1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp nghệ thuật của thơ lưu quang vũ luận văn thạc sỹ ngữ văn

137 837 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp nghệ thuật của thơ Lưu Quang Vũ luận văn thạc sỹ ngữ văn
Tác giả Lê Thị Lan
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 541 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ tập thơ đầu tiên in năm 1968 cho đến những vần thơ “viển vôngcay đắng u buồn” viết trong những năm chiến tranh, cho đến khi cả gia tàihàng trăm bài thơ của ông được công bố vào n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR

Ư ỜNG Đ ẠI HỌC VINH

LÊ THỊ LAN

ĐÓNG GÓP NGHỆ THUẬT CỦA THƠ LƯU QUANG VŨ

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC

MÃ SỐ : 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HỒ QUANG

VINH - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng nghiên cứu 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc luận văn 11

Chương 1 Lưu Quang vũ - một gương mặt nổi bật của thế hệ nhà thơ chống Mỹ 12

1.1 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ của thơ Việt Nam thời chống Mỹ ……….12

1.2 Đặc điểm của thơ Việt Nam giai đoạn chống Mỹ 15

1.2.1 Sự chi phối của khuynh hướng sử thi trong nền thơ chống Mỹ 15

1.2.2 Những “cựa quậy”, tìm tòi trong thơ Việt Nam nhằm tách khỏi “dàn đồng ca” sử thi và hệ quả của nó 18

1.3 Lưu Quang Vũ - một gương mặt đặc biệt của thế hệ nhà thơ chống Mỹ 29 1.3.1 Nhìn chung về diện mạo, đặc điểm và hành trình thơ Lưu Quang Vũ 29

1.3.2 Nguyên nhân chính tạo nên diện mạo thơ Lưu Quang Vũ 33

Chương 2 Đóng góp của cái nhìn nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ 42

2.1 Khái niệm cái nhìn nghệ thuật 42

2.2 Đặc điểm cái nhìn nghệ thuật của thơ Lưu Quang Vũ 44

2.2.1 Cái nhìn mang tính “phi sử thi” về chiến tranh, lịch sử, dân tộc 44

2.2.2 Cái nhìn về con người từ góc độ thế sự, đời tư 65

2.3 Nét mới trong cái nhìn nghệ thuật của Lưu Quang Vũ 86

Trang 3

Chương 3 Đóng góp về hình thức nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ 91

3.1 Ngôn ngữ, hình ảnh, bút pháp trong thơ Lưu Quang Vũ 91

3.1.1 Hình ảnh gợi cảm, giàu ấn tượng tạo hình 91

3.1.2 Ngôn ngữ kết hợp linh hoạt giữa tả thực và tượng trưng 99

3.1.3 Sự xuất hiện đậm đặc các yếu tố tượng trưng, siêu thực - một nét độc đáo trong bút pháp Lưu Quang Vũ 103

3.2 Kết cấu thơ Lưu Quang Vũ .108

3.2.1 Kết cấu theo “dòng chảy” tự nhiên của tâm trạng, cảm xúc 108

3.2.2 Kết cấu theo mạch liên tưởng, tưởng tượng phóng túng .112

3.2.3 Xu hướng “trường ca hóa” trong thơ Lưu Quang Vũ 116

3.3 Sự đa dạng giọng điệu trong thơ Lưu Quang Vũ 118

3.3.1 Giọng tin yêu, trong sáng 118

3.3.2 Giọng khắc khoải, trầm thống 122

3.3.3 Giọng đắm đuối, thiết tha 125

KẾT LUẬN 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hơn 20 năm đã trôi qua kể từ ngày Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ

ra đi nhưng sự tiếc thương của làng thơ Việt Nam đối với họ vẫn vô cùngnhức nhối Những cống hiến trong văn học nghệ thuật của họ đã được nhànước ghi nhận bằng những giải thưởng quý giá Tuy nhiên món quà lớn nhấtdành cho họ lại chính là dấu ấn mà họ đã để lại trong lòng khán giả, độc giả,những người đã từng xem kịch Lưu Quang Vũ, đã từng đọc văn và yêu thơcủa đôi vợ chồng tài hoa này

1.2 Lưu Quang Vũ là một tác giả đa tài và từng thành công trên nhiềuthể loại: kịch, thơ, truyện, ngắn, phê bình sân khấu Ông mất đi khi đang ởtrên đỉnh cao của sự nghiệp sáng tác với tư cách là nhà biên kịch Với hơn 50

vở kịch được công chúng đón chào nồng nhiệt, thời bấy giờ ông được giớiphê bình nhận định chính là Molie của Việt Nam Nhưng ở độ lùi thời gianchúng ta lại nhớ và nhắc nhiều đến Lưu Quang Vũ với tư cách một nhà thơ.Những ai yêu thơ đều hiểu thơ chính là hồn cốt thâm hậu nhất của con ngườinày Ngay từ tập thơ đầu tiên in năm 1968 cho đến những vần thơ “viển vôngcay đắng u buồn” viết trong những năm chiến tranh, cho đến khi cả gia tàihàng trăm bài thơ của ông được công bố vào năm 1988, thành tuyển tập thơ

Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi năm 2010, các nhà phê

bình văn học đã tìm thấy ở tác giả này sự quyến rũ của một hồn thơ nồng nànđắm đuối mà chân thành giản dị Trong dòng chung của thơ ca kháng chiếnchống Mỹ, Lưu Quang Vũ có một giọng điệu riêng, được định hình từ một thipháp thơ rõ nét Giữa dàn đồng ca của những tiếng thơ cùng thế hệ, LưuQuang Vũ đã góp một tiếng thơ sôi nổi, tươi mới, mát lành, có ý nghĩa tíchcực đối với sự phát triển và đổi mới của thơ ca thời kỳ này Vượt lên trên

Trang 5

cảnh ngộ của bản thân, những đau xót, cô đơn, lầm lỡ, Lưu Quang Vũ lặng lẽ

và bền bỉ sáng tạo như một sự kí thác lòng tin yêu cuộc đời theo cách củariêng ông Lưu Quang Vũ đã có một giọng điệu riêng giàu sức ám ảnh, mộtthế giới nghệ thuật khá đặc sắc, trong đó có những câu thơ, bài thơ “không thể

có gì thay thế được” trong lòng người yêu thơ

1.3 Thơ Lưu Quang Vũ do đó đã được giới nghiên cứu nhiều, nhữngđóng góp nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ cũng được nhìn nhận đã lâu Tuynhiên về việc khẳng định những đóng góp nghệ thuật của thơ ông trong làngthơ Việt Nam thì chưa toàn diện

Chọn đề tài Đóng góp nghệ thuật của thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi

mong muốn được đưa ra một cái nhìn trọn vẹn hơn, có hệ thống hơn về gươngmặt nhà thơ tài hoa này trên bình diện thi pháp, để thêm một lần nữa khẳngđịnh ông như một cá tính thơ mạnh mẽ, một nhà thơ tài hoa bên cạnh tư cách

là nhà soạn kịch nổi tiếng đã hiển nhiên được công nhận từ trước

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Sự ra đi đột ngột của gia đình nghệ sĩ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ đãgây nên một nỗi bàng hoàng, thương tiếc vô hạn của giới văn nghệ và của độcgiả Sự đau xót, cảm thương cho số phận nghiệt ngã của hai tài năng bẩm sinhnày giống như một sự thôi thúc, khiến người ta thấy cần phải đọc lại, nhìnnhận, đánh giá lại những gì mà họ gửi lại cho cuộc đời Những tác phẩm kịchcủa Lưu Quang Vũ ngay lập tức là sự chú ý của công chúng và liên tục đượcdựng, được diễn Những tác phẩm thơ của ông được công bố thêm Những bàiviết về ông cũng ngày một nhiều hơn trên các báo và được tập hợp thành sách.Điều đáng chú ý là bên cạnh việc khẳng định những thành tựu của Lưu Quang

Vũ - nhà viết kịch, chân dung ông với tư cách nhà thơ đã được dựng lại ngàycàng sắc nét hơn

Trang 6

Hầu hết những bài viết về ông đều có một nội dung khá chụm Đó làviệc khẳng định và dự báo về vai trò của thơ Lưu Quang Vũ với toàn bộ sựnghiệp của ông và với thơ ca chống Mỹ nói chung Các nhà phê bình đềukhẳng định Lưu Quang Vũ trước hết và trên hết với tư cách là một nhà thơ tàihoa.

Ngay khi những bài thơ đầu tay của ông được đăng thì lập tức Hoài

Thanh - tác giả của Thi nhân Việt Nam đã nhiệt tình khẳng định Lưu Quang

Vũ là “một cây bút trẻ có nhiều triển vọng”, “đúng nó là vàng thật, đúng nó làthơ” [25; 106]

Còn Anh Ngọc thì nói: “Có người khẳng định vinh quang chính củaanh là ở kịch, nhưng riêng tôi, tôi vẫn cho rằng Vũ là một nhà thơ nhiều hơn

và anh sẽ tồn tại với mai sau như một nhà thơ” [25; 85]

Phạm Tiến Duật cũng có những đánh giá tương tự: “Mặt còn tiềm tàngnhất trong anh là thơ [25; 188] “Phần tâm huyết nhất mà Lưu Quang Vũcảm thấy luôn mắc nợ cuộc đời là thơ” [24; 56]…

Còn có thể ghi nhận ý kiến mà Nguyễn Thị Minh Thái nêu ra trong bài

viết Thơ tình Lưu Quang Vũ Tác giả này cho rằng: “Thơ - với Lưu Quang Vũ

là tất cả sự hàm ơn và trang trải riêng của tâm hồn chàng với đời sống”, “thơ

là những gì để lại tinh túy nhất” Cảm nhận của chị về thơ của Lưu Quang Vũdường như đã thăng hoa khi chị nói rằng: “Đi suốt chiều dài một đời thơ LưuQuang Vũ, tôi có cảm giác như vào một kho báu Ở những câu thơ ta nhặt vôtình nhất cũng óng ánh một vẻ đẹp riêng, không hiểu sao chỉ có ở thơ LưuQuang Vũ - một vẻ đẹp trong vắt của tài năng thi ca” [35; 87]

Với Huỳnh Như Phương: “Lưu Quang Vũ thực sự là một nhà thơ củatuổi trẻ, một tuổi trẻ luôn băn khoăn, dằn vặt, tra vấn về cuộc đời và tự tra vấnchính lòng mình” [25; 65] Với Anh Ngọc, chỉ chiếm phân nửa trong tập

Hương cây - Bếp lửa cũng đủ để Lưu Quang Vũ “có một vị trí vững vàng, bởi

Trang 7

một hồn thơ dào dạt, một tài thơ sắc sảo với vẻ hồn nhiên đến như là ngẫuhứng, với mạch nguồn hình ảnh và từ ngữ đầy trực cảm và đột biến tuôn radườngnhư bất tận” [24; 102].

Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận thơ Lưu Quang Vũ ở những góc độ nộidung lớn trong thơ ông Riêng về những đóng góp của thơ Lưu Quang Vũ đốivới nền thơ đương thời cũng tiếp tục được đánh giá Năm 2008, nhân kỷ niệm

20 năm ngày mất của Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, cuốn Di cảo Nhật ký

-Thơ của Lưu Quang Vũ đã được Lưu Khánh -Thơ biên soạn và công bố một

phần lớn những tác phẩm cũng như bút tích của ông Đáng chú ý là 34 bài thơ

Những bông hoa không chết, là phần thơ viết trong khoảng 5 năm (1971

-1975), một thời kỳ “gian khó cô đơn đến cùng cực” của Lưu Quang Vũ mà ítngười biết tới Những bài thơ này khi ra đời, bản thân nó đã tự tách thành mộtdòng riêng, không thực sự hợp với những đòi hỏi của sách báo ngày đó nênkhông được in ấn, xuất bản Chính những bài thơ này gợi mở một diện mạothơ khác của Lưu Quang Vũ mà khiến cho Anh Chi phải thốt lên: “Cá nhântôi coi anh là một tài năng khá đặc biệt của văn chương Việt Nam nửa sau thế

kỷ XX Do cách anh đi trên đường đời, đường thơ thật khác biệt so với bạnthơ cùng trang lứa, cùng thời nên anh là một số phận thơ khác biệt hẳn ra, cóthể coi là cá biệt” “một giọmgthơ dễ xâm chiếm lòng người”, một tiếng thơ

có “đủ mộng ước, khổ đau và cái đẹp”, một tứ thơ “say đắm, nhiều nước mắt

và cũng thật nồng nàn” [44; 340]

Trong bài viết của Ngô Thảo - Nhớ về Lưu Quang Vũ - những khoảnh

khắc chợt hiện, cũng có những người nhận định rất khái quát về tác phẩm của

Lưu Quang Vũ, bao gồm cả kịch, thơ, văn xuôi rất thú vị, có tính bao quátlớn: “Hai mươi năm chưa phải là dài, nhưng đất nước và thế giới đã có nhiềubiến động về chính trị, xã hội, khiến cho nhiều thước đo giá trị thay đổi Tuynhiên nhiều tác phẩm của Lưu Quang Vũ không sợ những thước đo mới mẻ:

“thấm đượm nhân văn, hướng thiện, đầy tình yêu với cuộc sống, con người,

Trang 8

đất nước, luôn là những giá trị được nghệ thuật tôn trọng”” [44; 352] Cũng

có thể xem đây là những đóng góp của thơ Lưu Quang Vũ cho nền thơ ViệtNam đương thời

Cảm hứng dân tộc là một cảm hứng xuyên suốt, bền chắc trong thơ LưuQuang Vũ và ông có nhiều đóng góp riêng Vũ Quần Phương chỉ ra cái đặcbiệt của cảm hứng dân tộc trong thơ Lưu Quang Vũ, “ in đậm phong cách củaanh là ở chỗ anh quan tâm đến vẻ hùng vĩ của đất đai, vẻ đẹp óng ánh củangôn ngữ, đời sống trận mạc - gian lao của người dân Lưu Quang Vũ còn yêuthương và ngợi ca nhân cách dân tộc, ngợi ca tầm vóc vĩ đại và sự hi sinh cao

cả của người dân” [55; 366]

Phạm Xuân Nguyên đi tìm cái riêng của Lưu Quang Vũ giữa “dàn đồng

ca ca ngợi đất nước thời trận mạc Lưu Quang Vũ nhìn chiến tranh từ góc độkhông tô vẽ, không lý tưởng hóa Tâm hồn thi sĩ của anh rất nhạy cảm với đấtnước đau thương, thấm đẫm mồ hôi và máu Anh vật vã, đau đớn lo ngại chođất nước đói nghèo cơ cực trong cuộc chiến tranh dai dẳng Từ đó nhà thơ xácđịnh con đường đi của riêng mình: chối bỏ những chữ ngọt ngào lộng lẫy, đểlựa chọn “những chữ lấm lem đứng dậy từ đời thực” [22]

Về mặt hình thức, yếu tố được nói khá nhiều trong thơ Lưu Quang Vũ

là giọng điệu Hoài Thanh nhận thấy: “Câu thơ Lưu Quang Vũ thường ngọtngào hiền hậu”, “ngọt lịm” [25; 106] Anh Ngọc có hàng loạt nhận xét: “Hồnthơ tràn đầy mẫn cảm, đằm thắm đến ngọt lịm”, “một thứ nhạc điệu du dương

êm ái đặc biệt”, “sức chảy ào ạt của dòng tình cảm đã phá vỡ mọi khuôn khổ

và khiến thơ anh có sức lôi cuốn mạnh mẽ” [25; 184] Anh Chi thì có nhậnđịnh khái quát hơn: “Chúng tôi suy nghĩ rằng sau trào lưu thơ mới, rất lâu mớilại thấy một giọng thơ dễ xâm chiếm lòng người đến vậy Lưu Quang Vũ sayđắm một cách tự nhiên, viết như không” [ ] Có lẽ sau thơ mới, từ năm 1945trở đi, nhất là sau năm 1954, thơ ta trở nên tỉnh táo, càng ngày càng tỉnh táo

Trang 9

Ngoại trừ một số bài thơ của Hữu Loan, Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi còn

có những câu say đắm, mà chỉ ở giai đoạn trước năm 1955 Các nhà thơ hầunhư thiên hẳn về thứ thơ khỏe khoắn, dễ hiểu, hợp với đề tài công nông binh

Do vậy khi Lưu Quang Vũ xuất hiện với giọng thơ đắm đuối, đẹp như mộng,lập tức người đọc yêu mến, vồ vập” [44; 329]

Vũ Quần Phương, Lưu Khánh Thơ, Bích Thu cũng dùng từ “đắm đuối”

để nói về giọng điệu thơ Lưu Quang Vũ

Các nhà phê bình còn rất chú ý đến những biểu tượng của thế giới nghệthuật trong thơ Lưu Quang Vũ Trong một bài viết khá công phu mang tên

Lưu Quang Vũ tâm hồn trở gió, tác giả Phạm Xuân Nguyên phát hiện “gió”

là biểu tượng biểu trưng cho toàn bộ thế giới thơ Lưu Quang Vũ, làm nên bảnsắc riêng của thế giới nghệ thuật ấy Gió biểu thị cho sự luôn vươn lên, khôngyên ổn trong những cái mực thước, khuôn phép, vừa phải, lưng chừng Mạnh

mẽ, mãnh liệt như gió, cảm hứng mạnh nhất trong thơ Lưu Quang Vũ là cảmhứng khai phá, kiếm tìm, là cảm hứng sự thật Chính vì vậy, viết về đất nước,

về cuộc chiến tranh hay tình yêu, Lưu Quang Vũ đều có tiếng nói riêng biệttài hoa của mình Phạm Xuân Nguyên đã dựng được chân dung tinh thần củanhân vật trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ: mạnh mẽ, phóng khoáng, đầy khátvọng và bản lĩnh sáng tạo, là người “nổi gió sớm trong thơ như về sau nổi gióđầu trong kịch” [22]

Phan Trọng Thưởng chú ý đến những biểu tượng “bầy ong” và cho

rằng nó giống như hình bóng của tác giả: “Hình như anh cảm thấy có một sựđồng thân, đồng phận nào đấy giữa mình với con ong: sự cần mẫn, lam lũ, ýthức chắt chiu tìm kiếm, nhỏ nhoi, giản dị” [48]

Vương Trí Nhàn tìm thấy một biểu tượng khác gắn với rất nhiều câu

thơ, bài thơ tài hoa của Lưu Quang Vũ: “mưa” Tác giả này nhận thấy:

“Trong các thi sĩ đương thời Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với

Trang 10

mưa hơn ai hết Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian mà con ngườithấy bất lực, không sao níu kéo nổi Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa vàtương lai trở nên lờ mờ không xác định” [22; 128].

Như vậy các nhà phê bình đã phát hiện thấy những biểu tượng giàu sứcbiểu cảm - in dấu phong cách của riêng Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ đã sống trong lòng bạn yêu thơ với những bài thơ, câuthơ “không thể thay thế”, da diết, ám ảnh Cùng với thời gian, cùng với việcthơ Lưu Quang Vũ được công bố rộng rãi, thơ ông ngày càng được khẳngđịnh, yêu thích Các tác giả phê bình đã tiếp cận thơ Lưu Quang Vũ với cácgóc độ: cái độc đáo của từng chặng thơ trong đời ông; những đề tài lớn: tìnhyêu, dân tộc, nhân dân, những vần thơ gửi mẹ, giọng điệu thơ buồn, đắmđuối, ngọt ngào; sức ám ảnh mê hoặc của hồn thơ, của tài năng thi ca trongvắt, tự nhiên mà không một sự dụng công nào có được; hệ thống biểu tượng;riêng từng bài thơ đặc sắc… Ở mỗi nội dung lớn của thơ Lưu Quang Vũ, cáctác giả chỉ ra được những nét riêng không dễ lẫn với các giọng thơ khác cùngthời Rõ ràng, đã định hình một phong cách Lưu Quang Vũ trong thơ, nói nhưAnh Ngọc là “đã có một giọng điệu riêng, đã ổn định một bản sắc thơ nhấtquán”

Trên đây là một số những phương diện tiêu biểu, tập trung nhất mà cácnhà nghiên cứu, phê bình văn học thường hay đề cập đến khi viết về thơ LưuQuang Vũ Bên cạnh đó, còn rải rác những ý kiến, những phát hiện khác nhautùy thuộc vào góc độ soi chiếu của từng tác giả về thơ Lưu Quang Vũ Tuynhiên cũng có thể thấy rằng việc nghiên cứu những đóng góp nghệ thuật củathơ ông chưa phải là những công trình nghiên cứu mang tính thống kê tổnghợp thực sự để chứng minh thơ của nhà thơ này với một bản sắc thơ riêngbiệt Chúng tôi nhận thấy các bài viết, các ý kiến trên thực sự là những gợi mởhết sức quý báu, có giá trị to lớn cho hướng khai thác và xây dựng luận văn

Đóng góp nghệ thuật của thơ Lưu Quang Vũ.

Trang 11

3 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài của luận văn đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luậnvăn chính là những đóng góp nghệ thuật của thơ Lưu Quang Vũ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này luận văn đặt ra những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu thơ Lưu Quang Vũ trong bối cảnh thơ Việt Nam giai đoạnchống Mỹ

- Khẳng định được những đóng góp của cái nhìn nghệ thuật trong thơLưu Quang Vũ

- Khẳng định được những đóng góp của hình thức nghệ thuật trong thơLưu Quang Vũ

4.2 Phạm vi văn bản khảo sát

Luận văn tập trung nghiên cứu xuyên suốt toàn bộ đường thơ hơn 20năm (trước và sau 1975) của tác giả Lưu Quang Vũ Những thống kê chủ yếu

được sử dụng trong tập Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất nước

tôi, Nxb Hội Nhà văn, 2010) Khi cần thiết chúng tôi có tiến hành đối chiếu,

so sánh với các văn bản đã được công bố từ trước (kể từ tập đầu tiên Hương

cây - Bếp lửa (in chung với Bằng Việt - Nxb Văn học 1968) cho đến những

tập được tái bản sau này

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân loại, thống kê

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

6 Đóng góp của luận văn

Trang 12

Luận văn đưa ra cái nhìn tương đối sáng rõ và hệ thống về những đónggóp nghệ thuật của thơ Lưu Quang Vũ.

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận vănđược trình bày trong 3 chương

Chương 1 Lưu Quang Vũ - một gương mặt nổi bật của thế hệ nhà thơ

chống Mỹ

Chương 2.Đóng góp của cái nhìn nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ

Chương 3 Đóng góp của hình thức nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ

Trang 13

Chương 1 LƯU QUANG VŨ - MỘT GƯƠNG MẶT NỔI BẬT

CỦA THẾ HỆ NHÀ THƠ CHỐNG MỸ

1.1 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ của thơ Việt Nam thời chống Mỹ

Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù Ở mỗi giai đoạn lịch sử

xã hội khác nhau thì nó có những nhiệm vụ khác nhau Là một bộ phận quantrọng của văn học, thơ Việt Nam thời chống Mỹ cũng nằm trong quy luật ấy

Trước hết cần khẳng định thơ thời chống Mỹ của ta chịu sự chi phốicủa một hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt Sau năm 1954, hiệp định Giơnevơ bị

cố tình phá hoại, đế quốc Mỹ can thiệp xâm lược Việt Nam, chiếm đóng ởmiền Nam nước ta Đặc biệt, từ sau ngày mồng 5 tháng 8 năm 1964, chúngtrắng trợn bành trướng ra cả miền Bắc, cả nước cùng bước vào cuộc khángchiến chống Mỹ vô cùng khó khăn, khắc nghiệt Đảng chỉ đạo cuộc khángchiến với tinh thần “tất cả chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược, bảo về quyềnđộc lập tự do cho Tổ quốc”

Dưới đường lối chỉ đạo của Đảng, văn học nghệ thuật nói chung và nềnthơ nói riêng cũng hòa mình vào cuộc chiến Thực ra, vấn đề nhiệm vụ của vănchương với đời sống kháng chiến đã được Đảng xác định rõ ràng trong Đại hộivăn hóa toàn quốc họp từ năm 1948 Đảng chỉ ra rằng, trong giai đoạn mà cảdân tộc ra trận giết giặc thì văn chương cũng phải đóng vai trò là một mặt trận,phải tồn tại như một thứ vũ khí đánh giặc bằng ngôn ngữ, cổ vũ tinh thần yêunước căm thù giặc, tinh thần chiến đấu bằng thứ vũ khí đó Tức là để kết thànhmột làn sóng yêu nước vô cùng rộng rãi trong quần chúng nhân dân, khángchiến cần nhờ đến văn chương và trao nhiệm vụ cổ động, tuyên truyền cho nó

Vốn dĩ chức năng của văn học là phản ánh đời sống, người nghệ sĩ phải

là thư ký trung thành của thời đại Tuy nhiên, không nên đồng nhất văn

Trang 14

chương nghệ thuật với lịch sử Nó là nghệ thuật nên sẽ ghi lại lịch sử, đờisống văn hóa xã hội một cách nghệ thuật Do vậy văn chương không sao chépđời sống Hiện thực điển hình sẽ thẩm thấu qua lăng kính của người nghệ sĩ,được anh ta cảm nhận bằng cách riêng, phản ánh bằng cách riêng, và đề xuấthướng giải quyết những hiện thực đó Từ chức năng phản ánh đời sống củavăn chương, kéo theo chức năng dự báo của loại hình nghệ thuật này.

Quay trở lại với chức năng của thơ ca thời chống Mỹ, nó cũng bị chiphối bởi quan niệm thẩm mĩ chung của thời đại Thơ phải là một thứ vũ khígiết giặc bằng ngôn từ Thơ ca là chiến trường và nhà thơ là người chiến sĩ:

Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền

cứ vần thơ buồn bã, riêng tư nào ra đời cũng bị coi là lạc điệu, bị thời đại tẩychay như một đứa con rơi, còn chủ nhân của những vần thơ ấy sẽ bị coi là

“có vấn đề”

Suy cho cùng những tuyên ngôn về thơ kể trên đã chỉ ra hướng đi chovăn nghệ sĩ mà trực tiếp hơn cả là những nhà thơ Mỗi người trong số họ đềunhận ra mình phải sống và sáng tác như thế nào Chỉ cần sáng tác và hoànthành sứ mệnh của thơ ca như thời đại yêu cầu thì nhà thơ đã là một chiến sĩ

Trang 15

chống Mỹ Lưu Quang Vũ có những quan niệm riêng về chức năng của thơ ca.Những vần thơ của ông đi ngược lại quan niệm thẩm mĩ chung và tạo nên một

cá tính thơ gây nhiều sự chú ý ngược chiều

Chiến tranh kết thúc vào mùa xuân năm 1975 đã mở ra kỷ nguyên mớicho lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do Không còn cảnh nô lệ lầmthan, toàn thể dân tộc ngập tràn trong niềm vui giải phóng và được làm chủđất nước, làm chủ cuộc đời Tuy nhiên, niềm vui đó diễn ra chưa được bao lâuthì nỗi buồn lại kéo đến Đó là đời sống hậu chiến với biết bao khó khăn.Khung cảnh đất nước những ngày đầu hòa bình vẫn là những thảm cảnh đổnát, nghèo đói Miếng cơm manh áo của người dân trở thành vấn đề bức thiếthơn bao giờ hết

Cũng trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, bản chất con người bị đưa ra thửthách ghê gớm Vì chuyện mưu sinh đôi khi người ta phải bỏ qua lý tưởngsống cao đẹp, nhiều cá nhân đã nghĩ tới chuyện bỏ túi riêng làm giàu cho bảnnhân mình Miếng ăn khiến con người bộc lộ những mặt xấu, những ganhghét, đố kỵ, tư lợi một cách dễ dàng

Về bối cảnh thẩm mĩ, giai đoạn từ sau giải phóng đến trước đổi mớivẫn mang một số nét tương đồng với giai đoạn trước đó Xuất phát từ bốicảnh đất nước còn nhiều kẻ thù bên trong và bên ngoài nhòm ngó, Đảng chỉđạo thơ ca phải tuyên truyền tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc, phảicủng cố chế độ xã hội chủ nghĩa ở buổi đầu độc lập Đề tài mà thơ ca hướngtới phải đáp ứng được yêu cầu đó, phải nói về những mặt tốt đẹp của chế độ

xã hội mới Giọng thơ cũng phải là giọng cổ động tuyên truyền, là giọng ngợi

ca, tin tưởng Bất kỳ một thái độ khác lạ nào đi ngược với những quy phạmthẩm mĩ đã đề ra cũng bị đưa ra phanh phui mổ xẻ, bị coi là có thái độ coithường chế độ, và bị kỷ luật, tẩy chay

Trang 16

Sự chi phối bởi bối cảnh lịch sử thẩm mĩ này vô tình che đi mặt tối củađời sống hậu chiến, những thảm họa đói nghèo, những sự tha hóa về nhâncách con người và ở một số cán bộ lãnh đạo, những hạn chế khuyết điểmtrong các tổ chức Đa số các nhà thơ bị đắm mình vào chiến thắng đã đi quanên chưa kịp nhận ra những sự thật nóng bỏng của đời sống.

Lưu Quang Vũ là một trường hợp khác Một phần do hoàn cảnh cánhân, và một phần khác do cá tính nên ông viết rất thẳng, vào những mảng tốikia, để khiến con người có thể nhìn thấy những gì đang tồn tại bên cạnh hàoquang chiến thắng Thậm chí, những mặt tối của đời sống hậu chiến đã đượcnhà thơ trẻ tuổi sớm dự báo từ khi cuộc chiến bảo vệ dân tộc chưa kết thúc

1.2 Đặc điểm của thơ Việt Nam giai đoạn chống Mỹ

1.2.1 Sự chi phối của khuynh hướng sử thi trong nền thơ chống Mỹ

Cảm hứng sử thi là loại cảm hứng ca ngợi đất nước trong tiến trình lịch

sử, thường xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử nóng bỏng của dân tộc Nó

đề cập tới những chủ đề lớn của thời đại, như chiến tranh, Tổ quốc và nhândân

Thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ bị chi phối bởi khuynh hướng này làmột tất yếu Với các nhà thơ, cảm hứng sử thi là một định hướng sáng tác cho

họ Cảm hứng lịch sử - dân tộc và thời đại, chủ nghĩa yêu nước luôn được thểhiện sáng chói, sôi sục, ở trạng thái cao trào của cảm xúc, là điều khác biệtcủa cảm hứng sử thi giai đoạn này

Khuynh hướng sử thi không chỉ chi phối sáng tác cho những lớp nhàthơ cách mạng đi trước như Tố Hữu, Sóng Hồng, mà nó còn chi phối sáng táccủa các lớp nhà thơ mới trước Cách mạng tháng Tám, và cả lớp nhà thơ trẻmới ra đời trong cuộc chiến này Thơ cách mạng thực sự được mùa nở rộ vớinhiều cây bút và hàng loạt tác phẩm đậm đà chất sử thi ra đời Bên cạnh chất

sử thi đậm nét trong thơ Tố Hữu với các bài thơ: Chào xuân, Hà Nội 12 ngày

Trang 17

ấy, Mùa xuân Hồ Chí Minh ; còn có Chế Lan Viên với Sao chiến thắng, Đối thoại mới, Những bài thơ đánh giặc; Lê Anh Xuân với Dáng đứng Việt Nam.

Cảm hứng sử thi chiếm một vị trí đáng kể trong giọng điệu của các nhà thơ

khác như một dấu hiệu của mới của phong cách Đó là Xuân Diệu với Đi

thăm bãi tha ma tàu bay giặc Mỹ, Tòa án nhân dân thế giới, Sự sống chẳng bao giờ chán nản; Huy Cận với Sẵn sàng, Lời chào các dân tộc, Ngã ba Đồng Lộc; Hoàng Trung Thông với Mảnh đất này, và các nhà thơ trẻ như

Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm Ở những nhà thơ màgiọng điệu trữ tình giữ vai trò chủ đạo thì chất sử thi vẫn có ý nghĩa như mộtkhí quyển tinh thần, một cái nền hoành tráng nâng đỡ phía sau Sự gia nhậpcủa lớp nhà thơ này đã làm giàu thêm hương sắc cho nền thơ cách mạng

Về nội dung và cách thức thể hiện, thơ chống Mỹ cũng có nhiều biểuhiện đậm nét của cảm hứng này

Trước hết, nó phân tích, khám phá, tổng kết vẻ đẹp, chiều sâu của kháiniệm Tổ quốc thông qua xây dựng hình tượng cái tôi sử thi Trong dàn đồng

ca sử thi, cái tôi sử thi được tái hiện là cái tôi nhân danh và đại diện cho cái tacộng đồng Bài thơ thường vắng đại từ nhân xưng của chủ thể hoặc là chủ thểxuất hiện ở vị trí cái ta Cái tôi sử thi thốt lên tiếng nói có sức mạnh to lớnnhư một chân lý Đó là cái ta - dân tộc nói với nhân loại, là cái ta - thời đạinói với lịch sử tương lai:

Mặt trời đỏ dậy

Có vui không Nhìn Nam Bắc Tây Đông Hỏi cả hai mươi thế kỷ

(Tố Hữu) Thơ chống Mỹ thể hiện cảm hứng sử thi thông qua xây dựng hìnhtượng nhân vật trữ tình là người anh hùng có tư thế đứng cao ngang tầm thời

Trang 18

đại, có sức mạnh lớn lao khiến kẻ thù có thể khiếp sợ Nhân vật này rất đagiọng điệu, giọng quyền uy với kẻ thù, giọng hô hào, kêu gọi, giọng trìu mến,gần gũi với nhân dân mình Nó đồng loạt thể hiện cái tôi sử thi mang bản chấttinh thần là yêu nước và anh hùng Cái tôi này giữ cho mình một điểm nhìn sửthi hoành tráng, đem hiện thực phóng chiếu trên nền rộng lớn của nhữngchiều kích vĩ mô Cảm xúc của thơ chống Mỹ cũng là cảm xúc sử thi, luôn ởtrạng thái đỉnh điểm, cao trào Có thể nói tư duy của nhân vật trữ tình là tưduy sử thi.

Một biểu hiện nữa của cảm hứng sử thi trong nền thơ chống Mỹ là tínhnhạy bén chính trị của nó Từ chỗ nhận thức rõ vai trò của thơ, các lực lượngsáng tác đã phản ánh rất kịp thời những sự kiện chính chính trị bằng vần thơcủa mình Bất kỳ một sự kiện nào của cuộc kháng chiến cũng trở thành đề tài.Nên điểm lại trong thơ thời ấy chúng ta thấy không chỉ có các bài thơ Xuân

của Tố Hữu mà còn có cả Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân Không chỉ

xây dựng mẫu hình những người anh hùng lý tưởng mà thơ còn thể hiện cảnhững búc chân dung của người anh hùng ngoài đời thực, như Nguyễn VănTrỗi, Nguyễn Viết Xuân, Mẹ Suốt, Ở chỗ này, thơ nhằm mục đích nêugương cổ vũ kháng chiến

Về giọng thơ, thơ chống Mỹ rất đậm chất chính luận Chất chính luậnđậm nét là biểu hiện của tính chiến đấu trong thơ Nhà thơ thể hiện khát vọngchiến đấu trong cuộc chiến tranh chống ngoại xâm đồng thời thể hiện mộtnhận thức mới Thơ bây giờ không cần tâm sự giãi bày mà cần phân tích, lýgiải, kêu gọi và chỉ ra phương hướng hành động Các nhà thơ không chỉ nhậnthức mà còn biết cách hành động đúng, đó là dùng thơ để chiến đấu, để phục

vụ mục đích chính trị Phải nói rằng ý thức công dân cao độ là kết quả củamột quá trình vận động của con người lịch sử nhằm hướng tới tầm nhìn lịch

Trang 19

sử và chiều sâu văn hóa Hai phẩm chất đó là biểu hiện đậm nét của cái tôi sửthi.

Qua phân tích, chúng ta thấy rõ sự chi phối của cảm hứng sử thi đối vớinền thơ chống Mỹ Suy cho cùng sự chi phối của cảm hứng đó cũng xuất phát

từ lịch sử Lịch sử trao sứ mệnh cho văn chương và thơ ca phải dựng dậy mộtchủ nghĩa anh hùng cách mạng trong quần chúng, đẩy nhanh công cuộc chốngngoại xâm tiến tới thắng lợi Văn chương nói chung và thơ ca nói riêng đãhoàn thành sứ mệnh đó nhờ vào việc đề xuất và đẩy cảm hứng sử thi lênthành cảm hứng chủ đạo trong thời thơ 1954 - 1975 Do bị chi phối bởi cảmhứng sử thi nên thơ chống Mỹ say sưa đi xây dựng cái tôi sử thi, thể hiện tầmnhìn sử thi và cảm xúc, tư duy sử thi Tất cả đi theo một mối quan hệ sử thihoành tráng

1.2.2 Những “cựa quậy”, tìm tòi trong thơ nhằm tách khỏi “dàn

đồng ca” sử thi và hệ quả của nó

Cảm hứng sử thi là một cảm hứng lớn, bao trùm và xuyên suốt trong thơgiai đoạn này, nhưng nó không phải là duy nhất Bên cạnh những vần thơ viếtcho kháng chiến với quan niệm thẩm mĩ chung của thời đại, người ta vẫn thấyxuất hiện ở đâu đó trong một số tác phẩm của một số nhà thơ những cảmhứng khác

Lớp nhà thơ thể hiện mạch đi riêng của mình là những nhà thơ trẻ nhưPhạm Tiến Duật, Dương Hương Ly, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy,Vương Trọng, Hoàng Nhuận Cầm Họ vốn cũng là những người lính trựctiếp tham gia vào cuộc kháng chiến Nhưng ở họ sớm có những nhận thứcmới về thời đại và chiến tranh khác với những nhà thơ cùng thời Những gianlao, hy sinh xương máu, những thử thách khốc liệt của cuộc chiến không thểđẩy lùi ý chí chiến đấu của họ Tuy nhiên ở góc khuất của tâm hồn, những trảinghiệm riêng tư cũng lại dần hình thành trong họ những sự dằn vặt, đau đớn

Trang 20

Gian khổ, ly tan, chết chóc, đói nghèo khiến giọng thơ của họ trầm lắnggiàu suy tư hơn, thể hiện cái nhìn khác hẳn cái nhìn sử thi đương thời Sự cựaquậy của lớp nhà thơ này báo hiệu trong tương lai sẽ có sự hình thành một bộphận thơ muốn tách khỏi giàn đồng ca sử thi đương thời và tìm một hướng điriêng

1.2.2.1 Những nhận thức mới về chiến tranh, hiện thực đời sống và

con người

Cảm hứng thế sự, đời tư là cảm hứng nảy sinh trong hoàn cảnh mà đờisống con người gặp nhiều khúc mắc khó khăn Nó xoay quanh các vấn đề sốphận cá nhân với miếng cơm, manh áo, nếp sống sinh hoạt, tình yêu đôi lứa

và mối quan hệ cá nhân con người với nhau Ở mảng này người ta quan tâmchú ý khai thác nhiều hơn những suy nghĩ, diễn biến nội tâm của con ngườitrong những vấn đề đã đặt ra Trong thời chống Mỹ, thơ dồn hết sức mình vàocuộc chiến nên cảm hứng sử thi chiếm ưu thế Người ta bỏ quên và đôi khi là

cố tình không để ý tới con người đời thường vì sợ sẽ lạc giọng Con người cánhân khi đó bị mỉa mai, bị lên án là ích kỷ, tiểu tư sản, không có tinh thầncộng đồng

Cho dù cảm hứng thế sự đời tư chưa trở thành một bộ phận của thơ thờichống Mỹ nhưng nó cũng đã có dấu hiệu hình thành ở những năm 1970 - lànhững năm cuối cùng của cuộc kháng chiến, với một số tác phẩm của ViệtPhương, Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Sự cựa quậy, tìm tòi của lớp nhàthơ trẻ nhằm tách khỏi dàn đồng ca sử thi đã nói ở phần trước, là một minhchứng cụ thể của việc đó Sau giải phóng, cái ta anh hùng không còn đượcquan tâm nhiều như trước Đời sống của một đất nước sau cuộc chiến tranhdài có quá nhiều vấn đề khó khăn khiến văn chương nói chung và thơ nóiriêng phải bận tâm Đó là thảm cảnh của cái đói cái nghèo, là số phận củangười lính trở về, số phận của cộng đồng người sau khi cuộc chiến kết thúc,

Trang 21

Cảm hứng thế sự đời tư chính thức phát triển thành dòng và chiếm ưu thế xuấtphát từ hiện thực đó

Vốn có mầm mống từ trong chiến tranh nhưng phải mãi đến sau thời kỳ

ấy cảm hứng thế sự đời tư mới phát triển mạnh mẽ thành dòng Lúc này cảmhứng thế sự, đời tư được tiếp tục phát triển xoáy sâu vào hiện thực cuộc sống

và số phận con người sau cuộc chiến Lĩnh hội hiện thực trong tính toàn vẹn

là một nhu cầu của cái tôi trữ tình trong thơ sau 1975 Yêu cầu về những vầnthơ khách quan được các nhà thơ thể hiện thông qua những tuyên ngôn:

Cái đẹp là sự thật Hơn cả tắm trong lửa, tắm trong nước là tắm trong ý nghĩ trung thực.

(Thanh Thảo)Cảm hứng thế sự bắt đầu từ hiện thực những đói nghèo, tan hoang,những đổ vỡ không dễ gì bù đắp của cả một dân tộc Cái đói cái nghèo trởthành những thắt chặt nghiệt ngã

Hiện thực đời sống được xem xét ở nhiều góc độ Đói nghèo khiếnnhững con người ở địa vị vốn được xem là cao quý trong xã hội cũng trở nên

thảm hại Đó là cảnh của một thầy giáo ngồi bán thuốc lá ven đường, vành

nón sụp che mắt nhìn mệt mỏi (Đỗ Trung Quân), là cảnh một người lính từng khoác áo chiến binh - in dấu thời lá đỏ, nay về đạp xích lô trong cơ chế thị trường nhìn đâu cũng chợ (Mai Hồng Niên), một người lính khác lạc lõng

giữa khung cảnh xáo trộn:

Con lưu lạc trong bão bùng cơ chế Đứa trẻ con lầm lũi giữa chợ trời

(Thu Bồn) Nhưng ở quy mô thu nhỏ hơn, là cảnh người lính trở về, nhìn vào thựctrạng quê hương, gia đình:

Trang 22

Người lính về quê chặt tre thưng vách Nhà mẹ sau nhiều năm giàu quá những sao trời

(Thu Bồn)

Ba mươi năm làm mục tiêu cho những họng súng Nhà dột - Con dốt - Vợ xa - Mẹ già

(Phùng Khắc Bắc) Cái đói làm cho cuộc đời của những người già và trẻ nhỏ trở nên laylắt, miếng cơm được kiếm trên một ngôi mộ mới Tất cả là sự thực của mộtthời kỳ lịch sử khắc nghiệt

Từ bỏ chỗ đứng cao của cái tôi sử thi các nhà thơ chọn cho mình tư thếcủa người trong cuộc, chứng kiến và trải nghiệm tất cả những xô bồ, phức tạpcủa đời sống Có thể nói thơ ca đã tập trung toàn bộ ngòi bút của mình vàonhững vấn đề thế sự, nhân sinh, tốt xấu, phải trái, giàu nghèo, được mất, quákhứ - hiện tại Điểm nhìn nghệ thuật tập trung vào những nghịch lý nằm ngaytrong lòng đời sống Sự tô đậm, đặc tả những vấn đề nóng hổi, bức thiết củađời sống đã đem lại cảm giác về một hiên thực nặng nề

Nhìn chung cảm hứng thế sự đời tư là một cảm hứng chủ đạo và xuyênsuốt của thơ sau 1975 Cảm hứng này đã có mầm mống nảy sinh từ giai đoạnnhững năm cuối cuộc chiến nhưng chưa chính thức phát triển thành dòng vìchịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử Cảm hứng thế sự đời từ ở cả giai đoạntrước và sau chiến tranh đều biểu hiện thái độ tích cực của thơ, thực sự buồnđau trước thảm cảnh đói nghèo trong xã hội, trước những số phận con người

bị chiến tranh làm cho thê thảm Sau chiến tranh, hiện thực ấy còn được mởrộng thêm ở sự phẫn nộ trước cái phi lý, nỗi lo âu về sự xuống cấp của nhâncách và những giá trị tinh thần Tất cả nội dung ấy, dù được biểu hiện ở mỗicây bút thơ dưới các mức độ khác nhau nhưng quy chung lại nó vẫn cho thấymột sự thành công có ý nghĩa xã hội lớn lao của thơ giai đoạn này, mở đường

cho sự phát triển của cảm hứng này ở giai đoạn sau đổi mới

Trang 23

Cảm hứng hiện thực được thể hiện đậm nét trong một số cây bút vớinhững sáng tác tiêu biểu của họ Xoáy sâu vào những hiện thực có tính mặttrái của đời sống trong và sau chiến tranh, giữa thời kỳ mà giọng ca ngợi phải

là giọng bao trùm, thơ của các nhà thơ kể trên như là một sự phản biện lịch sửnghiệt ngã và rạch ròi khiến nhiều người khó chấp nhận Đó là trường hợp

của Việt Phương với Cửa mở, Phạm Tiến Duật với Vòng trắng, Nguyễn Trọng Tạo với Tản mạn thời tôi sống, Phạm Thị Xuân Khải với Mùa xuân

nhớ Bác

Tập Cửa mở của Việt Phương được nhà xuất bản Văn học in năm 1970.

Ngay lập tức nó đã gây tiếng vang lớn trên văn đàn Nhiều bài thơ của tác giảtrích trong tập này được người ta học thuộc và chép tay Các chiến sĩ ở dọchai tuyến đường Trường Sơn cũng đọc cho nhau nghe những vần thơ của ông

Bởi vì Cửa mở là một tập thơ đổi mới về tư duy thời cuộc, phù hợp với tình

hình đất nước ta và thế giới đang có những biến đổi hàng giờ hàng ngày Tậpthơ đã phản ánh một cách đúng đắn nhận thức thực tiễn của đời sống xã hội

và của thế giới thời ấy Nó cũng có một sự nhìn nhận toàn diện về đời sống.Vừa đưa ra được những mặt đáng ca ngợi như tình yêu quê hương đất nước, ýthức công dân trước vận mệnh của đất nước lại vừa chỉ ra được cả nhữngmặt mà con người cần nhìn nhận lại Việt Phương chỉ ra rằng giữa những năm

60 của thế kỷ XX, nhiều người còn nhận thức theo nếp cũ:

Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa

Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương

Đã chọn đường đi chẳng ai dừng ở giữa

Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường

Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ

Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào

Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ

Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao

Trang 24

(Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi)

Tác giả trăn trở trước những điều đó, thơ ông còn đề cập đến cả vấn đề

nhức nhối của cuộc sống: chạy ăn từng bữa toát mồ hôi Trong tập thơ này

Việt phương có nhiều bài viết về Đảng, có khi viết rất táo bạo khiến nhiềungười hiểu lầm

Cùng với Việt Phương là tư duy thơ rất mới của Phạm Tiến Duật.Những sáng tác của ông trong giai đoạn những năm 60 - 70 không chỉ có sựđổi mới về hình thức mà về cách nhìn nhận và tư duy thơ cũng khác Ông viết

về cuộc chiến với tất cả những hiện thực của nó, với tất cả những gì mà ngườilính phải trải qua Dù vậy, thơ ông không hề bi lụy, bởi nó nói đúng trạng tháitinh thần của những người lính trẻ trong cuộc, nhận thức đúng hiện thực khốc

liệt nơi chiến trường mà không hề run sợ Trường hợp bài Vòng trắng rất đặc

biệt Do nội dung phản ánh có nhiều vấn đề đánh vào sự nhạy cảm của thờiđại nên từng một thời bị nhấn chìm vào sóng gió dư luận:

Khói bom trên trời thành một cái vòng đen Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng Tôi với bạn đi trong yên lặng

Cái yên lặng bình thường đến sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết Khăn tang, vòng tròn như một số không Nhưng bạn ơi ở bên trong vòng trắng

Là cái đầu bốc lửa ở bên trong

Song đó cũng là một dẫn chứng tiêu biểu cho màu sắc mới trong thơông Bởi nó nói đúng được hiện thực thời chiến và trạng thái tinh thần của conngười lúc ấy Nên thơ ông được mọi người lính yêu thích

Trường hợp thứ ba mà chúng tôi dẫn ra ở đây là thơ của Nguyễn TrọngTạo Trong nền thơ chống Mỹ, ông nổi lên là một nhà thơ trẻ có cái nhìn chân

Trang 25

thực, thẳng thắn về đời sống Vì điều đó mà rất nhiều người thích đọc thơ củaông Suy cho cùng, đi bên cạnh những nhà thơ cùng thời, tác phẩm của nhà

thơ này cũng không dễ gì bị chìm lấp, nhất là ở trường hợp bài thơ Tản mạn

thời tôi sống Tác phẩm là sự đúc kết những sự thật đời sống dân tộc một thời

với những nỗi buồn và sự hoài nghi Đó là nỗi buồn của những cuộc chiếntranh kéo dài, những hy sinh mất mát và nỗi kinh hoàng:

Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn Khăn tang bay người sống trắng mái đầu

Đó còn là nỗi buồn về một thời kỳ hậu chiến quá khó khăn, gian khổ,

sự hoài nghi về một ngày mai tươi sáng hơn đang tới gần:

Lúa ngậm đòng lụt bão đến xô bồ Nhà đang dựng thiếu xi măng thiếu gạch Bao đám cưới chưa có phòng hạnh phúc Mây ngổn ngang lam lũ những dáng người

Gạo thịt cửa hàng nhiều khi không đủ bán

Con phe sục khắp ga tàu bến cảng

Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương

Đó còn là niềm hoài nghi về những bài ca ca ngợi tình hữu nghị Trung

- Việt trước thực tế điều đó bị phản bội, và cũng là một triết lý nhân sinh rộnglớn của ông:

Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn

Bài thơ đậm chất hiện thực, phản ánh đúng tâm lý của con người mộtthời Dù nỗi buồn xuyên suốt và có nhiều câu hoài nghi, nhưng kết lại vẫn làmột niềm tin bất diệt về những điều tốt đẹp:

Trang 26

Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa.

Như vậy, nỗi buồn và sự thực khắc nghiệt hiện lên chân thực trong thơông nhưng lại được bao bọc lại bởi niềm tin ấy Do đó nó vẫn có ý nghĩa lớnlao, càng có ý nghĩa lớn lao trong việc khẳng định về sự đổi mới trong tư duythơ Vì giá trị nhân văn, thơ cần chân thực trong miêu tả đời sống để cảnh tỉnhcon người ta biết dũng cảm và đổi thay cuộc sống sao cho tốt đẹp hơn

Với con của Thạch Quỳ cũng là một bài thơ hay được nhiều người chú

ý Bài thơ ra đời trong giai đoạn từ sau giải phóng đến trước đổi mới, khi mà

đa số quần chúng chỉ nhìn thấy những hào quang chiến thắng mới đi qua Nộidung đề cập trong bài thơ của Thạch Quỳ lại là những hiện thực khó chấpnhận Thời ấy, đất nước vừa thoát ra từ những cuộc chiến tranh, nhiều người

cứ ngỡ cuộc sống sắp tới sẽ là thiên đường Sự thực, cuộc sống của họ đươi

cơ chế bao cấp vẫn còn nhiều đói nghèo, bất cập Tác giả viết bài thơ với

nhan đề Với con nhưng thực chất là muốn nói với nhiều người một vấn đề

thời sự nóng hổi - đó là sự cả tin và niềm tin ngây thơ của cả dân tộc Đụngđến vấn đề này, Thạch Quỳ vẫn biết sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng ông vẫnnói và lại nói rất thẳng, không suy tính thiệt hơn Vì thế những bài thơ củaông thời kỳ này, bài nào cũng nói lên vấn đề bức xúc của đời sống, cũng cónhững câu hỏi lớn để trả lời Điều nhà thơ muốn vẫn là mình sẽ khơi mào cho

sự đổi mới, mở đường cho sự phát triển

Phạm Thị Xuân Khải cũng là trường hợp tương tự Đây là nhà thơ nữcủa thế hệ thơ trước Đổi mới Trong hoàn cảnh xã hội có nhiều vấn đề đángbuồn, sợ nếu không nói lên thì những gì chúng ta đã hy sinh trong cuộc chiến

là vô ích, chị đã viết bài Mùa xuân nhớ Bác Bài thơ được in trang trọng trên

số báo ngày 25 tháng 3 năm 1986, chào mừng ngày thành lập Đoàn 26/3 của

báo Tiền Phong Và ngay lập tức người ta săn lùng để đọc số báo đó cho bằng

được Điều gây tiếng vang cho nó chính là tác giả đã đánh thẳng, đánh mạnh

Trang 27

vào thói bảo thủ, trì trệ đang kìm hãm sự phát triển của đất nước Bài thơphản ánh đúng nỗi buồn nhân thế, phơi bày những nghiệt ngã thời hậu chiến

và thể hiện tình cảm biết ơn, xót xa trước sự hy sinh lớn lao của lãnh tụ, qua

đó kêu gọi một sự tỉnh táo và đổi thay:

Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt

Có học hành lại phải sống cầu an Phải thu mình xin hai chữ bình yên Bởi lẽ đấu tranh - tránh đâu cho được Đồng chí không bằng đồng tiền

Có mắt giả mù, có tai giả điếc Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ Tham quyền cố vị, sợ trẻ hơn già.

Rõ ràng, một tác phẩm ngoài tính nghệ thuật còn luôn cần có tính thời

sự, không chỉ đơn giản là ca tụng hay chê bai mà còn phải gợi ra điều hoànthiện hơn cho cuộc sống Những trường hợp sáng tác tiêu biểu trên đây đã đápứng được điều đó Các tác giả được dẫn đều là những con người thuộc thế hệ

Trang 28

trẻ có tinh thần trách nhiệm lớn lao với đất nước, có quan niệm mới về chứcnăng phản ánh đời sống của thơ Trong thời đại ấy, bất chấp những khó khăntrong đời sống và cơ chế kìm hãm sáng tác, vẫn có những tác phẩm như thế rađời Bác bỏ giọng ngợi ca che đậy, các nhà thơ đưa vào trong thơ của mìnhnhững sự thật nghiệt ngã của đời sống Mảng sáng tác của họ bổ sung cho thơchống Mỹ thêm toàn diện trong tính đấu tranh và đậm giá trị nhân văn hơn.Người đọc thông qua những sáng tác này có thể hiểu thêm cuộc sống của lớpngười đi trước, hiểu hơn về những năm tháng trì trệ trong công tác quản lývăn hóa văn nghệ Chính bởi hiện thực này mà Thủ tướng Phạm Văn Đồngtrong Đại hội Điện ảnh toàn quốc lần thứ 2 có nói: “Đừng bắt anh em vănnghệ sĩ phải chui qua một cái lỗ kim, theo một khuôn mẫu có sẵn”.

1.2.2.2 Hệ quả và cách nhìn nhận, đánh giá về những tiếng nói đổi mới trong giai đoạn 1970 - 1985

Trực tiếp đối diện, trải nghiệm bằng tư duy nhạy cảm và trái tim nhânhậu, khao khát muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn, thế hệ các nhà thơ trẻ đãdũng cảm nhìn thẳng, chỉ thẳng ra những sự thật trong cả tư duy và đời sống.Nhưng ở hoàn cảnh kể trên, tiếng nói đổi mới của họ đã không được chấpnhận Tất cả đều bị dư luận chính thống (vốn quen đánh giá văn học nghệthuật từ trên quan điểm, lập trường chính trị) nhìn bằng con mắt khác, bị nghingờ là có vấn đề trong tư tưởng Nhẹ như trường hợp của Phạm Tiến Duật với

Vòng trắng thì chỉ bị phê bình, hơn nữa thì bị kỷ luật, bị mất việc, bị cô lập và

ghi trong lý lịch hết sức nặng nề Trường hợp câu thơ “Đảng của ta lịm đi

không sống nữa”, trích trong tập Cửa mở của Việt Phương bị chỉ trích là có ý

đồ bôi nhọ, phản động với Đảng và Nhà nước Tác giả có một thời gian dài bịsống trong cảnh bị xem xét, nhìn nhận và gánh chịu những lời phê bình hếtsức nặng nề

Trường hợp của Thạch Quỳ, trước khi bài Với con được đăng ông

không ngờ hệ quả mà nó đem lại cho mình lại nặng nề đến thế Với cách nhìn

Trang 29

nhận đánh giá quá khắt khe và máy móc, người ta quy chụp nhà thơ là phảnđộng Rồi sự việc bùng lên, vấn đề của ông được đưa ra cuộc họp và bị chỉtrích là chống chủ trương chính sách Ông buộc phải thôi việc, không dámđến nhà ai vì sợ sẽ làm liên lụy tới họ Suốt một thời gian mấy tháng ròng,nhà thơ sống trong sự mệt mỏi, đi đâu cũng bị theo dõi, kiểm tra gắt gao Tinlan về Thanh Chương quê ông, người ta khinh rẻ và tổ chức đốt hình nộm củaông Hội Nhà văn còn phải cử đoàn công tác 6 người và một số nhà thơ khácvào miền Trung công tác, tổ chức họp bàn để làm rõ vấn đề tư tưởng của bàithơ Sau này dù dư luận có loãng dần đi, nhưng cái sự hiểu nhầm vẫn cứ đeobám trong lý lịch và làm ảnh hưởng đến đời sống nhà thơ rất nhiều

Phạm Thị Xuân Khải sau khi sáng tác bài Mùa xuân nhớ Bác thì nhận

được sự ái mộ của rất nhiều người ở mọi lứa tuổi trên khắp đất nước Người

ta gửi tới cho bà hàng ngàn lá thư, thậm chí có người còn lặn lội từ xa tới cốtchỉ để cảm ơn việc bà đã thay họ nói lên những điều trăn trở Nhưng ở một bộphận người lãnh đạo của cơ quan tỉnh Nghĩa Bình - quê của nhà thơ - và một

số cán bộ trong ngành văn hóa lại có thái độ trái ngược Họ gay gắt phê phánbài thơ có nội dung phản động, thiếu tính xây dựng và gây mất đoàn kết, phêbình báo Tiền Phong đã cho in bài thơ Căng thẳng tới mức có lúc họ muốn

cơ quan chức năng tỉnh vào cuộc và ra lệnh bắt giam tác giả Vì thế, sau khitốt nghiệp, tác giả nữ này không về quê mà ở lại thành phố kiếm sống, chịuđựng biết bao gian khổ khó khăn Vì dính vào điều tiếng quá nặng nề nên bàcũng bị nhà trường cắt học bổng Không việc, không nhà, lại nhọc nhằn vớinỗi mưu sinh cho gánh nặng gia đình và các con, mười năm ròng bà lận đậnnhư thế, đánh đổi như thế cho một lời nói thật

Khao khát nói lên tiếng nói của lương tri, của sự thật, bất chấp cái giáphải trả, tiếng nói của những người nghệ sĩ chân chính đã tạo ra một khôngkhí mới trong thơ nói riêng và nghệ thuật nói chung, góp phần đẩy nhanh dântộc đi đến sự đổi mới có ý nghĩa tích cực Đổi mới của ta sau này thành công

Trang 30

rất lớn, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của những trái tim và khối óc nhưvậy

Điểm qua một số sáng tác tiêu biểu và những sự nhìn nhận đánh giá của

dư luận một thời với họ, chúng ta có một cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn

về gương mặt thơ Lưu Quang Vũ Xuất thân trong một gia đình văn nghệ sĩ –trí thức, bản thân là người làm công việc sáng tác nghệ thuật, từng trải vàchứng kiến nhiều nỗi ấm lạnh trong nghề nghiệp và thời đại, nhưng LưuQuang Vũ vẫn rất bản lĩnh trong cách nhìn nhận và thể hiện quan điểm về cácvấn đề phức tạp của đời sống, ngay cả khi điều đó không phù hợp với quanniệm số đông Dĩ nhiên, điều này có nhiều nguyên nhân Song cũng vì vậy màLưu Quang Vũ cũng sớm phải trả giá nặng nề, cuộc đời nhà thơ bước lầm lũinhững trang gian khó, cùng cực Sau 1986, những tiếng nói tiền trạm cho sựđổi mới nói trên đã được nhìn nhận, đánh giá lại một cách khách quan và tíchcực Riêng với Lưu Quang Vũ, tiếng thơ ông được khẳng định như một giá trịtân tiến, mới mẻ trong dàn đồng ca chung của thời đại

1.3 Lưu Quang Vũ - một gương mặt đặc biệt của thế hệ nhà thơ chống Mỹ

1.3.1 Nhìn chung về diện mạo, đặc điểm và hành trình thơ Lưu Quang Vũ

1.3.1.1 Khái quát các chặng đường thơ Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ thuộc loại nhà thơ bẩm sinh Ông vốn là người yêu vănchương và say mê làm thơ Ngay từ hồi còn là một cậu bé học tiểu học ông đã

có những vần thơ về cô bạn gái học cùng lớp, về cô giáo, về những con vậtxung quanh mình Hành trình thơ của tác giả thực sự khởi sắc và được côngchúng ghi nhận khi ông ở độ tuổi mười bảy đôi mươi, lúc ấy Lưu Quang Vũ

là một chàng thư sinh ở đất Hà Thành

Trang 31

Tập thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ xuất bản lần đầu tiên vào năm

1968 mang tên Hương cây, in chung với Bằng Việt phần Bếp lửa Tập thơ

gồm 21 bài thơ thể hiện tâm hồn tươi vui, trong trẻo của một Lưu Quang Vũrất đỗi tin yêu cuộc đời và tin yêu đất nước, ý thức rất rõ về vai trò của bảnthân trong cuộc kháng chiến bảo vệ dân tộc

Bẵng đi một thời gian dài, Lưu Quang Vũ không có tác phẩm in.Không phải ông không sáng tác mà bởi những sáng tác của ông người takhông cho in, hoặc may mắn cho in thì cũng chỉnh sửa một số câu từ màngười ta cho là nhạy cảm với thời cuộc Nhưng Lưu Quang Vũ vẫn sáng tácnhư một nhu cầu tự thân, như để được giải tỏa Phần lớn các bài thơ của nhàthơ phải sống trong cõi im lặng, trong sổ tay, trong trí nhớ bạn bè và ngườithân Sau này khi đất nước hòa bình, đặc biệt là sau đổi mới, nhiều vấn đềtrong thơ ông được nhìn nhận lại, thơ của ông được đăng liên tục thành nhữngtập thơ

Năm 1989, Lưu Quang Vũ có tập Mây trắng của đời tôi, Nxb Tác

phẩm mới

Năm 1993, Tập Bầy ong trong đêm sâu, Nxb Tác phẩm mới.

Năm 1994, Tập Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, Nxb Hội Nhà văn.

Năm 1994, Tập Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, Nxb Giáo dục.

Năm 1997, Lưu Quang Vũ thơ và đời, Nxb Văn hóa Thông tin

Năm 1998, Lưu Quang Vũ thơ và truyện ngắn, Nxb Hội Nhà văn.

Trong những tập thơ đã xuất bản thì sau này, tập Lưu Quang Vũ, gió

và tình yêu thổi trên đất nước tôi, in tại Nxb Hội Nhà văn năm 2010 là tập

thơ in đầy đủ nhất những bài thơ của tác giả Các bài thơ được sắp xếp theotrình tự thời gian, từ bài thơ đầu tay cho tới bài thơ cuối cùng Vì thế, nhìnvào đó người đọc có thể thấy rõ hành trình thơ của tác giả Bắt đầu bằngnhững vần thơ trong trẻo tươi vui của tuổi học trò, kế tiếp bằng những vần

Trang 32

thơ bi quan, chán nản, cay đắng u buồn, dừng lại bằng những vần thơ lạcquan, tin tưởng hơn và giàu suy tư cùng sự chiêm nghiệm về cuộc sống hơn Nhìn chung hành trình thơ Lưu Quang Vũ phản ánh rõ những nămtháng của đất nước và đời riêng tác giả, cho thấy sự thay đổi và trưởng thànhcủa con người nhà thơ cũng như giọng thơ của ông Lưu Quang Vũ ra đi khitài năng đang độ chín và sức sáng tạo ở thời kỳ sung sức nhất Cái chết củaông cùng người bạn đời - nhà thơ Xuân Quỳnh, và cậu con trai Quỳnh Thơ đãgây bàng hoàng sửng sốt, gây nhiều sự tiếc nuối xót xa cho làng nghệ thuậtViệt Nam Với những gì đã làm được, ông thực sự trở thành huyền thoại củathơ Việt Nam một thời.

1.3.1.2 Khái quát đặc điểm thơ Lưu Quang Vũ

Đặc điểm thơ Lưu Quang Vũ được hình thành phần lớn chịu sự chiphối của hoàn cảnh đất nước và đời riêng của ông Cho nên, ở từng giai đoạnkhác nhau thì thơ ông có những đặc điểm khá khác biệt Theo hành trình thơLưu Quang Vũ, trước năm 1970 thơ ông mang giọng hồn nhiên, tin yêu vàtrong trẻo vô cùng Hầu hết những tác phẩm thơ của ông đều thể hiện niềm tinyêu cuộc đời, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, ca ngợi cuộc khángchiến chống quân xâm lược, và thể hiện khát vọng cống hiến Tác giả AnhChi nhận xét: “Qua thơ viết năm mười tám, đôi mươi tuổi, thấy anh tin yêucuộc sống thật dễ dàng, khiến hình thành trong con người đang lớn này cáchnhìn nhận đời sống xã hội vô cùng ưu việt, nên chỉ mong nhanh trưởng thành

để đem hết lòng ra yêu thương và bảo vệ nó” [44; 326] Khảo sát cụ thể

những bài thơ trong tập Hương cây của tác giả sẽ thấy rõ điều đó.

Nhưng kể từ những năm 1970 trở về sau, thơ của tác giả mang một diệnmạo mới, không còn là những vần thơ trong trẻo, tươi vui, ngây thơ của mộtchàng trai trẻ rất đỗi tin yêu đời, nó đã trở nên buồn hơn, trầm lắng hơn

Trang 33

Nỗi buồn là một trạng thái xuyên suốt thơ Lưu Quang Vũ từ thời giannày Nhà thơ hay viết về tình yêu tan vỡ, bi kịch đời sống chiến tranh vớinhiều mất mát, đổ vỡ và ly tan, cả những đói nghèo cơ cực, sự chết chóc thảmkhốc cũng được phản ánh Rõ ràng, ông đã chọn cho mình một hướng đingược chiều so với dàn đồng ca sử thi hoành tráng của thời đại Thơ ông như

là mảng tối của đời sống mà lâu nay người ta cố tình né tránh, còn ông lạinhìn thẳng và phơi trải nó ra bằng tất cả sự chân thật nội tâm của mình

Cùng với nỗi buồn chiến tranh, thơ Lưu Quang Vũ cũng nói về nỗibuồn trong tình yêu tan vỡ Trong cuộc đời, tình yêu là tất cả với ông nên tìnhyêu tan vỡ chính là một bi kịch Giọng thơ của ông thay đổi hẳn, trở nên buồn

và cay đắng hơn bao giờ hết Con người trong thơ tác giả là con người u buồn,tiếc nuối và xót xa, luôn khao khát về một hình ảnh người đàn bà lý tưởng.Nhà thơ phản ánh tình yêu ở góc độ con người đời thường chứ không ở khíacạnh con người sử thi Nên tình yêu trong thơ ông thực như nó vốn có ở đời.Đặc biệt tình yêu được Lưu Quang Vũ nhìn nhận ở góc độ lương tri và tinhthần trách nhiệm Con người trong thơ ông yêu hết mình ngay cả khi chia tayngười yêu, anh ta luôn nhận hết lỗi lầm về mình và cầu chúc cho người mìnhyêu gặp nhiều điều may mắn hạnh phúc Dù khi viết về tìn yêu tan vỡ hay tìnhyêu mới gặp, Lưu Quang Vũ đều giữ một giọng thơ vô cùng say đắm, khátkhao, thể hiện một con người sống hết mình vì tình yêu

Lưu Quang Vũ sớm đặt ra những khó khăn phải đối mặt ở thời hậuchiến, là cái đói cái nghèo, sự quan liêu, thói cửa quyền, dập khuôn máy móc,mất nhân cách của một số kẻ ngồi trên Ông đã chỉ ra điều này ngay từ khichiến tranh chưa kết thúc, thậm chí còn đưa ra được phương án giải quyết.Nhà thơ công khai cổ vũ cho công cuộc đổi mới ngay từ khi nó chưa đượcchấp nhận Có được cái nhìn vượt thời và sâu sắc là do tác giả là con người cótinh thần trách nhiệm với đời sống và nghề nghiệp Thơ ông cũng chỉ ra

Trang 34

nhiệm vụ mới của nghệ thuật, thơ văn với cuộc đời, không phải là ca ngợicuộc sống bằng những ngôn từ hoa mĩ mà phải chỉ ra những mặt tối của nó đểthay đổi.

Với những vấn đề trên, Lưu Quang Vũ đã chọn cho mình một cách diễnđạt riêng Ông để cảm xúc của mình quyết định kết cấu và ngôn từ của bàithơ Cho nên hình thức thơ của nhà thơ này cũng rất đặc biệt, ngôn từ giản dịnhư lời nói thốt ra hàng ngày, nhưng lại thấm đẫm cảm xúc, kết cấu khôngkhuôn mẫu, là lối kết cấu mở theo trạng thái từ trường cảm xúc của nhà thơ,mạch thơ thường rất dài, độ dài ngắn các khổ thơ và câu thơ trong bài thơcũng tùy theo cảm xúc

Nhìn chung, diện mạo thơ Lưu Quang Vũ từ sau 1970 rất đặc biệt vàkhác lạ so với những nhà thơ cùng thời Diện mạo này tạo nên một LưuQuang Vũ được nhiều người chú ý

1.3.2 Nguyên nhân chính tạo nên diện mạo thơ Lưu Quang Vũ

1.3.2.1 Những năm tháng “viển vông, cay đắng, u buồn” của đất nước

và đời riêng tác giả

Lưu Quang Vũ Sinh ra và lớn lên ở miền Bắc Vào những năm trướcthập niên 60 của thế kỷ XX, đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến chốngPháp thành công Từ đó miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Công cuộc xâydựng xã hội chủ nghĩa ở đây thực sự đã đem đến một không khí mới rất tươivui Có lẽ từ nhỏ, được đi học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, thấy cuộcsống hứa hẹn thật nhiều tươi sáng, đáng tin yêu, lại sẵn trong mình một tâmhồn thi ca, nhà thơ dành tình yêu và niềm vui cho thế giới xung quanh mộtcách rất dễ dàng Mỗi tia nắng rọi, mỗi nhành hoa, ngọn gió, hay mỗi gươngmặt người đều có thể đem lại cho ông những xúc cảm sâu xa Thơ của LưuQuang Vũ giai đoạn này mang giọng hồn nhiên, trong trẻo, tươi vui, yêu đời

là vì thế Từ năm mười bảy, Lưu Quang Vũ cho ra mắt độc giả tập thơ Hương

Trang 35

cây Giọng thơ tươi trong, ngọt ngào, say đắm đã khiến ông trở thành hiện

tượng đẹp trong đời sống thơ ca đương thời

Sự thay đổi giọng thơ của Lưu Quang Vũ ở giai đoạn sau những năm

70 có nguyên nhân trước hết từ hoàn cảnh lịch sử xã hội và những nỗi buồncủa cuộc đời ông

Thời gian này, cuộc chiến tranh đi vào giai đoạn khốc liệt nhất, sức tànphá nặng nề của nó diễn ra ở khắp nơi Đâu đâu trên đất nước này cũng đều lànhững đống đổ nát, những thảm cảnh đói nghèo, bệnh tật và chết chóc Vốntrong những tháng năm này, người ta vẫn truyền cho nhau những vần thơ hàosảng, lạc quan và hừng hực khí thế chiến đấu Kỳ thực, cuộc sống của muônvạn người luôn phải trải qua những nỗi kinh hoàng, khốn khổ Riêng mặt này,

do mục đích chính trị nên thơ ca của ta đã cố làm khuất lấp đi

Ngay cả sau khi cuộc chiến kết thúc, hiện thực vẫn vô cùng nghiệt ngã

Đó là lúc cả dân tộc phải đối diện với những khó khăn của cuộc sống mới.Trong mỗi lĩnh vực, mỗi con người đều chất chứa biết bao vấn đề gay gắt.Cuộc sống hòa bình buổi ban đầu, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, cơchế quản lý tập chung, quan liêu bao cấp, sự suy thoái đạo đức của một số cán

bộ lãnh đạo, những hậu quả nặng nề của chiến tranh, các thế lực thù địch cònnhòm ngó Lòng mẫn cảm của người nghệ sĩ và ý thức công dân đã thôi thúcLưu Quang Vũ sáng tạo những tác phẩm ghi lại tất cả những bức bối này.Đứng trong bối cảnh chung ấy, tự dưng những nỗi niềm riêng của Lưu Quang

Vũ cũng trỗi dậy trong lòng ông

Về những năm tháng viển vông, cay đắng, u buồn của đời riêng tác giả,nói đúng ra đó cũng là những năm tháng gian khó của đời nhà thơ, nó bắt đầu

từ quãng thời gian đầu những năm 1970 Khi đó Lưu Quang Vũ trở về từchiến trường với hai bàn tay trắng cùng nhiều nỗi đa đoan - sự trả giá quá đắtcho những bồng bột, sốc nổi của ông thời tuổi trẻ Sau đó, hạnh phúc gia đình

Trang 36

tan vỡ, ông như người mất hướng đi trong đêm Không hề thấy mệt mỏi vì nỗi

lo cơm áo, Lưu Quang Vũ mệt mỏi vì những bi kịch chồng chéo cứ diễn ratrong đời, và mệt mỏi vì cả những nỗi đau chung của Việt Nam Nhà thơ lúngtúng trong việc xác định hướng đi cho mình, đôi lúc trở nên cực đoan, mấtlòng tin vào tương lai bản thân Theo lời kể của những người trong gia đìnhông, nỗi buồn đã đẩy con người đa cảm này tới sự bế tắc Lưu Quang Vũ vẫnlàm thơ và làm thơ với nhu cầu được bộc bạch, giãi bày tâm trạng đó Khi đóông già hẳn đi, có lúc cô đơn ngồi hút thuốc lào sòng sọc hoặc đi lang thangdọc theo những con phố ở Hà Nội Lúc nào trong đầu cũng tồn tại những câuhỏi về cuộc sống và về cuộc đời mình Tình yêu bỏ ông đi, thơ ông người takhông chấp nhận, không việc làm Tất cả ngưỡng cửa cuộc đời dường nhưđang khép lại Vì thế, đọc những vần thơ của Lưu Quang Vũ thời gian này sẽthấy một giọng điệu đầy thất vọng, cô đơn và bế tắc Tuy nhiên chính tronghoàn cảnh khắc nghiệt ấy, Lưu Quang Vũ đã nhận thức ra được nhiều điều vềbản thân mình Ở bất cứ hoàn cảnh nào, trong con người nhà thơ cũng tồn tạinhững ước nguyện tha thiết, muốn vượt lên trên nỗi mệt mỏi, hoài nghi đểsống và viết Giọng bi quan, thất vọng của ông đôi khi có xen vào bởi mộtchất giọng nồng ấm, nhiều khao khát hơn là vì thế Sau này, tác giả tìm thấytình yêu ở một người phụ nữ khác cũng yêu mình Giọng thơ ông lại sángbừng lên, rất lạc quan và tin yêu cuộc đời Nhưng hai người vì lý do nào đó

mà cũng không đến được với nhau Lưu Quang Vũ lại chìm vào những dòngtâm tư thất vọng Tất cả chỉ thực sự trở lại khi ông gặp Xuân Quỳnh, ngườiđàn bà thứ ba, chấp nhận yêu và nguyện vì ông suốt cuộc đời này Thơ LưuQuang Vũ như được tiếp sức bởi tình yêu của người phụ nữ ấy mà bay vútlên, tràn trề nhựa sống Giọng thơ của ông lại thật tự tin, giàu tính chiến đấu,nhân văn hơn bao giờ hết

Trang 37

Như vậy, có thể khẳng định những yếu tố lịch sử xã hội và hoàn cảnhbản thân là yếu tố chi phối rất lớn tới việc hình thành nên giọng thơ của LưuQuang Vũ Từ sau những năm 70, giọng thơ ông có nhiều biến động và luônbuồn bã, bi quan chán nản Những tháng năm viển vông, cay đắng, u buồncủa đất nước và đời riêng tác giả đã thôi thúc Lưu Quang Vũ có sự nhận thứcmới về hiện thực và con người, đem vào giọng thơ ông một sắc màu khác, lạcquan và giàu nhựa sống hơn.

1.3.2.2 Nhận thức mới về bản chất thi ca và vai trò của người nghệ sĩ

Giai đoạn này Lưu Quang Vũ cũng có những nhận thức khác đi về bảnchất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung, thi ca nói riêng và vai tròcủa người nghệ sĩ Trước đây, người ta quan niệm vai trò của nghệ thuật vàthi ca là phản ánh hiện thực đời sống và góp phần tích cực vào việc làm chođời sống tốt đẹp hơn Nay vẫn với quan niệm như vậy nhưng Lưu Quang Vũnhìn sâu hơn, cụ thể hơn và biện chứng hơn Đứng trước những đổi thay xô

bồ của cuộc sống, nhà thơ cho rằng văn chương không cần phải ca ngợi vẻđẹp của những buổi sớm mai, những cành hồng Việc ca ngợi cuộc khángchiến vĩ đại, những chiến thắng oai hùng của dân tộc cũng không phải là chủ

đề trọng tâm Văn chương cần phản ánh đúng hiện thực đời sống với nhữngvấn đề bức thiết thời Hàng loạt tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ thể hiện rõ

quan niệm của ông về sứ mệnh mới của nghệ thuật như vở Hồn Trương Ba,

da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Mùa hè ở biển, Nhân danh công lý Vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt đề cao cuộc đấu tranh hoàn thiện nhân cách con

người, phê phán thói quan liêu vô trách nhiệm của Nam Tào, Bắc Đẩu đãcướp đi mạng sống của những người dân vô tội và gây nên nhiều chuyện rắcrối, sự sửa sai chắp vá của Đế Thích lại khiến cho cuộc đời hồn nọ xác kia

gặp nhiều bất hạnh Vở Tôi và chúng ta mở đầu cho đề tài đổi mới cơ chế sản

xuất và quản lý, góp một tiếng nói quan trọng vào cuộc đấu tranh chống tiêu

Trang 38

cực, xây dựng hình tượng con người mới trong cơ chế mới Vở Nhân danh

công lý lên tiếng đòi sự bình đẳng trước pháp luật Nhìn chung Lưu Quang

Vũ đã sáng tạo nghệ thuật với những vai trò mới của nó, đó là phản ánh đúnghiện thực, đấu tranh chống cái xấu và ủng hộ cái tiến bộ Tất cả các tác phẩmkịch của ông đều phản ánh trực diện đời sống

Riêng quan niệm của nhà thơ về vai trò mới của thi ca thì lại được thể

hiện rõ trong thơ của ông Nhiều lần ông viết: “Thơ không phải là chứng

minh/ Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương/ Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa/ Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng bước cả” Nhà thơ cũng chỉ cho các bạn mình thấy rằng: “Thơ tưới mát cuộc đời và

an ủi lòng ta, Thơ phải dạy ta nhìn bằng con mắt thật”, và “Thơ vẫy gọi mọi người vươn đến tương lai” Như vậy quan niệm của nhà thơ về chức năng thơ

là thơ phải có ích cho đời, phải vừa có ích cho hiện tại, vừa giúp con ngườivươn đến tương lai, đến những khát vọng bay bổng, xa rộng Thơ có giá trị làthơ bám rễ sâu vào cuộc đời cơ cực, không tô vẽ Thơ vừa là phần đẹp đẽ nhấtcủa đời sống tinh thần con người, nhưng đồng thời thơ cũng phải là thứ đượcchưng cất lên từ cuộc sống, dù cho cuộc sống ấy có “cay cực”, “tro bụi” Đặcbiệt, nhà thơ muốn nhấn mạnh hơn tới sứ mệnh chuyển tải sự thật của thi ca.Thơ phải là nhịp đập của trái tim trung thực, là tiếng nói của lương tri, của ýthức trách nhiệm của con người Trong khi mãi đến những năm 80, văn học tamới ồ ạt kêu gọi:

Trang 39

Sự thật bật ra ứa máu Đẹp như nụ cười mẹ sau những cơn đau

(Lê Nhược Thủy)

thì sự chuyển biến từ cái nhìn sử thi sang cái nhìn thế sự đã có từ những năm

70 trong thơ Lưu Quang Vũ Bên cạnh dòng chung hào hùng ca ngợi cổ vũcho cuộc chiến đấu, thơ ông có một mảng sự thật khác, là nhân chứng cho sựthật những năm chiến tranh được nhìn từ góc độ đời thường, không lý tưởnghóa, là nhân chứng cho những khổ đau mất mát của dân tộc những năm 70hào hùng mà cay đắng

Theo tác giả thì thơ ca còn có chức năng hướng thiện, hướng mỹ chocon người, phải khiến cuộc sống con người mở ra trong một chiều sâu mớicủa khát vọng, của những giấc mơ phía trước, thơ phải đưa con người tớiđược những bến bờ chưa tới được Vậy nên tác phẩm của ông ẩn chứa giấc

mơ ấy qua những hình dung đẹp như ngôi sao, giấc mộng, cơn gió ẩn saubuồm, chân trời sau biển cả, ban mai sau đêm tối Đối lập với thực tế khắcnghiệt, cõi khát vọng mà thơ ca hướng đến phải đầy ánh sáng và tình yêu, lànơi đối lập với chiến tranh, khổ nghèo, cái chết Bởi vì chính tình yêu thương

sẽ thúc đẩy con người nỗ lực hơn trong việc đấu tranh chống cái xấu Nói như

nhà thơ trong bài Nói với mình và các bạn thì thơ ca phải khiến cho con người

“càng thương yêu càng không vừa ý với mọi điều”.

Về vai trò của người nghệ sĩ, trong nhật ký của mình, Lưu Quang Vũviết: “Rất có thể một điều gì đó tới cắt đứt cuộc đời ta Cái chết - ta không sợ

nó nhưng chết bây giờ thì uổng quá Chưa làm được gì cả, ăn hại 17 năm thếrồi chết ư Thần chết ơi, khi ta đã trả nợ xong, khi đã có thể coi là làm đượcchút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt” [41; 93] Vậy là khátvọng công hiến và sáng tạo đã có trong ông từ rất lâu trở thành tâm huyết củađời nghệ thuật Lưu Quang Vũ Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ

Trang 40

tâm niệm rằng chỉ có gắn bó với đời sống, sống hết mình với nó mới có thểtránh khỏi được sự khô cạn tài năng và tâm hồn - thứ hiểm họa luôn đe dọangười nghệ sĩ ở bất cứ lứa tuổi, địa vị nào Hướng về cuộc sống, nhân dân, đó

là trách nhiệm cao cả của người cầm bút và là sứ mệnh ngàn đời của nghệthuật Những suy tư và trải nghiệm thực tế sâu sắc giúp nhà thơ trẻ nhận ra ýnghĩa sự tồn tại của một nghệ sĩ chân chính:

Bây giờ anh mới hiểu hết câu nói của kịch Sêc-xpia Tồn tại hay không tồn tại

Không có nghĩa là sống hay không sống

Mà là hành động hay không hành động, nhận thức hay không nhận thức, tác động vào cuộc đời hay quay lưng lại nó

(Cho Quỳnh những ngày xa)

Cho nên: “Lưu Quang Vũ không ngần ngại trong việc nêu lênnhững vấn đề hiện thực để bàn luận, kể cả những vấn đề được coi là nhạy cảmnhất Anh luôn bắt đúng mạch của cuộc sống, nói được những điều mọingười trăn trở” [41; 375]

Trước hiện thực, người cầm bút cũng phải biết thể hiện nó một cách sáng

tạo, bởi bản chất của nghệ thuật là sáng tạo Theo ông, nhà thơ không phải lũ

viết thuê chạy theo những biển hàng ngắn ngủi để cuối cùng gây nên hậu quả

“lắm kiểu nói mà giống nhau đến thế Với lối viết cũ kỹ, sáo mòn, chỉ quen ca

ngợi cuộc sống ở vẻ bề ngoài mà không nhìn thấy những mặt trái còn tiềm ẩnbên trong nó, Lưu Quang Vũ hết sức phản đối:

Cuộc sống còn dở dang

Cần đóng góp không cần ngồi ca ngợi.

.

Đã qua cái thời nhà thơ nhìn đời bằng con mắt trong veo

Con mắt xanh non ngỡ ngàng như mắt trẻ

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh(1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
3. Bài phỏng vấn “ Phạm Tiến Duật và những kỷ niệm trong chiến tranh”, (23/4/2002), http www.Vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Tiến Duật và những kỷ niệm trong chiến tranh”, (23/4/2002)
4. Phùng Khắc Bắc (1991), Một chấm xanh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chấm xanh
Tác giả: Phùng Khắc Bắc
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1991
5. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, tr.9 -10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa -Thông tin
Năm: 2001
6. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Đăng Điệp (1994), “Giọng điệu thơ trữ tình”, Tạp chí Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 1994
8. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. G.Hêghen (1996), Mỹ học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học
Tác giả: G.Hêghen
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1996
10. Bùi Công Hùng (1980), “Vài nét về ngôn ngữ thơ”, Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về ngôn ngữ thơ”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Bùi Công Hùng
Năm: 1980
11. Bùi Công Hùng (1983), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1983
12. Phạm Thị Xuân Khải, (22/4/2006), “Xin được tâm tình cùng bạn đọc”, http www. Vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin được tâm tình cùng bạn đọc”
13. Mã Giang Lân (1992), “Nhìn lại thơ 30 năm chiến tranh”, Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại thơ 30 năm chiến tranh”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Mã Giang Lân
Năm: 1992
14. Phong Lê (1998), Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Tình yêu và số phận, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Tình yêu và số phận
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
15. Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ (2002), Thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002
16. Trần Thị Kim Liên (2009), Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, tr.82 92.Trường ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả: Trần Thị Kim Liên
Năm: 2009
17. Nguyễn Văn Long (1973), “Hướng đi của một số nhà thơ trẻ”, Văn nghệ, (539) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đi của một số nhà thơ trẻ”, "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Năm: 1973
18. Nguyễn Văn Long (2002), Văn học Việt nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt nam trong thời đại mới
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
19. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
20. Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Trần Đình Sử, Ngô Thảo (1995), Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại mới trong văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Trần Đình Sử, Ngô Thảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w