khoòng) xuống nên mô hình thờ tại Đền Cụ cũng mang ảnhhởng của nhà Phủ Mờng Khoòng

(Phủ Mờng Khoòng hay ở làng Thung Xã Cổ Lãng, xây năm 1393 thời lêTrung Hng thờ Hà Nhân Chính, Hà Thọ Lộc, Trịnh Kiểm, Nguyễn Kim) Đền Cụ nằm ở cánh đồng bên đầu cầu Đại Lạn, cách nghĩa địa ĐốngTràng (nghĩa địa riêng của dòng họ Hà Công) khoảng 300m Đây là một đềnthờ, nhng ngời ta quen gọi là Chùa - Chùa Mèo Mèo nghĩa là Cọp, vì ngời ta

kỵ gọi là Cọp là Hổ nên gọi trệch sang tên là một loại cùng họ hàng nhà Mèo.Chùa Mèo mang ý nghĩa là nơi thờ các bậc linh thiêng, sức mạnh nh Cọp,thuộc dòng họ Lang Khôn

Thời Gia Long và Minh Mạng, dòng họ Hà Công có Hà Công Thái là

ng-ời có công đánh giặc Xá Khoang ở trấn Hng Hoá và đánh dẹp giặc cỏ ở vùngbiên giới Việt Lào, đặc biệt là giúp cho Nhà Nguyễn thống nhất giang sơn (haimiền Nam – Bắc) nên Hà Công Thái đợc phong tớc Quận Công, có quyền caiquản từ Eo Le, Chợ Mầu, Chợ Bãi, Mờng Ne cho đến tận ngọn nguồn sôngMã và sau khi ông mất mộ phần an táng tại Khuôn viên Chùa Mèo, cách mộtkhoảng sân trớc mặt Đền Cụ Dòng họ Hà xây thêm Nhà Chính để phối thờQuận Công Hà Công Thái và tiếp tục sau này thờ Hà Văn Mao, Hà TriềuNguyệt

Chùa Mèo trở thành nơi vãn cảnh của nhân dân trong vùng với địa thếtrên vờn, dới ao, trớc cau, sau trúc Tổng thể khuôn viên của Chùa Mèo xa bao

Trang 33

gồm Đền Cụ (còn gọi là Hậu cung, nơi thờ bà tổ), nhà chính (nơi thờ QuậnCông Hà Công Thái, Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt ) và hai bên là hai dảivũ.

Nh vậy, mô tuýp thờ tại Chùa Mèo, từ việc thờ tự của một gia đình, saunày dòng họ Hà Công còn phối thờ những ngời có công với nớc Chùa Mèo trởthành nơi đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cho đất Mờng Khô nói riêng,huyện miền núi Bá Thớc nói chung

Chùa Mèo, xa kia nằm bên cánh đồng có mó nớc trong suốt, quanh nămnên đợc gọi là giếng tiên Khuôn viên chùa Mèo có:

- Nhà thờ Bà Chúa (Hậu cung), kiến trúc mái chảy, trên nóc trang trí, đôiRồng, nhả Ngọc, cửa vào vòm cuốn, bàn thờ bà chúa đặt gian chính tẩm, saubàn thờ có bài vị khắc hình bà và tên bà bằng chữ Hán Hai bên hậu cung cóhai dãy nhà giải vũ (nhà dọc) “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mtả văn” “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mhữu võ” ở giữa hai dãy nhà giải vũ cólối đi lát gạch khoảng 6m Giữa sân có bể cá vàng (thống đá) phía trớc cửanhà giải vũ có 2 con voi bằng sứ, cuối sân trồng hai cây họ thông (to) Nhàchính thờ dòng họ Hà gồm 5 gian, xung quanh làm rèm khi có việc chống rèmlên, gian giữa kê sập đặt mâm lễ xung quanh sập để các khi giới (giảm, daolù) và hai chiếc lọng

Hết nhà chính đến sân và vờn, trớc vờn nhà chính là Khấm Mèo (Khấm

là ruộng công, Khấm cấp cho quan lang xã chòm khi thôi chức lấy lại cấp chongời thay thế)

Suốt thời kỳ dài, Chùa Mèo trở thành tụ điểm sinh hoạt văn hóa tinh thầncủa dân Mờng Khô

Do hạn chế của thời điểm lịch sử, những năm 1960 - 1964 chùa Mèo bịtháo dỡ Một số đồ thờ trong chùa đã đợc các gia đình trong dòng họ tộc cấtgiữ Từ đó việc thờ phụng dòng họ tộc Hà Công giao cho các gia đình làm tạinhà các con cháu trong dòng họ vào dịp 15 tháng giêng Do không còn đền thờnên Gia tộc thờng tập trung mỗi năm làm lễ tại một làng, những địa điểm cónhiều con cháu trong dòng họ sinh cơ lập nghiệp, đặc biệt việc góp trâu, bò, lợn,

gà để làm lễ vẫn đợc giữ vững nguyên cho đến ngày nay Tuy nhiên, cũng chỉ

đơn giản là trong gia tộc của dòng họ Hà Công tập trung cúng tế cho gia tiên vànhững ngời trong gia tộc có công với đất nớc chứ không còn có việc cả Mờng tậptrung về tổ chức Lễ Hội nh nguyên bản của Lễ Hội Mờng Khô xa kia

Xuất phát từ nhu cầu tín ngỡng tâm linh của nhân dân, để ngời xa có dịp

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mđi về” đối thoại với ngời nay Năm 2007 - 2008 Uỷ ban nhân dân huyện BáThớc và Sở Văn hoá Thể thao du lịch Thanh Hóa đã đầu t kinh phí xây dựng

Trang 34

lại chùa Mèo, lễ hội chùa Mèo lại diễn ra sôi động đáp ứng nguyện vọng nhândân trong vùng.

2.3.3 Chùa Mèo phối thờ những danh nhân có công với đất nớc.

Chùa Mèo xa bắt đầu là nơi thờ tự tổ tiên của một gia đình, sau này trởthành nơi thờ những ngời trong dòng họ có công với đất nớc Trong đó chủyếu là thờ Hà Công Thái, Hà Văn Mao, Hà Công Nguyệt

 Quận công Hà Công Thái - một trong những ngời nổi tiếng của Gia

tộc Họ Hà Hà Công Thái là ngời sớm nhận ra tình hình diễn biến của thờicuộc Lúc ấy Hoàng Đế Quang Trung đã băng hà, ngời kế nghiệp không đủtầm để quản lý nớc ở Bắc Hà, dân bị đói khát, trộm cớp liên miên Chínhquyền của Quang Toản bất lực, quyền hành nằm trong tay Thái S Bùi ĐắcTuyên Triều đình chia rẽ, thế nớc nghiêng ngã, lòng ngời ly tán Sớm muộn nhàTây Sơn cũng phải chấm dứt vai trò lịch sử Những chiến công lừng lẫy củaThiên tài Nguyễn Hụê, những cải cách bị ngời kế nghiệp bỏ dở Hà Công Thái làngời đầu tiên ở miền núi Thanh Hóa tìm đờng liên lạc với Nguyễn ánh Ông cửngời tâm phúc lặn lội vào tận Trấn Biên gặp chủ mới Nguyễn ánh mừng rỡ cóngời tâm phúc ém sẵn ở vùng thợng đạo Thanh Hóa Sách Đại Nam thực hiệnghi: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNăm Giáp Dần tháng 2 năm 1794, Thống Lĩnh thợng đạo Thanh Hóa là HàCông Thái sai ngời dâng biểu xin theo Vua ban tứ hậu rồi bảo về, khiến chiêutập quân nghĩa để hởng ứng quân vua” [18,19]

Từ một thổ ty ở vùng núi xa xôi, tiếng tăm cha vợt xa bản mờng, HàCông Thái đã bớc lên vũ đài chính trị Ông xây dựng một đạo quân, chuẩn bị

đón quân Nguyễn ở các huyện miền Tây Thanh Hóa Chính quyền của QuangToản biết rõ nhng không đủ lực để đánh dẹp Ông lại cho ngời vào Gia Địnhgặp Nguyễn ánh “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNăm Canh Thân (1800) tháng 4, phiên thần Thanh Hóa làkhâm sai chánh thống lĩnh quận công Hà Công Thái sai ngời dâng biểu xin tậphợp bọn thổ tù và sửa sang binh khí để theo bọn thợng đạo tớng quân NguyễnVăn Thụy đi đánh giặc Vua khen tốt, cho bọn thuộc hạ và Phạm Công Thọ,

Hà Công Hợp, 14 ngời làm cai cơ và cai đội theo thứ bậc khác nhau” [18,19].Quan hệ giữa Hà Công Thái với Nguyễn ánh còn ở Trấn Biên, Gia Định

và không phải chỉ một mình Hà Công Thái tìm cách liên lạc với Nguyễn

ánh đã sai ngời ra Thanh Hóa tìm gặp ông “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MLấy Nguyễn Văn Toan vàNguyễn Văn Khâm làm khâm sai cai cơ Năm Kỷ Mùi (1799), bọn VănToan phụng mật dụ đi Thanh Hóa (đến Điền L ) cùng với thống lĩnh thợng

đạo và Hà Công Thái Chiêu mộ quân nghĩa dũng để làm sách ứng choquan quân Vua truy công đó nên có lệnh này”.[18,19]

Trang 35

Khi Nguyễn ánh chiếm đợc Phú Xuân, Hà Công Thái cử ngời vào gặpxin chỉ dụ “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MTháng 5 năm Tân Dậu (1801) thống lĩnh thợng đạo Thanh Hóa và

Hà Công Thái sai ngời dâng biểu mật nói việc quân Vua dụ rằng: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MTa nay đãthu phục kinh đô cũ, giặc Nguyễn Quang Toản đã chạy về Bắc đã ứng cho

điều quân thợng đạo Lu Phớc Tờng hội với nớc Vạn Tờng đánh Nghệ An

Ng-ơi nên đem quân bản bộ đánh Thanh Hóa đợi ta sắp đặp tạm xong sẽ tiến đánhBắc Hà để thống nhất đất nớc, ngơi nên cố gắng” [18,19]

Hà Công Thái sắp xếp quân bản bộ tràn xuống các huyện đồng bằng, cáchuyện đô Lôi Dơng, Thuỵ Nguyên, Vĩnh Lộc, Yên Định… không gặp sứcchống cự nào Khi Nguyễn ánh đến trán thành Thanh Hóa (tháng 6 nămNhâm Tuất 1802) thì chỉ còn việc “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mdạo xem bình thế sông núi, vời những ng-

ời già ở làng Bố Vệ về sự tích cũ miếu nhà Lê…” [18,19]

Điểm qua sách xa có thể thấy rõ công của Hà Công Thái đối với Vơngtriều Nguyễn rất lớn

Sau cuộc diện kiến chốc lát ở trấn thành Thanh Hóa (tháng 8 năm 1802)Nguyễn ánh tiếp tục lên đờng ra Bắc Kỳ hoàn thành công cuộc thống nhất đấtnớc Gia Long chia nớc thành 14 trấn, 47 phủ, 187 huyện, 40 châu TrấnThanh Hóa có 4 phủ, 16 huyện, 3 châu: Quang Da, Lang Chánh, Tàm Châu.Gia Long phong cho Nguyễn Đức Xuyên tớc quận công lãnh đốc trấn ThanhHóa, tham tri Binh bộ là Võ Danh Trung làm hiệp trấn, thiêm sự Lại bộ Lê

Đắc Tần làm tham hiệp

Hà Công Thái đợc phong quận công khâm sai chánh thống lãnh thợng

đạo trấn Thanh Hóa [18,20] Tớc quận công là vinh hàm cao nhất của triềuNguyễn vốn dĩ chỉ phong cho tam thái (thái s, thái phó và thái bảo) và tamthiếu (thiếu s, thiếu phó và thiếu bảo) Tờ cáo trục phong tớc sắc vàng, thứ tơcủa Tàu, bốn xung quanh thêu hoa, do viện Hàn Lâm soạn, quan khâm mạngtuyên phong không thấy sách ghi mỹ hiệu của quận công Hà Công Thái nhngtheo sách đã dẫn tớc quận công thì lấy tên huyện Trên đất Bá Thớc xa đã cóngời đợc phong tớc công nh Lân quận Hà Thọ Lộc, Thuỵ quận công Hà NhânChính, Hà Thị Tờng? Có điều là mọi ngời thờng đợc phong tớc từ thấp lêncao, còn trờng hợp Hà Công Thái đợc phong thẳng vào bậc cao nhất của vinh

hàm thời Nguyễn: Quận Công Sách "Đại Nam thực lục" ít nhất 20 lần nhắc

đến tên và sự tích về Hà Công Thái Mỗi lần nhắc đến ông đều kèm theo tứquận công, chức khâm sai thợng đạo Thanh Hóa một cách trân trọng

Năm 1803, vua Gia Long lại cho Hà Công Thái kiêm chức coi quế bộ (hộtìm quế) Quế tìm đợc đem vào Huế cho vua và Hoàng tộc dùng Quế còn đợc

Trang 36

dùng làm đồ tiến cúng vua nhà Thanh hoặc ban cho các đại thần Năm ất Sửu(1805) mùa Xuân, tháng Giêng “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mquan thống lĩnh thợng đạo Thanh Hóa là HàCông Thái vào chầu, vua cho một bộ mũ áo, 100 quan tiền Khi về lại ban áoquần cho bộ thuộc theo thứ bậc khác nhau” Cuộc đi Huế lần đầu của HàCông Thái diễn ra trong cả tháng Giêng.[18,20]

Cuối năm ấy ông kiểm kê quân trực thuộc là 1249 ngời gồm quân thờngtrực là 581 ngời chia làm 7 chi gồm: Khâm sai cai cơ chánh quân các đội 11ngời, cai bạ 1 ngời, phó quản chi 7 ngời, trởng hiệu các đội 35 ngời, phòngngự sứ chia quản các sách 11 ngời, thủ ngự sử 28 ngời, quân sự trữ 49 ngời, 3

đội đi tìm quế 178 ngời [18,19] Rõ ràng là Hà Công Thái đợc vua Gia Longcho quản lý một vùng phên dậu ở biên cơng với một lực lợng quân sự mạnh,

có quan quân dới quyền nắm đến tận các sách, động

Hà Công Thái là ngời có tham vọng lớn, ông muốn đa quân đi dẹp Phỉ ởcác vùng đất Nghệ An, Hòa Bình, Thanh Hóa Năm Kỷ Tỵ (1809) ông tâu lênvua đi truy bắt bọn phỉ Quách Tất Thúc và Trịnh Văn, Gia Long dụ xem tờ tấucủa ngời, đủ thấy tấm lòng thành khẩn… Ngời nên đóng giữ đại lại mình đềphòng nghiêm ngặt, không cần ra ngoài địa phận để tìm bắt [18,20] Hà CôngThái lại còn tâu xin nhà vua cho tri bạ Lê Tuấn Tri làm tri huyện Cẩm Thủy.Vua không cho và nói: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MHuyện lệnh là chức gần dân, triều đình tự có phéptuyển chung, sao lại kinh suất bổ cho ngời riêng… Công Thái không nên xinriêng…[18,19]

Đây cũng là lời dặn dò cuối cùng của vua Gia Long với công thần CôngThái Khi Gia Long băng hà (ngày 19/12 năm Kỷ Mão 1819), Hà Công Tháivào viếng và sau đó có mặt ở lễ đăng quan của Minh Mệnh Ông cũng đợc vàoyết vua mới, nhà vua ban cho Hà Công Thái gơm và súng tây Trớc khi rờikinh đô để về Thanh Hóa, ông đã vào bệ từ vua Minh Mệnh, Trong buổi bệkiến có các quan ở ngoài (ở các trấn), vua chỉ dặn riêng Hà Công Thái côngviệc (hoặc các quan khác vua cũng có lời dặn dò nhng chỉ có lời vua dặn ông

đợc ghi vào Quốc sử): “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNgời ở đạo, phàm mọi việc nên cùng với đốc trấn bànbạc xét kỹ cơ nghi sao cho giặc cớp lặng yên, trấn đạo thanh tỉnh để đền đáp

ơn hậu đãi của triều đình, phải cố gắng đấy” [18,20] Xem lời dặn dò của vuaMinh Mệnh, ta thấy nhà vua rất quý trọng Hà Quận Công Nhà vua dặn ông

“Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MPhàm mọi việc nên cùng với đốc trấn bàn bạc, xét kỹ cơ nghi…” Nh vậy,

ông là ngời ngang với Đốc trấn (cùng là tớc Quận công), ông còn đợc cấp ấnquan phòng (cùng đợc cấp ấn quan phòng dịp tháng 3 năm Tân Tỵ 1821 có ty

Trang 37

quản lý thơng bạc, tào chính các tạo hộ, binh, hình, công của Gia Định và BắcThành).

Trong dịp vua Minh Mệnh ra Thăng Long nhận sắc phong của nhà Thanh đãdừng chân ở Thanh Hóa, dịp này Hà Công Thái dẫn các thổ tù đến chiêm bái Vuathấy Thái tuổi già sai ngời nâng dìu lên điện Thái sợ hãi, vua dụ rằng: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MNgơi hiếnthân làm tôi, không phải một ngày còn hiềm ngờ gì mà có ý sợ, sai cùng với con làQuỳnh theo hầu…” Minh Mệnh cho quà, an ủi, rồi bảo về coi sóc vùng đất cũ.[18,21]

Năm Nhâm Ngọ (1822), tháng 3 tin dữ truyền vào kinh thành Huế, HàCông Thái bị kẻ cớp bắn chết Vua đợc tin lấy làm thơng, cho tuất 100 lạngbạc và 20 tấm lụa Hai mơi tám năm theo hầu hai vua, từ thuở cơ nghiệp nhàNguyễn còn đang ở thời kỳ lận đận (1894) đến khi đất nớc tạm yên, Hà QuậnCông để lại những chiến công bất hủ, đợc vua yêu, dân mến Nhiều tham vọngcòn dang dở

Hà Công Thái bị Phạm Nho, một ngời dân thờng ở Mờng Danh (CẩmThuỷ) hạ sát bằng súng kíp trong khi ông dự đám tang của ngời anh em kết

nghĩa Ngày Hà Công Thái chết đợc "Đại Nam thực lục" ghi là cuối tháng 3

năm Nhâm Tý (1822).[18,21] Vua Minh Mệnh truyền chỉ mấy lần phải tìmbắt cho đợc thủ phạm Phải 20 tháng sau Hà Công Quỳnh (con trai của HàCông Thái) mới tìm bắt đợc thủ phạm Chuyện rắc rối đến cả các quan lạiThanh Hóa, nhiều ngời bị giáng chức (đến cả lý trởng của sách Thuý Danh làPhạm Thúc Hoà cũng bị bắt giam) Phạm Nho và đồng đảng bị xử tử

Sau này, lịch sử Việt Nam còn nhiều lần nhắc đến quận công Hà CôngThái, những ngời theo hầu ông đều đợc triều đình phong thởng nh trờng hợp

Đặng Lu Thân, tri phủ Thiệu Hóa “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mlàm phó vệ uý các quân thần trải theo HàCông Thái đi đánh giặc…”.[18,21]

Thời Hà Công Thài còn tại thế, triều Nguyễn cha có lệ phong hàm Phải

đến năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) mới đặt lệ phong Hàm (mỗi hàm có chánh

và tòng) nên không thấy nói là ông đợc phong hàm gì, nhng căn cứ theo biaTrơng quận phu nhân ở xã Điền Trung đợc dựng ngày 23/3 năm Minh Mệnhthứ 14 (1833) có thể duy ra: Theo quy định đó thì vợ các quan nhất phẩm, nhịphẩm đợc phong phu nhân, tam phẩm phong thục nhân,… Xin trích nội dungvăn bia

Phu nhân họ Trơng ngời Giáp Nội, Sa Lung, Cẩm Thuỷ Là con gái thứcủa thổ tù, tên là Trơng Thị Bình, tính tình nhân từ, đôn hậu hiền thục nh thiếunữ Lớn lên gặp quan Khâm sai Chánh thống lĩnh Thợng đạo, tớc Hộ quận công,

Trang 38

tên tự là Thái lấy làm vợ Giữ trọng đạo nhà, năng động trong công việc Cáccô cậu đều hòa thuận, ngời quyền quý ái mộ, chăm lo cho sách dân, hoà nhã

em gái, em dâu, em trai, rực rõ trong làng bản, làm cho cảnh nhà thêm nghiêmvững rực rỡ Ông (chồng) gửi thác trọng trách, có chí yên dẹp bốn phơng, Tr-

ơng phu nhân lấy sự nhẹ nhàng hòa thuận mà giúp đỡ Phàm công việc lớnnhỏ trong nhà đều làm trôi chảy Ông (chồng) hơn nữa yên tâm lo công việcbên ngoài dần lo công việc Chí lớn đợc thành, đợc vinh phong quốc sủng, gia

đình nổi tiếng Từ đấy huy trấn một vùng, nhiều ngời đến giúp sức

Ông (chồng) về trời trớc phu nhân, lấy việc nhà làm căn do, con traichăm lo nghiệp nhà, con gái lo việc công xởng, sau này con cháu thỏa nguyện,nói nhàn hạ ấy là sự chăm lo có bàn tay giúp đỡ của Trơng phu nhân NămMinh Mệnh 13 (1832) tức năm Nhâm Thìn, tháng 11 bà mất, hởng thọ 65tuổi Ngày tháng 3 năm Quý Tỵ, con cháu dâu rể cả tộc cùng thôn dân chọnngày tốt làm lễ tống chung ở đầu Đống Trờng Tháng 4 đến chỗ ta xin bài vănbia để truyền mãi tên tuổi muôn thuở

Lớn lao thay, ôi! Trơng quận phu nhân là bậc nữ tiết liệt, mà nay làm mẹ,cho nên ấy là cái tinh tuý của trời đất chung đúc lên, bậc thiện nhân làm chocảnh nhà hng phát, nhờ đợc sự giúp đỡ của bà mà thành, ấy là ý nguyện đáng

ký thác” [18,21]

Qua văn bia ta thấy: Hà Công Thái tớc Hộ quận công, vợ ông là Trơng ThịBình đợc phong tớc phu nhân (là tớc hiệu của vợ quan nhất nhị phẩm thời MinhMệnh) Bà mất sau ông 10 năm (1832) thọ 65 tuổi Khi về làm dâu nhà họ Hà thìchồng đã là khâm sai chánh thống lĩnh, hộ quận công Bà phải kém chồng mơituổi vậy lúc hộ quận công mất tuổi đã ngoài 60 (lúc đó vợ 55 tuổi)

 Hà Văn Mao (? 1887)

Hà Văn Mao là ngời dân tộc Mờng thuộc dòng họ Hà Công Ông Sinh ra

và lớn lên tại vùng Mờng Khô thuộc tổng Điền L, châu Quan Hoá (Nay thuộckhu vực Hồ Điền, huyện Bá Thớc) Vùng đất này xa kia rất trù phù, có nhiềudòng họ chung sống với nhau, nh họ Trơng, Bùi, Phạm, Cao, Hà, trong đó

đông nhất là họ Hà Họ Hà lại chia làm hai dòng Hà Văn Mao thuộc dòng HàCông Đây là dòng họ lớn, dới triều Lê - Nguyễn đợc xếp vào hàng quý tộc.Một gia tộc có truyền thống yếu nớc, tài năng thao lợc, võ nghệ cao cờng và

có sự hòa đúc của nền văn hóa Thái - Mờng với giáo lý Nho học Việt Nam.Nguồn gốc này đã ảnh hởng sâu sắc đến nhân cách đạo đức và hành động của

vị thủ lĩnh Hà Văn Mao

Trang 39

Ông nội của Hà Văn Mao là Quận công Hà Công Thái Cha là Hà CôngQuỳnh làm thổ ty Mờng Khô.

Hà Văn Mao ngay từ lúc còn bé đã tỏ ra là ngời thông minh nhanhnhẹn, tính tình thẳng thắn nên đợc mọi ngời quan tâm Đặc biệt là tầng lớpquan lại ở Thanh Hóa đã nhiều lần dụ dỗ Hà Văn Mao ra làm quan theotruyền thống gia đình, nhằm tạo dựng đợc bức phên dậu để chắn phía Tây.Tòa giám binh Thanh Hóa đã gọi ông vào lính để “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mkèm cặp” nhng ôngkhông đi mà cho em là Hà Công Do đi thay Đại diện Toà lúc đó là Lĩnh Túcho rằng: Hà Văn Mao c xử nh vậy là “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mkhông biết điều” và “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở Mphạm thợng”

đến ngời Pháp nên phạt ông Do 30 roi và đánh thêm 30 roi nữa gửi về cho

Hà Văn Mao [4,164] Hành động nhỏ mọn đó của Lĩnh Tú đã khơi dậytrong Hà Văn Mao chí khí căm thù bọn vua quan bán n ớc làm tay sai chothực dân Pháp

Đợc cha cho nối nghiệp giữ chức vụ Thổ ty Mờng Khô Sau là cai TổngKim L Mục đích ra làm cai tổng của ông là để có thêm điều kiện giao tiếprộng rãi, nắm bắt tình hình thế sự để mu sinh việc lớn, chứ không phải để h-ởng bổng lộc nh một số cai tổng khác Trong thời gian này, ông đặt mối quan

hệ thân thiết với các mờng, các tổng lân cận, quan tâm qua lại với các gia đình

họ Hà, họ Trơng ở Cẩm Thuỷ

Không phải đợt đến lúc Hịch Cần Vơng lần thứ nhất phát ngày 13 tháng

7 năm 1885 từ Tân Sở - Quảng Trị mà Hà Văn Mao mới nổi dậy chống Pháp.Theo tờ phụ Tấu của Tổng đốc Vân Quý (Vân Nam - Quý Châu) là Sầm DụcAnh để ngày 13-3 năm Quang Tự thứ 11 (tháng 4 năm1885) cho biết: “Dòng họ Hà Công và Lễ hội Chùa Mèo ở MHàVăn Mao đã từ miền núi Thanh Hóa lặn lội đến vùng sông Đà để liên hệ vớiquân Thanh lúc đó đang ở đây bàn kế chống Pháp”.[4,165]

Theo ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn, vào khoảng năm KiếnPhúc ông đã nổi dậy chống lại triều đình, đánh giết số ngời theo đạo làm tay

chân cho Pháp Vì vậy ngay sau khi Chiếu Cần Vơng đợc ban bố ông đã có

mặt trong hàng ngũ văn thân chống Pháp, gấp rút tập hợp lực lợng và xâydựng hệ thống căn cứ đồn trại trải rộng trên vùng đất dọc sông Mã, từ Yên

Định lên Cẩm Thuỷ - Ngọc Lặc tới La Hán (Bá Thớc) Hàng chục vị trí quantrọng đều có đồn của nghĩa quân chốt giữ Vùng Điền L quê hơng ông đợcchọn làm trung tâm căn cứ Trên các tuyến đờng chính đều đợc ông bố trí cácchốt chiến đấu và các ổ phục kích địch

Tinh thần yêu nớc và hào khí của công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa do HàVăn Mao khởi xớng và lãnh đạo đã nhanh chóng ảnh hởng lan rộng, thu hút

Trang 40

sự tham gia của đồng bào các dân tộc Mờng, Thái, Kinh ở các huyện miềnnúi Thanh Hoá Họ đã đóng góp sức ngời, sức của, trí tuệ, cho việc xâydựng hệ thống đồn lũy chống giặc.

Ngay khi đặt chân tới Thanh Hóa, quân Pháp đã gặp phải sự tiến côngquyết liệt của nghĩa quân Hà Văn Mao

Cuối tháng 11 năm 1885, Hà Văn Mao chỉ huy nghĩa quân, xuất phát từcăn cứ Điền L tiến công quân Pháp ở đồn Bái Thợng làm cho quân địch ở đâyhoang mang lo sợ, buộc chúng phải lo đối phó và tăng cờng càn quét, ngăncản hoạt động của nghĩa quân Đây là trận đánh mở đầu phong trào đấu tranhanh dũng chống thực dân Pháp xâm lợc của đồng bào các dân tộc miền núiThanh Hóa, trong đó tiêu biểu là đồng bào Mờng Sau trận này, lực lợng nghĩaquân tiếp tục đẩy mạnh hoạt động ở Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ, Trận đánh đồn BáiThợng không chỉ thể hiện quyết tâm đánh Pháp của Hà Văn Mao và nghĩaquân mà còn là sự mở đầu cho hàng loạt các cuộc tiến công quyết liệt củanghĩa quân Thanh Hóa và đạo quân Pháp sau này

Quốc sử quán triều Nguyễn thừa nhận: chỉ ba tháng, sau Hịch Cần Vơnglần thứ nhất ông và đội nghĩa binh đã khiến quân triều đình phải lao đao đạibại.[4,166]

Đầu năm 1886, tại Điền L diễn ra cuộc hội ngộ đầy ý nghĩa giữa TônThất Thuyết - Trần Xuân Soạn - Hà Văn Mao - Cầm Bá Thớc Từ đây mở ra h-ớng hoạt động lớn cho cuộc khởi nghĩa Với chức Tán Lý ngời chỉ huy phongtrào chống Pháp ở miền tây Thanh Hóa, với tầm nhìn xa trông rộng và t duycủa một nhà quân sự, Hà Văn Mao không cô lập lực lợng và bó hẹp hoạt độngcủa mình ở vùng rừng núi, ông đã liên hệ với các cuộc nổi dậy cả đồng bằngcác dân tộc ở Hoà Bình và số ít ngời Hoa (mà sử cũ chép là ngời Thanh) liênkết với các đội nghĩa quân ở miền xuôi Tháng 2 năm 1886, nghĩa quân HàVăn Mao tràn xuống đồng bằng thành một cuộc chiến tranh lớn [4,167] Với

sự chủ động tích cực đó, Hà Văn Mao và lực lợng của ông đã giữ vị trí quantrọng trong phong trào Cần Vơng chống Pháp tại Thanh Hóa

Tháng 3 năm 1886, nghĩa quân Hà Văn Mao kéo quân về tỉnh lỵ phốihợp với lực lợng nghĩa quân Nông Cống (do Tôn Thất Hàm chỉ huy) và nghĩaquân Hùng Lĩnh (do Cao Điển chỉ huy) chặn đánh địch mở cuộc tấn côngthành Thanh Hóa Sau đó tổ chức chặn đánh các cuộc càn quét của toán quânPháp do Thiếu Tá Teriông (Terielon) nh trận An Luỹ (Yên Định) làng Si vàThạch Lẫm (Yên Định) gây cho địch nhiều thiệt hại.[4,167]

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vơng Anh - Hoàng Anh Nhân (1987) Truyện cổ Mờng, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Mờng
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
3. Ban nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hóa (2005) Văn hóa phi vật thÓ Thanh Hãa, Nxb Thanh Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phi vật thÓ Thanh Hãa
Nhà XB: Nxb Thanh Hãa
4. Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch Sử Thanh Hóa (2007) Danh nhân Thanh Hãa, tËp IV,Nxb Thanh Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Thanh Hãa
Nhà XB: Nxb Thanh Hãa
5. Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch Sử Thanh Hóa (2003), Thanh Hóa thời k× 1802 1930 – (Kỷ yếu hội thảo khoa học) Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hóa thời k× 1802 1930
Tác giả: Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch Sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2003
6. Ban chỉ đạo Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số Thanh Hóa (2009), Các dân tộc ở Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở Thanh Hóa
Tác giả: Ban chỉ đạo Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2009
7. Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa (2008), Lịch sử Thanh Hãa tËp 4, Nxb Thanh Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thanh Hãa tËp 4
Tác giả: Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hãa
Năm: 2008
8. Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa (2001), Tên Làng Xã tập 2, Nxb Thanh Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên Làng Xã tập 2
Tác giả: Ban nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hãa
Năm: 2001
10. BCH Đảng bộ huyện Bá Thớc, (1998) Lịch sử Đảng bộ huyện Bá thớc, tËp1 (1975 – 2003 ), Nxb Thanh Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Bá thớc
Nhà XB: Nxb Thanh Hãa
11. BCH Đảng bộ huyện Bá Thớc, (2004) Lịch sử Đảng bộ huyện Bá thớc, tËp2, Nxb Thanh Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Bá thớc
Nhà XB: Nxb Thanh Hãa
12. BCH Đảng bộ huyện Quan Hóa (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Quan Hóa (1945 -1996), Nxb Thanh Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Quan Hóa (
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Quan Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hãa
Năm: 2005
13. Ngô Hoài Chung (2007) Truyền thuyết dựng bản lập Mờng Thanh Hóa, Nxb Sở văn hóa thông tin Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết dựng bản lập Mờng Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Sở văn hóa thông tin Thanh Hóa
14.Cao Sơn Hải (2000), Văn hóa dân gian Mờng một góc nhìn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Mờng một góc nhìn
Tác giả: Cao Sơn Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
15. Minh Hiệu (1999) Tục ngữ dân ca mờng Thanh Hóa, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ dân ca mờng Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội
16. Cao Sơn Hải Tục ngữ Mờng Thanh Hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngữ Mờng Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
17. Lê Xuân Kì (2009) Hà Văn Mao và dòng họ Quan Lang Hà Công ở Bá Th- ớc, tạp chí Xa nay số 345 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xa nay
18. Lê Xuân Kỳ (2009) Quận Công Hà Công Thái, tạp chí Xa nay số 337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xa nay
19. Đinh Xuân Lâm, Đại cơng Lịch sử Việt Nam tập II, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng Lịch sử Việt Nam tập II
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Hoàng Anh Nhân, Mo lên trời, Nxb Văn hóa văn học Hà Nội (1970) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo lên trời
Nhà XB: Nxb Văn hóa văn học Hà Nội (1970)
23.Tỉnh Uỷ Hội Đồng Nhân Dân-UBND Tỉnh Thanh Hoá(2000) Địa chí Thanh Hóa II, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thanh Hóa II
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
24. UBND Huyện Bá Thớc (2003), Danh nhân Hà Văn Mao, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Hà Văn Mao
Tác giả: UBND Huyện Bá Thớc
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2003

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w