TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ KHOA QUỐC TẾ HỌC NGHIÊN CỨU HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU,... Với việc nghiên cứu, phâ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA QUỐC TẾ HỌC
NGHIÊN CỨU
HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ những nội dung đã được tham khảo có kèm theo nguồn trích dẫn, luận văn này không bao gồm một phần hoặc toàn bộ nội dung của bất kỳ một công trình nào đã được công bố để nhận một văn bằng hay học vị ở bất kỳ một cơ sở đào tạo nào khác
Đà Nẵng, ngày 22 tháng 7 năm 2020
Tác giả luận văn
NGÔ THỊ THƯƠNG
Trang 4TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ tử kỷ ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng rõ rệt, điều này trở thành vấn đề quan trọng và được sự quan tâm lớn của cộng đồng Trong các yếu tố khiếm khuyết của trẻ tự kỷ như hành vi, cảm xúc,… thì ngôn ngữ đóng vai trò thiết yếu, là phương tiện ảnh hưởng cơ bản, dễ nhận biết trong quá trình phát triển của trẻ
Với việc nghiên cứu, phân tích và sử dụng bảng khảo sát để tìm hiểu các biện pháp hỗ trợ phát triển ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non đang áp dụng, luận văn đánh giá được hiện trạng hỗ trợ phát triển ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ Cụ thể là khả năng tiếp nhận ngôn ngữ và sản sinh ngôn ngữ Đồng thời, cũng xác định được những tiềm năng, cơ hội hòa nhập cho trẻ tự kỷ và từ đó, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục một số khó khăn trong quá trình hỗ trợ phát triển ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non
Do hạn chế về thời gian và không gian khảo sát điều tra vì ảnh hưởng của đại dịch COVID - 19, nghiên cứu chưa được tiến hành trên diện rộng như đã dự kiến,
mà chỉ chuyên sâu vào trường hợp cụ thể trên địa bàn quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng Đó là Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW Tóm tắt kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện nay, tại Trung tâm có 07 trẻ tự kỷ trong
độ tuổi mầm non đang theo học và trị liệu, với mức độ ngôn ngữ đạt từ 1 đến 4
is also easy to be identied
With the use of in-depth analysis, and survey questionnaire to find out measures to support language development for autistic children at nursery school
Trang 5age currently employed, this graduation paper evaluated the present status of the support for autistic children’s language development At the same time, it also identifies potentials and opportunities to integration for children with autism, then, propose solutions to overcome difficulties in the process of supporting autistic children’s language development at nursery school age
Due to the limited time and space for surveying, especially the impact of the COVID-19pandemic, this study was conducted at Center for Early Intervention and Support for Integrated Education EDUNOW as case study The results show that, currently, at the Center, there are 07 autistic children at nursery school age who are attending and receiving therapy, with the language level reaching from 1 to 4
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của đề tài 4
8 Cơ cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CỦA TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON 6
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 6
1.1.1 Khái niệm về phát triển 6
1.1.2 Khái niệm về năng lực 6
1.1.3 Khái niệm về ngôn ngữ 7
1.1.4 Bản chất của ngôn ngữ 8
1.1.5 Chức năng xã hội của ngôn ngữ 9
1.2 TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON 10
1.2.1 Tự kỷ 10
1.2.2 Trẻ tự kỷ 11
1.2.3 Nguyên nhân tự kỷ 12
Trang 71.3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ
TUỔI MẦM NON 15
1.3.1 Đặc điểm trong quá trình phát triển của trẻ tự kỷ 15
1.3.1.1.Các giác quan 15
1.3.1.2 Tư duy, tưởng tượng 17
1.3.1.3 Hành vi 17
1.3.2 Đặc điểm trong ngôn ngữ của trẻ tự kỷ 18
Tiểu kết chương 1 20
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CỦA TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG 21
2.1 KHÁT QUÁT VỀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 21
2.1.1 Đặc điểm khu vực khảo sát 21
2.1.2 Đối tượng khảo sát 21
2.1.3 Phương pháp khảo sát 22
2.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT 23
2.2.1 Đánh giá thực trạng khả năng ngôn ngữ của trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non 23
2.2.2 Những mô hình phát triển năng lực ngôn ngữ cho TTKMN đang được áp dụng tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW 34
2.2.2.1 Phương pháp TEACCH 34
2.2.2.2 Phương pháp từng bước nhỏ một 37
2.2.3 Thực trạng theo dõi, hỗ trợ phát triển khả năng ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ thông qua các buổi hoạt động ngoại khóa, sự kiện 38
2.2.4 Thực trạng hỗ trợ phát triển khả năng ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ tại nhà dành cho phụ huynh 39
2.2.4.1 Kỹ năng xác định mục tiêu cho TTKMN 39
2.2.4.2 Kỹ năng phát triển ngôn ngữ cho TTKMN 39
2.2.4.3 Một số số khăn đối với phụ huynh 39
Trang 8Tiểu kết chương 2 40
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ MÔ HÌNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGÔN NGỮ CHO TRẺ TỰ KỶ VÀ KHUYẾN NGHỊ 42
3.1 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ MÔ HÌNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGÔN NGỮ CHO TRẺ TỰ KỶ 42
3.1.1 Đối với phụ huynh có trẻ tự kỷ 42
3.1.2 Đối với Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW 45
3.2 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CỦA TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG 49
3.2.1 Đối với sở giáo dục - đào tạo 49
3.2.2 Đối với sở y tế 49
3.2.3 Đối với ngành văn hóa thông tin 49
3.2.4 Đối với trung tâm, cơ sở giáo dục 49
Tiểu kết chương 3 50
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 57
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Viết đầy đủ bằng tiếng Anh Viết đầy đủ bằng tiếng Việt
1 COVID Corona virus disease Bệnh vi-rút Corona
2 CSGD Chăm sóc giáo dục
3 ESDM Early Start Denver Model Mô hình can thiệp sớm
4 MMR Mumps, Measles, Rubella Quai bị, Sởi, Rubella
5 RLPTK Rối loạn phổ tự kỷ
6 TEACCH
Treatment and Education of Autistic and Communication related handicapped CHildren
Điều trị và giáo dục dành cho trẻ em tự kỷ và khuyết tật liên quan đến giao tiếp
9 TTKMN Trẻ tự kỷ mầm non
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tự kỷ là một khuyết tật phát triển suốt đời, ảnh hưởng tới nhiều mặt trong đời sống đặc biệt là hòa nhập với xã hội Đây là vấn đề đang nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng Hội chứng tự kỷ xuất hiện và tồn tại song song cùng với tiến trình lịch sử của loài người Tuy nhiên, mãi đến năm 1943, khái niệm được mô tả rõ ràng bởi giáo sư chuyên khoa tâm thần Leo Kanner, đến từ nước Mỹ [39]
Hiện nay, cùng với tiến bộ của nền y học, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu có quy mô lớn về tự kỷ, các tiêu chuẩn, chẩn đoán được thống nhất và
rõ ràng hơn, bên cạnh đó, phương tiện thông tin đại chúng ngày càng phổ biến rộng rãi cho phép các bậc phụ huynh dễ dàng tiếp cận và nắm bắt thông tin Do vậy, số lượng trẻ tự kỷ đang ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia trên thế giới, phần đa tập trung tại các thành phố lớn
Theo nghiên cứu tự kỷ tại các nước khác nhau trên thế giới, tỉ lệ người bị tự
kỷ, từ mức độ nhẹ đến nặng, vào khoảng 10-20/10.000 người Nếu chỉ giới hạn vào chứng tự kỷ điển hình thì tỉ lệ này cũng phải tới khoảng 4 trong số 1000 người [16]
Một số hành vi, thiếu hụt chức năng do tự kỷ đã khiến trẻ gặp khó khăn trong việc hoà nhập cộng đồng Trong đó, ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bản, dễ nhận biết nhất Trẻ tự kỷ (TTK) gặp khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ để thích nghi với xã hội và hạn chế khả năng sử dụng ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ Do đó, TTK còn gặp khó khăn trong việc khởi xướng và duy trì hội thoại, ngôn ngữ của trẻ chỉ để đạt mục đích chứ không
có ngôn ngữ chia sẻ “Có tới 50% số trẻ mắc chứng trẻ tự kỷ chưa bao giờ phát triển
lời nói hoàn thiện như một phương tiện để giao tiếp” [13, tr.130-132], [21]
Rõ ràng, ngôn ngữ của TTK đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển trí não của trẻ Vì vậy, có nhiều bài nghiên cứu một cách có hệ thống ở trong và ngoài nước về vấn đề này Tuy nhiên, nghiên cứu trong phạm vi nhỏ từng khu vực của thành phố thì rất hiếm, thậm chí là chưa có công trình nghiên cứu nào về năng lực ngôn ngữ của TTK trong từng độ tuổi nhất định
Trang 12Hiện nay, trên địa bàn quận Liên Chiểu đã có một số nghiên cứu quy mô nhỏ
về TTK Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tập trung vào hỗ trợ phát triển năng lực ngôn ngữ cho TTK trong độ tuổi mầm non (TTKMN)
Xuất phát từ những lý do trên đã thúc đẩy tác giả lựa chọn "Hỗ trợ phát triển năng lực ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
- Phân tích thực trạng hỗ trợ phát triển năng lực ngôn ngữ của TTKMN trên địa bàn quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng Trong đó, nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW
- Đề xuất các mô hình hỗ trợ phù hợp dành cho giáo viên tại trung tâm và phụ huynh để cải thiện năng lực ngôn ngữ cho TTKMN, cụ thể là tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW, trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hướng đến các nhiệm vụ:
- Thu thập, tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hỗ trợ phát triển năng lực ngôn ngữ của TTKMN
- Phân tích khảo sát để nhận biết thực trạng năng lực ngôn ngữ của TTKMN hiện đang theo học tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW, thực trạng CSGD tại nhà dành cho phụ huynh và thực trạng tổ chức các hoạt động ngoại khóa nhằm hỗ trợ phát triển năng lực cho trẻ
- Dựa trên cơ sở phân tích thực tiễn, qua quan sát và thực nghiệm, đề xuất một số mô hình, giải pháp nhằm cải thiện và phát triển hiệu quả ngôn ngữ cho TTKMN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên đối tượng là TTKMN tại Trung tâm Can thiệp sớm
và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
- Nghiên cứu thực trạng và đưa ra các mô hình hỗ trợ phát triển nhằm cải thiện khả năng ngôn ngữ cho TTKMN trên địa bàn quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng
- Phạm vi khảo sát và địa bàn thực nghiệm:
- Đề tài khảo sát 16 đối tượng gồm giáo viên và phụ huynh có TTKMN đang được trị liệu và giáo dục tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW trên địa bàn quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng về phát triển năng lực ngôn ngữ của TTKMN ở Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW là gì?
- Thực trạng hỗ trợ phát triển năng lực ngôn ngữ cho TTKMN từ phụ huynh,
từ Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW ra sao?
- Những đề xuất và mô hình nào sẽ hỗ trợ phát triển khả năng ngôn ngữ cho TTKMN trong tương lai?
6 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu, thu thập, xử lý và khái quát hoá thông tin của một số nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc các vấn đề liên quan đến đề tài của tác giả Từ đó, làm sáng tỏ thuật ngữ có trong đề tài
- Phương pháp quan sát
- Quan sát biểu hiện ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ của TTK nhằm hiểu rõ về đặc tính và thói quen của TTKMN Từ đó làm tiền đề để hình thành các câu hỏi chuẩn xác, cụ thể và phù hợp với đề tài nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng khảo sát
- Xây dựng phiếu câu hỏi cho giáo viên phụ trách chuyên môn và phụ huynh
có TTKMN đang học tập và trị liệu tại Trung tâm để thu thập thông tin, một số mô hình và chương trình đang được áp dụng cho trẻ
Trang 14- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp phỏng vấn trên đối tượng là giáo viên và phụ huynh, nhằm hỗ trợ trong quá trình thực hiện phương pháp điều tra bảng khảo sát để tránh sai sót và thông tin sai lệch
- Về mặt thực tiễn: Nhận diện được những điểm mạnh, điểm yếu trong việc sử dụng các biện pháp và chương trình cụ thể nhằm hỗ trợ ngôn ngữ cho TTKMN đang được trị liệu và giáo dục tại Trung tâm Từ đó, đề xuất một số mô hình và hàm ý chính
sách có tính khả thi đối với cơ quan, ban ngành, các tổ chức trong và ngoài nước
8 Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ phát triển năng lực ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non
Trong chương này sẽ trình bày về các khái niệm phát triển, ngôn ngữ, các yếu tố, đặc điểm về phát triển ngôn ngữ; khái niệm về tự kỷ và các đặc điểm liên quan đến tự kỷ ở trẻ Đồng thời, cũng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngôn ngữ của TTKMN
Trang 15Chương 2: Khảo sát thực trạng năng lực ngôn ngữ của trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non trên địa bàn quận Liên Chiểu tp Đà Nẵng
Chương này nêu rõ quy trình nghiên cứu đề tài, hệ thống các phương pháp lý luận và thực tiễn, bao gồm: Phương pháp điều tra bảng khảo sát, phương pháp quan sát, phương pháp thống kê để đưa ra kết quả khảo sát về thực trạng năng lực ngôn ngữ của TTK
Chương 3: Đề xuất một số mô hình hỗ trợ phát triển khả năng ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ và một số khuyến nghị
Chương này đưa ra mô hình, biện pháp nhằm hỗ trợ phát triển ngôn ngữ cho TTKMN đối với hai đối tượng chính là giáo viên ở trung tâm và phụ huynh có trẻ đang theo học, trị liệu tại trung tâm Bên cạnh đó, đưa ra khuyến nghị nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho TTKMN
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ
CỦA TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
1.1.1 Khái niệm về phát triển
“Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến thức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật” [30] Phát triển cũng thể hiện quá trình vận động không ngừng nghỉ để tạo và
đạt được giá trị mới có thể thay thế hoặc nâng cấp cái cũ
1.1.2 Khái niệm về năng lực
Thuật ngữ năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh "competentia" có nghĩa là
"gặp gỡ" [12] Khái niệm năng lực trong tiếng Anh được đặt trong những tình huống cụ thể, đặc điểm và hoàn cảnh khác nhau Competence, ability, capability,…
là những thuật ngữ dùng để miêu tả năng lực Năng lực trong tiếng Việt có thể được
mô tả bởi nhiều từ ngữ như: Tiềm năng, khả năng,…
Ngày nay, năng lực được hiểu theo nhiều định nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào góc độ, bình diện
Trên bình diện Tâm lý học, năng lực thuộc về tính chất, bản tính xuất phát từ bên trong của cá thể Năng lực này giúp cá thể xoay chuyển để ứng biến phù hợp hơn với các hoạt động, lối sống diễn ra thường ngày, nhằm mang lại đúng mục đích
và kết quả có lợi
Theo Vũ Dũng “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý
cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [4, tr.499] Trong khi đó, Nguyễn Quang Uẩn và
Trần Trọng Thủy cho rằng: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân
phù hợp với những yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý xuất sắc nào đó mà là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân” [15]
Trang 17Nhìn từ bình diện Xã hội học, năng lực là khả năng kết hợp các kỹ năng thiết yếu như kiến thức, kỹ năng, các giá trị phản ánh trong thói quen và suy nghĩ của cá thể, để từ đó làm thỏa mãn, hoàn thành công việc hay những hoạt động có mục đích
đã được hướng tới
Rycher quan niệm: “Năng lực làm việc là khả năng đáp ứng các các yêu cầu
hoặc tiến hành thành công một công việc Năng lực này bao gồm cả khía cạnh nhận thức và phi nhận thức” [26]
Nhìn chung, khái niệm năng lực được tiếp cận theo cả hai khía cạnh: Ảnh hưởng của năng lực từ bên trong cá thể và khả năng áp dụng các kỹ năng và kiến thức trong hoạt động và công việc thường ngày Như vậy, có thể nhận định rằng, năng lực là một khả năng mang nhiều khía cạnh, đa dạng đặc điểm và hoàn cảnh
1.1.3 Khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, được con người sử dụng làm phương tiện để liên lạc và giao tiếp với nhau Có thể nói, ngôn ngữ là yếu tố cơ bản quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của con người trong xã hội Xuất phát từ góc độ nghiên cứu và cách hiểu đã hình thành nên nhiều định nghĩa khác nhau về ngôn ngữ
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để giao tiếp, là công cụ để tư duy mà
theo Humboldt (1767-1835) ngôn ngữ được xem là “Linh hồn của dân tộc” [11]
Lịch sử đấu tranh và phát triển của mỗi dân tộc đều được phản ánh qua ngôn ngữ
Điều này đã được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng kh ng định: "Ngôn ngữ là một
trong những nhân tố hợp thành quan trọng, góp phần làm nên các nền tảng về giá trị, bản sắc, tinh hoa của nền văn hóa dân tộc ” [5, tr.8]
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người” [7,
tr.17] Ngôn ngữ là một hệ thống các ký hiệu có cấu trúc, quy tắc và ý nghĩa Ngôn ngữ cũng là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt và tiếp nhận những nét đẹp của truyền thống văn hóa, lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Bên cạnh đó, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, tồn tại song song với xã hội loài người Con người xã hội tư duy, trao đổi ý nghĩ tình cảm, tư tưởng, kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh qua ngôn ngữ Ngôn ngữ phục vụ toàn thể xã hội và có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội
Trang 18Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, cho rằng:
“Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của
con người và được phản ánh trong ý thức tập thể, độc lập với ý tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm
và nguyện vọng đó” [8, tr.311]
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, “Ngôn ngữ là hệ thống các âm thanh, các từ
ngữ và các quy tắc kết hợp chúng, làm phương tiện giao tiếp chung cho một cộng đồng” [19, tr.1126]
Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã được dẫn ở trên đều cho rằng ngôn ngữ là phương tiện, công cụ tư duy, ngôn ngữ dùng để giao tiếp với nhau và trao đổi nhận thức trong xã hội Nhờ đó, mối quan hệ giữa người với người trở nên gắn bó hơn Trong quá trình truyền đạt và biểu đạt thông tin, ngôn ngữ giúp con người điều chỉnh hành động, tư duy và giúp phát triển não bộ
Đối với trẻ em, ngôn ngữ không chỉ là công cụ cần thiết để trẻ bày tỏ suy nghĩ mà còn là cầu nối giữa trẻ và thế giới xung quanh Bởi vì, trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức với thế giới mới lạ xung quanh và hòa nhập vào xã hội loài người
1.1.4 Bản chất của ngôn ngữ
Đầu tiên, “Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt” [1, tr.7] Ngôn ngữ
chỉ sinh ra trong xã hội do ý muốn và nhu cầu trong quá trình sống, tồn tại và phát triển của con người Nếu thiếu xã hội loài người, ngôn ngữ không thể phát sinh Có thể nói, ngôn ngữ được coi là chất keo dính, kết nối các vị thế và vai trò có chủ định, nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng một cách chặt chẽ, mà thiết chế này được biểu hiện dưới dạng nghe, nói và hiểu, được tiếp thu một cách dễ dàng và liên tục ngay từ thuở thơ ấu Bởi, nếu không có sự tiếp thu và luyện tập, con người không thể sử dụng ngôn ngữ Ví dụ, những đứa trẻ có ba mẹ là người Việt Nam, nhưng chúng được sinh ra và lớn lên ở nước ngoài như Mỹ, Hàn Quốc, Canada Để trẻ có thể nói được tiếng mẹ đẻ thì ba mẹ cần phải có phương pháp để dạy trẻ Nếu không có sự tác động của ba mẹ, trẻ không thể sử dụng tiếng Việt, mặc dù ba mẹ trẻ
là người Việt Nam
Trang 19“Ngôn ngữ không phải là hiện tượng tự nhiên” [3, tr.4] Mưa, bão, động đất,
sóng thần, là các hiện tượng tự nhiên, tự nảy sinh, tự tồn tại và phát triển, không phụ thuộc vào con người Trái lại, ngôn ngữ là do con người quy ước, hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của con người Ngôn ngữ luôn mang tính kế thừa và phát triển, cái cũ không mất đi mà vẫn còn in dấu tích trong cái mới
Ngôn ngữ không mang tính cá nhân [3] Ngôn ngữ là sản phẩm chung của
một dân tộc nên có tính chất chung Mọi người trong cộng đồng cần phải tuân theo
và sử dụng ngôn ngữ chung mới có thể giao tiếp và hiểu ý nhau được Ngôn ngữ không của riêng ai mà là của từng cộng đồng Vì thế, ngôn ngữ mang bản sắc và phong cách của từng cộng đồng, từng dân tộc khác nhau Mỗi cá nhân đều có phong cách ngôn ngữ và sáng tạo riêng nhưng phải dựa trên cơ sở tuân thủ chung, cá nhân không thể tự mình thay đổi ngôn ngữ lâu đời, giàu bản sắc của xã hội Ví dụ như, nhà văn Nam Cao trong truyện Chí Phèo mang phong cách viết riêng biệt, nhưng phải tuân thủ ngôn ngữ chung của cộng đồng
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người [7] Giao
tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được mục đích nhất định Chúng ta không thể phủ định rằng, ngoài ngôn ngữ ra thì còn có rất nhiều phương tiện khác để giao tiếp, ví dụ như: Sử dụng biểu cảm, sử dụng ngôn ngữ hình thể Tuy nhiên, không phải khi sử dụng phương thức nào biểu cảm, ngôn ngữ hình thể cũng có một nghĩa giống nhau Ví dụ trong văn hóa của người Ấn Độ, lắc đầu có nghĩa là đồng ý, nhưng trái ngược hoàn toàn với Việt Nam, lắc đầu nghĩa là không đồng ý Do đó, phương tiện giao tiếp là quan trọng nhất của con người
1.1.5 Chức năng xã hội của ngôn ngữ
Phương tiện giao tiếp của con người rất đa dạng và được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau Con người có thể dùng điệu bộ hay ký hiệu để hỗ trợ trong quá trình giao tiếp Ví dụ như sử dụng kí hiệu đèn giao thông, tiếng còi, các biển báo, cái vẫy tay, Tuy nhiên, giao tiếp bằng các phương tiện này bị hạn chế về nội dung và ngữ cảnh áp dụng Do đó, ngôn ngữ được con người sử dụng làm phương tiện giao tiếp thường xuyên
Trang 20Nhằm đáp ứng được nhu cầu giao tiếp của xã hội, con người đã thiết lập rất nhiều các hệ thống tín hiệu ngôn ngữ khác nhau có chọn lọc để phù hợp với từng tộc người Bốn chức năng trong giao tiếp này diễn ra giữa hai người trở lên và có vai trò quan trọng trong tổ chức và phát triển xã hội [2]
- Chức năng thông tin: Bằng việc trao đổi ngôn ngữ, con người có thể trao đổi những thông tin nhằm thông báo hiện thực được đề cập đến trong giao tiếp
- Chức năng tạo lập các quan hệ: Con người không bị giới hạn chỉ ở nội dung thông báo mà cuộc giao tiếp còn được mở rộng và tiếp diễn nhằm tạo mối quan hệ giữa các bên tham gia giao tiếp
- Chức năng giải trí: Giao tiếp, chia sẻ là một trong những cách hiệu quả mà không tốn kém về kinh tế, tài chính Trong trường hợp ngôn ngữ mang tính chất vui đùa, là một hình thức để giải trí, giải tỏa căng th ng và mệt nhọc
- Chức năng tự biểu hiện: Qua cách giao tiếp đặc biệt của từng cá nhân, con người sẽ tự biểu lộ mình thông qua những tình cảm, sở thích, khuynh hướng hay trạng trái vui buồn
1.2 TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON
1.2.1 Tự kỷ
Tự kỷ hay còn gọi là phổ tự kỷ, hội chứng tự kỷ hay rối loạn phổ tự kỷ Tự
kỷ không phải là một căn bệnh mà là chứng rối loạn phát triển lan tỏa, là một khuyết tật rối loạn suốt đời Độ bao phủ của tự kỷ rất đa dạng về cả triệu chứng và trải dài từ mức độ nhẹ đến nặng khác nhau [27], [20]
Theo khái niệm của Liên Hiệp Quốc, tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời [28] Tự kỷ có thể xảy ra ở bất k
cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội Biểu hiện của tự kỷ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp
Andre Guilain và Rene Psy: Tự kỷ là sự rối loạn của quá trình phát triển,
các dấu hiệu chuẩn đoán của nó thể hiện sự bất thường trong các lĩnh vực giao tiếp
có chủ định trong hoạt động biểu tượng và trong lĩnh vực vận động [10, tr.24]
Trang 21Còn, theo Võ Nguyễn Tinh Vân: Tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển lan tỏa (PDD: Pervasive Developmental Disorders), là một nhóm hội chứng được đặc trưng bởi suy kém nặng nề và lan tỏa trong những lĩnh vực phát triển như: Tương tác xã hội, giao tiếp, sự hiện diện của những hành vi và các ham thích rập khuôn [17]
1.2.2 Trẻ tự kỷ
Tự kỷ có mầm mống xuất phát ngay từ trong độ tuổi nhũ nhi cho đến 36 tháng tuổi Thông thường, TTK thường có những biểu hiện, hành vi khác thường như tự cô lập bản thân với thế giới xung quanh, kết hợp những hành vi rập khuôn, lặp đi lặp lại nhiều lần
Trước đây, khi thông tin còn hạn chế, tự kỷ đã được các nhà chuyên môn xếp vào nhóm bệnh tâm thần phân liệt trẻ em (Childhood Schizophrenia) TTK vào thời điểm này thường được đưa vào các trung tâm và điều trị bằng thuốc tâm thần Tuy nhiên, sau khi được nhận định lại một vài đặc điểm khác nhau để chứng minh tự kỷ không thuộc nhóm bệnh và không mắc các triệu chứng như: Tính hoang tưởng (có lòng tin sai lạc, trái với thực tế), ảo giác (nghe hay thấy những tiếng nói, âm thanh không có thật, không tồn tại) thì tự kỷ được xếp vào hội chứng mãn đời
Có rất nhiều nghiên cứu về sinh học, tâm lý,… đưa ra các quan điểm và khái niệm về TTK Trong đó:
Kanner [33] đã đưa ra định nghĩa TTK là những trẻ không tạo lập mối quan
hệ với con người, thường có thái độ bàng quan, thờ ơ với mọi người xung quanh, có biểu hiện chậm nói, chủ yếu giao tiếp qua các cử chỉ đôi khi có vẻ k dị, cùng với các hoạt động vui chơi đơn giản, mang tính lặp đi lặp lại
Rutter [18] đã đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của TTK:
- Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội
- Rối loạn ngôn ngữ: Từ mức độ không có lời đến lời nói lập dị
- Hành vi, hành động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc cho đến khuôn mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép
- Khởi phát sớm trước 30 tháng
Trang 22Qua quá trình nghiên cứu và quan sát về TTK, có rất nhiều quan điểm, khía cạnh và góc nhìn khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên những khái niệm cùng bổ sung để đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về TTK Vậy, TTK là một rối loạn thuộc nhóm các rối loạn về phát triển nghiêm trọng còn được gọi là những rối loạn phổ tự
kỷ, xuất hiện sớm trong thời thơ ấu, thông thường, xuất hiện dấu hiệu nhận biết trước 3 tuổi Mặc dù các triệu chứng và mức độ nặng của bệnh không hằng định, nhưng tất cả các rối loạn phổ tự kỷ đều ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và tương tác của trẻ với môi trường xung quanh
Hầu như TTK đều gặp vấn đề trong nhận thức, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng trên từng cá thể sẽ khác nhau Một số trẻ mắc chứng tự kỷ có khuyết tật về học tập, về tâm thần kinh, trong khi nhiều trẻ khác có khuyết tật về các kỹ năng giao tiếp xã hội
Cuộc nghiên cứu về trẻ sinh đôi đầu tiên được thực hiện năm 1977, trên 11 cặp song sinh giống hệt nhau, trong đó có một vài cặp song sinh mắc chứng tự kỷ Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở cặp đôi song sinh có tỉ lệ di truyền tự kỷ chiếm 36% Nghiên cứu này chỉ với số lượng trẻ ít, song đã cung cấp những bằng chứng đầu tiên cho thấy tự kỷ có nguồn gốc di truyền [36]
Con số này ngày càng tăng lên rõ rệt trong lần nghiên cứu mới gần đây, được công bố trên JAMA Psychiatry, Sandin và các tác giả đã sử dụng các mô hình để phân tích dữ liệu dân số từ năm quốc gia Hơn 22.156 người được chẩn đoán tự kỷ Khi xem xét đến yếu tố di truyền cụ thể, dẫn đến kết luận trẻ có cùng huyết thống
Trang 23dễ có nguy cơ cao mắc tự kỷ lên tới 80% [34] Cuộc nghiên cứu này được đánh giá rất cao cho tới thời điểm hiện tại, bởi đối tượng nghiên cứu bao gồm số trẻ em trên toàn thế giới và được theo dõi trong khoảng thời gian dài là 16 năm
Theo thông tin từ Công nghệ Gen Vinmec về cơ chế di truyền, tự kỷ không theo mô hình di truyền kiểu Menden 1và di truyền đơn gen hoặc trội hoặc lặn [29] Không chỉ có vậy, đột biến có thể tìm thấy ở nhiều gen chứ không chỉ một gen đơn
lẻ Do đó, cơ chế bệnh sinh của tự kỷ rất phức tạp và chưa được giải thích một cách
rõ ràng
b Yếu tố môi trường
Trong các cuộc nghiên cứu gần đây, môi trường được xem là một trong những yếu tố thuộc phần ít 20% còn lại Tuy nhiên, mặc dù nghiên cứu đáng kể, nhưng chưa có yếu tố môi trường nào được tìm thấy là nguyên nhân rõ ràng gây ra
tự kỷ ở trẻ em
- Các nguyên nhân xảy ra trước khi sinh
Thời k mang thai là giai đoạn nhạy cảm của các bà mẹ Trong giai đoạn này, sức đề kháng của các bà mẹ dễ bị suy giảm, có nguy cơ cao mắc các bệnh về nhiễm khuẩn Trong quá trình mang thai, bị sốt phát ban, sởi,… hay mắc các bệnh
về chuyển hóa như đái tháo đường, nhiễm độc thai nghén nặng mà không được điều trị phục hồi sớm Với các trường hợp này, nguy cơ mắc tự kỷ ở con lên tới 18.29 lần
so với nhóm chứng 2[6] Bên cạnh đó, dùng thuốc động kinh khi mang thai cũng khiến trẻ dễ mắc chứng tự kỷ
Một số yếu tố môi trường trong cuộc sống tiền sản có liên quan đến TTK, sở
dĩ là do vi khuẩn hoặc virus ở người mẹ khi mang thai đã được tìm thấy làm tăng nhẹ nguy cơ mắc tự kỷ ở trẻ Điều này có thể là do sự truyền các sinh vật truyền nhiễm có hại từ mẹ sang thai qua nhau thai hoặc do phản ứng miễn dịch của người
mẹ có thể gây bất lợi cho não bộ đang phát triển của thai nhi
1
Chứng tự kỷ không theo mô hình di truyền kiểu Menden, tức là di truyền đơn gen hoặc trội hoặc lặn qua
đó con nhận mỗi alen từ bố và mẹ
2
Nhóm chứng là giống nhóm bệnh về nhiều mặt, chỉ khác là không có bệnh
Trong trường hợp này, 5 chứng thuộc nhóm các rối loại phát triển lan toả kiểu tự kỷ, bao gồm: Hội chứng
Asperger, tự kỷ, hội chứng Rett, hội chứng thoái triển ở trẻ em, các rối loạn phát triển không đặc hiệu khác
Trang 24- Nguyên nhân trong và sau khi sinh
Một số tác nhân xảy ra trong giai đoạn chuyển dạ vào thời k chu sinh 3
hay giai đoạn phát triển sau này như trẻ đẻ non, thiếu cân nặng, đẻ khó, đẻ ngạt, phải mổ đẻ,… có nguy cơ mắc tự kỷ gấp 2,5 lần so với trẻ bình thường Bởi vì, trong thời k này, trẻ mong manh, dễ bị nhiễm trùng thần kinh, đặc biệt sau khi bị sốt cao co giật, viêm màng não,…[9]
Nghiên cứu của Hisle-Gorman [22].cho thấy, các yếu tố nguy cơ gây ra tự kỷ cao là khi trẻ được sinh nhờ phương pháp không truyền thống như sinh con trợ giúp, thai sản biến chứng, nhiễm trùng trẻ em, sinh ngạt,… Trong đó, yếu tố mang nguy cơ cao nhất là trẻ bị động kinh (gấp 7.5 lần)
- Nguyên nhân do độ tuổi cha mẹ
Cha mẹ ở độ tuổi lớn nhưng sinh con thì trẻ có nguy cơ mắc tự kỷ cao, đặc biệt ở nam giới Khi nam giới già đi, số lượng tinh trùng chứa đột biến gen de novo
4cũng tăng lên Đột biến gen này có ảnh hưởng tối thiểu hoặc không ảnh hưởng đến kết quả của em bé, nhưng một số đột biến có thể dẫn đến não phát triển khác nhau
Trong một số nghiên cứu đã phát hiện ra, người cha trên 50 tuổi tại thời điểm thụ thai có nhiều khả năng truyền đột biến gen de novo hơn và cũng dẫn đến tự kỷ ở trẻ Đối với nữ giới, ảnh hưởng của việc mẹ sinh con trên 35 tuổi làm tăng nguy cơ trẻ mắc tự kỷ lên khoảng 1.5 lần [24]
c Nguyên nhân khiếm khuyết về não bộ
Hiện nay các nhà khoa học sử dụng rất nhiều kỹ thuật thông minh để hiểu cấu trúc và chức năng của não ch ng hạn như từ trường, tia X và hóa chất phóng xạ
để cung cấp đầy đủ về sự phức tạp của cách thức hoạt động não bộ Một số nghiên cứu về các phép đo siêu âm trước khi sinh đã tìm thấy bằng chứng khác nhau giữa TTK và trẻ thông thường Đối với TTK, não bộ được đánh giá có kích thước lớn hơn so và phát triển hơn trong 1, 2 năm đầu đời so với trẻ thông thường Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng chính xác
Trang 25Những cuộc nghiên cứu gần đây đã sử dụng các phương tiện tối tân để tìm kiếm những dấu hiệu bất thường trong não bộ của TTK so với trẻ thông thường, được chụp cộng hưởng từ MRI (Magnetic Resonance Imaging), X quang, , đã đưa
ra một số khác biệt như sau [38], [14, tr.25]:
“Thùy trán, nơi bắt nguồn cho sự suy luận cấp cao phồng to lên chủ yếu là thừa chất trắng chứa mớ dây thần kinh não Não của người tự kỷ phát triển nhanh bất thường đến khoảng 2 tuổi và có hiện tượng viêm mãn tính, 4 tuổi TTK đã có bộ não với kích thước của trẻ bình thường 13 tuổi, đặc biệt ở trẻ nữ
Thể teo nhỏ Giải mô não này kết nối hai bán cầu não trái và phải Hoạt động phối hợp giữa các vùng khác nhau của trẻ tự kỷ rất kém
Hạnh nhân to hơn bình thường Vùng não này có vái trò chộp lấy các cảm giác sợ hãi khi đói mặt với môi trường, cảm xúc, giao tiếp xã hội TTK có cảm xúc
sợ hãi, lo âu rất mạnh Nghiên cứu cho thấy hạnh nhân được kích hoạt khi trẻ nhìn thấy mặt người như thể đang gặp mối đe dọa
Đồi Hải Mã to hơn bình thường 10% vùng não này phụ trách về trí nhớ TTK dùng trí nhớ để ghi nhớ mọi tình huống sự việc (ghi nhớ máy móc) hay vì cách xử lí tình huống bằng kinh nghiệm và suy luận”
1.3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ TỰ KỶ TRONG
ĐỘ TUỔI MẦM NON
1.3.1 Đặc điểm trong quá trình phát triển của trẻ tự kỷ
1.3.1.1 Các giác quan
- Thị giác:
Ánh mắt là công cụ truyền tải thông điệp ngầm, đôi khi còn quan trọng hơn
cả nói khi chúng ta nhìn nhau và tương tác Ánh mắt yêu thương, chờ đợi, giận hờn hay khó chịu giúp chúng ta hiểu được mong muốn của trẻ để rồi đáp ứng nhu cầu Tuy nhiên, đa số TTK thiếu hụt kỹ năng giao tiếp bằng mắt Khi nhìn, quan sát người khác, trẻ có xu hướng nhìn về phía khác, tạo cảm giác như trẻ đang chăm chú vào vật thể trong suốt hay không hiện hữu mà chỉ có trẻ mới thấy được TTK thường không nhìn trực tiếp vào ánh mắt hay nhìn vào người người đối diện, trẻ có
Trang 26nỗi sợ nhìn th ng nên thông thường sẽ nhìn xéo hoặc liếc khi trẻ muốn chú ý đến người khác
- Xúc giác
TTK rất nhạy cảm hoặc kém nhạy cảm với mọi thứ xung quanh Trẻ có thể liếm và ngửi người khác như một món đồ ăn, thức uống hay ánh mắt nhìn như một món đồ chơi yêu thích và thân quen Một số trẻ khác thì lại có phản ứng mạnh khi
bị người khác đụng chạm tới mình và có ai đó tỏ ý muốn gần gũi Tức là, trẻ bị khó chịu hay sợ hãi khi tiếp xúc gần với người khác, đặc biệt là người xa lạ
- Thính giác
Nghe là một quá trình vô cùng phức tạp bởi bao gồm xử lý âm thanh TTK thường rất nhạy cảm với âm thanh do không thể sắp xếp được các thước đo về cường độ, tần số, thời gian, định vị hài hòa Với ngưỡng âm lượng trẻ bình thường
có thể nghe được từ 0-15dB5
[32], tuy nhiên đối với TTKMN, có thể nghe được âm thanh ở mức độ 0 hoặc độ dB âm Điều này gây khó khăn cho trẻ khi phải tiếp thu một lúc quá nhiều âm thanh mà không có sự chọn lọc Tuy nhiên, khó chịu với âm thanh không phải lúc nào cũng do âm lượng quá cao hay quá thấp mà còn có thể là quá nhạy cảm với tần số Ch ng hạn, tiếng chuông điện thoại với tần số cao cũng khiến trẻ nổi cáu Trong khi, có trẻ không bị phản ứng với tiếng chuông, thay vào
đó là tiếng ro ro từ máy điều hòa, máy hút bụi, máy xén cỏ,
- Khứu giác:
Khứu giác là cơ quan đầu tiên trẻ sơ sinh sử dụng để nhận biết người mẹ Điều này cũng tương tự với TTK Tuy nhiên, cũng giống các cơ quan khác, khi mùi hương không quen thuộc lại gần và vây lấy trẻ thì trẻ sẽ bị căng th ng mà thay đổi hành vi Phần lớn TTK lại tỏ ra quá nhạy cảm với một số mùi hương Do đó, khi mẹ thay đổi mùi nước hoa hay quần áo thay đổi loại nước xả vải cũng có thể là nguyên nhân khiến trẻ bực dọc
Trang 27thuộc Các món ăn của trẻ không đa dạng vì bản tính sợ mới mẻ của trẻ Theo cách nhìn của TTK, thức ăn cũng là thứ có thể xâm nhập vào cơ thể nên trẻ sẽ cảm thấy
sợ hãi khi thử món mới
1.3.1.2 Tư duy, tưởng tượng
Khác với trẻ thông thường, TTK không sử dụng trí tưởng tượng khi chơi với
đồ chơi Thay vì chơi đồ vật trong tình trạng nguyên vẹn, trẻ lại tập trung đến từng chi tiết nhỏ trong món đồ Ch ng hạn, khi trẻ được tặng con búp bê, trẻ sẽ chú ý vào từng bộ phận chi tiết như chân, tay, đầu hơn là chơi toàn bộ con búp bê như những đứa trẻ khác
Hầu như trẻ bình thường hứng thú với những bộ phim Doremon, hứng thú xem từ tập này sang tập khác Còn TTK thì có tính lặp đi lặp lại và rập khuôn Trẻ
sẽ đọc đi đọc lại một cuốn sách yêu thích hay một bộ phim được tua đi tua lại nhiều lần Trẻ không có tư duy và tưởng tượng trong những trò chơi mang tính ảo tưởng, trò chơi đòi hỏi sự nhanh nhẹn, khả năng tiên đoán và biết cách thay đổi trong cách chơi Trẻ chỉ cầm đồ chơi đề có cảm giác đụng chạm còn về mặt tư duy trò chơi thì dường như không có
1.3.1.3 Hành vi
- Lặp đi lặp lại
Có thể nói, TTK là đứa trẻ lúc nào cũng có vẻ bận rộn và loay hoay với chính mình Trẻ thường có hành vi lặp đi lặp lại như xoay tròn, nhón chân, múa tay, vẫy tay, mà khi đứng ngoài quan sát, chúng ta có thể nhận biết được đây chỉ là những động tác vô nghĩa Hành vi lặp đi lặp lại theo khuôn mẫu này là cách để trẻ tự tạo lớp vỏ bọc và giới hạn tương tác với người khác Đó cũng là cách trẻ trấn an mình trước những căng th ng hay tức giận
- Gây phiền toái nơi công cộng
Thông trường TTK ít quan tâm tới chuẩn mực xã hội và chỉ muốn làm theo
sở thích cá nhân nên thường đi ngược với sự k vọng của người khác Trẻ cần giải phóng năng lượng nên sẽ có một số biểu hiện không hay ở nơi công cộng như ném
Trang 28đồ dùng lên người ngồi đối diện, tự ý lấy đồ của người khác hay cướp tiền trên tay người khác mà không có chút mắc cỡ hay ngượng ngùng
- La hét, giận dữ
TTK luôn sống trong thế giới riêng của mình và khó khăn trong cách biểu đạt ngôn ngữ, câu từ Do đó, trẻ dễ bị bực mình và khóc thét khi bị làm trái ý Một trong những khó khăn của TTK là rối loạn giác quan Khi sống trong môi trường ồn
ào, có quá nhiều người lạ xung quanh, có thể khiến trẻ không thể chịu đựng được
Vì vậy trẻ la hét để trẻ cảnh báo, tố cáo và để người khác nhận ra rằng trẻ đang không được thoải mái
1.3.2 Đặc điểm trong ngôn ngữ của trẻ tự kỷ
Đã có nhiều cuộc nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của TTK trên thế giới Trong các cuộc nghiên cứu đều chỉ ra TTK có điểm chung đó là khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ để thích nghi với xã hội Trẻ gặp khó khăn trong việc khởi xướng và duy trì hội thoại bởi ngôn ngữ của trẻ chỉ để đạt mục đích chứ không có ngôn ngữ chia sẻ Ngôn ngữ của trẻ rối loạn tự kỷ có các đặc điểm như sau:
- Tiếp nhận ngôn ngữ (hiểu ngôn ngữ)
Do TTK phải tiếp nhận một lúc rất nhiều thông tin nhưng không được chọn lọc Nên khi có dữ liệu đi vào, thường phải mất khoảng thời gian bị trì hoãn trước khi dữ liệu, thông tin được đưa ra Đây là nguyên nhân khiến trẻ có phản ứng chậm hơn so với bạn đồng trang lứa Về mức độ, khả năng hiểu lời của người khác ở TTK cũng có nhiều mức độ khác nhau Một số trẻ không thể hiểu những gì người khác nói, một số trẻ khác có thể hiểu được tên gọi của những đồ vật đơn giản Ví dụ như, khi mẹ nói "Đưa cho mẹ đồ chơi" hay "Ra ăn cơm", với những vật và câu có nhiều hơn một tên gọi sẽ khiến trẻ gặp khó khăn trong việc hiểu Trong trường hợp này, trẻ tỏ ra khó khăn khi ghi nhớ ngôn ngữ để thực hiện cái gì trước cái gì sau Đặc biệt, khi nói quá nhanh, quá chậm hoặc sử dụng quá nhiều từ lạ và từ phức tạp, trẻ không thể hiểu được Vốn từ của trẻ thường nghèo nàn, cấu trúc ngữ pháp thường xuyên sai gây ra nguyên nhân gặp trở ngại khi giao tiếp Tuy nhiên, với những từ ngắn, đơn giản và gần gũi trẻ vẫn có thể ghi nhớ và hiểu mặc dù hơi khó khăn như
đồ chơi, các hành động nhảy, cười,
Trang 29Theo bác sĩ Hoàng Vũ Qu nh Trang, Khoa Tâm lý Bệnh viện Nhi đồng 1
cho biết: “Hình ảnh chính là công cụ đặc biệt, là phương cách hữu hiệu để giúp trẻ
hiểu và tương tác với người khác dù có lời nói hay chưa nói từ nào [37] Ghi nhớ
hình ảnh là cách học dễ dàng của mọi đứa trẻ, kể cả TTK Trẻ thường hiểu hơn nếu những gì được nói kèm theo hình ảnh quen thuộc nào đó, đặc biệt là đồ vật trẻ thích Tuy ngôn ngữ nói của trẻ còn có nhiều hạn chế, song trẻ có thể hiểu được thế giới xung quanh thông qua việc ghi nhớ màu sắc và hình ảnh Ngoài việc hướng dẫn ghi nhớ hiện tượng xung quanh, trẻ còn có thể học được các đặc điểm, tính chất, chức năng của đồ vật nếu có sự can thiệp kịp thời
Giọng nói, ngữ điệu của TTK cũng bị ảnh hưởng Trẻ thường sử dụng ngữ điệu khá đơn điệu, lên cao, xuống giọng không đúng chỗ Nguyên nhân là do trẻ không làm chủ được âm lượng của giọng nói, nên một số trẻ thường nói giọng quá
to, trong khi nhiều trẻ khá bẽn lẽn và ngập ngừng khi diễn đạt
- Ngôn ngữ không lời
Đối với trẻ em bình thường, trong giao tiếp, ngoài sử dụng điệu bộ, vẻ mặt
Trang 30còn có các động tác cơ thể kèm theo Còn đối với TTK, đa số chỉ biết nắm lấy cánh tay của người lớn để lôi kéo hay dẫn họ đến chỗ mà trẻ muốn lấy đồ Trẻ không có khả năng chỉ trỏ hay biểu lộ cùng hình thức như gật đầu hay lắc đầu Đặc tính nổi bật của trẻ là sử dụng và đạt thỏa mãn nhu cầu hơn là vì mục tiêu có tính xã hội như quan tâm hay làm vui lòng người khác Hành động của trẻ tỉ lệ thuận với mức độ sử dụng ngôn ngữ, là không mang tính giao tiếp cao
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, tác giả đã trình bày một số vấn đề liên quan đến tự kỷ và TTK như phát triển năng lực ngôn ngữ, TTK và những vấn đề liên quan như nguyên nhân, biểu hiện, đặc điểm hành vi, Bên cạnh đó, qua chương này, người đọc hiểu được phần nào khó khăn của TTK khi sử dụng ngôn ngữ Cụ thể là tiếp nhận ngôn ngữ, sản sinh ngôn ngữ và ngôn ngữ không lời Mức độ hiểu và sử dụng ngôn ngữ, phụ thuộc vào mức độ trẻ mắc tự kỷ nhẹ hay điển hình Tuy nhiên, đa số TTK mang chỉ số thấp về việc hiểu thông tin nếu chưa được can thiệp và trị liệu kịp thời Có chăng là não bộ kịp lưu lại lời người khác nói trong thời gian ngắn đủ để trẻ có thể nhại lại, nhại trong vô nghĩa và trẻ hầu như không hiểu được nội dung Trẻ cũng rất nghèo nàn trong việc sản sinh lời nói, trẻ dễ nhầm lẫn tên gọi của các món đồ khác nhau Tông giọng khi diễn đạt của TTK khác với trẻ bình thường, TTK sử dụng ngữ điệu khá đơn điệu và lên xuống giọng không đúng chỗ
Trang 31CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CỦA TRẺ TỰ KỶ TRONG ĐỘ TUỔI MẦM NON TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG
2.1 KHÁT QUÁT VỀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
2.1.1 Đặc điểm khu vực khảo sát
Quận Liên Chiểu được thành lập vào ngày 23/01/1997 trên cơ sở 03 xã của huyện Hòa Vang (cũ) với diện tích 79,13 km2, chiếm 6,16% diện tích toàn thành phố Phía Bắc là đèo Hải Vân, giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Đông giáp vịnh Đà Nẵng và quận Thanh Khê, phía Tây và Nam giáp huyện Hòa Vang Dân cư phân bố dọc theo Quốc lộ 1A, theo thứ tự từ Bắc vào Nam là các phường: Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, Hòa Khánh Bắc, Hòa Khánh Nam, Hòa Minh, Hòa Mỹ
Liên Chiểu là một quận công nghiệp trẻ, chiếm ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thuận lợi phát triển giao thông vận tải và là nơi tập trung 2 khu công nghiệp lớn của thành phố Đà Nẵng
Trên địa bàn quận có 03 trường đại học, 04 trường cao đ ng, 05 trường trung học chuyên nghiệp và các cơ sở dạy nghề Đây là điều kiện thu hút và là nguồn lực chất xám dồi dào cung cấp tay nghề cao cho các nhà tuyển dụng
2.1.2 Đối tượng khảo sát
a) Phụ huynh
Để tìm hiểu thực trạng vấn đề phát triển năng lực ngôn ngữ cho TTK, tác giả luận văn đã tiến hành khảo sát 07 phụ huynh có TTKMN đang được hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW trên địa bàn quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng
Cụ thể, tác giả đã tiến hành khảo sát bảng hỏi với 11 câu hỏi khác nhau để kiểm tra mức độ phát triển ngôn ngữ của TTK
Trang 32Qua điều tra bằng Phiếu khảo sát, tác giả có kết quả như sau:
- 14.3% TTK có khả năng sử dụng ngôn ngữ ở mức độ 1 Trẻ là trường hợp điển hình, không thể phát ra âm thanh hay sử dụng tiếng, từ đơn giản
- 43% TTK có khả năng sử dụng ngôn ngữ ở mức độ 2 Trẻ có thể hiểu ngôn ngữ đơn giản, có thể làm theo yêu cầu nếu được hướng dẫn và có những gợi ý cụ thể Tuy nhiên, trẻ chưa thể sử dụng ngôn ngữ để yêu cầu làm theo mong muốn của trẻ
- 14.3% TTK có khả năng sử dụng ngôn ngữ ở mức độ 3.Trẻ có thể làm theo yêu cầu của giáo viên, phụ huynh yêu cầu mà không cần tới nhiều gợi ý Trẻ có thể phát ra âm thanh khi yêu cầu làm theo ý muốn trẻ, tuy nhiên, chưa rõ ràng
- 28.4% TTK có trình độ ngôn ngữ ở mức độ 4 Trẻ có thể làm theo yêu cầu
mà không cần gợi ý hay hướng dẫn Trẻ có thể sử dụng ngôn ngữ để yêu cầu thực hiện mong muốn của mình, tuy nhiên, giọng trẻ không có ngữ điệu lên xuống
b) Giáo viên
Người nghiên cứu tiến hành khảo sát 09 giáo viên hiện đang làm việc tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW Tổng quan bảng khảo sát cho thấy:
- 22% giáo viên có kinh nghiệm từ 3 - 5 năm trong lĩnh vực CSGD trẻ tự kỷ
- 33% giáo viên có kinh nghiệm từ 2 - 3 năm trong lĩnh vực CSGD trẻ tự kỷ
- 45% giáo viên có kinh nghiệm dưới 2 năm trong lĩnh vực CSGD trẻ tự kỷ
2.1.3 Phương pháp khảo sát
Tác giả đã sử dụng một số phương pháp và công cụ khảo sát: Mẫu phiếu khảo sát đánh giá mức độ ngôn ngữ của TTK dành cho giáo viên và phụ huynh, được dựa trên mẫu kiểm tra ngôn ngữ của tiến sĩ Mark L.Sundberg và James W.Partington; bảng khảo sát dành riêng cho giáo viên; phỏng vấn và phiếu quan sát
Trang 3307 phiếu dành cho phụ huynh có TTK hiện đang được điều trị tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW
+ Thu phiếu khảo sát:
Thu vào 25 phiếu khảo sát Trong đó: 18 phiếu khảo sát dành cho giáo viên (09 phiếu đánh giá mức độ ngôn ngữ của TTK, 09 phiếu khảo sát chương trình học),
07 phiếu dành cho phụ huynh có TTK hiện đang được điều trị tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW
- Công dụngcủa các loại phiếu dùng trong khảo sát:
+ Phiếu dành cho giáo viên: Nhận xét, đánh giá, phân loại Từ đó, đưa ra những kết luận và đánh giá cụ thể của từng câu hỏi, nhóm câu hỏi
+ Phiếu dành cho phụ huynh: Đánh giá mức độ khả năng ngôn ngữ của TTK hiện tại và các hoạt động, biện pháp của phụ huynh hiện đang áp dụng nhằm CSGD cho TTK tại nhà Từ đó, đưa ra các đề xuất phù hợp
+ Phiếu quan sát: Đánh giá thực trạng ngôn ngữ của TTK bằng cách trải nghiệm, quan sát Bên cạnh đó, đưa ra quan điểm khách quan và chính xác hơn để phân tích, xử lý bảng khảo sát của giáo viên và phụ huynh Bên cạnh đó, quan sát thực nghiệm về hành vi, thái độ và đặc biệt là ngôn ngữ của trẻ khi tham gia trị liệu
cá nhân cùng giáo viên và học nhóm cùng các bạn khác
2.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT
2.2.1 Đánh giá thực trạng khả năng ngôn ngữ của trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non
Nhằm kiểm tra về mức độ ngôn ngữ cho 07 TTKMN đã được chuẩn đoán mắc chứng tự kỷ đang theo học tại Trung tâm Can thiệp sớm và Hỗ trợ giáo dục hòa nhập EDUNOW, tác giả đã tiến hành khảo sát trên hai đối tượng là phụ huynh và giáo viên, là những người gần gũi và có mối quan hệ mật thiết với trẻ Mục đích của việc kiểm tra ngôn ngữ này để quyết định khía cạnh nào trong vốn từ của trẻ là yếu kém và từ đó, hình thành nên chương trình can thiệp ngôn ngữ tại nhà cho TTKMN
Qua cuộc khảo sát, tác giả thu lại kết quả với 01 TTK điển hình, đạt các khả năng ở mức độ 1 Có 03 trẻ, đạt ở mức độ 2, trong đó có một vài yếu tố đạt ở mức
Trang 34độ 3 01 trẻ đạt ở mức độ 3, trong đó có vài yếu tố đạt ở mức độ 2 Và có 2 trẻ đạt khả năng ngôn ngữ ở mức độ 4
- Nhóm trẻ có ngôn ngữ đạt mức độ 1:
Bảng 2.1 trường hợp TTK 1
Qua biểu đồ cho thấy, trong trường hợp TTK 1, trẻ đạt mức độ 1 về khả năng
sử dụng ngôn ngữ Trẻ là trường hợp tự kỷ điển hình, xuất hiện các hành vi đặc trưng như múa tay, đi nhón chân Trẻ hiếm khi hiểu yêu cầu của cô giáo hay phụ huynh mặc dù đã được gợi ý rất rõ ràng và cụ thể Bên cạnh đó, trẻ cũng không thể phát ra những âm thanh mà chỉ chăm chú vào thế giới của mình, thi thoảng trẻ cười
Hoạt động phát
âm
Bắt chước phát
âm
Mẫu sắp xếp
Sự tiếp thu
Trang 35Hoạt động phát
âm
Bắt chước phát
âm
Mẫu sắp xếp
Sự tiếp thu
Hoạt động phát
âm
Bắt chước phát
âm
Mẫu sắp xếp
Sự tiếp thu
Trang 36Bảng 2.4 Trường hợp TTK 4
Trường hợp TTK số 2, 3, 4 đạt được hầu như các yếu tố ngôn ngữ ở mức độ
2 Trẻ ở mức độ 2 có thể hiểu được lời nói của người lớn trong trường hợp phụ huynh, giáo viên sử dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gọn và có những gợi ý rõ ràng kèm theo Trẻ có thể bắt chước lại hành động của người lớn nếu hành động đó được lặp lại nhiều lần, như “vỗ tay”, “vẫy tay”,….Về diễn đạt lời nói, trẻ dường như không thể sử dụng ngôn ngữ để yêu cầu hay nhờ người lớn làm việc gì đó giúp trẻ Khi cần lấy đồ vật, trẻ chỉ có thể cầm tay người lớn đưa đến nơi trẻ muốn, trẻ cũng không thể dùng ngón tay để chỉ trỏ đồ vật
Hoạt động phát
âm
Bắt chước phát
âm
Mẫu sắp xếp
Sự tiếp thu
Trang 37Hoạt động phát
âm
Bắt chước phát
âm
Mẫu sắp xếp
Sự tiếp thu
Trang 38- Nhóm trẻ có ngôn ngữ đạt mức độ 4:
Bảng 2.6 Trường hợp TTK 6 và 7
TTK số 6 và 7 là hai trường hợp được can thiệp sớm từ khi 20 tháng tuổi và
24 tháng tuổi Ban đầu, trẻ xuất hiện các rối loạn điển hình về hành vi và không thể phát ra âm thanh Nhưng qua quá trình trị liệu, sau 2 năm, trẻ đã đi học hòa nhập và vẫn tiếp tục tham gia lớp học trị liệu tại trung tâm Trẻ hiểu và làm theo yêu cầu của người lớn dễ dàng, trẻ có thể phân biệt và đặt tên các đồ vật Tuy nhiên, trong giọng nói của trẻ không có ngữ điệu và trẻ thi thoảng bị nhầm lẫn khi sử dụng 2 danh từ cùng lúc
Phân tích các bảng từ 2.1 đến 2.6 cho thấy, khả năng ngôn ngữ của TTKMN tại Trung tâm cụ thể như sau:
Hoạt động phát âm
Bắt chước phát âm
Mẫu sắp xếp
Sự tiếp thu