Trong dịp đóđã có một loạt các bài viết về con ngời, sự nghiệp và con đờng t tởng của ông đợc đăng trên các trang báo của mạng: Mở đầu bài viết Nguyễn Thị Bình đã thể hiện sự boăn khoăn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh
Trang 2mục lục
Mở đầu
Chơng 1 Trơng Tửu với văn học dân gian
và văn học trung đại việt nam
Chơng 2 Trơng tửu với văn học hiện đại việt nam
2.2 Trơng Tửu với sáng tác của Song An Hoàng Ngọc Phách,
2.4.2 Tam Lang – một nhà tiểu thuyết biết cảm thông những nỗi khổ nhục
Chơng 3 Một số nét tiêu biểu trong phong cách nghiên cứu- phê bình văn học của trơng tửu
Trang 33.3 “Cá tính độc đáo và bản lĩnh cứng cỏi…”” 102
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trơng Tửu - Nguyễn Bách Khoa (1913 – 1999) là một trong những nhà
lý luận phê bình văn học thuộc thế hệ tiền chiến Không chỉ là một nhà phê bình,Trơng Tửu còn là một nhà văn, một giáo s trên giảng đờng đại học Bên cạnhnhững tác phẩm phê bình, ông còn viết cả tiểu thuyết nhng thành công nhất và đ-
ợc mọi ngời chú ý nhiều nhất vẫn là nghiên cứu phê bình văn học
1.2 Phê bình văn học có vai trò rất quan trọng trong việc “phán đoán, bìnhphẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán
đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tợng của đời sống mà tác phẩmnói tới Phê bình văn học đợc coi nh một hoạt động tác động trong đời sống vănhọc và quá trình văn học, nh một loại sáng tác văn học, đồng thời còn đợc coi nhmột bộ môn thuộc nghiên cứu văn học”(150 thuật ngữ văn học) Nh vậy, nhờ cóphê bình văn học mà ngời đọc có thể hiểu và nắm đợc các tầng lớp ý nghĩa, làmcho ngời đọc đến gần với tác phẩm hơn, đồng thời nó cũng góp phần làm nên đờisống và quá trình của văn học
1.3 Tuyển tập nghiên cứu phê bình của Trơng Tửu bao gồm những tiểu luận,nghiên cứu, phê bình, chân dung tác giả hiện đại, những công trình nghiên cứu,tiểu luận chuyên sâu về văn học truyền thống của dân tộc cho thấy sự đóng gópcủa ông trong lĩnh vực nghiên cứu – phê bình văn học Từ đó, chúng ta thấy đợc
vị trí, vai trò của ông trong lịch sử văn học góp phần khẳng định vị trí, vai trò củaphê bình văn học đối với tiến trình của văn học Việt Nam hiện đại
1.4 Sự nghiệp nghiên cứu- phê bình của Trơng Tửu kéo dài suốt từ trớc tớisau Cách mạng tháng Tám Nhng theo chúng tôi, đóng góp rõ nét của Trơng Tửutrong lĩnh vực này vẫn là giai đoạn trớc 1945
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn Đóng góp của Trơng Tửu trong lĩnh vực nghiên cứu - phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX làm đề tài nghiên
cứu của mình
2 Lịch sử vấn đề
Các tác phẩm của Trơng Tửu- Nguyễn Bách Khoa ngay từ khi ra đời đợcnhiều độc giả chú ý đặc biệt giới nghiên cứu phê bình Cũng nh các hiện tợng vănchơng khác, số phận những tác phẩm này cũng nh tác giả của nó đã trải quanhững thăng trầm Vì thế, vị trí của Trơng Tửu trong tiến trình lịch sử văn họcdân tộc cũng có lúc đã chịu sự thử thách, phán xét, sàng lọc có phần nghiệt ngãcủa thời gian và d luận
Trang 5Để đi vào nghiên cứu và đánh giá những đóng góp của Trơng Tửu trong lĩnhvực nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, ta có thể chiaquá trình nghiên cứu về Trơng Tửu làm hai giai đoạn:
2.1 Trớc Cách mạng tháng Tám
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại, Đinh Gia Trinh trong công trình
nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã đánh giá về phơng pháp phê bìnhvăn học của Trơng Tửu
2.2 Sau Cách mạng tháng Tám
Trên tạp chí Tiên phong các số 2,3 (1945) và số 6 (1946), Đặng Thai Mai dới bút danh Thanh Bình có bài, Phê bình tập sách Tơng lai văn nghệ Việt Nam của Trơng Tửu Trong bài viết này, tác giả đã đa ra một nhận xét mang tính khái quát:
“Đáng tiếc là ông Trơng Tửu cha hề lĩnh hội vấn đề văn nghệ một cách đầy đủ và
đến nơi đến chốn để đem lại cho chúng ta một chơng trình thiết thực Tập luận áncủa ông Trơng Tửu thực quá mông lung về phần lý luận, và khi bàn đến chơngtrình hành động lại có ý kiến quá tỉ mỉ, quá “máy móc” và sao nhãng hẳn những
điểm rất cần thiết cho sự xây dựng một nền văn nghệ” [4, 7] Từ nhận xét chung
đó, ông phản bác quan niệm của Trơng Tửu về khái niệm Văn nghệ gồm văn sĩ
và nghệ sĩ Ông cho rằng, “Trơng Tửu không hề chỉ rõ những vấn đề cơ bản củavăn nghệ…”Nếu không chỉ rõ đặc tính của văn nghệ thì làm thế nào mà chỉ địnhphơng hớng cho sự cố gắng của nhà văn nghệ trong lĩnh vực văn học, trong lĩnhvực nghệ thuật”[4, 8] Do bài luận đầy những “lời phù phiếm, những công thứctrống rỗng, không thiết gì với văn nghệ…”Và ngời ta vẫn thấy những chỗ nôngnổi của một mối lập luận không có lập trờng vững chắc”[4, 8, 9] cho nên ngời
đọc có cảm giác thất vọng sau khi đọc bài viết của ông Trơng Tửu Thanh Bìnhcũng chỉ ra một khuyết điểm nữa của Trơng Tửu, cha hề định nghĩa hai chữ “thựctại” Đồng thời ông cũng phê bình về “quyền tự do chính trị tối thiểu” của TrơngTửu Ông cho rằng, “Tự do- tự do cá nhân, tự do nghệ sĩ, tự do tuyệt đối, haylắm, đẹp lắm Nhng nớc nhà cha tự do thì nghệ sĩ tự do thế nào? Nói cho cùng,nếu nớc nhà đợc độc lập, đợc “giải phóng hoàn toàn” và có một chỉnh thể “dânchủ chân chính” thì nhà nghệ sĩ nào không đợc tự do? Một điều chắc chắn làchữ tự do nếu lại hiểu lầm thì là một điều nguy, nếu để cho một lũ đĩ bút mực lợidụng để phản cách mạng thì lại càng nguy nữa”[5, 8] Tuy nhiên, viết bài này,Thanh Bình không chỉ nhằm phê bình “ráo riết” Trơng Tửu ở phần lý luận vàthực hành mà ông còn thể hiện những tình cảm tốt đẹp khi cảm đợc tâm hồn,lòng nhiệt tình của Trơng Tửu đối với “văn nghệ”, với “dân chúng”, với “tơng laivăn hoá dân tộc” Dờng nh, Thanh Bình cảm đợc những cái “boăn khoăn”, “bất
Trang 6mãn” nhng “không hề thất vọng” của Trơng Tửu Bởi trong tâm hồn ông luônmang một “nguyện vọng tốt đẹp” của một nhà văn hoá, đồng thời cũng là ngờitích cực tham gia “gây dựng nền văn hoá mới” Cuối cùng Thanh Bình cũngthành thực nhận ra: “Trong tâm hồn nhà lý luận Trơng Tửu, một thi sĩ vẫn luônluôn nhí nhóm và lắm lúc thể hiện những câu trữ tình khá lâm ly…”ngòi bút ôngTrơng Tửu vẫn còn nhiều hứa hẹn với tơng lai…””[6, 19, 20]
Năm 1958, Phan Cự Đệ có bài viết: Thái độ và phơng pháp giảng dạy của
Tr-ơng Tửu trên báo Độc lập Trong bài viết này, Phan Cự Đệ cho rằng: “TrTr-ơng Tửu
luôn luôn tìm cách đả kích vào lãnh đạo, gây bè phái để chia rẽ hàng ngũ giáo s ,sinh viên” Tác giả còn viết: “Trơng Tửu xuyên tạc văn hóa sử theo phơng phápsuy luận duy tâm chủ quan để bênh vực cho lập trờng văn nghệ phản động củamình”[14] Không chỉ vậy, ông còn cho rằng: “Trơng Tửu là ngời hay nói bừabãi, xuyên tạc trắng trợn, sợ phải chịu trách nhiệm trớc “giấy trắng mực đen” nênkhông dám viết giáo trình cho sinh viên “Dụng ý của Trơng Tửu trong lúc giảngdạy rất là thâm độc Có thể nói Trơng Tửu đã nhiều lần xuyên tạc giáo trình để
đầu độc t tởng của sinh viên…” ơng pháp nghiên cứu văn học của Trơng Tửu làPhphơng pháp duy tâm chủ quan, thích ai thì khen, ghét ai thì chê, hoàn toàn theo ýmuốn cá nhân của mình Về thái độ chính trị thì đó là chủ nghĩa cơ hội, phản
động, lợi dụng thời cơ để phất cờ, hôm nay nói thế này, mai nói thế khác mộtcách giáo giở”[14] Cuối cùng ông đi đến một kết luận khá gay gắt: “ Với mộtlập trờng chính trị phản động, thù địch với t tởng xã hội chủ nghĩa, với nhữngquan điểm văn nghệ t sản lỗi thời, với một phong pháp giảng dạy hoàn toàn duytâm chủ quan, cơ hội, chúng ta có thể kết luận rằng: trong mấy năm qua, TrơngTửu đã tỏ ra không xứng đáng một tý nào với cơng vị giáo s một truờng Đại họccủa chế độ ta, một chế độ tốt đẹp đang tiến lên xã hội chủ nghĩa”[14]
Năm 1958, Ngô Thế Hinh thể hiện thái độ gay gắt, quyết liệt xoay quanhvấn đề “Tự do của văn nghệ sĩ” của Trơng Tửu Theo ông, Trơng Tửu “núp” dớilời nói của Lê Nin “Trong sự nghiệp văn học tuyệt đối phải bảo đảm phạm vi thậtrộng rãi cho sáng kiến cá nhân, cho sở thích cá nhân, đảm bảo phạm vi rộng rãicho sức tởng tợng, cho hình thức và cho nội dung” để “xuyên tạc, dẫn tới nhữngluận điểm thật là phản động và sai lầm Trơng Tửu thực hiện đúng khẩu hiệu
“đầu Mác- xít, đít t bản” khẩu hiệu mà bọn Đệ nhị quốc tế thực hiện rất đúng…”Trơng Tửu trắng trợn chống lại đờng lối văn nghệ của Đảng, đờng lối phục vụ
của chính phủ dân chủ cộng hoà”[24] Ông cho rằng vì muốn “tự do” trong sáng
tác nên “Trơng Tửu khùng lên, giơ tay, trợn mắt, chống lại sự giáo dục, hớng dẫncủa Đảng, của chủ nghĩa Mác- Lê nin đối với văn nghệ…” Trơng Tửu thốt ra
Trang 7những câu sặc mùi chủ quan, phản động, vô tổ chức, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân
đến cao độ…” Tiến xa hơn nữa, Trơng Tửu muốn ngoe ngách, giẫy giụa, vùngvằng hô hào văn nghệ sĩ thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng”[24] Với những ýkiến nêu ra ở trên, kết thúc bài viết Ngô Thế Hinh đa ra lời đề nghị “Lấy t cách làmột ngời công tác giáo dục, một ngời yêu mến văn nghệ, chúng tôi cực lực phản
đối những luận điểm sai lầm của Trơng Tửu Chúng tôi đề nghị Đảng, chính phủ
và Bộ giáo dục có những biện pháp thích đáng đối với những luận điểm sai lầmcủa Trơng Tửu”[24]
Năm 2004, Trịnh Bá Đĩnh viết Các hình thái t duy phê bình đầu thế kỷ XX
đăng trên Tạp chí Hồn Việt, số 2 Trong bài viết này, Trịnh Bá Đĩnh nói về t duy
phê bình khoa học của Trần Thanh Mại, Lê Thanh, Đào Duy Anh, nhng theo
ông, “t duy phê bình khoa học đạt tới sự triệt để nhất phải là ở Nguyễn BáchKhoa Có thể gọi phê bình của Nguyễn Bách Khoa là “phê bình khoa học”[16,192] Từ lời nhận xét mang tính khẳng định ấy, Trịnh Bá Đĩnh đã làm sáng tỏ vấn
đề trong một loạt tác phẩm: Nguyễn Du và Truyện Kiều, Tâm lý và t tởng Nguyễn Công Trứ, Văn chơng Truyện Kiều ở mỗi tác phẩm ông đều chỉ ra
những thành tựu và những cái còn thiếu sót trong lối phê bình của Trơng Tửu.Tuy nhiên, “ở đây không phải chỗ để đánh giá các kết quả nghiên cứu củaNguyễn Bách Khoa, ở đây ta đề cập đến hình thức t duy trong các văn bản khoahọc Về phơng diện ấy thì có thể nói rằng các tác phẩm của Nguyễn Bách Khoa
là các văn bản khoa học thực sự: xác định về khái niệm, suy đoán theo quy luậtnhận thức và hệ thống chặt chẽ…” Nghiên cứu có tính hệ thống là đặc điểm chínhcủa phong cách Nguyễn Bách Khoa”[16, 201]
Đến năm 2005, trên báo Đời sống văn nghệ Đỗ Lai Thuý có bài: Nguyễn Du
và Truyên Kiều dới cái nhìn của Trơng Tửu ở bài viết này, tác giả đã đi vào
phân tích các yếu tố góp phần làm nên thiên tài Nguyễn Du: huyết thống, quêquán và thời đại Hai yếu tố huyết thống và quê quán, “mặc dù góp phần quantrọng vào sự hình thành cá tính Nguyễn Du nhng vì là những yếu tố tĩnh, nên nóchỉ thực sự có tác động mạnh mẽ vào những thời điểm động Thời đại Nguyễn Duchính là một thời điểm động đó”[59] Các yếu tố này “không tác động đến nhàthơ ở các phần nổi của nó, mà là phần chìm, hay đúng hơn là cái phần chìm đókết tinh, ngng kêt thành cá tính Nguyễn Du Và nh vậy, con ngời đích thực củaNguyễn Du, con ngời Nguyễn Du trong Nguyễn Du không phải chỉ là con ngờixã hội đã mang nặng tâm sự hoài Lê Mà đúng hơn là kẻ mang tâm bệnh”[59]
Từ đó, tác giả đi vào một số bài thơ từ chữ Hán đến chữ Nôm, đặc biệt ở TruyệnKiều thể hiện rõ tính “ảo giác của trí tởng tợng của Nguyễn Du” Kết thúc bài
Trang 8viết, Đỗ Lai Thuý đã khẳng định: “Phải nói rằng, phê bình Truyện Kiều nói riêng
và phê bình văn học nói chung, đến Trơng Tửu đã đặt đợc một cột mốc mới Bởi
lẽ, từ tâm sự đến cá tính là hành trình từ con ngời xã hội, bề mặt đến con ngờitâm lý, bề sâu, từ con ngời hữu thức đến con ngời tiềm thức Với khái niệm- chìakhoá cá tính Nguyễn Du, một mặt nhà phê bình Trơng Tửu đã lý giải đợc những
động lực sáng tác, một thứ tâm lý học sáng tạo ở nhà thơ, mặt khác, phát hiện soisáng một cách khoa học, khách quan những đặc sắc nghệ thuật ở TruyệnKiều”[59]
Năm 2007, trong lời giới thiệu cuốn sách Trơng Tửu- tuyển tập nghiên cứu phê bình, Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh đã bộc lộ sự tiếc nuối về một cây
bút đầy tài năng – Trơng Tửu nhng đã vội “buông bút sau vụ án văn nghệ” ấy ởbài viết này, Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh tập trung nói về phê bình khoahọc của Trơng Tửu “Chữ “khoa học” đợc Trơng Tửu dùng với hai nghĩa: thứnhất, sự “khách quan” trong phân tích đánh giá sự kiện, hiện tợng; thứ hai, khảnăng vận dụng các lý thuyết của những bộ môn khoa học nh tâm lý học, ditruyền học, xã hội học…”vào phê bình văn chơng”[17] Để làm sáng tỏ vấn đềnày, hai tác giả đã lần lợt đi vào từng tác phẩm cụ thể, từ văn học trung đại đếnvăn học đơng đại Qua những bài viết đó, cho ta thấy những tri thức mà TrơngTửu sử dụng trong tác phẩm của mình đợc tiếp thu từ nhiều lĩnh vực khác nhaucủa các nhà khoa học Phơng Tây: Thuyết chủng tộc - địa lý của Taine, thuyếtphân tâm học của Freud và học thuyết của Marx về phân chia giai cấp và văn họcphản ánh xã hội “Nếu sau này chúng ta có ngành phê bình phân tâm học văn họcthì các tác phẩm của Trơng Tửu phải đợc xem là những viên gạch đầu tiên” Saukhi phân tích các tác phẩm, tác giả bài viết kết luận: “Xem đó thì thấy Trơng Tửu
đã có công trong việc chuyển từng đốm lửa phê bình Phơng Tây khoa học và hiện
đại, góp phần làm mới nền phê bình văn chơng trớc Cách mạng Tháng Tám”[17].Sau Cách mạng Trơng Tửu vẫn theo tinh thần “khách quan” và “khoa học” ấy
“Tất nhiên cái khởi đầu bao giờ cũng rơi vào sự đơn giản, máy móc, cực đoan;những thiếu sót, sai lầm, bất cập lắm khi lớn hơn sự đầy đủ, đúng đắn và sự khảthủ gấp nhiều lần Đôi khi ý nghĩa của nó chỉ là ở sự mở đờng Phê bình của Tr-
ơng Tửu cũng không ra ngoài thông lệ ấy”[17] Song mục đích của ngời tuyểnchọn và giới thiệu bộ sách này nhằm “cung cấp t liệu cho những ngời quan tâm
đến lịch sử phê bình văn học nớc nhà…” tránh “hiện tợng” nào bị bỏ qua, khôngmột nhà phê bình nào bị che khuất Một trong những cây bút phê bình khoa học
đầu tiên có nhiều thành tựu (và cũng nhiều thô sơ) không thể bỏ qua trong lịch sửphê bình văn học nớc nhà, đó là Trơng Tửu”[17]
Trang 9Đáng chú ý nhất, năm 2008, nhân kỉ niệm 95 năm ngày sinh của Trơng Tửu,một cuộc hội thảo về ông đợc tổ chức tại Đại học S phạm Hà Nội Trong dịp đó
đã có một loạt các bài viết về con ngời, sự nghiệp và con đờng t tởng của ông đợc
đăng trên các trang báo của mạng:
Mở đầu bài viết Nguyễn Thị Bình đã thể hiện sự boăn khoăn của mình cũng
nh của cả thế hệ về Trơng Tửu, bởi họ “không hiểu ông là ai giữa những lời kết
án nặng trịch trên giấy trắng mực đen và vô số câu chuyện đồn thổi vừa đầy niềmthán phục vừa không thiếu ngậm ngùi cay đắng”[7] Từ cuộc đời hoạt động củaTrơng Tửu, Nguyễn Thị Bình đã hình dung ra mấy hớng nghiên cứu (…”) Trongcác hớng nghiên cứu đó, bà khẳng định, nghiên cứu phê bình là “mảng chính làmnên t cách “học giả Trơng Tửu”…” Là ngời “tôn thờ khoa học”, ông coi trọng ph-
ơng pháp trong phê bình văn học, mạnh dạn ứng dụng một số triết thuyết mới mẻ
mà ông tiếp nhận từ phơng Tây Ông chủ động, tự tin đề xuất những quan niệm
có tính tiên phong trong nghiên cứu văn học sử”[7] Đồng thời, bà cũng bộc lộ sựthán phục về những giá trị mà Trơng Tửu để lại trong các tác phẩm nghiên cứucủa mình “Đọc nhiều bài ông viết cách nay hơn nửa thế kỷ, chúng tôi thực sựthán phục một trí tuệ uyên bác, chủ yếu bằng con đờng tự học mà có thể tiếp cận
đợc những lý thuyết hiện đại và cũng rất phức tạp về văn hoá, văn học rồi từ đó
đề xuất đợc không ít ý kiến có giá trị “dẫn đờng” cho khoa học nghiên cứu phêbình văn học Việt Nam trớc 1945”[7]
Để làm nổi bật lối phê bình của Trơng Tửu, Thuỵ Khuê đã so sánh lối phêbình của Trơng Tửu với những ngời cùng thời nh Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan…”Thuỵ Khuê chỉ rõ: “Vũ Ngọc Phan phê bình theo lối giáo khoa Ông khen, chê,tác phẩm một cách rạch ròi, đoạn này đợc, đoạn kia hỏng, theo chủ kiến củachính ông ở Hoài Thanh là lối phê bình ấn tợng, nghĩa là ngời phê bình viết lạicái ấn tợng mà mình cảm nhận đợc khi đọc tác phẩm Cả hai lối phê bình này đềuchủ quan…” Trơng Tửu đa ra một quan niệm khách quan về phê bình”[33] Mặc
dù ngày nay, lối phê bình của Trơng Tửu đã lỗi thời nhng ở thời điểm những năm
1940, “ông là ngòi bút phê bình hiện đại nhất áp dụng nguyên tắc phê bình khoahọc, Trơng Tửu đã đi xa hơn so với những ngời cùng thời: ông có một cái nhìntổng thể về xã hội, về tính chất đấu tranh trong xã hội…”Và ông đã thiết lập đợcmối tơng quan mật thiết giữa ba yếu tố: cá nhân, xã hội và tác phẩm Trong khiphần lớn các nhà phê bình khác chỉ mới nêu lên đợc một vài khía cạnh tơng đốihiển nhiên của tác phẩm hoặc một số chi tiết đặc sắc về cách cảm nhận của họkhi đọc tác phẩm, thì Trơng Tửu đã nhìn thấy cái sờn chính của t tởng, tức là sợichỉ đỏ xuyên suốt con đờng nhận thức của tác giả, xuyên qua các tác phẩm Cái
Trang 10phần chìm ấy, không hiển nhiên và không phải ngời đọc hay ngời viết phê bìnhnào cũng thấy đợc, mà chỉ những nhà phê bình có kiến thức và có thực tài mớitìm ra”[33] Qua đó, Thuỵ Khuê không chỉ cho chúng ta thấy đợc sự tiến bộ củaTrơng Tửu trong quan niệm phê bình so với những ngời cùng thời, mà còn khẳng
định đây là một nhà phê bình thực sự có kiến thức và có tài nên mới có đợc cáinhìn cũng nh cách đánh giá trong tác phẩm tinh tế và sâu sắc
ở một bài viết khác, sau khi phân tích Nguyễn Du và Truyện Kiều, Tâm lý và
t tởng Nguyễn Công Trứ rất tỉ mỉ, Thuỵ Khuê chỉ ra đợc những nét mới, độc đáo
trong cách phê bình của Trơng Tửu Từ đó, để khẳng định vị trí của ông tronglĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học Kết thúc bài viết, Thuỵ Khuê đã kết luận:
“Mặc dù phơng pháp phê bình Mác- xít ngày nay đã lỗi thời, nhng Trơng Tửuvẫn là nhà phê bình sáng giá nhất trong thế hệ tiền chiến Bởi ông đã cố gắng tìmmột con đờng văn nghệ mới, thoát khỏi ảnh hởng độc tôn của lãng mạn Ông đãcập nhật kịp thời một phơng pháp phê bình khoa học, nhất là ông đã bác bỏ quanniệm sùng bái anh hùng của ngời Việt mà sau này đợc tôn lên hàng quốc sách
Ông đã khảo sát các nhân vật lịch sử và văn học nh một đối tợng khách quan và
ông đã đấu tranh cho tự do đến dòng chữ cuối cùng”[32] Trong quá trình tìmhiểu, nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Trơng Tửu, một lần nữa ThuỵKhuê lại khẳng định vị trí cũng nh nhân cách của Trơng Tửu trong nghiên cứuphê bình văn học: “Là một trong những nhà phê bình tiên phong của thế kỷ XXnhng vì dám lên tiếng, vì dám nói lên những điều phải nói của ngời tri thức trớcthời cuộc, Trơng Tửu đã phải im lặng trong 40 năm Sự trừng phạt đau đớn chomột giáo s, một nhà phê bình, một nhà t tởng Nhng sự im lặng ấy, cũng là thái
độ đẹp nhất của một nhà văn: không viết vì không thể viết những điều trái với sựthật”[31] Thông qua đó, cho chúng ta thấy đợc bản lĩnh và cá tính mạnh mẽ củaTrơng Tửu Với bản lĩnh này, theo Hoài Nam, Trơng Tửu đã “trung thực với quan
điểm của mình, dám chấp nhận sự va chạm với những quan điểm trái chiều, thậm
chí dám chấp nhận bị mất lòng”[40] Khi viết Nửa chừng xuân của Khái Hng,
ông đã không ngần ngại nói Khái Hng “không thể là một nhà tiểu thuyết tảthực…”có tài nhng không có khiếu Bởi vậy nên khi tôi thấy ông vác bút vào cáirừng phong tục hay cái hang lịch sử Việt Nam, tôi e ông chỉ ra không, hoặc giả
đem theo đợc vài …”cục đất” Khi tranh luận với Thạch Lam ông cũng không
“kiêng nể” nói Thạch Lam “không phải là một nhà văn, không phải là một nhàhài hớc Ông Thạch Lam chỉ là một anh chàng nói lỡm”[40] Nh thế, ngay từnhững trang viết đầu tay, Trơng Tửu đã thể hiện bản lĩnh và cá tính cứng cỏi củamình, không riêng gì những tác phẩm sau này Không chỉ vậy, trong suốt cả cuộc
Trang 11đời của mình, vẫn với một bản lĩnh và cá tính ấy đã giúp ông vợt qua bao biến cốthăng trầm, để ngày nay lớp con cháu có nhiều điều đáng để khâm phục và họctập
Phan Ngọc trong bài viết: Một vài điều ít đợc nhắc lại về nhà phê bình
Tr-ơng Tửu cũng nói về đờng lối nghiên cứu phê bình của TrTr-ơng Tửu Nếu các nhà
phê bình chủ quan dựa vào những ấn tợng của mình để xem xét và bình phẩm tácphẩm mà “không cần bằng chứng” thì Trơng Tửu “đòi hỏi tác phẩm phải có íchcho công việc hiện nay Với một dân tộc yêu nớc nh Việt Nam thì điều cần thiết
là cách cứu nớc”[42] Đồng thời ở bài viết này, Phan Ngọc cũng nói đến con ờng tự học chủ nghĩa Mác của Trơng Tửu và cách lập luận của ông trong nghiêncứu phê bình văn học cũng dựa vào cách hiểu của ông về chủ nghĩa Mác Vì thếtrong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi sự cực đoan nhng với mục đích và
đ-động cơ hoàn toàn trong sáng, không vì t lợi cá nhân “Anh đúng là nhà phê bìnhvăn học đầu tiên của Việt Nam mà tôi biết đợc không đi con đờng văn chơng mà
đi con đờng phục vụ, tuy chữ này phải hiểu ngầm và dễ vấp váp, nh chính anh đãvấp váp Vì đi con đờng tự mình xoay xở nên anh không đi theo con đờng có sẵn
do lý luận của Stalin đa ra, hay do các Đảng cộng sản nêu lên và bị ngờ là theoTrotsky”[42] Không chỉ vậy, cách dạy học của Trơng Tửu cũng khác so với cácgiáo s lúc bấy giờ, thờng các “giáo s không nêu ngay các kết luận mà đa ranhững nhận xét và chứng minh sức thuyết phục và tính đúng đắn của nhận xét”.Còn Trơng Tửu “khi dạy anh nêu lên một loạt tiên đề, rồi sau đó áp dụng chotừng tác giả”[42], từ đó cho phép học sinh tự rút ra những kết luận tuỳ theo sự
“nhạy cảm” của từng ngời Chính vì thế, ông đợc sinh viên rất yêu thích trong cácgiờ dạy của mình Nh vậy, từ con đờng tự học đến lối phê bình và cách giảngdạy của Trơng Tửu, tất cả đều rất riêng, rất Trơng Tửu, ở đâu ông cũng thể hiện
đợc cá tính của mình Có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà Kiều Mai Sơn
cho rằng: Giáo s Trơng Tửu: Ngời đào tạo số mệnh của chính mình Theo Kiều
Mai Sơn, “Trơng Tửu là văn nhân nhập thế rất vất vả vì t tởng dân chủ của mình.Hai mơi lăm năm, vẫn phong cách cơng trực, dám đấu tranh cho lẽ phải, cho cáimới, cho chân lý, giáo s Trơng Tửu đã phải trả giá đắt đối với cuộc đời của chính
mình, khi ông viết một số bài trên các tập Giai phẩm phát biểu quan điểm về văn
nghệ và chính trị cùng giới lãnh đạo văn nghệ với một động cơ theo ông hoàntoàn trong sáng, mong muốn đất nớc ngày càng phát triển, xã hội ngày một dânchủ và tự do hơn Ngời đơng thời gọi ông là ngời bị “thất sủng” bị gạt ra “ngoàilề” đời sống văn học vì nhận thức ấu trĩ của một thời…”Từ nhà nghiên cứu, nhàvăn, Trơng Tửu một mình một thuyền chống sào ngợc nớc vợt dòng chuyển sang
Trang 12phê bình văn học Để rồi khi nhắm mắt xuôi tay, ông mang theo nguyên vẹn cảkhối tình đối với chuyên ngành này xuống tuyền đài”[47] Qua đó, chúng ta thấymột t tởng nhất quán và cũng đầy tự tin của Trơng Tửu ở mọi phơng diện để bảo
vệ quan điểm của chính mình dù phải trả một giá quá đắt Lại Nguyên Ân chorằng: “Cái đích nhằm tới cuối cùng của nghiên cứu văn học chung quanh tác giaTrơng Tửu là những phân tích đánh giá về đóng góp của tác gia này vào sự pháttriển của của văn học Việt Nam…”Cái đích cuối cùng của nghiên cứu sử học vềnhân vật Trơng Tửu cũng là những phân tích đánh giá công lao của nhân vật này,tác gia này vào khoa học, văn hoá, văn học Việt Nam và nhất là viết ra và công
bố đợc những cuốn sách có chất lợng tốt về tiểu sử, cuộc đời hoạt động mọi mặtcủa nhân vật Trơng Tửu”[3] Để đến đợc cái đích đó, chúng ta phải tiến hànhnghiên cứu một cách toàn diện và có bài bản
Bên cạnh những bài nghiên cứu này còn rất nhiều bài thể hiện tình cảm củamột ngời con, ngời bạn, ngời học trò đối với ngời cha, ngời thầy của mình với
bao kỷ niệm và những cảm xúc khó quên: Lời vĩnh biệt thầy Trơng Tửu (Nguyễn
Đình Chú), Một ngời ấy dã ra đi (Phạm Xuân Nguyên), Kỉ niệm về cha tôi
(ơng Quốc Tùng), Kỉ niêm về thầy Tr(ơng Tửu (Nguyễn Văn Hoàn), Với thầy
Tr-ơng Tửu (Ninh Viết Giao) Qua các bài viết đó đều thể hiện TrTr-ơng Tửu là một
ng-ời cha, ngng-ời bạn, ngng-ời thầy luôn sống đúng mực và tận tâm với mọi ngng-ời, đồngthời xen lẫn niềm cảm phục về tài năng, trí tuệ và nhân cách của Trơng Tửu Vìthế, sự ra đi của ông đã để lại cho gia đình, ngời thân, bạn bè và học trò bao niềm
lu luyến, tiếc thơng
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình văn học vềcuộc đời và sự nghiệp của Trơng Tửu Nhng do thời gian có hạn nên chúng tôicha kịp tìm hiểu Nếu có điều kiện nghiên cứu thêm chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹcàng hơn
Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên đã gần nh khái quát đợc sự nghiệpnghiên cứu phê bình văn học của Trơng Tửu nhng cha có công trình nào thực sự
đi sâu nghiên cứu đóng góp của ông trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn họcmột cách có hệ thống
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi t liệu khảo sát
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đóng góp của Trơng Tửu trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học ở ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX
3.2 Phạm vi t liệu khảo sát
Trang 13Những công trình nghiên cứu văn học của Trơng Tửu đợc tập hợp lại và introng:
3.2.1 Nguyễn Bách Khoa – Khoa học văn ch ơng ( Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn
và giới thiệu), NXB Văn hoá Thông tin, 2003
3.2.2 Trơng Tửu - Tuyển tập nghiên cứu phê bình ( Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh
Bá Đĩnh su tầm và biên soạn), NXB Lao Động - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ
Đông Tây, 2007
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những đóng góp của Trơng Tửu trong phê bình nghiên cứu cácsáng tác dân gian và trung đại Việt Nam
- Đóng góp của Trơng Tửu trong việc nghiên cứu, phê bình các sáng tác vănhọc Việt Nam hiện đại
- Phong cách nghiên cứu, phê bình văn học của Trơng Tửu
Ngoài phần Mở đầu, Kết thúc và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Trơng Tửu với văn học dân gian và văn học Viêt Nam trung đại Chơng 2: Trơng Tửu với văn học Việt Nam hiện đại
Chơng 3: Một số nét tiêu biểu trong phong cách nghiên cứu phê bình văn họccủa Trơng Tửu
Trang 14Chơng I Trơng tửu với văn học dân gian và văn học trung đại việt nam 1.1 Trơng Tửu với văn học dân gian
Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra
đời từ thời công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong chế
độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay
Văn học dân gian ở Việt Nam còn đợc gọi là văn chơng bình dân (hoặc vănhọc bình dân, văn chơng hoặc văn học đại chúng), văn chơng truyền khẩu, vănchơng hoặc văn học truyền miệng), văn nghệ dân gian, sáng tác dân gian, …” Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội Cũng nh mọi hình thái ýthức xã hội khác, văn học dân gian phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất
có ý thức của tập thể những con ngời sống thành xã hội Sự ra đời của những sángtác truyền miệng đã đánh dấu quá trình hình thành hoàn toàn của sự nhận thứcthẩm mĩ bởi nó đã tạo ra khả năng vô hạn cho sự phản ánh những cảm xúc thẩm
mĩ trong t tởng con ngời
Nếu truyện kể dân gian là những sáng tác thiên về thể hiện những nội dungkhái quát mang tính chất loại hình, thể hiện một cách phổ biến sự gần gũi và ảnhhởng lẫn nhau qua yếu tố đặc trng là các mô típ, các nhân vật thần kì…”thì thơ cadân gian với những nét đặc sắc trong kết cấu ngôn ngữ, cách sử dụng hình tợng,nhạc điệu đi kèm lời ca, lại thiên về thể hiện tính độc đáo của dân tộc Chính nhờnhững yếu tố đó mà thơ ca dân gian mang đậm dấu ấn của phong cách, màu sắc
đa dạng của văn hoá các dân tộc
Ngay từ phần mở đầu cho bài viết Kinh Thi Việt Nam, Trơng Tửu đã nói về
sự tình cờ gặp gỡ một ông già vô danh trong lúc dạo chơi hóng mát quanh Hồ G
-ơm, đợc nghe ông giải thích về câu hát Chu tri rành rành của trẻ con, đã mở ra
cho ông “một lối nghiên cứu thi ca bình dân chú trọng về sử ký” Nhng cũng qua
đó ông đã thể hiện rõ ý kiến của mình Với ông bài hát Chu tri “chỉ là một cách
chép sử của dân gian”, “không đáng coi nh một tài liệu chân xác” mà “giá trị đặcbiệt của nó là về giá trị tâm lý xã hội” bởi đồng thời với việc ghi chép sự việc xảy
Trang 15ra xung quanh, dân gian đã diễn đạt trung thành thái độ của mình đối với đơngthời Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu thi ca bình dân ở bất kì thời nào, chúng tanên tìm đến tâm lý ngời tạo ra chúng Hơn nữa với ông, “thơ ca còn là một tàiliệu xã hội học rất quý” bởi nó có thể vẽ lại một phong tục, hoặc đánh dấu mộttình trạng kinh tế, lu truyền một lễ nghi tôn giáo Tất cả những điều đó, có thểgiúp ta hiểu đợc cuộc sống sinh hoạt của xã hội ở các thời kì đã qua cũng nhnhững tâm lý đã mai một trong quá khứ Bởi “phong dao Việt Nam rất có thể làlinh hồn Việt Nam, xã hội Việt Nam xa, nếu biết nghiên cứu nó một cách hợp lý
và thông minh”[20, 686] Ngoài ra, ca dao còn có một nghệ thuật chẳng kém giátrị nghệ thuật của bất kỳ một nền thơ bình dân nào trên thế giới Chắc hẳn, tất cảchúng ta từ thuở ấu thơ, ai cũng đợc nghe lời ru, giọng hát véo von từ ngời bà,ngời mẹ của mình Lời ru, tiếng hát ấy nh dòng sữa mẹ nuôi dỡng tâm hồn vàchấp cánh cho những ớc mơ của chúng ta bay cao bay xa Chính những “vần thơmộc mạc ấy, với cái nhạc điệu Việt Nam ấy, quả đã súc tích một mối cảm mênhmang đủ hiệu lực gọi thúc đẩy tất cả những thớ tim của con ngời” “Dân ViệtNam chúng ta, trong mấy nghìn năm, vẫn là một linh hồn giàu và mạnh Linhhồn ấy đã nối liền với nhau trên cái xứ sở này, hơn hai chục ngời biết sống, biếtchiến đấu hàng 40 thế kỷ Linh hồn ấy, sức chiến đấu ấy còn để dấu vết lại trongcác ca dao Việt Nam đầy âm thanh, đầy hơi nóng”[20, 687] Và theo ông, nhữngcâu phong dao ấy mới chính là Kinh Thi của ngời Việt Nam bởi từ xa, phong daotục ngữ là tình cảm và luân lý của ngời Việt Nam “Bổn phận của chúng ta ngàynay là ghi chép nó, san định nó, chú thích nó, nh Chu Công đã ghi chép, Khổng
Tử đã san định, Chu Hy đã chú thích Kinh Thi của Trung Hoa”[20, 688] Ôngcũng nhận thấy, trớc khi nghiên cứu Kinh Thi Việt Nam không gì tốt bằngnghiên cứu Kinh Thi của Trung Hoa để tạo lập trờng nghiên cứu cho mình vàcũng để trả lời cho câu hỏi: “ Tại sao Khổng Tử san định Kinh Thi” Để trả lờicho câu hỏi này, ông viết: “Khổng Tử san định Kinh Thi bởi Khổng Tử tìm thấy
ở Kinh Thi một phơng pháp trị dân” “Khổng Tử tin rằng nghệ thuật là sản phẩmcủa tình cảm” “Vì thế cái khởi điểm giáo hoá của Khổng Tử là chỉnh lại nền tìnhcảm của con ngời Muốn chỉnh lại tình cảm của con ngời, ngài cho học Thi vì thơchính là tiếng nói của tình cảm …” Ngài cho rằng, thơ nhạc và tình cảm có ảnh h-ởng mật thiết với nhau Tình cảm trong sạch thì thơ nhạc thiện, tình cảm vẩn đụcthì thơ nhạc ác, ngợc lại, thơ nhạc dâm oán thì lôi cuốn tình cảm vào tội lỗi, thơnhạc khoan hoà thì biến tình cảm theo điều kiện”[20, 691] Qua đó, chúng tacũng thấy đợc lối vận dụng học thuyết của Marx rất khéo léo của ông trong trờnghợp Khổng Tử
Trang 16Cũng từ lập luận đó, Trơng Tửu tiến đến “đoàn thể” một ý niệm mới mẻ củatriết học Marx, ông viết: “Muốn biết rõ tình cảm của một đoàn thể, không gìbằng xem những phát hiện tinh thần của đoàn thể ấy Cái phát hiện thuần khiếtnhất của nó là thơ và nhạc, vì thế nên Khổng Tử đã nói trong Nhạc ký: “Thanh
âm chí đạo dữ chính thông hỹ: đạo thanh âm thông với chính trị vậy” và lại nói:
“Thẩm nhạc dĩ tri chính: xem kỹ âm nhạc thì biết cách chính trị” Đã nói: “Thơnhạc do tình cảm con ngời mà sinh ra”, lại nói: “Tình cảm con ngời do chính trịtạo thành” thì có khác gì nói: “Thơ nhạc bắt nguồn ở xã hội”? Cái mối tơng quancủa nghệ thuật và nhân sinh diễn đạt đến nh trong Khổng giáo thật cũng đã cặn
kẽ và đanh thép lắm Từ cái thuyết: “Thơ nhạc gốc ở tình cảm, tình cảm gốc ởchính trị”, Khổng Tử đã đi đến một kết luận rất hợp lý là: “Có thể dùng thơ nhạc
để cải tạo tình cảm và luôn thể cải tạo xã hội”[20, 692, 693] Tất cả những dẫnchứng và biện luận trên đây của Trơng Tửu để đa đến luận điểm then chốt:
“Chúng ta cũng có một Kinh Thi quý giá không kém gì Kinh Thi của ngời Tàu.Bổn phận chúng ta ngày nay là phải ghi chép nó, san định nó, chú thích nó, nhChu Công đã ghi chép, Khổng Tử đã san định, Chu Hy đã chú thích Kinh Thi củaTrung Hoa”[20, 688]
Qua đó ta thấy rằng, ở thời kỳ nào ngời đứng đầu một xã hội lấy văn hoá,lấy nhân nghĩa làm gốc cho việc cai trị của mình thì sẽ đạt đợc kết quả tốt Vănchơng bắt nguồn từ cuộc sống, là sản phẩm của xã hội, vì thế, muốn biết xã hội
đó nh thế nào thì phải khảo sát văn chơng Chính từ những luận điểm đó đã dẫnTrơng Tửu đến với phê bình ca dao Để đến với ca dao, để hình thành một cuốnKinh Thi cho ngời Việt Nam chẳng kém gì của ngời Tàu, ông đã vận dụng rấtnhiều phơng pháp: sử học, xã hội học, tâm lý học và nhất là ông dựa trên t tởngnòng cốt: Lịch sử tiến hoá của nhân loại là lịch sử đấu tranh giai cấp
Có thể nói, môi trờng là một yếu tố rất quan trọng trong việc xây dựng, hìnhthành nên tính cách của con ngời bởi con ngời là sản phẩm của môi trờng Tácphẩm văn chơng do con ngời tạo ra, vì thế, nó vừa phản ảnh môi trờng sống ấy
đồng thời mang dấu ấn riêng của tác giả và tâm lý của dân tộc Chính từ lý do đó
mà Trơng Tửu chủ trơng phải san định lại ca dao Việt Nam bởi ca dao là tiếngnói của dân tộc qua các thời đại Qua ca dao, ngời ta biết đợc phong tục tập quáncủa dân tộc Việt Ca dao chính là tiếng nói xuất phát từ quần chúng đối kháng lạigiai cấp cầm quyền Ca dao là những mũi tên bắn vào hệ thống đạo đức cổ hũ củaNho giáo, chống lại chế độ phụ quyền, chống lại đạo đức nam nữ thụ thụ bất thâncủa Khổng Mạnh, đòi quyền tự do nhục dục, chống lại vấn đề trinh tiết, chống lạivấn đề lẽ mọn …” ca dao là nơi thể hiện sự đấu tranh thờng trực của ngời dân Để
Trang 17đa ra những minh chứng về sự phản ứng của dân tộc Việt Nam trong ca dao đốivới Nho giáo, ông đã thống kê một cái “bảng giá trị” của Nho giáo:
- Tôn trọng quyền đàn ông và áp chế quyền đàn bà
- Tôn trọng quyền chồng và áp chế quyền vợ
- Tôn trọng quyền cha và đoạt mất quyền con
- Tôn trọng quyền vua và áp chế quyền dân
ta không thể đồng hoá theo cái triết lý ngoại bang ấy Suốt khoảng lịch sử mấynghìn năm của xứ Việt Nam chỉ là cuộc xung đột gắt gao giữa dân chúng ViệtNam và Nho giáo, tổ tiên ta đã chứng tỏ một tinh thần độc lập hùng mạnh vôcùng Cho nên tuy đợc giai cấp cầm quyền (vua, quan, sĩ) cần cù truyền bá vàủng hộ Nho giáo vẫn phải luôn lùi bớc trớc sức phản kháng của dân chúng ViệtNam”[20, 707] Trong hoàn cảnh ấy, “dân Việt Nam đã thành một khối tinh thầnriêng” Hiện nay còn có rất nhiều phong tục lễ nghi còn sót lại trong dân gian
mang tinh thần riêng ấy “Cái thuyết nam nữ hữu biệt, nam nữ thụ thụ bất thân
của Nho gia chỉ thực hành trong giai cấp quý tộc sĩ phu chứ không thể thực hành
đợc trong dân gian”[20, 709] bởi đất nớc ta là một nớc nông nghiệp xung quanh
“là đồng ruộng, là ao chum, là rừng lúa, là mặt đê” Đây không chỉ là nơi làmviệc mà còn là nơi tạo điều kiện cho những đôi trai gái gặp gỡ trò chuyện, tự tìnhvới nhau và kết thành đôi lứa Dờng nh tất cả những điều kiện phản kháng lạiNho giáo ấy đều đợc thể hiện rất nên thơ ở tục mời trầu
Trầu này trầu quế, trầu hầu,Trầu loan, trầu phợng, trầu tôi lấy mình
Trầu này trầu tính trầu tìnhTrầu nhân trầu nghĩa trầu mình lấy taTrầu này têm tối hôm quaGiấu cha giấu mẹ đem ra cho chàngTrầu này không phải trầu hàngKhông bùa không thuốc sao chàng không ăn?
Hay là chê khó chê khănXin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu
Trang 18Miếng trầu tình tứ ấy của những đôi trai gái thôn quê trực tiếp mời nhau
một cách mặn mà, âu yếm đã lật nhào cái thuyết nam nữ thụ thụ bất thân của
Nho gia Chỉ với vài câu thơ thôi nhân vật trữ tình đã thể hiện đợc sự duyên dángnhng cũng rất thẳng thắn, chân thành về tình cảm của mình với đối tợng đợc mờitrầu Qua lời mời, ta nhận thấy sự mộc mạc, quê mùa rất Việt Nam Dân ViệtNam đã phản kháng lại nh vậy đó, không bao giờ họ chịu sự đồng hoá của ngờiTrung Hoa, chỉ trừ một số ít ngời cầu lợi cho riêng mình
Nhng để hiểu ca dao tức Kinh Thi Việt Nam thì không những phải tìm hoàncảnh lịch sử Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến ngày nay mà còn phải hiểu cả bảnchất của Kinh Thi và xã hội Trung Hoa nữa Sự tìm kiếm này dẫn ông đến lậpluận: Kinh Thi là một tài liệu xã hội học và ông đã làm rõ lập luận này của mìnhqua ba yếu tố sau:
- Kinh Thi đánh dấu sự xuất hiện của văn tự
- Nó là bức hoạ chân xác của những tín ngỡng, t tởng, chính pháp, phongtục trong một xã hội
- Nó điểm chỉ cho nhà xã hội học những vết tích cho một cuộc sinh hoạtkinh tế
Bằng những dẫn chứng trong Kinh Thi, ông đã tái hiện lại bộ mặt xã hộiTrung Hoa cổ với những nề nếp, phong tục của ngời Tàu Nghiên cứu Kinh Thicủa Trung Hoa không chỉ cho ta những tài liệu quý báu mà còn giúp ta nhìn thấu
đợc “chân tớng” của nó đồng thời lại “hiểu đợc tình trạng xã hội đặc biệt của xứViệt Nam mới có thể hiểu đợc cái xu hớng chống Nho giáo của nền thơ phongdao Việt Nam, Kinh Thi của nớc nhà” Cũng từ những chơng tiếp sau đó, “tác giả
sẽ căn cứ vào những phong dao ấy, truy cứu tới cái cơ sở hạ tầng và cái kiến thứcthợng tầng của xã hội Việt Nam”[20, 706] Qua những chơng sách đó Trơng Tửu
đã cho ta thấy cuộc sống sinh hoạt cũng nh đời sống văn hoá tinh thần của c dâncủa một đất nớc nông nghiệp Ông cũng chỉ ra, “từ thời thợng cổ xứ ta là một xứnông nghiệp” nên những kinh nghiệm về canh tác, về thiên văn ấy đợc tích trữ từ
đời nọ sang đời kia và dần trở nên tinh tế phù hợp với đất và thiên nhiên của xứ
ta Cũng đời sống sinh hoạt đó đã tạo điều kiện cho t tởng tình cảm và đời sốngtâm hồn của con ngời đợc bộc lộ rõ nét nhất là những ngời phụ nữ , “đôi khi sựsăn sóc thành kính của đôi vợ chồng ăn học có một thi vị làm ta cảm động”[20,717]:
Canh một dọn của dọn nhàCanh hai dệt cửi, canh ba đi nằmCanh t bớc sang canh năm
Trang 19Trình anh dậy học chớ nằm làm chiNữa mai chúa mở khoa thiBảng vàng chói lọi kia đề tên anh
Bỏ công cha mẹ sắm sanhSắm nghiên sắm bút cho anh học hành
Không chỉ vậy, họ còn là những con ngời yêu lao động, biết bảo ban nhaulàm ăn:
Rủ nhau đi cấy đi càyBây giờ khó nhọc có ngày phong luTrên đồng cạn dới đồng sâuChồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
Và ông nhận xét: “ Cảnh “chồng cày vợ cấy” và cảnh “ chàng ngồi đọcsách, thiếp ngồi quay tơ” là tất cả cái đặc sắc, là cái thi vị của đời sống bình dânViệt Nam, một đời sống trong trẻo, đầy khí trời, đầy ánh sáng, đầy trăng sao và
đầy sức mạnh Sức mạnh này là sức mạnh của giống nòi Lạc Hồng” Chỉ bằngnhững câu phong dao ấy, Trơng Tửu đã phân tích làm rõ hình ảnh xã hội ViệtNam ở rất nhiều phơng diện: dân chúng Việt Nam và Nho giáo, xã hội Việt Namxây dựng trên kinh tế nông nghiệp, gia tộc phụ hệ, chống nam quyền, đời sốngtình cảm, đời sống bản năng và thực trạng xã hội quyết định ý thức con ngời Chỉbấy nhiêu thôi nhng tác giả đã cho ta thấy đợc đời sống t tởng, tình cảm của ngờidân đất Việt Chính cái t tởng tình cảm ấy, đã tạo nên sức mạnh và có thể nói đóchính là sức sống tiềm tàng của nhân dân ta chống lại sự đồng hoá của TrungHoa cho nên dù hơn một nghìn năm Bắc thuộc nhân dân ta, đất nớc ta vẫn giữ đ-
ợc bản sắc riêng của mình Và Trơng Tửu đã khẳng định: “ Văn hoá Việt Namkhông phải ở văn hoá Trung Quốc thoát thai ra Hai cái chỉ là hai chị em cùngdòng họ, cùng một nguồn cội Nguồn cội này là kinh tế nông nghiệp Cho nên cónhiều tín điều trong Nho giáo, ta sẵn sàng đón nhận để kết tinh thêm, làm sángthêm cái ý thức tâm lý đã phôi thai trong hoàn cảnh của xã hội ta Và cũng cónhiều tín điều ta thấy chỉ thích hợp với xã hội Trung Quốc, thì ta chiến đấu bàixích đến tận cùng, không chịu công nhận”[20, 710]
Rõ ràng phải có một vốn lý luận vững chắc, sáng suốt, một năng lực cảmthụ tinh tế ông mới lắng nghe, cảm nhận và phân tách chúng thành những vấn đề,những nội dung khác nhau Nó vừa hệ thống hoá đợc những giá trị của ca dao,dân ca Việt Nam, vừa tìm ra cái giá trị nền tảng của văn hoá Việt Nam mà theocách gọi của Trần Ngọc Vơng là : “cách đặt vấn đề rất thú vị” Qua đó ta thấyrằng, nhân dân ta đất nớc ta chiến đấu và chiến thắng Trung Hoa không chỉ bằng
Trang 20sức ngời trên trận mạc mà còn có một sức chiến đấu bền bỉ, tạo thành một sứcmạnh vô biên để chiến đấu và chiến thắng tất cả mọi kẻ thù, đó chính là sứcmạnh của đời sống tinh thần, của t tởng, tình cảm của ngời dân đất Việt Sứcmạnh này đã trở thành một sức sống tiềm tàng trong tâm hồn mỗi ngời dân đấtViệt Vì thế nó không chỉ chiến thắng Trung Hoa mà còn chiến thắng mọi kẻ thùkhác làm nên những trang lịch sử vẻ vang của dân tộc, đem lại nền hoà bình độclập cho nớc nhà, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
1.3 Trơng Tửu với văn học trung đại Việt Nam
Văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng đã sinh thành
và phát triển trong những hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc đồng thời có quan hệgiao lu, tiếp nhận mật thiết với các nền văn hoá, văn học ngoài biên giới…”
Trơng Tửu tiếp cận với nền văn học trung đại trớc hết thể hiện tình cảm yêumến, say sa với văn học nghệ thuật đồng thời ông muốn thực hành một phơngpháp nghiên cứu khoa học để phân tích cảm nhận tác phẩm văn chơng nhằm tạo
ra một hớng nhìn mới và tạo ra những giá trị mới cho tác phẩm Chính với niềmsay mê đó, Trơng Tửu đã dành rất nhiều thời gian và công sức của mình đi vàotìm hiểu những giá trị, những tinh hoa và tạo nên cái nhìn mới cho ngời đọc đốivới văn học trung đại
1.3.1 Trơng Tửu với Truyện Kiều của Nguyễn Du
Từ khi ra đời cho đến nay Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành một bộphận không thể thiếu trong đời sống tâm hồn Việt Nam nói chung và đời sốngvăn học nói riêng Có thể nói Nguyễn Du là một tài năng bậc thầy mà mỗi khi
nói đến ông ngời ta không thể không nhắc đến Truyện Kiều- một kiệt tác văn
ch-ơng Cũng chính vì thế, từ trớc đến nay Truyện Kiều luôn là “bãi thử” của những
phơng tiện phê bình mới và cũng cha có một tác giả nào để lại một số lợng công
trình nghiên cứu về Truyện Kiều nh Trơng Tửu với các công trình: Triết lý Truyện Kiều (1931); Nguyễn Du và Truyện Kiều (1940); Văn chơng Truyện Kiều (1944); Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956) Điều đó, đã thể hiện lòng
say mê của ông đối với nghiên cứu phê bình văn học Ông cho rằng phê bình vănhọc phải tìm hiểu cá tính nhà văn vì “cá tính là thể cách sinh hoạt riêng của mộtcá nhân Nhờ có cá tính mà mỗi ngời chúng ta cảm xúc, suy nghĩ và hành độngmột cách khác, không ai giống ai” Nếu các nhà phê bình cùng thời chỉ nêu lênnhững ấn tợng chủ quan của mình về tác phẩm văn chơng mà không cần đếnbằng chứng thì với Trơng Tửu, ông đòi hỏi tác phẩm văn học phải có ích chocông việc hiện nay Bởi ông cho rằng, văn chơng không đơn thuần chỉ là một tác
Trang 21phẩm nghệ thuật thể hiện những rung cảm của mình trớc cuộc sống mà còn phảithể hiện đợc yêu cầu của thời đại Qua những công trình nghiên cứu đó, đặc biệt
với hai tác phẩm: Nguyễn Du và Truyện Kiều; Văn chơng Truyện Kiều ông đã
thể hiện rất rõ quan điểm phê bình văn học của mình
Với quan điểm phê bình văn học phải tìm hiểu “cá tính” nhà văn, NguyễnBách Khoa đã tạo ra cái mới trong cách nhìn nhận đánh giá một tác giả Theo
ông “ Cái này mới thành thực, mới không bị che đậy hoặc xuyên tạc Nó là cáiphần sâu thẳm nhất, tiềm tàng nhất, mạnh mẽ nhất của cơ thể, của khối óc, củatâm hồn Cá tính đó mới là phần cống hiến riêng của nhà văn đem dâng tronglinh từ văn học”[20, 191] Bởi mỗi ngời có một “thể cách riêng”, có những “cảmxúc, suy nghĩ và hành động một cách khác, không ai giống ai”[20, 191] Theo
ông, “lối phê bình tìm hiểu “tâm sự nhà văn trong tác phẩm văn chơng” vừa dễdãi vừa không đúng đắn Nó vẽ đờng để cho ai cũng có thể bàn về Truyện Kiều
kể cả những sự tủn mủn, vụn vặt nhất, khiến cho độc giả có lúc chẳng hiểu cuốnTruyện Kiều là câu chuyện về nàng Kiều hay câu chuyện về Nguyễn Du”[16,193] Trơng Tửu cho rằng, cá tính là một kiến trúc bao gồm nhiều yếu tố kết tinhlại, trong đó có ba yếu tố nổi trội: sinh lý di truyền (huyết thống), địa lý tự nhiên(quê quán, khí hậu, thổ ngơi, vị trí địa d, lịch sử) và quan trọng nhất là điều kiệnxã hội( bối cảnh thời đại, vị trí đẳng cấp) Kết thúc phần “khái luận” tác giả bàiviết đa ra một kết luận khá cực đoan: “Nghiên cứu một văn phẩm mà không tìm
đến cá tính nhà văn và hình ảnh xã hội đơng thời với nhà văn phản chiếu trongtác phẩm ấy tức là không hiểu gì về nghệ thuật phê bình hết”[20, 200] Với lốinói “chắc nh đinh đóng cột” trong văn phong phê bình, Trơng Tửu đã gây sự khóchịu cho rất nhiều ngời, nhất là trong môi trờng văn hoá vốn trọng sự nhũn nhặn,khiêm cung Hoài Thanh từng nhận xét: “Với ông Nguyễn Bách Khoa cái gì cũng
rõ ràng nh hai lần hai là bốn” Trịnh Bá Đĩnh trong Phê bình văn học- Trờng hợp Trơng Tửu nhận xét: “Lối viết của Hoài Thanh và Nguyễn Bách Khoa hết sức
khác biệt nhau, thậm chí có thể nói thuộc về hai đối cực, nh nớc với lửa, nh âmvới dơng, một đằng nhẹ nhõm tinh vi, đằng kia thì gân guốc sắc sảo…””[17] Yếu tố đầu tiên hình thành nên cá tính của Nguyễn Du theoTrơng Tửu đó làhuyết thống Nguyễn Du đợc sinh ra trong một dòng họ nho sĩ hiển đạt, khôngchỉ “nổi tiếng về khoa hoạn mà còn chiếm bậc đàn anh trong văn học giới”.Thêm vào đó, mẹ Nguyễn Du là một cô gái quan họ Bắc Ninh, “một tỉnh giàu có,thích văn chơng và phong tình diễm lệ vào bậc nhất ở Bắc Kỳ” Nh thế, chảytrong mạch máu Nguyễn Du là một huyết thống nho sĩ th lại có tài văn chơng.Chính huyết thống này “đã ảnh hởng rất nhiều đến việc hình thành cá tính của
Trang 22nhà thơ đặc biệt khi đẳng cấp này suy tàn và thất thế vào thời mạt Lê”[32] Bêncạnh yếu tố đó, Nguyễn Du đợc sinh ra ở Nghệ Tĩnh- một vùng đất “ bị vây bamặt bởi núi, sông và biển, nó vốn là một đất hiểm, có khí tợng anh hùng” Chính
“thiên nhiên hùng vĩ và khắc nghiệt đó đã kích thích ở con ngời một sức chống
cự bền bỉ, một lòng kiên nhẫn phi thờng trớc hết để tồn tại và sau đó để tồn tạimột cách xứng đáng” Bởi thế nó đã tạo nên những con ngời xứ Nghệ vừa bấtkhuất, kiên cờng, cứng cỏi và đầy ý chí Và đây cũng là một vùng đất biên cơngphân chia nớc ta với nớc Chàm từng xảy ra nhiều xung đột lại càng trau dồi ý chícho con ngời nơi đây thêm vững vàng Tuy nhiên, nói đến Nguyễn Du chỉ nói
đến quê Nghệ cha đủ mà phải nói thêm quê mẹ Bắc Ninh- một vùng văn hoá cổcủa ngời Việt Nơi có những làn điệu quan họ độc đáo trữ tình làm xao xuyếnbao thế hệ ngời nghe Nơi sản sinh ra “ những cô thôn nữ trắng trẻo, vững chắc
mà không thô kệch, quê mùa mà thanh lịch, yêu kiều mà đoan trang, áo tứ thânvải nâu non, váy lỡi trai bảy bức, yếm thắm hoa hiên, răng đen nh hạt huyền, mắttrong nh dòng suối…”” Nh vậy, bản thân Nguyễn Du đã có sự kết hợp của cả haivùng đất, tuy đối lập nhau nhng lại bổ sung cho nhau, tất cả những điều đó gópphần quan trọng vào sự hình thành cá tính Nguyễn Du Qua đó, cho ta thấy TrơngTửu là ngời rất chú ý đến đặc điểm thời đại và phân tích nó một cách sắc sảo Bởi
đây là một yếu tố rất quan trọng tạo thành những cái riêng, độc đáo trong cá tínhcủa nhà văn
Trơng Tửu đọc rất nhiều các nhà khoa học Phơng Tây và vận dụng nhiều lýthuyết khoa học trong các công trình nghiên cứu phê bình tiêu biểu nh: thuyếtchủng tộc- địa lý của Taine, thuyết phân tâm học Freud và học thuyết của Marx
về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội Đối với từng tác phẩm ông có
cách vận dụng các học thuyết này theo một cách riêng Với Nguyễn Du và Truyện Kiều ông chủ yếu vận dụng học thuyết của Taine và Freud vào để xem
xét lý giải những yếu tố làm nên cá tính Nguyễn Du
Khi bàn về cá tính Nguyễn Du, Trơng Tửu đã nhận đợc sự phản ứng dữ dội
từ công chúng bạn đọc nói chung và trong giới nghiên cứu phê bình nói riêngnhất là luận điểm ông cho rằng: “Nguyễn Du là con bệnh thần kinh Bệnh của
ông thuộc về thứ bệnh không có sự tổn thơng về khí quản” nhng “căn tạng suynhợc” Thực ra, Trơng Tửu dùng chữ “bệnh thần kinh” ở đây không phải theo cáinghĩa thông thờng của đời sống mà theo một khái niệm khoa học- khoa tâm bệnhhọc Ông giải thích rõ, đó là “một thứ bệnh thông thờng”, “ trong năm ngời cómột ngời mắc phải” “Con bệnh vẫn sống nh mọi ngời nhng thần kinh hệ, nhất là
bộ giao cảm thần kinh không khoẻ khoắn, trọn vẹn nh ở ngời bình thờng”, do “
Trang 23căn tạng cảm xúc quá độ” [20, 237] nên tính khí hay lo sợ, hoảng hốt, trầm muộn
và một trí tởng ảo giác Tất cả những điều đó đã làm nên cá tính Nguyễn Du, cátính này thể hiện trong văn chơng thành “sự rung động thành thực và mãnh liệt,
sự tởng tợng dồi dào, sự cảm xúc uỷ mị và bi thơng, sự cảm thông với đồng loại
đau khổ, với thần linh”[20, 246, 247]
Để đa ra những kết luận trên, Trơng Tửu đã dựa vào ý kiến của rất nhiềunhà “thần kinh học” trứ danh: Francois Morel, Magnan, Maurice de Fleury…”Tuynhiên, các nhà thần kinh học đa ra những kết luận về một “con bệnh” phải dựatrên kết quả của một quá trình khám nghiệm lâm sàng nhng Trơng Tửu lại căn cứvào thơ văn để khám và chẩn đoán “ bệnh” cho Nguyễn Du, nh thế quả thậtkhông khoa học
Qua đó ta thấy, dờng nh Trơng Tửu là “ngời đầu tiên phê bình Truyện Kiềutrên hai phơng diện: Bối cảnh xã hội thời đại và nhân vật” [17] Các nhà phê bìnhtrớc đó chỉ chú ý xem xét tâm sự Nguyễn Du và tài sử dụng từ ngữ của nhà thơ,cách phê bình và phân tích này nó kéo dài trong suốt một thời kỳ dài về sau vớirất nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều Trơng Tửu cũng cho rằng: “ Vănchơng chỉ là phản ảnh của con ngời và con ngời chỉ là sản phẩm của hoàncảnh”[20, 340] Ông đã xem xét các nhân vật chính trong truyện: Kim Trọng, TừHải, Thuý Kiều và các cảnh ngộ mà nhân vật gặp phải nh là “hình ảnh toànkhối” Mỗi nhân vật, mỗi cảnh ngộ thể hiện một khía cạnh: Kim Trọng là “đatình, đa cảm, quả quyết” thuộc hạng “tình chủng” (thi sĩ Chu Mạnh Trinh gọi lànòi tình)[20, 269]; Từ Hải là “một nguyện vọng thầm kín”, “làm một vị anh hùngtrong tởng tợng”[20, 281]; còn Thuý Kiều là nhân vật chủ yếu thể hiện nhữngmâu thuẩn trong tâm tính Nguyễn Du, “ luôn luôn giữ cốt cách một ngời đa tình
đa cảm, hành động thì thuận theo bản năng và trái tim mà suy nghĩ và lý luận lạinấp sau bản ngã Nho của tộc họ và đẳng cấp” Và “ Truyện Kiều cũng nh đờiNguyễn Du tố cáo một cái gì không thành thực, một cái gì miễn cỡng và giảdối”[20, 310] Cùng với những cái mới mà ông đa lại cho lĩnh vực nghiên cứuphê bình văn học, ta cũng thấy trong Nguyễn Du và Truyện Kiều ông đã đa ranhiều kết luận vội vã, áp đặt, vận dụng lý thuyết khoa học một cách máy móc
không chú ý đặc tính nghệ thuật ngôn từ Chính vì thế, Trần Đình Sử trong Thi pháp Truyện Kiều nhận xét: “Có thể nói công trình của Nguyễn Bách Khoa
không phải là công trình nghiên cứu văn học, mà là một công trình nghiên cứunghiêng hẳn về bệnh lý Ông không nêu đợc một chút phẩm chất thẩm mỹ củatruyện, một chút giá trị nghệ thuật của nó, ngoại trừ những đặc diểm gắn liền vớibệnh lý”[48, 16]
Trang 24Nh vậy, so với các nhà phê bình cùng thời nh Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều,Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan…”thì Trơng Tửu là ngời đầu tiên có một quan niệmmới về phê bình, dựa trên phơng pháp lý luận khoa học Vào những năm 1940hầu hết các nhà phê bình mà tiêu biểu là Hoài Thanh phê bình theo lối chủ quan,tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp quý giá mà họ đem lạicho lĩnh vực nghiên cứu phê bình của nớc ta Hoài Thanh đã thể hiện rất dứt
khoát quan điểm của mình ngay từ tiêu đề bài viết Văn chơng là văn chơng (báo
Trờng An, số 48, ngày 15/8/1935) Theo ông, nghệ thuật " tìm những cái hay, cái
đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh ngời ta, rồi mợn câu văn,tiếng hát, tiếng lá, bức tranh, làm cho ngời ta cùng nghe, cùng thấy, cùng cảm, đó
là nhiệm vụ tối cao của nghệ thuật…”", "nghệ thuật phải cố sức giúp ngời ta phản
động lại với hoàn cảnh cùng bẩm thụ tự nhiên" [20, 182] Theo Hoài Thanh, nhàvăn phải gạt bỏ những gì cứng nhắc để trãi lòng mình với thiên nhiên, với lòngngời, để có những rung động thật sự mãnh liệt trớc vạn vật muôn loài Đối vớivăn chơng việc tìm kiếm và khám phá cái đẹp là một điều tối thợng Vì thế nó
đòi hỏi ngời nghệ sĩ không chỉ có tài năng mà còn phải có những rung động thật
sự để tạo nên sức quyến rũ của văn chơng đối với độc giả Với quan điểm nàyHoài Thanh nh muốn bứt phá ra khỏi tính giai cấp và cuộc sống cơm áo hàngngày bởi văn chơng là một nghệ thuật Còn với Trơng Tửu, bởi áp dụng nguyêntắc phê bình khoa học nên ông có những bớc tiến xa hơn so với những ngời cùngthời: “Ông có một cái nhìn tổng thể về xã hội, về tính chất đấu tranh trong xã hội.Nhà văn vừa đợc coi là sản phẩm của xã hội vừa phản ánh lại bản chất của xã hội,bằng tính chất đặc thù của mỗi cá nhân nhà văn Và ông đã thiết lập đợc mối t-
ơng quan mật thiết giữa ba yếu tố: cá nhân, xã hội và tác phẩm Trong khi phầnlớn những nhà phê bình khác chỉ mới nêu lên đợc một vài khía cạnh tơng đốihiển nhiên của tác phẩm hoặc một số chi tiết khá đặc sắc về cách cảm nhận của
họ khi đọc tác phẩm, thì Trơng Tửu đã nhìn thấy cái sờn chính của t tởng, tức làcái sợi chỉ đỏ xuyên suốt con đờng nhận thức của tác giả, xuyên qua các tácphẩm Cái phần chìm ấy, không phải hiển nhiên ngời đọc hay ngời viết phê bìnhnào cũng thấy đợc mà chỉ những nhà phê bình có kiến thức và có thực tài mới tìmra”[33] Có lẽ vì thế mà văn ông kém đi sự mợt mà trau chuốt, đôi khi làm chongời đọc thấy khó chịu
Năm 1944, Trơng Tửu viết: Văn chơng Truyện Kiều để nói về cái hay, cái
đẹp của tác phẩm Hình nh viết ra bài viết này, Trơng Tửu muốn tranh luận vớiHoài Thanh và Đinh Gia Trinh Vì thế ông đã trực diện với những cái “tinh tuý”của một tác phẩm, cái mà theo Hoài Thanh không thể đem các khí cụ ra để “mổ
Trang 25xẻ”, phân tách, nói chung “phải đem một tấm lòng chân thành và thanh khiết màcảm thông chứ không thể dùng phơng pháp khoa học mà “mổ xẻ” đợc”[20, 344],
đó chính vấn đề cái đẹp, cái hay và chất thơ trong Truyện Kiều mà ai cũng có thể
cảm nhận nhng lại không “hiểu” đợc chúng Vì lẽ đó, Trơng Tửu chủ trơng “thiếtlập một hệ thống nguyên tắc vững chải làm kim chỉ cho sự phê bình văn nghệ”
Từ hệ thống ấy “bạn đọc tự “hiểu” lấy “cái đẹp” của Đoạn trờng tân thanh”[20,
345] Với chủ trơng này, Trơng Tửu nhằm tạo ra nhiều hớng cảm nhận, phân tích
đánh giá tác phẩm tuỳ theo trình độ và khả năng nhạy bén của mỗi ngời, khôngmang tính áp đặt một cách hiểu nào cho bạn đọc Ông chỉ ra: “Nghệ thuật củaTruyện Kiều không phải ở sự tả tình, tả cảnh, tả ngời, dùng chữ, dùng điển củatác giả nó Những cái tiểu xảo kỹ thuật này không đủ ban cho Truyện Kiều cái
“thi vị” chứa chan nó huyễn hoặc ngời đọc nh một sức mạnh phù thuỷ Nghệthuật Truyện Kiều là ở cái thể cách Chính cái thể cách đó đã làm ra cái thi vịTruyện Kiều và chính cái cấu tạo đặc biệt kia đã làm ra kiến trúc nghệ thuật củaTruyện Kiều” Nh vậy, “Nghiên cứu văn chơng Truyện Kiều mà không tìm đếndạng thái của cấu tạo đó, không dò đến cái thể cách đã điều khiển sự sáng tác ra
hệ thống này tức cha nghiên cứu đến gốc rễ cái hay, cái đẹp của TruyệnKiều”[20, 369] Từ những lý luận ban đầu đó, Trơng Tửu tiếp tục đi vào làm sáng
tỏ những vấn đề Hoài Thanh cho rằng không thể phân tách giảng giải: chất thơcủa Truyện Kiều và thiên tài của Nguyễn Du Nếu Hoài Thanh với cái nhìn duytâm nên ông tin đây là những vấn đề huyền bí, thần bí thì với con mắt của mộtnhà khoa học Trơng Tửu nhìn nó là “một khối trạng thái ý thức bị lệ thuộc chặtchẽ vào cơ thể cá nhân, vào hoàn cảnh xã hội”[20, 375] nên có thể phân táchgiảng giải nó bằng một khí cụ tinh vi Không riêng gì cái “thiên tài” của Nguyễn
Du mà cả “cái chất thơ bàng bạc”, “cái đẹp” ở Truyện Kiều ta cũng đều có thể
mổ xẻ nó ra để tìm thấy cái “thi vi” chứa đựng trong tác phẩm
về cuộc đời của Nguyễn Du, chẳng ai biết gì hơn về phong cách, về cách viết,kinh nghiệm viết, tất cả những chuyện tôi gọi là thao tác”[42] Còn Trơng Tửu thìkhác, ông đòi hỏi tác phẩm phải có ích cho công việc cứu nớc và điều cần thiết làcách cứu nớc Chính vì lẽ đó, khi nhận thấy một xu hớng văn học bỏ quên trách
Trang 26nhiệm với đất nớc thì ông đã thể hiện rất rõ quan điểm của minh, bất chấp mọigiá trị thực tế của tác phẩm Nếu các nhà phê bình lúc đó xem Truyện Kiều nh “thánh th”, “kinh phúc âm”, “quốc hồn” của dân tộc thì Trơng Tửu xem “TruyệnKiều là một thứ văn chơng đã ở một vị trí phản tiến hoá lúc đơng thời củaNguyễn Du Nó chứa chan một chất tàn héo, tiêu ma (chất thơ) Nó là kết tinhcủa một chặng đờng suy đồi nhất trên tràng kì tiến hoá của cá tính Việt Nam Cái
đẹp của Truyện Kiều chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thởng ngọn ợc”[20, 416]
Với hai công trình nghiên cứu: Nguyễn Du và Truyện Kiều và Văn chơng Truyện Kiều ngay lập tức Trơng Tửu đã làm cho văn đàn nổi sóng Bởi từ khi
xuất hiện, ngời Việt Nam ai nấy đều say mê thởng thức Truyện Kiều, kính phụctài viết văn của Nguyễn Du, cảm thơng trớc cuộc đời ba chìm bảy nổi của nàngKiều Thậm chí ngời ta còn đề cao, xem nó là “thánh th”, là “kinh phúc âm”, làlinh hồn của ngời Việt Nhng với Trơng Tửu, tác giả của cuốn thánh th đó là một
“con bệnh thần kinh” do “căn tạng suy nhợc”, “cảm xúc quá độ” Nhân vật trungtâm của cuốn thánh th ấy “là một con bệnh uỷ hoàng và u uất” do “phủ tạng suynhợc”, “không đủ sức chịu đựng sự nảy nở mãnh liệt của cơ quan sinh dục”, do
sự “đè nén của luân lý Nho giáo đối với sức phát tiết của tính dâm đãng củanàng”[20, 294] Nh thế bản thân cuốn thánh th chỉ là sự phản chiếu đầy đủ về
“một xã hội ốm, một đẳng cấp ốm, một cá tính ốm: tất cả Truyện Kiều là ở
đó”[20, 247] Ngay cả vẻ đẹp hình thức, ta tởng nh chẳng có gì để bàn cải nhngvới Trơng Tửu nó chỉ là một hình thức “chứa chan một chất tàn héo tiêu ma”.Qua đó ta thấy rằng Trơng Tửu là một ngời có bản lĩnh mới có thể tung ra giữacông chúng bạn đọc những luận điểm khó nghe nh trên Chính vì lẽ đó, ông bịcác cây bút cùng thời nh Hoài Thanh, Đinh Gia Trinh…”phản đối rất dữ dội Tuynhiên, Trơng Tửu không cố tình đi ngợc lại những gì thiên hạ đã nói và làm từbấy đến nay.Đó cũng là kết quả của phơng pháp phê bình văn học đợc ông gọi là
“phê bình khoa học” khi phê bình Truyện Kiều Nó đòi hỏi thái độ khách quantrong khi phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tợng Và đó cũng là kết quả tấtyếu của một quá trình tự học, tự nghiên cứu và vận dụng các học thuyết: thuyết
đấu tranh giai cấp và văn học phản ánh xã hội của Karl Marx, Engels; thuyếtphân tâm học của Freud; thuyết chủng tộc- địa lý của Hippolite Taine
Nh vậy Trơng Tửu đã tạo ra cột mốc, cái nhìn mới cho nghiên cứu phê bìnhvăn học nói chung và đối với Truyện Kiều nói riêng, tạo cho ngời đọc có thể cảmnhận, khám phá tác phẩm nhiều chiều hơn, làm cho nội dung tác phẩm thêmphong phú Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế trong cách phân tích và cảm
Trang 27nhận về tác phẩm Nh ta đã biết để nghiên cứu về Truyện Kiều, Nguyễn BáchKhoa đã vận dụng nhiều tri thức khoa học vào”mổ xẻ” nội dung cũng nh nghệthuật của tác phẩm Song những học thuyết đó đợc ông vận dụng một cách máymóc, cực đoan theo một cách riêng của ông nên nhiều khi dẫn đến những kếtluận vội vàng, gây sốc với độc giả, nhiều khi làm cho tác phẩm trở nên khô cứng.Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy đây là một điều khó tránh khỏi khi lần đầu sửdụng một phơng pháp phê bình văn học mới, một phơng pháp khác hẳn lối thẩmbình văn chơng nghiêng về chủ quan, trực giác đã có từ trớc mà Hoài Thanh làngời chủ trì nên đôi khi nó chỉ có ý nghĩa mở đờng.
Một lần nữa, ta có thể khẳng định phê bình khoa học của Trơng Tửu là mộtbớc tiến về t duy của nền phê bình văn học Việt Nam ở thời điểm đó Với TrơngTửu phê bình văn học không chỉ là một nghệ thuật mà nó còn là khoa học, vănchơng không còn là cái gì thần bí, huyền bí không thể “hiểu” mà nhà phê bìnhlàm việc đợc với tác phẩm văn chơng giống nh các nhà sinh vật học làm việc đợcvới những mẫu cỏ cây của mình Và ông chính là một trong những nhân vật tiênphong trên con đờng đa phê bình văn học trở thành một khoa học văn chơng
1.3.2 Trơng Tửu với sáng tác của Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ (1778 - 1859) là một quan chức và cũng là một nhà thơ
Ông là một hiện tợng độc đáo nhất trong lịch sử và trong văn học Việt Nam giai
đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Tuy nhiên nghiên cứu về tác giả này cònquá mỏng, cha xứng tầm với những đóng góp của ông cho lịch sử cũng nh chovăn học nớc nhà Khoảng những năm 30 của thế kỷ XX, giới nghiên cứu mớiquan tâm tới tác giả này, ngời đầu tiên là Lê Thớc đến Hoàng Ngọc Phách, TrơngChính Công của họ là su tầm tài liệu và viết về Nguyễn Công Trứ
Năm 1939 xuất hiện bài viết hay và rất sâu sắc của Lu Trọng L trên tạp chíTao đàn Đây là bài viết trúng thần của Nguyễn Công Trứ nhng lại ngắn gọn, dớidạng tài tử Lu Trọng L nhận thấy sự kết hợp nhiều mặt thậm chí trái ngợc nhautrong Nguyễn Công Trứ và các mặt này không đối lập, trái ngợc, bài trừ nhau Đến năm 1943, Trơng Tửu- Nguyễn Bách Khoa với công trình khá dày dặn:
Tâm lý và t tởng Nguyễn Công Trứ Về cơ bản, đây là một công trình đợc viết
theo quan niệm mác xít và vẫn theo cách viết của ông, một nhà nghiên cứu cócon mắt sắc sảo nhng cũng rất cực đoan Tuy nhiên đây cũng là một công trình
có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ Trong lời tựa, TrơngTửu cho rằng khảo cứu văn tài của Nguyễn Công Trứ phải theo “phơng pháp duyvật biện chứng, là cái phơng pháp khoa học cao nhất, hiệu nghiệm nhất trong t t-ởng giới hiện đại của loài ngời” [20, 579] Từ đây ông phê phán học thuyết “dung
Trang 28tục và cơ khí” của Taine Theo ông, để giải thích “cá nhân đặc biệt” phải bắt đầu
từ nguyên tắc căn bản của Marx: “Con ngời là một sản vật kết tinh của những
t-ơng quan xã hội” Và “Trong lúc hành động để xử trí thế giới tự nhiên ở bênngoài, con ngời cũng biến đổi luôn cả bản chất của mình nữa”[20, 577] Nhiều ýkiến của các nhà phê bình theo hớng mác xít: P.Lafargue; G.V.Plekhanof…” ợcđ
ông tán thành và lấy làm tiêu chuẩn khi nghiên cứu phê bình văn học: “Nhà vănbao cũng đóng đanh vào hoàn cảnh xã hội của mình” (P.Lafargue)[20, 578], “Khinào nhận thức sự xung đột của đẳng cấp và khi nào đã nghiên cứu mọi hình thứctiến triển, mọi sắc thái phức tạp của cuộc xung đột ấy thì mới có thể giải thích đ-
ợc gọi là chu đáo một chút sự tiến hoá tinh thần của xã hội” (P.Lafargue)[20,579]
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động,giai cấp thống trị không còn năng lực quản lý và lãnh đạo nhà nớc, mà lao vàocảnh ăn chơi truỵ lạc và tranh giành quyền lợi, sinh ra đâm chém lẫn nhau Ôngnhận xét: “Quý tộc thì dâm dục, bạo ngợc nh Trịnh Sâm, Đặng Lân; võ quan thì
mê tín, tham lam và hèn nhát nh Phạm Ngô Cầu; văn quan thì đàm điếm xu nịnh
nh Nguyễn Khản Sự thối nát của nền thống trị cuối đời Trịnh Sâm thật lả cùngcực vây”[20, 603] Từ đó kéo theo các ngành kinh tế: Nông nghiệp đình đốn,kinh tế hàng hoá không có điều kiện phát triển, công thơng nghiệp dẫm chân tạichỗ, đời sống nhân dân đói kém Trong lịch sử, trớc đây cha từng có các cuộc
đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt nh giai đoạn này suốt từ Bắc chí Nam, đỉnh cao
là khởi nghĩa Tây Sơn “Trong tình trạng đổ nát ấy, kẻ chịu thiệt thòi nhất là bọncựu sĩ phiệt…” chỉ còn biết can tâm chịu số phận tàn tạ lấy câu “quân tử u đạo bất
u bần” của đức Khổng làm châm ngôn để tự an ủi”[20, 603]
Từ 1792 ( vua Quang Trung định lập Sùng Chính th viện) đến 1815 ( vua GiaLong công bố luật 28 quyển), với xu hớng chính trị “Tống Nho” của các nhà cầmquyền đã đem đến cho Nguyễn Công Trứ những “triển vọng đẹp đẽ về sự nghiệptơng lai Triển vọng chính là cội rễ của tính lạc quan chứa chan trong tâm hồnNguyễn Công Trứ buổi thiếu thời Vì thế trong cảnh nghèo cay cực Nguyễn CôngTrứ vẫn thấy đời mình nhiễm một phong vị riêng, làm bằng lạc quan và hy vọng,nhất là hy vọng”[20, 604]
Với hoàn cảnh xã hội đó và số phận đẳng cấp sĩ phiệt Nho giáo mà NguyễnCông Trứ là một thành viên, là cơ sở để nhà phê bình giải thích mọi hiện tợngtâm lý và t tởng của Nguyễn Công Trứ về cái nghèo, sự hành lạc và chí nam nhi Nguyễn Công Trứ là một con ngời của tinh thần Nho giáo tích cực, là một
ông quan thanh liêm, rất chú ý đến cuộc sống của nhân dân và của toàn xã hội
Trang 29Thêm vào đó, cuộc sống riêng của nhà thơ cũng chịu nhiều khổ nhục, bất côngcho nên ông dễ dàng nhận thấy bộ mặt xấu xa của xã hội phong kiến Thơ văncủa ông ghi lại tình cảnh nghèo khổ của bản thân cũng nh của tầng lớp nho sĩ đ-
ơng thời Tuy sống trong cái khổ và cũng chứng kiến nhiều cái khổ trong đờisống nhng bao nhiêu bài thơ của ông nói về cảnh nghèo lúc cha ra làm quan đềubày ra cốt tính lạc quan tràn trề sức sống
Thân bát văn tôi đã xác vờ
Trong nhà còn biết bán chi giờ?
Của trời cũng muốn, không thang bắc
Lộc thánh còn mong lục sách chờ
Thiên tử nhất văn rồi chẳng thiếu
Nhân sinh tam vạn hãy còn thừa
Đã không nhất sách kêu chi nữa
Ông lão tha cho cũng đợc nhờ
Bây giờ nghèo đấy, túng thiếu đấy nhng đang tích cực học hành đợi ngày đỗ
đạt, lúc ra làm quan thiếu gì bổng lộc của triều đình
Đóng góp đầu tiên của Tâm lý và t tởng của Nguyễn Công Trứ đã cho ta có
một cái nhìn khái quát về đẳng cấp, thời đại cũng nh những tác động của nótrong quá trình hình thành tâm lý và t tởng Nguyễn Công Trứ Tuy nhiên, điều
đầu tiên trong công trình nghiên cứu này của Trơng Tửu là lòng nhiệt tình củamột cây bút luôn đề cao phơng pháp “phê bình khoa học” Phê bình văn học vốn
có một nhiệm vụ đặc thù, nó đợc xem nh là ngời đại diện ý thức của một nền vănhọc, là ngời phát ngôn t tởng của một khuynh hớng, một trào lu, là sự tác độngtrực tiếp đến ngời sáng tác và công chúng bạn đọc Chính vì thế, phê bình vănhọc là một bộ phận của quá trình văn học Ông đợc xem là một trong những câybút tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học của thế kỷ XX, đã
đem hết tâm huyết của mình vào trong các công trình nghiên cứu dù phơng phápnghiên cứu của ông còn nhiều bất cập Điều đó cho thấy, sự đi trớc một bớctrong lĩnh vực phê bình của Trơng Tửu so với các nhà phê bình đơng thời nh HoàiThanh và Vũ Ngọc Phan
Giữa cái bề bộn của cuộc sống hiện tại (1943), Trơng Tửu quay về vớinhững tác phẩm của tác giả văn học giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
để tìm hiểu về cuộc sống, về tâm lý và t tởng của một nhà nho trong thời đại đang
có nhiều thay đổi để chuẩn bị bớc sang một giai đoan, một thời kỳ mới của lịch
sử cũng nh của văn học Với quan điểm, phê bình văn học phải tìm hiểu cá tínhnhà văn bởi “cá tính là thể cách riêng của một nhà văn Nhờ có cá tính mà mỗi
Trang 30ngời chúng ta cảm xúc, suy nghĩ và hành động một cách khác, không ai giốngai” Cũng chính vì thế mà từ việc tìm hiểu về thời đại, về đẳng cấp và qua một sốcác sáng tác, Trơng Tửu đã cho chúng ta thấy rất rõ tâm lý, t tởng của NguyễnCông Trứ từ thuở hàn vi đến khi làm quan.
Tác giả Tâm lý và t tởng của Nguyễn Công Trứ đã cho độc giả thấy một
phẩm chất đáng quý và cần phải có ở mỗi con ngời đó chính là sự lạc quan, làniềm tin vào bản thân và cuộc sống không chỉ riêng Nguyễn Công Trứ mà cònvới cả chúng ta Dù cuộc sống nghèo khó, con đờng học hành thi cử lận đận nhngmỗi lần đi thi là mỗi lần Nguyễn Công Trứ chứa chan hy vọng đợc “bảng vàngbia đá, cờ quạt vinh quy” cho “rõ mặt anh hùng” Đến khi thi trợt, ông lại tự độngviên để giữ vững chí tiến thủ bằng câu nói của cổ nhân: “ngời nào tài ba xuấtchúng thì thờng gặp gian truân thử thách” Ngoài ba mơi mà vẫn “khắp đông tâynam bắc bốn phơng trời, đâu cũng lừng danh công tử xác” nhng ông vẫn tin ở vậnmình, chí nguyện của mình “Nợ nần dan díu” mà vẫn ung dung vì ông tin rồi sẽ
có ngày ông thành danh Chính điều đó luôn kích thích ông, khơi dậy niềm tintrong ông, cho ông thêm “dũng khí” thêm lòng kiên trì, thiên hạ có chê cời ôngnghèo và thi trợt mãi thì ông triết lý:
Vận chuyển cơ giời nghĩ càng mầu
Chắc rằng ai đói chắc ai giầu?
Cuối tết mới hay rằng sớm muộn
Giữa vời sao đã biết nông sâu?
Trơng Tửu nhận xét: “Nội một cái tinh thần cơng nghị ấy cũng đủ để ông tiêubiểu cho cái khí trung hng đang bồng bột của đẳng cấp cựu sĩ phiệt” “Là mộtphần tử của sĩ phiệt đảng trung hng đó, Nguyễn Công Trứ đã biểu hiện đợc tinhthần lạc quan của đẳng cấp mình Cho nên tuy nghèo mà vẫn vui, thi trợt mà vẫntin rằng sẽ đỗ, bị coi khinh mà vẫn tự hào sẽ “xênh xang hội gió mây”, không lúcnào thối trí nản lòng hoặc chán đời buồn bã”[20, 608]
Tuy nhiên để thấm thía hơn với cái nghèo đó, Trơng Tửu đã phân tích, bình
phẩm Hàn nho phong vị phú Nếu nh ở những bài thơ trên ta luôn bắt gặp một
tinh thần lạc quan, tràn đầy niềm tin vào bản thân và cuộc sống thì ở bài thơ này
ta lại bắt gặp một thái độ thù ghét, hậm hực bởi “ông biết rằng trên cõi đời nàykhông có cái gì xấu bằng sự cơ hàn - không phải ông chỉ biết bằng kinh luận,bằng ngạn ngôn mà biết bằng kinh nghiệm”[20, 612] Đây cũng là thời kỳ xuấthiện hạng phú hộ - những kẻ giàu có, khinh miệt những kẻ nghèo hơn họ và đangchiếm đa số trong ngạch quan liêu bao cấp, trong khi đó lớp quý tộc và cựu sĩphiệt đang tàn tạ và khánh kiệt, bản thân cha đỗ đạt nhà cửa bị loạn ly tàn phá
Trang 31hết Chính vì thế, ông lại càng thấm thía hơn, tủi nhục hơn với cảnh nghèo củamình Tuy nghèo là vậy, tủi nhục là vậy nhng Nguyễn Công Trứ vẫn giữ trọn khítiết của một nhà nho: “Nghèo mà ghét sự nghèo, căm hờn bọn phú hộ vẫn phải
đến vay tiền của chúng, nhục mà không dám làm bậy, hy vọng ở tơng lai khanhtớng để tạm thời lạc đạo vong bần: đó là tất cả cái phong vị hàn nho của NguyễnCông Trứ”[20, 614]
Theo Trơng Tửu, Hàn nho phong vị phú không phải là sự “thi hoạ cuộc sống
thiếu thốn”, giễu cái nghèo vốn quen thuộc với các nhà nho Để hiểu hết cái
“phong vị” của nó, cần phải thấy ở đây một “thái độ chống phú hộ” Phong vị
“chua chát, căm hận buồn thảm” ở bài phú là phản ảnh thái độ của đẳng cấp nho
sĩ đang thất thế đối với đẳng cấp phú hộ, đại biểu của kinh tế thành thị đang lên
Từ quan niệm xã hội học và đấu tranh đẳng cấp, Trơng Tửu lần lợt đi vàophân tích làm rõ sự hình thành tâm lý và t tởng của Nguyễn Công Trứ trong xãhội đầy biến động Với thái độ chống lại bọn phú hộ đơng thời đã “trực tiếp đa
ông đến với quan niệm “hành lạc” và quan niệm “tang bồng hồ thỉ” để ông có
điều kiện mà giầy đạp lên cái triết lý vụ lợi thấp hèn của bọn phú hộ đơngthời”[20, 616] Sự hành lạc ấy đợc thể hiện rõ nhất ở hát ả đào bởi theo TrơngTửu, với Nguyễn Công Trứ hát ả đào là “một phơng tiện hành lạc lý thú nhất,gồm đủ cả cầm kỳ thi tửu, phong vân tuyết nguyệt, lu thuỷ cao sơn”[20, 623] Vàmột lần nữa Trơng Tửu lại khẳng định: “Chỉ có hát ả đào là kích thích đủ cácgiác quan đang thèm sống Chỉ có lối chơi ấy là thoả mãn đợc con ngời một cáchcầu kỳ, quý tộc Sống bằng giác quan, bằng tình dục, bằng các thứ vật chất báctạp, nhng vẫn giữ đợc tính cách quý tộc không lẫn với các đẳng cấp xã hội khác,
đó là tất cả nguyện vọng hành lạc của Nguyễn Công Trứ Và chỉ có sự hát ả đào
là giúp ông đạt đợc ý muốn ấy”[20, 627]
Nh trên ta đã nói, hành lạc là một cách để Nguyễn Công Trứ chống lại phú
hộ, thế lực chỉ biết làm việc và kiếm tiền, đang chiếm đa số các vị trí lãnh đạocủa xã hội Tuy nhiên ta cũng nhận ra đây là một cách đấu tranh mang h ớng tiêucực bởi muốn dành lại vị thế của mình trong xã hội thì trớc hết phải khẳng định
đợc năng lực trí tuệ và phải đấu tranh bằng con đờng chính trị Chính vì lẽ đó,Nguyễn Công Trứ muốn đỗ đạt và ra làm quan để thể hiện cái chí nam nhi củangời quân tử, là một món “nợ lần” cần phải trả Quan niệm đó đợc nhắc đi nhắclại dới ngòi bút thi ca của Nguyễn Công Trứ và nó cũng chính là lý tởng sống củanhà thơ khi còn đầu xanh tuổi trẻ:
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Trang 32Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Bằng sự phân tích của mình, Trơng Tửu đã xác định nội dung của quan niệm
ấy là do sự cấu tạo trực tiếp của ba yếu tố: “Sự hun đúc của thời nội loạn; Tâm lý
tự cao tự đại của quý tộc; Khí thế trung hng của sĩ phiệt” Ba yếu tố này kết hợpvới nhau “để sản xuất ra cái chí nam nhi của chàng thanh niên Nguyễn CôngTrứ” Cũng cần phải nói rằng: “Mệnh đề “nam nhi chí” dĩ nhiên không phải chờ
đến Nguyễn Công Trứ mới xuất hiện, nhng trong thơ văn ông nó thực sự trở nên
nh một tuyên ngôn, một quan niệm nhất quán, bền vững, một t tởng sáng tạo vớinhiều nội dung mới mẻ, độc đáo, ấn tợng, không khuôn sáo”[15] Cũng bởi cáichí nam nhi đó đã tạo nên “cuộc kích bác nội tại”, để đến năm 42 tuổi (1819)
ông đậu giải nguyên và bắt đầu một cuộc đời làm quan Khi Nguyễn Công Trứ ralàm quan là lúc xã hội Việt Nam cũng nh nền đế chế của triều Nguyễn bắt đầu cónhững thay đổi về mặt hình thái và xu hớng phát triển Có thể nói, đây là một thời
kỳ có nhiều biến động nên sự nghiệp chính của ông trên con đờng “hoan lộ” là
“sự nghiệp “vi thần” xứng đáng là một tay sĩ phiệt Tống Nho”[20, 654], đúng nhlời ông nói:
Nặng nề thay hai chữ quân thân
Đạo vi tử vi thần đâu có nhẹ!
Biện Minh Điền cho rằng: “Nói đến Nguyễn Công Trứ ngời ta thờng nghĩ đếncon ngời “ngoài vòng cơng toả” trong ông Nhng thực ra đấy mới chỉ là một mặt.Trớc khi đề cao con ngời ngoài vòng cơng toả, con ngời cá nhân sống theo ýthích của mình, bao giờ Nguyễn Công Trứ cũng xác định rõ phải là con ngờiphận sự, “hoàn danh” đã…” Phận sự là gánh càn khôn, công danh, sự nghiệp, chí
nhi không thể trốn tránh, chối từ Ngợc lại phải tính cho xong, Nợ trần hoàn quyết trả cho xong Bao nhiêu nợ tang bồng đem trả hết Nhân cách là ở chỗ đó.
Cái hơn ngời của Nguyễn Công Trứ là nói đợc làm đợc”[15]
Thiết tởng với cái “tinh thần trung trinh” ấy, ông sẽ đợc vua yêu chúa mến,triều đình kính nể Ngợc lại ông toàn nhận lại sự “thù ghét, bạc đãi, hành hạ” từphía đó Để giải thích vì sao Nguyễn Công Trứ phải chịu nỗi “khảm kha bấtbình” ấy, Trơng Tửu đã dẫn ra lời của giáo s Lê Thớc làm cơ sở cho sự phân tíchcủa mình: “Xét ra cụ Nguyễn Công Trứ làm quan sở dĩ hay bị truất giáng nh thế
là bởi tại cụ cũng có; ngời có tài thờng hay cậy tài và hay mang oán nhng phầnnhiều là bởi tại nhà vua không muốn trọng dụng cụ…” Nhà vua thấy cụ có tài cao
đức trọng ai cũng kính phục không muốn để cái thanh thế cụ lớn lên quá, sợ khó
Trang 33giá ngự về sau, vì thế cho nên đã lấy ân mà cất lên lại phải dùng oai mà cấtxuống”[20, 657] Từ lời nhận xét đó, Trơng Tửu đã phân tích tìm hiểu để đa ra lý
do mà triều đình phong kiến lúc bấy giờ đã đối xử với Công Trứ Ông cho rằng,
để dẫn đến hiện tợng “ngời tài hay cậy tài” và cả “độ phạm thợng của ngời có tàinữa cũng không hẳn chỉ là tính khí cá nhân mà thôi Căn nguyên ấy còn là sự tổchức bất hợp lý của xã hội” Nếu chỉ có vậy để cắt nghĩa nguyên nhân chìm nổicủa Nguyễn Công Trứ thì cha xác đáng nên mới dẫn đến chứng thuyết thứ hai:Nhà vua không muốn trọng dụng ngời hiền tài Vì nhà vua chỉ chăm lo cho vunxới cho quyền của bản thân mình “Đối với dân thì chuyên chế, đối với lân bangtiểu quốc thì xâm lăng, địa chủ phải gánh vác quân phí nên sự bền vững đế quyền
là rất mong manh” Nhà vua tuy có cả một bộ máy quan liêu tôi tớ ủng hộ màvẫn thấy bất lực nếu không có lực lỡng sĩ phiệt giúp sức để trị dân Cũng chính vì
lẽ đó mà luôn luôn nhà vua sợ ngời hiền tài (sĩ phiệt) nhân cậy tài mà đảo chính”nên triều đình dùng chính sách nớc đôi “thi ơn đấy lại thi oai đấy”[20, 662] Vìthế mà Nguyễn Công Trứ là ngời bị nạn của tình trạng chính trị ấy Nhng đó còn
là sự “nhỏ nhen thù hằn của hạng qúy tộc và quan liêu cao cấp” bởi họ sợ đụngchạm đến quyền lợi của họ Qua phân tích ở trên, Trơng Tửu cho ta có một cáinhìn khái quát về xã hội cũng nh các tầng lớp quan lại vua tôi trong triều Nguyễn
mà cụ thể dới thời của vua Minh Mạng chỉ biết chăm lo vun vén cho quyền lợicủa chính mình mà bất chấp tất cả Một lần nữa Trơng Tửu lại khẳng định:
“Nguyễn Công Trứ gặp nhiều sóng gió trong biển loạn là vì chế độ chính trị đơngthời hủ lậu, đế quyền thì bị đại hoàn cảnh xã hội làm cho khuynh bại, còn phân
số hoàng phái và quý tộc quan liêu thì mất hết nhân cách tiến bộ, không còn
đóng vai trò quản trị đắc lực đợc nữa”[20, 663] Trong hoàn cảnh nh vậy, NguyễnCông Trứ sẽ có những hành động gì để phản kháng? Nếu nh các nhà nho cùngthời với ông, cùng phải chịu những cảnh ngộ nh ông có ngời “phẫn uất đến nổiloạn” nh Cao Bá Quát, có ngời lánh về sống và làm bạn cùng cỏ cây hoa lá ởvùng nông thôn nh Nguyễn Khuyến…” thì Nguyễn Công Trứ “vẫn một niềm
“nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung” và lúc nào cũng chăm lo “ơn thuỷ thổ phải
đền cho vẹn sóng” Ông theo đúng giáo lý của Tống Nho coi nhà vua nh mộtthực thể thiêng liêng vâng mệnh Trời để trị dân không ai đợc quyền xâm phạm
đến” Cho nên với vu, ông một lòng trung thành dù nhà vua có vi phạm đếnquyền lợi và hạnh phúc của ông
Với những điều phân tích ở trên, Trơng Tửu đa ngời đọc đến với nhân cáchcao thợng của Nguyễn Công Trứ Từ thở thiếu thời Nguyễn Công Trứ đã có ớcvọng công hầu mà ông đã phải cố gắng thực hiện nó trong một thời gian rất dài
Trang 34Khi đỗ đạt làm quan, ông đem tất cả tài năng và sức lực của mình để cống hiếncho giang sơn xã tắc với một “lòng trung trinh” Vậy mà cái ông nhận đợc ở đóchỉ là sự hậm hực, ghen ghét nhng không phải vì thế mà ông quay lng lại với thờicuộc Ông vẫn làm quan, “can đảm vợt lên khỏi thói thờng, đặt nghĩa vụ và nhânphẩm lên khỏi tiền bạc và danh vọng h hèn”[20, 664] Trong hoàn cảnh xã hội ấylại càng làm cho tính khí của ông ngang tàng, hiếu chiến hơn Đó là tính khíthiên bẩm và là kết quả của giáo dục Tống Nho ở gia đình ông nhng cũng vìmuốn phản kháng lại xã hội đó mà ông lại càng trở nên ngang tàng, “trọng nghĩakhinh tài” một cách khắt khe hơn “Ông cố trèo lên tận đỉnh sự liêm khiết để có
đủ điều kiện để khinh bỉ” những kẻ đã hành hạ ông Nhng dù ông có rộng lợng
bao nhiêu và luôn giữ một thái độ thản nhiên: Đã thế thì thôi, thôi mặc thế Công
đâu cho nhọc giận ngời dng, “ông cũng không khỏi buồn lòng vì những cảnh đời
đen bạc, giả dối, độc ác, tham lam, bội bạc” Chính cuộc sống đó làm cho ôngthấy “ghê tởm, ngán ngẩm”, lắm lúc nó làm cho ông trở nên “cáu kỉnh, chửirủa”:
Nghe nh chọc ruột tai làm điếc
Giận đã căm gan miệng mỉm cời
Nhng với một con ngời cha từng làm ngơ trớc bất cứ vấn đề gì của cuộc sốngthì làm sao ông có thể giả vờ nh không có việc gì xảy ra đợc Nhân duyên đó nhtrói buộc ông vào thực tại của cuộc sống, không thể tháo gỡ ra đợc nên ông lại tựtìm đến triết lý thiên mệnh để tự an ủi mình, ông cho rằng tất cả là bởi cái số: Bởi số chạy đâu cho khỏi số
Luỵ ngời nên nỗi phải chiều ngời
Mặc ai chớ để điều ân oán
Chung cục thời chi cũng tại trời
“Tại trời nên ông bị giáng chức luôn; tại trời nên nhà vua ngờ vực, đìnhthần thù ghét hãm hại ông; tại trời nên “sự đời tráo trở giống bàn tay; tại trời nênthế thái nhân tình “nhạt nh nớc ốc bạc nh vôi”; tại trời nên xã hội bày ra một nỗichênh lệch, bất công, đau khổ”[20, 669]
Trang 35Tuy mệt mỏi là vậy và phải chấp nhận tất cả những điều đó là tại trời nhng
ông vẫn cha chấp nhận sự thất bại của bản thân và đẳng cấp ông, bởi đẳng cấpcủa ông dù không “oanh liệt” nh trớc đây “nhng vẫn cần thiết cho nền đế chế”nên ông vẫn hy vọng sẽ có sự thay đổi có lợi cho đẳng cấp của ông Chính cáithuyết tuần hoàn đó, đã cho ông niềm lạc quan, hy vọng vào cuộc sống, vào tơnglai từ thở thiếu thời Bởi thế cho nên dù thực tại cuộc sống bao nỗi bất công, đauxót ông vẫn vợt lên để sống và làm việc với một tinh thần đầy trách nhiệm; dù ởcơng vị nào, một vị “đại tớng” ông cũng chẳng thấy hãnh diện, hạnh phúc haylàm một anh “lính thú” cũng chẳng vì thế mà tủi nhục Nguyễn Khắc Hoạchtrong bài viết của mình cũng đã nhận xét: “Cuộc đời xuất chính của NguyễnCông Trứ còn một sắc thái đặc biệt khác nữa là ngời đã bao phen bảy nổi ba chìmtrong bể hoạn, khi thăng khi giáng, lúc đợc lên tột bậc nền đỉnh chung, lúc phảixuống thấp sống cuộc đời ngơì thứ dân không áo bào khanh tớng:
Trên trờng danh lợi vinh liền nhục,
Trong cuộc trần ai khóc lộn cời…”
Tuy vậy đứng trớc thử thách của số mệnh ngời vẫn giữ đợc các phong tháibình dị của triết nhân Không kiêu căng khi đắc thế, không thối chí hay bán rẻnhân cách lúc sa cơ…” Đó phải chăng là thái độ của kẻ sĩ biết rõ đâu là chân giátrị của mình, biết phân biệt đâu là danh h ảnh, đâu là sự nghiệp vẻ vang”[51] Tất cả mọi sự vật tồn tại trong đời sống này đều có quy luật chung của nó.Vì thế, với một xã hội độc tài đang có nhiều biến động thì làm sao tránh đợc “vật
đổi sao dời” Trong hoàn cảnh đó, hơn ai hết Nguyễn Công Trứ là ngời ý thức rất
rõ về đẳng cấp của mình Một mặt, ông thấy đợc sự “lép vế” của sĩ phiệt trong xãhội, mặt khác ông cũng thấy đợc vai trò cần thiết của đẳng cấp mình trong côngviệc quản trị, vì thế tạo cho ông có thêm niềm hy vọng vào sự thay đổi Tuynhiên trong hoàn cảnh xã hội cuối đời Minh Mạng thì đẳng cấp sĩ phiệt không đủtài lực để đa xã hội phát triển theo xu thế mới bởi nó là sản phẩm của nền kinh tếnông nghiệp, với những triết lý và chính trị Tống Nho của nó đã trở thành mộtsức cản đối với sự phát triển của thơng nghiệp và công nghiệp Đến năm 1858,khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên ở Đà Nẵng, báo hiệu một thời kỳ mớibắt đầu, giai cấp sĩ phiệt đến đây đã hết vai trò lịch sử
“Linh cảm thấy xu hớng tàn vong của đẳng cấp mình, Nguyễn Công Trứkhông khỏi buồn nản hoang mang và không tránh đợc cái ý muốn thoái lui cuộc
đời phấn đấu để “ngoài vòng cơng toả chân cao thấp” mà nhàn tản phiêu lu “đặcngựa bò vàng đeo ngất ngỡng” mà “hầu gái một vài cô, hầu trai năm bảy cậu, này
cờ này kiệu, này rợu này thơ, này đàn ngọt hát hay, này chè chuyên chén mẫu tay
Trang 36thao lợc đủ ngoài vòng cơng toả lấy gió mát trăng thanh làm tri thức, tuổi trời ítnữa ấy là hơn”[20, 672].
Đến đây ngời đọc dờng nh không còn đợc chiêm ngỡng một Nguyễn CôngTrứ ngang tàng và luôn biết cách động viên an ủi bản thân để có thêm niềm tin và
hy vọng vào tơng lai mà thấy một Nguyễn Công Trứ “bi quan, mệt mỏi, sợ hãi sốmệnh” Từ đó Trơng Tửu kết luận: “Một ngời khoẻ, hiếu chiến và lạc quan nhNguyễn Công Trứ mà chỉ vì đại diện cho một giai cấp đang phá sản nên đã hoá rachán đời và tin theo những quan niệm h ảo thần bí Đủ biết dù cứng cỏi đến đâu,một cá nhân cũng không thể cỡng đợc sức lôi cuốn của trào lu giai cấp mình- trừ
ra khi nào gặp đợc nhiều điều kiện đặc biệt, cá nhân tách hẳn ra khỏi giai cấp cốhữu để nhập khối với một giai cấp tiến bộ khác”[20, 676]
Cũng nh các nhà nho khác vì thực tại cuộc sống bí bách, chán nản nênNguyễn Công Trứ cũng có thái độ cầu nhàn và thoát tục Ông tìm đến với thếgiới Phật, Lão Ông đến đây không phải để “khổ hạnh diệt dục” mà để “hởng thụcuộc đời lạc thú” Đi tu, ngời ta ăn chay niệm phật nhng với ông, ông đi tu bằng
“rợu, thơ, cờ, đàn, ả đào, giăng gió, núi sông” Nếu thở thiếu thời ông hành lạc đểlấp chỗ trống và đợi ngày treo ấn phong hầu thì bây giờ ông thoát tục là để muốnthoát ra khỏi vòng danh, lợi của cuộc đời, đi tìm lẽ sống cho riêng mình ở cuộcsống này, dờng nh “cá tính” của Nguyễn Công Trứ đợc thể hiện một cách triệt đểhơn Vậy mà ông vẫn cảm thấy bất mãn với cuộc sống đó:
Không dng ngồi trách ông xanh
Khi vui muốn khóc buồn tanh lại cời
Kiếp sau xin chớ làm ngời
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
“Một giai cấp thống trị mà đã đẻ ra đợc một tâm hồn mệt mỏi, chán chờng
đến thế thì tất là sắp phải “thoát tục” để nhờng quyền lãnh đạo cho một giai cấpkhác thực tiễn hơn, cờng tráng hơn, tiến bộ hơn”[20, 679]
Từ những phân tích ở trên, Trơng Tửu đã hình dung ra trớc mắt ngời đọchình ảnh của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, với một chế độ
độc tài, với những con ngời, những giai cấp mâu thuẫn và đối kháng lẫn nhau Đi
từ hình thái ý thức xã hội và các đẳng cấp đơng thời, tác giả làm rõ tâm lý và t ởng của Nguyễn Công Trứ ở từng giai đoạn của cuộc đời Từ đó ông cho ngời
t-đọc thấy đợc sự thống nhất cũng nh những đổi thay trong t tởng của NguyễnCông Trứ nh một tất yếu của cuộc sống Đó không chỉ là vấn đề của riêng ông
mà còn của cả tầng lớp nho sĩ lúc bấy giờ cũng phải chịu bất công và đau khổ nh
ông Kết thúc bài viết, Trơng Tửu tổng kết: “Nhờ có biệt tài văn chơng, ông đã
Trang 37ghi chép đợc cuộc sống ý thức của mình trong các vần thơ ca tuyệt diệu Nênchúng ta ngày nay mới nhận thấy rõ đợc mọi hình thái phức tạp, mọi phát triểnbiện chứng, mọi kết quả lịch sử của hiện tợng tranh đấu trên Ông đã làm chứngnhân của thời đại ông vậy Và những chứng cớ chủ quan của ông về thời đại càng
có giá trị nhiều hơn bởi ông đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch trình tiếnhoá của thời đại ấy Chính chủ quan tâm của ông (tâm lý và t tởng)- diễn trongthi ca đã là một tài liệu quý giá giúp ta hiểu đợc rõ ràng trạng thái khách quancủa cuộc đấu tranh nọ Miễn là phải nghiên cứu nó theo biện chứng pháp duyvật”[20, 680]
Với phơng pháp phê bình khoa học, Trơng Tửu đã phân tích, quan sát, pháthiện tâm lý và t tởng của Nguyễn Công Trứ trên nhiều khía cạnh khác nhau củacuộc sống, nhằm làm nổi bật chí khí của ngời quân tử, dựng lên chân dung củamột nhà nho trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy những bất công ngang trái Chỉ bằngvài nét khắc hoạ, nhà phê bình không chỉ vẽ ra chân dung một con ngời mà còn
là chân dung một đẳng cấp, một thời đại Tất cả những hình ảnh đó, nh hiện ra
tr-ớc mắt ngời đọc nh bằng xơng bằng thịt qua một số dẫn chứng tiêu biểu
Chơng 2 Trơng Tửu với văn học Việt Nam hiện đại
2.1 Trơng Tửu với thơ Tản Đà
Trang 38Với cốt cách của một nhà nho tài tử, Tản Đà nổi lên nh một ngôi sao sáng, lạtrên bầu trời văn chơng Việt Nam ba thập niên đầu thế kỷ Đó là một cây bút độc
đáo, xông xáo trên nhiều lĩnh vực: làm thơ, soạn tuồng, viết nghị luận bàn luân lýgiáo dục, dịch thuật Ông còn viết biên khảo, viết lịch sử văn học Bằng một nghệthuật điêu luyện, một cá tính sắc cạnh, phóng khoáng, một hồn thơ dân dã, ngọtngào, Tản Đà đã thổi một luồng gió mới, khai sinh cho nhiều thể loại của văn họcViệt Nam hiện đại Tản Đà là chiếc cầu bắc ngang qua văn học cổ điển và cácnhà Thơ Mới
Với tấm lòng yêu mến một nhà thơ đợc xem là ngời mở đầu cho nền văn họchiện đại, Trơng Tửu đã tiếp cận thơ Tản Đà theo cách nhìn và phơng pháp phêbình của riêng ông, nhằm làm nổi bật cái thiên tài cũng nh những cái hay trongthơ Tản Đà Cũng nh những công trình nghiên cứu mà chúng ta vừa tìm hiểu ởtrên, để bắt đầu cho bài nghiên cứu của mình, Trơng Tửu đa ra những yếu tố đã
“thai nghén” nên thiên tài Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Ông bắt đầu bài nghiêncứu của mình bằng một định luật: “Con ngời là sản vật của hoàn cảnh” Theo ôngnhững “điều kiện vật chất và tinh thần hình thành nên cá tính của một ngời là: ditruyền, gia đình, giáo dục, tập quán, nghề nghiệp, địa vị xã hội Với nhữngnguyên liệu có sẵn trong hoàn cảnh từng ngời, tài và tình kiến thiết cho cá nhânmột cuộc đời, một sự nghiệp”[20, 33] Ông khẳng định, từ xa, con ngời đứngtrong hoàn cảnh mình, “tự mình làm ra đời mình bằng tài và tình chứa chất trongmình” Nhng ông cũng cho rằng, con ngời không phải khi nào và con ngời nàocũng đạt tới đỉnh cao bản của ngã hay nói cách khác ít ngời có thể phát huy đầy
đủ cái tài và cái tình của mình Trong cuộc sống, cái tài và cái tình th ờng bị “uốncong theo dục vọng tầm thờng” và chỉ có ngời nghệ sĩ mới có thể đạt đến cái tinhtuý ấy bởi họ có thể gạt bỏ đợc những cái thấp hèn của trái tim, đứng lên trên mọivấn đề về thế sự để chăm lo, vun xới, phát triển cho cái tài, cái tình để họ đợcsống trong cái tài và cái tình ấy Tuy nhiên dù tự do phát triển đến đâu thì nó vẫnchịu sự chi phối của hoàn cảnh nghĩa là của nòi giống và giai cấp, chỉ có ở đóthiên tài mới đợc bộc lộ một cách tuyệt đối Từ định luật ngàn năm ấy, TrơngTửu khẳng định Tản Đà là một thiên tài
Tản Đà sinh ra và lớn lên giữa cảnh đất nớc từ Bắc đến Nam các phong trào
đấu tranh đòi giải phóng diễn ra sôi nổi nhng tất cả các phong trào đấu tranh đó
đều thất bại Vì thế, đã để lại trong ông nổi bất lực buồn tẻ Trong hoàn cảnh đó,Tản Đà nhận thấy “sức hoạt động của dân tộc chỉ còn đợc đứng vững trong vòngvăn hoá” nên ông đã bỏ bút lông cầm bút sắt những mong sẽ “phụng sự một danhvọng to tát và rộng rãi”[20, 36] Từ đó để “bài trừ tà đạo, triệt căn tà dục…” bằng
Trang 39cách phát huy nghĩa thiên lơng”[20, 36], với hy vọng thiên lơng sẽ làm cho conngời phát triển tự nhiên đúng nhịp và nó cũng sẽ làm cho xã hội ngày càng pháttriển theo hớng tốt đẹp hơn Với hoài bão hành lạc đó, Tản Đà bớc sang làm báonhng sau bao nhiêu năm lăn lộn với giấc mơ thiên lơng của mình ông đã thất bạihoàn toàn.
Từ việc phân tích những yếu tố đã làm nên thiên tài ở Tản Đà cũng nh nhữngnguyên nhân dẫn đến thất bại của tiên sinh trong công cuộc hành đạo Trơng Tửu
đã cho ta thấy vẻ đẹp tâm hồn của một nhà Nho Dù nghèo nàn, đói khổ nhà Nhovẫn giữ trọn danh tiết của mình không cầu xin, quỵ luỵ để mong danh hiển Đốivới họ, “sự nghiệp quý nhất của một ngời không phải là sự nghiệp chính trị xãhội hay văn chơng mà chỉ là một sự nghiệp luân lý” Vì thế mà Tản Đà thà “ăncơm hẩm uống nớc lã chứ không thể bỏ đợc tự do của tâm hồn”[20, 37] Có lẽ vìthế mà Trơng Tửu đã khẳng định: “Đời tiên sinh là một tấm gơng về luân lý- cáiluân lý tu đức hà khắc của đạo Nho Xét về đức hạnh, tiên sinh đợc quyền đứngtrong linh tự thất thập nhị hiền”
Giữa xã hôi, ngời ta đua nhau chen vào vòng danh lợi, xô đẩy nhau vào con
đờng tội lỗi thì ông lại dùng ngòi bút “triết nhân trình bày một liều thuốc đắng” Trong xã hội đó, “liều thuốc” mà ông đa ra không hiệu quả bởi dờng nh ông đãkhông bắt trúng căn bệnh của xã hội lúc bấy giờ nên ông thất bại Còn chế độ ng-
ời bóc lột ngời thì làm sao thoát khỏi những nghèo đói, đau khổ, tội lỗi Còn nóthì có đến trăm nghìn Tản Đà cũng không thể thực hiện đợc giấc mộng thiên l-
ơng Mặc dù vậy nhng ông vẫn “giữ trọn cốt cách quân tử của nhà Nho và muốnthực hành cái triết lý duy tâm của đạo Nho Cái sở ớc thứ hai mâu thuẫn với cái
sở định thứ nhất Và cả hai cái đều mâu thuẩn với hiện trạng xã hội ”[20, 38] Một điều dễ nhận thấy là cách phân tích lôgíc của Trơng Tửu từ đầu bài viếtnhằm chỉ ra những điều kiện hình thành nên cá tính của Tản Đà cũng nh nhữngyếu tố đã làm nên một thi nhân Và ông cũng khẳng định: “Thơ Tản Đà luôn luôn
có hai màu sắc, hai ý vị đi nối tiếp nhau: bi quan và lạc quan Hai thứ đó đi theonhau liên miên, khi cái trớc cái sau, khi hoà cùng một mối, ban cho thơ Tản Đàmột phong thể kỳ diệu và một hơng thơm phức tạp”[20, 38], làm nên những cáihay trong thơ Tản Đà
Với việc đọc lại những sáng tác thơ của Tản Đà, Trơng Tửu đã có những “kýnhận” của riêng mình:
Ký nhận thứ nhất: “Thơ Tản Đà không đều, có bài thật hay, có bài thật dở.Nhiều khi ngay trong một bài cũng có những câu cỡng ép lẫn vào câu trác tuyệt”
Trang 40Ký nhận thứ hai: “Tản Đà làm thơ rất công phu và rất khó tính…” Tiên sinh
có thừa thãi hai đức tính cốt yếu làm nên một thi hào: ý thức của thơ và lơng tâmcủa nhà thơ”
Ký nhận thứ ba: “Thơ Tản Đà rất An Nam”
Ký nhận thứ t: “Thơ Tản Đà nó sẽ còn mãi với thời gian, nó bất hủ”
Từ ba cái ký nhận ban đầu Trơng Tửu nhằm khẳng định và làm rõ thêm cho
ký nhận thứ t Đây cũng là một điều duy nhất ông muốn khẳng định với bao thế
hệ độc giả về giá trị của thơ Tản Đà Nh chúng ta đã biết, không phải nhà thơ,nhà văn nào cũng có thể chịu đợc sự sàng lọc của thời gian, có những sáng tácviết ra ngời ta đọc một lần rồi quên ngay, nhng cũng có những sáng tác chỉ cầnmột lần đợc tiếp xúc song đã để lại những dấu ấn khó quên trong lòng bạn đọc.Trơng Tửu đã dùng hình ảnh so sánh thật thú vị để ca ngợi giá trị thơ của Tản Đà,
ông ví thơ Tản Đà giống nh một cái nhẫn, chính mình cái vòng nhẫn làm bằngthứ vàng pha sẽ mất đi hoặc sẽ bị vứt bỏ nhng “mặt đá kim cơng thật hạt nạm vàocái vòng nhẫn ấy thì đến muôn vạn đời sau vẫn còn giá trị” Từ hình ảnh so sánh
đó ông khẳng định với một niềm tin chắc chắn: “Thơ Tản Đà một trăm năm nữa,một ngàn năm nữa, cũng vẫn đợc ngời ta đọc, ngâm, yêu, truyền tụng…” Tản Đàchịu đợc sự đọc lại Thế đã là nhiều lắm đối với một nhà thơ Đó cũng là tất cả sởnguyện của ngời cầm bút” [20, 43] Những phân tích ở trên khẳng định những giátrị trong thơ Tản Đà và cũng để ngời đọc thấy đợc những đóng góp của thi nhân
đối với nền văn học Việt Nam, xứng đáng là ngời mở đầu cho văn học Việt Namhiện đại và là chiếc cầu nối giữa hai nền văn học cổ điển và hiện đại
Là một nhà phê bình có khả năng đặc biệt trong việc nắm bắt hồn thơ, TrơngTửu phát hiện ra những “chữ thần” nhằm thấy đợc “cái hay, cái thú, cái đẹp, cái
ma quỷ của đời Tản Đà” và đó cũng là “cái đời tinh tuý của thi nhân” mà TrơngTửu muốn sống- cái sống tiềm thức Bởi ở đó tôi gặp những cuộc ca vũ nhịpnhàng của âm điệu, tôi gặp những mãnh lực thần kỳ của chữ, những hội bay linhdiệu của hình tợng Tôi tởng đang lạc vào thế giới của từ ngữ và hoà nhạc”[20,44]
Theo lời nhận xét của đại thi hào Valery, “những cõi thơ thuần chất giống
nh lửa, loài ngời chỉ có thể đi qua, không thể lu trú tại đấy đợc” Mà chỉ có nhữngngời đặc biệt (thi nhân) mới đợc quyền đi qua chốn ấy Trơng Tửu cho rằng Tản
Đà đã đi qua chốn ấy bằng đôi cánh nặng nề của trí tuệ bởi Tản Đà “không phải
là một ngời đa cảm, cũng không phải là một nhà t tởng, tiên sinh là một ngời trithức” mà ngời trí thức thì rất giỏi về lý luận