1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của trường chinh về lí luận văn hoá, văn nghệ cách mạng thời kỳ 1945 1954

58 353 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của Trường Chinh về lí luận văn hoá, văn nghệ cách mạng thời kỳ 1945-1954
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thuỷ
Người hướng dẫn Lê Văn Dương
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận Văn hoá, Văn nghệ Cách mạng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một điều dễ nhận thấy nhất là công trình nghiên cứu nào cũng nhắc đến sự đóng góp của Trờng Chinh gắn liền với ba nguyên tắc vận động của nền văn hoá mới đợc nêu ra trong Đề cơng văn hoá

Trang 1

Trêng §¹i häc vinh

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Chúng ta đã từng biết đến Trờng Chinh với t cách là một nhà hoạt

động chính trị Cuộc đời ông gắn bó trọn vẹn với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ở t cách là một nhà hoạt động chính trị, Trờng Chinh đã có nhiều cống hiến quan trọng cho Đảng, cho cách mạng và dân tộc suốt một thời

kỳ dài với nhiều sự kiện quan trọng từ kháng chiến chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đến thời kỳ chống Mỹ cứu nớc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

1.2 Không chỉ giới hạn ở t cách là một nhà hoạt động chính trị, Trờng

Chinh còn là một nhà báo, nhà thơ, nhà lý luận phê bình văn hoá, văn nghệ Trên cơng vị là Tổng Bí th, vừa là nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ của Đảng, Trờng Chinh đã có nhiều đóng góp lớn cho sự hình thành và phát triển của lý luận văn hoá văn nghệ cách mạng qua nhiều thời kỳ trong đó có lý luận văn hoá, văn nghệ thời kỳ 1945 - 1954

1.3 Thế nhng, cho đến nay số lợng các công trình nghiên cứu về những

đóng góp của Trờng Chinh đối với lý luận văn hoá văn nghệ thời kỳ 1945 -

1954 còn ít

Đó là những lý do giải thích vì sao chúng tôi lại tìm đến đề tài này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Nh đã nói ở trên, những đóng góp về lý luận xây dựng nền văn hoá

văn nghệ cách mạng thời kỳ 1945 - 1954 của Trờng Chinh dù cha đợc nghiên cứu với t cách là một đối tợng riêng, độc lập nhng không phải các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cha đề cập đến Vấn đề mà đề tài nghiên cứu đã đợc trực tiếp hoặc gián tiếp trình bày trong các công trình nghiên cứu sau:

- Vũ Đức Phúc, Bàn về những cuộc đấu tranh t tởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930 - 1954), Nxb Khoa học Xã hội, H, 1971

Trang 3

- Vũ Đức Phúc, Thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để đờng lối văn hoá nghệ thuật của Đảng (nhân việc tái bản Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam của đồng chí Trờng Chinh), Tạp chí Văn học, số 6,1974

- Hoàng Xuân Nhị , Tìm hiểu đờng lối văn nghệ của Đảng giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Văn học , H, 1975

- Nh Phong, Đọc lại bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam,

Tạp chí Văn học, số 2, 1975

- Phan Cự Đệ, Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, H, 1979

- Lề Đình Kỵ - Phơng Lựu, Cơ sở lý luận văn học, tập III, Nxb Đại học

và Trung học chuyên nghiệp , H, 1983

- Nh Phong, Chúng tôi tiếp thu bản Đề cơng văn hoá Việt Nam, Tạp chí

- Phơng Lựu, Tiếp tục khơi dòng, Nxb Văn học , H, 2000

Một điều dễ nhận thấy nhất là công trình nghiên cứu nào cũng nhắc đến

sự đóng góp của Trờng Chinh gắn liền với ba nguyên tắc vận động của nền văn hoá mới đợc nêu ra trong Đề cơng văn hoá Việt Nam - 1943: Dân tộc hoá,

Khoa học hoá, Đại chúng hoá nh là một xuất phát điểm quan trọng nhất Dân tộc hoá là phải "chống mọi ảnh hởng nô dịch khiến cho văn hoá Việt Nam phát

Trang 4

triển độc lập " Đại chúng hoá là "chống mọi chủ trơng hành động làm cho văn hoá phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng", Khoa học hoá là "chống lại tất cả những gì làm cho văn hoá trái khoa học , phản tiến bộ"

Đồng thời những công trình nghiên cứu trên còn đi vào phân tích, đánh giá những vấn đề mà bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948) đã

đề cập nh : Mối quan hệ giữa văn hoá văn nghệ với kinh tế, chính trị, Vấn đề về

" lập trờng văn hoá mac - xit", Tính chất và nhiệm vụ của văn hoá dân chủ mới Việt Nam và những vấn đề cù thể của văn học nghệ thuật nớc ta trong thời điểm

đó

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu này đã chú ý đến sự đóng góp của Trờng Chinh cho lý luận về một nền văn nghệ mới đặc biệt là những đóng góp cụ thể, trực diện của ông đối với lý luận văn nghệ nh vấn đề về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, điển hình hoá trong sáng tác nghệ thuật, vấn đề

về nghệ thuật và tuyên truyền Tuy nhiên, các tác giả cha đi vào phân tích

một cách sâu sắc và toàn diện mà còn khái quát chung chung

Phan Cự Đệ ở bài viết Trờng Chinh, in trong Nhà văn Việt Nam, tập 1,

nhận định: Trờng Chinh "là ngời vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác -

Lê nin vào thực tiễn sinh động của văn nghệ Việt Nam , ( ) xây dựng một cơ

sở lý luận mác - xít đầu tiên cho phát triển một nền văn hoá dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa, xây dựng một lý luận hoàn chỉnh về cách mạng t tởng vàvăn hoá, làm phong phú thêm kho tàng lý luận mác - xít, lý luận cách mạng của

Đảng ta"[8,359] Phan Cự Đệ đã lấy Đề cơng văn hoá 1945, Chủ nghĩa Mác

và văn hoá Việt Nam (1948) để tìm hiểu cơ sở lý luận khoa học về cách mạng

văn hoá và t tởng của Trờng Chinh

Tuy nhiên, một đóng góp rất quan trọng của Trờng Chinh là ba phơng châm Dân tộc - Khoa học - Đại chúng cha đợc bài nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc và toàn diện Tác giả chỉ tập trung phân tích "ba căn bệnh lớn" của văn hoá văn nghệ hợp pháp lúc bấy giờ là: phản dân tộc, phản khoa học, phản

đại chúng và nhận xét: "ba nguyên tắc đó là ba liều thuốc nhằm đúng những căn

Trang 5

bệnh xanh xao, mất máu, mê sảng, hoảng loạn của nền văn hoá hợp pháp Đó cũng là những mũi dao giải phẫu đang cắt bỏ những bọc ung th giết ngời của nền văn hoá phát xít nô dịch" [8, 373]

Với bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948), Phan Cự

Đệ tập trung phân tích vấn đề xây dựng thế giới quan mác - xít cho các nhà văn

và vấn đề tính Đảng của ngời chiến sĩ trên mặt trận văn hoá Đồng thời ông cũng nhận định Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam: "Là tác phẩm lý luận

đâu tiên có tính chất hệ thống về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam"[8, 374]

Đọc bài viết của Phan Cự Đệ, ta có thể thấy đợc những đóng góp trực diện của Trờng Chinh cho lý luận văn học nghệ thuật nh Hiện thực xã hội chủ nghĩa, vấn đề điển hình hoá nghệ thuật, vấn đề nghệ thuật và tuyên truyền đợc

trình bày trong bản báo cáo không đợc tác giả phân tích cụ thể

Chẳng hạn, về vấn đề điển hình hoá nghệ thuật, tác giả dẫn lời của Trờng Chinh: "Phơng pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi điển hình hoá đến cao

độ Điển hình trong nghệ thuật là những nét, những tính cách bản chất nhất, quan trọng nhất trong đời sống xã hội đợc tập trung biểu hiện và nâng cao qua

sự khái quát hoá và cá thể hoá của ngời nghệ sĩ Tác phẩm văn nghệ phải thể hiện sự sống "chân thật hơn cả sự sống bình thờng" là nh thế "[8,387]

Vấn đề nghệ thuật và tuyên truyền trở thành cuộc tranh luận giữa các văn nghệ sĩ mà căn nguyên là làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị lúc bấy giờ Phan Cự Đệ viết: "Đồng chí Trờng Chinh đã phê phán tận gốc rễ những biến thái của quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, những quan niệm sai lầm về tự do tuyệt đối của nghệ sĩ và có thể xem đây là bản tổng kết cao nhất cuộc tranh luận giữa Đặng Thai Mai và Tô Ngọc Vân chung quanh vấn đề nghệ thuật và tuyên truyền " [8,376]

Hoàng Xuân Nhị, trong cuốn Tìm hiểu đờng lối văn nghệ của Đảng giai

đoạn dân tộc dân chủ nhân dân, viết: "Bản Đề cơng đặt ra và giải quyết vấn đề

cách mạng văn hoá, văn nghệ Việt Nam , phạm vị ở đây là giải quyết về lý

Trang 6

luận , đề ra những nguyên tắc, phơng châm lớn cho cuộc vận động mà Đảng sẽ tiến hành, tóm lại, là đề ra đờng lối cách mạng văn hoá, văn nghệ Việt Nam " [14, 155] Và ba phơng châm vận động văn hoá mới lúc này đợc tác giả phân tích là "ba khẩu hiệu chiến lợc để cải tạo toàn bộ nền văn hoá, văn nghệ Việt Nam, để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng nền văn hoá, văn nghệ độc lập, dân chủ

và hiện đại của dân tộc ta"

Tác giả phân tích khá cặn kẽ những tiền đề lịch sử xã hội - văn hoá văn học dẫn đến sự ra đời của Đề cơng văn hoá Việt Nam 1943 và ý nghĩa của Đề cơng trong bối cảnh xã hội, văn hoá đó Hoàng Xuân Nhị cũng phân tích bài

viết Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam lúc này

(1944), nhấn mạnh yêu cầu thực hiện ba phơng châm dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá và nhận định: "Ba khẩu hiệu ấy nhằm cứu chữa triệt để "ba căn bệnh lớn" của văn hoá Việt Nam dới ách thực dân, phát xít Có thể nói đó là

ba khẩu hiệu chiếnlợc để cải tạo toàn bộ nền văn hoá văn nghệ Việt Nam " [14, 159]

Để trình bày tiếp đờng lối văn nghệ của Đảng, Hoàng Xuân Nhị tiếp tục phân tích bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948) của đồng

chí Trờng Chinh với đánh giá: "Báo cáo này đã phát triển sâu rộng bản Đề cơng văn hoá Việt Nam của Đảng, nêu nổi bật những quan điểm cơ bản của Đảng về

văn hoá, văn nghệ, giải thích cặn kẽ đờng lối văn hoá, văn nghệ kháng chiến"

Ông đi sâu vào tìm hiểu ba phơng châm dân tộc, khoa học, đại chúng đợc Trờng

Chinh trình bày trong Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam Đồng thời Hoàng

Xuân Nhị cũng đề cập đến những vấn đề cụ thể do thc tiễn văn nghệ ta đặt ra trong những năm đầu của cuộc kháng chiến nh: hiện thực xã hội chủ nghĩa, nghệ thuật và tuyên truyền

Trong công trình nghiên cứu Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, ở

bài Đề cơng văn hoá Việt Nam - 1943 trong hành trình văn hoá của thế kỷ,

Phong Lê xác định bối cảnh lịch sử xã hội và những tiền đề văn hoá, văn học cho sự ra đời của bản Đề cơng Đặt trong hành trình văn hoá của thế kỷ, Phonh

Trang 7

Lê có cái nhìn đúng đắn khi phân tích những vấn đề đợc nêu ra trong Đề cơng,

đặc biệt là ba phơng châm vận động văn hoá: dân tộc , khoa học , đại chúng, qua đó khẳng định giá trị của Đề cơng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ

Đồng thời với cách nhìn khoa học, Phong lê đã đánh giá, nhận xét những nhận định cha thật thoả đáng đợc nêu ra ở Đề cơng: "Thời kỳ từ Pháp sang xâm

chiếm đến nay văn hoá nửa phong kiến nửa t sản và hoàn toàn có tính cách thuộc địa ", còn về văn hoá hiện tại thì "về hình thức là thuộc địa, về nội dung là tiểu t sản " Tuy nhiên ông cũng thấy đợc "ở vào thời điểm 1943 chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa có thể lại là cần thiết, để cho con ngời dứt bỏ triệt để với cái cũ

" [11, 281]

ở bài viết này, Phong Lê ghi nhận sự đóng góp của Trờng Chinh đối với

lý luận xây dựng nền văn hoá, văn nghệ mới với ba phơng châm dân tộc hoá , khoa học hoá , đại chúng hoá Ông phân tích ba phơng châm ấy "là sự trả lời các nhu cầu cấp bức nổi lên trong một thời điểm trọng đại của lịch sử Đồng thời nó là sự tiếp tục trong mạch sâu một tiến trình đã diễn ra từ đầu thế kỷ Nó

đã làm trọn trách nhiệm lịch sử đặt ra và góp phần quan trọng vào thành công của cách mạng tháng Tám 1945 Đồng thời nó cũng góp phần tạo cơ sở lý luận cho sự nghiệp xây dựng một nền văn hoá mới, và trớc hết là nền văn hoá kháng chiến chông Pháp trong gần một thập niên tiếp theo " [11, 283]

Thu hẹp đối tợng nghiên cứu ở Đề cơng văn hoá Việt Nam nên nhiều vấn

đề lý luận quan trọng khác mà Trờng Chinh đã trình bày trong thời kỳ 1945 -

1954 nh hiện thực xã hội chủ nghĩa, điển hình hoá, vấn đề nghệ thuật và tuyên truyền không đợc đề cập tới trong bài viết này

"Đồng chí Trờng Chinh là ngời góp phần xác định đơng lối văn nghệ của

Đảng sớm nhất, thờng xuyên, liên tục nhất và với một hệ thống phong phú nhất"

- Đó là nhận đinh của Phơng Lựu trong bài tiểu luận Di sản văn nghệ Trờng Chinh in trong cuốn Tiếp tục khơi dòng

Tiêu mục của bài tiểu luận cho thấy vấn đề mà Phơng Lựu nói tới là các bài viết, các công trình về văn hoá mà then chốt là những vấn đề về nghệ thuật

Trang 8

của Trờng Chinh trong suốt 40 năm từ Đề cơng văn hoá Việt Nam 1943 đến bài

Một ghi nhận của Phơng Lựu ở Trờng Chinh là thái độ nghiêm khắc khi nhìn lại những sai sót trong đờng lối lý luận văn hoá, văn nghệ của mình Phơng Lựu viết : "Với t cách là ngời khởi thảo Đề cơng văn hoá Việt Nam, 4o năm sau

nhìn lại đồng chí Trờng Chinh đã phát biểu: "Đề cơng văn hoá Việt Nam không

dài, có nhiều hạn chế vì trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, Trung ơng cha đủ

điều kiện nghiên cứu sâu sắc các vấn đề liên quan đến cách mạng văn hoá Việt Nam " [12, 124- 125]

Vũ Đức Phúc lại nhìn nhận sự đóng góp của Trờng Chinh gắn với những cuộc đấu tranh t tởng trong văn học cách mạng kháng chiến và việc truyền bá đ-ờng lối văn học của Đảng trong cuốn Bàn về những cuộc đấu tranh t tởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại 1930 - 1954

ở bài viết này, Vũ Đức Phúc đã phân tích khá kỹ bản Đề cơng văn hoá

Việt Nam và báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam Tác giả đặt Đề

c-ơng trong thời kỳ đen tối của dân tộc để thấy đợc vị trí, ý nghĩa lớn lao của Đề cơng Đồng thời ông cũng trình bày bản Đề cơng theo nội dung từng phần mối

quan hệ giữa văn hoá - kinh tế chính trị, sơ lợc về các gia đoạn lich sử văn hoá Việt Nam, vấn đề cách mạng văn hoá Việt Nam với ba nguyên tắc vận động: dân tộc , khoa học , đại chúng, những nhiệm vụ cần kíp mà cán bộ văn hoá của

Đảng phải thực hiện

Trang 9

ở thời điểm tiền khởi nghĩa, trên mặt trận văn hoá diễn ra rất phức tạp thì sự ra đời của Đề cơng văn hoá đã "đánh dâú một bớc tiến căn bản trong việc

lãnh đạo văn hoá , văn học của Đảng " Nhng Vũ Đức Phúc cũng nhận xét: "Đề cơng viết rất vắn tắt " [25, 144]

Tác giả tiếp tục bàn đến bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam và phân tích ba phơng châm dân tộc, khoa học, đại chúng với luận điểm:

Tính chất và nhiệm vụ văn hoá dân chủ mới

Vũ Đức Phúc phân tích một số vấn đề lý luận cụ thể đợc trình bày ở bản báo cáo nh vấn đề nghệ thuật và tuyên truyền, hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhng những vấn đề này đợc ông đặt trong những cuộc đấu tranh t tởng, tranh luận nghệ thuật giữa các nhà lý luận phê bình nên việc phân tích cha đợc sâu mà tác giả chỉ nói đến những điều cơ bản Cố nhiên, đặt các vấn đề đó trong những cuộc tranh luận nghệ thuật,Vũ Đức Phúc đã giúp chúng ta thấy đợc giá trị to lớn của lý luận văn nghệ cách mạng kháng chiến mà Trờng Chinh trình bày Đó sẽ

là nền tảng, cơ sở phát triển một cách đúng đắn đờng lối văn hoá, văn nghệ của

Đảng

Trong phần Đại cơng đờng lối văn nghệ của Đảng in trong cuốn Cơ sở

lý luận văn học, tập III, viết chung với Phơng Lựu, Lê đình Kỵ đã phân tích

những đóng góp về lý luận của Trờng Chinh qua Đề cơng văn hoá Việt Nam và

bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam,coi đó nh là những văn kiện

quan trọng mang tính chất "vạch đờng chỉ lối", xác định các phơng châm chân chính của văn hoá, văn nghệ cách mạng

Ba phơng châm : dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá, mặc dù cha

đợc Lê Đình Kỵ phân tích kỹ nhng đã đợc đề cập đến Tác giả viết: "Đề cơng

xác định phơng châm cuộc vận động văn hoá là : "dân tộc, khoa học, đại chúng"

và "dân tộc về hình thức và dân chủ về nội dung", khẳng định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - lúc bấy giờ gọi là "tả thực xã hội" - là phơng pháp của nền văn nghệ cách mạng"

Trang 10

Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam cũng là đối tợng đợc

Lê Đình Kỵ đề cập đến trong bài viết của mình.Tác giả nhận xét :"Bài nói chuyện nổi tiếng này vừa là một bản tổng kết súc tích và phong phú về mặt lý luận, vừa đi sâu vào một số vấn đề cụ thể đợc đặt ra trong Đề cơng văn hoá, hay

đợc đề cập đến và làm phong phú thêm từ sau cách mạng tháng Tám : mối quan

hệ giữa văn nghệ với đời sống xã hội, vấn đề chính trị và văn nghệ, vấn đề tự do sáng tác, vấn đề nghệ thuật và tuyên truyền đã đợc giải quyết về cơ bản, cho

đến nay về nhiều mặt vẫn còn giữ nguyên tính thời sự " [9, 348]

Bàn về vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa đợc Trờng Chinh trình bày trong bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, Lê Đình Kỵ nhận xét:

"Lần đầu tiên ở Việt Nam , chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đợc giới thuyết một cách tơng đối hoàn chỉnh" [9, 348] Ông cũng phân tích một cách,

dù còn sơ lợc vấn đề điển hình hoá và lãng mạn cách mạng - một trong những nguyên lý cơ bản của hiện thực xã hội chủ nghĩa đợc đồng chí Trờng Chinh trình bày trong Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam

Rõ ràng, Lê Đình Kỵ đã chú ý đến những đóng góp cụ thể về lý luận văn nghệ của Trờng Chinh Nhng bài viết của ông ngắn gọn, lại không có sự liên hệ với thực tiến văn học nên còn chung chung, khái quát, cha có điều kiện phân tích sâu và toàn diện mọi vấn đề

Năm 1995, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội cho ra đời cuốn 50 năm Đề

c-ơng về văn hoá Việt Nam của nhiều tác giả 50 năm là cả một chặng đờng dài

để chúng ta có dịp nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan những thành tựu

mà văn hoá Việt Nam đã đạt đợc dới ánh sáng của bản Đề cơng và đờng lôí văn

hoá của Đảng

Một điều dễ nhận thấy nhất là các tác giả đề đặt Đề cơng trong bối cảnh

lịch sử đầy ngột ngạt của nhân dân ta thời kỳ tiền khởi nghĩa để thấy hết giá trị, vai trò quan trọng của văn kiện lịch sử này

Nguyễn Đức Bình nhận xét: "Ngày nay, nhiều quan điểm văn hoá, nhiều phạm trù khoa học, nhiều phơng châm hành động đợc nêu lên trong bản Đề c-

Trang 11

ơng đã đi vào cuộc sống và trở nên quá quen thuộc với mọi ngời Nhng, nếu đặt

bản Đề cơng vào thời điểm 50 năm trớc, thì đó lại chính là đỉnh cao của trí tuệ

đơng thời, là nhận thức sắc bén về tình hình là dự báo khoa học về tơng lai, là sức mạnh tinh thần to lớn mà đất nớc đang cần" [17, 20]

Nguyễn Duy Quý nhận định : "Đề cơng về văn hoá Việt Nam đã nêu lên

hình thức và bớc đi của cuộc cách mạng văn hoá nằm trong quá trình phát triển cách mạng Việt Nam " Sau khi phân tích ba phơng châm vận động văn hoá dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá đợc đề ra trong Đề cơng, ông đánh giá:

"Cuộc cách mạng tháng Tám thành công vừa là thành quả của cuộc vận động văn hoá theo ba nguyên tắc: dân tộc , khoa học , đại chúng, vừa mở đờng cho những nguyên tắc ấy vận động sâu hơn trong đời sống dân tộc" [17,36]

Vũ Khiêu lại phân tích: "Giá trị của một học thuyết, một trào lu t tởng, một quan điểm triết học, trớc hết ở chỗ nó phản ánh tơng đối đúng nhất tính tất yếu của một chặng đờng lịch sử ở khả năng luôn luôn vận động phát triển và hoàn thiện trớc biến đổi không ngừng của hiện thực khách quan ( ) Đối với bản Đề cơng cũng thế - giá trị của nó dù lớn, vẫn có tính chất tơng đối - với

quan điểm khách quan và biện chứng , chúng ta đặt Đề cơng vào hoàn cảnh lịch

sử của nó để đánh giá nó cả về mặt thành tựu và mặt hạn chế Có những điểm tiếp tục soi sáng cho chúng ta, có những điểm cần nhận định lại và bổ sung thêm " [27, 42 - 43]

Trong bài viết ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời sự của Đề cơng văn hoá Việt Nam - 1945, Đinh Gia Khánh ghi nhận: "Thành tựu lớn nhất của Đề cơng văn hoá Việt Nam - 1943 có lẽ là ở chỗ lần đầu tiên nêu ra đợc ba yêu cầu có

tính nguyên tắc đối với cuộc vận động văn hoá là : Dân tộc hoá - Đại chúng hoá

- Khoa học hoá ( ) với ba nguyên tắc kể trên là xuất phát điểm của công cuộc phấn đấu nhằm đa văn hoá Việt Nam lên trình độ hiện đại, tiên tiến"[17, 55] Nhng "ngày nay, với những thành tựu và kinh nghiệm của nửa thế kỷ chiến đấu trên mọi lĩnh vực kinh tế , chính trị, xã hội, văn hoá , chúng ta đã phất hiện ra những điều khiếm khuyết, những chỗ bất cập trong Đề cơng văn hoá Việt Nam

Trang 12

( ) những nhận định của Đề cơng về lịch sử và tính chất của văn hoá Việt Nam

vừa sơ lợc vừa thiếu chinh xác ( ) cần phải điều chỉnh lại quan điểm cuả Đề cơng khi đáng giá các học thuyết triết học Đông, Tây và các trờng phái văn

nghệ trớc khi xuất hiện chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa" [17,53]

Rõ ràng, qua những công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã nêu ở trên có thể thấy lý luận về văn hoá, văn nghệ cách mạng kháng chiến 1945 - 1954 của Trờng Chinh cha đợc phân tích, đánh giá một cách sâu sắc, nhiều vấn đề lý luận quan trọng cha đợc đề cập đến, nếu có thì cũng chỉ là những liên hệ xen ngang

Do đó, đề tài của chúng tôi cố gắng nhìn nhận, phân tích đối tợng nghiên cứu một cách sâu hơn toàn diện hơn Cố nhiên, chúng tôi coi kết quả của những ngời đi trớc là những tiền đề quan trọng nhằm định hớng cho công việc nghiên cứu tiếp theo

3 Mục đích, đối tợng, tài liệu nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu.

Tìm hiểu những đóng góp của Trờng Chinh về lý luận văn hoá, văn nghệ cách mạng thời kỳ 1945-1954, nhằm khẳng định ngòi bút của ông luôn hớng về

và gắn bó chặt chẽ với thực tiễn văn hoá, văn nghệ nớc nhà

3.2 Đối tợng nghiên cứu.

Các luận điểm về văn hoá, văn nghệ đợc Trờng Chinh đề cập trong thời

kỳ 1945-1954

3.3 Tài liệu nghiên cứu.

- Trờng Chinh, Về văn hoá và nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà nội, tập I,

Trang 13

- Tạp chí Tiên phong (su tập trọn bộ, gồm 24 số từ 10- 1 1945 đến

1-12-1946 của Hội Văn hoá Cứu quốc Việt Nam ), Nxb Hội Nhà văn Hà Nội, 1996

- Báo Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, gồm 56 số, xuất bản tại

chiến khu Việt Bắc từ 1948 đến 1954

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm hai chơng:

Chơng 1: Đóng góp của Trờng Chinh về sự hình thành đờng lối văn hoá,

văn nghệ kháng chiến theo các nguyên tắc dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá.

Chơng 2: Những đóng góp của Trờng Chinh về một số vấn đề cụ thể đặt ra

trong đời sống văn nghệ kháng chiến 1945 - 1954.

Trang 14

Chơng 1.

Đóng góp của Trờng Chinh về sự hình thành đờng lối văn hoá, văn nghệ kháng chiến theo các nguyên tắc dân tộc hoá, khoa

học hoá, đại chúng hoá.

Từ sau năm 1945, dới chế độ mới, toàn bộ sự phát triển của nên văn hoá, văn nghệ đợc đặt dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (trừ phần văn học trong Hà Nội tạm chiến từ 1946-1954 và trong các đô thị miền Nam từ năm 1954-1975) ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo văn hoá, văn nghệ bằng đờng lối và tổ chức

Đờng lối văn hoá, văn nghệ là một hệ thống lý luận nằm trong đờng lối cách mạng nói chung với mục đích đa văn hoá, văn nghệ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng

Đờng lối văn hoá, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam là cả một hệ thống vấn đề đợc xây dựng và hoàn thiện trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Đờng lối đó đợc thể hiện và quán triệt trong các văn kiện của Đảng qua các dịp tiếp xúc với văn nghệ và đặc biệt là trong Th của Ban chấp hành Trung -

ơng gửi các Đại hội văn hoá, văn nghệ qua các nhiệm kỳ Có trách nhiệm truyền đạt và phát triển đờng lối văn hoá, văn nghệ của Đảng trong suốt một thời kỳ dài từ Đề cơng văn hoá Việt Nam (1943) đến hoà bình lập lại (1954) và

mãi nhiều chục năm sau là đồng chí Trờng Chinh

Là ngời giữ trọng trách Tổng Bí th Đảng ngay từ thời kỳ Việt Minh và suốt giai đoạn kháng chiến chống Pháp, Trờng Chinh đã góp phần quyết định trong việc xây dựng.đờng lối văn hoá ,văn nghệ của đảng Đặc biệt Trờng Chinh

là ngời đã vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn sinh

động của văn hoá, văn nghệ Việt Nam, tiếp thu một cách đầy đủ t tởng Hồ Chí Minh và những Nghị quyết của Trung ơng Đảng để xây dựng một cơ sở lý luận mác- xít đầu tiên cho sự phát triển một nền văn nghệ dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội, làm phong phú thêm kho tàng lý luận mác- xít, lý luận cách mạng của Đảng ta

Trang 15

Trong 30 năm chiến tranh (1945- 1975), đồng chí Trờng Chinh luôn thay mặt Trung ơng Đảng phát biểu liên tiếp trong tất cả các kỳ Đại hội, kể từ Đề c-

ơng văn hoá Việt Nam (1943) mà đồng chí là ngời trực tiếp khởi thảo, qua Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam lúc này (1944) đến Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948) Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nớc và chủ nghĩa xã hội

(1957), Tăng cờng tính Đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa (1962), Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến tới thống nhất nớc nhà (1968), Về cách mạng t tởng và văn hoá (1983)

Những bài viết, bài phát biểu này sẽ là những văn kiện quan trọng giúp chúng ta tìm hiểu cơ sở lý luận khoa học về cách mạng văn hoá, văn nghệ của Đảng trong đó có phần đóng góp của Trờng Chinh

Luận văn của chúng tôi giới hạn phạm vi đóng góp của đồng chí Trờng Chinh trên phơng diện là một nhà lý luận văn hoá, văn nghệ trong giai đoạn (1945-1954) với ba văn kiện chính: Đề cơng văn hoá Việt Nam (1943), Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam lúc này (1944), Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948)

Có thể khẳng định rằng, đóng góp nổi bật của Trờng Chinh thời kỳ 1945

- 1954 là hình thành đờng lối văn hoá, văn nghệ theo các nguyên tắc dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá Đờng lối ấy đợc kết tinh, ngng tụ qua các văn kiện kể trên

Khái niệm văn hoá đợc ghi trong Đề cơng văn hoá Việt Nam -1943 bao

gồm cả t tởng, học thuật và nghệ thuật

1.1 Cơ sở xã hội - lịch sử - văn hoá dẫn tới sự hình thành đờng lối

văn nghệ kháng chiến từ Đề cơng văn hoá - 1943 đến Chủ nghĩa Mác và

văn hoá Việt Nam (1948).

Đại chiến thế giới lần thứ II bùng nổ ở Pháp, Chính phủ Mặt trận nhân dân bị lật đổ Bọn phản động lên nắm chính quyền rồi đa nớc Pháp dến đại bại

Trang 16

ở ta, bọn thực dân Pháp dâng Đông Dơng cho đế quốc Nhật ách thống trị chuyển thành ách phát xít Pháp - Nhật Nhân dân ta phải chịu cảnh "một cổ hai tròng" Thời kỳ Mặt trận Dân chủ chấm dứt, Đảng rút vào hoạt động bí mật Tình hình mới khi bớc vào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II đã đặt công tác trực tiếp chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền cách mạng thành nhiệm vụ trung tâm của Đảng Nhân dân ta đã biểu thị tinh thần quật khởi, yêu độc lập, tự do và khí phách anh dũng của mình qua ba cuộc khởi nghĩa ở Bắc sơn (23/9/1940), ở Nam kỳ (23/11/1940) và ở Đô Lơng (13/1/1941) Theo phơng hớng đó, Đảng ta chủ trơng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp từ nông thôn, rừng núi đến đô thị lực lợng chính trị quần chúng, mở rộng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị gấp rút để tiến lên khởi nghĩa trong cả nớc theo hớng từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Sau Hội nghị Trung ơng lần thứ 8, Đảng ta thành lập Mặt trận Việt minh (15/5/1941), bắt đầu tổ chức đấu tranh vũ trang, chuẩn bị tổng khởi nghĩa nắm chính quyền giải phóng dân tộc, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng

Luôn luôn coi văn hoá là một mặt trận trong mặt trận đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta đã đẩy mạnh phong trào đấu tranh trên mặt trận văn hoá, t tởng, tuyên truyền đờng lối cứu quốc của Việt minh Chính vì thế trong Nghị quyết của Hội nghị Thờng vụ Trung ơng Đảng (họp từ 25 - 28/2/1943) có

đoạn viết: "Đảng cần phải phái cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hoá, đặng gây ra một phong trào văn hoá tiến bộ, văn hoá cứu quốc chống lại văn hoá phát xít " Nhằm mục đích ấy, Đảng ta cho ra đời bản Đề cơng văn hoá Việt Nam

do đồng chí Trờng Chinh trực tiếp soạn thảo

Mặt trận Dân chủ chấm dứt Dới ách thống trị của đế quốc Pháp - Nhật, thời kỳ này, văn hoá Việt Nam gặp một nguy cơ thực sự mà chỉ có cách mạng mới có thể giải cứu đợc Đế quốc Pháp - Nhật đàn áp văn học cách mạng và tiến

bộ khốc liệt hơn bao gìơ hết Nhiều văn nghệ sĩ tiến bộ bị cầm tù, bị quản thúc rất ngặt nghèo, chế độ kiểm duyệt rất hà khắc Bọn Việt gian theo chân Pháp

nh Phạm Quỳnh, Tôn Thất Bình, Phạm Xuân Độ nhân cơ hội tuyên truyền

Trang 17

cho chủ nghĩa phát xít Pêtanh Nhà xuất bản Alexăng- đơ- rốt của đế quốc Pháp

ra đời ,xuất bản sách phản động và để lôi kéo, mua chuộc các văn nghệ sĩ bằng các giải thởng Bọn Tờ- rốt- kít Hàn Thuyên công khai nói ầm ĩ về một thứ chủ nghĩa Mác giả hiệu

Bọn Tờ- rốt- kít lợi dụng một số khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm loè bịp mọi ngời, nhng thế giới quan của chúng không có gì là mác- xít cả Chúng nêu ra chiêu bài đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội chủ nghiã nhng lại không hiểu gì về xã hội chủ nghĩa Chúng lôi kéo thanh niên, trí thức, làm cho họ hoài nghi chủ nghĩa Mác hoặc làm cho những ngời khao khát chủ nghĩa Mác tởng rằng có thể học ở chúng nhiều điều hay Chính vì thế bọn đế quốc đã triệt để lợi dụng chúng, cho nói viết tự do, giúp cho chúng nhiều phơng tiện để

in ấn sách báo dễ dàng

Phát xít Nhật lại tung ra thuyết "Đại Đông á", lôi kéo một số trí thức, văn nghệ sĩ nh Trần Trọng Kim, Nhất Linh, Khái Hng, Hoàng Đạo thực hiện

"lý tởng" "vị nhân sinh kiểu t sản", ra sức tuyên truyền, quảng cáo cho sức mạnh của quân đội Thiên Hoàng và nền văn minh vào bậc nhất của đất nớc Phù Tang, ca ngợi tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản

Hoạ phát xít, sự đàn áp cách mạng, chiến tranh do bọn phát xít gây ra, tình trạng đói khổ của nhân dân khiến một số văn nghệ sĩ tiến bộ dần dần đi theo cách mạng nh Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tởng Tuy nhiên, nhiều văn nghệ sĩ khác do không có thế giới quan đúng đắn càng trở nên bi quan trớc thực tại xã hội Không ít nhà văn lãng mạn đi sâu vào những khuynh hớng tiêu cực thần bí, hoài cổ, điên loạn, truỵ lạc nh thơ Xuân Thu Nhã tập, thơ Vũ Hoàng Chơng Sáng tác và lý luận của trào lu lãng mạn đang đi vào ngõ cụt của

sự bế tắc Nhiều văn nghệ sĩ gửi gắm tâm t, mơ ớc của mình vào quá khứ xa xăm hay tơng lai vô định nào đó Một số khác lại quay về với tôn giáo nh t tởng Lão Trang, Thích- ca, chúa Giê-su Quay về tôn giáo, về những thứ triết lý duy tâm thần bí trong thời kỳ đen tối của xã hội, thực ra là rơi vào cái bẫy của đế quốc giăng sẵn

Trang 18

Thực trạng của văn hoá văn nghệ trong giai đoạn này đã đợc đồng chí ờng Chinh phản ánh rõ trong bài viết Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hoá mới lúc này (1944) Trong bài này, Trờng Chinh phê phán rất gay gắt

Tr-thực trạng văn hoá nớc nhà thời điểm tiền khởi nghĩa: "Văn hoá Việt Nam hiện nay - hay nói cho đúng, văn hoá hợp pháp Việt Nam hiện nay - mang ba nhợc

điểm, ba căn bệnh lớn: Phản dân tộc, phản khoa học, phản đại chúng"[5, 29] Truy tìm nguyên nhân của từng “căn bệnh” trên, Trờng Chinh giải thích: “Nớc

ta là một nớc thuộc điạ, dới quyền thống trị của đế quốc Pháp; văn hoá Việt Nam chịu nhiều ảnh hởng tai hại làm cho nó bị nô dịch và chia rẽ, phát triển không đều; thiếu hẳn tinh thần độc lập, tự do và dân tộc thống nhất Trớc kia ngời ta nhắm mắt theo Tàu bao nhiêu thì ngày nay ngời ta nhắm mắt theo Tây bấy nhiêu ( ) Một nớc mà nền kinh tế đã phụ thuộc vào ngời và mất chủ quyền chính trị thì khỏi sao văn hoá nhiễm tính chất nô dịch và phụ thuộc ? Văn chơng liếm gót giầy, văn chơng “không rên mà đau”, văn chơng bò sát đất, đầy rẫy trong nớc Văn nghệ hợp pháp hầu hết bội phản tinh thần dân tộc độc lập” [5, 27]

Bởi lẽ nếu có một thực tế nh Trờng Chinh đã nói thì cũng có một thực tế khác, ý thức dân tộc trong giới trí thức Việt Nam vào thời điểm trên không đến nỗi kém cỏi Trong họ luôn luôn có những trăn trở nhằm cứu vãn văn hoá văn học dân tộc thoát khỏi những căn bệnh ấy Năm 1941, Hoài Thanh dờng nh dồn hết tâm t để viết trong Thi nhân Việt Nam : “Họ dồn tình yêu quê hơng trong

tình yêu Tiếng Việt Tiếng Việt, họ nghĩ là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua Đến lợt họ họ cũng muốn mợn tâm hồn bạch chung để gửi nối băn khoăn riêng ?” [ ]

Lu Trọng L bày tỏ tên Tạp chí Tao Đàn, số 2, 1939, rằng : "Tôi cầu

nguyện sao sớm xuất hiện một cuốn thơ hay một cuốn tiểu thuyết xây dựng với những tài liệu lấy ở đất nớc và thiên tài của xứ sở, một cuốn thơ hay một cuốn tiểu thuyết có thể nói với thiên hạ rằng : "Đây là một tác phẩm của ngời Việt Nam, một giống ngời đã nghĩ và cảm " [ ] Đinh Gia Trinh viết trên Tạp chí

Trang 19

Thanh Nghị, số 32, 1743 những dòng suy nghĩ : "Ngày nay thanh niên trí thức

đã hiểu rõ rằng bổn phận ngời Việt Nam là phải trau dồi tiếng mẹ đẻ, làm cho

nó giàu mạnh hơn, để có thể mang đợc đủ mọi tình hình và t tởng"

Có một thực tế nữa là văn hoá, văn nghệ nớc ta thời kỳ này đang đứng

tr-ớc nguy cơ bị cầm tù, trói buộc bởi văn hoá phát xít Nhật- Pháp dẫn tới căn bệnh phản khoa học "Nớc ta là một nớc nông nghiệp Chủ nghĩa đế quốc giữ

độc quyền công nghiệp nặng và kìm hãm công nghiệp bản xứ Không mấy ai để

ý đến khoa học ( ) óc khoa học của đồng bào ta vì thế rất mỏng manh, kém cỏi Trình độ khoa học kém cỏi ấy ảnh hởng không tốt đến các ngành văn học, nghệ thuật Những sản phẩm văn hoá của thời phong kiến Việt Nam để lại, phần nhiều đầy tính chất duy tâm, thần bí, phản khoa học Việc tuyên truyền, cổ

động của viện văn hoá Nhật ( ) cũng nh việc nhồi sọ của nhà trờng và của bộ thông tin, tuyên truyền của Pháp lại nuôi thêm tính cách mê tín và thần bí đó " [5, 28] Về “căn bệnh” phản đại chúng của văn hoá, Trờng Chinh chỉ rõ: “ở n-

ớc ta, bệnh mù chữ trầm trọng không kém nạn đói Ngời ta viết, vẽ, đàn, hát, múa, xây, nặn, cốt để cho bọn quyền quý thởng thức đã chứ ! ( ) Trong đó xã hội Việt Nam hiện nay, con cái những tầng lớp cần lao ít có đủ điều kiện vơn mình lên địa vị nghệ sĩ tài ba ( ) Chính vì những lẽ ấy, nên văn hoá Việt Nam hiện nay hết sức xa đại chúng” [5, 29]

Khi một nền văn hoá mang những mầm bệnh “phản dân tộc”, “phản khoa học”, “phản đại chúng” thì cần phải xây dựng lại một nền văn hoá tiến bộ vốn có trong truyền thống văn hoá dân tộc

Rõ ràng có hai thực tế đang tồn tại trong đời sống văn hoá dân tộc Nếu một bên là đờng lối văn hoá nô dịch, phong kiến, gây ra một nguy cơ trầm trọng, có khả năng làm cho văn hoá Việt Nam nghèo nàn, thấp kém thì cũng có một bên là bộ phận văn hoá tiến bộ đang cố gồng mình lên, vợt hết mọi trở lực

để nảy nở Và, sự thực nó đợc khởi động mạnh mẽ suốt một chiều dài nhiều chục năm tạo ra một bớc phát triển đột phá vào thời điểm đêm trớc cách mạng bằng hàng loạt các công trình khảo cứu, học thuật có giá trị: Việt Nam văn

Trang 20

hoá sử cơng (1938) của Đào Duy Anh, Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (1938) của Ngô Tất Tố, Hàn Mặc Tử (1941) của Trần Thanh Mại, Theo giòng (1941) của Thạch Lam, Việt Nam cổ văn học sử (1942) của Nguyễn

Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu (1942) của Dơng Quảng Hàm, Phê bình văn học (1942) của Kiều Thanh Quế, Nhà văn hiện đại (1942- 1943) của Vũ

Ngọc Phan, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh và Hoài Chân, Văn học khái luận (1944) của Đặng Thai Mai cùng cuộc tranh luận nghệ thuật kéo dài

suốt năm năm từ 1935 đến 1939 giữa hai phái "Nghệ thuật vị nghệ thuật " và

"Nghệ thuật vị nhân sinh" Nhìn xa hơn về trớc là hàng loạt các công trình: Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Theo tục ngữ, phong dao xét về sự sinh hoạt của phụ nữ nớc ta (1929) của Phan Khôi, Tục ngữ, phong dao (1929)

của Nguyễn Văn Ngọc

Nói nh thế để thấy rằng sự xuật hiện của Đề cơng văn hoá Việt Nam-

1943 đợc xây dựng trên một cơ ngơi văn hoá khá đồ sộ

Đề cơng văn hoá Việt Nam - 1943 ra đời trong bối cảnh đó, mang theo ba

nguyên tắc vận động của văn hoá mới lúc này là dân tộc hoá, khoa học hoá,

đại chúng hoá.

Dân tộc hoá là phải "chống mọi ảnh hởng nô dịch và thuộc địa khiến

cho văn hoá Việt Nam phát triển độc lập " Khoa học hoá là "chống lại tất cả

những cái gì làm cho văn hoá trái khoa học, phản tiến bộ " Đại chúng hoá là

"chống mọi chủ trơng hành động làm cho văn hoá phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng " Có thể nói, đây là ba khẩu hiệu chiến l-

ợc để cải tạo toàn bộ nền văn hoá văn nghệ Việt Nam, để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng nền văn hoá, văn nghệ độc lập, dân chủ và hiện đại của dân tộc

ta Ba nguyên tắc: Dân tộc hoá - Khoa học hoá - Đại chúng hoá có mối quan

hệ biện chứng với nhau nh "ba cái khâu của một sợi dây chuyền", có tính liên hoàn Nếu bỏ một khâu nào trong đó thì "không thể hoàn thành nhiệm vụ vận

động văn hoá mới Việt Nam " Và, "muốn cho ba nguyên tắc trên đây thắng, phải kịch liệt chống những xu hớng văn hoá bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan,

Trang 21

thần bí, duy tâm Nhng đồng thời cũng phải chống xu hớng văn hoá quá trớn của bọn Trốt kít"

Đề cơng văn hoá là một văn kiện lý luận quý giá, đã vạch ra cho văn

nghệ sĩ con đờng đấu tranh trên mặt trận t tởng và mặt trận văn hoá, văn nghệ

Đề cơng dù xuất hiện kịp thời, đúng lúc nhng mới chỉ là những nét phác thảo

của một kế hoạch xây dựng nền văn hoá mới dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Do xuất bản trong bí mật, do phạm vi giao lu quốc tế còn nhiều hạn chế, một số nhận định trong Đề cơng còn nặng nề, cha phù hợp

Rõ ràng, với độ lùi thời gian càng xa thì giá trị của Đề cơng văn hoá

1943 càng toả sáng nhng những hạn chế của văn kiện này cũng đồng thời bộc lộ

rõ hơn Trờng Chinh, ngời trực tiếp khởi thảo văn kiện này, thẳng thắn thừa nhận: “Đề cơng văn hoá Việt Nam không dài, có nhiều hạn chế vì trong hoàn

cảnh hoạt động bí mật, Trung ơng cha đứng xử điều kiện để nghiên cứu sâu sắc các vấn đề liên quan đến cách mạng văn hoá Việt Nam " [6,335]

Bớc vào cuộc kháng chiến, các phơng châm vận động văn hoá cần phải

đ-ợc bổ sung, phát triển cụ thể hoá trong tình hình mới khác trớc , đồng thời phải vạch ra hớng đi cơ bản cho văn hoá văn nghệ Việt Nam trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam đợc đồng chí Trờng Chinh thay mặt Đảng đọc tại Hội nghị Văn hoá toàn

quốc lần thứ II (1948) đã phát triển Đề cơng văn hoá Việt Nam lên một bớc, cụ

thể hoá hơn các phơng châm vận động về văn hoá, văn nghệ đặng phù hợp với tình hình mới

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra trên đất nớc ta một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do

Cuộc cách mạng đã làm biến đổi sâu sắc những nền tảng tinh thần trong

đời sống xã hội Việt Nam Thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng tháng Tám đã

đa dân tộc ta từ đêm đen nô lệ trở thành một đất nớc tự do, độc lập Với chính thể "Việt Nam Dân chủ Cộng hoà", lần đầu tiên trong lịch sử, ngời dân lao động

đợc giải phóng, trở lại làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nớc

Trang 22

Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm lịch sử mà khát vọng độc lập dân tộc và

ý thức làm chủ vận mệnh đất nớc đợc khơi dậy mạnh mẽ trong lòng mỗi ngời dân Nhng niềm vui bất tuyệt trớc thành quả của Cách mạng tháng Tám cha dứt thì tiếng súng xâm lợc của thực dân Pháp lại nổ ra ở Nam Bộ

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) đã thể hiện sinh

động ý chí và quyết tâm sắt thép của toàn dân tộc

Cách mạng tháng Tám thành công nhng chính quyền non trẻ của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải đối mặt với nhiều khó khăn trớc mắt Nền kinh tế của đất nớc rơi vào kiệt quệ Tình hình chính trị rối ren Các đảng phái chính trị nh: Việt Nam cách mạng đồng minh của Nguyễn Hải Thần, Việt Nam quốc dân Đảng của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tờng Tam theo chân quân đội T-ởng Giới Thạch về chống phá cách mạng Bọn Trốt - kít ngóc đầu dậy, lập

đảng, tung truyền đơn, hô hào quần chúng nổi loạn Bọn địa chủ ngấm ngầm cấu kết với t sản mại bản lợi dụng tình hình chống đối lại chính quyền cách mạng

Mời năm từ 1945 đến 1954, với hai sự kiện lớn là cách mạng và kháng chiến đã chứng minh một chân lý rằng : Nhân dân chứ không phải một lực lợng nào khác đã làm nên lịch sử Nhà văn Nam Cao trong nhật ký ở rừng, ngày 2-3-

1948, đã ghi lại những suy nghĩ của mình thật thấm thía: "Sau cách mạng tháng Tám, càng ngày tôi càng thấy rằng cái "tôi" của mình thật chẳng nghĩa lý gì Nó

có một giá trị nào là khi biết hoà hợp với những ngời xung quanh ( ) nhiều khi phải biết quên mình đi, quên cái tên tuổi mình, nếu muốn thành ngời có ý ( ) tạo ra lịch sử là một việc lớn lao hơn Nhng tạo ra lịch sử lại là sự nghịêp của số

đông" [2,407] Nhà lý luận phê bình văn học Hoài Thanh cũng đã ý thức một cách sâu sắc rằng: "Đảng và quần chúng lại đánh thức chúng ta một lần nữa và lần này đánh thức mạnh mẽ"[1,107]

Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử ngày càng đợc văn nghệ sĩ

ý thức một cách mạnh mẽ Quần chúng nhân dân đã nhanh chóng trở thành nhân vật trung tâm của thời đại lịch sử mới Họ là nguồn cảm hứng lớn lao của

Trang 23

sáng tạo nghệ thuật và đồng thời cũng là đối tợng hớng tới phục vụ của văn nghệ sĩ Họ không chỉ thởng thức mà còn trực tiếp tham gia sáng tác, biểu diễn nghệ thuật Nhng trình độ của số đông quần chúng là hạn chế, 95% số ngời không biết đọc, biết viết Họ dễ trở thành đối tợng để những nhà văn nh Hoàng trong Đôi mắt của Nam Cao chê bai, dè bĩu Bên cạnh đó nớc ta là một nớc

nông nghiệp, khoa học cha phát triển, quần chúng bị lạc hậu do sự kìm hãm của chế độ phong kiến và thực dân

Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống pháp đã làm thay đổi sâu sắc hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954 Đó là những tiền đề về lịch sử - xã hội quan trọng của công cuộc vận động và phát triển văn hoá văn nghệ kháng chiến theo ba phơng châm dân tộc hoá - khoa học hoá -

đại chúng hoá, vốn đợc khởi động từ Đề cơng văn hoá (1943)

Năm 1945, Nguyễn Tế Mỹ cho in cuốn Hai Bà Trng khởi nghĩa do nhà

sách Hàn Thuyên xuất bản, Nguyễn Du và Truyện Kiều của Nguyễn Bách

Khoa (Trơng Tửu) nhân danh duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xuyên tạc trắng trợn chủ nghĩa Mác, bôi nhọ các anh hùng và các thi hào dân tộc nhằm hạ thấp nền văn hoá nớc nhà

Cũng trong những năm đó, Trơng Tửu viết cuốn Tơng lai văn nghệ Việt Nam, Lơng Đức Thiệp cho ra đời cuốn Nghệ thuật thi ca quyết liệt chống lại

Đề cơng văn hoá của Đảng

Tháng 8 - 1946, trên tập Văn hoá và cách mạng, Hồ Hữu Tờng viết bài Nói ngoài đề chống lại đờng lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta Hồ Hữu Tờng

ngang nhiên phỉ báng ba phơng châm dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá

mà đồng chí Trờng Chinh đề xuất ở Đề cơng văn hoá Khái Hng trên báo Chính nghĩa (7 -1946 ) trong bài Câu chuyện văn chơng lại viết : "Tôi không

thể nhịn cơì đợc khi nghe một không phải là một văn sĩ mà một nhà cách mạng dạy tôi ba cái hoá ấy ngay mấy hôm sau ngày tổng khởi nghiã "

Trên lĩnh vực văn học, tình hình vốn đã phức tạp nay lại càng trở nên phức tạp hơn Cách mạng tháng Tám đã làm rung chuyển đến tận gốc rễ, tạo ra

Trang 24

một cuộc chuyển dịch lớn về môi trờng sống và viết không phải của một, hai cây bút mà của hàng loạt nhà văn, đúng hơn là cả một nền văn học, từ môi trờng chật hẹp của tầng lớp t sản, tiểu t sản đến cuộc sống bát ngát, sôi động của hàng triệu ngời lao động Tuy nhiên, có kẻ vẫn ngơ ngác trớc cuộc đời, băn khoăn đi tìm kiếm một cuộc sống nào đó ngoài hiện thực sôi động của cách mạng nh quan niệm của nhà thơ Vũ Hoàng Chơng :

Phải chăng muôn kiếp nặng nề

Từ h không tôi lại về không h

Giữa năm 1948, quá trình “nhận đờng” của giới văn hoá, văn nghệ kháng chiến còn rất khó khăn, vất vả, Trờng Chinh viết Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam Vận dụng đờng lối cứu nớc, tác giả soi chiếu, nhấn mạnh lại và

phát triển ba nguyên tắc dân tộc hoá khoa học hoá, đại chúng hoá một cách

cụ thể hơn phù hợp tình hình, hoàn cảnh mới

1.2.Những đòi hỏi của đờng lối văn hoá, văn nghệ kháng chiến theo

ba nguyên tắc dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá

1.2.1 Nội dung dân tộc hoá của văn hoá dân chủ mới là “đấu tranh cho

độc lập, tự do của dân tộc mình và tôn trọng độc lập, tự do của các dân tộc khác trên thế giới, chống mọi thế lực áp bức, xâm lợc bất cứ từ đâu lại ; chống mọi t tởng yếu đuối, ỷ lại, thiếu tự tin Văn hoá dân chủ mới Việt Nam bao gồm những đặc điểm và đức tính cổ truyền của dân tộc, phải tiến lên bằng cách phát triển những cái hay, cái đẹp, bài trừ những cái dở, cái xấu Văn hoá dân chủ mới Việt Nam tiêu biểu cho tinh hoa của dân tộc Song đồng thời, nó sẵn sàng hấp thụ những cái hay, cái đẹp, cái tiến bộ của văn hoá nớc ngoài ( ) Nó phản đối những cái lai căng , mất gốc, phản đối ăn sống nuốt tơi văn hoá của ngời, học ngời nh vẹt hoặc lắp văn hoá của ngời vào hoàn cảnh nớc mình nh máy, không

đếm xỉa đến đặc điểm và điều kiện đặc điểm của nớc mình và dân tộc mình ”[5, 96] Văn hoá mới Việt Nam cũng biết kế thừa truyền thống tốt đẹp của cha ông:

“Chúng ta tìm tòi, học hỏi những tác phẩm văn học , nghệ thuật của cha ông ta

Trang 25

để lại, nhng chúng ta phê bình, bổ khuyết những tác phẩm đó và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc” [5, 97]

1.2.2 Về vấn đề khoa học hoá của văn hoá mới, Trờng Chinh kêu gọi

chống thế giới quan phong kiến thần bí (nhng tôn trọng tự do tín ngỡng), chống triết học duy tâm, yêu cầu “truyền bá t tởng khoa học và triết học mác - xít”:

“Một đặc điểm lớn của văn hoá dân chủ mới là chuộng thực tiễn và làm cho lý luận và thực tiễn đi đôi với nhau Nó chống chính sách lừa bịp của thực dân Pháp và trọng sự thật Nó đề xớng tiến bộ và đã phá những việc gì ngăn cản bức tiến của dân tộc Nhng tiến bộ mà không li dị với dĩ vãng của dân tộc, không mất gốc, không a dua, không máy móc, không theo thuyết khoa học độc tôn” [5, 97]

1.2.3 Về vấn đề đại chúng hoá, đồng chí Trờng Chinh nêu rõ văn hoá

văn nghệ cách mạng chống tính chất xa cách nhân dân, phản lại quần chúng Luận điểm của Lê nin “Nghệ thuật thuộc về nhân dân” đợc ông đặc biệt quán triệt Trờng Chinh khẳng định văn hoá, văn nghệ dân chủ mới Việt Nam “phục

vụ nhân dân, phục vụ số rất đông ngời ” Chống “quan điểm cho rằng văn hoá là siêu phàm, càng cao càng quý, càng khó càng hay”, tác giả nhấn mạnh: văn hoá, văn nghệ cách mạng “phải đi sát quần chúng để dìu dắt và giáo dục quần chúng, nâng cao trình độ quần chúng, phát hiện và bồi dỡng những tài năng trong quần chúng, không theo đuôi quần chúng nhng học hỏi quần chúng” Các chiến sĩ văn hoá, văn nghệ phải hiểu biết những vui buồn, thắc mắc của quần chúng và “nhận rõ nhiệm vụ giáo dục t tởng và giải quyết những thắc mắc ccủa quần chúng một cách kịp thời ”, “phải phản ánh trung thực nguyện vọng và ý chí của nhân dân đáng sản xuất và chiến đâú, phải làm cho nhân dân giác ngộ

và hăng hái hơn, tin tởng và quyết tâm hơn” [5, 99]

Nhấn mạnh tính đại chúng của văn nghệ, Trờng Chinh khẳng định vai trò phê bình nghệ thuật của quần chúng: “Sống bao nhiêu năm trong chế độ áp bức bóc lột, ngu dân của thực dân Pháp, quần chúng nớc ta cố nhiên trình độ là thấp kém Nhng đừng tởng họ không biết thởng thức những tác phẩm nghệ thuật

Trang 26

cao Nếu tác phẩm của ta tả sự thật một cách sinh động thì nhất định quần chúng sẽ hiểu, sẽ cảm, sẽ biết thởng thức ( ) quần chúng chỉ lãnh đạm trớc những tác phẩm nghệ thuật không thật hoặc bế tắc, cầu kỳ, quanh co, lố bịch” [5, 144 - 145]

Nh vậy, nguyên tắc dân tộc hoá nhằm hớng tới mục tiêu số một là cứu

nớc và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Đại chúng hoá nhằm thực hiện vấn đề

dân chủ, đa văn hoá văn nghệ đến đợc với nhân dân, đồng thời đa nhân dân tiếp cận với các giá trị văn hoá, văn nghệ gắn với định hớng xây dựng nền văn nghệ nhân dân Khoa học hoá nhằm chống lại sự lạc hậu

Ba nguyên tắc dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá khởi động từ

Đề cơng văn hoá (1943) đợc hoàn thiện ở Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948) gắn liền với tên tuổi và sự đóng góp của Trờng Chinh

Ba nguyên tắc trên liên quan rất chặt chẽ, biện chứng, là “ba cái khâu của một sợi dây chuyền văn hoá dân chủ mới” ở nớc ta [5, 101]

Về mối quan hệ giữa dân tộc hoá, khoa học hoá , đại chúng hoá, Trờng

Chinh chỉ rõ: “Một nền văn hoá dân tộc mà không có tính chất khoa học và nhân dân thì rất có thể vì quyền lợi ích kỷ và hẹp hòi của dân tộc mình mà đi ngợc lại bớc đờng tiến hoá của lịch sử ” [5, 100] Ngợc lại, “văn hoá có tính chất khoa học mà không có tính chất dân tộc và nhân dân thì rất có thể phục vụ khoa học của kẻ địch ” [5, 100] “Văn hoá có tính chất nhân dân mà không

có tính chất dân tộc và khoa học thì rất có thể trở nên hẹp hòi” [5, 100] Xác

định thái độ đối với văn nghệ sĩ Trờng Chinh yêu cầu:

“1 Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với kháng chiến, không thoả hiệp với t tởng và văn hoá phản động, không trung lập, không giữ thái độ bàng quan

2 Ra sức nghiên cứu khoa học, kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất, chiến

đấu và đời sống con ngời; lấy học thuyết Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hành động; biết và làm đi đôi, lý luận và thực tiễn kết hợp

Trang 27

3 Một lòng một dạ phục vụ nhân dân; gần gũi quần chúng công nông binh, cảm thông với quần chúng, học hỏi nhân dân, nhng giáo dục và dìu dắt nhân dân” [5, 101]

Quan niệm của Trờng Chinh đã góp phần xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ kháng chiến Có thể nói rằng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà ngày nay chúng ta đang ra sức xây dựng chính là sự kế thừa, phát triển nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng đợc định hớng từ Đề cơng văn hoá và Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam mà Trờng Chinh là tác giả, lên một tầm

cao mới, sát hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong bối cảnh thời đại và

sự phát triển đa cực của thế giới

1.3 Ba nguyên tắc trên đợc gắn kết một cách sinh động với thực tiễn

đời sống văn hoá, văn nghệ cách mạng và kháng chiến (1945-1954).

Ngay từ năm 1945,khi công bố bản Đề cơng văn hoá Việt Nam, Đảng đã

tập hợp đợc một số văn nghệ sĩ tiến bộ, yêu nớc vào Hội Văn hoá Cứu quốc Nhng số đó chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với lực lợng đông đảo những ngời cầm bút trên văn đàn công khai lúc bấy giờ Phải đợi đến Tổng khởi nghĩa tháng Tám, cơn gió lớn của cách mạng mới đủ sức cuốn hút hầu nh toàn bộ giới văn nghệ sĩ đi vào trận tuyến mới, đoàn kết lại dới ánh sáng, lý tởng Đảng Cộng sản Giờ đây không chỉ có những chiến sĩ trung kiên nh Hải Triều, Tố Hữu, những thành viên cũ của Hội Văn hoá Cứu quốc nh Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tởng, Nguyễn Đình Thi mà còn có các nhà văn hiện thực phê phán nh Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố , các “kiện tớng” của nền văn học lãng mạn trớc đó nh Hoài Thanh, Xuân Diệu, Thế Lữ cũng đến với cách mạng

Thế nhng, quá trình chuyển biến ý thức văn nghệ của văn nghệ sĩ diễn ra không hề đơn giản Nhiều ngời vẫn còn cảm thấy lúng túng, ngỡ ngàng, không biết phải cầm bút nh thế nào để đa nghệ thuật của mình phục vụ cách mạng - kháng chiến Có thực tế này vì phần lớn văn nghệ sĩ trớc 1945 đều xa cách với quần chúng nhân dân Bớc vào cuộc sống mới họ nh ngời bừng thức giấc Trớc

Trang 28

mắt là mặt trời chân lý rực sáng, nhng sau lng họ bóng đêm của chế độ cũ cha tan, tâm trí còn bị thế giới quan siêu hình và nhân sinh quan cá nhân chủ nghĩa níu kéo Họ đi theo cách mạng có nghĩa là mọi việc phải làm lại từ đầu, phải xoá bỏ những lạc hậu, cũ kỹ sai trái để xây dựng nhân sinh quan cách mạng, thế giới quan khoa học, một vốn sống mới và một phơng pháp sáng tác tiên tiến

Đi từ “thung lũng đau thơng ra cánh đồng vui” (Chế Lan Viên), sự tìm ờng của văn nghệ sĩ phải trả giá bằng biết bao trận bão giông trong đời sống tâm hồn: “Văn nghệ với kháng chiến, nhiệm vụ của văn nghệ, đờng sáng tác của chúng ta, đã 4, 5 ngày ngòi bút của tôi loanh quanh với mấy dòng chữ giễu cợt ( ) Tôi ghi lại lộn xộn những thắc mắc nhiều khi đau xót của một cuộc lột

đ-vỏ cái xác cũ rụng xuống cha dứt hẳn, da non mới mọc cha lành, một chút gì chạm phải cũng rỏ máu ( ) Đặt bút nhìn lại những sáng tác đã xong, chúng ta mới thấy một nghệ thuật vụng về yếu ớt, không thổi lên gió bão của cuộc chiến

đấu Nhiều anh em chúng ta muốn vứt bút làm một công việc khác hiệu nghiệm hơn” [10, 64] (Nhận Đờng - Nguyễn Đình Thi )

Nhận thức đợc thực trạng này, Trờng Chinh đã thay mặt Đảng đa ra những biện pháp tạo đà cho văn học chuyển biến Từ Đề cơng văn hoá Việt Nam - 1945, Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam lúc này (1944), đến Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948) mà xuyên

suốt là ba phơng châm dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá, đợc cụ thể

hoá và nâng cao phát triển cho phù hợp vơí tình hình của từng giai đoạn cách mạng khác nhau đã soi đờng , vạch lối cho các văn nghệ sĩ giúp họ đoạn tuyệt với cái tiêu cực của nếp sống và nếp suy nghĩ cũ, tạo sự gắn bó máu thịt với cuộc sống rộng lớn và cao đẹp của nhân dân, giải quyết những vấn đề tởng nh

đơn giản nhng thiết yếu: Viết cái gì ? Viết cho ai ? Viết nh thế nào ?

Có thể nói, ba phơng châm dân tộc hoá, khoa học hoá , đại chúng hoá

đã có một ảnh hởng hết sức sâu sắc đến văn học thời kỳ cách mạng, kháng chiến

Trang 29

Sau ngày cách mạng thành công, văn học nghệ thuật với đề tài cách mạng

đợc mở ra hết sức phong phú, đa dạng Kháng chiến chống Pháp cũng đã trở thành đề tài trung tâm, xuyên suốt trong văn học Cảm hứng ngợi ca đất nớc, lòng tự hào dân tộc đợc thể hiện rất rõ Văn ngệ sĩ sống với cảm xúc lớn của thời đại, hoà mình vào kháng chiến, vào cuộc sống của nhân dân Tình yêu tổ quốc, lòng gắn bó thiết tha với nhân dân đã thực sự đem đến cho Chế Lan Viên một niềm hạnh phúc lớn lao khi nhà thơ tìm thấy nguồn sống mới cho cuộc đời

và cho thơ ca của mình:

Ôi cái buổi lòng ta yêu tổ quốcHạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiênNhững trang ký sự nóng hổi và nồng mùi thuốc pháo của Nguyễn Huy T-ởng, Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi cho chúng ta thấy rõ bớc chân dồn dập của những ngời chiến sĩ trên các chiến trờng Những trang viết của Tô Hoài, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm đã nói đợc cái không khí lao động khẩn tr-

ơng của đông đẩo nông dân, công nhân trên mọi miền đất nớc để đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi

Sáng tác văn học nghệ thuật của chúng ta trong giai đoạn 1945-1954 đã phản ánh đợc các vấn đề cơ bản của đời sống xã hội đặt ra Khác với văn học tr-

ớc cách mạng, nhiều văn nghệ sĩ bây giờ đã rất quan tâm đến hình tợng đám

đông, đến con ngời tập thể Lần đầu tiên trong văn học, lớp lớp dân công, đoàn

đoàn bộ đội, đông đảo những ngời nông dân, công nhân trở thành nhân vật trung tâm của văn học nghệ thuật trong giai đoạn 1945 -1954

Số đông văn nghệ sĩ không hề ngần ngại bớc vào kháng chiến bằng tất cả tấm lòng yêu nớc, thiết tha gắn bó với dân tộc, với nhân dân Đối tợng mà họ h-ớng tới phục vụ là số đông quần chúng lao động, phản ánh tâm t , nguyện vọng,

ớc mơ của họ, ngợi ca sức mạnh của quần chúng

Nếu nh trong phong trào Thơ mới, văn nghệ sĩ thờng nói đến “cái tôi” và

khẳng định “cái tôi” của mình, thì trong giai đoạn này văn thơ rất ít nói về “cái tôi” Văn thơ hay nói đến những chị dân công, anh bộ đội, những em liên lạc,

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Nam Cao (1977), Tác phẩm, tập 2, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1977
[3] . Trờng Chinh (1972), Về văn hoá, văn nghệ,Nxb Văn hoá. Hà Nội [4]. Trêng Chinh (1984), Đề cơng về cách mạng văn hoá Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hoá, văn nghệ
Tác giả: Trờng Chinh
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1972
[5]. Trờng Chinh (1985), Về văn hoá và nghệ thuật, tập 1, Nxb Văn học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hoá và nghệ thuật
Tác giả: Trờng Chinh
Nhà XB: Nxb Văn học. Hà Nội
Năm: 1985
[6]. Trờng Chinh (1985), Về văn hoá và nghệ thuật, tập 2, Nxb Văn học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hoá và nghệ thuật
Tác giả: Trờng Chinh
Nhà XB: Nxb Văn học. Hà Nội
Năm: 1985
[7]. Thành Duy (1997), Trờng Chinh với đờng lối văn hoá, văn nghệ của Đảng ta, Tạp chí Văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trêng Chinh víi đờng lối văn hoá, văn nghệ của Đảng ta
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1997
[8]. Phan Cự Đệ (1979), Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội
Năm: 1979
[9]. Lê Đình Kỵ - Phơng Lựu (1983), Cơ sở lý luận văn học, tập 5, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Tác giả: Lê Đình Kỵ - Phơng Lựu
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
[10]. Phong Lê (chủ biên) (1995), Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945 - 1954, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945 - 1954
Tác giả: Phong Lê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
[11]. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trên hành trình của thế kỷ XX
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
[12]. Phơng Lựu (2000), Tiếp tục khơi dòng , Nxb Văn học,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục khơi dòng
Tác giả: Phơng Lựu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
[13]. Hồ Chí Minh - Lê Duẫn - Trờng Chinh - Phạm Văn Đồng - Võ Nguyên Giáp - Nguyễn Chí Thanh (1976), Về văn hoá văn nghệ, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hoá văn nghệ
Tác giả: Hồ Chí Minh - Lê Duẫn - Trờng Chinh - Phạm Văn Đồng - Võ Nguyên Giáp - Nguyễn Chí Thanh
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1976
[14]. Hoàn Xuân Nhị (1975), Tìm hiểu đờng lối văn nghệ của Đảng giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đờng lối văn nghệ của Đảng giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Tác giả: Hoàn Xuân Nhị
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1975
[15]. Nhiều tác giả (1983), Văn học Việt Nam (1945 - 1975), tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1945 - 1975)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
[16]. Nhiều tác giả (1988), Lý luận Văn học, tập 5, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1988
[17]. Nhiều tác giả (1995), 5 0 năm Đề cơng văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5"0 năm Đề cơng văn hoá Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
[18]. Hữu Nhuận (1998), Su tập văn nghệ 1948 - 1954, tập 1, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Su tập văn nghệ 1948 - 1954
Tác giả: Hữu Nhuận
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1998
[19]. Hữu Nhuận (1999), Su tập văn nghệ 1948 - 1954, tập 2, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Su tập văn nghệ 1948 - 1954
Tác giả: Hữu Nhuận
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
[20]. Hữu Nhuận (1999), Su tập văn nghệ 1948 - 1954, tập 5, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Su tập văn nghệ 1948 - 1954
Tác giả: Hữu Nhuận
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
[21]. Nh Phong (1975), Đọc lại bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, Tạp chí Văn học,số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc lại bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam
Tác giả: Nh Phong
Năm: 1975
[22]. Nh Phong (1984), Chúng tôi tiếp thu bản Đề cơng văn hoá Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng tôi tiếp thu bản Đề cơng văn hoá Việt Nam
Tác giả: Nh Phong
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w