Đồng thời, luận văn nêu ra các chính sách từ chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc trong vấn đề kiểm soát những tiêu cực từ môi giới hôn nhân và đề xuất một số khuyến nghị cụ thể từ góc nhìn củ
Trang 1
NGUYỄN QUẾ HƯƠNG
HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN -VIỆT THÔNG QUA MÔI GIỚI HÔN NHÂN
GIAI ĐOẠN 2000 - 2018
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Đà Nẵng - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ những nội dung đã được tham khảo có kèm theo nguồn trích dẫn, luận văn này không bao gồm một phần hoặc toàn bộ nội dung của bất kỳ một công trình nào đã được công bố để nhận một văn bằng hay học vị ở bất kỳ một cơ sở đào tạo nào khác
Trang 4nhiều thế kỷ và hôn nhân quốc tế Hàn – Việt xuất hiện như một điều tất yếu nhờ vào mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp này trên lĩnh vực giao lưu nhân dân Kết hôn quốc tế Hàn – Việt thông qua dịch vụ môi giới bắt đầu xuất hiện rầm rộ vào đầu năm 2000 và phổ biến đến tận ngày nay Trong suốt gần 20 năm từ năm 2000 đến năm 2018, thực trạng hôn nhân quốc tế Hàn – Việt có nhiều biến động phức tạp và các vấn đề phát sinh từ cuộc hôn nhân này có tác động không nhỏ đến xã hội ở cả hai quốc gia Luận văn với đề tài: “Hôn nhân quốc tế Hàn – Việt thông qua môi giới hôn nhân giai đoạn 2000-2018” tập trung phân tích thực trạng đang diễn ra của hoạt động môi giới hôn nhân Hàn – Việt, các yếu tố tác động và các vấn đề phát sinh Đồng thời, luận văn nêu ra các chính sách từ chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc trong vấn đề kiểm soát những tiêu cực từ môi giới hôn nhân và đề xuất một số khuyến nghị cụ thể từ góc nhìn của tác giả
ABSTRACT
Republic of Korea and Vietnam have a good friendship over the centuries and the Korean -Vietnamese international marriage appears as an indispensable because of this good diplomatic relationship in the field of people-to-people relations Korean - Vietnamese international marriage through brokerage services began to make headlines in 2000 and became popular During nearly 20 years, from
2000 to 2018, the reality of Korean - Vietnamese international marriage has many complicated fluctuations and problems arising from this marriage have a significant impact on society in both countries The thesis with the topic:
“Korean - Vietnamese international marriage through marriage brokers 2000-2018” focuses on analyzing the current situation of Korean - Vietnamese marriage brokerage, impact factors and issues to arise Besides, the thesis proposes policies from the Vietnamese and Korean governments to control the negative from marriage brokers and propose some specific recommendations from the author's perspective
Trang 5TÓM TẮT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU - 1 -
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN – VIỆT THÔNG QUA MÔI GIỚI HÔN NHÂN - 7 -
1.1 Khái quát về hôn nhân quốc tế - 7 -
1.1.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài - 7 -
1.1.2 Khái quát về môi giới hôn nhân - 8 -
1.2 Khái quát hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới - 10 -
1.2.1 Hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới - 10 -
1.2.2 Các đối tượng trong hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới - 16 -
1.2.3 Những yếu tố hình thành hôn nhân quốc tế Hàn-Việt thông qua môi giới - 10 -
1.3 Tính pháp lý của môi giới hôn nhân ở Hàn Quốc và Việt Nam - 20 -
1.3.1 Môi hôn giới nhân với người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam - 20 -
1.3.2 Môi giới hôn nhân với người nước ngoài theo quy định của pháp luật Hàn Quốc - 21 -
Tiểu kết Chương 1 - 21 -
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN – VIỆT THÔNG QUA MÔI GIỚI HÔN NHÂN GIAI ĐOẠN 2000 - 2018 - 24 -
2.1 Thực trạng kết hôn quốc tế Hàn – Việt tại Hàn Quốc và Việt Nam - 24 -
Trang 62.2 Thực trạng môi giới hôn nhân quốc tế Hàn - Việt - 33 -
2.2.1 Sự xuất hiện của các công ty môi giới hôn nhân quốc tế Hàn -Việt - 33 -
2.2.2 Hoạt động của công ty môi giới hôn nhân quốc tế Hàn -Việt - 34 -
2.3 Các yếu tố tác động đến kết hôn Hàn - Việt thông qua môi giới hôn nhân - 37 -
2.3.1 Các yếu tố tác động từ xã hội Hàn Quốc - 37 -
2.3.2 Các yếu tố tác động từ xã hội Việt Nam - 43 -
2.4 Một số mặt trái của môi giới hôn nhân và ảnh hưởng của môi giới hôn nhân đến hôn nhân quốc tế Hàn - Việt - 46 -
2.4.1 Một số mặt trái của môi giới hôn nhân - 46 -
2.4.2 Ảnh hưởng của môi giới hôn nhân - 48 -
2.5 Các vấn đề xã hội phát sinh từ hôn nhân quốc tế Hàn – Việt thông qua môi giới hôn nhân - 49 -
2.5.1 Vấn đề khác biệt văn hóa và ngôn ngữ giữa hai quốc gia - 49 -
2.5.2 Vấn đề về bạo lực gia đình - 51 -
2.5.3 Vấn đề nuôi dạy con cái - 52 -
2.5.4 Các vấn đề về quyền lợi hợp pháp - 55 -
Tiểu kết Chương 2 - 56 -
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ HAI NƯỚC VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ - 58 -
3.1 Một số giải pháp từ chính phủ nhằm hạn chế tác động tiêu cực của hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới hôn nhân - 58 -
3.1.1 Những chính sách của chính phủ Hàn Quốc - 58 -
3.1.2 Những chính sách từ chính phủ Việt Nam - 61 -
Trang 73.2 Một số khuyến nghị nhằm hỗ trợ các gia đình Hàn – Việt kết hôn quốc tế
thông qua môi giới hôn nhân - 65 -
3.2.1 Khuyến nghị đối với chính phủ Hàn Quốc - 66 -
3.2.2 Khuyến nghị đối với chính phủ Việt Nam - 67 -
Tiểu kết Chương 3 - 70 -
KẾT LUẬN - 71 -
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Chữ viết tắt Viết đầy đủ bằng tiếng Việt Viết đầy đủ bằng tiếng Anh
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long The Melkong Delta LHPN Liên Hiệp Phụ Nữ Vietnam Women's Union
KOICA Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc Korea International
Cooperation Agency
KOCUN Trung Tâm Chính Sách Nhân Quyền
Liên Hợp Quốc Hàn Quốc
Korea United Nations Human Rights Policy Center
MOGEF Bộ Bình đẳng giới và Gia đình Hàn
Quốc
Ministry of Gender Equality
and Family
NHRCK Ủy ban Nhân quyền quốc Hàn Quốc
National Human Rights Commission of Korea
Trang 10Số hiệu biểu
1.1 Tình hình học vấn của cô dâu trước khi kết hôn 14
So sánh số lượng đàn ông Hàn Quốc cưới phụ
nữ Trung Quốc và phụ nữ Việt Nam giai đoạn
2000 - 2018
28
2.4 Số lượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc
giai đoạn 2000 -2018 31
2.5 Phần trăm số phụ nữ chưa bao giờ kết hôn có độ
tuổi từ 30-34 qua các năm 40
2.6 Một số nghề nghiệp của các cô gái Việt Nam
trước khi lấy chồng năm 2012 44
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng, sự bùng nổ của công nghệ 4.0 cùng các hệ thống thông tin liên lạc, khoảng cách giữa các quốc gia, các khu vực, các nền văn hóa trên thế giới ngày càng được rút ngắn Việt Nam cũng không đứng ngoài bối cảnh đó, trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, Việt Nam luôn tăng cường hội nhập trên trường quốc tế Cụ thể là việc ký kết thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới Trong số các nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam đã tuyên bố thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với 3 quốc gia gồm: Trung Quốc, Nga, Ấn Độ; quan hệ Đối tác chiến lược với 13 quốc gia gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Đức, Ý, Pháp, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines
và Úc; cùng quan hệ Đối tác Toàn diện với 13 quốc gia khác Chính việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao gắn bó bền chặt với bạn bè năm châu đã giúp Việt Nam phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh quốc phòng, v.v., hướng tới mục tiêu chung là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trên lĩnh vực hợp tác ngoại giao, Việt Nam chú trọng đặc biệt trong việc hợp tác với các quốc gia ở khu vực Châu Á, đặc biệt là các nước ở Đông Bắc Á Với vị trí địa lý khá gần kề, cùng nằm trong các nước ở châu Á đồng thời trong bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương đóng vai trò ngày càng quan trọng về kinh tế, xã hội, chính trị trên toàn thế giới Trong số các nước trong khu vực châu Á, Hàn Quốc đang là một trong những quốc gia có quan hệ ngoại giao cũng như hợp tác trên nhiều lĩnh vực nhất đối với Việt Nam Hàn Quốc là một quốc gia có nền kinh tế phát triển vượt trội trong khu vực, là một trong bốn con rồng châu Á cùng với các quốc gia phát triển khác là Hồng Kông, Đài Loan và Singapore
Hai nước Việt Nam và Hàn Quốc đã kí kết quan hệ ngoại giao chính thức vào ngày 22/12/1992 Kể từ đó, rất nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc tiến vào Việt Nam để kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển Chính vì thế, trong bối cảnh
Trang 12những rào cản ngoại giao của hai quốc gia ngày càng được thu hẹp, một số vấn đề
xã hội đã phát sinh như một điều tất yếu Điển hình phải kể đến việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và công dân Hàn Quốc hay còn gọi là hôn nhân quốc tế Hàn - Việt Theo số liệu mới nhất từ thống kê của Bộ Tư pháp Hàn Quốc, tính đến tháng 9 năm 2018, tổng số cô dâu người nước ngoài kết hôn với nam giới Hàn Quốc là gần
130 ngàn người, trong đó số cô dâu người Việt là 39.5 ngàn người Như vậy, số cô dâu người Việt tại Hàn Quốc xếp thứ 1 chiếm 30.3% tổng số cô dâu người nước ngoài tại Hàn Quốc Đặc biệt số lượng cô dâu Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc đang
có sự gia tăng liên tục qua các năm
Xu hướng kết hôn quốc tế Hàn - Việt đang ngày càng một phổ biến ở cả hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc Các cuộc hôn Hàn - Việt thường được hình thành theo hai cách Hai bên nam nữ có thể kết hôn với nhau dựa trên cơ sở tình yêu, đã
có sự tìm hiểu, quen biết nhau trước đó, hoặc thứ hai được biết đến nhiều nhất hiện nay chính là kết hôn thông qua con đường môi giới hôn nhân Môi giới hôn nhân là một hình thức tìm kiếm các mối quan hệ hôn nhân thông qua các bên lựa chọn, trong đó bao gồm cả các tổ chức, công ty môi giới hôn nhân với mục đích kinh tế Những năm gần đây, những vấn đề nảy sinh từ kết hôn Hàn - Việt thông qua môi giới đã và đang là những vấn đề nóng của xã hội Thông qua những cuộc môi giới hôn nhân bất hợp pháp, các cô gái Việt Nam thường bị rơi vào các trường hợp kết hôn với những người chồng không đúng như lời giới thiệu Liên tiếp những vụ đánh đập bạo hành xảy ra với các cô dâu Việt Sự khác biệt về địa lí, về văn hóa và những tư tưởng giữa hai quốc gia Hàn Quốc và Việt Nam cũng khiến cho cuộc hôn nhân Hàn - Việt xảy ra rất nhiều trở ngại, khó khăn
Vì vậy, trước những thách thức đã trình bày như trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hôn nhân quốc tế Hàn Việt thông qua môi giới hôn nhân giai đoạn
Trang 13hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới hôn nhân và hiểu rõ những vấn đề
từ các tổ chức, công ty môi giới kết hôn nhằm đưa ra một số khuyến nghị để giảm thiểu các vấn đề tiêu cực nảy sinh từ môi giới hôn nhân Hàn - Việt
1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ tập trung vào tìm hiểu
và nghiên cứu :
Tìm hiểu về kết hôn quốc tế thông qua môi giới hôn nhân
Nghiên cứu thực trạng của hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới hôn nhân trong khoảng thời gian từ năm 2000 cho đến 2018
Phân tích các yếu tố tác động đến hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới hôn nhân
Tìm hiểu về hoạt động môi giới hôn nhân quốc tế tại Việt Nam và Hàn Quốc
Tìm hiểu những vấn đề và những khó khăn các cô dâu Việt Nam gặp phải khi là nạn nhân của các tổ chức, công ty môi giới bất hợp pháp
Tìm hiểu những khó khăn mà các gia đình Hàn - Việt phải đối mặt khi kết hôn thông qua môi giới hôn nhân Hàn – Việt
Tìm hiểu và phân tích một số chính sách của chính phủ hai nước trong kiểm soát vấn đề tiêu cực trong môi giới hôn nhân Hàn – Việt
Đưa ra một số khuyến nghị để ngăn chặn những vấn đề tiêu cực trong môi giới hôn nhân Hàn – Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới
Khách thể nghiên cứu
Các gia đình Hàn - Việt tập trung chủ yếu vào đối tượng là phụ nữ Việt Nam kết hôn với đàn ông Hàn Quốc thông qua môi giới hôn nhân
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14 Về thời gian:
Từ năm 2000 đến năm 2018
Về không gian:
Luận văn nghiên cứu trên phạm vi hai nước Việt Nam và Hàn Quốc
4 Câu hỏi nghiên cứu
Quá trình thực hiện luận văn nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thực trạng hiện nay của các gia đình Hàn - Việt kết hôn thông qua môi giới hôn nhân là gì?
Các yếu tố tác động đến hôn nhân quốc tế Hàn -Việt thông qua môi giới hôn nhân là gì?
Các gia đình Hàn -Việt kết hôn thông qua môi giới phải đối mặt những khó khăn nào?
Các cô dâu Việt Nam là nạn nhân của các tổ chức, công ty môi giới hôn nhân bất hợp pháp phải đối mặt với những vấn đề gì?
Chính phủ hai nước Việt Nam và Hàn Quốc đã đưa ra những biện pháp
gì để kiểm soát những vấn đề tiêu cực của môi giới hôn nhân Hàn - Việt và đảm bảo quyền lợi cho cô dâu Việt Nam?
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là:
Phương pháp phân tích - tổng hợp:
- Nghiên cứu và phân tích các vấn đề liên quan đến hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới bằng các tài liệu tham khảo về hôn nhân Hàn - Việt Phân tích thực trạng và tìm hiểu các yếu tố tác động của hôn nhân Hàn - Việt thông qua các công trình trình nghiên cứu từ các tác giả đi trước, các nguồn thông tin tìm kiếm được thông qua sách, bài báo, trang web; sau đó tổng hợp
và phân tích để đưa ra nhận định
- Phân tích các giải pháp của chính phủ hai nước Việt Nam và Hàn Quốc trong
nỗ lực hạn chế những vấn đề tiêu cực từ môi giới hôn nhân Hàn - Việt và
Trang 15đảm bảo quyền lợi cho cô dâu Việt Nam cưới chồng Hàn Quốc từ năm 2000 đến 2018
Phương pháp thống kê: Luận văn sử dụng các số liệu thống kê để khái quát hóa, phục vụ cho việc chứng minh nhận định của tác giả
Phương pháp so sánh: Tác giả so sánh số liệu kết hôn giữa hôn nhân quốc tế Hàn – Việt và hôn nhân quốc tế Hàn – Trung để đưa ra một số nhận định phù hợp
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn với đề tài “Hôn quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới hôn nhân giai đoạn 2000 -2018” xem xét về thực trạng, các yếu tố tác động tới hôn nhân Hàn - Việt thông qua môi giới Bên cạnh đó, luận văn sẽ tìm hiểu quá trình hoạt động làm việc của các tổ chức, công ty môi giới hôn nhân và những tác động của môi giới hôn nhân đến xã hội Đồng thời nêu ra một số giải pháp từ chính phủ hai nước trong việc kiểm soát vấn đề tiêu cực từ môi giới hôn nhân và nêu các khuyến nghị cụ thể Nghiên cứu này sẽ mang lại những hiểu biết tương đối về vấn đề kết hôn quốc
tế Hàn - Việt thông qua môi giới hôn nhân Bằng phương pháp phân tích tổng hợp phương pháp phân tích chính sách và phương pháp thống kê, luận văn khai thác được những mặt tiêu cực trong cuộc sống mà những gia đình Hàn - Việt kết hôn thông qua môi giới gặp phải Bên cạnh đó, luận văn cũng sẽ tìm ra những mặt tích cực mà môi giới hôn nhân Hàn - Việt hợp pháp đem lại cho xã hội nói chung và cá nhân từng đối tượng trong cuộc hôn nhân nói riêng
Luận văn cũng sẽ góp phần bổ sung một số hiểu biết nhất định về những giải pháp của chính phủ hai quốc gia Việt Nam, Hàn Quốc trong việc kiểm soát những vấn đề tiêu cực từ môi giới hôn nhân và vấn đề bảo vệ cô dâu Việt Nam cưới chồng Hàn Quốc tại thời điểm hiện tại
7 Cấu trúc tổng quát của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Trang 16
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN – VIỆT THÔNG QUA MÔI GIỚI HÔN NHÂN
Tập trung vào tìm hiểu tổng quan hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới với những khái niệm cơ bản Nêu ra những đối tượng chính trong hôn nhân quốc tế này và tính pháp lý của môi giới hôn nhân ở hai nước Việt Nam và Hàn Quốc
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN – VIỆT THÔNG QUA MÔI GIỚI HÔN NHÂN GIAI ĐOẠN 2000 - 2018
Nghiên cứu thực trạng của hôn nhân quốc tế Hàn – Việt trong giai đoạn 2000 – 2018 bằng các số liệu thống kê Làm rõ các yếu tố tác động và một số vấn đề phát sinh từ các cá nhân, tổ chức môi giới hôn nhân và từ các gia đình đa văn hóa Hàn – Việt
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ HAI NƯỚC VÀ MỘT
SỐ KHUYẾN NGHỊ
Tập trung phân tích một số chính sách của chính phủ hai quốc gia Việt Nam, Hàn Quốc và tác động của những chính sách đó đến hôn nhân quốc tế Hàn – Việt thông qua môi giới Bên cạnh đó, đề xuất một số khuyến nghị từ góc nhìn của tác giả
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN – VIỆT THÔNG QUA
MÔI GIỚI HÔN NHÂN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HÔN NHÂN QUỐC TẾ
1.1.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm kết hôn
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đưa ra khái niệm về kết hôn, theo đó:
“Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” [12]
Như vậy, kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn Kết hôn chính là sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quan hệ vợ chồng của hai người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ đối với nhau
1.1.1.2 Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Điều 126: Kết hôn có yếu tố nước ngoài
1 Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn
2 Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn [12]
Trên cơ sở khái niệm về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như khái niệm về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, ta có thể hiểu một cách khái quát về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài như sau: Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, trong đó một bên là công dân Việt Nam và một bên là người nước ngoài hoặc
Trang 18người nước ngoài kết hôn với nhau ở Việt Nam hoặc công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài
1.1.2 Khái quát về môi giới hôn nhân
1.1.2.1 Khái niệm môi giới hôn nhân
Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, khái niệm hôn nhân được hiểu là: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn [12] Về môi giới, Luật thương mại 2005 định nghĩa môi giới là một hoạt động trung gian thương mại, môi giới thương mại được tiến hành nhằm mục đích tạo điều kiện cho bên được môi giới bán được hàng hóa, cung ứng dịch vụ, giới thiệu, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn Đây là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng
hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới [11] Dựa theo hai định
nghĩa trên ta có thể hiểu môi giới hôn nhân là một loại hình dịch vụ, trong đó bên cung cấp dịch vụ là trung gian giới thiệu cho những bên có nhu cầu kết hôn có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu và tiến tới hôn nhân nếu phù hợp Hai bên nam nữ phải trả phí khi tham gia sử dụng dịch vụ này Môi giới hôn nhân chỉ đơn thuần như một nghề nghiệp kinh doanh với vai trò kết nối các cuộc hôn nhân trong nước hoặc quốc tế với mục đích sinh lợi Nhưng theo thời gian, môi giới hôn nhân có nhiều sự biến chất đi theo hướng tiêu cực như các bên trung gian môi giới lừa đảo về thông tin của hai bên khiến các cuộc hôn nhân có kết quả không mấy hạnh phúc hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng Chính vì điều đó, nhiều người có cái nhìn không mấy thiện cảm khi nghe cụm từ môi giới hôn nhân
1.1.2.2 Vai trò của môi giới hôn nhân
Môi giới hôn nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nên hôn nhân giữa hai bên nam nữ từ xưa đến nay Từ xưa, những người làm mai mối hay còn gọi là “ông mai bà mối” là những người được các gia đình có con cái tới tuổi kết hôn rất tin tưởng giao cho trách nhiệm giúp họ thu xếp mọi việc để tiến tới hôn nhân Chính nhờ họ, những đôi nam nữ xứng đôi vừa lứa tìm được nhau và có một cuộc hôn nhân
Trang 19viên mãn [70] Hiện nay, vai trò của môi giới hôn nhân cũng giống như vậy và nó trở thành một ngành nghề để kinh doanh Những cá nhân, tổ chức môi giới hôn nhân đóng vai trò trung gian cung cấp thông tin, giới thiệu, kết nối những người có nhu cầu kết hôn đến với nhau Với sự giúp đỡ của họ, việc kết hôn trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn, đặc biệt đối với những người có nhu cầu kết hôn quốc tế
Đối với kết hôn quốc tế, vai trò của môi giới rất quan trọng trong việc hình thành nên những cuộc hôn nhân này Đầu tiên, hôn nhân thông qua môi giới có vai trò giải quyết được nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân nói riêng và toàn xã hội nói chung đó là nhu cầu kết hôn Nam nữ ở các quốc gia vì nhiều rào cản xã hội tại quốc gia mình sinh sống mà không tìm được bạn đời cho mình thì các công ty dịch
vụ như một trung gian giúp kết nối họ lại với nhau tạo nên một tổ ấm hạnh phúc Đặc biệt ở các nước phát triển tại Châu Á nơi những người đàn ông khó lấy được vợ trong nước vì tỷ lệ mất cân bằng giới tính trong xã hội hay gặp những vấn đề về thu nhập sẽ có cơ hội kết hôn thông qua môi giới hôn nhân [32] Điều này góp phần làm tăng tỷ lệ sinh nở và giảm thiểu tỷ lệ đàn ông tới tuổi kết hôn vẫn chưa lấy được vợ trong bối cảnh nữ giới các nước này vì nhiều lí do muốn trì hoãn hôn nhân Về phía các nước đang phát triển, môi giới hôn nhân giúp những người dân tại các nước này
có cơ hội được kết hôn và sinh sống tại một đất nước mới với nền kinh tế phát triển hơn, hiện đại hơn, có cơ hội làm việc và kiếm được thêm thu nhập để trang trải cho cuộc sống Thêm vào đó, đây cũng là cơ hội để họ tìm hiểm và khám phá thêm những nét văn hóa mới Việc giao thoa giữa hai quốc gia tạo ra một gia đình đa văn hóa thông qua kết hôn quốc tế là một điểm sáng của cuộc hôn nhân
Thế nhưng bên cạnh những vai trò đó, vẫn có nhiều mặt tiêu cực được xã hội
đề cập khi nói về những cuộc hôn nhân thông qua môi giới Trước hết, việc kết hôn quốc tế thông qua môi giới tạo ra một quan niệm, một cái nhìn thiếu tôn trọng từ xã hội với các cặp vợ chồng Hàn – Việt [51] Trong xã hội, một số người vẫn còn cho rằng đàn ông cưới vợ nước ngoài đều vì họ không có khả năng lấy được vợ ở trong nước vì nhiều lý do như sức khỏe, thu nhập, v.v Còn ở chiều ngược lại, đối với phụ
nữ, họ sẽ bị gắn mác ham mê vật chất, mê giàu sang Từ đó những đứa con của
Trang 20những cặp vợ chồng luôn bị mọi người có cái nhìn soi mói, kì thị, đi học bạn bè xa lánh thậm chí là bị đánh đập, tẩy chay Thứ hai, hai vợ chồng thuộc hai đất nước khác nhau sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giáo dục con cái vì ngôn ngữ khác nhau
và nền văn hóa khác nhau, họ sẽ bị bối rối nên dạy con theo tiêu chuẩn của nước nào là phù hợp Cuối cùng, người phụ nữ cũng có nguy cơ cao bị người chồng bạo hành bởi sự không thấu hiểu từ phía chồng và gia đình chồng
1.2 KHÁI QUÁT HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN - VIỆT THÔNG QUA MÔI GIỚI
1.2.1 Hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới
Hàn Quốc và Việt Nam kí kết thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày
22-12-1992, đây là bước ngoặt đánh dấu cho sự hợp tác và phát triển tốt đẹp của hai nước trên mọi phương diện Cả hai nước sau đó đã tiến hành nhiều chuyến viếng thăm, trao đổi, hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực như kinh tế - chính trị, an ninh quốc phòng, v.v Hiện nay, theo Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc đã có khoảng 200.000 người Việt Nam sinh sống, học tập và lao động tại Hàn Quốc [69] và theo
Bộ LĐ-TB-XH năm 2020, số người Hàn Quốc lao động và sinh sống tại Việt Nam
là 27.347 người, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, v.v [65] Chính vì những mối quan hệ hợp tác mật thiết của hai nước kéo theo nhiều mối quan hệ xã hội của công dân hai quốc gia Hôn nhân quốc
tế Hàn – Việt là kết quả tất yếu cho mối quan hệ xã hội đó
Trong bối cảnh rào cản giữa hai nước ngày càng được thu hẹp cộng với nhiều yếu tố tác động từ xã hội của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, nhiều công dân Việt Nam và Hàn Quốc tìm đến với các dịch vụ môi giới hôn nhân để tìm kiếm bạn đời cho mình Hiện nay, sức mạnh của ngành công nghiệp môi giới hôn nhân quốc tế ngày một lan rộng, họ có nhiều chi nhánh ở nhiều quốc gia khác nhau giúp kết nối nhu cầu kết hôn của hai bên nam nữ Quá trình kết hôn quốc tế Hàn – Việt mang tính thương mại, được bên dịch vụ sắp xếp gần như trọn gói Quá trình này bao gồm những trang website giới thiệu các ứng viên hôn nhân ở cả hai phía, mà sự chủ động lựa chọn phần nhiều từ nam giới ở các nước phát triển hơn Sự sắp đặt này là trọn
Trang 21gói, từ giới thiệu thông tin, điều phối quá trình gặp gỡ, lựa chọn, xúc tiến các thủ tục kết hôn và xuất cảnh Hôn nhân quốc tế Hàn – Việt thông qua môi giới hôn nhân này khó có thể gọi là hôn nhân tình yêu mà là sự lựa chọn mang tính hợp lý của hai phía, cô dâu và chú rể Hôn nhân này cũng thường bị lẫn lộn giữa hôn nhân thực tế với hôn nhân giả, với xuất khẩu lao động, với buôn bán người một cách tinh vi
1.2.2 Các đối tượng trong hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới
Đối tượng chính trong hôn nhân quốc tế Hàn – Việt thông qua môi giới là phụ
nữ Việt Nam kết hôn thông qua môi giới với đàn ông Hàn Quốc Về phía nữ giới Việt Nam, phần lớn các cô gái Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc chủ yếu sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên khó tiếp cận với các nguồn thông tin từ bên ngoài, dễ gây ra những ngộ nhận về việc lấy chồng nước ngoài nói chung và lấy chồng Hàn uốc nói riêng Mục đích kết hôn của các cô gái Việt Nam phần lớn là để thoát khỏi cảnh nghèo khó, vất vả, không chỉ cho riêng mình mà còn giúp đỡ được cho cả những người thân trong gia đình Những nơi tập trung nhiều các cô dâu Việt Nam cưới chồng Hàn Quốc, ở khu vực phía Bắc là các vùng nông thôn của các tỉnh như tỉnh Nam Định, tỉnh Thái Bình, tỉnh Hải Dương, thành phố Hải Phòng, v.v Ở khu vực phía Nam tập trung nhiều nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh như tỉnh Long An, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ, v.v Đây là những nơi mà các cô gái trình độ học vấn còn thấp và sự tuyên truyền, giáo dục về hôn nhân gia đình với người nước ngoài vẫn còn thiếu chính xác và chưa đầy đủ
Bảng 1.1 Số lượng người Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc tại 10 tỉnh từ
2016
Trang 23Phía nam giới Hàn Quốc, luận văn tập trung nghiên cứu phân tích vào những nơi có số lượng đàn ông cưới vợ Việt Nam Nhiều nhất như khu vực tỉnh Gyeonggi
có 8200 cô dâu Việt, ngoài ra còn có các tỉnh Gyeongsangnam, thủ đô Seoul, tỉnh Gyeongsangbuk thành phố Busan, thành phố Incheon, v.v Những chú rể cũng chủ yếu xuất thân từ những vùng nông thôn, trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn Trong bối cảnh xã hội Hàn Quốc vào những năm 2000 thiếu hụt nữ giới trầm trọng cộng với việc nhận thức của xã hội ngày càng cao, nữ giới Hàn Quốc có nhiều cơ hội tiếp xúc với giáo dục và tham gia vào lực lượng lao động Họ
có xu hướng rời nông thôn và tới các thành phố lớn để kết hôn Có thể thấy, hoàn cảnh của hai bên nam nữ kết hôn cũng không khác nhau nhiều
Theo số liệu thống kê từ Bộ Tư Pháp Hàn Quốc, hôn nhân Hàn – Việt phát triển mạnh và có xu hướng gia tăng sau năm 2004 Đến năm 2004, số cuộc hôn nhân chỉ là 560 Tuy nhiên, năm 2005 tăng lên gần 3 lần đến 1.500, năm 2006 là 20.000, năm 2007 là 25.000 và đến cuối năm 2010 là 40.000 Đến năm 2018 số lượng lên đến hơn 39500 người [64]
Độ tuổi kết hôn giữa cô dâu và chú rể cũng có nhiều sự chênh lệch rất lớn Theo một báo cáo năm 2017, độ tuổi trung bình của đàn ông Hàn Quốc lấy vợ Việt Nam là 43.6 tuổi, trong khi đó độ tuổi trung bình của cô dâu Việt Nam khi kết hôn
là 25.2 tuổi [9] Lấy số liệu từ một nghiên cứu khảo sát của nhóm nghiên cứu từ
trường Đại học Cần Thơ năm 2012 Lấy 120 mẫu quan sát của những phụ nữ lấy chồng ở Hàn Quốc và Đài Loan tại 4 tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, Đồng Tháp thì đa số độ tuổi kết hôn của các cô gái Việt Nam với người Đài Loan cũng
như Hàn Quốc là từ 18-22 tuổi
Bảng 1.2 Độ tuổi kết hôn của phụ nữ Việt Nam với chồng Đài Loan và Hàn
Trang 24Vĩnh Long 15 12 3 30 Hậu Giang 16 12 4 30 Đồng Tháp 15 11 4 30 Tổng 65 50 15 120
Độ tuổi chênh lệch gần gấp đôi của cô dâu và chú rể đã gây ra rất nhiều khó khăn trong vấn đề hòa hợp trong cuộc sống hôn nhân của các cặp đôi Hàn – Việt cũng như cái nhìn từ xã hội Không ít người cho rằng, việc tham gia kết hôn như vậy chỉ thuần túy vì mục đích kinh tế và không phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam Bên cạnh đó, trình độ văn hóa và ngoại ngữ của các bên tham gia kết hôn thấp Từ nghiên cứu khảo sát của nhóm nghiên cứu từ trường Đại học Cần Thơ năm 2012 chỉ ra hầu hết cả phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc đều có trình độ học vấn khá thấp, chỉ ở mức trung học cơ sở, thậm chí là tiểu học hoặc mù chữ, họ thường sinh sống ở nông thôn và chỉ sử dụng được tiếng mẹ đẻ
Biểu đồ 1.1 Tình hình học vấn của cô dâu trước kết hôn [8]
Một số cô gái dù biết chút ít ngoại ngữ, nhưng khả năng giao tiếp lại rất hạn chế Vì vậy, những khó khăn trong đời sống thường nhật của các cô dâu Việt Nam
là điều khó tránh khỏi Với trình độ văn hóa thấp như vậy cũng giải thích phần nào
về việc vì sao nghề nghiệp của cả hai bên là những ngành nghề không cao trong xã
CĐ - ĐH
Trang 25hội Cụ thể, phụ nữ Việt Nam thường không có việc làm, không có nghề nghiệp ổn định (chẳng hạn như làm nội trợ) hoặc chỉ làm những nghề có thu nhập không cao như làm nông, công nhân tại các nhà máy, v.v
Lấy số liệu khảo sát từ một nhóm nghiên cứu của trường Đại học Cần Thơ năm 2015, lấy mẫu khảo sát là 100 hộ dân ở hai ở hai xã thuộc các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long là Vĩnh Long và Hậu Giang, nơi có số lượng lớn phụ nữ cưới chồng Hàn Quốc Cụ thể là ở hai xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang và xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Hình thức khảo sát
là phỏng vấn trực tiếp, đáp viên là chủ hộ hoặc người thân của các cô gái lấy chồng ngoại quốc có hiểu biết rõ và cung cấp thông tin chính xác Khảo sát tập trung tìm hiểu nghề nghiệp của các cô dâu và chú rể trước khi kết hôn và hiện nay
Bảng 1.3 Nghề nghiệp của các cô dâu và chú rể trước khi kết hôn và hiện nay
[6]
Nghề nghiệp Của cô dâu Của chú rể
Trước khi kết hôn Hiện nay Hiện nay
Trang 26Dựa và bảng 1.3 ta có thể thấy, trước khi lấy chồng đa số các cô gái với trình
độ học vấn thấp chỉ làm các nghề như công nhân ở các nhà máy hoặc làm nội trợ phụ giúp cho gia đình, ngoài ra một số người vẫn đang trong độ tuổi đến trường chưa có nghề nghiệp, một số khác làm các công việc lao động chân tay như uốn tóc, buôn bán, thuê hay làm nông dân Sau khi lấy chồng cũng với trình độ đó họ cũng chỉ có thể làm ba nghề chính là công nhân ở các nhà máy lắp ghép điện tử, xưởng
cơ khí, làm nội trợ hoặc buôn bán Những cô lấy chồng Hàn Quốc là nông dân thì còn phải giúp đỡ chồng trong việc đồng áng Về phía đàn ông Hàn Quốc thì tình trạng nghề nghiệp cũng không có gì khả quan, chủ yếu là công nhân, nông dân, hoặc buôn bán kinh doanh, hầu như không có người làm công chức hoặc nghề nghiệp ổn định Chính vì vậy, hoàn cảnh kinh tế của cả hai bên nam và nữ đều không khá giả so với điều kiện sống tại xã hội sở tại
Đa số phụ nữ kết hôn với người Hàn Quốc đều thuộc diện kết hôn lần đầu trong khi đó đàn ông Hàn Quốc thì phần lớn đã từng kết hôn và có con riêng, thậm chí có người còn bị khuyết tật Do vậy, sự thiệt thòi nghiêng rõ ràng về phía phụ nữ Việt Nam Với những khác biệt về tuổi tác, ngôn ngữ, hoàn cảnh gia đình và môi trường xã hội, có thể nói rằng những cuộc hôn nhân Hàn - Việt khó có thể có sự hòa hợp ngay từ đầu, đặc biệt là khi thông qua trung gian môi giới
1.2.3 Những yếu tố hình thành hôn nhân quốc tế Hàn - Việt thông qua môi giới
1.2.3.1 Những nguyên nhân kinh tế
Kinh tế được xem là nguyên nhân quan trọng nhất trong những cuộc hôn nhân Hàn - Việt thông qua môi giới và là nguồn gốc hình thành của cuộc hôn nhân này Trên thực tế, vấn đề về kinh tế thường hay được nêu ra trong các mối quan hệ hôn nhân môi giới đặc biệt ở giai đoạn đầu khi hai bên nam nữ muốn kết hôn, họ thường sẽ trao đổi trước với bên môi giới, sau đó bên môi giới sẽ nói về vấn đề này với cả hai bên Nếu hai bên chấp nhận về điều kiện kinh tế của nhau thì mới đi tiếp đến các giai đoạn gặp gỡ Ngoài ra, kinh tế là một trong những vấn đề thường xuyên
Trang 27được đề cập trên báo chí vì lý do các cô gái Việt chọn cưới chồng Hàn chỉ vì mong ước được đổi đời, sống trong giàu có Đó là quan điểm của rất nhiều người, kể cả một số cô gái Việt, họ cho rằng họ sẽ cưới chồng Hàn Quốc là vì điều kiện kinh tế của họ khá giả hơn so với những người đàn ông ở Việt Nam Từ trước đến nay ở Việt Nam, những người nước ngoài, đặc biệt là từ các nước có nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc thì thường sẽ được gắn mác giàu có và đảm bảo về kinh tế Chính vì vậy họ thường nghĩ đến việc kết hôn với người nước ngoài qua môi giới để đạt được lợi ích về kinh tế, vật chất như họ mong muốn [36]
Một khảo sát nhỏ của Đại học Cần Thơ 2015 góp phần chứng minh vai trò của yếu tố kinh tế là một trong những động lực chính của hôn nhân quốc tế Hàn – Việt Nhóm khảo sát đã phóng vấn trực tiếp 100 hộ ở hai xã hai xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang và xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của các cô gái Việt Nam trước khi lấy chồng Hàn Quốc
Bảng 1.4 Hoàn cảnh gia đình của các cô gái trước khi lấy chồng Hàn Quốc [6]
Giàu Khá Trung bình Cận nghèo Nghèo
1.2.3.2 Những yếu tố về văn hóa
Bên cạnh yếu tố kinh tế, yếu tố văn hóa cũng đóng một vai trò quyết định Quá trình toàn cầu hóa khiến khoảng cách giữa các nước ngày càng được rút ngắn,
Trang 28từ đó các quan điểm về giá trị và đời sống ngày càng có sự thay đổi Những rào cản
về ngôn ngữ, về màu da, về văn hóa giữa các nước đã được xóa nhòa một phần nào
đó Thật vậy, nếu vào trước những năm 2000, việc kết hôn với người nước ngoài được coi là một việc gì đó rất lạ thậm chí nhiều người còn cho rằng nó trái với thuần phong mỹ tục thì ngày nay việc đó không còn là điều bất bình thường nữa
Dư luận xã hội ở cộng đồng chuyển dần thái độ từ không tán thành sang thông cảm, một số người còn bày tỏ thái độ đồng tình đối với hiện tượng các cô gái lấy chồng Hàn Quốc Thêm nữa qua sách báo, phim ảnh, văn hoá văn minh của thế giới đã được truyền bá nhiều vào Việt Nam Chính sự giao lưu giữa các quốc gia trên thế giới, sự va chạm giữa các nền văn hóa làm thay đổi nhận thức và quan niệm về hôn nhân quốc tế Đặc biệt, khi Việt Nam và Hàn Quốc kí kết thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992, rất nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc sang đầu tư vào Việt Nam, làm cầu nối cho sự giao lưu về văn hóa Thêm vào đó, người Việt Nam xưa nay bị ảnh hưởng của Nho giáo vì vậy luôn trọng chữ “ Hiếu”, Nho giáo quan niệm người làm con luôn luôn phải biết nhớ về công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và phải biết báo hiếu với cha mẹ mới phải đạo làm con Chính vì tư tưởng này nên nhiều cô gái quyết tâm lấy chồng Hàn Quốc với mong ước sang Hàn Quốc đi làm kiếm tiền gửi về cho bố mẹ để đỡ đần khoản lo kinh tế của gia đình
Hàn Quốc và Việt Nam đều ở khu vực châu Á và đều bị ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Trung Hoa Hàn Quốc rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên và cũng có các ngày lễ Tết truyền thống như ở Việt Nam như Tết Nguyên Đán, Trung Thu, v.v Ngoài ra, người Hàn Quốc cũng rất đề cao một số tính cách nổi bật của người phụ
nữ như ngoan ngoãn, chăm chỉ, hiếu thuận với cha mẹ Vì bị ảnh hưởng bởi Nho giáo từ Trung Quốc, người Hàn cũng quan niệm rằng con gái sau khi lấy chồng thì cũng phải theo nhà chồng, Việt Nam cũng có quan niệm tương đồng như thế, thêm nữa, phụ nữ Việt Nam, nhất là những phụ nữ ở nông thôn xưa nay nổi tiếng với những đức tính cần cù chăm chỉ, lao động chịu thương chịu khó “một nắng hai sương” cực kì phù hợp với tiêu chí của các gia đình Hàn Quốc Chính những sự tương đồng về mặt văn hóa và tư tưởng như một chất xúc tác hình thành hôn nhân
Trang 29quốc tế Hàn – Việt
Các cô gái cưới chồng Hàn Quốc chủ yếu đến từ vùng Đồng bằng sông Cửu Long Đây là một trong những khu vực có các cô gái Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc nhiều nhất cả nước cũng bởi những tác động từ những yếu tố về văn hóa Trong bài nghiên cứu về tính cách văn hóa người Nam Bộ của giáo sư, tiến sĩ Trần Ngọc Thêm, ông đã nêu rằng: “Tính cách văn hóa người Việt Nam Bô ̣ là sản phẩm tổng hợp của ba nhân tố chính: truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam tiếp biến với văn hóa phương Tây trong bối cảnh tự nhiên - xã hô ̣i Nam Bô ̣” [15] Chính vì có sự giao lưu, hòa hợp giữa các nền văn hóa đã tạo nên tính cách cởi mở, phóng khoáng và tự
do của người dân Nam Bộ so với các khu vực khác, cho nên sự lựa chọn chưa chắc
là đúng nhưng họ được quyền lựa chọn, không ràng buộc nhiều bởi cộng đồng Sự giao lưu giữa các nền văn hóa tại đồng bằng sông Cửu Long là một ưu thế khiến các
cô gái Việt Nam dễ dàng thích ứng với các nền văn hóa khác nhau vì vậy khi sang Hàn Quốc họ có thể dễ dàng hòa nhập tại một đất nước mới Bên cạnh đó, đặc điểm văn hoá – xã hội vùng Đồng Bằng sông Cửu Long nổi bật là nền văn hoá mở, với sự giao thoa nhiều yếu tố văn hoá: văn hoá Ấn Độ qua người Khơme, văn hoá Trung Quốc qua người Hoa, văn hoá Hồi giáo qua người Chăm Tất cả sự đa dạng, sự khác biệt đó được hoà hợp, liên kết lại trong một nền văn hoá Việt Nam rất phong phú trên vùng đất mới, tạo nên những nét bản sắc văn hoá có nét đặc thù riêng cần được lưu giữ và phát huy [15]
Thêm vào đó, các cô dâu lấy chồng Hàn đa phần ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, xuất thân chủ yếu từ làm nghề nông, nơi mà khu vực đang có nhiều sự biến động về đất đai Hiện nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với nhiều đợt hạn mặn kéo dài, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng thiệt hại do hạn mặn gây ra tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng 39.000 ha đối với lúa vụ mùa 2019 và đông xuân 2019-2020 Hạn mặn ảnh hường trầm trọng đến nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt cho người dân và nước để canh tác, trồng trọt [62] Hệ quả làm rất nhiều người, rất nhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh lao đao, không còn đất đai để canh tác, làm ăn, họ rơi vào tình trạng sống chủ yếu bằng nghề
Trang 30làm thuê Cùng với sự hiện đại hoá, nguồn lao động dư thừa ở nông thôn tăng lên đáng kể, làm cho khu vực này có sự chênh lệch lớn về mức sống giữa nông thôn và
đô thị Bối cảnh này dẫn đến xu hướng dịch chuyển lao động từ nông thôn ra đô thị
để kiếm việc làm, đảm bảo thu nhập cho bản thân và gia đình Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, vào năm 2000, số người xuất cư lao động của Đồng bằng sông Cửu Long trong chỉ là 211 người nhưng đến năm 2012 đến 734.000 người, tăng gần 3,5 lần sau hơn một thập niên, đứng thứ hai trong tổng số người xuất cư lao động trên cả nước [70] Thêm vào đó, hoạt động môi giới ở phía Nam nở rộ trở thành một nhân tố kích thích cho việc hôn nhân quốc tế
1.3 TÍNH PHÁP LÝ CỦA MÔI GIỚI HÔN NHÂN Ở HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Môi hôn giới nhân với người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tại Việt Nam, về nguyên tắc chung, hiện nay pháp luật Việt Nam không cho phép hành vi môi giới hôn nhân Cụ thể căn cứ tại Điều 28 Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi môi giới kết hôn trái pháp luật” [1]
Nghị định 110/20013/NĐ - CP quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nêu rõ “Hoạt động hỗ trợ kết hôn theo quy định tại Nghị định này phải tuân thủ nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận Nghiêm cấm hoạt động kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn hoặc lợi dụng việc hỗ trợ kết hôn nhằm mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác” [1] Theo Điều 52 Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì pháp luật chỉ quy định thành lập Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên nguyên tắc phi lợi nhuận, quy định [2]:
Nguyên tắc hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài:
1 Hoạt động của Trung tâm phải bảo đảm nguyên tắc phi lợi nhuận, góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, phù hợp với
Trang 31nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, thuần phong mỹ tục của dân tộc
2 Các bên kết hôn có quyền được tư vấn, hỗ trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Việc tư vấn, hỗ trợ không phụ thuộc vào quốc tịch, nơi cư trú của người có yêu cầu
3 Nghiêm cấm lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác
Chính vì thế, không có một cơ sở, dịch vụ nào về môi giới hôn nhân tại Việt Nam là hợp pháp Thực tế chưa có công ty nào tại Việt Nam được cấp phép cho hoạt động môi giới hôn nhân bởi ngành nghề này ở Việt Nam không cho phép hoạt động kinh doanh Các hoạt động môi giới hôn nhân hiện nay chỉ có duy nhất trung tâm tư vấn hỗ trợ hôn nhân và gia đình của hội Phụ nữ ở các tỉnh thành thuộc Trung ương hội Phụ nữ Việt Nam được hoạt động hỗ trợ tư vấn hôn nhân
1.3.2 Môi giới hôn nhân với người nước ngoài theo quy định của pháp luật Hàn Quốc
Môi giới hôn nhân theo quy định của pháp luật Hàn Quốc là hợp pháp và đã được quy định rõ ràng Luật Môi giới hôn nhân hay còn gọi là Đạo luật quản lý môi giới hôn nhân được ban hành vào ngày 15 tháng 6 năm 2008 và tiếp tục được sửa đổi vào năm 2010 và năm 2012 [40], [44], [45] Luật này quy định rằng tất cả các dịch vụ, cơ sở môi giới hôn nhân đều phải đăng kí kinh doanh và phải được được kiểm duyệt Môi giới hôn nhân trong phạm vi Hàn Quốc hay quốc tế đều phải có bảo hiểm trách nhiệm
Luật cũng quy định rõ những cá nhân và doanh nghiệp nào được tham gia vào hoạt động môi giới hôn nhân “Những đối tượng không được tham gia bao gồm: những người có tiền án về việc buôn bán người hoặc làm giả thị thực cho người nước ngoài thì không được phép tham gia thời hạn ba năm sau khi hoàn thành việc lãnh án; người đã ngồi tù cũng không được tham gia cho đến khi hai năm sau khi hoàn thành việc lãnh án; những người vi phạm luật hôn nhân không được tham gia
Trang 32Những doanh nghiệp đã sử dụng những đối tượng trên không được tham gia; những doanh nghiệp môi giới lao động nước ngoài, dịch vụ cung cấp lao động tạm thời và dịch vụ nhập cư cho người Hàn Quốc khi sang nước nước ngoài thì không được tham gia” [40]
Ngoài ra, những cá nhân và doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh loại hình dịch vụ này cũng được yêu cầu tuân thủ đúng các quy định của Luật môi giới hôn nhân bao gồm bảo vệ thông tin của khách hàng, nghiêm cấm các hành vi quảng cáo sai lệch, trái sự thật, những hành vi phân biệt đối xử và phải có trách nhiệm đền bù nếu gây ra thiệt hại cho khách hàng Luật quy định rõ người môi giới hôn nhân có trách nhiệm giải thích hợp đồng cho khách hàng bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ Bên cạnh đó phải tiết lộ đúng sự thật các thông tin về tình trạng hôn nhân, tình trạng sức khỏe, lịch sử phạm tội liên quan đến bạo lực gia đình, lạm dụng tình dục hay lạm dụng trẻ em cho khách hàng biết Luật quản lí môi giới hôn nhân năm 2012 đã nghiêm cấm việc môi giới nhiều phụ nữ cho đàn ông cùng một lúc để loại bỏ hành
vi buôn bán người Luật cũng quy định các cá nhân hay tổ chức tham gia môi giới hôn nhân quốc tế cần tuân thủ quy định của cả Hàn Quốc và quốc gia của đối tượng muốn kết hôn sang Hàn Quốc [45]
Những doanh nghiệp về môi giới hôn nhân có giấy phép dịch vụ và đóng thuế như các doanh nghiệp kinh doanh khác Chính vì được hợp pháp hóa nên có rất nhiều nam giới Hàn Quốc tìm đến dịch vụ này để kết hôn với phụ nữ nước ngoài Ngoài ra, trong pháp luật Hàn Quốc quy định việc kết hôn không cần sự có mặt của hai bên nên cô dâu Việt chỉ cần gửi hồ sơ sang là cơ quan có thẩm quyền sẽ cho phép kết hôn [71] Sau khi kết hôn, giấy kết hôn đã được đăng ký tại Hàn Quốc được chuyển sang Việt Nam để làm thủ tục công nhận và xuất cảnh Thêm nữa, vì nhiều lí do khách quan tại Hàn Quốc như tỷ lệ sinh giảm, tỷ lệ đàn ông nông thôn không lấy được vợ tăng, phụ nữ trì hoãn hôn nhân, v.v., nên chính phủ Hàn Quốc cũng rất khuyến khích nam giới trong nước kết hôn quốc tế với phụ nữ nước ngoài Tháng 5 năm 2006, dưới thời chính quyền tổng thống Roh Muhyun, ông chủ trương xây dựng Hàn Quốc thành một xã hội đa văn hóa, đa dân tộc Những ngân sách lớn
Trang 33được đầu tư cho việc quảng bá văn hóa Hàn Quốc như mở các chương trình dạy tiếng Hàn hay các lớp dạy văn hóa Hàn Quốc để thu hút người nhập cư Với chủ trương này, chính phủ Hàn Quốc mong muốn sẽ giải quyết được các vấn đề già hóa dân số và tỉ lệ sinh thấp trong xã hội Rõ ràng với những chủ trương, chính sách từ chính phủ cùng với những điều kiện pháp lí như vậy đã vô hình trung góp phần khuyến khích hoạt động môi giới hôn nhân quốc tế hoạt động mạnh mẽ hơn và hình thành những gia đình đa văn hóa tại Hàn Quốc [20]
Tiểu kết Chương 1
Tóm lại, hôn nhân quốc tế Hàn – Việt thông qua môi giới hôn nhân được hình thành dựa trên nền tảng hợp tác hữu nghị tốt đẹp giữa hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc Sự hợp tác tốt đẹp giữa hai quốc gia kết nối công dân giữa hai nước lại với nhau, xóa bỏ nhiều rào cản để đi đến hôn nhân Hôn nhân quốc tế Hàn – Việt được hình thành dựa trên nhiều yếu tố khác nhau bao gồm những nguyên nhân về kinh tế như một động lực chính, những yếu tố về văn hóa và tư tưởng của người dân hiện nay
Trong bối cảnh xã hội đó, hoạt động môi giới hôn nhân xuất hiện như một điều tất yếu giúp các cặp đôi nam nữ có nhu cầu kết hôn ở hai quốc gia có cơ hội tìm đến được với nhau Thêm vào đó, môi giới còn giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết của xã hội hai quốc gia như vấn đề tỉ lệ sinh giảm, già hóa dân số ở Hàn Quốc hay các vấn đề về mong muốn di cư kết hôn của phụ nữ Việt Nam Theo thời gian môi giới hôn nhân cũng bộc lộ nhiều điểm tiêu cực – điều sẽ được phân tích rõ ở chương
2, ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ của hai nước cũng như thái độ của người dân khi nói về kết hôn thông qua môi giới hôn nhân Đứng trước vấn đề đó, chính phủ hai quốc gia cũng có những quy định rõ ràng về môi giới hôn nhân trong luật pháp của mỗi nước Theo đó, hôn nhân thông qua môi giới là hợp pháp ở Hàn Quốc nhưng ở Việt Nam thì không được phép kinh doanh loại hình dịch vụ này, chỉ có các trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HÔN NHÂN QUỐC TẾ HÀN – VIỆT THÔNG QUA MÔI GIỚI HÔN NHÂN GIAI ĐOẠN 2000 - 2018
2.1 THỰC TRẠNG KẾT HÔN QUỐC TẾ HÀN – VIỆT TẠI HÀN
QUỐC VÀ VIỆT NAM
2.1.1 Tại Hàn Quốc
2.1.1.1 Thực trạng nam giới Hàn Quốc lấy vợ khác quốc tịch giai đoạn 2000 - 2018
Theo số liệu từ thống kê của Cục Thống kê Quốc gia Hàn Quốc, từ năm
2000 đến năm 2018, tổng số cuộc hôn nhân quốc tế của nam giới Hàn Quốc với vợ người nước ngoài là 378.063 người
Biểu đồ 2.1 Số lượng hôn nhân quốc tế của nam giới Hàn Quốc với phụ nữ
nước ngoài giai đoạn 2000 – 2018 [58]
Theo biểu đồ 2.1, có thể thấy trong đó năm 2005 là năm với số lượng kết hôn quốc tế giữa nam giới Hàn Quốc và phụ nữ nước ngoài cao nhất với 30.719 người Trong suốt 18 năm từ năm 2000 đến năm 2018, số cuộc hôn nhân quốc tế giữa nam giới Hàn Quốc với phụ nữ đã tăng lên gấp 2.3 lần
Số lượng hôn nhân quốc tế của nam giới Hàn Quốc với
phụ nữ nước ngoài giai đoạn
2000 - 2018
Năm
Trang 35Theo số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia Hàn Quốc, tính đến năm 2018, tổng số
cô dâu người nước ngoài kết hôn với nam giới Hàn Quốc là hơn 130.000 người, trong đó số cô dâu người Việt là 39.500 người Như vậy, số cô dâu người Việt tại Hàn Quốc xếp thứ 1 chiếm 38.16% tổng số cô dâu người nước ngoài tại Hàn Quốc Xếp thứ hai sau các cô dâu người Việt Nam là các cô dâu người Trung Quốc với 31.300 người (chiếm 22%), tiếp theo là các cô dâu người từ các quốc gia khác với 14.300 người (chiếm 13%), tiếp theo là một số quốc gia như Thái Lan, Nhật Bản, Philipines, Mỹ và Campuchia Nhìn từ biểu đồ ta có thể thấy số lượng cố dâu Việt Nam chiếm nhiều nhất trong tổng số các cô dâu nước ngoài tại Hàn Quốc, số lượng
áp đảo các quốc gia còn lại
Biểu đồ 2.2 Số lượng cô dâu nước ngoài tại Hàn Quốc năm 2018 [59]
Mô hình kết hôn quốc tế giữa nam giới Hàn Quốc với phụ nữ nước ngoài đã trở nên phổ biến rất nhiều năm nay Phần lớn là kết hôn giữa đàn ông nông thôn Hàn Quốc và phụ nữ đến từ các quốc gia châu Á đang phát triển như Việt Nam, Campuchia, v.v Theo Cục Thống kê Quốc gia Hàn Quốc năm 2011, ở Hàn Quốc, gần 40% các cuộc hôn nhân của những người đàn ông nông thôn là những cuộc hôn
Nhật BảnPhilipinesMỹ
Campuchia
Trang 36nhân với người nước ngoài Tỷ lệ này cao gấp bốn lần so với tỷ lệ kết hôn với phụ
nữ trong nước (10.5%)
Đến năm 2009, kết hôn quốc tế đã mở rộng sang những người đàn ông có thu nhập thấp ở thành thị, những người đã ly dị, góa vợ và tàn tật Đã có khá nhiều trường hợp các cô dâu kết hôn với đàn ông Hàn Quốc sống ở thành thị nhưng thực
tế là hôn nhân với đàn ông thành thị so với đàn ông nông thôn là không đáng kể Nhìn chung, một số lượng lớn người đàn ông Hàn Quốc kết hôn với cô dâu Việt Nam sống ở nông thôn tương đối nghèo, lớn tuổi và không có trình độ cao Họ chỉ kiếm được 61.1% thu nhập trung bình quốc gia một tháng, trung bình là 40 tuổi và hầu hết chỉ có bằng cấp ba hoặc thấp hơn (77.7%) [33]
Bảng 2.1 Số lượng cô dâu ngoại quốc kết hôn với đàn ông nông thôn ở Hàn
Quốc [33]
Quốc gia Trường hợp Phần Trăm Năm 2005 Việt Nam 1535 53.2
Trung Quốc 984 34.1 Philippines 198 6.9 Các nước khác 168 5.8 Tổng 2885 100
Năm 2006 Việt Nam 2394 67.9
Trung Quốc 718 20.4 Philippines 170 4.8 Các nước khác 243 6.9 Tổng 3525 100
Năm 2007 Việt Nam 1353 42.7
Trung Quốc 842 26.5 Philippines 484 15.3 Các nước khác 493 15.5 Tổng 3172 100
Năm 2008 Việt Nam 1290 52.2
Trang 37Trung Quốc 673 27.2 Philippines 207 8.4 Các nước khác 302 12.2 Tổng 2472 100
Năm 2009 Việt Nam 931 46.9
Trung Quốc 523 26.3 Philipines 204 10.3 Các nước khác 29 16.5 Tổng 187 100
Hiện nay xét theo khu vực, đảo Jeju là nơi có số lượng đàn ông Hàn Quốc kết hôn với vợ ngoại quốc nhiều nhất Hàn Quốc, chiếm 12% Tiếp đến là tỉnh Nam Chungcheong 10.7%, thành phố Daejeon là 7.3% và thành phố Sejong là 4.5% Đây đều là những khu vực có tỷ lệ phụ nữ thấp và vì một số lí do khiến họ không muốn lập gia đình với đàn ông địa phương [33] Đầu tiên là sự mất cân bằng giới tính ở Hàn Quốc do những quan niệm trọng nam giới ở nước này, kéo theo hệ quả là số lượng nữ giới ngày một ít đi Chính vì vậy nữ giới Hàn Quốc có nhiều sự lựa chọn bạn đời hơn cho mình, họ sẽ mong muốn chọn những người có điều kiện tốt hơn vì vậy đàn ông ở nông thôn với trình độ học vấn thấp và điều kiện kinh tế ít ỏi sẽ khó lấy được vợ Cùng với đó là xu hướng trì hoãn kết hôn ở phụ nữ Hàn Quốc, nền kinh tế của quốc quốc gia ngày một phát triển kéo theo sự phát triển về mặt tư tưởng của người dân Phụ nữ được đối xử bình đẳng và có nhiều cơ hội phát triển trong các công việc ngoài xã hội, vì vậy họ khó chấp nhận đánh đổi sự nghiệp cho việc kết hôn và dành nhiều thời gian để chăm lo cho gia đình và dạy dỗ con cái
2.1.1.2 Thực trạng nam giới Hàn Quốc lấy vợ Việt Nam giai đoạn
2000 - 2018
Việt Nam và Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm
1992, sau gần 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc
đã có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực chính trị, kinh tế cũng như thương
Trang 38mại, đầu tư, viện trợ phát triển, du lịch, lao động Theo số liệu từ Bộ Lao động thương binh và Xã hội tính đến năm 2019, Hàn Quốc trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam với hơn 6.000 dự án, tạo việc làm cho hơn 700.000 lao
động [65] Như đã đề cập ở trên, quan hệ đối tác giữa Hàn Quốc và Việt Nam đã tạo
điều kiện cho lao động Việt Nam di chuyển đến Hàn Quốc để làm việc Tuy nhiên, lao động không phải là hình thức nhập cư duy nhất giữa Việt Nam và Hàn Quốc Chính các mối quan hệ về kinh tế giữa hai quốc gia đã kéo theo mối quan hệ về xã hội giữa người Hàn Quốc và người Việt Nam Một trong những mối quan hệ xã hội
đó chính là kết hôn quốc tế Hàn – Việt
Biểu đồ 2.3 So sánh số lượng đàn ông Hàn Quốc cưới phụ nữ nước Trung Quốc
và Việt Nam giai đoạn 2000 -2018 [33]
Theo Cục Thống kê Quốc gia Hàn Quốc, hôn nhân quốc tế Hàn – Việt đã tăng lên một cách đáng kể trong suốt mười tám năm Tại Hàn Quốc, số lượng kết hôn của đàn ông Hàn Quốc với phụ nữ Việt Nam đã tăng lên hơn 100 lần từ khoảng giữa năm 2000 đến năm 2010 là từ 77 đến 9623 Mặc dù, số lượng cô dâu người Trung Quốc là đông nhất ở Hàn nhưng số lượng này đã bị giảm thiểu từ giữa những năm 2000 Vào năm 2010, số lượng phụ nữ Việt Nam trở thành đông nhất trong nhóm những nước có phụ nữ kết hôn với đàn ông Hàn Quốc và trở nên ngang bằng với Trung Quốc Đến năm 2011, lần đầu tiên số lượng phụ nữ Việt Nam cưới chồng
So sánh số lượng đàn ông Hàn Quốc cưới phụ nữ
nước Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn
2000 -2018
Trung Quốc Việt Nam
Trang 39Hàn Quốc với 7636 người vượt qua Trung Quốc với 7549 người
2.1.2 Tại Việt Nam
2.1.2.1 Thực trạng nữ giới Việt Nam lấy chồng khác quốc tịch giai đoạn 2000 - 2018
Thực trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng khác quốc tịch hay còn gọi là hôn nhân quốc tế đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước Trong thời kỳ thuộc địa và chiến tranh Việt Nam, có những phụ nữ Việt Nam kết hôn với người châu Âu và người
Mỹ Tuy nhiên, xu hướng hôn nhân quốc tế của phụ nữ Việt Nam đã tăng lên trong thời kì hiện đại, đất nước bước vào giai đoạn hội nhập toàn cầu Kể từ những năm
1990, ngày càng có nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn quốc tế và định cư ở nước ngoài với chồng Một vài trong số họ đã kết hôn với những người đàn ông Việt Kiều ở phương tây và phải đối mặt với nhiều vấn đề hôn nhân của người di cư Còn lại hầu hết là kết hôn với những người ở các nước châu Á như người Hàn Quốc, người người Đài Loan, người Hồng Kông, v.v
Bảng 2.2 Số người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài qua nhiều năm theo
Trang 40Theo Bảng 2.2, hầu hết những công dân Việt Nam tham gia hôn nhân quốc
tế là phụ nữ Việt Nam, chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới rất nhiều lần Cao nhất là vào năm 2008 với 20181 người và thấp nhất là vào năm 2014 với 15174 người
Bảng 2.3 Số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn quốc tế với một số nước [48, tr25]
Năm Tổng Trung
Quốc
Hàn Quốc Mỹ Các
nước khác
Bảng 2.3 thể hiên số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn quốc tế với các nước gồm Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan), Hàn Quốc, Mỹ và một số nước khác Vào những năm 90 của thế kỷ 20, có rất nhiều phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với đàn ông Hàn Quốc và Đài Loan Khoảng 110.000 phụ nữ người Việt Nam đã kết hôn tại Đài Loan và 25.000 kết hôn tại Hàn Quốc Số lượng đàn ông ngoại quốc kết hôn với phụ nữ Việt Nam đông nhất là người Đài Loan, nhưng số lượng này đã bị suy giảm vào giữa những năm 2000 của thế kỷ 21 Theo bảng 2.3 kể từ năm 2008, số lượng kết hôn giữa công dân Việt Nam và Hàn Quốc mỗi năm đều tăng và vượt số lượng kết hôn giữa công dân Đài Loan và Việt Nam Cao nhất vào năm 2010 với 8425 người đã kết hôn với công dân Hàn Quốc Lý giải cho sự sụt giảm về tỷ lệ kết hôn