1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của vũ ngọc phan trong nghiên cứu, phê bình văn học

115 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của Vũ Ngọc Phan trong nghiên cứu, phê bình văn học
Tác giả Lê Thanh Huyền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 567,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết Nhà văn hiện đại một thành tựu lớn của phê bình văn học Việt Nam trước 1945 đăng trên Tạp chí Văn học, số 5, năm 1994, tác giả Trần Thị Việt Trung cho rằng, “Vũ Ngọc Phan

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Trang 2

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 11

5 Đóng góp khoa học của luận văn 11

VŨ NGỌC PHAN VÀ TÁC PHẨM NHÀ VĂN HIỆN ĐẠI

3.1 Bối cảnh và diện mạo phê bình văn học Việt Nam trước 1945 75

3.2 Vị trí của tác phẩm Nhà văn hiện đại trong văn học Việt Nam trước

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vũ Ngọc Phan là một trong số không nhiều những nhà phê bình

lý luận hiện đại có trình độ chuyên môn cao ở Việt Nam vào những nămtrước Cách mạng tháng Tám 1945 Ông là một người có ý thức rất rõ về vaitrò của công tác lý luận phê bình trong đời sống văn học Vũ Ngọc Phanđược nhìn nhận như một nhà phê bình hàng đầu của văn học Việt Nam, làmột trong những người có đóng góp to lớn trong việc xây dựng nền lý luậnphê bình văn học Việt Nam hiện đại Vì thế, nghiên cứu sự nghiệp lý luậnphê bình văn học của Vũ Ngọc Phan sẽ giúp ta hiểu hơn bức tranh lý luậnphê bình Việt Nam khoảng nửa đầu thế kỷ XX, gắn với một thời kỳ pháttriển sôi động của văn học Việt Nam hiện đại

1.2 Những công trình nghiên cứu về văn học dân gian và văn họchiện đại của Vũ Ngọc Phan đã trở thành di sản quan trọng của khoa họcnghiên cứu văn học Việt Nam cả trên phương diện lý thuyết và phương phápnghiên cứu Ông là một trong những tấm gương lao động khoa học hết sứccông phu, nghiêm túc và đầy tâm huyết Những công trình nghiên cứu củaông là kết quả của một quá trình lao động sáng tạo của một bộ óc sắc sảo,tinh tế, với phong cách và phương pháp nghiên cứu riêng Chính vì lẽ đó,cần thiết phải có thêm những công trình chuyên biệt, có tính hệ thống nhằmđánh giá về vai trò, vị trí của Vũ Ngọc Phan trên lĩnh vực lý luận phê bình

1.3 Lâu nay nhiều người vẫn chưa nhìn nhận đúng vai trò của côngtác lý luận phê bình văn học trong việc thúc đẩy, định hướng cho sáng tác vàtiếp nhận nói riêng, hoạt động văn học nói chung Nghiên cứu những đónggóp về mặt lý luận phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan là dịp ghi nhận cônglao của ông trong sự nghiệp nghiên cứu văn học Việt Nam nói riêng, đánhgiá vai trò công tác lý luận phê bình trong đời sống văn học nói chung

1.4 Gần đây, mảng lý luận phê bình đã được đưa vào giảng dạy trongnhà trường Việc nghiên cứu những đóng góp của lý luận phê bình trong đờisống văn học trên cơ sở khảo sát sự nghiệp của những học giả như Vũ Ngọc

Trang 4

Phan giúp cho những người trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông trunghọc như chúng tôi có thêm những kiến thức bổ ích phục vụ cho công tácgiảng dạy văn học nói chung, giảng dạy mảng lý luận phê bình nói riêng

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay, nghiên cứu về Vũ Ngọc Phan với tư cách là một cây bútphê bình hàng đầu của văn học Việt Nam vẫn chưa được quan tâm đúngmức Các ý kiến đánh giá về Vũ Ngọc Phan qua các công trình về văn họcdân gian cũng như văn học Việt Nam hiện đại, chủ yếu là những lời ngợikhen trước kết quả lao động nghệ thuật của nhà văn này Vũ Ngọc Phankhông chỉ là một nhà nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian mà ông còn làmột chuyên gia lý luận phê bình văn học vào hàng những người “đi tiênphong” trong việc ứng dụng phương pháp phê bình hiện đại vào khoa họcvăn học ở Việt Nam Những ý kiến đánh giá về Vũ Ngọc Phan có thể kể đếnnhững bài viết của Vũ Ngọc Khánh, Phong Lê, Trần Thị Việt Trung,Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Ngọc Thiện… trên tạp chí chuyên ngành và cáccông trình chuyên khảo Có thể nhìn lịch sử vấn đề nghiên cứu Vũ NgọcPhan trên mấy phương diện sau đây:

2.1 Những công trình, bài viết về Vũ Ngọc Phan dưới dạng chân dung văn học

Trên Báo Văn nghệ số 28 ra ngày 11/8/1987, Tô Hoài có bài viết Anh Phan chị Phan, ghi lại những hồi ức xúc động của mình về nhà văn Vũ

Ngọc Phan và nhà thơ Hằng Phương Theo dòng hồi tưởng của Tô Hoài, VũNgọc Phan là một người chân thành, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người “trẻtuổi” khi mới bước vào nghề Từ việc hướng dẫn cách đọc sách cho đến việcnhiệt tình in những tác phẩm đầu tay hoặc việc khen chê, kèm cặp tình nghĩa

và nghiêm khắc đối với các “bạn văn” của gia đình Vũ Ngọc Phan

Trong hình dung của mình về chuyện Vũ Ngọc Phan viết Nhà văn hiện đại, Tô Hoài cho rằng, Vũ Ngọc Phan là một con người làm việc rất

khoa học, từ việc làm tra cứu đến việc ghi chép số liệu Theo ý kiến của Tô

Trang 5

Hoài, Nhà văn hiện đại như một thứ từ điển văn học đã được viết một cách

công phu, mọi dẫn chứng đều được đưa ra có phương pháp và số liệu, chứngliệu tỉ mỉ, xác đáng Những nhận xét của Tô Hoài về nhà văn Vũ Ngọc Phangiúp người đọc hình dung đến hình ảnh một nhà khoa học tận tụy với côngviệc nghiên cứu, sưu tầm và phê bình văn học xuất sắc của văn học ViệtNam những năm đầu thế kỷ XX

Trên Tạp chí Văn học, số 3 và 4, năm 1988, tác giả Phong Lê có bài

viết Vũ Ngọc Phan và lao động nghề nghiệp Trong bài viết này, Phong Lê

cho rằng: “Thử hình dung suốt 60 năm, chỉ trong một tư thế cầm bút ë tuổingoài 20, dứt khoát từ bỏ mọi con đường khác để vào nghiệp văn Và đếntuổi 80 vẫn miệt mài “trên những trang văn” Quý biết bao một cuộc đời laođộng, một tấm gương lao động, với đúng nghĩa vinh quan và cực nhọc của

nó Với thứ lao động đó, ở trường độ và cường độ, có thể xếp Vũ Ngọc Phanbên những Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan… Đó là nhữngcái tên rất quý và ở thời điểm hôm nay càng quý – vì thứ lao động đó tạmthời và bất thường đang đứng trước những thử thách của sự mất giá; và đangkiên quyết chống chọi lại để giữ cái giá - giá của văn chương mà thực chất làgiá làm người” [53, 112]

Trong bài viết Học tập nhà văn Vũ Ngọc Phan đăng trên Tạp chí Văn học số 6, năm 1992, tác giả Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Ngày nay, nhắc đến

Vũ Ngọc Phan, ai cũng nhớ ngay ông là một nhà nghiên cứu Văn học dângian có tên tuổi Không hẳn chỉ vì ông là Tổng thư ký, rồi Phó chủ tịch Hội

Văn nghệ dân gian Việt Nam, mà vì ông là soạn giả bộ sách Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam dày dặn Có lẽ chưa ai có được một tác phẩm tái bản

đến lần thứ 8 trong lúc sinh thời của mình như Vũ Ngọc Phan Ông đã xácđịnh được vị trí của mình trong ngành học thuật này Ông là người dùngthuật ngữ “Văn học dân gian” trước nhất, thay thế cho các thuật ngữ “Vănchương bình dân”, “Văn chương truyền khẩu” Ông đã kịp thời có mặt ở mọi

Trang 6

nơi, mọi lúc cần phát huy và phục vụ khoa học Folklore Cuốn sách Qua những trang văn cho thấy ró ý tinh thần và ý thức trách nhiệm ấy” [25, 36].

Tạp chí Văn học, số 1, năm 1993, có đăng bài viết Vũ Ngọc Phan

trong nghiên cứu văn học theo đặc trưng thể loại và phong cách của tác giả

Nguyễn Ngọc Thiện Trong bài viết này, Nguyễn Ngọc Thiện đã đánh giá rấtcao những đóng góp của Vũ Ngọc Phan: “Ngay từ những ngày đầu bước vàonghề văn với tư cách là nhà nghiên cứu, phê bình văn học, trong quan niệmhọc thuật của mình, Vũ Ngọc Phan đã đặc biệt chú trọng đến cái đặc thù củalao động viết văn; đặc trưng từng thể loại văn chương; bản sắc dân tộc củavăn chương mỗi nước; lối đi riêng, nét đặc thù của phong cách nhà văn cóchân tài Sau hết, ông nhận rõ, cuối cùng văn chương hiện diện với đươngthời cũng như lưu lại cho đời sau bằng tác phẩm của nó “Thứ văn chương

bã mía” – nói theo cách Vũ Ngọc Phan, là một điều bất hạnh cho người đời.Hướng vươn tới là những “áng văn bất hủ”, “đến được sự tận thiện, tận mỹ”,như một thứ quả quý, như sự kết tinh “phô diễn những cái mình quý nhất,những cái mình yêu nhất, những cái mình ham thích nhất, say sưa nhất trongtrí não mình lên tờ giấy trắng” [59, 39]

Trong bài viết Nhà văn hiện đại một thành tựu lớn của phê bình văn học Việt Nam trước 1945 đăng trên Tạp chí Văn học, số 5, năm 1994, tác giả

Trần Thị Việt Trung cho rằng, “Vũ Ngọc Phan là một trong số rất ít nhà phê

bình hiện đại có trình độ chuyên môn cao ở nước ta thời kỳ trước năm 1945.Ông là người có ý thức hết sức rõ ràng về vai trò, trách nhiệm của một nhàphê bình văn học, đồng thời là một người có trình độ lý thuyết vững vàng và

có phương pháp phê bình bài bản nhất Công trình phê bình này của ôngthực sự là một công trình khoa học có giá trị Ông là người “phát hiện” ratốc độ phát triển cực kỳ nhanh chóng của văn học Việt Nam trong giai đoạnlịch sử này” [68,14] Đồng thời Trần Thị Việt Trung cũng cho rằng, “VũNgọc Phan đã xác định rõ phương pháp của mình, cũng như những cơ sở lýthuyết mà mình lấy làm điểm tựa Ông “hoan nghênh cái lý thuyết phê bình

Trang 7

Brunetiốre về luật tiến húa” nhưng lại phờ phỏn tớnh “độc đoỏn, thiờn vị” củatỏc giả lý thuyết này trong cụng việc phờ bỡnh Vỡ vậy ụng chủ trương dựng

“một phương phỏp tổng hợp”, phự hợp với “hoàn cảnh văn học” và “trỡnh độtrớ thức của dõn tộc” ễng làm việc “theo phương phỏp khoa học và căn cứvào những bằng chứng xỏc thực để phờ bỡnh, sự khen chờ khụng bao giờ vu

Cú thể núi rằng, những ý kiến trờn đõy về Vũ Ngọc Phan đều dànhnhững tỡnh cảm sõu sắc đối với cụng lao, đóng góp của Vũ Ngọc Phan, nhànghiờn cứu phờ bỡnh văn học hàng đầu của văn học Việt Nam Đõy là nhữngnhận xột thỏa đỏng của những người cựng thời với nhà văn hoặc là nhữngchuyờn gia nghiờn cứu lý luận văn học ở Việt Nam, nờn cú thể đem đến chochỳng tụi sự hỡnh dung một cỏch rừ ràng nhất về chõn dung của nhà nghiờncứu phờ bỡnh văn học Vũ Ngọc Phan

2.2 Những cụng trỡnh, bài viết về sự nghiệp phờ bỡnh nghiờn cứu văn học của Vũ Ngọc Phan

Theo thống kờ chưa đầy đủ, những cụng trỡnh nghiờn cứu, dịch thuật

và lý luận phờ bỡnh của Vũ Ngọc Phan bao gồm: Chõu đảo (dịch, 1932),

Trang 8

Aivanhô (dịch, 1932-1933), Trên đường nghệ thuật (1940), Nhà văn hiện đại, 4 tập, từ 1942 đến 1945, Người Xô viết chúng tôi (dịch, 1954), Tục ngữ cao dao dân ca Việt Nam 1956) tái bản 13 lần, Qua những trang văn (1976), Những năm tháng ấy (hồi ký, 1987), Vũ Ngọc Phan - tác phẩm (5 tập, 2001) Tập 1, tập hợp những bài Phê bình, Tiểu luận viết trong khoảng thời gian từ

1960 đến 1975; Thi sĩ trung nam (Biên khảo); Chuyện Hà Nội (Bút ký); Những cuộc đàm luận về văn chương ở Hà Nội; Những thức ăn cố hữu của

Hà Nội Tập 2, Những năm tháng ấy (Hồi Ký); Những trận đánh Pháp 1858-1884 tập nhất Tập 3, Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam Tập 4, Nhà văn hiện đại (Phê bình văn học - quyển nhất); Nhà văn hiện đại (Phê bình văn học - quyển hai); Nhà văn hiện đại (Phê bình văn học - quyển ba) Tập

5, Các tiểu thuyết gia (tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết luân lý, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết hoạt kê); Nhà văn hiện đại (Phê bình văn học - quyển tư - Tập hạ), tiểu thuyết tả chân, tiểu

thuyết xã hội, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết trinh thám);

Trong bài Đóng góp quan trong của Vũ Ngọc Phan vào văn học sử nước nhà, in trong Vũ Ngọc Phan – tác phẩm, tác giả Huy Cận cho rằng, Vũ

Ngọc Phan rất đáng quý về nhiều mặt, về bằng cấp, ông là một trong nhữngngười có bằng tú tài Tây sớm nhất ở nước ta nhưng ông không đi làm chochính quyền thuộc địa lúc bấy giờ mà chọn con đường làm báo, viết văn vớihoài bão góp phần bồi đắp cho sự nghiệp văn hóa nước nhà Một trongnhững đóng góp quan trọng của Vũ Ngọc Phan đối với văn học nước nhà

chính là những công trình nghiên cứu phê bình, trong đó Nhà văn hiện đại

được xem là công trình nghiên cứu phê bình văn học lớn Đây là một “bộVăn học sử qua những tác giả và tác phẩm cụ thể của một giai đoạn phát

triển quan trọng của nền văn học Việt Nam Nếu không có bộ sách Nhà văn hiện đại sẽ khó mà tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ và sinh động về một giai đoạn

văn học với bấy nhiêu tác giả và tác phẩm

Nhà văn Thiếu Mai đánh giá công lao của Vũ Ngọc Phan trong bài

viết Nhà văn Vũ Ngọc Phan với lớp trẻ Theo hồi ức của Thiếu Mai, hình

Trang 9

dung về Vũ Ngọc Phan là một nhà khoa học nghiêm khắc trong công việcnhưng lại hết sức chân thành trong việc dìu dắt các đồng nghiệp trẻ khi mớivào nghề Vũ Ngọc Phan “giống như bậc cha chú đã động viên, dìu dắt”Thiếu Mai vào nghề khi trong những ngày đầu non nớt và thiếu quyết tâm Về

tác phẩm Nhà văn hiện đại, Thiếu Mai cho rằng, đây là một công trình phê

bình dài hơi công phu đầu tiên, có tính bao quát, viết có phương pháp riêng,

và đáng quý nhất là với một thái độ công bình nhất quán từ đầu đến cuối

Và hơn hết thảy là tình cảm sâu nặng của những người thân trong gia

đình nhà văn, Vũ Tuyên Hoàng với những hình dung về Bàn viết của cha (thơ), Người cha của chúng tôi Theo hồi ức của Giáo sư Vũ Tuyên Hoàng,

ngoài những tình cảm xúc động về một người cha đáng kính còn có nhữngnhận định về công việc và đóng góp của Vũ Ngọc Phan trong sự nghiệp

nghiên cứu phê bình văn học Về tác phẩm Nhà văn hiện đại, Vũ Tuyên

Hoàng cho rằng, “Ngày nay nhìn lại, khối lượng tập phê bình đồ sộ như thếthật đáng ngạc nhiên, vì công sức lao động của một người trong một thờigian không dài” (lúc ấy Vũ Ngọc Phan 36 tuổi) [53, 93]

Những học giả là những nhà nghiên cứu và cũng là những người bạntri âm của Vũ Ngọc Phan đã dành nhiều tình cảm chân thành cũng nhưnhững đánh giá công bằng về quá trình lao động nghệ thuật và những đónggóp của Vũ Ngọc Phan Qua những bài viết, những công trình nghiên cứu về

Vũ Ngọc Phan, chúng ta có dịp hình dung rõ hơn về con người suốt một đờitâm huyết với văn chương

Tác giả Phong Lê có bài viết Hơn nửa thế kỷ lao động không mệt mỏi,

lời mở đầu của Hội thảo khoa học nhân 90 năm ngày sinh của Vũ NgọcPhan Trong cách nhìn nhận của Phong Lê, Vũ Ngọc Phan vừa là nhà nghiêncứu, phê bình văn học hiện đại, nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian,nhà báo, nhà dịch thuật, nhà văn Tác giả Phong Lê nhấn mạnh “về vị trí mởđầu của hai bộ sách mà tác giả (Vũ Ngọc Phan) là người khai phá, là một mởđầu rất đặc biệt, vì tầm vóc lớn của nó, vì khả năng tổng hợp của nó – qua đóthấy tác giả không chỉ là người gắn bó tâm huyết với nghề, mà còn là người

Trang 10

có tác phong chu đáo, cẩn trọng và có trách nhiệm rất cao với nghề” [53,

101] Với tác phẩm Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, tác giả Phong Lê

cho rằng, những thao tác cần thiết cho việc biên soạn bộ sách này thật sự làcông phu, tỉ mỉ, tuân thủ những kỷ luật nghiêm khắc của lao động khoa học,

mà sức một người, như nhiều thế hệ sau này đều khó lòng kham nổi

Trần Quốc Vượng với bài viết Đóng góp của Vũ Ngọc Phan vào nền văn học dân gian Việt Nam, in trong Vũ Ngọc Phan – tác phẩm có nhận

định, cùng với nhà nghiên cứu lý luận văn học dân gian Cao Huy Đỉnh, ngay

từ những năm 1968, nhà văn Vũ Ngọc Phan đã đề xướng lên phương phápsưu tầm tổng hợp về văn nghệ dân gian: đối chiếu, so sánh, sưu tầm cáckhảo dị của văn học dân gian nước ta với thế giới Trần Quốc Vượng cho

rằng, cho đến nay, Tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam là một trong những

tác phẩm lớn nhất trong văn nghiệp của Vũ Ngọc Phan, và cũng là một trongnhững đóng góp lớn nhất cho nÒn văn học dân gian nước nhà

Tác giả Phan Đăng Nhật đã tóm tắt đóng góp của Vũ Ngọc Phan đối

với văn học Việt Nam trong phần kết luận của bài viết Từ “Nhà văn hiện đại” đến “Tục ngữ cao dao dân ca Việt Nam”, khi ông cho rằng, trong mấy

chục năm cuối đời, Vũ Ngọc Phan tuy có đóng góp về nhiều mặt nhưng đãdành hẳn tình cảm, sự tin yêu, tri thức, và trí tuệ cho văn học nghệ thuật dângian, văn hóa dân gian, và đứng ở vị trí của văn hóa dân gian để cất lên tiếngnói hòa vào bản giao hưởng chung của đất nước, dân tộc, của khoa học vàvăn hóa nghệ thuật

Trong bài viết Vũ Ngọc Phan với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tác

giả Bùi Xuân Bào cho rằng, công trình phê bình quan trọng của Vũ Ngọc

Phan, nhân đề Nhà văn hiện đại là một kho chỉ dẫn về văn học nước nhà ta

nửa đầu thế kỷ XX Ông phân loại tiểu thuyết theo thể loại, trong từng thểloại ông nghiên cứu những nhà văn tiêu biểu nhất cách phân loại này cócái lợi thực tế là làm nổi bật lên được xu hướng chính của mỗi nhà tiểuthuyết Nhưng có phần độc đoán đối với những tác giả viết thành công ởnhiều thể loại

Trang 11

Nguyễn Xuân Kính - Hồ Việt Quang với công trình viết chung Vũ Ngọc Phan và việc sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu tục ngữ ca dao, in trong

Vũ Ngọc Phan – tác phẩm, (tập 5, xuất bản năm 2000) đã cho rằng, với một

cuộc đời lao động không mệt mỏi Vũ Ngọc Phan đã để lại cho sự nghiệpnghiên cứu văn hóa dân gian nói chung, tục ngữ ca dao dân ca nói riêngnhững công trình sưu tầm nghiên cứu rất quý báu Cũng như một số nhàkhoa học cùng thế hệ, bên cạnh những thành công, ông cũng khó tránh khỏinhững hạn chế của một thời Nhưng nhìn chung, những cống hiến của VũNgọc Phan trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu tục ngữ ca dao dân ca là rấtđáng trân trọng, và ông cũng để lại cho hậu thế những kinh nghiệp hết sức

bổ ích, góp phần thúc đẩy những bước đi lên của khoa học nghiên cứu vănhọc dân gian Việt Nam

Ngoài ra còn nhiều những ý kiến rải rác trên các báo, tạp chí và côngtrình chuyên khảo viết về tác giả Vũ Ngọc Phan và những đóng góp của ôngtrên các phương diện dịch thuật, khảo cứu, nghiên cứu và lý luận phê bìnhvăn học một chúng tôi không có điều kiện tiếp xúc và chắn rằng những nhậnđịnh về Vũ Ngọc Phan sẽ chưa thực sự đầy đủ

Nhìn chung, những ý kiến đánh giá về công lao của Vũ Ngọc Phanđối với nền văn học nước nhà là tương đối thống nhất Trong đó, nhiều ýkiến cho rằng, Vũ Ngọc Phan là một trong những người đã có công lớn trongviệc đặt nền móng cũng như đi tiên phong trong sự nghiệp nghiên cứu, phêbình văn học Việt Nam hiện đại cũng như văn học dân gian Ông được xem

là nhà phê bình văn học có tư duy hiện đại, sắc sảo và tinh tế trong nhậnđịnh những sáng tác của các nhà văn những năm trước 1945 Từ nhữngcông trình khảo cứu, nghiên cứu và phê bình của Vũ Ngọc Phan, chúng ta cóthể hình dùng về chân dung người làm công tác khoa học văn học - và cũng

là một công việc rất quan trọng trong việc làm phong phú đời sống văn học,góp phần thúc đẩy sự phát triển văn học của một đất nước Có thể nói,nghiên cứu về Vũ Ngọc Phan hầu như mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá riêng

Trang 12

rẽ những thành tựu của ông trong nghiên cứu về văn học dân gian và các nhàvăn hiện đại Việt Nam Trên thực tế vẫn còn thiếu những công trình chuyênbiệt, có tính hệ thống để đánh giá công lao của Vũ Ngọc Phan trong nền lýluận phê bình văn học Việt Nam hiện đại

Từ những ý kiến trên, chóng tôi lựa chọn đề tài Đóng góp của Vũ Ngọc Phan trong nghiên cứu phê bình văn học làm đề tài cho luận văn.Việc

làm này vừa góp phần nhận rõ chân giá trị của một loại hình lao động đặcbiệt, hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình văn học, vừa nhìn nhận mộtcách sáng rõ hơn đóng góp của Vũ Ngọc Phan với tư cách là một trongnhững cây bút phê bình hàng đầu của Việt Nam

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đóng góp của Vũ Ngọc Phan trên phương

diện nghiên cứu, phê bình văn học qua các công trình của ông về văn họcdân gian, văn học hiện đại Việt Nam

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát: Những công trình nghiên cứu, lý luận phê bình của Vũ Ngọc Phan: Vũ Ngọc Phan - Tác phẩm (Tái bản - 2000), 5 tập, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (Tái bản -

1978), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nhưphương pháp cấu trúc - hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp tiểu

sử, phương pháp phân tích - tổng hợp

Cùng với việc sử dụng những phương pháp nghiên cứu trên, luận văncòn sử dụng các thao thác cụ thể như khảo sát, thống kê, phân loại, so sánh,khái quát, đánh giá

5 Đóng góp khoa học của luận văn

Luận văn là công trình chuyên biệt, nghiên cứu toàn diện về nhữngđóng góp của Vũ Ngọc Phan đối với phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam.Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến công tác

Trang 13

lý luận phê bình văn học nói chung, sự nghiệp và công lao đóng góp của nhànghiên cứu Vũ Ngọc Phan nói riêng

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Vai trò của lý luận phê bình trong đời sống văn học

Chương 2 Những đóng góp nổi bật trong sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan

Chương 3 Vũ Ngọc Phan và tác phẩm Nhà văn hiện đại

Trang 14

Chương 1 VAI TRÒ CỦA LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC 1.1 Khái niệm Lý luận văn học, Lịch sử văn học và Phê bình văn học

1.1.1 Khái niệm lý luận văn học

Lâu nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về vai trò, chức năngcũng như bản chất của một số chuyên ngành nghiên cứu văn học, và ngàynay việc định danh chúng vẫn còn đang được thảo luận Về mối quan hệ

giữa Lý luận văn học, Lịch sử văn học và Phê bình văn học, có thể nói là rất

khó phân định, bởi chúng có chung một đối tượng nghiên cứu là văn học.Ngay cả công cụ và phương pháp nghiên cứu thì hầu như cũng chưa đượcphân chia một cách rạch ròi

Lý luận văn học là “bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyếtkhái quát Lý luận văn học nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chứcnăng xã hội - thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và cácphương pháp phân tích văn học Có thể tập hợp các vấn đề được nghiên cứubởi lý luận văn học vào ba nhóm chính: 1) Lý thuyết về tính đặc trưng củavăn học như một hoạt động sáng tạo tinh thần của con người (các khái niệmchính ở đây là: tính hình tượng, tính nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ, các thuộctính xã hội của văn học, các nguyên tắc đánh giá sáng tác văn học nóichung); 2) Lý thuyết về cấu trúc tác phẩm văn học (các khái niệm chính: đềtài, chủ đề, nhân vật, tính cách, cảm hứng, cốt truyện, kết cấu, các vấn đềphong cách học (tu từ học), ngôn ngữ, luật thơ, thi học lý thuyết); 3) Lýthuyết về quá trình văn học (các khái niệm chính: phong cách, các loại vàcác thể văn học, các trào lưu, khuynh hướng văn học, quá trình văn học nóichung)” [2, 194-195]

Có thể hiểu lý luận văn học bao gồm công việc của nhà nghiên cứuvăn học khi nghiên cứu các khuynh hướng, trào lưu và các phong cách vănhọc khác nhau Bởi để nhận diện những vấn đề này, người nghiên cứu phảixuất phát từ những tác giả, tác phẩm, trào lưu sáng tác, khuynh hướng vănhọc cụ thể hoặc những hiện tượng văn học đương diễn ra trong đời sống

Trang 15

Tác giả Trương Đăng Dung cho rằng, trong giới nghiên cứu lý luậnvăn học trên thế giới đang có ba quan niệm khác nhau sau đây về vị trí và

chức năng của lý luận văn học Quan niệm thứ nhất, có mỹ học văn học bên

cạnh lý luận văn học nhưng khác với lý luận văn học, nó không nghiên cứubằng phương pháp quy nạp chuyên ngành mà nghiên cứu trong mối liên hệ

với lý luận nghệ thuật nói chung Ở quan niệm thứ hai, không có mỹ học văn

học, chỉ có lý luận văn học như là siêu khoa học, nó nghiên cứu những kháiniệm được đặt ra từ hoạt động nghiên cứu thực nghiệm (như nghiên cứu lịch

sử văn học, phong cách học, thi pháp…) và những khái niệm đó được lýluận văn học nghiên cứu hệ thống của những khái niệm chung nhất Và quan

niệm thứ ba, coi lý luận văn học là lý luận khoa học, đối tượng nghiên cứu

của nó không phải là bản thân văn học mà là chính khoa học văn học Như là

“siêu khoa học của khoa học văn học, lý luận văn học nghiên cứu những vấn

đề thuộc về phương pháp luận của khoa học văn học” [9, 28]

Trong sự phát triển của khoa học xã hội ngày nay, việc làm sáng rõ vịtrí và chức năng của lý luận văn học trong hệ thống khoa nghiên cứu văn học

là một công việc cần thiết Bởi vì, xét cho cùng sự phát triển của tư duy khoahọc đòi hỏi phải phân biệt ranh giới giữa các ngành nghiên cứu, cho dùchúng đều nằm trong một hệ thống khoa học thống nhất, có chung một đốitượng nghiên cứu như khoa học văn học Lý luận văn học cùng với lịch sửvăn học và phê bình văn học tạo nên một hệ thống khoa học trong đó mỗingành nghiên cứu vừa có mối liên hệ gắn bó với nhau nhưng đồng thời lạivẫn có sự độc lập về đối tượng và phương pháp nghiên cứu Quá trình xácđịnh nhiệm vụ và chức năng của mỗi ngành khoa học xảy ra không phải do

sự thiên vị hẹp hòi mà là do nhu cầu phát triển nội tại của khoa học, quátrình đó gắn liền với sự phát triển chung của khoa học văn học Do bao gồmnhiều ngành khoa học, khoa nghiên cứu văn học còn được gọi là các khoahọc văn học Các khoa học văn học này không phải ngay từ khởi đầu đã tạođược một hệ thống nghiên cứu thống nhất với những cố gắng nhằm kết hợp

Trang 16

các kết quả của những ngành khoa học giáp ranh ở giai đoạn mới hìnhthành, khoa học văn học chưa phân định rạch ròi ranh giới giữa các ngànhnghiên cứu, thậm chí quá coi trọng lĩnh vực này mà xem nhẹ lĩnh vực kia,hoặc là đồng nhất một số lĩnh vực như trong trường hợp lý luận văn học vàphê bình văn học thế kỷ XIX.

Nhà lý luận văn học người Ba Lan Henryk Markiewicz, đã chia khoahọc văn học làm ba lĩnh vực chính: 1) Lịch sử văn học (gồm nghiên cứu lịch

sử văn học, phê bình văn bản, văn học dân gian, văn học so sánh) 2) Lý luậnvăn học (gồm nghiên cứu thi pháp, trong khuôn khổ đó nghiên cứu phongcách học, thi học và lý luận thể loại) 3) Siêu khoa học văn học (gồm nghiêncứu phương pháp luận của khoa học văn học và văn bản học) Điều đáng chú

ý ở đây là Markiewicz đã tách lý luận văn học ra khỏi siêu khoa học vănhọc, theo ông lý luận văn học không nghiên cứu những vấn đề phương phápluận Đây là quan điểm của nhiều nhà lý luận hiện nay trên thế giới, tuynhiên nhiều người không đồng nhất với ý kiến của Markiewicz

Lý luận văn học vừa nghiên cứu các phạm trù và nguyên lý vănchương lại vừa là siêu khoa học của khoa học văn học, lấy chính khoa vănhọc làm đối tượng nghiên cứu Trong nghĩa hẹp nhất, lý luận văn học nghiêncứu điều kiện tồn tại của tác phẩm văn học (tức là những mối liên quan bênngoài mang tính cố định, gồm sự ra đời và điều kiện ra đời của tác phẩm);nghiên cứu những quy luật thuộc về cấu trúc (tức là cấu trúc bên trong tácphẩm, gồm tư tưởng nghệ thuật, hành động, cốt truyện, mâu thuẫn, tìnhcảm); nghiên cứu phương thức tồn tại và những hình thức xuất hiện khác củatác phẩm văn học (tức là thể loại và sự khác nhau giữa các thể loại); nghiêncứu tiến trình văn học (tức là các giai đoạn, trào lưu, trường phái của vănhọc); nghiên cứu chất liệu xây dựng tác phẩm (tức là ngôn ngữ văn học); vàcuối cùng là nghiên cứu hệ thống lôgic cùng những vấn đề phương phápluận của khoa học văn học Trong nghĩa rộng nhất thì tất cả các bài nghiêncứu lý luận xuất hiện trong hệ thống khoa nghiên cứu văn học đều thuộc về

lý luận văn học

Trang 17

Nói như vậy cũng có nghĩa là phạm trù khoa học mà lý luận văn họcquan tâm rất rộng, bao hàm những vấn đề ngoại diên và nội hàm của thuậtngữ “tác phẩm văn học” Và thực tế cho thấy, lý luận văn học đang đảmtrách những nhiệm vụ nặng nề của công tác nghiên cứu văn học Từ nhữngcông trình nghiên cứu có tính chất lý luận của văn học đến những công trìnhnghiên cứu có tính chất chuyên sâu về nguyên lý của văn chương đã baohàm lý luận văn học.

Lý luận văn học được hiểu là: “Một mặt là hoạt động sáng tác, một

nghệ thuật, một mặt khác, nếu như không phải là khoa học với đúng nghĩacủa nó, thì đó cũng là một loại nhận thức, một hoạt động trí tuệ Cố nhiên, đã

có những ý đồ không thừa nhận sự khác biệt đó Ví dụ người ta đã từngkhẳng định là chỉ có người nào sáng tác văn học mới có khả năng hiểu được

nó, là không thể nghiên cứu Pope nếu chưa tự mình làm được những bài anhhùng, hay hiểu bi kịch Elizabeth nếu chưa viết được một vở kịch thơ trướcđó” [74, 12] Đồng thời, có thể hiểu, lý luận văn học theo nghĩa rộng nhất lànhững công trình nghiên cứu về văn học nói chung Ở đây không hạn chếkhông gian hoạt động của lý luận văn học trong việc nghiên cứu những vấn

đề liên quan xung quanh tác phẩm văn học, bản thân tác phẩm và tác giả vănhọc, tiến trình văn học, phong trào và khuynh hướng sáng tác Còn theonghĩa hẹp, lý luận văn học là một chuyên ngành chuyên nghiên cứu nhữngvấn đề thuộc về nguyên lý, lý thuyết văn học trên mức độ khái quát nhất

1.1.2 Khái niệm lịch sử văn học

Lịch sử văn học (tiếng Pháp: histoire litteraire) là một bộ môn củakhoa nghiên cứu văn học, bao gồm nghiên cứu quy luật sinh thành và pháttriển của các hiện tượng và quá trình văn học diễn ra trong những điều kiện

xã hội – lịch sử nhất định, chẳng hạn, tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu,các giai đoạn đã qua của nền văn học dân tộc Người ta cũng viết lịch sử văn

học khu vực (như lịch sử văn học Mỹ La-tinh ) nhưng bao giờ đó cũng là sự

tổng hợp lịch sử văn học của các dân tộc Hướng vào đối tượng chủ yếu là

Trang 18

phương diện sinh thành của các hiện tượng văn học, lịch sử văn học còn chú ý

cả đến sự phân đoạn (như lịch sử văn học thời Lý – Trần), sự phân dòng (như chủ nghĩa hiện thực phê phán ở Việt Nam, lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc, ) hoặc kết hợp cả hai (như thơ Đường, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, ) Ngoài

ra, tiếp nhận văn học cũng có lịch sử của nó Chẳng hạn lịch sử tiếp nhận

Ham-let, Đôn Ki-hô-tê, lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều Bên cạnh lịch sử vĩ mô

như lịch sử văn học dân tộc, còn có lịch sử văn học vi mô như lịch sử sáng tạotác phẩm cụ thể, lịch sử văn bản, “Thông qua việc tái tạo diện mạo cá biệtnhững hiện tượng văn học cụ thể trong quá trình phát triển lịch sử, lịch sử vănhọc lý giải, làm sáng tỏ bản chất cũng như quy luật vận động của các hiệntượng ấy, tìm hiểu ý nghĩa của chúng đối với đời sống xã hội, xác định xemchúng có đóng góp gì mới về tư tưởng – nghệ thuật” [2,181]

Tính liên ngành trong nghiên cứu văn học đã làm cho lý luận văn học,lịch sử văn học và phê bình văn học nằm trong mối tương quan về đốitượng Nếu lý luận văn học giải quyết những vấn đề thuộc về lý thuyết thìlịch sử văn học quan tâm đến tính quá trình của văn học, gắn liền với cáchiện tượng văn học là vấn đề thời gian, diễn tiến, là trước sau trên trục thờigian lịch sử

1.1.3 Khái niệm phê bình văn học

Một nền văn học phát triển không thể thiếu một hoạt động có tínhchất đặc thù, đấy là hoạt động phê bình văn học Đây là một hoạt động đặcbiệt, xuất hiện khi trong xã hội có nhu cầu nhận thức về giá trị của văn họcmang “tính chuẩn mực” Phê bình văn học chỉ tồn tại và phát triển khi và chỉkhi bản thân hoạt động đó mang lại cho con người những nhận thức có tínhđịnh hướng thẩm mỹ Phê bình văn học được hiểu là “sự phán đoán, bìnhphẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việcphán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tácphẩm nói tới Phê bình văn học được coi như hoạt động tác động trong đờisống văn học, đồng thời còn được coi như một bộ môn ưu tiên soi rọi những

Trang 19

quá trình, những chuyển động đang xảy ra trong văn học hiện thời, khảo sátcác sản phẩm xuất bản và báo chí, phản xạ với các hiện tượng văn học, với

sự cảm thụ văn học của công chúng Ngay khi bàn về di sản văn học quákhứ, nhà phê bình cũng chủ yếu xuất phát từ các nhiệm vụ xã hội và thẩm

mỹ của hiện tại” [2, 259]

Nói như vậy, phê bình trước hết là một công việc giúp cho hoạt độngvăn học trở nên “suôn sẻ” hơn Nó vừa là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm

sự phát triển của văn học, lại vừa là nhân tố xã hội “sống” được nhờ thamgia vào các hoạt động văn học Hoạt động phê bình có lẽ xuất hiện đồng thờivới hoạt động sáng tác văn học và “giám sát” hoạt động sáng tác không chỉtrong hiện tại đương thời mà cả trong quá khứ Nhưng đồng thời, hoạt độngphê bình lại có khả năng định hướng cho hoạt động sáng tác

Phê bình văn học là việc phân tích đánh giá đối với tác giả, tác phẩm,trường phái, trào lưu văn học theo một quan điểm lý luận nhất định và mộtchuẩn mực thẩm mỹ nhất định Phê bình văn học phát triển và đi sâu hơntheo với sự phồn vinh của sáng tác văn học Ngược lại, nó có tác dụng thúcđẩy đối với sáng tác văn học Đồng thời cũng nêu lên tiêu chuẩn phê bình,theo đó được hiểu là thước đo để đánh giá tính tư tưởng và tính nghệ thuậtcủa tác giả văn nghệ Tiêu chuẩn phê bình bao gồm hai phương diện: Tiêuchuẩn tư tưởng và tiêu chuẩn nghệ thuật Hai phương diện này có liên quanvới nhau, được hình thành dần dần trong thực tiễn phê bình và diễn biếnkhông ngừng theo sự thay đổi của thời đại và sự phát triển của hoạt độngsáng tác Thời đại khác nhau, giai cấp khác nhau, có tiêu chuẩn phê bìnhkhác nhau Cùng một giai cấp nhưng trong thời kỳ lịch sử khác nhau cũng cónhững yêu cầu khác nhau đối với tiêu chuẩn phê bình Đấy là chưa nói đếnkiểu phê bình phục vụ mục đích chính trị đơn giản nào đấy, không mang tínhthẩm mỹ hoặc khoa học

Với đặc trưng của một bộ môn khoa học đặc thù, phê bình văn học cóthể trở thành văn học, tức là nghệ thuật ngôn từ Phê bình nghệ thuật nói

Trang 20

chung khó có thể làm được điều này Phê bình âm nhạc không bao giờ trởthành âm nhạc, bản thân sản phẩm phê bình điện ảnh không thể trở thànhmột tác phẩm điện ảnh Tuy nhiên, không phải tất cả các dạng “viết lách”thuộc phạm vi phê bình văn học nghệ thuật đều được coi là văn học Chỉ một

số ít trang viết, công trình đạt tới tính nghệ thuật cao về ngôn từ thẩm mỹ,bộc lộ một phong cách độc đáo, có một cái nhìn sắc sảo, có chủ kiến mới cóthể trở thành văn học Như chúng ta đang nói tới một ví dụ cụ thể là tác

phẩm Nhà văn hiện đại, nó được coi là một tác phẩm văn học và đồng thời

tác giả Vũ Ngọc Phan cũng được coi là một nhà văn Xét về mặt lịch sử củaphê bình văn học, có thể thấy rằng, những phán đoán phê bình hầu như xuấthiện đồng thời với sự xuất hiện của văn học, ban đầu với tư cách là những ýkiến của các độc giả quan trọng, hiểu biết nhất; không ít trường hợp các độcgiả này cũng là người sáng tác văn học Ngay khi đã được tách ra thành mộtloại công việc văn học, phê bình văn học trong suốt nhiều thời đại vẫn chỉgiữa một vai trò “ứng dụng” khiêm nhường - vai trò của sự đánh giá kháiquát về các tác phẩm, giới thiệu tác phẩm với bạn đọc, khích lệ hoặc chỉtrích tác giả Chỉ với sự phát triển của văn học, mục tiêu, tính chất của phêbình văn học mới trở nên phức tạp đòi hỏi chính phê bình phải được phânnhánh đa dạng

Bản thân các bài phê bình có giá trị đã mang trong nó tính khoa học,trong nhận thức cũng như trong cách trình bày Không thể coi là một sảnphẩm phê bình tốt nếu những nhận định (thường là mang tính chủ quan) lạithiếu tính khoa học, nghĩa là không xác đáng Nhưng đặc trưng cơ bản củamột sản phẩm phê bình không phụ thuộc những chuẩn mực của một côngtrình khoa học, nó là sản phẩm của cảm thụ chủ quan, tùy thuộc vào cảmxúc, trực giác và hoàn cảnh tiếp nhận cụ thể Nếu yêu cầu làm lại trong mộthoàn cảnh khác sẽ là một thách thức không dễ vượt qua Bởi nó không cómột quy trình bắt buộc như khi tiến hành một công trình nghiên cứu khoahọc bình thường khác

Trang 21

Nhà lý luận R.Wellek cho rằng, bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nàotồn tại lúc này, nó được mở ra cho người đương thời tìm hiểu, nó được sángtác ra ngày hôm qua, hay một nghìn năm về trước nó vẫn là một phương ángiải quyết một số vấn đề nghệ thuật Không thể phân tích nó, xem xét tínhcách nó và đánh giá nó, nếu không luôn luôn sử dụng các phương pháp phêphán “Nhà nghiên cứu lịch sử văn học cần phải là một nhà phê bình dù chỉ

là để vẫn là nhà nghiên cứu lịch sử” Trong lĩnh vực văn học, học thuật,không bao giờ người ta có thể dễ dàng nhất trí quan điểm với nhau, mà cũngkhông cần dễ dàng nhất trí Đúng như người xưa từng nói “văn chương tự cổ

vô bằng cứ” Trên Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 3 năm 1963), tác giả Như

Phong cho rằng, không nên lẫn lộn công việc của một nhà phê bình với côngviệc của một cơ quan phát hành, hoặc của một thầy giáo giảng văn trongtrường học, hoặc của một bộ phận chọn sách của nhà xuất bản… “phê bình

có thể giúp rất nhiều cho việc phổ biến sâu rộng một tác phẩm văn học trongquần chúng, có thể giúp người đọc dễ lĩnh hội, dễ cảm thụ một cách tinh tế,khoa học hơn những yếu tố đã làm thành giá trị của một tác phẩm văn học,tài năng của một tác giả… phê bình có một trách nhiệm trong sự phát triểncủa toàn bộ nền văn học theo một phương hướng, một yêu cầu nhất định”

Khi nhìn nhận về khả năng của một người làm phê bình, cũng cần xácđịnh rằng, người làm công việc này phải hiểu rõ đối tượng mình nghiên cứumột cách sâu sắc, sáng suốt để có thể khám phá không bỏ sót trong đó tất cảnhững gì là sáng tạo chân chính đóng góp đáng giá cho văn học cũng nhưcho đời sống xã hội Không những thế, người phê bình ngoài việc biết nhìnnhận ra trước, còn biết phân tích soi sáng, tìm ra nguyên nhân, vạch ra bảnchất khuynh hướng, là điều mà người đọc thông thường ít khi nhận thấy màngay cả tác giả có khi cũng không tự biết nữa Tất nhiên, đó không phải làviệc sáng tác thêm để cho tác phẩm được hoàn hảo mà xuất phát từ đặctrưng của văn học là nghệ thuật ngôn từ, tính đa nghĩa của tác phẩm ngôn từnhiều khi vượt xa những mục đích sáng tạo ban đầu Chính vì những lẽ đó,

Trang 22

người làm công việc phê bình trước hết phải có một thái độ trân trọng, trântrọng đây không chỉ là lòng yêu mến, ân cần thật sự đối với một công phulao động nghệ thuật mà còn là cách làm việc thận trọng, nghiêm túc trongkhi nghiên cứu nó Khi đưa ra những nhận định về một tác phẩm văn học,người phê bình cần phải có một thái độ khách quan không có chút định kiếnnào, tìm hiểu cho hết các phương diện, các yếu tố của nó, luôn luôn bănkhoăn rằng còn dụng ý thầm kín nào của tác giả mà mình chưa thấy hết.

Lịch sử công việc phê bình đã có từ rất lâu Trong lịch sử văn họcTrung Quốc có những tên tuổi như Kim Thánh Thán, Mao Tôn Cương hoặc những lời bình của “thời nhân” và “hậu nhân” đã làm cho những tác

phẩm văn học cổ điển Trung Quốc như Tam quốc diễn nghĩa, Hồng Lâu mộng, Tây du ký, Thủy hử, trở nên nổi tiếng hơn, nhận được sự quan tâm

của người đời nhiều hơn Những ý kiến của Mộng Liên Đường chủ nhân đốivới Nguyễn Du và Truyện Kiều không phải là những lời phê bình xác đánghay sao? Hoài Thanh và Hoài Chân đã gắn tên tuổi của mình với phong tràoThơ mới và làm cho nó trở nên bất tử, phải chăng là bởi công trình phê bình

Thi nhân Việt Nam Ngày nay, khi xuất bản các tác phẩm văn học, có hiện

tượng nhà xuất bản cho in kèm theo những nhận xét có tính chất như nhữnglời phê bình vào đầu hoặc cuối sách Phải chăng đó là cách đưa các ý kiếncủa phê bình vào tác phẩm, hoặc để định hướng tiếp nhận hoặc để tạo một sự

“bảo đảm” cho sự thành công của tác phẩm khi xuất bản

1.1.4 Mối quan hệ giữa lý luận văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học

Ở phần trên, chúng tôi đã trình bày những khó khăn trong việc địnhdanh một cách rạch ròi chức năng, đối tượng cũng như phương pháp nghiêncứu của nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học Theo R Wellek và A

Warren, hai tác giả cuốn sách nổi tiếng Lý luận văn học (xuất bản năm

1949), thì “khi chúng ta lập luận tính đúng đắn của một phương pháp khoahọc đối với văn học, ta cần thừa nhận là có thể nghiên cứu nó một cách có hệthống và toàn diện Trong tiếng Anh không có một thuật ngữ đủ đạt để khắc

Trang 23

họa lĩnh vực hoạt động của khoa học này Thường thì người ta sử dụng thuậtngữ “nghiên cứu văn học”, và “ngữ văn học” Chỉ có thể phản đối thuật ngữđầu tiên như sau: nó không bao gồm “phê bình văn học” và nó trói buộc quáchặt chẽ đối tượng của khoa học về văn học với các môn kinh điển, nó chắcchắn là có thể được chấp nhận với một điều kiện rằng sẽ đưa vào khái niệm

“nhà học giả nghiên cứu văn học” một ý nghĩa rộng rãi mà Emerson đưa vàokhái niệm “nhà bác học” [74, 60] Và hai ông cho rằng, đối với công việc

nghiên cứu, việc giới hạn phạm vi Lý luận văn học, Lịch sử văn học và Phê bình văn học, đương nhiên là quan trọng Trước hết ta lưu ý rằng, có thể

xem xét văn học như một tổng thể các tác phẩm đồng thời tồn tại hay là,khác với phương pháp khác, mà trước hết như là một chuỗi tác phẩm kế tiếpnhau trong một trình tự lịch đại như những bộ phận cấu thành của một quátrình lịch sử Tiếp theo nữa, có sự khác biệt giữa những các nguyên tắc vàcác tiêu chí chung trong sáng tác văn học và sự phân tích các tác phẩm cụthể của nghệ thuật ngôn ngữ, chúng được lấy ra một cách biệt lập hay theomột trình tự niên đại

Một nhà phê bình mà không hề thấy lo ngại gì, khi hoàn toàn khôngbiết gì đến tất cả những quan hệ hình thành trong các thời kỳ lịch sử trongvăn học, thì sẽ luôn luôn mắc những sai lầm thô thiển trong những nhận xétcủa mình Anh ta sẽ không thể xác định được tác phẩm nào là mới và tácphẩm nào bắt chước; vì không biết các điều kiện lịch sử sản sinh ra tácphẩm, anh ta không tránh khỏi sẽ rơi vào sai lạc khi nói đến bản chất của nó.Một sự hiểu biết nghèo nàn hay hoàn toàn không hiểu biết lịch sử sẽ dẫn nhàphê bình vào con đường phán đoán mò hời hợt, hay anh ta làm cái việc đi

mô tả những cuộc “du ngoạn của mình khắp thế giới của các kiệt tác”; anh ta

sẽ cố tránh gặp văn học của một quá khứ xa xưa, khi tuyên bố rằng đó là lĩnhvực của “nhà học giả - nhà sưu tầm đồ cổ” và “nhà triết học” [74, 75]

Về phê bình văn học, tác giả của công trình này cho rằng, thuật ngữ

“phê bình văn học” cũng đôi lúc được dùng với nghĩa rộng hơn, bao gồm cả

lý luận văn học, nhưng đồng thời cũng xem thường sự khác biệt quan trọng

Trang 24

giữa các lĩnh vực này… “Các phương pháp nghiên cứu văn học được mô tảtrên đây không phải được xếp đặt biệt lập với nhau, chúng liên quan chặt chẽvới đến nỗi lý luận văn học không thể có nếu thiếu phê bình văn học và lịch

sử văn học, phê bình không thể thiếu lịch sử và lý luận văn học, còn lịch sửkhông thể thiếu lý luận và phê bình Cố nhiên lý luận văn học chỉ có thể tồntại trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm cụ thể…” [74, 63]

Về sự giống và khác nhau giữa lý luận văn học và lịch sử văn học, có

ý kiến cho rằng, “phê bình văn học và lý luận văn học khác nhau ở chỗ lýluận văn học cố gắng đạt được sự nhận biết mang tính hệ thống các hiệntượng văn học, lý luận văn học hoạt động trên bình diện cái trừu tượng, cònphê bình văn học luôn bám vào các tác phẩm văn chương cụ thể Phê bìnhvăn học nêu lên những vấn đề của văn học đương đại, nhưng việc nắm bắt

và nêu lên một cách khái quát những quy luật phát triển của văn học nằmtrong các hiện tượng mới xuất hiện thì không phải là nhiệm vụ của phê bìnhvăn học” [9, 30]

Đời sống văn học của nước ta những năm gần đây cho thấy một hiệntượng đáng quan ngại, đó là tình hình sa sút của văn hóa đọc Đây khôngphải là hiện tượng cá biệt của Việt Nam so với các nước trên thế giới, nhưngvới chúng ta, hình như giữa người làm phê bình và sáng tác vẫn chưa tìmđược tiếng nói chung, khiến cho việc tiếp nhận tác phẩm của công chúngthiếu hẳn tính định hướng Một phần do sự phát triển của sáng tác đã vượtlên hay nói cách khác, phê bình đã không theo kịp sự đổi mới của sáng tác

Nhận xét về vai trò của người làm công tác phê bình với tư cách làmột hoạt động nghệ thuật, tác giả Nguyễn Đăng Điệp cho rằng, trong quan

hệ với công chúng độc giả, nhà phê bình nhiều lúc quên mất vai trò địnhhướng thị hiếu cho họ với tư cách là “siêu độc giả”… Trong khi giúp ngườiđọc cảm nhận được vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ (ấy là nói những bài phêbình “đích đáng”), ngoài những yêu cầu cao về mặt khoa học, văn bản phêbình cần phải được trình bày như một ấn phẩm mang tính nghệ thuật Đây là

điều đòi hỏi nhà phê bình vừa phải rất tỉnh lại vừa phải biết say… Tác giả

Trang 25

Hoàng Ngọc Hiến hơn một lần cảnh báo: “phê bình cần phải có văn, có giọng Cố nhiên, điều này không hẳn là chuyện màu mè câu chữ mà quan

trọng hơn, là sự đồng cảm, tri ngộ giữa nhà phê bình và nghệ sĩ” [13, 38]

Phê bình không phải là sáng tác ra một tác phẩm mới Cần phải nhìnnhận văn học là một loại hình nghệ thuật đặc thù Chính vì thế, chỉ có thể cắtnghĩa được văn học một cách “chính xác” một khi người ta biết đối xử với

nó như một thực thể có những quy luật vận động nội tại Nhà phê bình muốn

đi xa, không còn cách nào khác, phải bám chắc vào đời sống văn học, dámnói lên tiếng nói riêng của mình và dám chịu trách nhiệm về những phátngôn ấy Đối với một nhà phê bình có “đạo đức”, những trang viết của anh

ta, phải in đậm cái tôi văn hóa của mình Nói khác đi, với tư cách là một

kiểu nhà văn, nhà phê bình phải có ý thức vươn lên để xác lập những phongcách phê bình mang tính cá nhân độc đáo, mới mẻ

Như đã nói ở trên, hoạt động phê bình văn học là một hoạt động đặcthù, yêu cầu phẩm chất của người làm phê bình cũng mang tính đặc thù.Trong thực tế, một nền văn học bao giờ cũng cho phép chấp nhận sự tồn tạicủa nhiều phương pháp khác nhau và bất cứ phương pháp nào cũng là “vôthập toàn”, có thể phù hợp với những thời điểm nhất định nhưng không thểhoàn toàn hợp lý cho mọi thời điểm Các phương pháp nghiên cứu, vớinhững ưu, khuyết của nó, luôn bổ sung cho nhau Vấn đề là, ngoài sự uyênbác, thì khiếu thẩm mĩ, khả năng “tiên cảm” văn chương có thể coi là yếu tố

“trời phú” cho nhà phê bình, phẩm chất này không do rèn luyện mà có được

“Thiếu mất khả năng này, nhà phê bình chỉ còn loay hoay với những chiếccối xay gió do anh ta tạo nên” [13, 39]

Đối với một nhà phê bình chân chính, nói ra được một cách chân thực

về những điều mình suy ngẫm, cảm nhận được, không hề đơn giản Cái khó

của phê bình chính là ở sự trực ngôn Khác với giới sáng tác là thuận theo

cảm hứng (có thể được định sẵn theo đề cương) và viết theo cái mình muốn

có, các nhà phê bình lắm lúc mất lòng vì nói thật (trước một thực tế đã có),

Trang 26

nếu nói “khác đi” thì không đúng với phẩm chất của nhà phê bình Song, nếu

cái thật kia là có lý thì trước sau gì người đọc cũng sẽ nhận ra Chỉ sợ rằng,

nhà phê bình, vì tầm nhìn hạn hẹp nhưng lại “vô ý” nói thật những cái dởcủa mình Sự phán định của nhà phê bình trong trường hợp này sẽ trở thànhliều lĩnh

Trước thực tế hoạt động phê bình, chúng ta có quyền đặt ra những yêucầu đối với nhà phê bình khi phải làm nhiều việc song song, vừa phải tổngkết thực tiễn sáng tác văn học trong những khoảng thời gian cụ thể xác định.Đồng thời phải soát xét lại các giá trị để rút ra bài học cho mình và cũngchính là sự tham gia góp phần vào việc xây dựng một nền văn học dân tộc,hiện đại và đậm chất nhân văn Trong mối quan hệ giữa lịch sử văn học, lýluận và phê bình văn học thì hoạt động của nhà phê bình mang tính nghệthuật hơn so với nhà nghiên cứu lịch sử văn học hay nhà lý luận

1.2 Nghiên cứu, phê bình văn học trong mối quan hệ với sáng tác

1.2.1 Phê bình văn học định hướng sáng tác

Một trong những hoạt động của con người là làm cho thế giới trở nênphong phú, cũng có thể là phức tạp, rắc rối hơn chính là nhờ những sáng tạocủa mình Văn học là một sản phẩm của sáng tạo thuộc thế giới tinh thần củacon người Đây là một loại sản phẩm hết sức đặc biệt, nó không nhằm thỏamãn nhu cầu vật chất của con người, tác phẩm văn học đáp ứng nhu cầu tinhthần, một trong những nhu cầu tinh tế, vô cùng linh diệu và phức tạp Khôngnhư những sản phẩm vật chất, khi được bán có kèm theo “hướng dẫn sửdụng” và thời hạn bảo hành, càng dùng nhiều càng hao mòn giá trị, tác phẩmvăn học là loại sản phẩm càng dùng nhiều càng tăng thêm giá trị Tác phẩmvăn học, bản thân nó đã chứa đựng cả một thế giới tinh thần vô cùng phongphú, đòi hỏi người “sử dụng” nó phải có những “bản lĩnh” nhất định Vì làmột sáng tạo đặc biệt nên tác phẩm văn học đòi hỏi việc tiếp nhận cũng rấtđặc biệt, và việc xác định giá trị cũng không hề đơn giản Nó cần có những

Trang 27

người “đi tiên phong” trong tiếp nhận, và nếu có thể, phải chỉ ra được ýnghĩa và giá trị của sản phẩm này.

Trong mối quan hệ với các hình thái ý thức xã hội khác, văn học làmột hình thái thuộc thượng tầng kiến trúc, chịu sự chi phối của đời sống xãhội, đồng thời cũng chịu sự ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác

như chính trị, đạo đức, triết học, khoa học, tôn giáo, trong đó, khoa học và

tôn giáo luôn có ảnh hưởng, có khi còn in khá đậm dấu vết trực tiếp vào vănhọc Hiện tượng thơ Thiền đời Lý chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần Phậtgiáo hoặc xu hướng “Phê bình mới” trong văn học những năm gần đây với

sự vận dụng phương thức nghiên cứu của các bộ môn khoa học như lýthuyết thông tin, lôgic toán học, kí hiệu học Bởi vậy, có thể nói văn

chương không hoàn toàn độc lập với khoa học và tôn giáo.

Khi định ra nhiệm vụ cho hoạt động phê bình, có ý kiến cho rằng

“Phê bình không cao quí hơn văn chương mà cũng không phải chỉ là thứ phụ

họa cho văn chương, chỉ có nhiệm vụ khen chê Phê bình là một hoạt độngsáng tác đặc thù, một lĩnh vực độc lập Trong một mức độ nhất định, nó làvăn chương, là sáng tạo Không phải ngẫu nhiên có xu hướng muốn xếp phêbình vào lĩnh vực văn chương Trong hình dung của đa số bạn đọc và những

nhà nghiên cứu ngày nay, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan vẫn được gọi là những tác phẩm văn

học Trong trường hợp khác, lại có thể gọi là những công trình nghiên cứuvăn học

Phê bình đồng thời cũng là lĩnh vực của cảm thụ, của đọc tác phẩm

(interpretation) Khác nhau nằm ở chỗ, cảm thụ là hành động cá nhân, tùytiện, rời rạc, còn phê bình là cảm thụ nhưng tập trung hơn, mang tính chấtđại diện, có khuynh hướng xã hội rõ rệt và được công bố trên báo chí, đàiphát thanh Về phương diện này phê bình chính là dư luận Mặt khác, trong

một chừng mực nào đó, phê bình cũng là nghiên cứu, là khoa học Nó là sự

vận dụng những kinh nghiệm lịch sử và các khái niệm lý luận để khảo sát

Trang 28

các hiện tượng văn chương đang diễn ra Chính trong nghĩa này, Biêlinxkigọi phê bình là “Mỹ học vận động” (Mỹ học ở đây thực ra là lý luận nghệthuật)” [64, 132].

Đối tượng chủ yếu của phê bình là tác phẩm văn chương Công việc

cơ bản của phê bình là phân tích và đánh giá tác phẩm Chức năng, nhiệm vụ

của phê bình được xác định theo tính chất đa diện của nó Thứ nhất, nhà phê

bình tiếp tục công việc của nhà văn, truyền bá những tư tưởng, những quanniệm thẩm mĩ chứa đựng trong tác phẩm và đã được xã hội thừa nhận, phổbiến những kinh nghiệm sống – thẩm mĩ của cá nhân nghệ sĩ đã được xã hội

hóa Thứ hai, phê bình là chiếc cầu nối liền tác giả với người đọc Một mặt

nó giải thích cho công chúng hiểu ý đồ của nhà văn, hiểu giá trị của tácphẩm Mặt khác, nó thông báo lại cho nhà văn dư luận xã hội về sáng tác của

anh ta Thứ ba, phê bình vừa vận dụng những tri thức văn học vào thực tiễn sáng tác, vừa kiểm tra tính chính xác của nghĩa tri thức này Với tư cách đó,

phê bình không phải chỉ phụ thuộc vào lý luận mà còn tác động lại đối với lýluận “Nhờ có phê bình, lý luận gắn bó nhiều hơn với thực tiễn sáng tác vàcảm nhận văn chương đang diễn ra sinh động và do đó mà có được tính thời

sự sâu sắc hơn Với những tính chất và đặc điểm trên, phê bình cần phải trở

thành đối tượng khảo sát của cả lý luận và lịch sử văn chương; lịch sử phêbình phải tạo thành một bộ phận của lịch sử văn chương và lịch sử văn học”[64, 133]

Lý luận văn chương là khoa học cơ bản thứ hai trực tiếp nghiên cứu

văn chương Lý luận văn chương phải trả lời câu hỏi “Văn chương là gì ?”nghĩa là phải đem lại những khái niệm về văn chương như một hiện tượng

xã hội – lịch sử, một hiện tượng sáng tạo thẩm mỹ nghệ thuật Cũng trên tinhthần ấy, ông cho rằng, về cơ bản phê bình không phải là lĩnh vực của nghiêncứu khoa học về văn chương Không nên lẫn lộn phê bình và nghiên cứu vănchương hiện đại Phê bình trực tiếp tham gia vào quá trình văn chương, vàohoạt động sáng tác và cảm nhận văn chương Nó là bộ phận của quá trình đó.Với tư cách ấy, nó phải trở thành đối tượng xem xét của lý luận và lịch sử

Trang 29

văn chương, kể lịch sử văn chương hiện đại Lịch sử phải khảo sát nó Lýluận phải nghiên cứu nó.

1.2.2 Phê bình văn học định hướng tiếp nhận

Trong vai trò người định hướng tiếp nhận, tự trong bản chất, phê bìnhvăn học hợp dung chứa trong mình nó cả hai phẩm chất: sự chuẩn xác vềphương diện học thuật, độ tin cậy của các cứ liệu khoa học và sự tinh tế,uyển chuyển của một năng lực cảm thụ trước cái đẹp và phát hiện ra nhữngquy luật “trao đổi chất” của nó ở một mức độ cao hơn, có thể nói đến sựxuất hiện của một nhánh khác: phê bình của phê bình ở phương diện nàocũng vậy có thể nhận ra phê bình là sự tự vấn của văn học, là khả năng tự ýthức về mình của văn học Bởi vậy, một nền văn học lớn, với đúng nghĩa của

nó, không chỉ được đo đếm bằng các đỉnh cao trong lĩnh vực sáng tác màmặt khác, cần phải tính đến sự yếu kém hay phát triển của lĩnh vực phê bình.Nói khác đi, sự trưởng thành của phê bình văn học chính là những dấu hiệu

để nói đến sự phát triển của văn học nói chung Một điểm đáng chú ý trongvăn học Việt Nam là khi sáng tác phát triển đạt được những đỉnh cao nghệthuật thì lập tức xuất hiện những “nhà phê bình” cùng những tác phẩm phê

bình tương ứng Trường hợp Truyện Kiều, phong trào Thơ mới, Việt Nam

Việt Nam đầu thế kỷ XX

Được coi là một thể loại không thể thiếu trong nền văn học hiện đại,phê bình văn học Việt Nam đã được hình thành ngay từ những năm 1920-

1930 của thế kỷ XX Trên báo Nam phong đã xuất những bài phê bình của Phạm Quỳnh, trên báo Phụ nữ tân văn những bài phê bình và những lời bàn

về thể loại mới mẻ này của Phan Khôi, trên Ngọ báo những bài của Thái

Phỉ… Đặc biệt, đã xuất hiện một vài tác phẩm vừa có tính chất khảo cứu,

vừa có tính chất phê bình của các tác giả như Lê Thước (Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ) Tr.Th và N.K (Những áng văn hay)…

Với tư cách là một hoạt động đặc thù, có tác dụng thúc đẩy sự pháttriển và định hướng cho văn học, ngay từ khi mới ra đời, phê bình đã xác địnhđược vai trò tích cực đó của mình Ông Trần Trọng Kim đã phát biểu: “Nay

Trang 30

muốn cho cõi học nước nhà khỏi bị tối tăm mù mịt thì cần phải có lối văn phêbình, phê bình theo phép tắc, có quy luật và không được thiên vị” Chính vì ýthức được như vậy, ngay từ những bài phê bình đầu tiên, các nhà phê bình đã

tỏ ra khá công bình, không thiên vị đối với những tác giả, tác phẩm mà họ bànđến Nhưng phê bình “có phép tắc và quy luật” thì chưa được thể hiện rõ rànglắm Vì thế, cho đến tận những năm 1932 hoạt động có tính chất đặc thù nàyvẫn chưa đủ sức khẳng định mình Chưa có một tác phẩm phê bình nào thực

sự có giá trị về cả mặt nội dung lẫn phương pháp, để có thể đánh dấu mộtcách chắc chắn sự có mặt của nó trên văn đàn” [68, 30]

Thiếu Sơn cho rằng, nhà phê bình chính là “kẻ đọc dùm cho ngườikhác, chỉ cho người khác cái nghĩa lý của câu chuyện, dụng ý của tác giả,nghệ thuật và văn thể” Nói theo cách nói hiện đại của ngày hôm nay thì cónghĩa là: nhà phê bình chính là một loại “siêu độc giả”, là “người hướng dẫn

dư luận bạn đọc”, là người tìm ra “tư tưởng nghệ thuật” của tác phẩm, làngười “định gia giá trị của văn chương” Ông chủ trương: “Nhà nước cầnphải có các nhà chuyên môn phê bình”, bởi theo ông, chính sự thiếu vắngcủa đội ngũ này đã mang lại “sự thiệt thòi cho văn học nước nhà” không ít.Ông chỉ rõ: nếu công việc phê bình được tiến hành đúng đắn thì khôngnhững có lợi cho các tác giả mà còn có lợi cho công chúng độc giả nữa!”[68, 31]

Có ý kiến cho rằng, cái làm cho một nhà phê bình có giá trị chân lýtrước hết phải là tính khoa học Nhưng hiểu thế nào là khoa học trong phêbình văn học lại không hề dễ dàng chút nào Hơn nữa, phê bình văn học còncăn cứ trên bình diện văn hóa tư tưởng Trong bối cảnh của nền văn học thời

kỳ đầu thế kỷ XX, khi mà sự ảnh hưởng của văn học và cả văn hóa nướcngoài, mà chủ yếu là phương Tây hết sức mạnh mẽ thì vấn đề dẫn dắt conđường đi cho văn học dân tộc đòi hỏi phải có sự chung sức của nhiều người

Về mặt văn hóa, cuộc vận động xây dựng quốc học, quốc văn mới, trên cơ

sở chữ quốc ngữ và tiếp thu kinh nghiệm học thuật chủ yếu là từ phươngTây đưa lại, đã được các thế hệ nhà Tân học ở ta bền bỉ thực hiện Thoạt đầu

Trang 31

là dịch thuật, truyền bá các tác phẩm của Trung Quốc, phương Tây; sau đó

là sao chép, mô phỏng, rồi tiến lên một bước: độc lập tư duy, sáng tạo Kếtquả là từ những năm 1920 một sự chuyển giao thế hệ, chuyển giao giai đoạn

đã được thực hiện: Một nền quốc văn, quốc học, một nền văn học nghệ thuậthiện đại từng bước hình thành với sự phát triển rầm rộ của khá đủ các thểloại phong phú: báo chí, thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch nói Tiếp đó,trong hai thập kỷ sau, vào những năm 1930 và 1940, trên cơ sở những thànhtựu rực rỡ của sáng tác, lý luận - phê bình, nghiên cứu văn học đã đột khởiphát triển Bên cạnh những ngòi bút sáng tác, đã xuất hiện những cây bút lýluận – phê bình, những học giả cặm cụi, nghiên cứu, biên khảo Khá nhiềucông trình, tác phẩm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học được ra đời Nổi

lên là những tác phẩm của các tác giả: Việt Hán văn khảo (Phan Kế Bính, 1918), Khảo về tiểu thuyết (Phạm Quỳnh, 1929), Quốc văn cụ thể (Bùi Kỷ, 1932), Chương dân thi thoại (Phan Khôi, 1936), Duy tâm hay duy vật (Hải Triều, 1936), Phê bình và cảo luận (Thiếu Sơn, 1933), Dưới mắt tôi (Trương Chính, 1939) rồi đến: Hàn Mặc Tử (Trần Thanh Mại, 1941), Theo giòng (Thạch Lam, 1941), Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy Anh, 1939), Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh và Hoài Chân, 1942), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm, 1942), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan, 1942), Việt Nam cổ văn học sử (Nguyễn Đổng Chi), Phê bình văn học (Kiều Thanh Quế, 1942), Cuộc phỏng vấn các nhà văn (Lê Thanh, 1943), Văn học khái luận (Đặng Thai Mai, 1944), Xuân thu nhã tập (1944),…

Đó mới chỉ là kể qua một vài tác phẩm và tên tuổi quen thuộc mà

thôi Vừa qua, khi sưu tầm, biên soạn công trình Lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX-1945, các soạn giả của công trình này,

chủ biên là PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện đã tập hợp được thêm hàng trămtác phẩm (bài báo, sách) của gần một trăm tác giả với ba nghìn trang in trên

đủ các loại khổ sách, báo, tạp chí Khảo sát khu vực tác phẩm, công trình ởthể loại này, sơ bộ nhận thấy sự tự ý thức về văn học, trình độ tư duy về văn

Trang 32

học của các thế hệ những nhà nghiên cứu tiền bối, quả thật là có nhiều pháthiện sâu sắc, độc đáo Những bước đi khai phá buổi ban đầu của các vị tuykhông tránh khỏi những non nớt, thô vụng, thậm chí là nhầm lẫn, song lạithể hiện một cách hồn nhiên, mạnh mẽ cái hăm hở, tự tin và sức mạnh cườngtráng của một tư duy và tấm lòng thiết tha vươn tới sự phát triển của vănchương nghệ thuật.

Có thể tách ra đây ý kiến của Dương Quảng Hàm trong lời Tổng kết công trình Việt Nam văn học sử yếu, khi ông đề cập đến nhiệm vụ của các

học giả, văn gia nước ta và nhìn về tương lai của nền quốc văn mới như sau:

“Dân tộc ta vốn là một dân tộc có sức sinh tồn rất mạnh, trải mấy thế kỷ nộithuộc nước Tàu mà không hề bị đồng hóa, lại biết nhờ cái văn hóa của ngườiTàu để tổ chức thành một xã hội có trật tự, gây dựng một nền văn học, tuykhông được phong phú, rực rỡ, nhưng cũng có chỗ khả quan, có phần đặcsắc, thì chắc rằng sau này dân tộc ta cũng sẽ biết tìm lấy trong nền văn họccủa nước Pháp những điều sở trường để bổ những chỗ thiếu thốn của mình;thứ nhất là biết mượn các phương pháp khoa học của Tây phương mà nghiêncứu các vấn đề có liên lạc đến nền văn hóa của nước mình, thâu thái lấy cáitinh hoa của nền văn minh nước Pháp mà làm cho cái tinh thần của dân tộc

được mạnh lên để gây lấy một nền văn học vừa hợp với cái hoàn cảnh hiện thời, vừa giữ được cái cốt cách cổ truyền” [59, 20].

Khi đặt vấn đề về vai trò của những người làm công tác nghiên cứu,phê bình, tác giả Vũ Ngọc Phan cũng lưu ý, tránh sự lệch lạc trong tâm thế

và phương cách khi tiếp xúc với văn minh nước ngoài mà “chỉ biết háo hứctheo cái mới, bắt chước của người mà chưa biết cân nhắc lựa chọn cho tinh

để giữ lấy cái bản ngã đặc sắc của mình và luyện lấy cái tinh thần biệt lậpcủa mình”

Ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại những công trình lý luận, phêbình, nghiên cứu văn học nói trên, chúng ta vui mừng nhận thấy trong số đókhông ít tác phẩm đã chịu được sự thử thách của thời gian, bộc lộ những

Trang 33

đóng góp có giá trị khoa học của nó Phải chăng ngoài tài năng khoa học,các nhà biên soạn có những trang viết để lại được cho người sau, còn do tấmlòng thiết tha với văn học mới của dân tộc, sự trân trọng nâng niu di sảncùng là những thành tích mới đã đạt được, đồng thời lại biết vận dụng sángtạo các phương pháp khoa học trong lý luận và nghiên cứu do tiếp thu đượckhi mở cửa giao lưu với nước ngoài Có thể thấy rằng suốt một thế kỷ XXnày, sức sống tiềm tàng của dân tộc Việt Nam, khát vọng phát triển của dântộc theo con đường hiện đại để nhanh chóng hòa nhập với thế giới, quyếtkhông cam chịu bị đè nén, áp bức, sống trong vòng nghèo khổ, tăm tối và hủlậu, đã là động lực thúc đẩy sự nghiệp canh tân đất nước, đổi mới, hiện đạihóa văn học, đẩy mạng sự phát triển của lý luận, phê bình, nghiên cứu vănhọc” [59, 20].

Nói tóm lại, lý luận văn học bao giờ cũng có mặt sau hoạt động sángtác văn học, lấy tác phẩm và tác giả làm đối tượng nghiên cứu Lý luận, phêbình văn học vừa làm nhiệm vụ của người quan sát, thống kê, nhận diện lạivừa là người với vai trò của một siêu độc giả trong việc dẫn dắt công chúngbạn đọc đi đúng hướng trên con đường tiếp nhận văn học một cách đúngđắn Vai trò của người giữ sự cân bằng giữa sáng tác và tiếp nhận sẽ ngàymột trở nên quan trọng khi nhân loại còn muốn những sáng tạo nghệ thuậtnói chung, văn học nói riêng đạt đến cái “tận thiện, tận mỹ” Nhưng cũngphải thừa nhận, đây là một công việc không hề dễ dàng, đơn giản và trongthực tế, chỉ có một số rất ít những người ưu tú mới làm được

1.3 Nhìn chung về vai trò, vị trí của Vũ Ngọc Phan đối với lý luận, phê bình văn học Việt Nam

1.3.1 Chặng đường sáu mươi năm nghiên cứu, phê bình văn học

Vũ Ngọc Phan sinh ngày 8 tháng 9 năm 1902, tại Hà Nội Nguyênquán của ông là làng Đông Cảo, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh Xuất thântrong một gia đình Nho học lâu đời, phụ thân đỗ tú tài, dạy chữ Hán, là một

vị huấn đạo mẫu mực Thuở nhỏ Vũ Ngọc Phan học chữ Hán, rồi chuyển

Trang 34

qua học chữ Pháp Năm 1929, ông đỗ bằng tú tài Pháp và bắt đầu hoạt độngvăn học Vũ Ngọc Phan là người học rộng, biết nhiều, là một trí thức yêunước, ông còn là một người đa năng đa tài Ông là nhà văn, nhà báo, nhànghiên cứu phê bình văn học, nhà dịch thuật, nhà hoạt động xã hội.

Vũ Ngọc Phan sống cùng thời và cùng cộng tác với các học giả nổitiếng trong làng văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX như Đặng Thai Mai, CaoXuân Huy, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại… ông là một trong những ngườixây nến đắp móng cho sự nghiệp nghiên cứu văn học của nước nhà Quenbiết thân thiết, tri kỷ với cả một thế hệ các nhà văn như Nguyễn Công Hoan,Lưu Trọng Lư, Mạnh Phú Tư, Đoàn Phú Tứ, Xuân Diệu, Huy Cận… ông đã

có một tuổi thanh xuân hoạt động sôi nổi trong phong trào văn học đươngthời Vũ Ngọc Phan đã từng là Chủ tịch ủy ban Văn hóa Bắc Bộ từ trướcTổng khởi nghĩa tháng 8-1945 Là chủ tịch ủy ban Kháng chiến Khu Đống

Đa, Hà Nội (1946), ủy viên thường trực Đoàn văn hóa Kháng chiến LiênKhu IV (1947-1951) Tiếp đó, từ 1954, hòa bình lập lại, ông đã từng là ủyviên Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Địa, ủy viên Ban Chấp hành ủy ban Trungương Liên hiệp Văn học Nghệ Thuật Việt Nam, Tổng thư ký, Phó Chủ tịchHội Văn nghệ Dân gian Việt Nam

Trong sự nghiệp báo chí, ông là nhà báo lành nghề với một trình độ nghềnghiệp chín chắn, một phong thái làm việc nền nếp, chu đáo Ở cương vị thư kýtòa soạn, chủ bút của nhiều tờ báo trước cách mạng, ông là người quan tâm ưu

ái những tài năng văn học trẻ và quảng bá các tác phẩm ưu tú Ông đặc biệt cócông trong việc dịch thuật, ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, ông đã đưa

đến bạn đọc Việt Nam nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới, như Aivanhô, tiểu thuyết của Walter Scott, Anna Karênina, tiểu thuyết của L.Tôlstôi, Lâu đài

họ Hạ, tiểu thuyết của Hoffmann, Châu đảo của R.L.Stevenson, Truyện kỳ lạ của Edgar Poe, Trixtăng và Ydơ của Jôdep Bêđiê

Ngót sáu mươi năm trời cầm bút sáng tạo, Vũ Ngọc Phan đã để lạimột khối lượng tác phẩm đồ sộ, gồm đủ các thể loại: phê bình, nghiên cứu,

Trang 35

bút ký, tiểu luận, hồi ký, biên khảo, sưu tầm… Hoạt động trên nhiều lĩnhvực văn học, ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng kể Tuynhiên, nhắc đến ông, trước hết là phải nói tới sự đóng góp đặc sắc của ôngđối với sự nghiệp nghiên cứu văn học nước nhà, qua tác phẩm 4 tập (5 cuốn)

dày hơn 1600 trang: Nhà văn hiện đại, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam và hàng loạt những bài nghiên cứu khác

Nhắc đến Vũ Ngọc Phan, ngoài ấn tượng lâu bền đặc sắc của tác

phẩm Nhà văn hiện đại, còn phải kể tới một công trình sưu tầm nghiên cứu nữa của ông, cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, dày hơn 800 trang, xuất bản năm 1956 Tới nay, đã in lại tới lần thứ 18, Tục ngữ, ca dao, dân

ca Việt Nam thực sự đã trở thành một tác phẩm có giá trị đáp ứng được yêu

cầu học hỏi, hiểu biết của đông đảo bạn đọc, là kết quả của một niềm say mêhào hứng làm việc của một tấm lòng tri thức thiết tha với sự nghiệp văn hóacủa dân tộc và di sản tinh thần của ông cha

Hơn nửa thế kỷ lao động không mệt mỏi, để lại một khối lượng côngtrình lớn, có giá trị cao, Vũ Ngọc Phan đã nêu một tấm gương sáng về sứclao động sáng tạo bền bỉ của một đời người gắn bó với các giá trị vănchương, một nhân cách trí thức Việt Nam yêu nước, yêu dân tộc, được bạn

bè và bạn đọc kính trọng và yêu quý Ông có vị trí xứng đáng trong văn đànViệt Nam hiện đại

Sự nghiệp văn học của Vũ Ngọc Phan thực sự làm cho chúng tôi hếtsức cảm phục về sức lao động khoa học Có thể kể đến những tác phẩm

chính của Vũ Ngọc Phan như Trên đường nghệ thuật (tiểu luận, 1940); Nhìn sang láng giềng (bút ký, 1941); Thi sĩ Trung Nam (thi thoại, 1942); Nhà văn hiện đại (5 quyển, 1942-1945); Con đường mới của thanh niên (nghiên cứu

xã hội, 1944); Chuyện Hà Nội (bút ký, 1944); Tục ngữ và ca dao, dân ca Việt Nam (sưu tầm, tuyển chọn, 1956); Truyện cổ dân gian Việt Nam (sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, 4 quyển, 1963-1964); Qua những trang văn (phê bình, tiểu luận, 1976); những năm tháng ấy (hồi ký, 1987) Di sản Vũ Ngọc

Trang 36

Phan để lại đã được sưu tập, hệ thống hóa, sắp xếp lại để xuất bản trong năm

2000, dưới một tựa đề chung: Vũ Ngọc Phan - Tác phẩm và chia thành 5

tập: Tập 1: Qua những trang văn; Thi sĩ Trung Nam; Chuyện Hà Nội (Biên khảo, Tiểu luận, Phê bình, Bút ký) Tập 2: Những năm tháng ấy; Những trận đánh Pháp (Hồi kí, Biên khảo) Tập 3: Tục ngữ, cao dao, dân ca Việt Nam Tập 4: Nhà văn hiện đại 1 (gồm tập 1 + tập 2 + tập 3) Tập 5: Nhà văn hiện

đại 2 (tập 4: Thượng và Hạ) Giá trị to lớn của từng công trình đã được nhiềuhọc giả trong và ngoài nước đánh giá cao

Kể từ khi cầm bút vào nghề đến khi chút hơi thở cuối cùng, không khinào Vũ Ngọc Phan thôi làm việc Ngay cả khi ông đã đi xa, những côngtrình nghiên cứu dang dở của ông vẫn được tái bản nhiều lần Trong gần sáumươi năm làm nghiên cứu, phê bình, dịch thuật ông đã để lại mấy nghìntrang viết thể hiện sự đam mê công việc và thành quả lao động không mệtmỏi của một con người có nghị lực phi thường Không phải căn cứ trên sốlượng trang viết để nói sự thành công của một người làm công tác nghiêncứu, phê bình như Vũ Ngọc Phan nhưng rõ ràng phải có một lòng say mêvới công việc mình làm mới có thể hoàn thành được một khối lượng côngviệc đồ sộ như vậy

1.3.2 Vũ Ngọc Phan - người đi tiên phong xây dựng nền lý luận phê bình hiện đại

Ngay từ những ngày đầu bước vào nghề văn với tư cách là nhà nghiêncứu, phê bình văn học, trong quan niệm học thuật của mình, Vũ Ngọc Phan

đã đặc biệt chú trọng đến những đặc thù của lao động viết văn; đặc trưngtừng thể loại văn chương; bản sắc dân tộc của văn chương mỗi nước; lối điriêng, nét đặc thù của phong cách nhà văn có tài năng chân chính Sau hết,ông nhận rõ, cuối cùng văn chương hiện diện với đương thời cũng như lưulại cho đời sau bằng tác phẩm của nó Ông cho rằng, “thứ văn chương bãmía” là một điều bất hạnh cho người đời Hướng vươn tới là những “áng vănbất hủ”, “đến được sự tận thiện, tận mỹ”, như một thứ quả quý, như sự kết

Trang 37

tinh “phô diễn những cái mình quý nhất, những cái mình yêu nhất, những cáimình ham thích nhất, say sưa nhất trong trí não mình lên tờ giấy trắng Đấymới thực sự là những đóng góp của nhà văn, của những người cầm bút.

Theo đánh giá của Phan Cự Đệ, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã tổng

kết văn học hơn nửa thế kỷ XX Bộ Nhà văn hiện đại của ông khoảng 1600

trang, là một công trình quý giá của phê bình văn học nước nhà Ông khẳngđịnh là phê bình văn học, chứ không phải là văn học sử, bởi vì ông viết vềcác hiện tượng văn học đang diễn ra, hoặc chưa có độ lùi cần thiết của thờigian Vũ Ngọc Phan cũng là nhà phê bình có ý thức đầy đủ về nhiệm vụ vàphương pháp phê bình Ông hiểu văn học là hồn của một dân tộc, “Một dântộc không biết trọng văn chương của mình chỉ có thể là một dân tộc man dihay sắp đến ngày diệt vong” Vậy nhiệm vụ của phê bình là nghiên cứu sựtiến hóa của văn học, định giá về địa vị các nhà văn hiện đại trong văn giớiViệt Nam và hướng dẫn cho người đọc trong tiếp nhận văn chương Ông đãtuyên bố mình là người làm việc phê bình văn học theo “phương pháp khoahọc và căn cứ vào những bằng chứng xác thực để phê bình, sự khen chêkhông bao giờ vu vơ cả” Và ông đã khen, chê các sáng tác văn học theo tiêuchuẩn định sẵn của ông” [12, 708]

Vũ Ngọc Phan là người tự hào đã chứng kiến cuộc tiến hóa văn họcnhanh chóng ở nước ta, và cũng chính ông đưa ra nhận định về tốc độ nhanhchóng của văn học Việt Nam “một năm đã có thể kể như ba mươi năm ởnước người rồi Chúng ta là lũ tý hon đi hia bảy dặm”, văn học Việt Nam

“tiến hóa rất đều, và những văn phẩm trội hơn hết xuất bản gần đây, đều lànhững văn phẩm có tính chất Việt Nam, có cái xu hướng về dân tộc hóa”

Vũ Ngọc Phan đã phác họa một bức tranh văn học Việt Nam hiện đại baoquát nhất, rộng lớn nhất, nhưng không ra ngoài quỹ đạo nghiên cứu tác giả,mặc dù cách phân loại có xếp theo thế hệ, theo thể loại

Ngày nay, nhắc đến Vũ Ngọc Phan, ai cũng nhớ ngay ông là một nhànghiên cứu Văn học dân gian có tên tuổi trong hàng ngũ những người tiên

Trang 38

phong của lĩnh vực này ở Việt Nam Không hẳn chỉ vì ông là Tổng thư ký,rồi Phó chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, mà vì ông là soạn giả bộ

sách Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam dày dặn Có lẽ chưa ai có được một

tác phẩm tái bản đến lần thứ 8 trong lúc sinh thời của mình như Vũ NgọcPhan Và bây giờ con số lần xuất bản đã đạt đến 13 Ông đã xác định được

vị trí của mình trong ngành học thuật này Vũ Ngọc Phan là người dùngthuật ngữ “Văn học dân gian” trước nhất, thay thế cho các thuật ngữ “Vănchương bình dân”, “Văn chương truyền khẩu” Ông đã kịp thời có mặt ở mọi

nơi, mọi lúc cần phát huy và phục vụ khoa học Folklore Cuốn sách Qua những trang văn cho thấy rõ ý tinh thần và ý thức trách nhiệm ấy.

Từ những ngày đầu xây dựng nên quốc văn mới cho văn học ViệtNam, có thể nói rằng, Vũ Ngọc Phan là người đi tiên phong, có nhiều đónggóp nhất, nếu không phải là người duy nhất đề cập đến vấn đề xác định thểloại… Ông đã có những bài viết phân biệt thế nào là lịch sử ký sự, lịch sửtiểu thuyết, thế nào là bút chiến, phê bình, thế nào là phóng sự, là tiểu thuyết,thế nào là truyện ký, bút ký v.v… Những bài viết này được đăng trên các

báo, tạp chí và sau đó được tập hợp lại trong cuốn Trên đường nghệ thuật.

Tiếp tục định hướng nghiên cứu này, khi soạn bộ Nhà văn hiện đại, ông đặc

biệt chú ý đến phân loại các tiểu thuyết, chỉ rõ thế nào là tiểu thuyết phongtục, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết luân lý, tiểu thuyết truyền kỳ v.v… và sắpxếp các nhà văn vào những loại nào thích ứng và trội nhất của họ Vớinhững người viết được tác phẩm mà không xác định rõ thể loại, Vũ NgọcPhan gọi là những người “cha không biết tính con” Chúng tôi cho rằng, đây

là một việc làm mang tính khoa học rất cao, bởi vì nó đã đụng chạm đến vấn

đề quan trọng của lý luận văn học mà ít người quan tâm, kể cả một số ngườiviết sau này cũng vậy

Có ý kiến cho rằng, phải chăng sau này khi tổng kết sự phát triển của

bộ môn phê bình trong văn học Việt Nam, bộ sách Nhà văn hiện đại nên

được định vị rõ ràng hơn nữa Nhiều người trong giới nghiên cứu học thuật

Trang 39

tự thấy mình đã học tập được rất nhiều qua bộ sách ấy Trước hết là sự tríchdẫn chính xác, sự dồi dào tư liệu trước khi làm công việc phê bình Vũ NgọcPhan đã trích dẫn rất đầy đủ nguyên văn của các tác giả để làm chứng chonhận định của mình, nhiều khi còn trích dẫn quá phong phú, đến nỗi có ýkiến cho rằng ông lạm dụng việc trích dẫn rờm rà Ông chú ý đến năm thángxuất bản của tác phẩm Một tác phẩm được tái bản nhiều lần, ông chọn bản

in sau cùng để chỉ ra những gì đã được tác giả sửa chữa Nét nổi bật của bộsách là bản lĩnh phê bình của tác giả Ông biết khen chê đúng mức, dừng lại

ở chỗ đáng dừng Ông không thiên lệch theo một khuynh hướng hay một tổchức nào Thời kỳ ấy, trong văn giới chia thành nhiều nhóm, nhiều phe có tưtưởng trái ngược nhau, có người là đối tượng công kích hoặc ca ngợi vềnhiều lý do phức tạp Vũ Ngọc Phan đã tỏ rõ bản lĩnh của mình, không hùatheo một ai Phê bình tất nhiên phải thưởng thức, mà trong thưởng thức baogiờ chẳng có phần chủ quan, rất dễ rơi vào cảm tính hoặc xúc động riêng tư

Vũ Ngọc Phan biết cách thưởng thức mà lại tránh được điều đó Ông bằngnhững trình độ kiến thức riêng, bằng khả năng thẩm định của mình, và nhất

là bằng lương tri của con người trí thức Sau này, trong cuốn hồi ký Những năm tháng ấy, Vũ Ngọc Phan có tự phê bình là ông đã có một số điểm hạn

chế (sách trên, trang 236) Điều đó đúng, nhưng không làm giảm ưu điểmcủa ông là sự trung thực, sự khách quan, giúp cho người đọc có đủ căn cứ để

tự mình đánh giá những sự kiện văn học mà không bị người phê bình áp đặt

Nhìn lại cả quá trình hoạt động văn chương của Vũ Ngọc Phan, ta cònthấy một điều đặc sắc Ông vào nghề một cách tự tin, không nóng vội, không

ồn ào, không tìm cách gây tiếng vang hấp dẫn Ông không có sẵn một thuậnlợi nào trước đó và cũng không làm ai phải quan tâm đến mình Ông bướcnhững bước ung dung, chững chạc, không chạy theo phong trào, không ngảtheo nhóm nọ hay nhóm kia So với những tờ báo, những tạp chí văn học

đương thời, tờ Hà Nội tân văn không gây những gì náo động Nó chỉ lặng lẽ

giới thiệu với bạn đọc những bài viết chất lượng, những tài năng mới; vàngười chủ bút của nó, cùng với nhiều tác phẩm đủ loại (dịch, nghiên cứu,

Trang 40

bình luận) ngày càng lộ ra cái bản lĩnh dẻo dai, vững chắc, để mặc nhiên trởthành một bậc đàn anh Xem những hồi ký sau này của nhiều nhà văn, nhàthơ, ta được biết Vũ Ngọc Phan đã giành được thiện cảm và sự biết ơn củamột số thế hệ nhà văn trẻ Đối với những nhà văn lớp trước, hay nhữngngười cùng lứa với ông, ông cũng đã có những sự đánh giá đúng đắn (nhưtrường hợp định vị cho Phạm Duy Tốn, Ngô Tất Tố v.v ) Có thể nói, đến

với văn học phê bình Việt Nam trước 1945, ta có thể gặp nhiều cái hay ở Hoài Thanh, và nhiều cái đúng ở Vũ Ngọc Phan Những điểm hạn chế ở hai

ông không phải là không có, nhưng không phải là cơ bản Và trong bối cảnhcủa nền học thuật nước nhà hồi bấy giờ, những cố gắng và thành công củacác ông thật là quý báu

1.3.3 Nhà lý luận phê bình hàng đầu của Việt Nam

Cho đến nay, mỗi khi nhắc đến những tên tuổi những người làm côngtác lý luận phê bình Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến Vũ Ngọc

Phan Tên tuổi Vũ Ngọc Phan gắn với công trình đồ sộ Nhà văn hiện đại dày

1600 trang, tổng kết cả một giai đoạn văn học từ khi có chữ quốc ngữ đếnnăm trước 1945 Trong bộ sách này, Vũ Ngọc Phan đã khẳng định đây làmột tác phẩm phê bình chứ không phải là một cuốn văn học sử, bởi ông viết

về các hiện tượng văn học đang diễn ra cùng thời với ông Vũ Ngọc Phanđồng thời khẳng định nhiệm vụ của phê bình là nghiên cứu sự tiến hóa củavăn học, đánh giá vị trí của các nhà văn hiện đại trong hàng ngũ các nhà vănViệt Nam và hướng dẫn công chúng tiếp nhận có cái nhìn đúng đắn về nềnvăn học dân tộc Vũ Ngọc Phan lựa chọn phương pháp nghiên cứu khoa học

là căn cứ trên những bằng chứng xác thực, chính xác để phê bình, sự khenchê một tác giả nào đây không phải là lời nói vu vơ Ông cũng định ra những

“chuẩn mực” và tuân thủ những chuẩn mực ấy trong phê bình các sáng táccủa nhà văn

Với Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã khẳng định tên tuổi của mình

trong hàng ngũ những nhà phê bình hàng đầu Việt Nam Viết một cuốn sách

nhỏ đã có những sai sót, vì vậy, với một công trình đồ sộ như Nhà văn hiện

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w