Nghiên cứu thơ ông, vìthế, ta có thể hiểu thêm được nhiều điều về nhân cách sáng tạo của một nghệ sĩ lớn, đồng thời hiểu thêm về cuộc vận động đổi mới thi pháp thơ trong lòngnhững cuộc v
Trang 1TRẦN ĐÌNH HƯNG
ĐÓNG GÓP NGHỆ THUẬT
CỦA THƠ VĂN CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60.22.32
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
Trang 2VINH - 2011
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn Cao (1923 - 1995) là một nghệ sĩ đa tài, ông vừa là nhạc sĩ,hoạ sĩ nổi tiếng Việt Nam thế kỉ XX, đồng thời còn là một nhà thơ đã để lạinhiều thi phẩm đặc sắc Tuy nhiên do nhiều lí do khác nhau, có những lúccống hiến nghệ thuật của Văn Cao, trong đó có cống hiến cho văn học, chothơ ca chưa được đánh giá thoả đáng
1.2 Thơ Văn Cao luôn thể hiện một nội tâm sâu sắc và đã khắc họađược sắc nét chân dung tinh thần của thời đại Song hành với nhiều nhà thơcùng thế hệ, Văn Cao đã góp phần tạo nên được một giai đoạn phát triển mớicủa thơ Việt Nam hiện đại sau Thơ mới 1932 - 1945 Nghiên cứu thơ ông, vìthế, ta có thể hiểu thêm được nhiều điều về nhân cách sáng tạo của một nghệ
sĩ lớn, đồng thời hiểu thêm về cuộc vận động đổi mới thi pháp thơ trong lòngnhững cuộc vận động cách mạng lớn lao cách nay hơn nửa thế kỷ đã làm thayđổi sâu sắc đời sống dân tộc
1.3 Đi vào tìm hiểu đóng góp nghệ thuật của thơ Văn Cao, ngườinghiên cứu sẽ có cơ hội khám phá ra những mối liên hệ khăng khít giữa cácloại hình nghệ thuật khác nhau và có điều kiện lý giải được cấu trúc bí ẩn củanhững sáng tác vốn là kết quả của một sự tích hợp tài năng đa dạng
2 Lịch sử vấn đề
Văn Cao là một hiện tượng đặc biệt trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật
ở Việt Nam Ông tiêu biểu cho mẫu hình người nghệ sỹ đa năng, đa tài và dồidào cảm quan sáng tạo Di sản nghệ thuật thuật của ông để lại khá phong phú
cả về nhạc, thơ và họa Ở lĩnh vực nào ông cũng dành được những thành tựuđáng kể, tạo nên những dấu ấn sâu sắc, làm nên một phong cách độc đáo.Chính vì thế mà hiện tượng Văn Cao đã thu hút sự chú ý mạnh mẽ của giới
Trang 4nghiên cứu phê bình, đặc biệt là sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, khikhông khí đổi mới và dân chủ đã tác động tích cực đến các hoạt động văn họcnghệ thuật, khi vị trí và danh dự của nhiều nhà văn, nhà thơ, trong đó có VănCao được khôi phục và khẳng định Nhiều công trình, bài viết của giới nghiêncứu cũng như bạn đọc về Văn Cao lần lượt ra đời Bức chân dung tinh thầncủa người nghệ sỹ lớn Văn Cao dần được định hình rõ nét.
Khởi đầu là những bài viết của nhạc sỹ, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thụy
Kha về Văn Cao in trên các báo, sau được tập hợp inh thành cuốn Văn Cao người đi dọc biển (1991) Trong cuốn sách này tác giả đã giới thiệu khá đầy
đủ cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật đầy gian nan nhưng rất đỗi tự hào củatác giả Quốc ca Việt Nam Mặc dù chưa có những nghiên cứu sâu về sáng tác
của Văn Cao, nhất là thơ song như tác giả đã tâm sự trong phần Lời bạt của
cuốn sách: “Ở tập văn xuôi “Văn Cao - người đi dọc biển” này tôi không ham
kê sự kiện mà thường muốn nhận ra những gì trăn trở đằng sau những sự kiện
kể cả lúc sáng tác cũng như lúc vấp vấp phải những sự đời nghiệt ngã” và tácgiả khẳng định “Ông vừa là cá nhân một nghệ sỹ lớn, vừa là biểu tượng chomột nghệ thuật chân chính” [22; 134]
Năm 1996 với công trình Văn Cao cuộc đời và tách phẩm (do Lữ Huy
Nguyên tuyển chọn) Với dung lượng gần 450 trang, tập sách khá bề thế này
đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết khá toàn diện về Văn Cao, từ cuộcđời đến tác phẩm, những sóng gió và vinh quang, những cay đắng và hàoquang Ngoài tinh tuyển những tác phẩm về nhạc, thơ và họa, cuốn sách còntập hợp những bài viết tâm huyết của các nhà nghiên cứu và các bạn bè vănnghệ sỹ của Văn Cao đã in trên các báo và ở những cuốn sách khác Mặc dùcác tác phẩm và những bài viết về Văn Cao trong cuốn sách tương đối phongphú, có nhiều đánh giá nhận định xác đáng : “Tâm hồn Văn Cao luôn nghiêng
về đau khổ Văn Cao cố tìm cách né tránh nó bằng sự thoát du của trí tuệ ,
Trang 5Văn Cao muốn tự giải thoát bằng sáng tác Ở Văn Cao, mỗi lời thơ là một hạtngọc,mỗi tiếng nhạc là một sợi tơ, mỗi màu sắc là một vùng hào quang diễm
lệ” [31; 186-187] Thanh Thảo trong bài viết Văn Cao thơ đã không tiếc lời
khẳng định về vị trí của Văn Cao “ trong một Văn Cao có quá nhiều VănCao: Văn Cao nhạc, Văn Cao họa, Văn Cao Hiệp sĩ, Văn Cao Quốc ca, VănCao rượu đế Một Văn Cao lặng lẽ như như chén rượu mỗi sớm, lặng lẽ nhưnhững dòng chữ lít nhít như trong sổ tay, lặng lẽ như thơ Văn Cao, thơ là cái
lặng lẽ của con hổ” [38; 255] Trong một bài viết với nhan đề Về một bản lĩnh thơ - lời giới thiệu cho Tuyển tập thơ Văn Cao - Nguyễn Thụy Kha cho rằng:
“Thơ Văn Cao còn bỏng cháy khát vọng của một tâm hồn biết yêu ghét rõràng Không ảo tưởng tuyên truyền cho mọt lí thuyết nhất thời nào, anh luônhướng tới sự hoàn chỉnh tình người ước mong tới một thế giới, ở đấy conngười chỉ còn yêu thương và vui sống Khát vọng ấy là khát vọng “nước ngọtcủa ngàn sông - bao giờ đổ đầy lòng biển” Tình yêu ấy bất chấp quyền uy,thế lực cản trở để vươn tới tính nhân bản của nó Bao giờ cũng trong sáng, cởi
mở và chân thành Thái độ của Văn Cao đem đến cho thơ anh những nội dung
và hình thức biểu hiện mới” [7; 7] Bài viết khá công phu và toàn diện, bướcđầu đã gợi mở nhiều vấn đề sâu sắc về thơ Văn Cao Từ đây, tài năng và nhâncách của người nghệ sĩ đa tài được người đọc nhận diện một cách đầy đủ hơn
trước Trên Tạp chí Thời văn đặc tuyển số 13 và 14, số ra tháng 8 năm 1996, nhân kỉ niệm một năm ngày mất của Văn Cao, với mục đề Văn Cao bất tử, số
báo đã trân trọng cho đăng những tác phẩm tiêu biểu về nhạc và thơ của VănCao cũng như những bài viết, những hồi ức của bạn bè, đồng nghiệp, các nhàbáo về cuộc đời và những cống hiến nghệ thuật của Văn Cao Các bài viết đãkhẳng định tài năng của Văn Cao trên các phương diện cầm, kì, thi, họa Ấnphẩm như một nén tâm nhang kỉ niệm giỗ đầu của người nghệ sĩ tài danh
Trang 6Từ một bài thơ Cánh cửa của Văn Cao sáng tác 1960, tác giả Hoàng Long qua bài viết Văn Cao và chân trời thi ca mộng tưởng (2005) đã rút ra
những đặc điểm mang tính ám gợi mạnh mẽ của thơ Văn Cao là chiều sâutriết lí và tính siêu thực : “Đọc "Cánh cửa" bao nhiêu lần, vẫn thấy bài thơ rờnrợn Bởi người cảm nhận chưa thể quen được với bài thơ Đây là cảm thức màchính Văn Cao đã trải qua, rất thực, thực đến ghê rợn Một cảm thức rấtKafka Bài thơ còn hay ở cách đặt vấn đề rất Văn Cao Rất triết lý Không dễdàng “thấm” được giọng thơ u ám băng hàn này Martin Heidegger cho rằng
“thi nhân và triết gia là người canh giữ ngôi nhà của tính thể” Vậy thi nhâncần phải nhìn đời và tra vấn theo kiểu triết gia để nảy sinh thi ca tư tưởng”(dẫn theo [26] )
Năm 2007, Nhà xuất bản Thanh niên đã ấn hành cuốn Nhạc sĩ Văn Cao tài năng và nhân cách của tác giả Bích Thuận, nội dung cuốn sách đã theo sát
chuyện bếp núc sáng tạo và cuộc hành trình đến với cách mạng và nghệ thuậtcủa người con đất cảng Từ những kỉ niệm buồn vui, những thăng trầm khổ ảitrong đời sống và nghệ thuật, sự tỏa sáng của tài năng và nhân cách của mộtngười nghệ sĩ lớn được tái hiện thông qua những câu chuyện kể đầy xúc động.Cuốn sách đã cung cấp những tư liệu quý, có giá trị cho việc nghiên cứu về disản nghệ thuật của Văn Cao nói chung, thơ của ông nói riêng Trần Hoài Anh
với bài viết Tâm thức “trôi” trong thơ Văn Cao đã đi sâu vào thế giới nghệ
thuật của thơ Văn Cao và phát hiện ra nhiều điều thú vị Tác giả đã nhìn thấy
ở thơ Văn Cao một dòng chảy đặc biệt “Đó là tư tưởng của một nghệ sỹ luônphóng chiếu sự sáng tạo của mình trên đôi cánh của chủ nghĩa siêu thực vàhiện thực” [2] Như vậy, có thể thấy, dù xuất phát điểm và cách tiếp cận cókhác nhau, nhưng gián tiếp hay trực tiếp, khái quát hay phân tích chi tiết, cáccông trình nghiên cứu về sáng tác nghệ thuật của Văn Cao nói chung, thơ củaông nói riêng đã bước đầu định hình được khá rõ nét chân dung người nghệ sỹ
Trang 7đa tài Trong đó thơ ca là một bộ phận độc đáo góp phần làm nên di sản nghệthuật đa dạng của Văn Cao Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có những chuyênluận khảo cứu mang tính hệ thống ghi nhận những đóng góp nghệ thuật độcđáo của thơ Văn Cao Các bài viết chỉ mới đề cập những vấn đề đại thể hoặcnhững biểu hiện mang tính cá biệt riêng lẻ Do đó việc nghiên cứu về thơ VănCao cần phải được tiếp tục với cấp độ hệ thống và chuyên sâu hơn.
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những đóng góp nghệ thuật của thơ Văn Cao cho nền thơ Việt Namhiện đại
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát chính là các tập thơ đã xuất bản của Văn Cao:
- Văn Cao (1988), Lá, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam.
- Văn Cao (1994), Tuyển tập thơ Văn Cao, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Văn Cao (2005), Thơ, Nxb Đồng Nai.
Ngoài ra, để có cơ sở so sánh, chúng tôi cũng khảo sát cả thơ của nhiềunhà thơ cùng thế hệ với Văn Cao đã có những đóng góp có ý nghĩa cho việccách tân nền thơ Việt Nam sau 1945 như Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, LêĐạt, Hoàng Cầm…
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tìm hiểu sự tham gia tích cực của Văn Cao vào cuộc vận động đổimới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam sau 1945
4.2 Phân tích những đóng góp của thơ Văn Cao cho nền thơ Việt Namhiện đại trên những suy nghiệm riêng về đời sống và nghệ thuật
4.3 Làm sáng tỏ tính độc đáo có ý nghĩa đóng góp của hệ thống thipháp thơ Văn Cao
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng phối hợp nhiều phươngpháp, chủ yếu là: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp loại hình,phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…
6 Đóng góp của luận văn
Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên tìm hiểu những đóng góp nghệ thuậtđộc đáo của thơ Văn Cao cho nền thơ dân tộc, từ đó làm sáng tỏ thêm tầm vóccủa người nghệ sĩ đa tài Văn Cao
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1 Sự tham gia của Văn Cao vào cuộc vận động đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam sau 1945.
Chương 2 Đóng góp của thơ Văn Cao trên những suy nghiệm về đời sống và nghệ thuật.
Chương 3 Những nét độc đáo trên phương diện thi pháp của thơ Văn Cao.
Trang 9Chương 1
SỰ THAM GIA CỦA VĂN CAO VÀO CUỘC VẬN ĐỘNG
ĐỔI MỚI THI PHÁP THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM SAU 1945
1.1 Diện mạo mới về thi pháp của thơ Việt Nam những năm đầu sau cách mạng
1.1.1 Quan niệm thơ của nhóm Dạ đài và những tuyên ngôn tượng trưng chủ nghĩa
Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 là bước phát triển mới của thơ Việtbằng sự xuất hiện cái tôi cá nhân cá thể (individu) thay cho các dạng thái củacái tôi cá nhân của thơ trung đại Cơ sở xã hội, cơ sở tư tưởng và cơ sở nghệthuật của Thơ mới giai đoạn 1932- 1945 đã gặp nhau và cộng hưởng một cáchnhịp nhàng, hợp quy luật đã làm bùng nổ ngôn từ đủ chứa đựng cảm xúc vàtâm trạng trữ tình điển hình của các thi sĩ tài năng cả phong trào, làm thành
“một thời đại thi ca” lộng lẫy, âm vang và giàu hương sắc Nó mở ra thời kỳhiện đại trong thơ Việt cho đến ngày nay Thế giới nghệ thuật Thơ mới tíchhợp được những yếu tố cần thiết để đủ thực hiện bước nhảy vọt về chất Đó là
sự tích hợp, tiếp biến giữa Đông và Tây, giữa những tương hợp bên trong vàbên ngoài, giữa cổ điển và hiện đại, giữa hình thức thơ Việt, thơ Trung Hoa
và thơ Pháp - trên cơ sở văn hoá và bối cảnh lịch sử - thi ca Việt
Và như một qui luật, khi các khuynh hướng phát triển đến trình độ caocủa nghệ thuật thì sẽ dẫn đến sự hình thành các trào lưu, trường phái mới Vàđến lượt mình, các trào lưu, trường phái ấy cũng phải thực hiện bước nhảy vọtmới khi lượng biến thành chất, khi nó đạt đến thành tựu đỉnh cao và khi xuấthiện đối tượng thẩm mỹ mới Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 là điển hìnhcho qui luật này Sự xuất hiện của các nhóm thơ, trường thơ như Trường thơ
Trang 10Loạn, Xuân Thu nhã tập là biểu hiện hiển minh cho sự tìm tòi, đổi mới nghệthuật của các nhà thơ tiên phong, khát khao thể nghiệm và cách tân thi ca Ởđây, xin minh chứng cho nhận định trên bằng việc tìm hiểu quan niệm thơ của
nhóm Dạ đài (Chúng tôi xem Dạ đài như là hướng tìm tòi nối tiếp cuối cùng
của phong trào Thơ mới vì nó được các thi sĩ của nhóm chấp bút trước 1945
và có một số sáng tác thể nghiệm được in trong thời gian này, dù bản tuyênngôn tượng trưng được in năm 1945 - 1946)
Với tinh thần tiên phong và ước vọng cao đẹp về sự đổi mới thi ca Việt,
Dạ đài đã đưa ra những quan niệm thơ mới lạ và giàu ý nghĩa Nhưng do
nhiều lý do, hoàn cảnh nên lâu nay hiện tượng văn chương này chưa đượcnghiên cứu một cách khách quan, khoa học Nó không được xếp vị trí chính
thức trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX Nghiên cứu Dạ đài, chúng
tôi muốn đặt nó trong dòng chảy liên tục của hành trình thơ Việt thế kỷ XX
để thấy công lao và tinh thần duy tân của nhóm Dạ đài mà khởi điểm của nó
là Bản tuyên ngôn tượng trưng với những quan niệm thơ tân kỳ, độc đáo được
tiếp biến từ lý luận văn học phương Tây, khi phong trào Thơ mới đi hết hànhtrình lãng mạn u buồn của nó
Dạ đài gồm có Đinh Hùng, Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Nguyễn Văn Tậu Dạ đài ra được số 1 (16 11 1946) Tất cả đều nhận mình là
thi sĩ theo trường phái tượng trưng, nhưng họ đã có ý thức vượt lên trên quanniệm sẵn có để làm một cuộc tiếp biến, đưa nhóm mình theo một hướng riêng,trước nhất, là ở cấp độ lý thuyết Còn thực tiễn sáng tạo thì chưa có điều kiện
để thể nghiệm Vì cả nước, lúc bấy giờ, hướng về nhiệm vụ trọng đại là khángchiến, giành độc lập, dân tộc Một ước nguyện không thành Đó là lý do chính
để Dạ đài không đạt được mục tiêu như mơ ước.
Vậy Tuyên ngôn tượng trưng của Dạ đài đặt ra những quan niệm gì với
tinh thần tiên phong? Với ước nguyện cháy bỏng muốn làm đổi thay cả thời
Trang 11cuộc, trả lại cho thi ca những giá trị đích thực của nó, Dạ đài đã đề ra những
quan niệm năng động và tân kỳ, dù thoạt nhìn, chúng có vẻ như xa vời Họmuốn thâu tóm tất cả tinh hoa của thi ca nhân loại về một mối, rồi nhào nặnlại để tạo thành những giá trị mới ưu tú nhất: “Cho nên buổi chúng tôi xuấthiện, chúng tôi để cho tàn suy nghĩ giấc mơ của những người thuở trước” (Từ
đây, những câu để trong ngoặc kép đều trích từ Tuyên ngôn tượng trưng của
Dạ đài) Họ bỏ qua lãng mạn vì nó đã chứng tỏ sự cạn kiệt, bất lực của thi
nhân: “Làm sao người ta cứ khóc mãi, than mãi, rung động mãi theo conđường rung động cũ? Làm sao người ta cứ nhìn mãi vũ trụ ở ba chiều, và thuhẹp tâm tư ở bảy giây tình cảm! Chúng ta còn có nghèo nàn thế nữa đâu?”
Và một ước nguyện thay đổi hình thành: “Chúng tôi có nói cũng chỉ là nói cáitâm trạng của thời nhân,của những thời nhân đã có ngày cô độc” Quan niệm
về thơ của nhóm Dạ đài thấm đẫm tính chất của chủ nghĩa tượng trưng Họ
muốn dứt bỏ những ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, vì nó đã đi tận mútcủa con đường cùng Họ khác với tiền nhân: “chúng tôi không còn khóc” vìngười ta đã khóc mãi ái tình, công danh và thế sự”, “không còn rung động vớitrần tâm”, bởi đó là “con dường tuyệt vọng” Họ muốn nối lại: - Nghiệp dĩcủa một Baudelaire , - Tâm sự của một Nguyễn Du, - Sự nổi loạn và Ra đi củamôt Rimbaud, - Nỗi cô đơn của những nhà thơ lãng mạn”
Thực ra, đó là cách nói hình tượng Cái chủ đích mà Dạ đài hướng đến
là trả thơ ca về với nguồn gốc xa xưa, muốn tái hiện lại những hình tượng cổmẫu (mẫu gốc - archétype) Họ chịu ảnh hưởng của K.G Jung ở thuyết Phântâm khi nhà tâm lý học này muốn đi tìm ngọn nguồn cơ chế của sáng tạo ở vôthức tập thể, ở những mẫu gốc - tức những dấu vết ký ức của quá khứ nhânloại, những kinh nghiệm, văn hoá truyền thống được lưu lại ở cõi vô thức bêntrong của con người “Chúng tôi cố vén cao bức màn nhân ảnh, viêt lên: “quỹđạo của trăng sao” đường về trên cõi chết Chúng tôi đã sống, lấn cả sang bờ
Trang 12bến u huyền, cho nên buổi chúng tôi quay về thế tục, chúng tôi nhìn hoa lávới những cặp mắt mờ hoen Nhỡn tiền bỗng thấy đổi thay những hình sôngvóc núi Chúng tôi lạ: lạ từng đám mây bay, từng bóng người qua lại - Chúngtôi lạ từ sắc nắng bình minh đến màu chiều vàng vọt Chúng tôi lạ, lạ tất cả”.
Họ quan niệm thi sĩ phải là người hội đủ các thế giới của thực và mộng,hồn và xác: “Chúng tôi muốn những cảm giác thâm u mà chúng ta mới chỉ cónhững thi sĩ của lòng Đã đến lúc chúng ta đợi những thi sĩ của linh hồn,
những thi sĩ của cái tâm thầm kín” Dạ đài “cố đánh thức cái thế giới im lìm
đương nằm ngủ ở trong lòng nhân loại” Họ thiết tha muốn thực hiện mộtcuộc trở về cái nguyên uỷ của cội lòng khi đất trời khai lập: “Người ta đã tìmmãi Đạo lý ở đường lên: ghìm giữ bản năng kham khổ - Nhục hình Chúng ta
sẽ tìm Đạo lý ở con đường xuống: thả lỏng thiên năng đam mê và khoái lạc”
Vậy Dạ đài muốn đưa thơ trở về với cội nguồn của con người, bởi thơ ca
đương thời là quá gò ép Phải đưa thơ về với “vô thức tập thể” để làm sống lại
những gì đã mất Dù vậy, sự ảnh hưởng của K.G Jung ở Dạ đài là không lớn lắm Quan niệm chủ yếu của Dạ đài vẫn là tượng trưng, nhưng có sự tiếp biến
cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Sự nông cạn với những “cảm giác đơnnghèo”, “nỗi lòng nhạt nhẽo”, “cái tôi nông cạn” là sản phẩm cũ xưa của thi
ca lãng mạn đương thời Dạ đài muốn thi ca phải “trở về cái bản năng mà thế
tình che đậy Hãy mơ những giấc mơ cầm thú Hãy gợi lên những cõi sống
âm thầm Hãy đánh thức hư không, nghĩa là cả tấm lòng xưa man rợ” Thi catrước mắt và tương lai phải giàu sức ẩn chứa, phải huyền diệu Đằng sau mớngôn từ bình thường đó phải tiềm ẩn, hàm chứa cả muôn nghìn thế giới lunglinh khác được gợi lên ở ngôn từ hình tượng: “Thơ cũng phải âm u như cảnhgiới của cái tôi thầm lặng” Thơ phải cấu tạo bằng tính chất của vô biên Saucái thế giới hiện trên hàng chữ, phải ẩn náu muôn nghìn thế giới, cả thế giớiđương thành và đương huỷ” Đó chính là một cách phát ngôn từ tuyên ngôn
Trang 13của chủ nghĩa tượng trưng, vì chủ nghĩa tượng trưng vốn xem thế giới là
“không rõ ràng” Nghệ sĩ tượng trưng không phải chỉ cảm thấy thế giới bênngoài mà còn nhận biết thế giới bên trong, không chỉ nắm bắt cái huyền diệu
mà còn phải nghe thấy, cảm thấy cái vô hình, cái bí ẩn, mơ hồ nằm trong mộtmàn sương dày đặc để tìm ra mối dây liên hệ giữa thế giới vô thức và hữuthức Nghệ sĩ phải có cái nhìn “thấu thị” xuyên suốt các sự vật để qua đó,hướng đến chân lý nghệ thuật Cho nên thi ca phải thâm u và huyền diệu để
làm sáng lên muôn nghìn thế giới Dạ đài không tìm cảm hứng nghệ thuật ở
chốn tiên cảnh, bồng lai trên chín tầng mây như các thi sĩ lãng mạn Với họ,
“thi cảm phải gây trong thực tại”, nhưng cũng phải có khả năng dự báo về cái
sẽ có, phải có: “Một bài thơ phải chứa đựng những cái gì đã có, nhưng phảimang ở trạng thái tiềm tàng, những cái gì có thể có và cả những cái gì không
có nữa”, “phải xáo trộn cả thực hư”, “thấm trộn cùng nhau trong một cuộcgiao hoà bí mật”, “tất cả những phong cảnh trần gian sẽ phải hư lên vì sựthực” thông qua hình tượng thơ đa dạng, giàu biến ảo
Với quan niệm thơ âm u, huyền diệu, giàu ý nghĩa, các nghệ sĩ tượng
trưng của Dạ đài xem thơ là một chỉnh thể thống nhất đặc biệt giữa hình thức
và nội dung Ở đây, hình thức không đơn thuần là hình thức chứa nội dung,bởi vì thơ là hình tượng - âm nhạc - ý tình Thơ phải được tự do lựa chọn hìnhthức biểu hiện và nội dung được phản ánh Nếu thơ không chịu sự ràng buộccủa ngôn từ thì nội dung cũng không chịu sự gò bó của đề tài, chủ đề Vì “thi
đề của chúng tôi có cả vũ trụ muôn chiều, thi liệu của chúng tôi là tất cả mớngôn từ rộng rãi” Điều này giúp nhà thơ phát huy khả năng tự do sáng tạo,miễn sao hình tượng thơ mang lại hiệu cảm thẩm mỹ trong tiếp nhận củangười đọc
Dạ đài vốn tâm huyết và xuất phát từ thuyết “tương ứng giữa các giác
quan” nên rất đề cao tính nhạc trong thơ nhờ các hình tượng “tạo tác được
Trang 14những âm thanh huyền diệu nữa” Âm nhạc của họ cũng được quan niệm rất lạ
và có tính phát hiện mới Nó “không phải chỉ kết hợp hoàn toàn bởi những cúđiệu số học, những luật lệ trắc bằng”, “âm nhạc của một bài thơ phần lớn là do
ở sức rung động tâm lý bài thơ ấy” Và nữa, “nói đến âm nhạc trong thơ làphải nói đến sức gợi khêu của chữ” Tất cả đều xuất phát từ hình tượng Hìnhtượng có thể làm nên những điều tuyệt vời nhất, có quyền năng vô biên Chủnghĩa tượng trưng xem trực giác, âm nhạc, trữ tình là ba yếu tố then chốt, chonên, tính nhạc trong thơ phải được coi trọng thường trực “Hình tượng mangnặng những tình ý nên âm nhạc gây nên cũng mang đầy âm sắc Câu thơ đọcxong sẽ còn đi đi mãi trong từng ngõ vắng linh hồn và sẽ tắt nghỉ ở tận đáysâu tiềm thức” Thi ca phải thông qua hình tượng, khi ấy thi sĩ tượng trưng sẽtạo ra sự hàm súc, giàu ý nghĩa với tính nhạc cao Đó phải là “thứ ngôn ngữtân kỳ, ngôn ngữ của những thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà
cũng là của cái thế giới âu sầu đây nữa” Dạ đài chú ý sử dụng ngôn từ mang
tính tương hợp cao, thể hiện mối quan hệ giữa con người và sự vật, khai thácgiấc mơ vô thức - là sự phiêu lưu của ngôn từ đạt những nhịp thơ siêu tựnhiên, những im lặng âm vang
Dạ đài cũng đề xuất quan niệm tiếp nhận thi ca rất trừu tượng Thơ
không được tiếp nhận bằng lý trí mà bằng trực giác, thông qua hình tượng.Hình tượng tạo nên âm nhạc, âm nhạc tạo tình ý; lúc đó mới hiểu được thơ.Dựa trên thuyết “sự tượng ứng giữa các giác quan” của chủ nghĩa tượng
trưng, Dạ đài cho rằng tiếp nhận một bài thơ siêu thực không được dùng một
quan năng tách bạch để cảm thụ, không chỉ là ý tứ hay tình cảm mà phải là sựtổng hợp tất cả các giác quan Sự tương hợp giữa các giác quan, sự cộnghưởng các màu sắc, âm thanh, hương thơm và ý nghĩa giúp con người lĩnh hộiđược chiều sâu tư tưởng và giá trị của thi ca
Trang 15Một điểm mà Dạ đài gặp quan niệm về thơ của Xuân thu nhã tập và Trường thơ Loạn ở Quy Nhơn, đó là họ luôn để thơ “đi giữa bến bờ U Huyền
và Hiện Thực, chúng tôi sẽ nói thay cho tiếng nói những loài ma Chúng tôi sẽkhóc lên cho những nỗi oán hờn chưa giải Chúng tôi sẽ bắt hiện lên nhữngđường lối U Minh Chúng tôi sẽ kể lại những cuộc viễn du trong những thếgiới âm thầm sự vật” Họ đón nhận và hiện hữu trong thơ “tất cả những thếgiới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải
mờ đi và một bài thơ phải vô cùng linh động”
Với xuất phát điểm đó, Dạ đài đã khái quát quan niệm, mục tiêu của
tuyên ngôn tượng trưng như là những cuộc phiêu du vào thế giới với hànhtrình xáo trộn miên viễn: “Hãy đưa chúng ta đi Đưa chúng ta ngược về dĩvãng, qua bờ tương lai, đưa chúng ta đi cho hết cõi dương trần, đi cho hếtnhững trời xa đất lạ Để chúng ta sống muôn ngàn cõi sống Để chúng ta cóhàng triệu năm già và vô vàn ký ức: Ký ức của những dân tộc đã tàn vong, ký
ức của những cõi đời xa thẳm, ký ức của những thế kỷ đã lùi xa Để cho muônngàn ký ức chất chồng lên ký ức chúng ta, cái ký ức bi thương, cái ký ức đơnnghèo đã lượm thâu bằng những giác quan trần tục”
Sự tiếp xúc văn hoá Đông - Tây đã tạo ra “một thời đại trong thi ca”lộng lẫy, âm vang Những nhà Thơ mới tài năng 1932-1945 đã làm một cuộchội ngộ ngoạn mục để tích hợp thành những thế giới nghệ thuật thơ lung linh,huyền diệu Thơ mới, sau đó, đã nhanh chóng đi qua sự ảnh hưởng của chủnghĩa lãng mạn để tìm đến, tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng,siêu thực của Phương Tây Nếu giai đoạn đầu của Thơ mới, ta bắt gặp nhữnghồn thơ rộng mở, những vần thơ dễ hiểu thì càng về giai đoạn cuối, tính trongsáng của Thơ mới càng nhạt dần, nhường chỗ cho tính tượng trưng, hàm súc,
bí ẩn xuất hiện Chủ nghĩa lãng mạn giờ đây không còn đủ sức làm thoả mãncác nhà thơ có tinh thần đổi mới Họ găp chủ nghĩa tượng trưng và hình thành
Trang 16một tư duy thơ theo lối khác Không chỉ thiên về cảm xúc nội tại, ước vọngtìm cái đẹp trong hình tượng, chủ nghĩa tượng trưng còn đưa ra lý thuyết về
sự tương ứng của các giác quan, sự cộng hưởng giữa hương thơm, màu sắc và
âm thanh Khi Thơ mới ở vào buổi hoàng hôn của nó, Dạ đài đã thực sự tìm
thấy chỗ dựa thi ca ở chủ nghĩa tượng trưng để làm cuộc hành trình cuối cùng
trong kiếm tìm nghệ thuật của phong trào Thơ mới Dạ đài muốn thơ mang
trong mình những giá trị lớn lao, nhưng lại hàm súc và ảo ẩn Đó chính là sựtượng trưng Họ khát khao đi tìm cái đẹp, nhưng lại ngụp lặn trong thế giới vôcùng và chìm sâu vào cõi hư vô, huyền bí Đến đây, cần phải xem xét một
quan niệm mới nữa của Dạ đài Đó là quan niệm: thơ không cần lý luận Phải
tìm cảm giác trước khi tìm nghĩa: “Thơ không còn lý luận, và cũng không cònphải tự dinh dưỡng bằng những thi đề rõ rệt” Họ đề cao im lặng Vì trong
những phút giây im lặng, có tất cả Dạ đài không cần thi đề vì với họ, thi đề là
tất cả “một vũ trụ muôn chiều, và thi liệu của chúng tôi, là tất cả mớ ngôn từrộng rãi” “Chúng ta muốn xâu vào ngoại vật, nội tâm và muốn đi xa thiênđường, địa ngục”, khi đó, thơ có sức “khêu gợi vô cùng” Họ cho rằng thơkhông nói thẳng, gọi tên đối tượng Họ chỉ dẫn ra những cái biểu đạt tượngtrưng, còn ý nghĩa cái biểu đạt - giá trị của sự biểu trưng, họ giành cho độcgiả - thi nhân - những người bằng kinh nghiệm sống, vốn ký ức, tâm hồn nhạy
cảm, tư duy năng động sẽ khám phá ra Dạ đài muốn thơ phải “thâm u như
cảnh giới của cái tôi thầm lặng Thơ phải cấu tạo bằng tinh chất vô biên saucái thế giới hiện lên trên hàng chữ, phải ẩn náu muôn nghìn thế giới đương
thành và đương huỷ” Cái nghệ sĩ tượng trưng Dạ đài đã hiện thực hoá quan
điểm đó vào thơ của mình Trong thơ của họ, ít nhất có một hình ảnh tượng
trưng, có khi có cả siêu thực Dạ đài ảnh hưởng nặng thơ tượng trưng Phương
Tây Họ ảnh hưởng sâu sắc quan niệm của Mallarmé: “Không nắm bắt vàtrình bày ra hết, mà chỉ gợi bằng những, hình ảnh có tính chất ám thị Gọi
Trang 17tên đối tượng có nghĩa là phá huỷ ba phần tư sự hưởng thụ bài thơ Khêu gợi
đó là ước mơ và mục đích”
Dù vậy, Dạ đài không phải thuần tuý tượng trưng mà còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực và một ít phân tâm học của K.G Jung Dạ đài
đề cao trực giác, vô thức và tiềm thức của con người trong sáng tạo cũng như
trong cảm thụ thi ca Dạ đài đề cao cảm nhận thơ bằng trực giác “cảm thấu
những bài thơ siêu thực không dùng tình cảm hãy đem tất cả linh hồn, mởtất cả các ngách của tâm tư mà lý hội - trận gió se lên tức khắc và ngạcnhiên” Chủ nghĩa siêu thực vốn cũng xuất phát từ ảnh hưởng Phân tâm họccủa Freud và chủ nghĩa trực giác phi lý tính của Bergson nên nó “hướng vềthế giới vô thức của con người mà họ cho là lĩnh vực vô tận đối với sự khámphá và sáng tạo nghệ thuật của con người Họ vứt bỏ những phân tích logic,đập tan gông cùm của lý trí, chỉ tin cậy ở trực giác, giấc mơ, ảo giác ở nhữnglinh cảm bản năng và tiên tri” [20; 90] Từ đây, ta thấy giữa chủ nghĩa tượngtrưng và chủ nghĩa siêu thực có điểm gặp gỡ, đó là khi cả hai cùng phủ nhận
lý tính và đề cao cảm tính trong tư duy nghệ thuật Dạ đài không chỉ chịu ảnhhưởng của chủ nghĩa siêu thực trong quan niệm và trong sáng tác Tính chấtsiêu thực luôn đi kèm với tượng trưng, chúng hoà quyện vào nhau, làm cho
thơ của Dạ đài càng huyền bí, siêu thoát, khó giải mã ngay tức thì Đó là sự
tiếp biến lý luận và thơ ca phương Tây một cách chủ động, sáng tạo Từnhững thực tế trên, đã tạo ra cái tôi trữ tình dị biệt với hệ thống ngôn từ, thể
loại, hình ảnh thơ vô cùng mới lạ mà tuyên ngôn tượng trưng của nhóm Dạ đài đã đề xuất
Là nhóm thơ tiên phong và tâm huyết trong đổi mới, làm sống lại cả
“một thời đại trong thi ca”, các thi sĩ Dạ đài đã dâng hiến cho đời những quan
niệm thi ca rất mới lạ, cao siêu, có nhiều ý nghĩa tích cực Họ ước mơ thơ caViệt đạt đến trình độ, giá trị vĩnh hằng, dù trong tuyên ngôn không tránh khỏi
Trang 18có nhiều yếu tố siêu hình và duy tâm Đó là tâm nguyện đáng trân trọng.Nhưng từ lý thuyết đến thực tiễn sáng tạo bao giờ cũng có một khoảng cáchgiới hạn và cảnh báo cho sự bất cập trong sáng tạo Hơn nữa, thời gian này,
thi sĩ Dạ đài chưa có điều kiện để thể nghiệm thì cách mạng tháng Tám diễn
ra và sau đó toàn dân tộc phải kháng chiến, kiến quốc Họ không có “thiênthời” hậu thuẫn để sáng tạo Lúc này, Thơ mới hạ cánh và kết thúc sứ mệnhthi ca của mình Cho nên dù quan niệm có đúng thì cũng không phải ngày mộtngày hai mà biến khát vọng thành hiện thực Nó chỉ dừng lại ở lý thuyết, cònsáng tác thì chỉ là khúc dạo đầu, không đủ sức tạo ra cái vệt sáng chói loà như
Trường thơ Loạn Dù vậy, những quan niệm về thơ của Dạ đài vẫn chứng tỏ
tính tiên tiến và đổi mới của nó trong hành trình nghệ thuật của dân tộc Mặc dù mới dừng lại ở phương diện lí thuyết, chưa có điều kiện để thể
nghiệm nhiều nhưng Dạ đài đã tạo được một dấu ấn đáng kể trong lịch sử thi
ca dân tộc thế kỉ XX, nó tiên phong và cổ súy cho tư tưởng cách tân thơ ViệtNam giai đoạn hậu kì Thơ mới
1.1.2 Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi
“Một thời đại mới của nghệ thuật thường bao giờ cũng tạo ra một hìnhthức mới Thơ của một thời mới trong những bước đầu ít khi chịu những hìnhthức đều đặn, cố định Nó chạy tung về những chân trời mở rộng để tìm kiếm,
thử sức mới của nó” [40] Những dòng trên được trích trong bài Mấy ý nghĩ về thơ – tiểu luận thể hiện quan niệm của Nguyễn Đình Thi về thơ ca đồng thời nói
lên khát vọng cách tân mãnh liệt của ông nhằm tìm một lối đi mới cho thơ ViệtNam Khát vọng cách tân ấy gặp gỡ tài năng và tâm hồn Nguyển Đình Thi đãthăng hoa thành một hiện tượng thơ độc đáo: thơ tự do không vần…
Khái niệm thơ tự do không vần xuất hiện rất sớm và ngay từ đầu thế kỉ
XX, nó đã phát triển mạnh mẽ và chiếm lĩnh thi đàn phương Tây Ở Việt Nam
Trang 19ta, vần gắn chặt với thơ như hình với bóng Bởi lẽ nguồn sữa nuôi dưỡng thơ
là ca dao, mà ca dao thì không thể thiếu vần bởi đặc trưng dễ nhớ, dễ thuộc và
dễ ngâm Tiếp nhận thơ Đường luật Trung Hoa, vần lại là một yếu tố đượcquy định chặt chẽ Phong trào thơ mới dù làm nên “một cuộc cách mạngtrong thi ca” nhưng vẫn chưa một lần từ bỏ vần Mãi đến khi Cách MạngTháng Tám chấm dứt phong trào Thơ mới, tạo điều kiện cho một cuộc cáchtân thơ ca thì kiểu thơ không vần mới dần định hình và đạt được những thành
tựu bước đầu với các bài: Nhớ máu, Tình sông núi của Trần Mai Ninh; Đèo
Cả của Hữu Loan; Ngoại ô mùa đông năm 46 của Văn Cao… Tuy nhiên,
người có đóng góp xuất sắc nhất trong nỗ lực tìm một tiếng nói mới cho thơ là
Nguyễn Đình Thi với những bài thơ như Đường núi, Không nói, Sáng mát trong như sáng năm xưa… Trong vườn thơ những năm đầu kháng chiến
chống Pháp, thơ Nguyễn Đình Thi tựa một loài hoa lạ, có vẻ hoang dã nhưngthoang thoảng hương thơm làm say đắm lòng người Cũng vì lạ mà thơNguyễn Đình Thi đương thời không được chấp nhận Trong hội nghị tranhluận về văn nghệ năm 1949, thơ ông bị phê phán gay gắt “như một bài học
phản diện cho thơ kháng chiến” Cách nhìn nhận này làm cho thơ không vần
của Nguyễn Đình Thi không có điều kiện tiếp tục phát triển Song những giátrị của nó (cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật) là không thể phủ nhận Ởđây xin đề cập đến một số vấn đề về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi vớimong muốn có một cái nhìn bao quát về một hiện tượng văn học độc đáotrong văn học Việt Nam hiện đại
Trong tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi cho rằng “Cái kì
diệu của tiếng nói trong thơ, có lẽ chăng ta tìm nó trong nhịp điệu, trong nhạccủa thơ Nhịp điệu của thơ không những là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lênbổng xuống trầm như tiếng đàn êm tai… Nhạc của thơ không giới hạn ở thứ
Trang 20nhạc ngoài tai ấy Thơ có một thứ nhạc nữa, một thứ nhịp điệu bên trong, mộtthứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn” [40] Theo đó
có thể thấy Nguyễn Đình Thi rất coi trọng nhịp điệu trong thơ Cũng dễ hiểu,
“Nhịp điệu xưa nay vẫn là xương sống của thơ” [41] Nhưng nếu như những
nhà thơ khác quan niệm nhịp điệu, tính nhạc trong thơ gắn liền với vần thơ
“Thơ phải có vần, không có vần không thành thơ” ( Ý của Ngô tất Tố phátbiểu trong hội nghị tranh luân về văn nghệ năm 1949) thì Nguyễn Đình Thilại không chú trọng vần Ông nỗ lực giải phóng thơ khỏi khuôn vần, khỏi cáinhịp điệu đều đều thường thấy để đi tìm nhịp điệu bên trong, nhịp điệu củatâm hồn Thơ là tiếng lòng của nhà thơ trước hiện thực, “Nó tóe lên ở nơi giaonhau giữa tâm hồn và ngoại vật” [40] Có lúc nó êm ả như tiếng đàn rơi trêntay người thiếu nữ, có lúc nó khúc khuỷu như con đường núi nhỏ hẹp đầy đất
đá, có lúc nó dữ dội như dòng thác gào rú giữa rừng đại ngàn Thơ có muônhình vạn trạng, nhịp thơ nhiều tầng nhiều bậc nên không thể giới hạn nó trongvần điệu Nhịp thơ ấy chỉ có thể là nhịp của tâm hồn Tức là tâm hồn rungđộng như thế nào thì nhịp thơ sẽ hiện lên như thế ấy Thấy được điều này nênthơ Nguyễn Đình Thi dù không có vần, yếu tố âm nhạc vẫn tràn trề :
- Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em
Trang 21Thơ không vần là địa hạt mà ở đó ngòi bút Nguyễn Đình Thi phóngtúng và tự do nhất Nó tựa một bản đàn nhiều cung bậc, lúc suy tư hoài niệm,lúc uất nghẹn căm hờn:
lúc phơi phới tự hào:
Ngàn sao phơi phới đang bay
cần đến vần điệu, đến sự đều đặn, cân đối” [41] Nguyễn Đình Thi không sử
dụng những lời lẽ cao siêu, trau chuốt mà sử dụng những từ ngữ thuần Việt,mộc mạc, tự nhiên Thậm chí sử dụng nhiều những thán từ, những lời gọi, lờihỏi có tính chất khẩu ngữ:
Ôi em!
Chúng ta như hai ngôi sao
Hai đầu chân trời lấp lánh
(Bài thơ viết cạnh đồn Tây)
Trang 22Tháp rùa lim dim nhìn nắng
(Sáng mát trong như sáng năm xưa)
hình ảnh mới có khả năng đập mạnh vào cả đầu óc lẫn trái tim người đọc” [41].
Trong thơ ông, đó là những hình ảnh toát lên từ đời thực: gần gũi, hồn nhiên mà
độc đáo, mới lạ; khỏe khoắn, gân guốc mà nên thơ Đó là những lề đường mòn
cũ, những mái nhà rơm, là ánh mắt nhìn của em bé gái, là dòng sông Lô đang cuộn,… Không có vẻ ước lệ, không có vẻ sách vở, hình ảnh trong thơ Nguyễn
Trang 23Đình Thi là “hình ảnh còn tươi nguyên, đột ngột, lạ lùng” [40], là hình ảnh xuất
hiện khi tâm hồn nhà thơ chạm vào cuộc sống thường ngày
Nhưng cần thấy rằng những hình ảnh đời thường mà nhà thơ phát hiệntrong cuộc sống ấy chỉ mới là nguyên liệu Nguyên liệu muốn thành thơ phải
có sự xúc động của hồn thơ, tức là phải tạo được một sự rung động dữ dộitrong tim nhà thơ Cho nên hình ảnh đời thường đi vào thơ Nguyễn Đình Thitrở thành hình ảnh cảm xúc, tức là “Hình ảnh thực được nảy lên trong tâm hồnnhà thơ” Cũng là những lề đường mòn cũ nhưng không phải là cái vô tri màngập tràn trong nỗi nhớ:
Những lề đường mòn cũ
Quặn nhớ chân người
(Đêm mít tinh)
Cũng là bến Phan Lương nhưng không vô cảm mà như một sinh thể :
Bến Phan lương nép bên rừng im lặng
Ngang đồi một tia vàng bay vút
(Đêm mít tinh)
Đã hơn 60 năm trôi qua kể từ Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc
năm 1949, thơ không vần của Nguyễn Đình Thi bây giờ đã được nhìn nhậnlại Những đóng góp của nó cho nền thơ Việt Nam hiện đại đã được khẳngđịnh và đề cao Thực tế sáng tác những năm gần đây của các nhà thơ trẻ đãchứng minh những nỗ lực cách tân thơ của Nguyễn Đình Thi những năm đầukháng chiến chống Pháp là đúng đắn Tiếc rằng kiểu thơ không vần doNguyễn Đình Thi khởi xướng thời ấy không được thăng hoa đến đỉnh cao của
Trang 24nó Nhưng những giá trị mà nó để lại (cả về nội dung lẫn hình thức nghệthuật) là rất đáng quý Nó góp một tiếng nói mới lạ cho thơ kháng chiến Nóảnh hưởng sâu sắc đến những nhà thơ sau này Và đặc biệt nó khẳng định vịtrí Nguyễn Đình Thi trên thi đàn Việt Nam hiện đại như một nghệ sĩ tài hoa
và tài năng
1.2 Sự nhập cuộc của Văn Cao vào những vận động đổi mới thơ
Từ những bài thơ đầu tiên viết năm 1939 đến bài thơ cuối cùng Tôi
ở viết tháng 8/1994, Văn Cao có di sản khoảng chừng 60 bài, nhưng vẫn hiển
lộ đầy đủ một chân dung nhà thơ khắc khoải với khát vọng lớn lao "tới baogiờ tôi gặp được biển?" Trong sự mến mộ của công chúng phổ thông, chândung nhạc sĩ Văn Cao luôn khỏa lấp, che bóng chân dung nhà thơ Văn Cao,bởi lẽ cảm giác xao xuyến thường lấn lướt nhận thức sâu xa Tuy nhiên nhữngvần thơ đầy khắc khoải của Văn Cao dần dần được bạn đọc biết đến, nó gópphần khẳn định thêm chân dung người nghệ sĩ đa tài
1.2.1 Những sáng tác thơ trước cách mạng của Văn Cao
Ngay từ thời mười tám đôi mươi, nhạc sĩ Văn Cao đã phải dùng thơ đểnói những điều về cuộc sống mà âm nhạc của ông không thể hiện hết được
Những năm ông viết các ca khúc lừng danh như Thiên thai, Suối mơ thì ông
đã làm thơ: Li khách (1939), Linh Cầm Tiến (1939), Ai về Kinh Bắc (1941), Đêm ngàn; Đêm mưa (1941), Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (1945)
Những đứa con đầu lòng trên địa hạt thơ ca của Văn Cao báo hiệu một giọngthơ lạ, không bị ám ảnh và chi phối bởi các trào lưu thơ ca thời bấy giờ
Những câu thơ mang dấu ấn sáng tạo riêng của Văn Cao như: Mưa trong trăng tiếng nhỏ đều/ Bến mờ mịt mấy mái lều bơ vơ (bài Ðêm mưa, 1941) đã
bước đầu gây được thiện cảm của người đọc Dù ở lĩnh vực nghệ thuật nào
Trang 25Văn Cao cũng chọn cho mình một nẻo đi riêng, từ những bài thơ đầu tay viếtvào thời kì trước cách mạng tháng Tám năm 1945, khi phong trào Thơ mớitrỗi lên giai đoạn cuối, ngôn ngữ thơ ông đã có sự khác biệt với Thơ mới Rõ
nhất là thơ lục bát: Sông chầm chậm chảy trong mưa/ Nghe chừng cô gái đã thưa nhát chèo Nhịp thơ trong câu tám chữ Bến mờ mịt - mấy mái lều - bơ vơ
và từ nhát chèo chính là nhịp điệu và ngôn từ riêng Văn Cao.
Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc viết vào mùa xuân 1945, thực sự là
mùa chết chóc của cả dân tộc Ngã Tư Sở, xóm ăn chơi, lại là điểm gặp của
"bốn ngả âm u" Mưa phùn thơ mộng của xuân Hà Nội trở thành Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch.
Có những câu thơ điểm theo nhịp phách của ca nhi, nhưng lại vẳng lên
âm thanh của chết chóc: …Khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ/ Thanh xuân hờ thanh xuân Hăm hai tuổi, giữa độ tuổi xuân, vậy mà bóng dáng Văn Cao điệp lại hình ảnh ông già Đỗ Phủ: Nhà ta thuê mái gục tự mùa thu/ Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc/Đêm đêm đẫy dầi canh tan tác/ Bốn vực nhạc động vẫy người/ Dẫu đèn treo ánh đỏ quạnh máu người/ Ta về gác chiếu chăn gào
tự tử… Văn Cao đã từng đêm nhìn qua khuôn gác nhỏ, xóm Dạ Lạc mờ đục
dưới ánh sáng bạc phếch của điện đường.Trong cái phờ phạc của mùa đông
Hà Nội, những con quạ đen thui chập chờn lượn vòng, đe dọa Đêm đêm tiếngbánh xe lăn lọc cọc đi xuôi về cửa Ô Ngọn đèn dầu đỏ loét lắc lư bên hông xesoi thấp thoáng những những cẳng chân, cẳng tay đen đúa thò ra dưới manhchiếu nát Tiếng vó ngựa gieo rời rạc trong mưa phùn gió buốt, chen lẫn vàotiếng nói cười đàn ca rộn rã hắt ra từ hai lề con phố Những hình ảnh ấy đã ámảnh tâm trí Văn Cao:
Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác
Trang 26Đi vào ngõ khói Công Yên
Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền
Hương nha phiến chập chờn mộng ảo
Bánh nghiến nhựa đường xe xào xạo
Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe
Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề
Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực.
Đó là một bức tranh về thảm trạng xã hội những đêm trước cách mạng
đã được tiếng lòng của người nghệ sĩ chân chính ghi lại bằng những thi ảnhđộc đáo
Những bài thơ Của Văn Cao trước cách mạng mặc dù chưa được chú ýnhiều nhưng giọng thơ của ông đã kịp lưu lại trong tâm trí của bạn đọc hồi đó.Đặc biệt là cách gieo vần và xử lí thanh điệu đã tạo dấu ấn riêng để không
chìm lẫn vào Thơ mới Bài thơ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế có một cách
gieo vần tạo thanh âm, nghe như âm điệu của tiếng ghi ta đang khẽ khàngtừng giọt bật bưng, nhất là hai khổ thơ đầu Một cách sử dụng thanh điệu tài
tình nhờ hiệu ứng của các từ láy nẩy nẩy, nhịp nhịp, ngòn ngọt, tương tư, nhẹ nhẹ, điệp cú ở khổ hai và kết thúc các chữ cuối của khổ thơ bằng thanh
bằng:
Nẩy nẩy tơ đồng nhịp đôi
Lòng nâng ngòn ngọt lại đầu môi
Này em hát khúc tương tư nhé
Ngâm khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Trang 27Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Tri âm nghe như dây đồng vọng
Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru.
Những vần thơ Văn Cao sáng tác trước cách mạng tuy không nhiều về
số lượng, chưa gây được ảnh sự chú ý đáng kể của trên thi đàn, song đó làmột khởi đầu đáng trân trọng Những thành công và thất bại đều là những bàihọc quý đối với người nghệ sĩ Chính những những khởi đầu ấy đã giúp ông
có niềm tin bước tiếp trên cuộc hành trình đầy gian nan đến với thơ ca Chính
ông đã tâm niệm trong Mấy ý nghĩ về thơ sau này rằng: “Người làm thơ phải
đi tìm những tư tưởng, cảm xúc, cảm giác trên kia trong thực tế ở những conngười đang hàng ngày túi bụi xây dựng Càng tới gần cái cuộc sống đầy mâuthuẫn đấu tranh là càng như đi gần lại một kho thuốc nổ Có người dao động
và quay lưng lại Có người vụng về mà làm nổ Nhưng cũng có người canđảm mà làm nổ để mở đường” Và thực tế những quan niệm đó đã được ôngcan đảm thể nghiệm từ những bài thơ viết trước cách mạng tháng Tám
1.2.2 Những bài thơ chào đón cách mạng
Nhà thơ nổi tiếng nước Đức – Hainơ từng phát biểu: Thế giới đã nát tan và để lại vết nứt trên mình thi sĩ Đây là một thực tế của sự ảnh hưởng, tác
động của khách quan đến văn nghệ sĩ nói chung
“Tất cả, đều từ những chân trời khác nhau mà đến với cách mạng”(Lưu Khánh Thơ) Không chỉ có thế, nhiều thế hệ nhà văn trước cách mạngcòn chia tay với cá tính, thậm chí với cái đã thành phong cách của họ, đểhướng sang một thời đại mới mà nhiệm vụ cách mạng yêu cầu Các thi sĩtrong phong trào Thơ mới đã có sự lột xác rõ rệt “Các nhà thơ có tên tuổi từtrước như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư,Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Vân Đài, Anh Thơ, đã thay đổi nhận thức và
Trang 28tình cảm” (Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Phan Cự Đệ chủ biên) Chính cuộc
cách mạng tháng Tám đã giải thoát cho một thế hệ nhà thơ lãng mạn ra khỏivòng luẩn quẩn bi kịch của cái tôi cá nhân Đến với cách mạng họ như đượcgiải thoát khỏi bế tắc, mặc cảm tội lỗi, lạc loài Tất cả đều đón chào cáchmạng, kể cả những người tưởng chỉ gắn với bàn đèn thuốc phiện như VũHoàng Chương, Đinh Hùng hay những người làm thơ “hũ nút” như NguyễnXuân Sanh Khảo sát tác phẩm của nhà thơ lãng mạn thuộc kiểu nhà văn tiềnchiến trong chặng đường văn học cách mạng, cuốn sách cùng tên trên đã đưa
ra nhận định: “Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời đại mớicho thơ ca.Thơ ca phát triển mạnh mẽ với một chất lượng mới về nội dung vàhình thức biểu hiện.Nội dung khác xa với thơ ca trên thi đàn công khai trước
đó và hình thức cũng có những cái độc đáo mà trước kia không thể nào cóđược”
Cách mạng tháng Tám đã mở ra một chân trời mới cho văn học Cùngvới sự hồi sinh của dân tộc là sự khai sinh của nền văn học mới Đó là nềnvăn học cách mạng mang tính nhân dân sâu sắc, với nhiệm vụ cao cả phục vụ
sự nghiệp chiến đấu và lao động của nhân dân, với nội dung phản ánh cuộcsống của quần chúng nhân dân.Văn học nói chung và thơ ca nói riêng đã có
sự chuyển mình mạnh mẽ theo thác lũ tuôn trào của cách mạng và không khícủa thời đại mới Dòng chảy chính thống của thơ ca đã từng bước được địnhhình rõ nét Từ chỗ thơ ca phân hóa sâu sắc theo nhiều xu trào, trường pháikhác nhau, sau cách mạng sớm được quy tụ về một mối Trước sự phấn chấnđổi đời của cả dân tộc, tâm hồn của tầng lớp của văn nghệ sĩ cũng có nhữngbiến đổi sâu sắc Lý giải hiện tượng các nhà thơ lãng mạn trong phong tràoThơ mới – những cái tôi buồn và cô đơn đến tuyệt đối, tìm mọi cách trốn vàotình yêu, vào cõi hư vô – giờ hào hứng đến với cách mạng, sớm hòa nhập vớithơ kháng chiến, hẳn những lý do trên là cơ sở đầu tiên Đi tìm nguồn gốc sâu
Trang 29xa của hiện tượng này, có người nói đến bản chất bên trong của biểu hiện bênngoài rất cô đơn Trong chiều sâu của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm ởhoàn cảnh đất nước nô lệ, họ khát khao điểm tựa, khát khao điểm tựa Ngọnlửa của long ham sống vẫn le lói bên trong, bộc lộ ra bên ngoài bằng trạngthái ngược là chán đời và thoát ly Như vậy, thực chất là lòng yêu kín đáo đốivới nhân quần, lòng thương kín đáo một dân tộc mất nước Nói như tác giả
Thi nhân Việt Nam: Họ dồn tình yêu quê hương vào tình yêu tình yêu tiếng Việt Cách mạng đã hồi sinh cho dân tộc, cũng làm sống dậy lòng yêu tiềm ẩn
trong lòng người thi sĩ tiền chiến
Phần lớn các nhà thơ tiền chiến đã sớm “ lột xác”, và đã hòa nhập vớiđiều kiện mới Những nhà thơ có tư tưởng đổi mới từ trước cách mạng đếnnay vẫn tiếp tục con đường sáng tạo của mình Văn Cao cũng thuộc số vănnghệ sĩ hăng hái đến với cách mạng , đem ngòi bút của mình phục vụ sựnghiệp kháng chiến kiến quốc vô cùng vĩ đại của dân tộc, của nhân dân
Tác giả của Tiến quân ca không chỉ say sưa trên cánh đồng âm nhạc mà
còn rất háo hức trên nẻo đường thơ ca Những vần thơ đón chào cách mạng vàkhí thế của cuộc kháng chiến của Văn Cao đã nói lên tất cả tâm hồn của ônglúc đó Khí thế hừng hực của thời đại và hiện thực bề bộn của cuộc khángchiến đã trở thành chất liệu sống cho người nghệ sĩ Văn Cao trải nghiệm sángtác các loại hình nghệ thuật mà ông sở dụng Riêng về thơ, thời kì sáng tácnày của Văn Cao, người ta chú ý nhiều đến một tác phẩm đặc biệt: Bài thơ
Ngoại ô mùa đông năm 46 Thi phẩm này đăng trên tạp chí Văn nghệ, số 2,
tháng 4 và tháng 5 năm 1948 Bối cảnh thai nghén tác phẩm là giai đoạn đầucủa cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) Mùa đông 46 là thời điểmlịch sử nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp, một mùa đông ảm đạm Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến củaBác Hồ vang lên như lời hiệu triệu non sông trong mùa đông giá rét Khí thế
Trang 30chiến trận, lửa căm thù thù bùng cháy trong lòng muôn dân Các chiến sĩ vệquốc quân đã chiến đấu ngoan cường với kẻ thù, cầm chân chúng để đồng bào
ra khỏi thủ đô an toàn Năm cửa ô cuồn cuộn dòng người tản cư Ngoại ô diễn
ra một cảnh tượng lịch sử nghìn năm có một Văn Cao đã tìm thấy ở đó nhữngchất liệu có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, để cho ra đời một bài thơ đặc biệt Mởđầu bài thơ là là những thanh âm tuôn trào mạnh mẽ:
Reo lên! A reo lên
Xóm cùng khổ
Reo lên! Reo lên
Băng mình vào đạn lửa
Cuồn cuộn chảy xô lòng Hà Nội vỡ
Tang trông kêu tan tác
Đời vật vã chưa xa
Trang 31Ngoại ô mùa đông năm 1946 ghi nhận cuộc hành trình của những thânphận nhục nhã sống cuộc đời tàn lụy trước cách mạng, nay gặp thác lũ cáchmạng và hoàn cảnh kháng chiến, họ có cuộc hóa thân kì diệu Những ngườinghèo khổ, lưu manh, bồi tiêm, đĩ điếm trở thành những chiến sĩ ngoancường, anh dũng đứng lên bảo vệ quê hương, bảo vệ thủ đô Ngoại ô, mùađông 1946, mùa đông mở màn cho cuộc kháng chiến thần thánh chống quânxâm lược bạo tàn, ngoại ô bị ruồng bỏ, bị khinh khi đã cất lên tiếng hát tuyệt
vời như người ca kỉ mang tên Cô Tơ trong tác phẩm Chùa Đàn của Nguyễn
Tuân Trong cuộc đời cũ hát cho dăm bảy kẻ nghe trong khung cảnh ích kỉ
ốm yếu, giờ hát cho cả quê hương đang dạt dào gió mới và lồng lộng một trờicao chói lòa Mùa đông ảm đạm cũng là mùa đông lịch sử huy hoàng
Ngã Tư Chợ Dừa, Khâm Thiên phá đổ.
Tay thợ thuyền níu giữ xóm thân yêu Ngỡ Sầm Công sau mặt phố tiêu điều Nơi nằm nghỉ hơi thở người mỏi sức Ráo mồ hôi, nơi cuộc đời tàn lực Nơi say mê tranh đấu của thợ thuyền
Cờ búa liềm Treo giữa đài Văn Miếu
Ga Hàng Cỏ màu khinh than phiến điểu Hấng vạn bó truyền đơn
Sở tan tầm, đoàn lũ xéo hoàng hôn Bạn của tôi qua tường vôi thắc mắc Nắng sớm chiều, người lại , kẻ qua Nhật lệnh đêm nào
Lời gọi của Cha Già
Ôi đoàn thể
Trang 32Bấy nhiêu người đói khổ đã vươn cao Cửa ô cần lao
Cửa ô trụy lạc Cửa ô trầm mặc
Ôi cửa ô, cửa ô dài dằng dặc Bấy nhiều đói khổ đã vươn cao!
Cuộc kháng chiến đánh giặc giữ nước bảo vệ Thủ Đô mùa đông năm
1946, trong những giờ phút lịch sử được tái hiện trong những hoạt cảnh chóilọi, cao cả, xúc động:
Em gái Ngã Tư Sở Anh, người thợ Nam Đồng (Đêm xênh ca khổ sở Đập tan đàn khi nhạc mới mênh mông).
Xác anh vùi lửa đạn Xác em vùi bên anh Khói súng mờ bay nhạt cả xóm xanh Lửa bừng lên cháy rực cả đo thành Cửa ô!
Cửa ô!
Cửa ô!
Sôi nổi Oai hùng
Dữ dội!
A cửa ô Nhà đổ thép quằn rung Xóm âm u
Dăm đóm lửa chập chùng
Trang 33Xóm âm u Thành khối đen, đặc quánh
Ơi ai ngâm mình hố lạnh Gió mùa rú ghê người Trăng đông dầm khe rãnh Lưỡi lê đậu xương rơi
Những mảnh màu sắc thay đổi rất mau tạo ra nơi khán giả những ấntượng trái ngược, đột ngột và đồng thời, lôi cuốn, đặt họ vào tư cách ngườichứng kiến quan sát Bỗng chốc ánh lửa lóe sáng ở đấu súng, bỗng chốc khói
mờ mịt, bỗng chốc bùng cháy ngọn lửa đốt thành phố, bỗng chốc đêm dàybuông xuống thành khối đen, đặc quánh, bỗng chốc thấy ánh trăng mơ hồ chothấy bóng dáng người chiến sĩ ngâm mình trong hố lạnh Những kiếp người
bé mọn, những người dân “hạ lưu” ở ngoại ô, họ đã ngã xuống, cảm tử cho
Tổ quốc quyết sinh, như nhưng đấng xả thân vì nghĩa cả
Như vậy sau Cách mạng tháng Tám, cùng với Hải Phòng 19-11-1946 của Trần Huyền Trân, Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Đèo Cả của Hữu Loan, Tây Tiến của Quang Dũng, Nhớ của Hồng Nguyên, Chiều mưa đường số 5 của Thâm Tâm, Viếng bạn của Hoàng Lộc, Văn Cao đã góp chiếc cầu nối giữa thời trước cách mạng với thời chống Mĩ một Ngoại ô mùa đông 46.
Trong trạng thái thăng hoa của toàn dân tộc lúc ấy - thăng hoa từ nô lệ đến tự
do, Văn Cao đã bay từ địa hạt ca khúc trữ tình tha thiết đến địa hạt ca khúc
cách mạng chất ngất Và tiềm năng thơ tiếp tục được phát lộ ở Ngoại ô mùa đông 46, bài thơ mang dấu ấn riêng của Văn Cao từ giọng điệu đến cám hứng
và cách thể hiện Tác phẩm tiêu biểu cho phong cá tính thơ của Văn Cao saucách mạng, không ồn ào giáo thuyết nhưng cũng không kém phần mãnh liệt
và hùng tâm, thể hiện chiều sâu tính cách của tác giả Quốc ca
1.2.3 Những bài thơ viết trong cô đơn im lặng
Trang 34Vào những năm 1956-1958, ở nước ta xuất hiện phong trào Nhân Văn Giai Phẩm Cơ quan ngôn luận của phong trào này là Nhân Văn, một tờ báo
văn hóa, xã hội, có trụ sở tại 27 Hàng Khay, Hà Nội, do Phan Khôi làm chủ
nhiệm và Trần Duy làm thư kí toà soạn, cùng với tạp chí Giai Phẩm, hình
thành nên nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm
Trong tạp chí Giai phẩm Mùa xuân được ấn hành tháng giêng năm
1956, do nhà thơ Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương, về sau bị tịch thu, có
bài Nhất định thắng của Trần Dần, miêu tả hoàn cảnh đời sống miền Bắc xã
hội chủ nghĩa trong những ngày đầu đất nước chia cắt Tác giả bài thơ bị quikết chống phá, "bôi đen" chế độ, với những câu thơ nổi tiếng:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ
Tháng 8 năm 1956, Phan Khôi có bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, đăng trong Giai phẩm Mùa thu Trong số ra mắt ngày 20 tháng 9 năm 1956, bán nguyệt san Nhân Văn đã đăng ngay trên trang nhất bài Chúng tôi phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ Người được phỏng vấn đầu tiên là
luật sư Nguyễn Mạnh Tường Ông nêu hai nguyên nhân khiếm khuyết về dânchủ thời bấy giờ Loạt bài được dự định tiếp tục với bác sĩ Đặng Văn Ngữ,nhà sử học Đào Duy Anh, nhà văn Nguyễn Đình Thi nhưng cho đến số cuối
cùng được ra mắt là số 5, ngày 20 tháng 11 cùng năm, Nhân Văn chỉ có thể công bố bài phỏng vấn Đặng Văn Ngữ và Đào Duy Anh Nhân văn số 3 ra
ngày 15 tháng 10 đăng bài của Trần Đức Thảo về mở rộng dân chủ, phát triểnphê bình trong nhân dân Trần Duy cũng góp tiếng nói đấu tranh cho tự do
Trang 35dân chủ trong Nhân văn số 4 ra ngày 5 tháng 11 năm 1956 Trong số cuối cùng, số 5 báo Nhân văn, Nguyễn Hữu Đang nhận xét về những điều bảo đảm
tự do dân chủ trong Hiến pháp Việt Nam 1946 và so sánh với tình hình thực
tế lúc bấy giờ
Ngày 15 tháng 12 năm 1956, Ủy ban hành chính Hà Nội ra thông báo
đóng cửa báo Nhân Văn Số 6 không được in và phát hành Tổng cộng Nhân Văn ra được 5 số báo và Giai Phẩm ra được 4 số báo (Tháng Ba, Tháng Tư,
Tháng Mười và Tháng Chạp 1956) trước khi phải đình bản
Sau đó, hầu hết các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm
bị đưa đi học tập cải tạo về tư tưởng xã hội chủ nghĩa Một số bị treo bút mộtthời gian dài: Lê Đạt, Trần Dần, số khác không tiếp tục con đường sự nghiệp vănchương Dư luận chung thường gọi đây là "Vụ án Nhân Văn–Giai Phẩm"
Trong bối cảnh đất nước đang tập trung sức lực cho nhiệm vụ giảiphóng dân tộc, thống nhất đất nước, trước nhiệm vụ sống còn của cả dân tộc,hơn lúc nào hết cần có sự đồng thuận và thống nhất cao về ý chí, lí tưởng vàhành động vì mục tiêu chung Mặt khác tình hình thế giới diễn biến phức tạp,
cụ thể là ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đòi dân chủ nổi lên và bịđàn áp, các văn nghệ sĩ cấp tiến bị xử lý, thậm chí bị kết tội hoạt động lật đổ
chính quyền nhân dân Nhà nước ta rất ngại kiểu diễn biến khó kiểm soát như
ở Hung ga ri, Ba Lan, Tiệp Khắc vì thế Đảng đã có những hành động mạnh
mẽ và sớm kiểm soát được tình hình Và đồng thời các tờ báo Nhân Văn, báo Trăm Hoa, tạp chí Giai Phẩm Mùa Đông đều bị đóng cửa Khóa học tập
chỉnh huấn cho 304 văn nghệ sĩ được mở ở ấp Thái Hà năm 1958
Văn Cao thuộc số những người liên quan vào nhóm Nhân Văn - GiaiPhẩm tại Hà nội trong năm 1956, nhưng đến tháng 7 năm 1958, ông mới phải
Trang 36chịu đựng đợt kỷ luật đầu tiên, là “cho rút khỏi ban chấp hành hội nhạc sĩ” vàsau đó đi thực tế lao động.
Trước cơn ba động của cuộc sống, giữa thử thách nghiệt ngã của cuộcđời, nhiều người nghĩ rằng trong suốt những năm gặp “nạn” ấy, Văn Cao đãthu mình, im hơi lặng tiếng, thậm chí có không ít người nghi hoặc cho rằng
thiên tài Văn Cao đã chết Thực tế thời gian này, âm nhạc của tác giả Quốc ca
tắt tiếng, ông phải tìm mở những kênh giao tiếp nghệ thuật khác là họa, minhhọa bìa sách và đặc biệt là làm thơ Và chính trong hoàn cảnh bất đắc dĩ ấy,mạch thơ, suối thơ của cảm hứng sáng tạo không ngưng nghỉ và vơi cạn nhưchính Văn Cao đã khẳng định: “Cuộc đời và nghệ thuật của nhà thơ phải lànhững dòng sông lớn cầng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng” (Sổ ghichép, 12-7-1957) Văn Cao ít đăng thơ và có thể nói ông không muốn “bịgiết” bởi những bó hoa chúc tụng như bao “thi sĩ” khác vốn rất khát khaochuyện đó! Nhà văn Nguyễn Thụy Kha, một người đồng hương, đồng thời làngười bạn vong niên với Văn Cao đã từng chứng kiến cũng như chia sẻ nhữngkhốn khó của cuộc đời ông, viết: “Hòa bình Chỉ sau khi ấn hành trường ca
Những người trên cửa biển một thời kì hết sức nghiệt ngã ập xuống đầu Văn
Cao cũng như một số đồng nghiệp văn nghệ khác Suốt mấy chục năm, VănCao phải lặng lẽ âm thầm sáng tạo trong đớn đau, trong cảnh túng quẫn.Dường như ông không viết bài hát nữa mà chuyển vào những tiểu phẩm nhạc
không lời như Hàng dừa xa, Sông tuyến, Biển đêm Ông dằn lòng viết những
câu thơ không in, vẽ minh họa để kiếm chút “tiền còm” bởi thúc bách của đờisống thường nhật” Qua đó ta hiểu thêm về tình cảnh cuộc sống và tình thếsáng tạo của Văn Cao trong những năm tháng đặc biệ này
Sau vụ Văn Nhân - Giai Phẩm, những nhà thơ cùng nhóm như TrầnDần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán vẫn tiếp tục kiên trì con đường đổimới thơ, tuy thơ họ không được đăng, không được tiếp xúc với công chúng
Trang 37Mặc dù Văn Cao sáng tác đồng thời cả nhạc, thơ và họa, song vì những
lí do đã nói trên, mà thơ Văn Cao không có cơ hội đến với người đọc Mộtthời gian dài gần 30 năm (từ 1957-1985), thơ Văn Cao không được xếp vàodòng chảy “chính thống” của thơ ca Việt nam hiện đại Trong tình thế ngặtnghèo ấy, Văn Cao vẫn tiếp tục sáng tạo Đây lúc bản lĩnh nhà thơ lên tiếng,
là hoàn cảnh vận dụng nội lực để làm mới mình bằng cảm quan đặc biệt củangười nghệ sĩ thực thụ Trong lúc này, mọi kênh giao tiếp với bên ngoài bịhạn chế tối đa, nhà thơ không có điều kiện mở mang, học hỏi các trào lưu thơhiện đại của của thế giới
Lá là tập thơ duy nhất Của Văn Cao, xuất bản năm 1988 khi nhà thơ đã
ngoài sáu mươi sáu tuổi, và đã sáng tác không ngừng nghỉ non nửa thế kỷtrong nhiều bộ môn: nhạc, hoạ, truyện và thơ
Lá gồm có hai mươi tám bài thơ ra đời rải rác vào nhiều thời kỳ khác
nhau, từ 1941 đến 1987, chủ yếu là những bài làm từ 1956 về sau, quan trọng
nhất có trường ca Những người trên cửa biển Nói là chủ yếu, vì năm bài
thơ làm trước đó còn âm hưởng nhiều trường phái thi ca khác nhautrong thơ cũ Từ 1956 những tác phẩm làm trong phong trào Nhân văn - Giai
phẩm đã khẳng định cá tính thơ Văn Cao, mới lạ trong cấu trúc và sâu sắc tư
duy Hai mươi tám bài thơ: con số có lẽ là một trùng hợp tình cờ; không có gìchứng tỏ Văn Cao đặt rung cảm mình vào khuôn sáo nhị thập bát tú Dù xuấthiện muộn màng nhưng nó vẫn gây được tiếng vang tốt trong giới chuyênmôn và bạn đọc Dù sao, Văn Cao cũng đã tự tạo cho mình một phong cáchriêng biệt
Thơ Văn Cao trĩu nặng tâm sự và khát vọng thời đại, và đất nước,
nhưng nhan đề sao mà nhẹ nhàng, một chữ ngắn: Lá Phải chăng đây là nhan
đề ngắn nhất trong các tập thơ Việt Nam? Ngắn nhưng không gọn, giản dị mà
Trang 38không giản lược, vì buộc người đọc phải suy nghĩ lao lung Lá là một hìnhtượng thiên nhiên xuất hiện từ lâu trong nghệ thuật, vì gần gũi với con người
từ xa xưa Buổi hoang sơ, KinhThi đã rậm lá, lá quyền, lá hạnh; thơ cổ điển.
Rồi đến Thơ mới rợp lá bàng, lá phượng, lá me , mỗi loại lá đem đến mộtsắc điệu thẫm mĩ nhất định Nhưng vẫn là một loại lá gì đó, trong một trạng
thái nào đó, khi vàng, khi đỏ, khi xanh, lúc che ngang mặt chữ điền, lúc dệt
áo mơ phai Trong tác dụng tượng trưng hàm súc nhất: một chiếc lá vàng cũng đủ báo hiệu cho thiên hạ cộng tri thu, thì lá vẫn có tên, có tích, ấy là
lá ngô đồng Trái lại Lá của Văn Cao là một hiện tượng thiên nhiên đơn lẻ trần trụi: Lá của Văn Cao là cuộc sống, trong khi các loại lá rải rác trong thi
ca, chỉ là những âm sắc, tính cách cục bộ nào đó, phân tách ra khỏi đời sống.Thơ Văn Cao nói về những sự thật, những ân tình và cả sự bạc bẽo ở đời
Lá là nét cân đối trong không gian dưới mắt người hoạ sĩ, lá là những
nét ký hoạ mà vũ trụ đã ghi lại hằng ngày trên nhật ký của mặt đất Trong quátrình sinh trưởng, lá từ nhựa sống vươn đến một cấu trúc cân đối để rồi, từ đódần dần mất dần cân đối với thời gian, trong quá trình huỷ hoại: đó cũng làđịnh mệnh con người từ bản thể chạm vào cơn gió của lịch sử Lá là conngười đương đầu với biến cố Riêng chiếc chiếc lá Việt Nam, thân xác mongmanh vùi dập đạn bom, với bột “khai quang”, là một đau thương khác, khôngthể bình luận về mặt triết học văn chương.
Lá là một tập thơ khá phong phú về nội dung và nghệ thuật Trải dài tập
thơ có không gian của Hà Nội, Hải phòng, Huế, Qui Nhơn, có thời gian củađất nước vừa giành được chính quyền sau cách mạng đến khi dằng dặc cuộc
chiến tranh đau xót Ở Lá, cũng có tình yêu, với hình ảnh đất nước vứi ruộng
đồng phố thị thân quen, có những giấc mơ, và có cả hiện thực đời thường đầyphũ phàng cay đắng Ở đó có sự giao thoa, hội ngộ của âm nhạc, của hội họa
Trang 39Những nốt nhạc trầm đến mức vô thanh, những nhát cọ mảnh và tinh tế đếnthành không dáng Thơ là kết tinh của những nỗi niềm, là men rượu trắng
“cuốc lủi” len vào dòng huyết quản, là những ấm ức tủi cực nén sâu vào cõilòng với những tia hi vọng
Thơ Văn Cao giàu thị giác, thiên về tư tưởng, đòi hỏi cái mới, cái hiệnđại Nhưng anh cũng chấp nhận kinh nghiệm người đi trước:
Nếu không có đường mòn
Ai biết mà tìm nhau Chỉ từ những đường mòn Rừng mở ra vạn lối.
Văn Cao cương quyết đi tìm những lối mới, cho hình thể hội hoạ, chongôn ngữ thơ ca Anh ý thức rằng dân tộc cần những con đường mòn, cầntruyền thống, để tự khẳng định, để giữ gìn bản sắc, nhưng lại cần những nhảyvọt để tiến bộ, để phát huy bản sắc ấy trong một thế giới đang thay đổi.Những thể nghiệm về hội hoạ trừu tượng năm 1945, về quan điểm thơ khôngvần 1949, là những cố gắng làm mới nghệ thuật Nhưng Văn Cao cũng nhận
ra rằng không thể có nghệ thuật mới, nếu không có tư tưởng mới và hoàncảnh mới Cái giá rất đắt của gian khổ và chiến thắng mà dân tộc ta phải trả làtinh thần bảo thủ Thơ vần hay không vần, tuy chỉ là một vấn đề kỹ thuật,nhưng là một khâu có tác động trên cả guồng máy Phải đợi sau khi hoà bìnhlập lại, 1956, Văn Cao mới làm thơ trở lại, không vần, thơ mới
Tôi muốn tìm hiểu cuộc đời Như lấy bàn tay dò mạch giếng chảy.
Thơ Văn Cao là cuộc tra vấn thường xuyên cuộc sống và con người, vềthân phận, về ước vọng Đề tài thơ Văn Cao không nhiều: vài ba kỷ niệm, với
Trang 40dăm người bạn, vài thành phố nhưng lúc nào cũng là những câu hỏi dằn vặt.
Về Bùi Xuân Phái, ông nhắc đến những bức tranh Phố Phái:
Không người ở Không số nhà Không tên phố
để cuối cùng tự hỏi:
Đến lúc nào phố anh có người thêm ?
Với Nguyễn Tuân thân thiết, ông chỉ giữ lại cái nhìn:
Mắt anh vả mắt tôi Một lớp tro đang ròng ròng kéo sợi
Với Nguyễn Huy Tưởng, anh nói về ám ảnh cái chết:
Bức tường lê từng bước một Đến gần chân chúng tôi hằng ngày Chúng ta đều sợ một cái gì nhanh quá
Khi vĩnh biệt Nguyên Hồng:
Riêng anh niềm xúc động của tôi Nơi anh nơi tôi hai xóm nghèo được sống
Các thi nhân xưa đã tiết kiệm tâm tình, mà cũng có lúc oà vỡ thànhtiếng khóc, như Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê Ở Văn Cao không cónhững nức nở đó, mà chỉ có những nhức nhối thu lại trong nội tâm, trong im
lặng Có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được Thơ Văn Cao, chủ yếu,
là những phút im lặng giữa những khoảng tối và sáng trong ngôn ngữ