1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của vũ bằng đối với lý luận về tiểu thuyết và thể tài chân dung văn học

64 476 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của Vũ Bằng Đối Với Lý Luận Về Tiểu Thuyết Và Thể Tài Chân Dung Văn Học
Tác giả Bùi Hà Phương
Người hướng dẫn TS. Lê Văn Dương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 245 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vơng Trí Nhàn, trong công trình Khảo về tiểu thuyết Những ý kiến, quan niệm của các nhà văn, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, NXB Hội Nhà văn, 1996 ở lời

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn

- -đóng góp của Vũ Bằng đối với lý luận

về tiểu thuyết và thể tài chân dung văn học

Trang 2

đóng góp của Vũ Bằng đối với lý luận

về tiểu thuyết và thể tài chân dung văn học

chuyên ngành: lý luận văn học

Vinh, 2007

mở đầu

1.Lí do chọn đề tài

1.1.Vũ bằng (1913-1984) là một trong số các gơng mặt tiêu biểu của nền

văn học Việt Nam hiện đại Từ tác phẩm đầu tay Con ngựa già đăng trên báo

Đông-Tây cho đến cuối đời, Vũ Bằng đã để lại một văn nghiệp đồ sộ Hơn bảymơi năm của cuộc đời, Vũ Bằng viết nhiều, viết khoẻ, hoạt động sôi nổi trênnhiều lĩnh vực, làm văn, làm báo, khảo cứu phê bình…ở lĩnh vực nào ông cũngghi dấu ấn của một cây bút tràn đầy nhiệt huyết với nghề Theo thống kê củaVăn Giá, ông để lại hơn một trăm đầu sách, trong đó có nhiều tác phẩm xuất sắc

nh: Thơng nhớ mời hai, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Mê chữ, Bốn

mơi năm nói láo… Tuy vậy, nhà văn Vũ Bằng gặp khá nhiều trắc trở trên con đờng đến với bạn đọc Những phức tạp của lịch sử, những uẩn khúc của số phậnkhiến một thời gian dài sau ngày hoà bình lập lại tác phẩm của ông ít đợc côngchúng đón nhận Mãi đến năm 2000, ông mới đợc công nhận là một chiến sĩquân báo hoạt động nội thành, đợc truy tặng huân chơng của nhà nớc Cũng từ

-đây độc giả mới dành sự quan tâm thích đáng đến tác phẩm của ông Đầu năm

2007, Vũ Bằng đợc truy tặng Giải thởng Nhà nớc về văn học nghệ thuật Hiệnnay, các tác phẩm của Vũ Bằng đã đợc Triệu Xuân su tầm, biên soạn tập hợp lạitrong Toàn tập, gồm 4 tập do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2006

Trang 3

1.2 Không chỉ là một tiểu thuyết gia, một nhà báo thâm niên, một cây búttruyện ngắn tài năng, Vũ Bằng còn là một cây bút lý luận, phê bình văn học sắcsảo Trong văn nghiệp của ông, mảng lí luận, phê bình có vị trí rất quan trọng.Hoạt động này của Vũ Bằng tập trung trên hai lĩnh vực: lí luận về tiểu thuyết vàchân dung văn học Tuy nhiên, thành tựu của Vũ Bằng ở mảng này cha đợc tìmhiểu, nghiên cứu nhiều nh những mảng khác, đặc biệt là ký Đây là những lý dogiải thích tại sao chúng tôi tìm tới đề tài này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Do những nguyên nhân khác nhau trớc 1954 cuộc đời và sự nghiệp củanhà văn Vũ Bằng cha đợc quan tâm một cách thích đáng Khi nhắc đến Vũ Bằngngời ta vẫn còn xa lạ, thậm chí thỉnh hoặc gặp những ánh mắt nghi ngại Mộtphần do cuộc đời thực của nhà văn có những vấn đề cha đợc sáng tỏ Mặt khác,

do hoàn cảnh đất nớc chiến tranh, ngời ta dễ quên đi cái cá nhân của con ngời đểvơn tới cuộc sống lớn của dân tộc Khi cuộc đời của Vũ Bằng đã đợc làm sáng

tỏ, dần dần ngời ta quan tâm đến ông nhiều hơn và thừa nhận những đóng gópcủa ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại

Thời gian gần đây giới phê bình, nghiên cứu đã bắt đầu tập trung đi sâunghiên cứu về tác giả Vũ Bằng Tuy những công trình ấy cha nhiều, quy môkhông lớn nhng phần nào đã khẳng định vị trí của ông trên văn đàn dân tộc.Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, tính đến năm 2000 chỉ có 26 bài viết vềcác lĩnh vực sáng tác của Vũ Bằng nói chung, còn về những bài viết về đóng gópcủa ông trong lí luận, phê bình quả thật ít ỏi Đó đây chỉ là những bài viết lẻ tẻ,lời tựa, lời bạt cho một quyển sách nào đó của ông chứ cha thực sự thành nhữngcông trình nghiên cứu hệ thống và có quy mô thực sự Có thể điểm qua nhữngbài viết của các tác giả trên ba mảng:

2.1 Những bài nghiên cứu mang tính tổng quan về văn nghiệp của Vũ Bằng

- Vũ Ngọc Phan (1942) trong cuốn Nhà văn hiện đại xếp Vũ Bằng vào

chơng tiểu thuyết gia tả chân

- Tạ Tỵ (1970), với bài viết: Vũ Bằng- Ngời trở về từ cõi đam mê

- Văn Giá (2000), Vũ Bằng: Bên trời thơng nhớ, Nxb Văn hoá Thông tin

- Triệu Xuân (1999), Nhà văn Vũ Bằng- Tài hoa và cô đơn, Văn nghệ, số 28

- Triệu Xuân (2000), Nhà văn Vũ Bằng, Ngời lữ hành đơn côi

- Vũ Hoàng Tuấn (2004), Những lời buồn của một đứa con, Báo An ninh

thế giới cuối tháng, số 33 - 2004

Trang 4

- Trần Đăng Suyền – Văn Giá (2004), Vũ Bằng in trong Từ điển văn học

(Bộ mới), Nxb Thế giới

2.2 Những bài nghiên cứu về các tác phẩm cụ thể của Vũ Bằng

- Thợng Sỹ (1969), Lời nói đầu cuốn Bốn mơi năm nói láo

- Hoàng Lại Giang (1993), Bốn mơi năm nói láo Một tác phẩm độc

đáo

- Phan Ngọc Luật (2001), Lời bạt- Cảm nhận khi đọc lại: Bốn mơi năm

nói láo, Nxb, Văn hoá Thông tin, Hà Nội

- Tô Hoài (1991), Vũ Bằng- Thơng nhớ mời hai, Tạp chí Văn học , số 1

- Hoàng Nh Mai (2003), Lời tựa – Thơng nhớ mời hai, Nxb Văn hoá

Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, Nxb Tân Dân, 1942 ) là ngời đầu tiên

viết về Vũ Bằng Ông xếp Vũ Bằng vào hàng các tiểu thuyết gia tả chân, thiên vềlối đá hoạt kê, nhạo đời “ tiểu thuyết của Vũ Bằng rất gần tiểu thuyết củaNguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân vật Khi tả nhân vật, dù họ ở hoàncảnh nghèo khổ hay giàu sang, bao giờ Vũ Bằng cũng tả bằng ngòi bút dí dỏm,nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút Còn về cảnh, ông chỉ tả sơ sơ, ông chú trọngcả vào hành vi của nhân vật vì những hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết

và gây nên những tình cảnh riêng biệt cho các nhân vật” [20; 991] Vũ NgọcPhan còn nhận thấy ở tiểu thuyết của Vũ Bằng sự ảnh hởng của tiểu thuyết ph-

ơng Tây khá rõ “Tuy Vũ Bằng giống Nguyễn Công Hoan ở những lời văn dídỏm ở những cách dàn xếp ngộ nghĩnh nhng ngời ta vẫn nhận thấy cái đặc biệtcủa Nguyễn Công Hoan là ở những cử chỉ ngôn ngữ của các nhân vật bao giờcũng đặc Việt Nam, còn ở Vũ Bằng đôi khi ngời ta thấy các nhân vật có những

cử chỉ ngôn ngữ hơi lai một chút Cái đó chỉ vì Vũ Bằng chịu ảnh hởng tiểuthuyết Âu Tây nhiều quá, coi nh những cái sở hữu của mình” [20; 1002]

Trang 5

Đến năm 1969 trong lời giới thiệu tập hồi kí Bốn mơi năm nói láo, Nxb

Phạm Quang Khai ấn hành tại Sài Gòn, Thợng Sỹ nhận thấy ở Vũ Bằng lối viếtgiản dị chứa chan tính chất trào lộng

Tạ Tỵ, trong cuốn Mời chín khuôn mặt văn nghệ, Nxb Nam Chi Tùng Th

(1970) đợc Nxb Hội Nhà văn in lại (1996), khẳng định Vũ Bằng là một trong

m-ời gơng mặt văn nghệ xuất sắc lúc bấy giờ Trong bài viết Vũ Bằng - Ngm-ời trở về

từ cõi đam mê, Tạ Tỵ nhận thấy ở văn phong của Vũ Bằng cái hơi hởng phơng

Tây nhng không phải ở t tởng Tây phơng mà là ở kỹ thuật Từ cuốn Một mình

trong đêm tối qua Truyện hai ngời đến Ba chuyện mổ bụng và Bèo nớc là tác

phẩm đợc in thành sách trớc lúc toàn quốc kháng chiến Tất cả đều rất giản dị,giản dị đến nỗi ngời đọc cảm thấy không có cốt truyện mà chỉ có lời văn củanhân vật “trình diễn” độc giả qua ngôn ngữ và hành động hết sức đặc thù, hết sức

Vũ Bằng Qua đó cho ta thấy lối dựng truyện của Vũ Bằng rất đơn giản Cốttruyện chẳng có gì cho ta thắc mắc hay tìm thấy một chút tâm sự của mình [16; 95] Ông khẳng định Vũ Bằng là nhà văn Việt Nam thứ nhất đã có cái nhìn xa

để vơn tới sự hoà đồng tiến bộ trong địa hạt tiểu thuyết Về công trình Khảo về

tiểu thuyết của Vũ Bằng, Tạ Tỵ đánh giá đó là công trình kết tinh sự trải nghiệm

cuộc đời, sự tìm khôn trong nghề nghiệp “Tuy cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đềquá, mà không vấn đề nào đi sâu vào chi tiết để cho ngời đọc có thể nghiên cứu vàtìm hiểu rộng rãi phần chuyên môn đến nơi đến chốn Nhng chẳng phải vì thế mà nókhông mang đến những giá trị hiển nhiên xuyên qua 170 trang sách bởi các phầntrọng yếu nhất của nghề viết văn” [21; 97]

Vơng Trí Nhàn, trong công trình Khảo về tiểu thuyết (Những ý kiến, quan

niệm của các nhà văn, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến

năm 1945, NXB Hội Nhà văn, 1996) ở lời dẫn cho cuốn Khảo về tiểu thuyết- Vũ

Bằng, Nxb Phạm Văn Tơi, 1955, đã đánh giá: “ Đọc cuốn biên khảo này của VũBằng, ắt cũng phải công nhận là ngay từ hồi ấy, nhà văn họ Vũ đã nắm lấy cái

đặc điểm quan trọng nhất của một cuốn tiểu thuyết là tính cách tự do của nó Nó

là một cái gì triệt để quy phạm, nảy sinh ở khu vực giáp gianh giữa cái khôngphải là nghệ thuật và cái nghệ thuật, tiểu thuyết đòi hỏi ngời viết nó không lệthuộc vào những chuẩn mực đã khô cứng lại mà phải luôn luôn phiêu lu vàonhững khu vực cha ai khám phá, tìm tòi những hình thức mới, cha từng đợc aisáng tạo, do đó thờng xuyên gợi cho bạn đọc cảm tởng rằng tiểu thuyết cũngphong phú, bất tận cũng không biết đâu là đầu là cuối nh chính cuộc đời”[18;162] Ông còn nhìn nhận sắc sảo điều nổi bật trong lí luận về tiểu thuyết của

Vũ Bằng là tính hớng nội, hớng về những giá trị văn học quý giá của văn mạch

Trang 6

dân tộc để minh hoạ cho lí luận mới mẻ nh tiểu thuyết “Trong khi mải lôi cuốnmọi ngời theo những mẫu mực của tiểu thuyết phơng Tây mà quên hẳn các tiểuthuyết Việt Nam đơng thời, do chính các đồng nghiệp của mình viết ra thì VũBằng lại luôn dẫn các ví dụ lấy từ những Phạm Công – Cúc Hoa, Tống Trân,Nhị Độ Mai và nhất là Truyện Kiều” [18;163 ].

Nguyễn ánh Ngân, trong lời giới thiệu cho tuyển tập Vũ Bằng, Tạp

văn-Nxb Hội Nhà văn, 2003, khẳng định Vũ Bằng là nhà văn đa phong cách, ngòibút sinh động, thú vị và không ít điều cần khám phá: “ Chất sống và lòng yêunghề và một vốn kiến văn sâu rộng đủ để ông viết sung sức bao quát mọi lĩnhvực Viết về vấn đề lớn nhỏ nào, chu đáo hay sơ lợc, Vũ Bằng luôn có độ chắctay của một cây bút nhà nghề” [5;12 ]

Nh vậy, dù đề cập đến Vũ Bằng với t cách là nhà văn, nhà báo, nhà lí luậnphê bình…các tác giả đều cố gắng khắc hoạ chân dung của một tài năng trênnhiều lĩnh vực trong đó có hoạt động lý luận, phê bình văn học Những bài viếttrên mới chỉ dừng lại ở mức độ là những bài viết ngắn, lời tựa, lời bạt Với khoáluận này, chúng tôi cố gắng đa đến cái nhìn tơng đối khái quát về mảng lí luậnphê bình văn học của Vũ Bằng trên cơ sở kế thừa những ý kiến quý báu của cácnhà nghiên cứu đi trớc Hy vọng khoá luận sẽ giúp ích phần nào cho bạn đọchiểu hơn về nhà văn Vũ Bằng

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Khoá luận nhằm mục đích:

- Tìm hiểu những đóng góp của nhà văn Vũ Bằng đối với lí luận về tiểuthuyết

- Tìm hiểu nghệ thuật độc đáo trong cách dựng chân dung văn học của VũBằng

3.2 Phạm vi nghiên cứu của khoá luận :

- Khảo về tiểu thuyết- Vũ Bằng, Nxb Phạm Văn Tơi, Sài Gòn xuất bản năm 1955, đợc Vơng Trí Nhàn tập hợp lại in trong cuốn Khảo về tiểu thuyết

(Những ý kiến, những quan niệm của các nhà văn, nhà nghiên cứu ở Việt Nam

từ đầu thế kỉ XX cho đến 1945 ), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1996

- Mời chín chân dung nhà văn cùng thời, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002

- Mời bốn gơng mặt nhà văn đồng nghiệp, Nxb, Hội Nhà văn, 2004

- Toàn tập Vũ Bằng (Gồm 4 tập), Nxb Văn học, 2006

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những phơng pháp sau:

Phơng pháp thống kê

Trang 7

Phơng pháp so sánhPhơng pháp phân tích, tổng hợp

5 Cấu trúc khoá luận

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc khoá luận gồm 3chơng

Chơng1: Vị trí của Vũ Bằng trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đạiChơng2: Một số đóng góp của Vũ Bằng đối với lí luận về tiểu thuyếtChơng3: Một số đóng góp của Vũ Bằng về thể tài chân dung văn học

Trang 8

Ch ơng 1

vị trí của vũ bằng trong tiến trình văn học

việt nam hiện đại

1.1 Cuộc đời

Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng, bút hiệu là Vũ Bằng, Tiêu Liêu, VịtCon, Thiên Th, Vạn Lý Trình, Lê Tâm, Hoàng Thị Trâm sinh ngày 3 6 1913tại Hà Nội thuộc dòng họ Vũ Hồn (là một dòng họ túc nho) đất Lơng Ngọc, HảiDơng Cha mất sớm, Vũ Bằng sống với mẹ Ông đợc mẹ gửi vào trờng AlbetSarraut, một trờng trung học Pháp nổi tiếng lúc bấy giờ với mong muốn Vũ Bằngsau này đi du học bên Pháp và trở thành một thầy thuốc Nhng Vũ Bằng khônglàm theo ớc nguyện của mẹ Ông sớm “ ném thân mình vào làng báo, làng văn”.Lòng đam mê, nhiệt tình và tài năng bẩm sinh đã đa Vũ Bằng tới những thànhcông trong nghề văn, nghề báo Chính sự lựa chọn ấy là đầu mối cho những biến

cố thăng trầm của cuộc đời Vũ Bằng, làm vỡ mộng của bà mẹ và làm khổ lây

đến bà cô già lận đận, cô độc bên ngời cháu bị gia đình xa lánh Cũng may nhờtình thơng, lòng độ lợng của ngời cô khả kính mà Vũ Bằng đã thoát đợc bóng macủa nàng phù dung với muôn vàn níu kéo có thể đi đến vùi dập cả thể xác lẫnlinh hồn Vũ Bằng đã kinh qua nhọc nhằn, biến động của cuộc đời một cách kiêncờng để khẳng định tầm vóc của một tài năng nhiều mặt trên văn đàn Việt Nam Trớc năm 1945, Vũ Bằng sống ở Hà Nội bằng nghề viết văn, làm báogiống nh bao văn sĩ lúc bấy giờ “ Ông viết văn làm báo nh một cách mu sinh,hơn thế ông viết nh một nghiệp chớng Bao nhiêu vui sớng bao nhiêu bất hạnh cảcái vinh và cái nhục cũng từ đó mà ra cả ” Từ sau sự kiện toàn quốc kháng chiến19/ 12/ 1946, Vũ Bằng cùng gia đình tản c ra vùng kháng chiến Với những biến

động khác nhau có khá nhiều ngời, kể cả những ngời trong đội ngũ trí thức đã “dinh tê” Những ngời nh vậy đều chịu sự phán xét khá nghiêm khắc của d luậnlúc bấy giờ Điều này phản ánh khá rõ trong một số sáng tác của Vũ Bằng Cuộc

sống tản c hiện lên sinh động và không kém phần chua xót ( Bát cơm, Mê chữ

) Trong hoàn cảnh ấy, Vũ Bằng đ

động ấy có thể nói đã phản lại lợi ích dân tộc, phản bội cách mạng Vũ Bằngchấp nhận bản án ấy “Cuối năm 1948, tôi từ biệt kháng chiến để trở về Hà Nội lí

do không phải vì ý thức hệ hay không đợc đãi ngộ mà chỉ vì cơm áo, tôi tự biết là

hèn” (Tự ngôn – tập Bát cơm) Sau này khi mọi việc đợc làm sáng tỏ, vở lẽ ra,

sự “dinh tê” của Vũ Bằng không phải là sự phản bội lại dân tộc, xuất phát từ

động cơ ích kỷ cá nhân mà vì đáp ứng lời kêu gọi của sự nghiệp cách mạng dân

Trang 9

tộc Vũ Bằng là một chiến sỹ trong mạng lới tình báo cách mạng Những lời taitiếng, bản án ấy đã gây cho Vũ Bằng những áp lực, sự nghi kị của mọi ngời song

ông chấp nhận tất cả để tự làm cho mình chiếc áo nguỵ trang an toàn nhất chocuộc đời hoạt động tình báo

Đau đớn hơn, năm 1948, nhà văn Nam Cao viết tác phẩm Đôi mắt khiến

d luận một lần nữa lại ngộ nhận Vũ Bằng chính là nguyên mẫu của nhân vậtHoàng trong tác phẩm này Vũ Bằng chịu tai tiếng là một nhà văn rời xa quầnchúng, sống ích kỷ, hởng thụ Vợt lên áp lực nặng nề ấy, Vũ Bằng tìm cho mìnhmột lối nghĩ riêng “Dần dần nó quen đi Nhờ sự quen đó, tôi tìm ra đợc một lợi

điểm: Nhìn thấy ở “bên ngoài” và cả ở “bên trong” Những điều mắt thấy, tai

nghe tôi ghi làm 3 loại văn: Phóng sự hồi ký (Khúc ngâm đất Hà), tiểu thuyết dài (Chớp bể ma nguồn) và truyện (Truyện ngắn và tân truyền kỳ mạn lục) Ba loại này đăng lên báo Tiểu thuyết Thứ bảy đợc ít kỳ thì bị Chính phủ quốc gia lúc

đó, không cho đăng tải” (Tự ngôn, tập Bát cơm).

Sau Hiệp định Giơnevơ, 1954, miền Bắc nớc ta hoàn toàn giải phóng đi lênxây dựng chủ nghĩa xã hội còn miền Nam quằn quại trong khói lửa chiến tranh.Bám theo Mỹ là các thế lực phản động tay sai, đợc sự giật dây của “ ông trùm”

đế quốc, bọn chúng hoạt động chính trị ráo riết Chúng tung tin Chúa đã vàoNam để lôi kéo đồng bào tôn giáo di c vào Nam nhằm thực hiện âm mu “chiếm

đất chiếm dân” Đợc sự phân công của tổ chức, Vũ Bằng lại vào Sài Gòn, tiếp tụctham gia hoạt động tình báo đến ngày 30 / 4/ 1975 Nhng với d luận lúc bấy giờ,

Vũ Bằng lại mang thêm tội: Theo phản động vào Nam Đó là một cái án khôngthành văn tuyên phạt Vũ Bằng Ông thành một đứa con bị quê hơng ruồng bỏ, cô

đơn một mình ở chốn trời Nam xa xôi Bề ngoài Vũ Bằng vui chơi bình thảnchấp nhận thản nhiên “Nhng Nam Bắc cùng là đất nớc sao lại phải coi chuyến đinày là một cuộc di c mà không phải là một vụ đi chơi bậy bạ để tiêu sầu khiểnhứng” Nhng thực chất bên trong con ngời ông là nỗi đau buốt giá “Trông bềngoài thì không có gì khác lạ, nhng cầm một cánh hoa khẽ thử đập vào mà xem:tiếng gỗ kêu nghe mệt mỏi, u buồn, mà nếu gõ mạnh thêm chút nữa, ta sẽ thấy

gỗ vỡ tan, để lộ ra những tảng mục lỗ chỗ nh tổ ong, tiết ra một thứ bụi cànghanh hao, nhạt nhẽo Con tim của ngời khách tơng t cố lí, cũng đau ốm y nh gỗ

mục” (Tự ngôn - Thơng nhớ mời hai) Chia tay với vợ con những tởng có thể trở

lại quê hơng Bắc Việt thân yêu sau khi hiệp thơng tổng tuyển cử 1956 nh lời kíkết của hiệp định để đoàn tụ cùng gia đình song tất cả nh một giấc mơ phù du.Niềm hi vọng trở thành tuyệt vọng, trở thành nỗi đau buốt giá trong trái tim ngờicon xa xứ

Trang 10

Ngày 30/ 4/ 1975 đi vào lịch sử dân tộc nh một mốc son chói lọi Đất nớcsạch bóng quân thù, hoà bình thống nhất trong ngôi nhà chung nhng với VũBằng, cái bản án của quá khứ vẫn treo lơ lửng ở trên đầu Cái tội “phản bội dântộc” vẫn cha đợc xoá bỏ trong khi ông vẫn sau trớc một lòng với nhiệm vụ đợcgiao Những kí ức về miền Bắc và gia đình vẫn là những kỉ niệm xa xa, là tơnglai không bao giờ với tới đợc Hi vọng đã trở thành thất vọng, bất lực và buồn

đau nhất là khi Quỳ, ngời vợ ông một đời yêu thơng, cảm phục qua đời Vũ Bằngvẫn lặng lẽ mang theo suốt cuộc đời nỗi nhục và cái án d luận

Năm 1984, ông rời bỏ cuộc đời đi vào cõi vĩnh hằng lặng lẽ, âm thầm khilịch sử cha kịp minh oan cho ông Từ bỏ trần tục khi cha một lần đợc xem làtrong sạch, cha trở về với Bắc Việt thân yêu Mãi đến 1.3.2000 Cục Tình báoQuân sự, Bộ Quốc Phòng mới làm sáng tỏ những uẩn ức của cuộc đời ông- cuộc

đời chiến sĩ tình báo cách mạng

Qua bao năm tháng với bao lẽ hng phế của cuộc đời, lịch sử đã trả lại cho

Vũ Bằng cái trong sáng của một con ngời đã chiến đấu, hi sinh danh dự cho lẽsống của dân tộc Với những tác phẩm để lại cho nền văn học dân tộc, Vũ Bằngxứng đáng là “một gơng mặt văn nghệ xuất sắc”

1.2 Thành tựu sáng tác

Vũ Bằng dấn thân vào văn chơng ngay từ rất sớm 17 tuổi, ông đã trình

diện bạn đọc tác phẩm đầu tay Con ngựa già, truyện ngắn đăng trên báo Đông

Tây, năm 1930 Từ đó liên tục đến cuối đời Vũ Bằng cho ra mắt một khối lợngtác phẩm với hơn 100 đầu sách trải ra trên nhiều thể loại Bao gồm 5 tiểu thuyết,

5 tập kí, hơn 50 truyện ngắn, một số công trình khảo luận, phê bình …

1.2.1 Truyện ngắn

Theo thống kê, Vũ Bằng có hơn 50 truyện ngắn tập trung trong những tập

truyện: Mê chữ, Bát cơm, Ngời làm mả vợ, Những kẻ gieo gió… Đây là nhữngtác phẩm viết trong những giai đoạn khác nhau đã đợc đăng trên những tờ báo

nổi tiếng mà đơng thời Vũ Bằng cộng tác nh Tiểu thuyết Thứ bảy, Nguyệt san

tân văn, Tân dân… sau này đợc Văn Giá su tầm cho xuất bản cuốn Tuyển tập

truyện ngắn Vũ Bằng (2001) và một số truyện đợc Triệu Xuân bổ sung trong Toàn tập Vũ Bằng, Nhà xuất bản Văn học, 2006, tập 2 và tập 3.

ở lĩnh vực truyện ngắn, Vũ Bằng thể hiện một phong cách mới lạ Truyệncủa ông lấy đề tài từ những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống thờng ngày, dễ gặp

nếu không nói là rất đời thờng, nh truyện Một ngời rơi xuống hố Truyện viết về

một ngời say rợu rơi xuống hố Tỉnh dậy Y cầu cứu những ngời đi qua giúp Ynhng đều bị từ chối Cuối cùng Y nhận ra rằng cái hố mà Y rơi xuống rất cạn Y

Trang 11

tự đứng lên và đi về nhà Lại nh truyện Gặp nhau rồi lại xa nhau, đôi tình nhân

xa cách lâu ngày gặp nhau ở sân quần ngựa, nhận ra sự thay đổi và cùng ngậmngùi than thở nỗi khốn khổ nh hai ngời bạn không may trên con đờng đời…Đọctruyện ngắn Vũ Bằng tởng nh không có cốt truyện, chỉ có lời đối thoại hay làdòng nội tâm của nhân vật Các nhân vật cố tình uốn éo, điệu bộ với nhau, trìnhdiện với độc giả bằng cử chỉ và ngôn ngữ rất đặc biệt Nhiều khi diễn biến cốttruyện chỉ xảy ra trong suy nghĩ của nhân vật, chịu sự điều phối bởi tâm t, hành

động của nhân vật thế nhng cũng tạo thành một câu chuyện đặc sắc nh truyện

Cô vợ lẽ tóc rễ tre Tác giả để cho ông Hải tự kể những suy nghĩ của mình về cô

Trâm ông tởng tợng lấy đợc cô Trâm xinh đẹp, xây dựng cuộc sống hạnh phúc

êm đềm, lãng mạn Cuối cùng ngời đọc vỡ lẽ ra, truyện không có xung đột gì cả.Tất cả chỉ nằm trong suy nghĩ của Hải vì chẳng có ai biết ông có cảm tình với côTrâm, vì một ngày kia nghe lời chê của ông chủ, tình yêu của ông đối với côTrâm tan thành bong bóng và hình ảnh cô Trâm lại hiện lên với mái tóc rễ trexấu xí nh xa

Nếu nh độc giả muốn tìm ở truyện ngắn Vũ Bằng sự máy móc, bố trí cơhọc của tác giả thì thật là công việc vô ích Bởi tác giả không bao giờ can thiệpvào câu chuyện mà chuyện xảy ra rất tự nhiên, tự do không có sự cắt xén điềuphối của tác giả Nhà văn không nhằm dẫn dắt ngời đọc đi theo một mô típ cứngnhắc, đơn điệu Viết văn, Vũ Bằng mong muốn độc giả tìm cho mình một cáchcảm, cách hiểu Chủ trơng nh thế, Vũ Bằng phê phán “Một số ngời đọc truyệnmới, thờng giống nhau ở một điểm là họ yên trí rằng truyện thì phải có một cáigì mà truyện mới thì không có “ cái đó ” đọc lên “ chả thế nào “ Họ còn lấy cớrằng phàm cái gì viết ra đều phải nuôi mục đích là duy trì luân lí hay là bổ íchcho nhân tâm thế đạo, nay nhất đán một quyển truyện viết ra mà không làm thoảmãn đợc hai điều kiện đó thì là truyện vô ích, không đáng đọc” [18; 192] Dovậy truyện ngắn Vũ Bằng là truyện có kết cấu mở, truyện kết thúc mà độc giảkhông nhận đợc sự cắt nghĩa nào của tác giả Độc giả thông qua thế giới nhânvật, diễn biến cốt truyện tự tìm hiểu cái ý nghĩa điển hình ẩn chứa đằng sau nó.Cái triết lí truyện của Vũ Bằng, do vậy, sâu sắc và nhiều tầng nghĩa mặc dầu tácgiả không làm thay công việc cảm thụ để rút ra ý nghĩa phơi bày trực tiếp trongtác phẩm Ngời đọc phải có sự suy ngẫm, tìm tòi thông qua câu chữ, lời nói đặcbiệt là cử chỉ, giọng điệu của nhân vật

Điều dễ nhận thấy ở truyện ngắn của Vũ Bằng, nhân vật có hành động lặp

lại theo dòng diễn biến tâm lí (nh truyện Cô vợ lẽ tóc rễ tre) Truyện Cái tết bố

Trang 12

nuôi có lối hành văn rất lạ Rất nhiều ngữ điệu cảm, câu văn ngắn, tách cú pháp.

Sự lặp lại trong giọng văn tạo ra sự dồn nén trong tâm lí nhân vật

Vũ Ngọc Phan, trong công trình Nhà văn hiện đại, đã nhận xét rất tinh tế

một đặc điểm nổi bật ở văn chơng của Vũ Bằng là tính hài hớc, lối đá hoạt kê rấthỏm hỉnh Quả thật đọc truyện của ông, ngời ta không thể nín đợc cời nh truyện

Con dấu hoá Cái cời xen lẫn trong giọng điệu hài hớc, phóng đại “Các anh có

trông thấy cái máy adresograph bao giờ không? Giản dị lắm Nó chỉ to bằng cáighế đấu, một cái chân, hai cái cần và một cái máng để cho những miếng chì đúcsẵn vào Tạch tạch….Dập cái cần xuống hơn một lần thì mấy miếng chì tòi ra, cótên ông Nguyễn Văn Đoành, bà Trơng Thị Bộp, cụ Trần Thị Đùng cẩn tắc Màlại đủ cả nhà, phố xá và tỉnh lị của những ông bà ấy nữa Tiện bao nhiêu cái máy

đánh chữ không nhạy bằng Mà thuê một ngời th kí ngồi viết thì tốn kém ” [4;367] Nhng đằng sau câu chuyện hỏm hỉnh ấy là sự chua xót, ngán ngẩm của nhàvăn trớc nhân tình, thế cuộc Cời đấy nhng thực ra chất chứa nỗi buồn, niềm tâm

sự kín đáo

Nh vậy, với truyện ngắn nói riêng, Vũ Bằng luôn thể hiện sự tìm tòi đổimới trong phong cách, tăng cờng chất sống trong sáng tác Bằng sự trải nghiệmsâu sắc, ông mang đến cho thể loại truyện ngắn nguồn tái sinh mới Truyện ngắncủa Vũ Bằng chính là sự dung hoà hơi hởng Tây phơng và cội nguồn văn hoádân tộc Việt Nam, tính trí tuệ và sự hài hớc trào lộng của một nhà văn tài năng

1.2.2 Tiểu thuyết

Có thể nói rằng, trong lĩnh vực sáng tác này, số lợng tiểu thuyết mà VũBằng sáng tác không nhiều Theo một số nhà nghiên cứu, Vũ Bằng sáng tác đợc

5 cuốn tiểu thuyết: Một mình trong đêm tối (1937), Truyện hai ngời (1940), Tội

ác và hối hận (1940), Để cho chàng khỏi khổ (1941), Bóng ma nhà mệ Hoát

(1973) nhng hiện nay mới su tập đợc hai quyển Truyện hai ngời, Bóng ma nhà

mệ Hoát Hai cuốn này đợc Triệu Xuân su tầm, in trong Vũ Bằng, Toàn tập, tập

2 và tập 3, Nxb Văn học, 2006

Ông sáng tác để thoả mãn niềm đam mê, lòng nhiệt thành với nền Quốcvăn và mong muốn mang đến cho độc giả những thiên tiểu thuyết mẫu mực Đọctiểu thuyết của ông, độc giả bị cuốn vào dòng nội tâm của nhân vật, các nhân vậtkhông đối thoại với nhau mà triền miên trong dòng độc thoại Nhân vật rất íthành động, nếu có thì chỉ là những hành động nhỏ không đủ tạo nên những biến

cố lớn để giải quyết mâu thuẫn Nh Truyện hai ngời, nhân vật Hải khi biết Trâm

theo tình nhân thì chỉ dằn vặt, cay cú chứ không hành động để thay đổi cuộc đời.Cuộc sống của nhân vật quẩn quanh trong những điều tầm thờng của cuộc sống,

Trang 13

gặm nhấm đi những hoài bão và mơ ớc Nhân vật dễ dàng buông xuôi cho sốphận đa đẩy Nếu có một lúc nào đó nhân vật hành động thì chỉ hành động trongnội tâm còn thực tế anh ta lại bất lực Tác giả không tham gia vào việc lý giải,cắt nghĩa sự việc mà ngời đọc phải tham gia vào tình tiết sự việc và tự rút ra ý

nghĩa cho mình Trong tiểu thuyết Bóng ma nhà mệ Hoát, Vũ Bằng chỉ làm công

việc trần thuật, miêu tả còn tại sao nhân vật lại gặp tình huống ấy?, anh ta là ai?Bóng ma có ý nghĩa gì ? thì tác giả không lý giải Tính chất “mở” của tiểu thuyết

là điều Vũ Bằng luôn hớng tới Ông để cho nhân vật tự hành động theo lẽ tựnhiên không theo khuôn mẫu, chuẩn mực đã vạch sẵn Tác giả khuôn đúc nhânvật trong mối liên hệ phức tạp, tâm lý nhân vật có những góc tối và sáng đan xenkhó minh định Vũ Ngọc Phan đã nhận thấy: “Về đờng tâm lý, nếu đọc lợc cảtruyện, ngời ta nhận thấy Hải là một thiếu niên có tín ngỡng, có lý tởng Nhngnếu xét nhận từng đoạn một, qua các chi tiết và mọi việc, ngời ta còn thấy Hải làmột thiếu niên khờ dại nữa, rồi ở giữa những sự khờ dại của chàng, lại điểmthêm cái tính dỉ dỏm và láu vặt Tác giả đúc nhân vật trong khuôn khổ tâm lý

nh thế kể ra phức tạp thật” [20; 998] Hay tên ngời Nhật trong Bóng ma nhà mệ

Hoát, tâm lý và hành động của nhân vật này là sự đối nghịch Bề ngoài, hắn là

một kẻ trầm lặng, hiền lành nhng thực chất bên trong hắn đầy sự ác độc của một

kẻ mang nặng tâm lý phạm tội tày trời Đan xen u tối và quầng sáng trong diễnbiến nội tâm nhân vật trong tiểu thuyết, Vũ Bằng đã làm cho tác phẩm của mìnhkhông nhạt nhẽo, đơn điệu mà đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác

Yếu tố hoang đờng đợc Vũ Bằng đa vào tiểu thuyết rất tự nhiên Bóng ma

nhà mệ Hoát là tác phẩm chứa nhiều sự khó lý giải của thế giới tâm linh Trong Mấy lời trớc khi vào truyện, Vũ Bằng đặt ra vấn đề: “Vậy ngời chết có hiện hình

không? Có ma không? Câu hỏi này, thật là hóc búa, đối với ngời cứng rắn, có

đầu óc khoa học, thì nhất định là không Vì theo họ chết là hết trơn hết trọi Tuynhiên vấn đề này không nh họ nghĩ đâu” Thực ra sau thế giới ma quái, sự trả thùrùng rợn chuyên chở triết lý “ác giả, ác báo” của cuộc đời chứ không phải là câuchuyện giật gân, gây tính tò mò tầm thờng ở độc giả Nói về thế giới kì ảo, VũBằng mang nặng cả nỗi niềm của cuộc sống hiện thực, của một kiếp ngời gắn bóvới sự sống, cuộc đời

Về ngôn ngữ, Vũ Bằng có một lối văn rất “lạ”, một lớp ngôn từ “ mạnhbạo và ráo riết”: “Cặp trẻ tuổi ấy thấy một mối hạnh phúc chân thật Hạnh phúc

ở bên trái, hạnh phúc ở bên phải, hạnh phúc ở trớc mặt, hạnh phúc ở sau lng”[20; 1000] Đặc biệt hơn, Vũ Bằng còn lặp lại y nguyên những đoạn văn giống

nhau Điều đó làm cho truyện của ông có sức ảm ảnh không nguôi Nh ở Truyện

Trang 14

hai ngời, sự lặp lại (tiếng ma rơi, anh chàng trẻ tuổi…) tạo nên sự ngng đọng ấntợng, dự báo sự tù túng, bế tắc trong cuộc đời nhân vật Chất dỉ dỏm, đá hoạt kêtrong ngôn ngữ tạo nên chất trữ tình trần thuật cho tiểu thuyết của Vũ Bằng.

Trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, Vũ Ngọc Phan nhận thấy tiểu

thuyết của Vũ Bằng chịu ảnh hởng nhiều của tiểu thuyết Âu Tây Nhiều khi lặplại nhiều đoạn y nguyên nh trong tác phẩm của Dostoievsky Tác giả cũng chaxây dựng đợc những nhân vật điển hình Đó là những hạn chế trong lĩnh vựcsáng tác tiểu thuyết của Vũ Bằng Tuy nhiên, không vì thế mà tiểu thuyết của

ông không hấp dẫn, mới mẻ thu hút độc giả

1.2.3 Kí

Đây là thể loại Vũ Bằng có nhiều đóng góp Ông đã công bố 5 tập ký Đó

là những thiên hồi kí Thơng nhớ mời hai, Phù dung ơi! vĩnh biệt, bút kí Miếng

ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, truyện kí Bảy đêm huyền thoại

Là một nhà báo giàu chất sống thực tế, Vũ Bằng giao du rộng lại nổi tiếng

là một kẻ ăn chơi nổi tiếng đất Hà thành Ông đi nhiều, biết nhiều Bớc chân hải

hồ đa ông đến với những vùng đất nổi tiếng ở Hà thành- Thăng Long ở miềnNam với thú ẩm thực, hát cô đầu, với các món ăn chơi…Vũ Bằng rành rẽ tất cả

Do vậy những thiên hồi kí, phóng sự của ông rất giàu chất sống thực tế Hiệnthực thế nào thì ông xây dựng thế ấy Có chăng Vũ Bằng chỉ làm công việc củamột ngời nghệ sĩ phả hồn mình vào sự thực khiến nó hiện lên sinh động, chấtchứa tình cảm của tác giả Niềm thơng nỗi nhớ miền Bắc với mời hai mùa,những d vị cụ thể, cái rét dịu ngọt, nhúm cốm làng Vòng, bát cơm gạo mới vàcái bùi ngọt của chim ngói…Nào có cao sang gì đâu, thế nhng cái hơng vị ấy đãthức tỉnh trong ngời con xa quê niềm nhớ thơng đau đáu Nhiều khi nỗi nhớ rấtbình thờng “một chén trà sen do nhà ớp, mấy cái bánh Tô Châu nhấm nháp vàomột hôm mát trời, một nồi cơm gạo tám ăn với thịt rim” Thật dễ dàng nếu ởmiền Bắc nhng khi xa quê, ớc mơ bình dị đã biến thành mộng tởng xa vời Ôngchỉ biết gửi tâm sự, gửi nỗi nhớ vào hồi kí nh niềm an ủi một “ thân phận lạcloài”

Nếu Nguyễn Tuân sành sỏi trong thú ẩm thực, đã viết về phở cà cuốngngon đứt lỡi, Thạch Lam mang đến cho ngời đọc cái d vị ngọt ngào trong thiên

kí sự về phở thì Vũ Bằng cũng sành sỏi không kém Thởng thức văn chơng mà cócảm tởng nh đang thởng thức cái ngọt bùi, hơng thơm nức mũi của món ngon Hàthành nổi tiếng: “Cứ nhìn bát phở không thôi cũng thú, một nhúm bánh phở, một

ít hành hoa thái nhỏ,điểm mấy ngọn rau xanh biêng biếc, mấy nhát gừng màuvàng tơi thái mớt nh tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm

Trang 15

nh hoa lựu…Ba bốn thứ màu sắc đó cho ta cái cảm giác đợc ngắm một bức hoạmàu lập thể của một hoạ sỹ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng màu sắc hơi lốlỉnh, hơi bạo quá, nhng mà đẹp mắt ” Quả thật, Vũ Bằng pha trộn thật khéo léogiữa nghệ thuật viết và nghệ thuật làm phở Cái ngon của miếng ăn trở thành cáingon của nghệ thuật Phải chăng đó là cách trở về dĩ vãng của lòng kẻ “ vạn lítha phơng”.

Vũ Bằng bao giờ cũng tôn trọng sự thật, dù sự thật ấy có nghiệt ngã đến thế

nào Trong hồi kí Phù dung ơi vĩnh biệt, tuổi trẻ lầm lỗi của tác giả hiện lên

thành thực Vũ Bằng nói hết về mình với tất cả sự chân thành và lơng tâm ngờicầm bút hơn 60 tuổi đời Ông không che dấu một thời lầm lạc của tuổi trẻ bịquyến rũ bởi ả phù dung, sa vào vòng đam mê tội lỗi Ông không ngần ngại dựnglên hình ảnh một thanh niên đam mê thuốc phiện, truỵ lạc thân tàn ma dại: “Nửagiờ đi qua, tôi cứ đứng vịn thành cầu mà rõ dãi xuống hồ Toàn thân tôi không

còn phải bằng da, thịt hay gân, sụn Nó là một cái gì rỗng mà nhẹ” (Phù dung ơi

vĩnh biệt) Khi cơn đói thuốc lên những cái ngáp dài vô tận và cả sự đấu tranh cai

thuốc Chọn ngày tết để cai thuốc, Vũ Bằng đã đấu tranh t tởng: “Dù cha ta chếtrồi có hiện lên bảo ta hút ta cũng không hút” Đó thực sự là những lời sám hốicho quãng đời lầm lạc của tác giả Tuy nhiên, kí của Vũ Bằng không phải baogiờ cũng miêu tả sự thực đến trần trụi mà kí của ông còn có yếu tố hoang đờng

(Bảy đêm huyền thoại) Nh trên đã nói tính h cấu vốn rất kị với thể loại kí văn

học nhng Vũ Bằng đã đa yếu tố huyền thoại hoang đờng vào tác phẩm của mình

Vậy có gì mâu thuẫn chăng? Thực ra sự h cấu trong tác phẩm Bảy đêm huyền

thoại của Vũ Bằng hoàn toàn không phải là sự h cấu quá đáng, hoang đờng dù

những câu chuyện trong đêm ma rừng đều có sự rùng rợn, quái dị Mạch chính

của bút kí lại là câu chuyện của nhóm ngời hành quân giữa đêm khuya Bảy đêm

huyền thoại, bảy câu chuyện có tác động đến cuộc đời của mỗi nhân vật đặc biệt

đến cuộc đời của một cô gái Từ lòng cảm phục cô đã đi tìm con ngời đã kể câuchuyện hay nhất không quản ngại đến hiểm nguy Nhìn nhận khách quan ởtruyện kí của Vũ Bằng chất hiện thực và hoang đờng có ranh giới không rõ ràng Nhân vật trần thuật trong kí của Vũ Bằng ở hai ngôi: ngôi thứ nhất và ngôithứ ba Nhiều khi nhân vật trong tác phẩm kí chính là tác giả, cũng có khi là mộtnhân vật khác ở trong cuộc Sự có mặt của nhân vật trần thuật, nhất là tác giả

đóng vai trò chứng kiến để tăng cờng tính xác thực của con ngời và sự việc trong

tác phẩm kí đồng thời để bộc lộ tính khuynh hớng của mình Nhân vật tôi trong

tác phẩm của ông trực tiếp bộc lộ thái độ tình cảm của mình rất tự do thông quangôn ngữ trữ tình và chất chính luận sắc sảo Tôi cảm nhận ngời, việc, cảnh và

Trang 16

xen vào câu chuyện của nhân vật chính là những lời bình luận tự do, phóngkhoáng Cái chất trữ tình rất nổi bật từ đó gây nên sự phá vỡ trong cốt truyện,diễn biến của truyện theo sự hồi tởng trong tâm t của tác giả và bị chi phối bởicái nhìn chủ quan của tác giả Chính chất trữ tình và tình cảm của một văn sĩ

đam mê nghệ thuật và hơn hết là tấm lòng t cố hơng là chất xúc tác làm nênphong cách độc đáo của Vũ Bằng trong sáng tác kí

Nh vậy, chính với sự trải nghiệm của cuộc đời nhiều thăng trầm, trắc trở, sựtìm tòi khổ luyện trong nghề, Vũ Bằng phả vào tác phẩm của mình cái hơi thởphập phồng của cuộc sống, tình cảm sâu nặng với những vùng đất, những con

ngời đã ghi dấu ấn trong tâm hồn mình Ông viết để quên đi nỗi sầu của kẻ tha

phơng, cô đơn của thân phận bị ruồng bỏ Tính trí tuệ và trữ tình chính là nét đặcsắc trong những thiên bút kí của ông Cùng với các cây bút thành công trong thểloại kí, Vũ Bằng mang lại cho văn học những giá trị đáng ghi nhận

1.2.4 Báo chí

Bốn mơi năm làm báo, là cây bút chủ chốt của nhiều tờ báo có tiếng vang:Vịt Đực, Việt nữ, Tiểu thuyết Thứ bảy, Trung Việt tân văn, Ngày mai, Tiếngdân, Bạn trẻ, Cải tiến, Lửa sống, Sao trắng…Vũ Bằng thuộc thế hệ những conngời đầu tiên tạo dựng nền móng cho nền báo chí Việt Nam Cuộc đời làm báo

sôi nổi đợc ông dựng lại một cách sinh động bằng thiên hồi kí Bốn mơi năm nói

láo (1969) Phạm Ngọc Luật đánh giá: “ Cuốn sách của Vũ Bằng thâu dựng đợc

khá toàn diện và trung thực bộ mặt của báo chí công khai nớc nhà từ những năm

30 dới chế độ Pháp thuộc đến những năm dới chế dộ Mỹ – Nguỵ ở miền Namsau này” [3; 391] Là một thiên hồi kí nhng Vũ Bằng không viết về mình mộtcách hợm hĩnh, vô lối Cái tôi của ông hiện lên gần gũi giữa bao g ơng mặt đồngnghiệp

Năm 16 tuổi, khi đang học ở trờng Albert Sarraut, Vũ Bằng đã là cộng tácviên thờng xuyên của tạp chí Hữu Thanh và báo Trung Bắc tân văn Tài năng của

Vũ Bằng bộc lộ sớm nên ông dành đợc sự u ái của nhiều chủ bút lúc bấy giờ

Ông là th kí của nhiều tờ báo có danh tiếng, có ảnh hởng khá lớn đến các câyviết trẻ Vũ Bằng đã kinh qua những năm biến động của lịch sử báo chí, nghe vàviết không mệt mỏi cho đến những năm cuối đời Có thể nói cuộc đời Vũ Bằng

là cuộc đời gắn với nhiều kiếp sống, tâm t của một ngời cùng chung hoài bão vớinhiều ngời Do vậy độc giả không chỉ tìm thấy ở thiên hồi kí của Vũ Bằng bớc đ-ờng sự nghiệp của chính bản thân ông mà còn đợc nghe biết bao câu chuyện làmnghề của những gơng mặt báo chí nổi tiếng cùng thời: Hoàng Tích Chu, PhùngTất Đắc, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…Với những bài viết ở mảng báo chí, Vũ

Trang 17

Bằng thể hiện bút pháp mới mẻ, sung sức, có tác động sâu sắc đến thị hiếu của

độc giả song không phải là lối viết câu khách của những tờ báo lá cải Ông viết

từ lơng tâm của một nhà báo chân chính Điều đó mang lại cho tác phẩm của ôngnhững giá trị chân thực

Đọc lại thiên hồi kí Bốn mơi năm nói láo, gơng mặt của một bộ phận báo chí

công khai thời Mỹ- Nguỵ hiện lên sinh động với bút pháp giản dị, thân mật, chứachan tính trào lộng, hài hớc Nhng sau cái hài là cái bi, là nỗi đau của một thế hệsống trong cảnh bị kiểm duyệt, trong xã hội mà quyền tự do ngôn luận của conngời bị bóp nặn “Đợc rồi ngời ta quan niệm làm báo nói láo ăn tiền, mặc họ, nh-

ng làm báo chân chính không thể và không bao giờ quan niệm nghề nghiệp củamình nh vậy Hơn cả ai hết, họ biết rằng báo chí là một bộ môn văn hoá phản

ánh sinh động nhất, đầy đủ nhất tính chất của một chế độ, cho một chế độ xã hội

” Vũ Bằng kể lại một thời làm báo tếu lật trần những mặt xấu xa của ngời ta mà

chửi, chửi cho đã đời, chửi cho chừa đi những thói tục chớng tai gai mắt mặc dầuhậu quả để lại có thể nguy hiểm với những con ngời dám lên tiếng song họ vẫnlàm nh không vì từ trong sâu thẳm những nhà báo chân chính vốn không run sợquyền lực, tiền tài Đó là những tháng ngày sôi động nhất của nghề làm báo “Có

đêm nghĩ ra một câu sỏ ngọt thần diệu, hay một vấn đề riễu cợt tài tình, chúngtôi cời thắt cả ruột, cời đau cả ruột” [3; 135]

Vốn tự phụ mình có tài hơn ngời, tuy không ngạo mạn nh Nguyễn Tuân

đem cái tài ra để “khinh thế ngạo vật”, Vũ Bằng có lúc không khỏi tự hào

“những bài báo nào mình viết ra, đọc lại cũng thấy hay phi thờng và tự cho văn

mình là nhứt tự thiên kim…” [3; 41] Ông nhận ra cái tài của mình chỉ là cái tàivặt vãnh của “ tuổi trẻ bồng bột” Sống bên những cây cổ thụ của làng báo lúcbấy giờ, Vũ Bằng học hỏi ở họ rất nhiều điều, cả về phơng diện nghề nghiệp vàcả nhân cách của con ngời Một Hoàng Tích Chu, một Nguyễn Văn Vĩnh, Tạ

Đình Bính, Phùng Tất Đắc…không chỉ giỏi nghề mà còn có cái trong sáng củamột lơng tri ngay thẳng Trong thâm tâm, Vũ Bằng rất nể phục hành động từchối sự trợ giúp của chính quyền với cụ Nguyễn Văn Luận trong khi chính tờbáo đang ngắc ngoải vì thiếu tiền, một Nguyễn Văn Vĩnh chịu chết, chịu phá sảntrong khi không ít lời đề nghị đợc giúp đỡ Cảm vì cái tâm, cái tài, đã hơn mộtlần Vũ Bằng thốt lên những lời tự tận đáy lòng: “Trong thâm tâm tôi phục sát

đất…Tôi phục Tản Đà đã đem một cái đẹp cao siêu vào mục thi ca cho làng báo,còn Hoàng Tích Chu thì đã làm cách mạng thực sự trong nghề báo, dám đa ranhững cải cách mà lúc đó ai cũng cho là quá ngố” [3; 47] Bằng sự cảm thông,

Trang 18

ông nhìn những nhân vật vốn đợc xem là “phía bên kia” một cái nhìn khác hẳn,cái nhìn thông cảm, đồng cảm của những ngời cùng sinh nghề tử nghiệp.

Hơn ba trăm trang viết của một quyển sách nhỏ, Vũ Bằng nói rất thậtnhững hệ luỵ trong đời làm báo, thuật lại một cách trung thực và cảm động nhấtthực trạng báo chí Việt Nam đầu thế kỉ với những gơng mặt đồng nghiệp xuấtsắc làm nên sự sôi động của nền báo chí công khai lúc bấy giờ Tôn trọng sự thậttrong một bút pháp hoạt kê, trào phúng, ông và những cây bút có tâm đơng thời

đã lật tẩy những xấu xa, chớng ác của xã hội với mong muốn xây dựng một xãhội nhân văn hơn, đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận của con ngời Mợn lời

Vũ Bằng để kết lại thành công của một nhà báo đam mê nghề nghiệp: “Nếu trởlại làm ngời, con cứ lại xin làm báo”[3; 389]

1.2.5 Tạp văn

Đây là một thể loại vốn không xa lạ với độc giả yêu thích văn học, cũng làthể loại làm nổi danh nhiều cây bút xuất sắc “ Đó là một thứ văn vừa có tínhchính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịpthời các hiện tợng xã hội” [13; 294] Chẳng hạn nh tạp văn Lỗ Tấn đợc ông gọi

là “dây thần kinh cảm ứng”, là chân tay tiến công và phòng thủ, là dao găm vàmũi lao, có thể cùng bạn đọc mở ra một con đờng máu để sinh tồn Tính tràolộng đả kích cũng là một tính chất nổi bật của tạp văn ở Việt Nam, nhiều nhàvăn viết tạp văn có nhiều thành tựu nh Ngô Tất Tố, Ngô Đức Kế, Huỳnh ThúcKháng Là một cây bút đa tài, Vũ Bằng dành nhiều sự u ái cho thể tài này Cóthể nói tạp văn là một trong những mảng sáng tác có vị trí quan trọng trong sựnghiệp của ông

Theo Nguyễn ánh Ngân, “tạp văn, đặt nhằm chỉ sự đa dạng cả về nội dunglẫn văn phong của các bài viết, chứ không nhằm xác định thể loại” [5; 10] Tuyvậy với những bài viết chứa đựng một tầm kiến thức sâu rộng, bao quát trênnhiều vấn đề, đan xen nhiều giọng điệu có thể xem đây là những tạp văn giá trị.Năm 2003, Nguyễn ánh Ngân su tập những bài viết của Vũ Bằng đăng trên Tạpchí Văn học (ở miền Nam) những năm 60, 70 cho in thành cuốn sách gần bốntrăm trang với 3 phần:

- Phần1: Các bàn viết về văn học dân gian và văn học cổ

- Phần2: Các bài viết về một số sinh hoạt, hiện tợng văn hoá, nghệ thuật

- Phần3: Các bài viết về các hiện tợng xã hội

Năm 2006, Toàn tập Vũ Bằng đợc Nxb Văn học xuất bản, mảng Tạp văn

đợc in trong tập 4

Trang 19

Trong công trình này, ở một phạm vi nào đó, ta thấy đợc văn phong của

Vũ Bằng Thứ nhất, ngôn ngữ chọn lọc tinh tế, có lúc lại thoái mái, dồn dập

thông tin Những bài viết nh Tranh gà, tranh lợn với ngày tết Việt Nam, Hát ả

đào: lịch sử ra sao, ông tổ là ngời nào? Mà hát ả đào, cô đầu và nhà tơ có khác nhau không? gợi nên nỗi niềm hoài cổ và nét tinh tế gọt giũa Có bài lại khá

phóng túng, suồng sã ghi lại ý kiến của ngời khác nh Đã có một định nghĩa xác

thực về ca dao, tục ngữ hay cha? Thứ hai, Vũ Bằng luôn hớng về các giá trị văn

hoá truyền thống của dân tộc Đó là kho tàng ca dao, tục ngữ, ca dao cổ, là tranh

Đông Hồ, truyện Lục Vân Tiên…bộc lộ sự quan tâm nghiêm túc, sự thông hiểu

và hơn hết là tấm lòng yêu đất Việt đến cháy bỏng Viết tạp văn, Vũ Bằng thểhiện một bút pháp tự do, biến hoá đa dạng, phong phú Khi thì nghiêm túc, quy

củ trong khảo sát, khi lại tự do đa ra những câu bình luận, đánh giá mang thôngtin nóng hổi của giọng điệu báo chí Điều dễ nhận thấy ở trong tập tác phẩm này

là số bài ông viết để trực tiếp đả phá một t tởng, khuynh hớng lệch lạc của xã hộihầu nh rất ít mà chủ yếu là những bài khảo cứu bình luận về các hiện tợng vănhoá xã hội vốn đã ăn sâu vào lòng dân tộc Ông trân trọng truyền thống, yêuthích văn hoá dân gian Ông “nhìn các hiện tợng xã hội với con mắt hỏm hỉnh,

“zoom” vào từng chi tiết”

Một nhà văn viết nhiều, viết khoẻ nhất là văn chơng lại là nghề mu sinhthì không tránh khỏi có lúc nhà văn chạy theo đơn đặt hàng mà viết ẩu, viết dễdãi, có những nhận xét chủ quan tuỳ tiện và không phải lúc nào ý kiến của ôngcũng thích hợp, đúng đắn Một số vấn đề ở trong những bài viết này Vũ Bằng chỉghi theo dòng hồi ức cho nên không tránh khỏi sai lệch so với lịch sử, hiện thực

1.2.6 Lí luận, phê bình văn học

Đây là mảng có vị trí quan trọng trong văn nghiệp Vũ Bằng Ông có mộtvốn tri thức khá chắc chắn về những vấn đề văn học Đó là nền tảng để làm nênnhững khảo luận, phê bình có giá trị Lĩnh vực thu hút sự quan tâm nhiều nhấtvới ông là tiểu thuyết, một thể loại mới du nhập vào Việt Nam, khá mới lạ với

độc giả và ngay cả với những văn sĩ đơng thời ở lĩnh vực này ông có công trình

lí luận Khảo về tiểu thuyết, Nxb Phạm Văn Tơi, xuất bản 1955 Sau này đợc

V-ơng Trí Nhàn tập hợp lại, Nxb Hội Nhà văn xuất bản năm 1996: Khảo về tiểu

thuyết (Những ý kiến, những quan niệm của các nhà văn, nhà nghiên cứu ở Việt

Nam đầu thế kỉ XX cho đến 1945) Trong công trình này, Vũ Bằng đi vào khảocứu về một số vấn đề cơ bản của thể tài tiểu thuyết với mong muốn: “ Đối với n-

ớc ta mà nói văn tiểu thuyết đang ở trong thời kì sơ phát, tôi thiết nghĩ rằng mộtquyển sách nói về tiểu thuyết nh cuốn này, nếu không có ích lợi hẳn thì ít ra

Trang 20

cũng đem đến cho ngời đọc một chút quan niệm về tiểu thuyết” [18; 165- Tự

ngôn ] Quan niệm nh vậy nên về lí luận Vũ Bằng không mang đến cho độc giả

kiến thức hàn lâm khó hiểu mà ông nhìn nhận vấn đề đầy đủ, rõ ràng trên cơ sởbao quát tài liệu rộng rãi Những vấn đề lí luận luôn nằm trong tơng quan vớithực tiễn của văn học do vậy kiến thức không khô cứng mà dễ hiểu, dễ tiếp nhận.Thành tựu của văn học thế kỉ XX còn ghi nhận thành công của Vũ Bằng tronglĩnh vực xây dựng chân dung văn học, một thể loại đặc biệt của phê bình vănhọc Những bài chân dung văn học sắc sảo, hấp dẫn của ông đợc Văn Giá su

tầm, tập hợp in trong cuốn Vũ Bằng, mời chín chân dung nhà văn cùng thời, Nxb

Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002 Năm 2004, Nxb Hội Nhà văn cho ra mắt bạn

đọc cuốn Vũ Bằng- Mời bốn gơng mặt văn nhà văn đồng nghiệp do Nguyễn ánh Ngân biên soạn Năm 2006, Nxb Văn học xuất bản Toàn tập Vũ Bằng (Triệu

Xuân su tầm, biên soạn), gồm 4 tập Phần Chân dung văn học (có bổ sung) đợc

in trong tập 4 Các chân dung văn học của Vũ Bằng tạo dựng cha phải đợc sutầm hết, nhng qua công trình của mình, ông đã có những nhận định tơng đối sắcsảo về con ngời và sự nghiệp của một số cây bút tiêu biểu: Vũ Trọng Phụng,Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách,Văn Cao, Nguyễn Nhợc Pháp, Hữu Loan, Tú Mỡ, Tô Hoài, Trần Huyền Trân

Ông đã góp tiếng nói khẳng định phong cách của một số cây bút “đại thụ” nhnhận định về Thạch Lam, Nguyễn Tuân…mà lịch sử văn học chứng thực lànhững ý kiến xác đáng Dựng chân dung, Vũ Bằng quan tâm đến góc độ con ng-

ời đời thờng của các văn nhân nhng ông không sa vào những chi tiết vụn vặt, màchọn những chi tiết tiêu biểu, gây ấn tợng, có thái độ đánh giá riêng khiến chochân dung văn học hiện lên sống động, có sức thu hút Mỗi chân dung, mỗi tínhcách mang phong cách sáng tạo nghệ thuật không lặp lại

Có thể khẳng định rằng đây là bộ phận sáng tác có giá trị trong sự nghiệpvăn chơng của Vũ Bằng Những chơng tiếp theo của khoá luận sẽ trở lại khaithác những thành tựu của ông trong lĩnh vực này

1.3 Kết luận

Hơn 70 tuổi đời và hơn 50 năm tuổi nghề, kinh qua bao biến động, đổi

thay của lịch sử, với lòng đam mê của kẻ tự mang lấy nghiệp vào thân Vũ Bằng

đã để lại một sự nghiệp văn chơng phong phú với nhiều thể loại: tiểu thuyết,truyện ngắn, ký, tạp văn, lý luận, phê bình, báo chí Chất lợng của các tác phẩmcủa Vũ Bằng có thể cha đồng đều Đến nay, sau ngót một phần t thế kỉ tính từkhi Vũ Bằng qua đời, công việc su tập các sáng tác của ông cho đầy đủ đâu phải

dễ dàng, suôn sẻ Song với những gì đã đợc công bố, ít nhất là với Toàn tập gồm

Trang 21

4 tập dày ngót 3500 trang, khổ 16 x 24, Vũ Bằng xứng đáng là một nhà văn lớn

có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam thế kỷ XX

Ch ơng 2 Một số đóng góp của Vũ Bằng đối với lý luận về

tiểu thuyết 2.1 Quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn, nhà nghiên cứu ở Việt Nam

từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945.

2.1.1 Đầu thế kỷ XX nền văn học Việt Nam bớc vào “vận hội lớn” Sự đổimới của nền văn học theo hớng hiện đại hóa đã kéo theo sự đột phá trên nhiềulĩnh vực Đổi mới cách t duy, quan niệm về con ngời, đổi mới cách viết…nhiềuvấn đề của đời sống xã hội đợc nhìn bằng cái nhìn đa chiều Một trong nhữngthành tựu nổi bật là sự phát triển về thể loại văn học Đặc biệt là các thể loại dunhập từ phơng Tây mà chủ yếu là nền văn học Pháp Điều này xuất phát từ hoàn

Trang 22

cảnh Việt Nam đang bị thực dân Pháp đô hộ với chính sách văn hoá của thực dânkéo theo sự du nhập của văn học Tây phơng Mặt khác cũng bởi tính chất mở củanền văn học Việt Nam Bên cạnh Thơ mới ngời ta chứng kiến sự ra đời của kịch,của tiểu thuyết.

Ngay từ khi mới xuất hiện, thể loại tiểu thuyết trở thành vấn đề quan tâmcủa rất nhiều độc giả Ngời ta xem tiểu thuyết là món ăn tinh thần không thểthiếu, nhất là đối với các thanh niên nam nữ, các bậc thợng lu trí thức Ngời ta

say sa với từng chi tiết, số phận các nhân vật Tố Tâm trở thành cuốn sách gối

đầu giờng của thế hệ thanh niên lúc bấy giờ Với nhà văn, họ mong muốn có mộtthành tựu nh Banzắc, Stefan Zweig…

Một số nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học yêu thể tài này, những conngời chăm lo cho nền quốc văn mang kỳ vọng vào tiểu thuyết, mong nó ngàymột nảy nở hiện hình trên trang sách Họ đã suy nghĩ và viết những bài báo,cuốn sách bớc đầu bàn luận về thể tài này Đôi khi thông qua lời nhà xuất bản,những ngời môi giới với độc giả, chúng ta cũng tìm thấy sự định hớng Đó lànhững công trình nghiên cứu đáng chú ý, bớc đầu cung cấp cho bạn đọc nhữnghiểu biết tiểu thuyết là gì?, chủ đề?, kết cấu, nhân vật ngôn ngữ tiểu thuyết nhthế nào? Tiểu thuyết đợc chia làm mấy loại? Thật ra không phải từ đầu thế kỷ XX giớivăn nghệ và độc giả mới biết đến tiểu thuyết mà từ thế kỷ trớc tiểu thuyết vốn đã đợc l-

u hành Đó là các trờng thiên tiểu thuyết mà ngời Tàu đã đa vào nớc ta trong âm mu

đồng hoá dân tộc, đó là những câu chuyện từ thuở xa xa về các triều đại phong kiến,những thiên diễm tình bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, những câu chuyện hoang

đờng xa lạ với đời sống Nền tiểu thuyết Việt Nam manh nha bởi các tác phẩm nh

Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Kim Anh lệ sử của Trần Trọng Khiêm, Hoàng Tố Oanh hàm oan…đến những tác phẩm mở đầu cho nền tiểu thuyết Việt

Nam hiện đại nh Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách rồi bớc qua chặng đờng quan trọng của tiểu thuyết phái Tự lực văn đoàn với Hồn bớm mơ tiên, Đoạn tuyệt …đến tiểu

thuyết hiện thực phê phán với những tên tuổi nh Nam Cao, Vũ Trọng Phụng…Sự nở rộcủa thể loại và những bớc trởng thành vững chắc trong tiến trình văn học dân tộckhông thể không đòi hỏi nền tảng lí luận về tiểu thuyết Vậy các nhà văn đầu thế kỉquan niệm về tiểu thuyết nh thế nào? Chúng tôi thử khảo sát một số quan niệm tiêubiểu:

Nguyễn Trọng Quản trong lời tựa truyện Thầy Lazaro Phiền (1887) lu ý

đến ngôn ngữ đời thờng đợc sử dụng để kể chuyện và miêu tả: “Đã biết rằng xanay dân tộc chẳng thiếu chi thơ phú, văn truyện nói về các anh hùng hào kiệt,những tay tài cao trí cả rồi đó mà những đấng ấy thuộc về đời xa chứ nay chẳng

Trang 23

còn nữa Bởi đó tôi mới dám bày đặt một chuyện đời nay là sự thờng có trớc mặt

ta luôn, nh thế sẽ có ngời lấy làm vui lòng mà đọc, kẻ thì cho quen mặt chữ, ngời

đặng giải phiền một giây” [18; 22]

Báo Nông cổ míng đàm (số 262- 23/6/1906) đòi hỏi truyện phải theo

phong tục của xứ sở, truyện có thật chứ không đợc bịa đặt “Không đặng dùng việc dị

đoan hễ chết mà còn muốn sống lại thì nhờ thuốc hay thầy giỏi, chớ nói đến quỷthần Còn muốn phạt thì đau bịnh mà chết hoặc lôi đả, súng xạ, gơm máy”

Phạm Quỳnh, chủ bút báo Nam Phong, khi giới thiệu tiểu thuyết Sống

chết mặc bay (Phạm Duy Tốn) đồng cảm, tán thành với quan niệm xem tiểu

thuyết “là lối văn riêng lấy tả chân làm cốt”

Thạch Lam cho rằng tiểu thuyết bây giờ phải hết sức gần cuộc sống, để

đ-ợc linh hoạt và gần nh cuộc đời: “Bỏ hết cái sáo, những cái kêu to mà trống rỗng,những cái giả dối đẹp đẽ, đi tìm cái giản dị cái sâu sắc và cái thật bằng cách quansát và rung động đúng đó là công việc của các nghệ sĩ phải làm” [18; 84]

Vũ Trọng Phụng, một nhà văn gặt hái nhiều thành công trong thể loại tiểu

thuyết, tác giả của những tuyệt tác Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, khẳng định tiểu thuyết

phải có tính hiện thực: “Các ông muốn tiểu thuyết là tiểu thuyết Tôi và các nhà

văn cùng chí hớng nh tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” (Tiểu thuyết là sự

thực ở đời, in trên báo Tơng lai, 25/3/1937) Nh vậy, theo họ, tiểu thuyết phải

“gần đời, thiết thực”, nghĩa là phải viết về cuộc sống đang hiện diện, đang sinhsôi nảy nở, phải bám vào hiện thực đời sống

Ngoài những quan niệm chung về tiểu thuyết, các nhà văn đều cố gắng lýgiải những điều sơ lợc nhất về tác dụng, kết cấu và một số kĩ thuật viết tiểuthuyết Thạch Lam quan tâm đến khả năng “thanh lọc” tâm hồn của tiểu thuyếtkhi ông cho rằng “tiểu thuyết giúp cho đời sống bên trong đợc dồi dào, sâu sắcthêm” Phạm Quỳnh lại lu ý đến khả năng giáo hoá quốc dân của tiểu thuyết.Nguyễn Văn Ngọc quan tâm đến tiểu thuyết gia đình Tuy chỉ là những ý kiến lẻ

tẻ nhng các nhà phê bình, nghiên cứu đều thừa nhận tác động sâu sắc của tiểuthuyết đến tâm hồn con ngời

Bàn về kĩ thuật viết tiểu thuyết, Trần Trọng Khiêm chủ trơng dung hoàtiểu thuyết Âu phơng và á phơng, “tham bác hai lối văn”, “ trong thế gian nàykhông có cái gì toàn hay, không có cái gì toàn dở Cái dở vẫn thờng đi với cáihay mà trong cái hay vẫn thờng có cái dở Tiểu thuyết ta tuy về phần hình thức

có điều khiếm khuyết thật, song về đờng tinh thần lại có nhiều vẻ đặc sắc màchính văn Âu Tây không có Những cái đó, ta không nên bỏ mà ta lại cần bảo

tồn, bồi dỡng lấy.” [18; 44] Hoàng Ngọc Phách nói về tiểu thuyết Tố Tâm chịu

Trang 24

ảnh hởng nhiều của lối hành văn Pháp Một mặt, Hoàng Ngọc Phách đòi hỏi “Văn chơng ta phải có tinh thần riêng” Mặt khác, ông quan niệm về hình thức “chúng tôi xếp đặt theo tiểu thuyết mới của Pháp, lối kể chuyện, tả cảnh theo vănchơng Pháp cả Về tinh thần, chúng tôi đem vào những t tởng mới tâm lý nhânvật đợc phân tách theo phơng pháp của những nhà tâm lý tiểu thuyết có tiếng đ-

ơng thời” [18; 50] Công trình khá hệ thống của Phạm Quỳnh Bàn về tiểu thuyết

đợc xem là cuốn sách nhập môn đầu tiên đối với độc giả yêu thích tiểu thuyết

“Khảo về tiểu thuyết có phần sơ sài Tuy nhiên vẫn phải công nhận về cơ bản,cái tinh thần của tiểu thuyết vẫn đợc các tác giả cuốn biên khảo xác định tơng

đối chính xác” [18; 119] Cuốn sách của Phạm Quỳnh trình bày bao quát nhiềuvấn đề Ông định nghĩa về tiểu thuyết: “Tiểu thuyết là một thể văn chơng thịnhhành nhất đời này, tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình

tự ngời ta phong tục xã hội hay là những sự tích lạ kì, đủ làm ngời đọc có hứngthú” Về kết cấu, ông nhận thấy: “Kết cấu là tự không xây dựng ra, bày vẽ ra, để

đặt ra, xếp các nhân vật, các tình tiết cho có đầu có đuôi, có sau trớc, có manhmối, có ngành ngọn Nói tóm lại là đặt thành một truyện hiển nhiên nh truyệnthật, khiến cho ngời đọc đơng lúc mơ màng tởng tợng là việc có thực vậy”.Ngoài ra ông còn bày tỏ cách xây dựng nhân vật sao cho “mô phạm” (destypes),lối hành văn “phô diễn” và phân tiểu thuyết thành 3 loại: Tiểu thuyết ngôn tình(romans passionnels), tiểu thuyết tả thực (romans de moeurs), tiểu thuyết truyền kì(romans d’aventures) Cuốn sách của Phạm Quỳnh tuy phần nào đã cung cấp cho tamột số hiểu biết về thể tài tiểu thuyết nhng sự thực nó vẫn còn sơ sài, chắp nhặt chaphải là công trình quy mô

2.1.2 Nhìn chung những ý kiến bàn về tiểu thuyết của các nhà văn, nhànghiên cứu ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 còn sơ lợc, manh mún, cha đủ

để gọi đó là hệ thống lí luận về tiểu thuyết Điều này bắt nguồn từ đặc điểm tduy của ngời phơng Đông Cha ông ta vốn không quen t duy trừu tợng, khái quát

mà thờng t duy theo kiểu cụ thể Thậm chí với thơ văn, họ sáng tác trớc khi có sựhiểu biết về chúng, nh chúng ta có thơ nhng lí luận về thơ lại rất ít Với tiểuthuyết, thể loại mới du nhập thì lí luận về nó lại càng vắng bóng Song những ng-

ời có tâm huyết với thể tài này không khỏi có tâm lí băn khoăn muốn lí giải để

vỡ ra những điều về tiểu thuyết Những lời tâm sự với đồng nghiệp, lời tựa chocác cuốn sách, lời phê bình trên các tờ báo, tạp chí nh Trung Bắc chủ nhật, NhậtTân, Tiểu thuyết Thứ bảy…là kho t liệu đáng quý góp phần tìm hiểu một thể tàivăn học hứa hẹn nhiều triển vọng

2.2 Quan niệm củaVũ Bằng về tiểu thuyết

Trang 25

2.2.1 Tiểu thuyết phải có cái mới và nhà tiểu thuyết phải có cá tính sáng tạo

Không phải ngẫu nhiên mà ở chơng đầu tiên của quyển sách, Vũ Bằng đã

đặt đề mục “Mới! Mới luôn luôn”, chuyên chở một quan niệm của ông về tiểuthuyết Bằng việc dẫn ra hiện thực nền tiểu thuyết nớc ta lúc bấy giờ và truyện

Pháp hồi đệ nhị đế chính, đem một truyện cụ thể để so sánh với Miếng da lừa (La peau de chagrin) của Banlzac với Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Vũ

Bằng đã chỉ ra t tởng sai lầm, tự phụ, tự thoả mãn của một số văn sĩ Họ đi theo

ánh hào quang của ngời khác mà tự đánh mất đi bản sắc của chính mình: “Tởngrằng mình đã là một Banlzac, một Bồ Tùng Linh một Setefan Zweig thật màkhông thèm học hỏi hay rèn giũa văn chơng nữa để uổng cả tài đi” [18; 168]

Ông muốn các nhà tiểu thuyết phải đa đến cho văn chơng những điều mới mẻ,phải tìm tòi, gạn lọc hạt ngọc của đời sống hiện thực Đã là tiểu thuyết phải cócái mới mẻ về t tởng, về chủ đề, về học lí về cách tạo dựng nhân vật và cả cáchhành văn kết cấu Vũ Bằng lên án thứ văn chơng tầm chơng trích cú, dùng vănmới hay tìm tòi đợc ít danh từ mới vì lập dị chứ không mang một điều gì mới lạhấp dẫn cho độc giả “Đó là những cuốn truyện để ngời ta đọc rồi quên đi saukhi trà d tửu hậu, những chuyện tiêu khiển, kết cấu đã cũ, tâm lí lại cũ hơn Cònnếu không kể về phơng diện thuyết lí hay luân lí hay tâm lí thì thật không có

điều gì đáng nói” Theo lí luận tiếp nhận văn học, ngời đọc luôn chờ đón tácphẩm có những điều khác lạ Trớc khi đọc một cuốn sách ngời ta thờng có tâmthế chờ đón Nói nh L.Tônxtôi: “Khi ta đọc hay quan sát một tác phẩm nghệthuật của một tác giả mới thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờcũng nh sau: Nào anh ta là con ngời nh thế nào đây nhỉ? Anh ta có gì khác vớitất cả những ngời mà tôi đã biết và anh ta có thể nói với tôi thêm một điều gì mới

mẻ về việc cần phải nhìn cuộc sống nh thế nào” Văn chơng không phải làm giàubằng số lợng của cải nh sản xuất vật chất mà nhà văn từ một việc có thể chọncho mình một cách cảm cách nghĩ riêng

Đánh giá thực trạng tiểu thuyết lúc bấy giờ, Vũ Bằng khẳng định: “Giở

m-ời cuốn truyện mới xuất bản gần đây ra mà xem và ta có thể chắc chắn trớc khi

đọc một điều rằng ít ra trong mời quyển đó có chín quyển nói về tình mà khôngphải là những trờng hợp tình ái khác nhau đâu Hầu hết là những chuyện tìnhngây thơ, dở dẩn mà từ khi có văn chơng giống ngời ở trên mặt đất này viết mấymuôn lần rồi” Đó là sự dẫm đạp lên nhau về chủ đề, văn quyển nào cũng tựaquyển nào Có khác chăng chỉ là sự thêm bớt gia giảm ít nhiều của nhà văn Ngòi

ta không có ý thức tìm tòi mà đi theo khuôn mẫu “quy phạm” Hễ nói đến traigái yêu nhau thì gọi bằng tên thật rồi dùng rất nhiều chữ “cảm thấy” để cho có

Trang 26

vẻ lãng mạn Nói đến tiễn biệt thì không quên tả một con sông và mấy cây chẩu

đứng buồn rầu dới bóng chiều vàng” [18; 169] Còn cách hành văn thì sao? đó làlối văn nhai lại cho hợp thời Sở dĩ nền văn học Pháp đựơc a chuộng, chủ nghĩalãng mạn của Gide khác chủ nghĩa lãng mạn của V.Huygo, Lamartine, Vigny…bởi họ luôn tìm cái hoàn thiện hoàn mĩ Điều đó cần sự nỗ lực rất lớn của ngờicầm bút Trên những phơng diện của cuộc sống hiện thực, nhà văn phải là ngời

đào xới cần mẫn tìm ra những nguồn mạch cha ai khơi để đem đến cho tiểuthuyết “ một nguồn sống mới, làn gió mới” “ Những cuốn sách nh vậy mới đợchoan nghênh thực xứng đáng vì những sách đó đã làm rộng phạm vi cảm giác, ấntợng, mộng tởng và thị lực ngời ta nhiều lắm” [18; 71]

Nói về sự sáng tạo mới mẻ của văn chơng, Nam Cao trong tác phẩm Đời

thừa (1943) đã phát biểu: “Văn chơng không cần đến những ngời thợ khéo tay

làm theo những kiểu mẫu đa cho Văn chơng chỉ dung nạp những ngời biết đàosâu biết tìm tòi khơi những nguồn cha ai khơi và sáng tạo những gì cha có” Vấn

đề mà Vũ Bằng đặt ra từ những năm 30 của thế kỉ trớc quả thực có ý nghĩa rấtlớn Tuy cha phát biểu trực tiếp nh Nam Cao nhng thông qua những dẫn chứngsinh động, qua đối sánh với tiểu thuyết Âu tây, Vũ Bằng đã nói lên đợc tính chất

tự do của tiểu thuyết Chính tính chất này đặt ra yêu cầu tiểu thuyết phải mang

đến cho độc giả một cái nhìn riloaB, một suy nghĩ riêng Tiểu thuyết không baogiờ là sự sao chép hay một sự sắp xếp cơ giới từ những tài liệu có sẵn

Tiểu thuyết mới nhng mới nh thế nào? ở chơng hai “Viết truyện gì”, tácgiả tập trung giải quyết những vấn đề lí luận về nội dung – viết cái gì? viết nhthế nào để có cái mới? Theo Vũ Bằng, nội dung mới không phải là những vấn đềgì thật cao xa, những chuyện ngoài biên giới cha ai biết, mà cái mới ở đây chính

là cái mới trong những cái gì tơng đối đã cũ Hay diễn đạt một cách hình tợng

“bình cũ rợu mới” Ông nhận định trong công trình của mình, tính chất nổi bậtcủa tiểu thuyết là tính “tự do”, phi quy phạm nảy sinh từ ranh giới cái khôngphải nghệ thuật và cái nghệ thuật tiểu thuyết đòi hỏi ngời viết nó không lệ thuộcvào những chuẩn mực đã khô cứng lại [18;162 – Lời dẫn – Vơng Trí Nhàn].Phạm vi nội dung của tiểu thuyết cũng hết sức tự do, ngời ta không biết đâu làbắt đầu, đâu là kết thúc “ai muốn viết thế nào thì viết, muốn viết lối truyện gì thìviết, những cái gì ngời ta đã viết rồi thì đừng viết, đã nói rồi thì đừng nói, đã làmrồi thì đừng làm” Tuy vậy, nhà tiểu thuyết phải là ngời biết đi sâu vào cuộc sốnghiện thực, cha phải viết những truyện cao xa rộng lớn: “Hãy bắt đầu viết truyệnmột ngời đàn ông, một ngời đàn bà đã rồi hãy viết truyện ngời đàn ông và ngời

đàn bà Nhà văn phải trung thành với chính mình, với sở trờng chứ không nên

Trang 27

chạy theo phong trào, theo ánh hào quang vì đi theo ngời chẳng đợc bằng ngời”[18; 180].

Nh vậy, Vũ Bằng rất đề cao tính sáng tạo, sự lao động không mệt mỏi củanhà văn Ông mong muốn văn chơng phải mang lại hơi sống của hiện thực, phảiviết những vấn đề mới mẻ, khám phá tìm tòi hình thức mới khiến tiểu thuyếtphong phú bất tận “không sách nào giống sách nào” Mới không có nghĩa là lập

dị khác ngời hay chạy theo phơng pháp viết mới không phù hợp với sức ta mà

tr-ớc hết phải viết “chúng ta hãy viết về ntr-ớc ta thôi, về nhà quê, về tỉnh nhỏ, vềphong tục, về rừng núi, về Mán, Mọi, Thổ…tất cả những cái gì thuộc về nớc ta”[18; 178] Mặt khác, Vũ Bằng khẳng định vai trò của nhà lý luận phê bình làphải có những công trình khảo cứu đích đáng để cho ngời viết thoát khỏi tìnhtrạng “ngơ ngác, mò mẫm” Có những công trình đó thì “cái sự học” của ngời tacũng đợc đề cao vậy Có thể nói giữa nhà văn và nhà phê bình có mối quan hệchặt chẽ Công trình của nhà phê bình có thể đa nhà văn thoát khỏi tình trạng bắtchớc, lặp khuôn Khi đợc trang bị lý luận thì chắc chắn tiểu thuyết sẽ có nhữngtác phẩm mới có giá trị Đây cũng chính là điều mà Vũ Bằng luôn trăn trở suốt

chặng đờng văn nghiệp, là tâm huyết mà ông gửi gắm trong công trình Khảo về

tiểu thuyết Điểm độc đáo trong lí luận về tiểu thuyết của ông là ở chỗ, ông

không nói bằng kiến thức lí luận, lí lẽ cứng nhắc mà bằng những ví dụ, so sánhlinh hoạt, với hình ảnh sinh động khiến ngời đọc không cảm thấy nặng nề VũBằng rất đề cao cá tính sáng tạo của ngời viết tiểu thuyết, thế nhng vấn đề đặt ra

là sức sáng tạo của Vũ Bằng thể hiện qua tiểu thuyết nh thế nào? Thực ra giữa líluận và thực tiễn sáng tác của ông có một độ chênh nhất định Không thể phủnhận sự sáng tạo của ông khi viết những truyện ngắn, tuỳ bút, phóng sự, tạp văngiàu giá trị nghệ thuật, sắc sảo tinh tế trong việc nắm lấy cái hồn của đối tợng,

để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng độc giả với những Thơng nhớ mời hai, Miếng

ngon Hà Nội…Song với thể tài tiểu thuyết, sức sáng tạo của tác giả là không

nhiều Vũ Ngọc Phan, trong công trình Nhà văn hiện đại, cũng nhận thấy Vũ

Bằng chịu ảnh hởng nhiều của văn chơng Pháp, nhiều khi quá độ thành bắt chớc

So sánh tác phẩm của Vũ Bằng với một số tác phẩm của văn học phơng Tây, VũNgọc Phan nhận thấy Vũ Bằng không chỉ ảnh hởng bởi lối hành văn, mà còn cónhững đoạn sao chép y nguyên trong những tác phẩm của Đôxtôiepxki,…Nói

nh vậy không có nghĩa là phủ nhận những nhận thức của ông trong mảng lí luận

về tiểu thuyết ở Vũ Bằng đọc nhiều, hiểu rộng cũng có mặt trái của nó đó là sự

ảnh hởng không tránh khỏi Trong công trình của mình ông đề cập đến khánhiều vấn đề nhng có lẽ cái cốt lõi cuối cùng trong lí luận về tiểu thuyết của ông

Trang 28

vẫn là vấn đề cá tính sáng tạo của ngời viết với con đẻ tinh thần của mình Đóthực sự là quan niệm tiến bộ và đúng đắn.

2.2.2 Chủ đề, t tởng trong tiểu thuyết

Những năm đầu thế kỉ, sự cắt nghĩa về chủ đề vẫn còn nhiều khúc mắc,trong cách diễn giải của ngời viết vẫn có những trúc trắc, khó hiểu Thậm chí ng-

ời ta chỉ hiểu rất nôm na “viết ra là để biểu dơng một cái gì” “Cái gì đó”, theocác cụ, là những truyện “văn chơng nghĩa lí” tức là tiểu thuyết phải chuyên chởmột chủ đề đạo lý, tiết nghĩa nào đấy Nhận định nh thế ông lần lợt dẫn ra hàngloạt cứ liệu sinh động trong văn học Việt Nam Đây là ngòi bút lí luận rất đặcbiệt, bởi lúc ngời ta hớng đến văn học Âu Tây để minh hoạ cho lí luận hiện đại

thì Vũ Bằng lại hớng về cội nguồn văn học dân tộc Nh truyện Phong thần biểu dơng lòng trung đợc đền đáp, độc ác bị khổ sở hay Song phợng kì duyên, Tái

sinh duyên…dù là sự trung hiếu, thần tiên đều chung mục đích là khuyên ngời ta

ăn ở cho phải đạo đến Lục Vân Tiên, Nhị độ mai, Hoa tiên, Truyện Kiều …

chuyên chở bài học luân lí “trung ,hiếu, tiết, nghĩa” Nhằm xác định nội hàmkhái niệm chủ đề, Vũ Bằng đã khảo sát một chặng đờng của nền văn học dân tộc

và những quan niệm khá nôm na về chủ đề Vậy chủ đề là gì? Theo ông: “Chủ

đề là một việc thuộc về lịch sử hay truyền kì, một ý tởng triết lý, một bằng chứng

đạo đức có khi là một tổ hợp của giai thoại, yếu tố khả dĩ dùng làm nền móngphạm vi của một tác phẩm nghệ thuật Chủ đề chính vậy là cái gì ẩn náu d ớinhững ngoại quan là cái thực tại cốt yếu đã chỉ định và phối trí những trạnghuống vậy” [18; 195]

Vũ Bằng cho rằng truyện (trờng thiên tiểu thuyết, vật ngữ, truyện) có thể

có chủ đề hoặc không có chủ đề Vấn đề này khá tự do, linh hoạt Ông cắt nghĩarằng có khi chủ đề làm hỏng tác phẩm, không có chủ đề tác phẩm lại có giá trị,thờng những truyện triết lí vẫn cần có chủ đề, đó chính là luân lí của truyện Chủtrơng nh thế, cho nên sáng tác của Vũ Bằng không khiên cỡng trong một chủ đềdới sự điều khiển của tác giả: “Nếu ngời ta muốn tìm ở truyện này một cái gì, tôixin nói ngay truyện này không có gì cả Bạn đọc xem sẽ biết, sẽ thấy nó thờng

lắm, bởi vì nó cứ xảy ra luôn luôn và cứ còn xảy ra mãi” (Lời tác giả- Truyện hai

ngời) Khi đa ra vấn đề lí luận này, ông lý giải qua những dẫn chứng tiêu biểu

nhằm minh định cho ý kiến của mình Đây là thế mạnh trong ngòi bút lí luận của

ông, chứng tỏ ông có một vốn kiến thức khá uyên bác, vốn kiến văn sâu rộng,dựa trên sự đối sánh song song của hai nền văn họcViệt Nam và Pháp Vũ Bằng

chứng minh những truyện nh Tống Trân, Nhị Độ Mai, Trê Cóc, Lục Vân Tiên …

trong văn học Việt Nam là những tác phẩm chuyên tải t tởng triết lí, là truyện

Trang 29

luân lý có tính chất khuyên ngời ta ăn ở phải đạo và những tiểu thuyết Miếng da

lừa, Chân dung Dorian Gray… trong văn học Pháp cũng là những tác phẩm đạo

lý mang tính chất răn dạy, làm cho vấn đề rõ ràng, khúc chiết hơn

Chủ đề của truyện có thể có nhiều cách biểu hiện “bao nhiêu ý định củatác giả đều đợc đem giãi bày bọc bằng cách kín đáo hoặc bằng cách rõ ràngtrong tác phẩm…Triết lí của câu chuyện nếu không tự tác giả diễn ra thì lại chomột hay hai nhân vật nào đó ở trong truyện nói nh một ngời giảng đạo” [18;201] Cho rằng chủ đề là cái tự do không bắt buộc đối với tác phẩm, ông khôngphủ nhận vị trí của chủ đề bởi “ai cũng biết rằng truyện có chủ đề bao giờ cũnggiữ một địa hạt trong văn giới” [18; 205] Chính chủ đề đã tạo ra những tác phẩm

có giá trị “Truyện Kiều một phần hay cũng là do ở chủ đề thấm nhuần Phật giáo

và Đạo giáo” [18; 205] Có những loại truyện mà không thể không có chủ đề nhtác phẩm của André Gide, cái hấp dẫn độc giả, có ảnh hởng rộng rãi chính “vìnhững luận đề của tiểu thuyết gia” Bao giờ cũng vậy, công việc viết văn cũngcần cái tài và cái tâm, tài năng có vững thì mới có thể viết tự do, không phụthuộc vào những t tởng đã đi trớc, cái tâm có trong sáng mới có thể tạo nên sự

đồng vọng ở ngời đọc

Nh vậy, quan niệm của Vũ Bằng về chủ đề trong tiểu thuyết tơng đối tự

do Ông không phủ nhận vị trí chủ đề trong việc tạo thành công cho tác phẩmnhng ông cũng không phản đối loại tiểu thuyết không có chủ đề Ông muốn nóirằng: Nhà văn phải thoát khỏi cái khung định sẵn, đừng nên miễn cỡng “trói voi

bỏ rọ”: “Một nhà văn có thực tài và hết lòng nâng niu cuộc đời của mình thờnglàm những cái toán đố một cách dễ dãi mà truyện viết không tức bực, khó khăn,vơ váo và dù có bị chi phối bởi chủ đề đi nữa thì nhân vật của họ tạo ra vẫn cứsống, vẫn đủ tinh thần, vẫn cứ tự nhiên” [18; 207] Điều dễ nhận thấy, Vũ Bằng,khi bàn về bất cứ vấn đề gì về tiểu thuyết, luôn tha thiết mong muốn các vănnhân phải có sức sáng tạo Tự do viết không có nghĩa là tuỳ tiện, muốn viết gì thìviết theo ý muốn của mình, trái lại, tự do của ngời viết tiểu thuyết cũng phải h-ớng vào cuộc đời thực, không giả dối mà nên bật đợc linh hồn của cuộc đời Đóchính là trách nhiệm của mọi nhà văn chân chính ở một phơng diện nào đó,những quan niệm về chủ đề trong tiểu thuyết của Vũ Bằng mới mẻ và phù hợpvới hoàn cảnh hiện thời, góp phần định hớng cho ngời đọc một ít quan niệm vềthể loại tiểu thuyết

2.2.3 Tính chân thực của tiểu thuyết

Bày tỏ quan niệm của mình về loại tiểu thuyết gần đời thiết thực, Vũ Bằngcũng mang theo những hiểu biết của mình về tính chân thực trong tiểu thuyết

Trang 30

Văn học là bức tranh phản ánh đời sống vì vậy nhà tiểu thuyết phải tả chân đờisống vào trong tiểu thuyết Tiểu thuyết đợc coi là thể loại văn học có dung lợnglớn, có khả năng phán ảnh một cách sâu rộng và đầy đủ nhất mọi phơng diện của

đời sống cũng nh thể hiện đợc một cách tinh tế sâu sắc t tởng của nhà văn và tài

năng của họ Ông khéo léo khi mở đầu chơng VI (Tiểu thuyết với thuật tả chân)

bằng ý kiến của Stendhal về tiểu thuyết: “Một cuốn tiểu thuyết đó là một tấm

g-ơng đi chơi trên đờng cái” ý kiến này khiến nhiều ngời sẽ nghi ngờ phải chăng

“tiểu thuyết chỉ là một tấm gơng đi trên đờng cái thì công dụng của nó cũngkhông hơn gì cái máy ảnh vì nó chỉ có mỗi việc là nhận lấy hình ảnh rồi phảnchiếu, không xét đoán không phê bình” Từ đó ông lí giải: Thứ nhất, máy ảnhkhông chụp hết đợc cái sự thực ở đời Cái sự thực của máy ảnh là cái sự thực tầmthờng Thứ hai, tả chân nghĩa là gì ? “Là tả đúng sự thực nhng sự thực là nh thếnào? có phải chỉ tả riêng những cái mắt ta trông thấy chăng” [18; 320] Nếu nhvậy “tả thực” đồng nghĩa với cái nghĩa mà văn phái Médan khoác cho nó “tựnhiên chủ nghĩa” Vũ Bằng đề cao vấn đề hiện thực trong tiểu thuyết, nhng sựphản ánh hiện thực trong tiểu thuyết không phải bê nguyên hiện thực ngoài đời.Tả một đám rớc s tử không chỉ tả cho đúng nét mặt của từng ngời đi rớc, đồ dùng

để rớc, cái đầu s tử, quả cầu, cái côn, những cái đèn giấy, cái mũ vải của ngờidẹp đờng, viết về Huế nếu chỉ thấy đó là bức tranh tả cây cối, dinh thự, sông H-

ơng, lăng tẩm và những thiếu nữ búi tóc cánh phợng, đi guốc ngự, đội nón bàithơ thì đó đâu phải là tả thực Bức tranh đời sống vốn là một cái gì đó khôngtĩnh lặng mà là sự vận động biến đổi không ngừng, là cuộc sống muôn hình,muôn vẻ Cuộc sống chứa trong nó sự dữ dội ngay trong vẻ thanh bình tĩnh lặng

Nh vậy, sự thực không phải chỉ là những cái gì có thể nhìn bằng mắt, nghe bằngtai mà sự thực rộng lớn hơn nhiều Có sự thực có thể cảm nhận bằng giác quannhng có hiện thực mà giác quan đành bất lực, đó là những vấn đề về dĩ vãng,hiện tại, tơng lai là những khoảng lặng trong cuộc sống Đó là cái “sự thực thivị” mà ngày nay gọi là “chất thơ của cuộc sống”

Vũ Bằng muốn ngời viết và độc giả không hiểu méo mó về thuật ngữ “tảchân” để tả cuộc sống hời hợt bên ngoài Ông muốn cái hiện thực trong tiểuthuyết phải đa dạng phong phú kể cả những t tởng, biến thái tế vi nhất của tâmhồn Ông muốn nhà văn phải nắm lấy cái hồn của sự vật bởi vì “cách nói dối tởmlợm nhất là dấu đi cái hồn của sự việc” Vậy cái phạm vi hiện thực trong tiểuthuyết nh thế nào? Thực tế một quyển tiểu thuyết không thể nói “tràng giang đạihải” mọi vấn đề của cuộc sống Dung lợng không nhỏ nhng không thể ôm đồmhết “hiện thực thi vị ấy” M Gorki nói rằng: “Không phải nhà chép sử mà chính

Trang 31

nghệ sĩ là kẻ viết lịch sử thật của con ngời” Lí tởng của nhà văn tả chân bao giờcũng mong muốn “tả đúng sự thực thi vị đó, tả làm sao cho đúng cho sự thực ít

bị méo mó, ít bị biến hình biến dạng” [18; 223] Nhà chép sử ghi lại đúng sựthực của sự việc nh nó đã xảy ra còn sự thật với ngời nghệ sĩ bao giờ cũng có độchênh, cũng biến hình biến dạng Vì mỗi nghệ sĩ đều có một nhãn quan riêngcủa mình Mặt khác họ là những con ngời nhạy cảm và có cá tính nên cùng mộthiện thực đời sống, ngời thì quan tâm đến vấn đề này ngời dành sự chú ý đến vấn

đề kia Từ kinh ngiệm trong thực tế sáng tác của mình, Vũ Bằng nói đến phạm vihiện thực trong tiểu thuyết Theo ông đó là “hiện thực chọn lọc” tức là trong hiệnthực nhà văn phải biết chọn lọc tài liệu Ông gọi đó là cái “hằng cửu bất biến”

Ông lần lợt đa ra hàng loạt dẫn chứng để chứng minh cho quan niệm của mình

Ông muốn từ sự thật khách quan của đời sống mà độc giả rút ra vấn đề chứkhông phải chỉ lí luận khô khan, hàn lâm Ông kể câu chuyện về hoạ s Corot vàmột hoạ sĩ tài tử: Ngời hoạ sĩ tài tử vẽ tranh phong cảnh bờ hồ muốn “thu tất cảtiểu tiết của phong cảnh vào trong tấm vải con” và lời nói của Corot “ Tôi biết rồi

ông ạ, ông định cho cả cái thùng vào trong cái lọ, ông định trói voi bỏ rọ ôngkhông thể đi đến mục đích đâu” [18; 225]

Nh vậy, nếu hiện thực trong tiểu thuyết là tất cả tiểu tiết của cuộc sống thìchẳng khác gì công việc “trói voi bỏ rọ” của nhà hoạ sĩ kia “Nhà tiểu thuyếtphải chọn lọc trong những cảnh vật, sự tình, biến cố, trong những tình cảm trùngtrùng điệp điệp lấy một ít cảnh vật, sự tình biến cố, tình cảm công việc thật cầnthôi” [18; 226] Nói một cách khác, Vũ Bằng rất có ý thức đề cao vấn đề chi tiết

“điển hình”, để từ chi tiết đó có thể nói nhiều hơn nữa Ông rất tâm đắc với đoạnNguyễn Du tả cảnh lầu xanh, chỉ một vài ba nét chính “ khả dĩ làm nổi bật đợcmột cảnh vật” [18; 226] Trong bức tranh của Nguyễn Du, ngời ta không thấyqua một ý tởng triết lí hay một quan niệm đạo đức nào Tác giả chỉ tả còn để ng-

ời đọc tự nhận ra ý nghĩa trong đó Hơn thế nữa ông rất khâm phục tài sử dụngngôn ngữ chọn lọc đến tinh luỵện của cụ Nguyễn Du “lại chọn từng chữ, từngchỗ nữa để đặt ra một chữ nữa” [18; 227] “trong một chữ đặt đúng chỗ, tìm lấymột cái thần cho câu văn vậy” [18; 227]

Tiểu thuyết cũng nh các thể loại văn học khác, xuất hiện từ nhu cầu hiệnthực cuộc sống lẽ dĩ nhiên nó phải phục vụ lại đời sống Tác phẩm văn học chânchính giờ cũng mang trong mình hơi thở của cuộc sống hiện thực Với tiểuthuyết, một thể loại có dung lợng lớn, phạm vi phản ánh hiện thực rất rộng “miêutả cuộc sống nh một thực tại cùng thời đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vàobản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời, bao gồm cái cao cả lẫn

Trang 32

cái tầm thờng, nghiêm túc và buồn cời, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ” [15; 391].Trong giai đoạn tiểu thuyết Việt Nam đang phôi thai, thì những vấn đề lí luậncủa Vũ Bằng về tính hiện thực trong tiểu thuyết càng đáng quý Sau này nhiềunhà văn thừa nhận sự định hớng đúng đắn của Vũ Bằng.

Trong thực tế hiện thực của đời sống và hiện thực trong tiểu thuyết khôngphải là sự trùng khít “phàm văn gia nào, phàm nhà tả cảnh nào cũng làm méo sựthực làm biến hình, biến dạng sự thực đó, không ít thì nhiều” [18; 224] Chính độchênh ấy đã làm cho tiểu thuyết cô đúc hơn trong việc xây dựng chi tiết điểnhình nói lên nhiều mặt của cuộc sống Nhà tiểu thuyết bao giờ cũng trừu xuấthiện thực để chuyển tải những ớc mơ t tởng của mình Chính sự hoà quyện yếu

tố khách quan và chủ quan nh thế mới tạo ra đợc sức hấp dẫn, giá trị hiện thực vàgiá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm Đó cũng chính là công việc của những nhàvăn lao động chân chính luôn hớng tới Về lí luận, ông đề cao tính chân thực củatiểu thuyết còn về thực tiễn sáng tác của ông ta thấy có sự không thống nhất VũNgọc Phan đã tìm thấy trong tiểu thuyết Vũ Bằng một số điều không thực, tuynhiên đó chỉ là những chi tiết nhỏ.“Về đờng xã hội, Vũ Bằng đã lập một chuyệnkhông thực, ông có thể cho Hải là “một kẻ đau đớn và khổ cực” vì cái nghề cạogiấy ít tiền của chàng nhng ông chỉ có thể tìm cái nguyên nhân đau khổ củachàng ta ở điều khác thí dụ ở cái sự học dở dang nó làm cho chàng ta đo lầm sứcmình và cũng có mơ ớc cao quá phận mình Còn nh bảo ở xã hội Việt Nam hiệnthời nghề cạo giấy là nghề cực khổ thì không đúng” [20; 997] Vì sao giữa líluận và sáng tác của Vũ Bằng lại có mâu thuẫn nh thế? Phải chăng là nỗi khổtâm của ngời viết Vì khi sáng tác có thể dòng cảm xúc đã làm lu mờ đi, chiếmlĩnh cả trí tuệ của tác giả dù ông đã khẳng định hùng hồn bằng những lập luận từgóc độ lí luận của mình

2.2.4 Nhân vật trong tiểu thuyết

Một trong những vấn đề đợc Vũ Bằng khảo cứu khá kĩ đó là việc xây dựngnhân vật trong tiểu thuyết Theo Vũ Bằng, tiểu thuyết đơng thời phải thoát khỏihình tợng nhân vật đại biểu để xây dựng nhân vật sống Vũ Bằng đã đi vào khái

niệm nhân vật đại biểu và nhân vật sống bằng việc khảo sát các tác phẩm trong truyện Tàu nh Tam quốc, Đông Chu liệt quốc và tác phẩm Những đêm trắng,

Truyện Kiều… Trớc hết, nhân vật đại biểu là gì? Theo ông, trong tiểu thuyết đạo

lý, nhân vật thờng đại diện cho một tính cách, một t tởng, quan niệm của ngời

viết Trong Tam quốc, Khổng Minh đại diện cho cái trí, Tào Tháo đại diện cho

cái mu, Lã Bố đại diện cho cái dũng, Quan Công đại biểu cho trung và nghĩa…mặt khác ngay trong một tính cách, tính tình của nhân vật cũng có tính chất của

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân, Ngô Thảo (1995), Nhà văn Việt Nam chân dung tự hoạ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1995), Nhà văn Việt Nam chân dung tự hoạ
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Ngô Thảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
[2] Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Văn hoá - Thông tin – Trờng Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin – Trờng Viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
[3] Vũ Bằng (2001), Bốn mơi năm nói láo, Nxb Văn hoá - Thông tin [4] Vũ Bằng (2001), Truyện ngắn, Nxb Quân đội Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mơi năm nói láo", Nxb Văn hoá - Thông tin[4] Vũ Bằng (2001), "Truyện ngắn
Tác giả: Vũ Bằng (2001), Bốn mơi năm nói láo, Nxb Văn hoá - Thông tin [4] Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin[4] Vũ Bằng (2001)
Năm: 2001
[6] Vũ Bằng (2002), Mời chín chân dung nhà văn cùng thời, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mời chín chân dung nhà văn cùng thời
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
[7] Vũ Bằng (2003), Thơng nhớ mời hai, Mê chữ, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơng nhớ mời hai, Mê chữ, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
[12] Đặng Anh Đào (2006), “Tháng Ba đi tìm thời gian đã mấ t ” , Tiếng nói tri âm, tập 2, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháng Ba đi tìm thời gian đã mấ t"” , "TiÕng nãi tri "âm
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
[13] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ "điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[15] Phơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình (2002), Lý luận văn học, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002
[16] Hoàng Nh Mai (1993), “Lời nói đầu , Th ” ơng nhớ mời hai, Mê chữ, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời nói đầu , Th"” "ơng nhớ mời hai, Mê chữ, MiÕng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam
Tác giả: Hoàng Nh Mai
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1993
[17] Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Vơng Trí Nhàn, Trần Đình Sử, Ngô Thảo (1996), Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại mới trong văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Vơng Trí Nhàn, Trần Đình Sử, Ngô Thảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
[18] Vơng Trí Nhàn, Khảo về tiểu thuyết (Những ý kiến, quan niệm của các nhà văn, nhà nghiên cứu từ đầu thế kỉ đến năm 1945), Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo về tiểu thuyết
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
[19] Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội [20] Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại, tập 2, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại, tập 1", Nxb Khoa học Xã hội[20] Vũ Ngọc Phan (1989), "Nhà văn hiện đại, tập 2
Tác giả: Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội [20] Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội[20] Vũ Ngọc Phan (1989)
Năm: 1989
[21] Trần Đăng Suyền, Văn Giá (2004), “Vũ Bằng”, Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb ThÕ giíi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Bằng"”, "Từ điển văn học
Tác giả: Trần Đăng Suyền, Văn Giá
Nhà XB: Nxb ThÕ giíi
Năm: 2004
[22] Tạ Tỵ (1996), Mời khuôn mặt văn nghệ, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mời khuôn mặt văn nghệ
Tác giả: Tạ Tỵ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1996
[23] Hoài Thanh, Hoài Chân (1996), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w